Tag Archive | Lãnh tụ vĩ đại

Tầm nhìn Hồ Chí Minh qua con mắt một nhà báo Mỹ (Kỳ 4)

“Các ông sẽ phải bỏ cuộc”

QĐND – … Từ núi rừng Việt Bắc vào những tháng trước khi Chiến tranh thế giới thứ II kết thúc,  ông Hồ qua máy vô tuyến điện của Trung úy phi công Mỹ Giôn đã liên hệ thăm dò người Pháp ở Côn Minh.

Những bức điện ông nhờ Trung úy Giôn chuyển hộ đến tay Lê-ôn Pi-nhông (Léon Pignon), một chính trị gia chuyên nghiệp Pháp (về sau là Cao ủy Pháp ở Đông Dương) và Thiếu tá Giăng Xanh-tơ-ni (Jean Sainteny), sĩ quan của lực lượng Pháp Tự do (Đại diện Pháp ở Bắc Việt Nam). Cả hai người khi đó đang ở Côn Minh. Sau khi đọc bức điện của ông Hồ yêu cầu Pháp cam kết trao trả độc lập trong vòng năm đến mười năm, Pi-nhông và Xanh-tơ-ni trả lời họ sẵn sàng thương lượng nhưng lại không nói rõ thời gian và địa điểm. Vào lúc này người Mỹ trở thành một vấn đề đối với người Pháp. Đầu tháng 4-1945, chính quyền Mỹ dỡ bỏ lệnh của Ru-dơ-ven không giúp đỡ các lực lượng hoạt động bí mật ở Đông Dương, Cục Tình báo Chiến lược Mỹ (O.S.S.) bắt đầu tiến hành việc tái huấn luyện và cung cấp trang bị cho khoảng 2000 lính Pháp vừa chạy sang Côn Minh sau đảo chính của Nhật, có kế hoạch cho các toán Pháp – Mỹ nhảy dù xuống Đông Dương và tiếp theo sẽ thả đồ tiếp tế trang bị nếu có thể tổ chức được các đội du kích kháng chiến. Thật sự lúc này người Pháp một mặt sẵn sàng nhận mọi giúp đỡ vật chất của Mỹ nhưng lại rất muốn tránh bất cứ sự dính líu trực tiếp nào của Mỹ vào Đông Dương. Tướng Hi-li-oen, cựu Cục trưởng O.S.S. sau này đã nói: “Hết sức rõ ràng là vào tháng 6-1945, người Pháp hoàn toàn chỉ nghĩ đến việc tìm cách giữ không để người Mỹ vào Đông Dương hơn là lo việc đánh bại Nhật hoặc làm cái gì khác để đưa cuộc chiến tranh đến kết thúc thắng lợi trong vùng này”.

Bác Hồ đọc Tuyên ngôn Độc lập ngày 2-9-1945. Ảnh tư liệu

Người Mỹ vào Đông Dương không nhiều, nhưng đã có một số toán O.S.S. được thả dù xuống vùng rừng núi và có giúp lực lượng ông Hồ một số súng tiểu liên, các-bin. Vào lúc chiến tranh kết thúc, bộ đội Việt Minh được bổ sung thêm vũ khí lấy được của Nhật ráo riết chuẩn bị tổng khởi nghĩa. Khắp toàn Đông Dương nổi lên phong trào độc lập. Dưới sự chỉ huy của Võ Nguyên Giáp, bộ đội Việt Minh tiến vào Hà Nội ngày 17-8-1945. Một tuần sau, một chiếc máy bay của lực lượng Pháp Tự do đưa Thiếu tá Xanh-tơ-ni nhảy dù xuống Hà Nội cùng với Thiếu tá Mỹ A-si-mét Pa-ti (Archimedes Patti) của O.S.S. Nhiệm vụ của Pa-ti là giải phóng tù binh chiến tranh. Để làm việc này, Pa-ti phải có sự hợp tác của người Nhật bởi vì lúc này quân Trung Quốc làm nhiệm vụ tiếp quản chưa tới. Xanh-tơ-ni cảm thấy mọi hoạt động của mình đang bị Việt Minh và người Nhật cản trở với lý do bảo đảm an ninh cho ông ta. Nhưng Xanh-tơ-ni cho là do có sự nương nhẹ của Pa-ti, Việt Minh đã cầm giữ mấy trăm người Pháp trong khách sạn Metropole. Xanh-tơ-ni bất bình, sau năm ngày đến Hà Nội, ông về Can-cút-ta (Calcutta), Ấn Độ: “Đang có một âm mưu cấu kết của Đồng minh nhằm hất người Pháp ra khỏi Đông Dương”. Nhưng thật ra chỉ là chuyện tình cờ chứ không phải câu kết.

Mấy tuần sau thêm một số người Mỹ đến Hà Nội, trong đó có một số sĩ quan cao cấp của Bộ tư lệnh Chiến đấu Mỹ từ Trung Quốc. Họ tỏ ra cởi mở, có cảm tình với Việt Minh, đặc biệt là với ông Hồ. Thiếu tá Pa-ti không giấu giếm việc ủng hộ nền độc lập của Việt Nam. Theo nguồn tin của Pháp, Pa-ti có nói sẽ giúp ông Hồ xin vũ khí và một vị tướng Mỹ nói ông ta có quan hệ với giới kinh doanh ở Mỹ và họ có thể gửi giúp chế độ mới ở Việt Nam các máy móc hạng nặng để tái kiến thiết đất nước. Việc ông Hồ cần sự giúp đỡ thì đã rõ. Ha-rôn I-dắc (Harold Isaacs), một đồng nghiệp của tôi làm việc ở Newsweek đã được gặp ông Hồ vào tháng 11-1945 kể rằng, ông Hồ có nói ông sẵn sàng để cho người Pháp giữ được địa vị kinh tế của họ ở Việt Nam nếu họ công nhận nền độc lập của Việt Nam. Ông Hồ hỏi lại: “Sao lại không? Chúng tôi đã phải trả bằng xương máu hàng mấy thập kỷ rồi. Ví phỏng chúng tôi phải trả thêm mấy trăm triệu đồng nữa để giành được tự do thì không đáng hay sao?”.

… Cảm tình của người Mỹ đối với ông Hồ vào cuối năm 1945 và đầu năm 1946 thể hiện trong việc thành lập Hội Hữu nghị Việt-Mỹ. Cuộc họp đầu tiên của hội ở Hà Nội có một tướng Mỹ và các sĩ quan Mỹ dự. Đáp lại những lời hoan nghênh, ca ngợi hữu nghị đối với nước Mỹ, vị tướng Mỹ mong muốn rồi đây sẽ có những việc như trao đổi sinh viên giữa hai bên.

Thiếu tá Xanh-tơ-ni một lần gặp một chuyện ông cho là sỉ nhục khi đang ngồi xe Jeep có treo cờ Pháp bị quân Nhật bắt giữ, sau đó được thả nhờ có sự can thiệp của một đại tá Mỹ. Đối với người Mỹ, Xanh-tơ-ni có nhận xét: “Tinh thần chống chủ nghĩa thực dân ấu trĩ đã làm mờ mắt hầu hết người Mỹ”. Tuy gặp nhiều chuyện không hài lòng, chính Xanh-tơ-ni hơn bất cứ người Pháp nào, lại có cảm tình với Hồ Chí Minh và đã cố gắng thúc đẩy chính sách hợp tác thực sự với ông.

Sau hai lần gặp ông Hồ vào cuối tháng 9 và đầu tháng 10-1945, Xanh-tơ-ni có nhận xét ông Hồ là “một nhân vật đầy nghị lực và đáng kính”. Sau này trong cuốn sách “Chuyện một nền hòa bình bị bỏ lỡ, 1945-1947”, Xanh-tơ-ni đã viết: “Con người rất mực giản dị này, với khuôn mặt ta thoáng nhìn đã thấy ngay sự thông minh mẫn tiệp, tài giỏi, tinh tế, là một nhân vật thuộc lớp người có những phẩm chất cao quý nhất, là một người chẳng bao lâu sẽ đứng vào hàng đầu trên cục diện châu Á”.

Xanh-tơ-ni là người đã tham gia phần lớn việc thương lượng với ông Hồ và đạt được Hiệp định ngày 6-3-1946. Trong cuốn sách của mình, Xanh-tơ-ni có trích dẫn lời ông Hồ nói: “Khi chúng tôi muốn tự cai quản đất nước mình… chúng tôi sẽ cần đến các chuyên gia, các kỹ sư và nguồn tư bản của các ông để xây dựng một nước Việt Nam độc lập, hùng mạnh”. Xanh-tơ-ni nói: “Ông Hồ muốn có một Liên hiệp Pháp được xây dựng, trong đó Việt Nam là hòn đá tảng… Ông ấy muốn đất nước ông phải được độc lập và muốn nền độc lập ấy có vai trò của người Pháp… Thật đáng tiếc là nước Pháp đã không đánh giá đúng con người đó và không hiểu hết giá trị và sức mạnh của ông ấy”.

… Một lần, trong thời gian Hội nghị Fontainebleau (1946), ông Hồ đã nói với Xanh-tơ-ni và Ma-ri-uýt Mu-tê (Marius Moutet): “Nếu chúng tôi phải chiến đấu để giành độc lập thì chúng tôi sẽ chiến đấu. Các ông có thể giết được mười người của chúng tôi và chúng tôi chỉ giết được một người của các ông nhưng cuối cùng các ông sẽ là người phải bỏ cuộc”.

Rô-bớt Sáp-lân, sinh năm 1917, thường xuyên viết cho các báo The New Yorker, Herald Tribune, Newsweek ; trong Thế chiến II là phóng viên chiến tranh của Newsweek trên mặt trận Thái Bình Dương. Do tính chất công việc, R. Sáp-lân biết khá nhiều chuyện về Việt Nam trong những năm chiến tranh. Ông cũng là bạn của Thiếu tướng tình báo Phạm Xuân Ẩn, của Giáo sư La-ri Bơ-man (Larry Berman), tác giả cuốn “Điệp viên hoàn hảo”. Sau 1975 ông có trở lại thăm Việt Nam.

Cuốn “The Lost Revolution” (Cuộc cách mạng bị bỏ lỡ) của R. Sáp-lân ra mắt độc giả từng phần lần đầu tiên trên các báo từ năm 1955, sau đó xuất bản thành sách, liên tục tái bản có bổ sung vào những năm 1962, 1963, 1964, 1965. Điều đáng chú ý là trong cuốn sách của Mỹ, tác giả phê phán Pháp và Mỹ liên tục sai lầm, đã bỏ lỡ cuộc Cách mạng Tháng Tám 1945 của nhân dân Việt Nam, bỏ lỡ nhiều cơ hội hợp tác với Cụ Hồ Chí Minh do không hiểu được nguyện vọng cháy bỏng của Cụ Hồ là độc lập dân tộc cho nhân dân Việt Nam, không tin Cụ Hồ thành thật muốn hợp tác với Đồng minh để chống Nhật cứu nước và sẵn sàng quan hệ với phương Tây để xây dựng đất nước sau khi giành được độc lập.

Quang Doãn
(Giới thiệu và biên dịch)

Kỳ 1: Câu chuyện của viên Trung úy Mỹ
Kỳ 2: Bức thư của Hồ Chí Minh
Kỳ 3: “Ông già người Việt” và những cuộc gặp với người Mỹ

qdnd.vn

Tầm nhìn Hồ Chí Minh qua con mắt một nhà báo Mỹ – Kỳ 3

“Ông già người Việt” và những cuộc gặp với người Mỹ

QĐND – Cuối năm 1941, Nguyễn Ái Quốc bị mật vụ của Quốc dân đảng Trung Quốc bắt giữ. Họ biết ông là cộng sản nhưng cứ gán ghép cho là “gián điệp của Pháp” và bắt ông vào tù ở Liễu Châu. Cũng giống như những người Trung Quốc từ lâu, khi nhìn sang Bắc kỳ, Quốc dân đảng lúc ấy đã có ý đồ gây dựng riêng một phong trào “độc lập’ chống Pháp, đứng đầu là những người Việt thân Trung Quốc mà họ thu nhặt được. Tuy nhiên, chẳng bao lâu họ nhận ra rằng chỉ có các nhóm du kích cộng sản của Mặt trận Việt Minh do Nguyễn Ái Quốc tổ chức là những người duy nhất có kinh nghiệm hoạt động thực sự ở Đông Dương. Không ai khác ngoài Việt Minh có thể có một mạng lưới điệp viên ở đó, trừ một ngoại lệ. Trường hợp ngoại lệ này, kỳ cục thay lại là một tổ chức tình báo do một nhóm nhân viên dân sự đứng đầu gồm khoảng một chục nhà kinh doanh có quyền lợi ở Đông Dương thuộc các nước Đồng minh, mỗi người trong nhóm có tổ chức cộng tác viên riêng gồm người Pháp, Hoa và Việt; lúc đầu, mục đích của họ là làm mọi cách có thể được để bảo vệ tài sản các nước Đồng minh ở Viễn Đông. Sau trận Trân Châu Cảng, tổ chức duy nhất này bắt đầu hợp tác với du kích của ông Hồ để thu thập tin tình báo cung cấp cho lực lượng không quân của Đồng minh đóng căn cứ ở Trung Quốc và Ấn Độ.

Đầu năm 1943, từ trong nhà tù, Nguyễn Ái Quốc gửi một bức thư cho Trương Phát Khuê, viên lãnh chúa quân phiệt nam Trung Hoa, cũng là một thủ lĩnh quan trọng của Quốc dân đảng, từng tranh chấp quyền bính với Tưởng Giới Thạch và thường có quan điểm riêng của mình về Đông Dương. Nguyễn Ái Quốc nói với Trương Phát Khuê nếu được trả tự do, ông sẽ tập hợp mạng lưới tình báo của mình ở Đông Dương và sẽ cộng tác với Trương. Nhận được bức thư, Trương ra lệnh thả ông ra khỏi nhà tù ở Liễu Châu không cần báo cáo cho Tưởng Giới Thạch biết. Và chính từ thời điểm Nguyễn Ái Quốc đổi tên là Hồ Chí Minh, trước hết là để giấu lai lịch đối với Tai Li, trùm mật vụ của Tưởng. Với tên Hồ Chí Minh, ông trở thành người cầm đầu một tổ chức tập hợp rộng rãi các nhóm cách mạng người Việt gọi là Đồng minh Hội, được Trung Hoa Quốc dân đảng ủng hộ, còn Việt Minh do cộng sản tổ chức lúc đầu cũng chỉ là một bộ phận của tổ chức này.

Trong năm 1943 và 1944, Việt Minh tăng cường xây dựng lực lượng chính trị và đến cuối năm 1944, họ có một lực lượng quân sự độc lập gồm hàng vạn người dưới sự chỉ huy của Võ Nguyên Giáp, một luật sư kiêm nhà giáo trẻ tuổi, lúc bấy giờ đã bộc lộ tài năng xuất sắc về quân sự. Do tính độc lập của Việt Minh ngày càng tăng, mối quan hệ của ông Hồ với Trung Hoa Quốc dân đảng ở Trùng Khánh và Côn Minh không tránh khỏi trở nên căng thẳng. Trong tình hình đó, Trương Phát Khuê – người đã bảo trợ ông Hồ cũng chẳng làm được gì. Về phía người Pháp thì cả chính phủ Vichy (thủ tướng Pétain – ND) lẫn phe nước Pháp tự do (của tướng De Gaulle – ND) cũng đều lo lắng trước tình hình hoạt động của ông Hồ, cả hai thế lực này đã dẹp mối bất đồng có từ lâu để trao đổi tin tức mật về ông Hồ.

Trong nửa năm cuối 1944, ông Hồ bắt đầu nhìn sang phía người Mỹ, và những gì xảy ra trong hai năm tiếp sau đó, kể cả câu chuyện thơ mộng lạ lùng trong rừng giữa ông Hồ với những người lính trẻ như Giôn, đã mang âm hưởng một vở kịch vui nhưng câu chuyện trên thực tế lại có một kết thúc buồn. Vào cuối năm 1944 và đầu năm 1945, ông Hồ đã 4 lần đến cơ quan Cục Tình báo Chiến lược của Mỹ ở Côn Minh để yêu cầu viện trợ vũ khí, đáp lại Việt Minh sẽ tiến hành các hoạt động tình báo và phá hoại chống Nhật, tiếp tục hoạt động cứu trợ các phi công Mỹ bị Nhật bắn rơi. Nhưng lần nào đề nghị của ông cũng bị bác bỏ. Theo lời kể của P. E. Hi-li-oen (P. E. Helliwell), Cục trưởng Cục Tình báo Chiến lược Mỹ ở Trung Quốc luôn luôn nhất quán trong chủ trương không giúp những người đã biết rõ là cộng sản như ông Hồ vì lo ngại sẽ có hậu quả rắc rối sau chiến tranh.

Tuy nhiên, cùng thời gian ấy, vẫn theo lời kể của Hi-li-oen, dù chính sách của Tổng thống Ru-dơ-ven đã công bố là Mỹ không dính dáng gì với phong trào kháng chiến ở Đông Dương – sau này Hi-li-oen có nói rằng, bản thân ông ta không hề nhận được lệnh trực tiếp nào về vấn đề này – mà việc quyết định không giúp ông Hồ lúc đó chủ yếu là do ông Hồ không chịu cam kết chỉ dùng số vũ khí nhận được để chống Nhật chứ không dùng để chống Pháp.

Nhưng ông Hồ vẫn kiên trì thương lượng. Cuối cùng, Hi-li-oen trao cho ông 6 khẩu súng ngắn và 20.000 viên đạn, nhưng chỉ coi đó là quà tặng đáp lại việc Việt Minh cứu được 3 phi công Mỹ. Sau đó, vào thời gian Mỹ hứa trao trả độc lập cho Phi-líp-pin, ông Hồ viết thư cho Ri-sác Hép-nơ (Richard Heppner), Cục trưởng Cục Tình báo Chiến lược Mỹ ở Trung Quốc thời kỳ cuối chiến tranh Thế giới thứ II, yêu cầu Mỹ giúp đỡ bằng cách gây áp lực với Pháp trao trả độc lập cho Đông Dương. Sự thực là ông Hồ cũng còn nhận được vài sự giúp đỡ khác của Cục Tình báo Chiến lược và một số cơ quan khác của Mỹ và Đồng minh nhiều hơn 6 khẩu súng ngắn của Hi-li-oen, nhưng sự giúp đỡ về vật chất đó chẳng có gì là to lớn như khi họ hào hứng hứa hẹn khích lệ ông. Một quan chức tình báo cao cấp ở Viễn Đông đã nói: “Ông Hồ muốn làm việc với chúng ta nhưng chúng ta không bao giờ bắt tay ông ấy vì chúng ta không thể cung cấp tài chính cho ông ấy”.

Ông Hồ còn thăm dò nhiều nguồn viện trợ khác trong các nước Đồng minh. Trung tướng Cle Chen-nôn (Claire Chennault), Tư lệnh Tập đoàn không quân 14 của Mỹ đã được các bạn bè Quốc dân đảng Trung Quốc báo trước, phải tránh liên hệ với ông Hồ nhưng rồi có lần đã có người giới thiệu “một ông già người Việt” đến xin gặp. Cũng chẳng có gì xảy ra sau lần gặp đó, nhưng người Anh thì tỏ ra sẵn sàng giúp đỡ hơn và vào tháng 11-1944, sau khi ông Hồ bí mật trở lại Bắc Kỳ với một lực lượng Việt Minh khoảng hai trăm người, họ đã thả dù tiếp tế cho những người Pháp thuộc phe kháng chiến (phe De Gaulle – ND) và cho du kích Việt Minh. Cùng đi với ông có một người trước đây có quan hệ với các nhà cựu kinh doanh Mỹ ở Đông Dương, những người này đã có lúc cộng tác với người của ông Hồ. Nhóm bí mật này vốn lúc đầu làm việc cho Cục Tình báo Chiến lược, nhưng lúc này lại thuộc quyền của một cơ quan của Lục quân Mỹ, Cơ quan Yểm trợ Không-Lục (AGAS-Air Ground Aid Service).

Số vũ khí mà ông Hồ và nhóm người ít ỏi của ông đưa về Bắc Kỳ lúc đó một phần là từ các nguồn của Cục Tình báo Chiến lược (O.S.S) mặc dù ngay từ đầu số vũ khí ấy phân phát ra không phải vì mục đích đó, một phần là lấy từ các kho vũ khí khác của Mỹ.

Ngay giữa miền rừng núi phía Bắc của Bắc Kỳ, trong một vùng hỗn tạp có đủ các loại: Phỉ Trung Quốc, tàn quân Pháp tự do, một số lính Mỹ nhảy dù xuống và nhiều nhóm quốc gia khác tích cực hoạt động, Hồ Chí Minh đã lập đại bản doanh cách mạng của mình. Bộ đội Việt Minh dưới quyền của ông Giáp, người chỉ huy trẻ tuổi, đã thành công trong hoạt động quấy rối quân Nhật, tuyên truyền vận động cho công cuộc giải phóng Việt Nam, cứu thêm được một số phi công Đồng minh. Một người Mỹ đã từng sống với ông Hồ tại cơ quan chỉ huy trong rừng của ông trong thời kỳ đó nay còn nhớ nét nổi bật nhất ở ông Hồ là “một con người có tính cách mạnh mẽ, ý chí kiên định”. Anh ta nhận xét về ông Hồ như sau: “Muốn đánh giá một con người cần dựa trên cơ sở xem người đó đang đeo đuổi cái gì. Ông Hồ không thể là người theo Pháp, và ông biết cách đánh Pháp theo cách của mình. Ông rất e ngại Trung Hoa Dân quốc, và không thể cộng tác với họ vì ông biết họ lúc nào cũng rất tham lam. Mát-xcơ-va thì ở quá xa… Nếu không đứng về phía Đồng minh trong cuộc chiến tranh, tất nhiên là ông Hồ không có thêm cơ hội giành lại độc lập cho đất nước từng bị sự thống trị lâu dài của chủ nghĩa thực dân Pháp. Nhưng bây giờ (năm 1965), ông Hồ đã ngồi lên lưng ngựa rồi, mặc dù không rõ con ngựa ông đang cưỡi là loại ngựa gì. Nhưng có thể nói chắc chắn là vào thời gian đó ông ta đã giúp chúng ta (Mỹ). Chúng ta và người Pháp lúc ấy đang ở trong thế có thể giúp ông trong tương lai. Tôi nghĩ, sau này ông ấy sẽ vẫn sẵn sàng giữ quan hệ tốt với phương Tây”./.

Quang Doãn
(Giới thiệu và biên dịch)

Kỳ 1: Câu chuyện của viên Trung úy Mỹ
Kỳ 2: Bức thư của Hồ Chí Minh

Kỳ 4: Các ông sẽ phải bỏ cuộc.

qdnd.vn

Tầm nhìn Hồ Chí Minh qua con mắt một nhà báo Mỹ – Kỳ 2

Bức thư của Hồ Chí Minh

QĐND – Ông Hồ và Giôn đã từng uống rượu, ăn gan hổ ninh nhừ. Ngày nay nhắc lại chuyện cũ, Giôn thú thật sự ngây thơ của mình là hồi ấy anh cứ nghĩ rằng ông Hồ không phải là người cộng sản. Nhưng dù ông đúng là cộng sản, Giôn vẫn tin chắc rằng ông Hồ rất thành thật muốn hợp tác với phương Tây, đặc biệt với Pháp và Hoa Kỳ. Giôn hiện còn giữ hai lá thư viết bằng tiếng Anh của ông Hồ gửi cho anh ta lúc ở trong rừng. Một lá thư viết không bao lâu sau khi Nhật đầu hàng Đồng minh vào lúc Việt Minh sắp sửa nắm được quyền kiểm soát phong trào quốc gia, toàn văn như sau :

Trung úy (Giôn) thân mến,

Từ lúc chia tay với ông đến nay sức khỏe của tôi có kém đi. Có lẽ tôi sẽ phải nghe lời khuyên của ông di chuyển đến một vùng khác dễ tìm lương thực để sức khỏe được tốt hơn.

Tôi gửi tặng ông một chai rượu, hy vọng ông sẽ vừa ý. Mong ông vui lòng cho tôi biết những tin tức về tình hình quốc tế ông đã nhận được.

Nhờ ông gửi tới Đại bản doanh của ông bức điện sau đây :

1. Đại Việt (một tổ chức quốc gia chống Việt Minh) đang có kế hoạch tiến hành hoạt động khủng bố người Pháp ở nhiều nơi rồi đổ trách nhiệm cho VML (Mặt trận Việt Minh). VML đã chỉ thị cho hai triệu hội viên và dân chúng thuộc quyền của mình hết sức cảnh giác và khi có điều kiện phải chặn đứng âm mưu tội ác của Đại Việt. VML tuyên bố trước thế giới mục tiêu của mình là độc lập dân tộc. VML đấu tranh bằng biện pháp chính trị và nếu cần sẽ bằng biện pháp quân sự. Nhưng không bao giờ dùng hành động tội ác và bất lương. 

2. Ủy ban Giải phóng Dân tộc của VML đề nghị các nhà chức trách của chính phủ Hoa Kỳ thông báo cho Liên hợp quốc tình hình sau đây. Chúng tôi đã đứng về phía Liên hợp quốc đánh Nhật. Ngày nay Nhật đầu hàng, chúng tôi đề nghị Liên hợp quốc thực hiện lời hứa của mình là mọi dân tộc sẽ được hưởng dân chủ và độc lập. Nếu Liên hợp quốc quên lời hứa long trọng của mình và không trao độc lập hoàn toàn cho Đông Dương, chúng tôi sẽ tiếp tục chiến đấu cho đến khi giành được độc lập mới thôi.

Ký tên: Ủy ban Giải phóng của VML.

Xin cảm ơn ông vì đã làm phiền ông nhiều. Xin gởi ông lời chúc tốt đẹp

Thân ái chào ông, Hồ (sic)

(“sic” có nghĩa là “giữ đúng nguyên văn tiếng Anh” của người viết bức điện – ND).

Ngày 19-8-1945, hơn 10 vạn quần chúng thủ đô Hà Nội đã tham gia mít tinh, mở đầu cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền. Ảnh tư liệu

Điều gì có thể cắt nghĩa được sự khác biệt giữa hai thời kỳ 1945 và 1965, giữa những ngày chung sống thân thiết của Giôn với ông Hồ Chí Minh ở trong rừng-thời kỳ mà Mỹ đang có uy tín rộng lớn ở châu Á-với tấm thảm kịch phức tạp của cuộc chiến tranh Việt Nam ngày nay, khi mà người Mỹ đang tiến hành cuộc ném bom đất nước của ông Hồ? (Sách này tái bản lần thứ 5 vào năm 1965).

Những người cho rằng lẽ ra cần phải tranh thủ ông Hồ về phía chúng ta nay vẫn giữ quan điểm đó mặc dù từ lâu họ biết rõ sự thực ông Hồ không bao giờ chao đảo khỏi con đường Mác-xít – Lê-nin-nít. Mặc dù những quan điểm tư tưởng của ông thuộc lớp người chính thống Mác – Lê-nin (mà cũng có thể chính vì những quan điểm đó rất chính thống), và cũng do Đông Dương ở xa Mát-xcơ-va của Xta-lin mà ông Hồ đã viết nên bản tiểu sử cách mạng độc đáo riêng của mình. Vào thời kỳ đó, ông không tỏ ra là một kẻ ly khai phong trào cộng sản quốc tế mà lại càng bộc lộ là một chiến sĩ Bôn-sê-vích có quan điểm độc lập, một Mô-hi-can Mác-xít cuối cùng giữa chốn hoang vu Đông Nam Á chống chế độ thực dân. Nếu cho rằng đó chẳng qua là ông ta đã mê hoặc được vài người Mỹ để tạo mối quan hệ bạn bè vui vẻ nhưng nguy hiểm trong những tháng trước và sau khi Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, nhưng lại có thể kể ra nhiều loại bằng chứng khác nữa ngoài câu chuyện của Trung úy Giôn để chứng minh một cách chắc chắn rằng ông Hồ đã thật lòng với điều ông nói, ông rất muốn kết thân với những người Mỹ và những người Pháp có tư tưởng tự do, những người mà ông hy vọng có thể giúp ông tìm ra một con đường ôn hòa để giành lại tự do cho Việt Nam. Phải chăng đó chỉ là một nước cờ của ông Hồ, một diễn viên tuyệt vời, và phải chăng ông đã lợi dụng một số ít bạn bè người nước ngoài để xúc tiến sự nghiệp cháy bỏng của mình theo viễn ảnh của Mát-xcơ-va? Có khá nhiều bằng chứng về sự thành thực của ông Hồ để bác bỏ kết luận quá giản đơn đó. Chẳng phải do Mát-xcơ-va ở quá xa, không giúp gì cho ông Hồ một cách cụ thể trong những năm khó khăn trước đó, nhưng điều quan trọng là lúc bấy giờ nước Trung Hoa cộng sản chưa ra đời. Vậy thì lúc đó có ai hơn người Mỹ – những người đang tỏ ra tích cực chống chủ nghĩa thực dân khi vạch ra kế hoạch cho thế giới sau chiến tranh – đang có tư thế có thể giúp ông Hồ giành lại tự do cho đất nước từ tay người Pháp và đồng thời ngăn chặn được sự xâm nhập của Trung Hoa Quốc dân Đảng?

Chính sách của chính quyền Mỹ trong thời gian chiến tranh đối với vấn đề Đông Dương có lúc tỏ ra tích cực nhưng cũng có lúc mập mờ. Tổng thống Ru-dơ-ven (Roosevelt) có lúc đã nhận được sự chấp thuận có tính chất thăm dò của Xta-lin và Tưởng Giới Thạch về việc thực hiện chế độ ủy trị đối với Đông Dương sau chiến tranh, mặc dù trước đó cả hai nước này đã tán thành ý kiến trao trả độc lập cho người Việt Nam. Sớc-sin (Churchill) đã có phản ứng tiêu cực đối với đề nghị thực hiện chế độ ủy trị và Ru-dơ-ven đã chê trách ông ta là một kẻ theo chủ nghĩa đế quốc già cỗi. Tuy nhiên Ru-dơ-ven lại có thái độ có phần mập mờ khi có thời cơ cần phải làm cái gì đó để mở đường thực hiện độc lập cho Việt Nam. Tháng 10-1944, ông ta nói với Bộ trưởng Ngoại giao Co-đen Hun (Cordell Hull): “Chúng ta không được có bất cứ quan hệ nào đối với các nhóm kháng chiến ở Đông Dương”. Và khi một phái đoàn của phe nước Pháp tự do tới Kandy (Xây-lan) để yêu cầu Bộ tư lệnh Đông Nam Á của Đồng minh giúp đỡ, Ru-dơ-ven đã ra lệnh: “Không một đại diện nào của Mỹ ở Viễn Đông, bất kể là dân sự hay quân sự, được phép có bất cứ quyết định nào liên quan đến các vấn đề chính trị với người Pháp hay bất cứ người nào khác”.

“Người nào khác” có thể bao gồm cả ông Hồ Chí Minh mặc dù Ru-dơ-ven chưa từng nghe nói về ông ta. Ông Hồ từ lâu vốn là người bí ẩn, có nhiều tên gọi. Về điều này, ta chỉ cần nhớ lại thời kỳ 1939, khi ông Hồ còn lấy tên là Nguyễn Ái Quốc. Năm ấy, tiếp theo sự thất bại của Mặt trận Bình Dân ở Pháp, Đảng Cộng sản Đông Dương do ông Hồ xây dựng phải phân tán và đi vào hoạt động bí mật. Khi quân Nhật tràn vào Bắc Kỳ tháng 9-1940, những người cộng sản và những người quốc gia không cộng sản đã tiến hành nhiều cuộc khởi nghĩa chống cả Pháp và Nhật, nhưng đã nhanh chóng bị đàn áp. Tháng 5-1941, sau khi Nhật dựng lên chế độ bù nhìn gồm những người Pháp theo chính phủ Vichy, ông Hồ cùng những người cộng sản Việt Nam khác đã tổ chức cuộc họp với một số người theo chủ nghĩa quốc gia tại Tsin Li trên đất Trung Quốc gần biên giới Bắc kỳ. Họ đã tập hợp nhiều bộ phận đang hoạt động phân tán vào tổ chức Việt Nam Độc lập Đồng minh-gọi tắt là Việt Minh-và linh hồn lãnh đạo của tổ chức này, người được bầu làm người đứng đầu, là ông già để râu Nguyễn Ái Quốc, người bất ngờ xuất hiện trong buổi họp, mặc dù trước đó nhiều người tin rằng ông đã chết vì bệnh lao ở trong rừng nhiều năm rồi. Không hề phô trương mình là người cộng sản, ông Hồ đã cùng với bạn bè tập trung vào việc thành lập một mặt trận quốc gia chung để tiếp tục cuộc chiến đấu chống cả Nhật và Pháp để giành tự do cho Việt Nam.

Quang Doãn
(giới thiệu và biên dịch)

Kỳ 1: Câu chuyện của viên Trung úy Mỹ

Kỳ 3: “Ông già người Việt” và những cuộc gặp với người Mỹ

qdnd.vn

Tầm nhìn Hồ Chí Minh qua con mắt một nhà báo Mỹ – Kỳ 1

QĐND – Trong cuốn sách của mình, Cuộc cách mạng bị bỏ lỡ (The Lost Revolution), được xuất bản năm 1965, nhà báo Mỹ Rô-bớt Sáp-lân (Robert Shaplen) cho rằng, Pháp và Mỹ đã không nhận định đúng về Cụ Hồ Chí Minh và không biết ứng xử một cách thực tế vào năm 1945 và 1946 đối với cuộc Cách mạng Tháng Tám của Việt Nam, gây ra hai cuộc chiến tranh tàn bạo và phi lý, để rồi cùng phải chịu thất bại thảm hại nặng nề nhất trong lịch sử đối với cả Pháp và Mỹ. Cuộc cách mạng bị bỏ lỡ chủ yếu nói về tình hình Việt Nam, những diễn biến trong những tháng trước cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945 cho đến năm 1965, khi Mỹ đẩy mạnh leo thang chiến tranh Việt Nam.

Xin trích giới thiệu với bạn đọc.

Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bộ trưởng Hải ngoại Pháp Ma-ghi-uýt Mu-tê (Marius Moutet) ký bản tạm ước Việt – Pháp ngày 14-9-1946. Ảnh tư liệu

Câu chuyện của viên Trung úy Mỹ

Trong những tháng trước và sau cuộc chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, nếu như mối quan hệ giữa người Mỹ và Việt Minh ở Nam Kỳ chưa bao giờ vượt qua tính chất thăm dò thì ở phía Bắc, mối quan hệ đó lại có phần chặt chẽ hơn rất nhiều. Có nhiều thời điểm trong lịch sử đã xảy ra những sự kiện mà sau này nhìn lại dù còn mờ mịt hay rời rạc, những sự kiện ấy vẫn gợi ra rất nhiều giả định về khả năng phát triển tình hình tiếp sau đó: Giá như vào thời điểm đó những sự kiện ấy đã được đánh giá một cách khác đi, giá như cứ để cho những sự kiện ấy được tiến triển thuận chiều… thì cả chuỗi sự kiện tiếp theo có thể đã khác đi rồi chăng? Ngày nay (năm 1965), chúng ta có cơ sở để tin rằng đã từng có những mối quan hệ giữa ông Hồ Chí Minh và một số người Mỹ trong năm 1945 và 1946, và đặc biệt hơn là mối quan hệ của ông Hồ với một nhóm nhỏ nhà chính trị và ngoại giao Pháp. Ngày nay, người ta có thể dễ dàng gạt bỏ những sự kiện ấy và cho rằng ý nghĩa của chúng chẳng có gì quan trọng nếu cứ đinh ninh rằng những người cộng sản và đặc biệt là ông Hồ chưa bao giờ có một ý đồ nào khác ngoài việc lập một quốc gia cộng sản theo hình ảnh Mát-xcơ-va ở Việt Nam. Tuy nhiên, theo quan điểm của một số người với từng mức độ am hiểu tình hình chính trị khác nhau sau chiến tranh thế giới II và từng góp phần tạo nên lịch sử của thời kỳ đó, những giả thiết xa xôi như thế chỉ là sự giản đơn hóa quá mức cả một chuỗi tình huống chính trị hết sức tế nhị và phức tạp lúc bấy giờ.

Tôi vẫn luôn có chung quan điểm với rất nhiều, nếu không nói là phần lớn những người đã theo dõi tình hình Đông Dương, là vào thời kỳ đó cả người Pháp và Mỹ, đặc biệt là những nhà vạch chính sách chủ chốt của nước Pháp ở Pa-ri lúc bấy giờ, đã phạm một sai lầm nghiêm trọng không biết ứng xử một cách thực tế hơn với ông Hồ Chí Minh vào năm 1945 và 1946, và bởi đó, toàn bộ tiến trình các sự kiện tiếp sau đó có thể đã diễn biến khác đi, dẫn đến chiến tranh đổ máu. Trong những năm gần đây (giữa thập kỷ 1960 – ND), một số quan chức Mỹ ở cấp cao nhất đã nói với tôi rằng, theo họ nghĩ đáng lẽ ra cần phải đi một nước cờ táo bạo với ông Hồ Chí Minh vào thời đó. Lịch sử, trái với lòng tin của nhiều người, rất hiếm khi tự lặp lại và cũng rất hiếm khi có được thời cơ lần thứ hai. Đây là một trong những thảm kịch đặc biệt của chính sách Mỹ sau chiến tranh thế giới thứ hai đã bỏ lỡ nhiều cơ hội đầu tiên.

Có nhiều cách thuật lại khác nhau trong việc ông Hồ tìm cách liên lạc với phương Tây trong và sau chiến tranh thế giới thứ hai. Chúng ta hãy bắt đầu bằng một chuyện tuy có phần chất phác đơn sơ, nhưng lại nói lên được rất nhiều thực tế lúc bấy giờ. Đó là câu chuyện về  một cựu Trung úy Lục quân Mỹ – trong câu chuyện này tôi chỉ được gọi anh ta là Giôn (John) – người vào tháng 5-1945 đã nhảy dù xuống khu căn cứ của ông Hồ nằm trong rừng gần làng Kim Lũng ở Việt Bắc để thực hiện nhiệm vụ thiết lập một đường dây bí mật giải thoát các nhân viên quân sự Đồng Minh. Làng Kim Lũng ở ven khu rừng già, nằm khuất sau lùm cây rậm. Những thung lũng nhỏ hẹp lọt giữa những dãy núi cao và ở một trong những thung lũng nhỏ đó, khu căn cứ của ông Hồ Chí Minh gồm 4 chiếc lán nhỏ cất bên cạnh một dòng suối dưới chân một đỉnh núi cao cách biệt với thế giới bên ngoài. Mỗi lán chỉ rộng khoảng 1,2 mét vuông, cột tre đỡ sàn cao cách mặt đất khoảng 1,2 mét. Ông Hồ cũng sống kham khổ như những người khác.

Chính giữa cái nôi cách mạng nguyên sơ nằm sâu trong vùng Nhật kiểm soát, Trung úy Giôn đã có cơ hội độc nhất được sống và làm việc với ông Hồ trong nhiều tháng. Anh ta nhận thấy, ông Hồ hoàn toàn có thái độ hợp tác khi ông phái các toán du kích đi trinh sát lùng sục yểm trợ, kể cả một lần đi cứu một số người Pháp bị giam giữ gần biên giới Trung Quốc. Giôn đã dùng chiếc máy vô tuyến xách tay của anh để giúp ông Hồ bắt liên lạc lần đầu tiên với những nhân viên thương lượng người Pháp lúc bấy giờ đang ở Côn Minh, Trung Quốc, những người mà chẳng bao lâu sau đó có thể sẽ cùng tranh luận với ông Hồ ở Hà Nội về tương lai của Đông Dương sau chiến tranh. Nhưng chính bản thân Giôn đã đóng một vai trò trực tiếp hơn liên quan tới những vấn đề của Việt Nam trong câu chuyện thân mật với ông Hồ khi ông đang chuẩn bị cho bản Tuyên ngôn Độc Lập.

Giôn kể lại: “Ông Hồ nhiều lần hỏi tôi có thể nhớ được lời văn của bản Tuyên ngôn Độc lập của chúng ta (Mỹ) không. Tôi chỉ là một người Mỹ bình thường, làm sao tôi nhớ được. Tất nhiên, nếu cần tôi có thể điện về Côn Minh xin thả dù cho tôi một bản”. (Có một điều ít người biết, chính ở sân bay Lũng Cò – Tuyên Quang, một bản Tuyên ngôn Độc lập của nước Mỹ đã được Không đoàn 14 thả xuống theo yêu cầu của Nguyễn Ái Quốc… – “Đường dẫn đến Tuyên ngôn độc lập” của Đại tá Thế Kỷ, người giúp việc cho ông Vũ Kỳ, Thư ký của Bác Hồ – theo Báo Tuổi Trẻ cuối tuần 31-8-2008).

Nhưng điều cốt yếu mà ông Hồ cần lại chính là tinh thần toát lên của bản tuyên ngôn đó. Càng trao đổi ý kiến với ông, tôi càng thấy thực sự ông biết nhiều hơn tôi. Trong hầu hết mọi chuyện tôi trao đổi với ông, ông đều biết rõ hơn tôi, nhưng thấy yêu cầu của ông rất kiên quyết, buộc lòng tôi cũng phải nói lên ý kiến của mình và thật là một điều lạ là ông rất chú ý lắng nghe tôi nói. Ông Hồ thật sự là một người hết sức dễ mến. Nếu như tôi phải nêu lên một đức tính về ông già đang ngồi trên ngọn đồi trong khu rừng ngày ấy, thì đó là đức tính hiền hậu ở con người ông”.

Quang Doãn
(Giới thiệu và biên dịch)

Kỳ 2: Bức thư của Hồ Chí Minh

qdnd.vn

Thiên tài Hồ Chí Minh là khả năng tập hợp người yêu nước

QĐND – Như Sự kiện và Nhân chứng từng giới thiệu, nữ nhà văn Mỹ Lê-đi Bớc-tơn là một tác giả, dịch giả nổi tiếng về văn học và văn học sử về đề tài Việt Nam. Bà là một nhà hoạt động xã hội theo lý tưởng của tổ chức cứu trợ Quây-cơ (Quaker), nhưng cuộc sống của nhân dân Việt Nam đã thôi thúc bà cầm bút. Cảm phục thiên tài Hồ Chí Minh, bà đã dịch cuốn Vừa đi đường vừa kể chuyện của Người sang tiếng Anh (Bảo tàng Hồ Chí Minh và NXB Thế giới xuất bản năm 2009), viết sách và nhiều bài báo về vị lãnh tụ của nhân dân Việt Nam.

Nhà văn Lê-đi Bớc-tơn. Ảnh: Khôi Nguyên

Phóng viên (PV): Thưa nhà văn Lê-đi Bớc-tơn,bà bắt đầu nghiên cứu về Hồ Chí Minh từ năm nào?

Bà Lê-đi Bớc-tơn: Tôi bắt đầu nghiên cứu sâu về Hồ Chí Minh từ năm 1995, sau khi hoàn thành cuốn Tiếp sau nỗi buồn viết về Việt Nam. Tên tiếng Anh của cuốn sách tôi lấy ý từ một tứ thơ trong bài “Trời hửng”, thuộc tập Nhật ký trong tù. Dĩ nhiên là tôi đã quan tâm tới Chủ tịch Hồ Chí Minh từ lâu và ngày càng nhận thấy rõ hơn rằng: Khi chúng tôi, những người phương Tây, nghĩ rằng mình đã biết rõ Hồ Chí Minh, thì chính lại là lúc có thể mắc sai lầm rất rõ rệt.

Trong những năm chúng tôi soạn thảo Tiếp sau nỗi buồn, chị Nguyễn Hạc Đạm Thư kể cho tôi nghe những mẩu chuyện về quan sát riêng của chị về Hồ Chí Minh. Một số trong các mẩu chuyện đó đã xuất hiện trong Hồ Chí Minh: Một hành trình của tôi. Tôi thật cảm hứng khi nghe các câu chuyện về Hồ Chí Minh do các bạn bè Việt Nam từng tham gia Cách mạng Tháng Tám và các cuộc kháng chiến kể lại. Rồi tôi gặp được những người từng biết về Chủ tịch Hồ Chí Minh khá rõ để nghe họ kể về Người.

– Chúng ta hãy thử làm một thống kê xem bà đã có mấy cuốn sách về Hồ Chí Minh? Có mấy cuốn về Việt Nam?

– Với sự trợ giúp của bạn bè ở Việt Nam và trên thế giới, tôi vừa viết xong một cuốn sách tiểu sử khổ nhỏ về lãnh tụ Hồ Chí Minh bằng tiếng Anh, nhan đề Hồ Chí Minh: Một hành trình với nhiều thông tin chưa từng được công bố. Đã có rất nhiều người đóng góp vào tập sách.

Chúng tôi hy vọng bản tiếng Việt cuốn Hồ Chí Minh: Một hành trình sẽ được NXB Thế giới phát hành vào mùa xuân này.

Tôi viết cuốn sách này vì áy náy về những thông tin thiếu chuẩn xác bằng tiếng Anh khi viết về Hồ Chí Minh. Nhiều nhà văn phương Tây đã không nhờ các đồng nghiệp Việt Nam soát xét lại bản thảo của họ. Chúng tôi, những người nước ngoài dễ mắc lỗi khi viết về đề tài Việt Nam. Tôi cũng là người đặc biệt hay mắc lỗi. Nhưng sau mỗi lần như thế, tôi đã học hỏi thêm được nhiều điều. Tôi tập hợp thêm những chi tiết, tìm hiểu sâu hơn vấn đề, rồi những vấn đề mới xuất hiện. Nhờ đó, nội dung cuốn sách Hồ Chí Minh: Một hành trình ngày càng trở nên phong phú.

Mọi người nghĩ tôi đã viết nhiều sách về Việt Nam. Trên thực tế điều này không đúng. Tôi có viết một cuốn sách về người tị nạn đã rời khỏi Việt Nam. Còn về đất nước con người Việt Nam, tôi chỉ viết cuốn After Sorrow, sau đó được dịch sang tiếng Việt (Tiếp sau nỗi buồn), và tiếng Pháp (Vietnam l’après-chagrin). Các bản này đều được NXB Thế giới phát hành.

Bìa cuốn sách “Vừa đi đường vừa kể chuyện” do nhà văn Lê-đi Bớc-tơn chuyển ngữ sang tiếng Anh.
Ảnh: Khôi Nguyên

Nhưng tôi có hiệu đính, giúp nghiên cứu, hoặc là đồng tác giả của nhiều cuốn sách. Học giả Hữu Ngọc và tôi cùng biên soạn tập sách song ngữ nhỏ: Những câu thường hỏi về văn hóa Việt.

– Bà đã dịch một số tác phẩm của Chủ tịch Hồ Chí Minh sang tiếng Anh. Những cuốn đó được mọi người đón đọc như thế nào?

– Sát hạch đối với nhà văn hay nhà thơ chính là các tác phẩm của họ liệu có thể được các thế hệ nối tiếp nhau đọc hay không. Hè năm vừa qua, tôi đã đọc một số đoạn của bản tiếng Anh cuốn Vừa đi đường vừa kể chuyện cho những người dân Bô-xtơn(Boston), Mỹ. Trong số những đoạn tôi đã đọc có mẩu chuyện về các phòng thiêu người nơi phát xít Đức tàn sát sáu triệu người Do Thái trong Chiến tranh thế giới thứ II. Đây là một trong những đoạn văn có sức tố cáo nhất về tội ác diệt chủng đối với người Do Thái. Sau đó, nhiều người, cả dân gốc Do Thái và những người không phải là Do Thái, đã nói rằng họ rất xúc động về đoạn văn này của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

– Có những bài viết của bà, ví dụ như “Tài giả dạng của Hồ Chí Minh” là phát hiện mới và độc đáo. Trong bài viết đó, bà trích bài báo của tờ South China morning Post miêu tả vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông 1931-1933. Những tài liệu đó bà khai thác ở Việt Nam hay nước ngoài?

Vài năm trước đây, khi chuẩn bị sang Anh công tác, tôi đã đến hỏi TS. Nguyễn Thị Tình, lúc đó Giám đốc Bảo tàng Hồ Chí Minh, rằng tôi có thể tìm hiểu tại Luân Đôn về những gì mà Bảo tàng đang quan tâm. Chị Tình nhờ tôi tìm hiểu những hồ sơ tư liệu có liên quan đến luật sư Lô-giơ-bai (Loseby) và vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông. Tôi đã tới tra cứu ba ngày tại Lưu trữ Quốc gia Anh.

Tôi đã không tìm được điều gì. Hoàn toàn không. Nhưng trước khi ra sân bay rời Luân Đôn, tôi ngồi “chơi” với mục tìm kiếm trên chiếc máy tính trữ các thư mục của Lưu trữ Quốc gia Anh. Một cách cầu âu, tôi đánh chữ “Nguyen Ai Quoc”. Sau hai tiếng “póp, póp”, đã xuất hiện hai tệp “Vụ bắt giữ Nguyễn Ái Quốc”, một được lưu trữ vào năm 1931, một vào năm 1932. (Hóa ra trước đó tôi đã tìm kiếm bằng những từ khóa không thích hợp. Xin được gợi ý: Nếu tìm hiểu Hồ Chí Minh không nên tìm kiếm bằng từ khóa Tống Văn Sơ khi ở phương Tây. Đây là từ được dịch sang tiếng Việt, không phải từ gốc, chỉ sử dụng trong tiếng Việt. Ở nước ngoài, cần tìm kiếm bằng từ khóa “Sung Man Cho”, hoặc “Nguyen Ai Quoc”).

Nhà văn Lê-đi Bớc-tơn (thứ nhất từ trái sang) chụp ảnh với bà Nguyễn Thị Thập (thứ hai từ trái sang) Chủ tịch Hội liên hiệp Phụ nữ Việt Nam và một số nữ cán bộ cách mạng. Ảnh tư liệu

Các thông tin trong hai tệp được trữ dưới dạng micrô phim. Tôi “kéo” được hai cuộn phim từ ô phích đựng phim, in chúng ra, rồi chạy nước rút ra sân bay, vác theo 250 trang tài liệu cùng đồ đoàn của mình.

Vụ án nào cũng có hai bên. Việt Nam từ lâu đã biết về bên “bị” là Hồ Chí Minh, thông qua hồi ức của Người thể hiện trong cuốn Vừa đi đường vừa kể chuyện, cũng như qua chuyến thăm Việt Nam của luật sư Lô-giơ-bai năm 1960. Còn hai cuộn micrô phim kể trên mở đường đến bên “nguyên” của vụ án, bên chống lại Hồ Chí Minh, đó là đế quốc Anh và thực dân Pháp.

Cả thảy, tôi đã dành 5 năm để nghiên cứu Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông trong những chuyến đi công tác ở Pháp, Anh, Hồng Kông, Nhật, và cả khi ở Hoa Kỳ (Vâng, đúng vậy. Nhiều hồ sơ có liên quan đến Người hiện có cả ở Lưu trữ Quốc gia Hoa Kỳ!). Các đồng nghiệp tại Bảo tàng Hồ Chí Minh đã dựa vào tư liệu của cả hai phía để biên soạn một cuốn sách về Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông. Các chuyên gia thiết kế, chế bản của NXB Chính trị Quốc gia đã sáng tạo ra một bố cục sách gây được ấn tượng thật sâu sắc. Tuy nhiên, chúng tôi vẫn chưa ngừng công việc tìm kiếm sử liệu liên quan đến sự kiện này. Chẳng hạn, chỉ mới gần đây thôi, tôi mới tìm được ra tấm ảnh của Phran-xít Gien-kin (Francis Jenkin), vị trạng sư bào chữa đã biện hộ cho Hồ Chí Minh tại Tòa án tối cao Hồng Kông. Chúng tôi sẽ giới thiệu bức ảnh chân dung của Phran-xít Gien-kin trong bản tiếng Việt cuốn Hồ Chí Minh: Một hành trình sắp ra mắt bạn đọc.

– Bà từng lặn lội sang Luân Đôn để tìm hiểu những ngày Hồ Chí Minh làm việc ở đó – một việc mà rất ít nhà sử học Việt Nam có dịp thực hiện. Đó có phải là lợi thế của bà so với đồng nghiệp Việt Nam khi nghiên cứu về Người?

– Khi ở Luân Đôn, tôi đã phát hiện được một số chi tiết chưa chuẩn xác trên sách báo viết về quãng đời của Hồ Chí Minh tại Luân Đôn, và cũng xác định được rằng đã không thể tìm được tư liệu để minh chứng cho một số sự việc đang cần thẩm định. Chẳng hạn, đã xác định được rằng chàng trai Nguyễn Tất Thành lúc đó chưa rành tiếng Anh đến mức có thẻ vào đọc tại Phòng đọc Hình tròn của Thư viện trung tâm Anh quốc. Hơn nữa, đã không có một bí danh, biệt danh nào của Hồ Chí Minh xuất hiện trên sổ đăng ký bạn đọc, được bảo quản cẩn thận từ những ngày đó.

Tôi cũng xác định được rằng không tìm được các tư liệu từ những năm 1900 thể hiện quá trình Hồ Chí Minh làm việc tại khách sạn Đrây-tơn Coóc-tơ (Drayton Court Hotel), khu Oét I-linh (West Ealing), Luân Đôn (nay là một quán rượu đông khách), hoặc tại Khách sạn Các-tơn (Carlton) sang trọng ở trung tâm Luân Đôn (khách sạn này đã bị bom của Đức phá hủy hoàn toàn trong Chiến tranh thế giới thứ II).

Từ cương vị công tác cho một tổ chức phi chính phủ quốc tế, quả thật tôi đã có được ưu thế rõ rệt so với một số đồng nghiệp Việt Nam. Vì cương vị ấy cho phép tôi có những dịp công tác sang các nước ngoài Việt Nam, khi tôi có thể “quá giang”, “lợi dụng” chuyến công tác cho cơ quan để tra cứu về Hồ Chí Minh trong các kho lưu trữ. Từ khi về hưu, tôi đã không còn có được lợi điểm này, trừ chuyến đi mỗi dịp hè từ Hà Nội về Hoa Kỳ để lên lớp tại một khóa học Văn khoa. Cơ hội để tìm thấy một “dấu chân” của Hồ Chí Minh ở Hoa Kỳ hôm nay quả là có phần mỏng manh. Nhưng tôi vẫn ra sức tìm kiếm vào mỗi dịp được về Mỹ.

Có thể tôi có ưu thế trong kỹ năng tìm kiếm, nhờ “lô gích tâm lý” – sự kết hợp giữa tư duy toán học, do từng là giáo viên toán, với phương pháp kết cấu mạch văn. Chẳng hạn, có một số sử gia Hoa Kỳ nói rằng thời gian Hồ Chí Minh sống tại Bô-xtơn là không quan trọng? Có thật như thế? Kết luận như thế quả là ngược với lô gích tâm lý. Một người trẻ tuổi như Hồ Chí Minh lúc đó không học được điều gì trong suốt một năm trời ở một nước ngoài? Nếu điều này đúng, các trường đại học ở Mỹ cử sinh viên của họ sang Việt Nam thực tập một năm để làm gì?

Hãy khảo sát tình hình Bô-xtơn năm 1912-1913. Chúng ta thấy phong trào đấu tranh giành độc lập cho Phi-líp-pin thoát ách đô hộ của Mỹ, thấy bộ luật kỳ thị như Luật áp dụng riêng cho người Hoa (Hồ Chí Minh trong mắt xã hội Mỹ, do ngoại hình, hẳn được nhìn nhận như người Hoa), thấy trào lưu chống phân biệt chủng tộc sục sôi trong cộng đồng Mỹ gốc Phi (những người bị đô hộ trong lòng Hợp chủng quốc Hoa Kỳ), thấy dồn dập những cuộc tuần hành đòi quyền bầu cử cho phụ nữ. Hồ Chí Minh hẳn đã quan sát, học hỏi kinh nghiệm của các làn sóng đấu tranh này.

Giả định chúng ta áp dụng lô gích tâm lý lên tình hình trên đường phố. Chúng ta diễu qua cửa ra vào dành cho nhân viên của Pa-cơ Hao-xơ (Paker House), nơi thấp thoáng trong màn khói bếp, những người nấu bếp bận rộn giữa những đống rau củ, thịt cá. Chúng ta đi trên các phố của thành Bô-xtơn, dùng trí tưởng tượng một cách có lô gích để tư duy, xem người thanh niên có tính cách và tâm lý như Nguyễn Tất Thành-Hồ Chí Minh sẽ quan tâm đến điều gì. Chúng ta sẽ tiếp tục dòng suy tưởng tại thư viện công. Chúng ta lật các tờ báo, tạp chí, tranh ảnh của những năm 1912-1913, đọc các văn bản, các quảng cáo thời đó, để hình dung những gì Nguyễn Tất Thành-Hồ Chí Minh đã quan sát được năm 1913.

Tuy nhiên, lần theo dấu chân Nguyễn Tất Thành, chúng ta gần như chưa tìm được những dấu vết chắc chắn. Hiện nhiều câu văn vẫn chỉ mới ở dạng giả định, với các trạng từ như “hẳn”, “chắc là”, “có lẽ” …

– Bà phát hiện sự thú vị trong lời mở đầu bản Tuyên ngôn Độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đó là sự nhạy cảm của nhà văn hay là tính chính xác của một giáo viên dạy toán?

– Các chi tiết về Tuyên ngôn Độc lập của Việt Nam là một phát hiện đột xuất của tính lô-gích: Khi tôi biên dịch Tuyên ngôn Độc lập của Việt Nam, câu trích dẫn từ Tuyên ngôn Độc lập Hoa Kỳ khi được dịch ngược sang tiếng Anh lại biến thành một câu khác! Tôi hỏi lại Sác-lơ Phen (Charles Fenn), cựu sĩ quan OSS của Đồng minh, đóng tại Côn Minh năm 1945. Ông Phen trả lời vào tháng 8-1945, theo yêu cầu của Cụ Hồ ông đã gửi sang Hà Nội nguyên bản Tuyên ngôn Độc lập Hoa Kỳ cho Người. Nhận thức rằng Hồ Chí Minh khoảng năm 1913 hẳn đã quan sát phong trào đòi quyền bầu cử của phụ nữ Mỹ, rồi tư duy về giá trị của kết luận của Người trong Tuyên ngôn Độc lập của Việt Nam, tôi thấy rõ: Trong khi dịch Tuyên ngôn Độc lập Hoa Kỳ, Hồ Chí Minh đã chủ động chuyển hoán lời kêu gọi, sao cho nó bao gồm được cả đối tượng phụ nữ và dân tộc ít người.

– Có nghĩa là trong Tuyên ngôn Độc lập của Hoa Kỳ không có từ “Tất cả mọi người” như trong Tuyên ngôn Độc lập mà Hồ Chí Minh viết?

– Vài năm trước, tôi có phát biểu trước vài trăm sinh viên và hơn mười giáo sư tại Đại học Quốc gia Hà Nội. Một giáo sư Việt Nam rất giỏi tiếng Anh đã thử thách luận điểm của tôi về cách Hồ Chí Minh trình bày phần đầu bản Tuyên ngôn Độc lập. Ông ấy nói: “Chẳng nhẽ chữ “men” trong tiếng Anh lại không ngụ ý “tất cả mọi người”, tức là “cả đàn ông và đàn bà”?

“Vâng”, tôi đáp. “Vấn đề chính ở chỗ ấy. Nhưng Hồ Chí Minh hẳn đã chứng kiến hàng đoàn biểu tình, tuần hành của phụ nữ Mỹ đòi quyền bầu cử. Và Người hẳn cũng biết rằng từ “men” vào thời Hoa Kỳ ra bản Tuyên ngôn Độc lập không bao gồm phụ nữ.

“Ở hội trường này có bao nhiêu người trên 18 tuổi?”, tôi hỏi, giơ tay mình lên. Một rừng cánh tay giơ lên. “Đây cũng chính là độ tuổi đi bầu cử ở Hoa Kỳ hôm nay. Nhưng nếu chúng ta ở đây đặt mình vào thời Hoa Kỳ ra bản Tuyên ngôn Độc lập thì không một ai trong chúng ta được quyền bỏ phiếu. Không một ai. Vì sao? Vì “men” thời đó có nghĩa là “người da trắng có tài sản lớn”. Tôi là người da trắng duy nhất ở đây, nhưng không phải là người có tài sản gì đáng kể”.

Năm 1913, Hồ Chí Minh chắc chắn đã cảm thấy sự gạt bỏ người Hoa và người Mỹ gốc Phi khỏi diện được hưởng những quyền mà người Mỹ da trắng có tài sản đáng kể được thụ hưởng. Tôi khẳng định chắc chắn rằng Hồ Chủ tịch đã đặt các câu trích từ văn bản nhà nước của Mỹ và Pháp trong đoạn mở đầu của Tuyên ngôn Độc lập Việt Nam xuất phát từ các nguyên nhân về ngoại giao cấp nhà nước. Nhưng tôi cũng nhận thấy Người đã đưa vào bản Tuyên ngôn này các tư tưởng rất quan trọng của mình. Cách sử dụng ngôn từ của Hồ Chủ tịch đã thể hiện mạnh mẽ rằng Việt Nam là cộng đồng bình quyền của mọi dân tộc, và của mọi công dân cả nam và nữ.

– Nghiên cứu về Hồ Chí Minh, bà thấy ở người có điều gì đặc biệt so với các danh nhân khác?

– Chúng ta đã được biết về nhiều nhân vật lỗi lạc, đồng thời biết rằng thiên tài thường bộc lộ trong một mặt cụ thể. Còn ở Hồ Chí Minh, sự lỗi lạc của Người vượt ra khỏi khuôn khổ của một lĩnh vực nhất định. Người có khả năng đọc, nói và viết nhiều thứ tiếng, có khả năng làm thơ cả ở những thể loại khó về niêm luật, đồng thời có khả năng biểu đạt những ý tưởng phức tạp bằng những mệnh đề đơn giản, để người bình thường có thể hiểu được. Người có kiến thức sâu về chiến lược quân sự và đường lối ngoại giao, có trí nhớ tuyệt vời về những ai đã từng gặp trong đời, không phụ thuộc vào địa vị xã hội của họ, tinh thông về công tác vận động quần chúng. Danh sách này, mỗi chúng ta đều có thể bổ sung vào.

Tuy nhiên, có tài chưa đủ. Và tài năng chưa hẳn là thông thái.

Nhân tài thường bị thách thức bởi những nhân tài khác (cao nhân tất hữu cao nhân trị). Đó là lý do chúng ta thấy biết bao bút chiến và khẩu chiến trong các giới làm khoa học ở mọi nơi trên thế gian này. Nhưng thiên tài ở Hồ Chí Minh còn là khả năng tuyệt vời tập hợp những người yêu nước có chuyên môn và óc sáng tạo. Sau đó, Người cử họ vào các lĩnh vực công tác khác nhau, nơi họ có thể phát huy tốt nhất năng lực của mình cho một nước Việt Nam vừa giành độc lập. Người đưa ra những chỉ thị rõ ràng, động viên cao nhất tính chủ động sáng tạo trong thi hành nhiệm vụ được giao.

Với nhiều sự đóng góp như thế, nhưng Hồ Chí Minh rất sáng suốt khi thể hiện sự khiêm nhường. Người đã tránh được những cám dỗ vật chất, để trở thành mẫu mực cho người dân.

That’s leadership (Bản lĩnh lãnh đạo). Đó chính là đức độ của người lãnh đạo.

Hồng Sơn – Lê Đỗ (thực hiện)

qdnd.vn

GS Hoàng Minh Giám kể về những ngày vận nước “nghìn cân treo sợi tóc” (P 6)

Chủ tịch Hồ Chí Minh năm 1946.

(DVT.vn) – Theo Bác Hồ chỉ đạo, GS Hoàng Minh Giám thay mặt Đảng Xã hội Việt Nam dự Đại hội Đảng Xã hội Pháp và trình bày lập trường của Chính phủ VNDCCH.

Năm 1933, lần đầu tiên, nước Pháp có một Chính phủ Mặt trận Bình dân (Gouvernement du Front populaire). Đảng Xã hội Pháp (SFIO) được thành lập một chi nhánh tại Bắc Kỳ (Fédération SFIO du Tonkin), do Louis Caput làm thư ký, và kết nạp một số đảng viên là người Việt Nam.

Hai năm sau, lần đầu tiên Ngày Quốc tế Lao động (1/5) được kỷ niệm công khai và long trọng ở Hà Nội tại khu Đấu Xảo (nay là Cung Văn hóa lao động hữu nghị Việt – Xô) với 25 nghìn người dự. Số người Pháp dự không quá mấy chục; còn lại là người “bản xứ”: đại biểu công nhân, nông dân ngoại thành, tiểu thương, tiểu chủ, sinh viên, học sinh và giáo viên nhiều trường học (trong đó có Trường Thăng Long), công chức, nhà văn, nhà báo, đại biểu các Hội Ái hữu do Đảng Cộng sản bí mật lãnh đạo, động viên.

Sau ngày 2/9/1945 (nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được thành lập), một vấn đề đặt ra là có cần một Đảng Xã hội Việt Nam, không phải là chi nhánh của SFIO, mà là của những người trí thức Việt Nam yêu nước và yêu chủ nghĩa xã hội.

Trước khi Bác Hồ và Đoàn đại biểu ta tại Hội nghị Fontainebleau đi Pháp (31/5/1946), Hội Liên hiệp quốc dân Việt Nam (gọi tắt là Liên Việt) ra đời (27/5/1946), với nhiệm vụ mở rộng khối đoàn kết toàn dân. Hai tháng sau (22/7/1946), Đảng Xã hội Việt Nam được thành lập, tự nguyện là một thành viên tích cực của Hội Liên Việt, cùng với các thành viên khác của Hội, ra sức xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đang bị nhiều giặc ngoài, thù trong quấy rối và đe dọa.

Lúc đó tôi không có mặt ở Hà Nội, mà đang công tác trên đất Pháp, trong Đoàn đại biểu Việt Nam dự Hội nghị Fontainebleau. Tôi nhận được điện của đồng chí Phan Tư Nghĩa, Tổng Thư ký Đảng Xã hội Việt Nam (và nguyên đảng viên SFIO trên đất Pháp).

Tôi báo cáo với Bác Hồ (Bác có mặt ở Paris với tư cách là khách mời của Chính phủ Pháp). Bác bảo: “Tốt lắm. Chú cố gắng làm tốt nhiệm vụ được giao”. Rồi Bác nói thêm: “Hiện nay trong Quốc hội và Chính phủ Pháp, có ba đảng lớn hơn cả là: Đảng MRP (Phong trào Cộng hòa bình dân) theo khuynh hướng De Gaulle, Đảng Cộng sản, và Đảng SFIO. Đảng MRP không ủng hộ ta. Đảng Cộng sản ủng hộ ta. Nhưng không đảng nào trong hai đảng đó chiếm được đa số. Đảng Xã hội tuy có ít phiếu hơn, nhưng đứng về phía nào thì phía đó thắng”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh và các thành viên phái đoàn Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại Hội nghị Fontainebleau tại một buổi gặp gỡ bà con Việt kiều tại Pháp.
(Trong ảnh: Người đứng thứ hai hàng thứ hai từ phải sang là GS Hoàng Minh Giám)

Bác quen nhiều đảng viên quan trọng của đảng SFIO, đặc biệt là Léon Blum, lãnh tụ của đảng. Chúng ta biết rằng trước kia Bác là đảng viên SFIO. Năm 1920, trong Đại hội họp ở thành phố Tours, Bác cùng Marcel Cachin và một số lớn đồng chí rút ra khỏi SFIO, gia nhập Quốc tế thứ ba và lập ra Đảng Cộng sản Pháp.

Để làm nhiệm vụ do Đảng Xã hội Việt Nam giao, tôi có một số thuận lợi. Louis Caput, nguyên thư ký chi nhánh SFIO Bắc Kỳ, có mặt ở Paris. Một người Pháp khác mà tôi quen từ trước Cách mạng Tháng Tám, vì người ấy cũng là đảng viên SFIO, thuộc Fédération SFIO Bắc kỳ, và dạy học ở Trường đại học Luật Hà Nội, tên là Lambrouquère và một số Việt kiều tại Pháp, trong đó có anh Đặng Chấn Liêu (em ruột anh Đặng Phúc Thông trong Đoàn ta dự Hội nghị Fontainebleau) đã giúp tôi làm quen với một số đảng viên Pháp của SFIO có nhiệt tình với nhân dân Việt Nam, thí dụ: anh Decheizèle (trong Ban Tổ chức của Trung ương Đảng SFIO), anh Jean Roux (luật gia và nhà báo, thường viết cho báo Franc Tireur và là ủy viên “Ban các vấn đề thuộc địa” (Commission des affaires coloniales của SFIO).

Caput và Labrouquère, một hôm hỏi tôi: “Anh có muốn gặp Marius Moutet không?” Thấy tôi có vẻ ngập ngừng một giây lát rồi mới trả lời: “Có, tất nhiên có”, họ nói: “Anh chớ ngại gì cả! Anh là SFIO, Moutet không thể không gặp anh!”

Tôi không nói cho họ biết lý do sự ngập ngừng của tôi trong giây lát, trước khi trả lời họ: “Có, tất nhiên có!” Lý do đó là sự việc sau đây, đã xảy ra hồi đầu năm 1946: Lúc đó tôi đã tiếp tại Văn phòng Bộ Nội vụ, Luật sư Gustave Moutet (con trai của Marius, Bộ trưởng Pháp quốc hải ngoại) được cử đến Việt Nam tìm hiểu tình hình. Trong khi trả lời một số câu hỏi của Gustave Moutet, tôi nói: “Chắc ông biết rằng nước chúng tôi đã là nạn nhân của hai cuộc chiếm đóng: cái thứ nhất là của quân đội Nhật, cái thứ hai là của quân đội Tưởng…”, anh ta “chêm” luôn một câu: “Còn cuộc chiếm đóng thứ ba nữa là của các ông!” (Et une troisième occupation: la vôtre!).

Tôi sửng sốt vì câu nói quái gở đó. Tôi phải tự kiềm chế, không phản ứng câu nói đó, tôi chỉ rút ngắn buổi tiếp khách.

Một ngày cuối tháng 6/1946, Labrouquère báo cho tôi biết Marius Moutet đã gửi thiếp mời tôi đến gặp tại Bộ Pháp quốc hải ngoại. Đúng ngày hẹn, tôi đã đến, nhưng buổi tiếp đó không làm tôi phấn khởi, vì ông ta không tỏ vẻ quan tâm nghe, khi tôi trình bày lập trường của ta về độc lập, thống nhất của Việt Nam, về vị trí của Việt Nam trong Liên bang Đông Dương, trong Liên hiệp Pháp; trái lại, ông ta tỏ rất quan tâm và phát biểu nhiều về quyền lợi mà ta sẽ dành cho thực dân Pháp còn sống trên đất nước ta.

Trái với Marius Moutet, một đảng viên SFIO khác mà đoàn ta đã có dịp làm quen trong thời gian Hội nghị Fontainebleau, đã để lại cho chúng tôi một ấn tượng sâu sắc. Đó là giáo sư Paul Rivet, giám đốc Bảo tàng Con người (Musée de l’homme). Theo yêu cầu của ta là trong Đoàn đại biểu Pháp không nên chỉ có những công chức thuộc địa, Chính phủ Pháp đã đề nghị ba đảng MRF, Cộng sản, SFIO cử mỗi đảng một đảng viên tham gia đoàn Pháp. Đảng MRF đã cử ông Jugias; Đảng Cộng sản cử đồng chí Lozeray; Đảng SFIO đã cử Giáo sư Paul Rivet.

Ngày 5/7/1946, trưởng đoàn Pháp là Max André triệu tập các đoàn viên nghe thông báo nội quy của đoàn và đường lối chủ trương của Chính phủ Pháp trong Hội nghị Fontainebleau sẽ khai mạc hôm sau là ngày 6/7/1946. Buổi họp kết thúc, các đại biểu chào ra về. Khi bắt tay Paul Rivet, Max André nói: “Hẹn sáng mai nhé!” Paul Rivet trả lời: “Không! Sáng mai tôi không đến”. Max André ngạc nhiên hỏi: “Vì sao?” Và Paul Rivet trả lời: “Vì tôi từ chức” (Je suis démisionnaire).

Sau đó, Giáo sư viết một bài trên báo Le Populaire, nói lý do việc từ chức của mình, và tóm tắt trong một câu ngắn gọn: “Tôi không muốn là một người bị lừa dối, không muốn là một con tin, không muốn là một kẻ đồng lõa” (Je ne veux être ni dupe, ni otage, ni complice).

Hội nghị Fontainebleau bị bế tắc do những hành động phá hoại của bè lũ d’Argenlieu. Đoàn ta về nước. Bác cũng về nước, sau khi ký một Tạm ước (Modus vivendi) với Pháp. Bác cử một đoàn gồm ba người (Hoàng Minh Giám, Trần Ngọc Danh, Dương Bạch Mai) đại diện Chính phủ ta ở nước Pháp. Do đó, tôi có dự – với tư cách là đại diện Đảng Xã hội Việt Nam Đại hội toàn quốc (Congrès national) của Đảng SFIO cuối tháng 9 đầu tháng 10/1946. Lúc đó, tình hình Đảng SFIO không vui vẻ lắm… Tổng Thư ký sắp hết nhiệm kỳ là Daniel Mayer, không có hy vọng được tái cử, và nhiều người đã nói tên người thay thế là Guy Mollet.

Tôi đến dự Đại hội, phát biểu ý kiến, chào mừng Đại hội, trình bày tóm tắt lập trường của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trong Hội nghị Fontainebleau, khẳng định ý chí của nhân dân Việt Nam là độc lập, thống nhất của Tổ Quốc mình, trong khuôn khổ Liên hiệp Pháp (Indépendance et unité du Viêt-nam dans le cadre de l’Union Française).

Tổng Thư ký sắp hết nhiệm kỳ không tỏ vẻ mặn mà với sự có mặt của đại diện Đảng Xã hội Việt Nam. Nhưng sau buổi họp, một số đại biểu SFIO và một đại biểu Công đảng Anh (Parti Travailiste) cũng là khách mời của Đại hội, đến bắt tay và chúc mừng cuộc đàm phán Việt – Pháp sẽ tiếp tục đầu tháng 1/1947 (theo Tạm ước 14/9/1946) và sẽ đạt kết quả tốt.

(Còn nữa)

dvt.vn

GS Hoàng Minh Giám kể về những ngày vận nước “nghìn cân treo sợi tóc” (P 5)

(DVT.vn) – Chỉ có Bác Hồ và GS Hoàng Minh Giám giữa “vòng vây” của các chiến hạm Pháp, đạn đại bác lên nòng, Bác vẫn bình thản đối đáp với đô đốc d’Argenlieu.

D’Argenlieu đứng bên cạnh Bác, có vẻ hân hoan đắc chí giới thiệu lần lượt các chiến hạm diễu qua trên mặt biển. Bác thỉnh thoảng vẫy tay chào… D’Argenlieu trả lời, có vẻ thích thú… Có một lúc d’Argenlieu đang nói chuyện với một số sĩ quan tùy tùng đến báo cáo gì đó, Bác quay lại phía tôi và nói khẽ:

– Nó làm ra vẻ tôn trọng ta lắm. Thật ra, nó muốn phô trương lực lượng để dọa ta đó. Nhưng ta có sợ đâu!

Xong cuộc duyệt binh, d’Argenlieu mời Bác dự một tiệc trà nhẹ, ngắn, với toàn thể quan khách, rồi sau đó, mời Bác đến “phòng khách danh dự” để đàm thoại về vấn đề thi hành các điều khoản của Hiệp định sơ bộ 6/3. Dự cuộc này, ngoài Bác và d’Argenlieu, chỉ có tôi.

Phát biểu trước, Bác nhắc d’Argenlieu chú ý việc thi hành nghiêm chỉnh các điều khoản nói về trách nhiệm của hai bên phải đình chỉ ngay chiến sự ở miền nam Việt Nam, quân đội mỗi bên đóng ở đâu phải ở nguyên đó. Nếu chiến sự tiếp tục như hiện nay, thì tất nhiên không thể tạo nên không khí thuận lợi cho “cuộc đàm phán hữu nghị và chân thành” được nêu lên trong Hiệp định sơ bộ.

D’Argenlieu không đáp lời Bác, không tranh luận mà đứng dậy, một cách long trọng, xoa tay và nói:

– Thưa ngài Chủ tịch, tôi xin lưu ý Ngài một điều: xin Ngài đừng gọi tôi là “Ông đô đốc”, mà gọi tôi là “Ông cao ủy”.

Ông ta ngồi xuống, và chờ Bác nói. Tôi sực nhớ rằng từ lúc đặt chân lên chiến hạm Emile Bertin, Bác chưa hề gọi d’Argenlieu là “Ông cao ủy”.

Sau khi d’Argenlieu đã ngồi xuống, Bác liền nói với một giọng nói và một nét mặt rất bình thản:

– Thưa ông cao ủy, chúng ta tiếp tục nói về việc thi hành Hiệp định sơ bộ 6/3. Trong Hiệp định đó, đã khẳng định sự cần thiết mở lập tức cuộc đàm phán hữu nghị và chân thật (ouverture immédiate des négociations amicales et franches).

D’Argenlieu nói:

– Thưa Ngài Chủ tịch, nước Pháp sẽ nghiêm túc thi hành các điều khoản của Hiệp định sơ bộ. Nhưng hiện nay, Hội nghị nói trên chưa họp được, vì phải chờ cuộc tổng tuyển cử sắp tổ chức ở Pháp để thành lập một chính phủ mới. Vả lại, để giải quyết một số vấn đề rất mới, như vấn đề Liên hiệp Pháp (L’union française), cần có thời gian nghiên cứu, thảo luận trong Quốc hội Pháp.

Bác thấy rõ ý đồ của d’Argenlieu là trì hoãn, kéo dài thời gian, Bác nói:

– Không thể chờ lâu được. Kéo dài thời gian chờ đợi, thì rất nguy hiểm. Hiện nay, chiến tranh chưa được chấm dứt ở miền nam Việt Nam, và không phải không có nguy cơ chiến tranh nổ ra ở miền bắc. Quân đội Nhật, quân đội Trung Quốc cũng chưa rút… Tình hình có thể trở nên phức tạp, rối ren.

Lúc đó, tôi xin phép Bác phát biểu, và tôi nói mấy câu vắn tắt, nhấn mạnh ý: Không nên để cho dư luận trong công chúng Việt Nam mất tin tưởng vào thiện của phía Pháp và vào khả năng đi đến một giải pháp hòa bình và hữu nghị. (Trong thời gian đàm phán giữa Bác và Sainteny đi đến Hiệp định sơ bộ 6/3, Bác vẫn cho phép, không những cho phép mà còn phát biểu, nếu có gì quá mạnh, mình sẽ “uốn nắn”; có người đấm, có người xoa; tất nhiên đừng đấm quá mạnh, quá mức cần thiết).

Cuộc tranh luận kéo dài, Bác nói:

– Nhân dân chúng tôi rất có kỷ luật, nhưng hiện nay tình hình trong dư luận ngày càng căng thẳng. Cần có những hành động thiết thực cụ thể, để tránh một sự bùng nổ.

D’Argenlieu suy nghĩ, rồi nói:

– Trong khi chờ đợi nước Pháp có một quốc hội và một chính phủ mới, chúng tôi đề nghị tổ chức một hội nghị trù bị cho hội nghị chính thức.

Để tránh một sự bế tắc, Bác đồng ý với d’Argenlieu. Và sau khi trao đổi ý kiến, hai bên đi đến quyết định: một hội nghị trù bị Việt-Pháp sẽ họp ở Đà Lạt. D’Argenlieu cũng tán thành ý kiến của Bác sẽ cử một đoàn đại biểu của Quốc hội Việt Nam đi thăm hữu nghị Quốc hội và nhân dân Pháp để tạo không khí thuận lợi cho Hội nghị Việt – Pháp chính thức sẽ họp sau Hội nghị trù bị Đà Lạt.

Cuộc hội đàm kết thúc lúc 17 giờ 30 phút. Lễ tiễn đưa không có bắn súng, không có duyệt hạm đội trên biển như trong lễ đón, nhưng vẫn có đội quan danh dự và đông đủ quan chức văn võ của d’Argenlieu.

D’Argenlieu nói:

– Tôi rất tiếc rằng thủ tục lễ nghi không cho phép chúng tôi mời Chủ tịch ở lại đây đêm nay để ngắm “phong cảnh thần tiên” trên vịnh Hạ Long.

Bác trả lời:

– Tôi cảm ơn Ngài nhiều lắm, những rất tiếc, vì phải trở về Hà Nội ngay.
Pignon lúc đó nói:

– Xin Chủ tịch cho phép tôi trình bày một đề nghị: Chúng tôi rất hân hạnh nếu ông Giám vui lòng ở lại đây với chúng tôi, để sáng mai sẽ cùng nhau trở về Hà Nội.

Bác trả lời, rất vui vẻ:

– Điều này hoàn toàn do ông Giám quyết định. Đề nghị ông Giám trả lời Pignon.

Tôi nói:

– Tôi xin cảm ơn Hồ Chủ tịch. Tôi chân thành cảm ơn ông bạn Pignon; nhưng rất tiếc tối hôm nay tôi phải có mặt ở Hà Nội. Rất tiếc.

GS Hoàng Minh Giám tại Hội nghị Fontainebleau năm 1946 (người ngồi đầu tiên tử trái sang).
(Ảnh do chị Hoàng Vĩnh Hạnh, con gái GS Hoàng Minh Giám cung cấp)

Chiếc thủy phi cơ chở Bác, Sainteny và chúng tôi về Hà Nội.

Trên đường bay từ Hà Nội đến vịnh Hạ Long và từ vịnh Hạ Long về Hà Nội, tôi thấy Bác rất chăm chú nhìn xuống những vùng mà chiếc thủy phi cơ bay qua. Trong chuyến bay về, có một lúc Bác quay lại nói rất khẽ với tôi:

-Địa hình này không thuận lợi cho du kích chiến; nhưng có quyết tâm và biết cách đánh thì dù khó khăn thế nào, cũng vượt qua được.

(Còn nữa)

dvt.vn

Bác Hồ của chúng ta là như vậy đó

Hơn 40 năm làm công tác dân vận – Mặt trận, với trách nhiệm được giao, tôi có hạnh phúc lớn là được tiếp xúc với nhiều chính khách, nhiều nhân sĩ, trí thức nổi tiếng, các vị tiêu biểu của các dân tộc, các tôn giáo, trong đó không ít người đã được Bác Hồ cảm hóa, trở thành cộng sự thân thiết của Bác, tiếp thu tư tưởng của Người và đã có những đóng góp to lớn vào sự nghiệp đại đoàn kết dân tộc và xây dựng Mặt trận Dân tộc thống nhất.

Mỗi lần kỷ niệm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh lại một lần anh chị em làm công tác Mặt trận chúng tôi có dịp được nghe chính những người trong cuộc kể lại những câu chuyện đầy xúc động về tầm nhìn xa, trông rộng, lòng bao dung, độ lượng, sức hút kỳ diệu và tài cảm hóa lạ thường của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Những câu chuyện đó được anh em chúng tôi ghi chép đầy đủ. Nhân dịp kỷ niệm 66 năm ngày Cách mạng tháng Tám thành công và Quốc khánh nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, tôi trích đăng chuyện kể của Luật sư Phan Anh, Phó Chủ tịch thứ nhất Đoàn Chủ tịch UBTƯ MTTQ Việt Nam khóa III, tại buổi họp mặt của Mặt trận ngày 10-5-1990 kỷ niệm 100 năm Ngày sinh của Bác Hồ. Không ai nghĩ rằng đây là buổi nói chuyện cuối cùng của Luật sư tại cơ quan Mặt trận vì chỉ sau đó hơn một tháng, ngày 28-6-1990 luật sư Phan Anh đã vĩnh biệt chúng ta. Tiêu đề bài viết này chính là câu kết bài nói của Luật sư.

Ông kể: Theo tôi nhớ, từ trung tuần tháng 7 đến trung tuần tháng 8-1945, những cuộc thương lượng giữa Chính phủ Trần Trọng Kim với Việt Minh diễn ra dồn dập tại Hà Nội. Mở đầu là việc ông Lê Trọng Nghĩa với vai giáo sư Lê Ngọc đã có cuộc tiếp xúc đầu tiên với Khâm sai đại thần Phan Kế Toại ngay tại Phủ khâm sai trong giờ hành chính. Tiếp đó là cuối tháng 7, Thủ tướng Trần Trọng Kim ra Bắc Bộ để thị sát thực địa và điều đình với Nhật cũng đã được ông Phan Kế Toại bố trí tiếp xúc với đại diện Việt Minh ở Hà Nội.

Trước tình hình chuyển biến mau lẹ, ngày 18-8 Khâm sai Phan Kế Toại lại gặp các ông Nguyễn Khang, Lê Trọng Nghĩa, Trần Đình Long tại Phủ khâm sai, chính thức mời Việt Minh cộng tác với Chính phủ Trần Trọng Kim và sẵn sàng chờ Mặt trận cử người tham gia Chính phủ. Cùng ngày, Bộ trưởng Hoàng Xuân Hãn cũng xin gặp Việt Minh, mời Việt Minh tham gia Chính phủ mở rộng và đề nghị trong tình hình quân Đồng minh đang trên đường vào Việt Nam mong cuộc thương lượng tiếp tục, Việt Minh nên nắm vùng nông thôn, Chính phủ lâm thời quản lý các thành phố để có danh nghĩa nói chuyện với Đồng minh.

Tất cả các cuộc thương lượng đều không có kết quả. Ông Trần Trọng Kim giao tôi làm thuyết khách cuối cùng với hy vọng: Với “tài hùng biện của Phan Anh” may ra còn cứu vãn được tình thế.

Nể lời Thủ tướng Trần Trọng Kim, tôi nhận lời và chuẩn bị kỹ cho cuộc gặp.

Tôi còn nhớ, ngày 25-8 Chủ tịch Hồ Chí Minh từ Tân Trào về Hà Nội. Ngày 26, Người chủ trì Hội nghị Ban Thường vụ Trung ương Đảng. Ngày 28, báo chí Hà Nội công bố danh sách 15 thành viên của Chính phủ cách mạng do Bác làm Chủ tịch. Cũng ngày đó, tôi đến gặp lại giáo sư Hoàng Minh Giám – một trí thức tiêu biểu của nước ta, thầy Hiệu trưởng trường Thăng Long xưa mà tôi đã một thời dạy học ở đó. Ông lúc này là Đổng lý Văn phòng Bộ Nội vụ và được Giáo sư cho biết Cụ sẽ tiếp tôi vào 9 giờ sáng hôm sau. Hay tin tôi ra “đấu tranh” với Chủ tịch Hồ Chí Minh, chú Phan Mỹ – em tôi, một cán bộ cách mạng, vội gặp tôi can ngăn:

– Từ trước đến nay, tôi vẫn phục Anh, coi Anh là thần tượng. Nhưng với việc anh định “đấu tranh” với Cụ thì Anh mê muội quá chừng. Anh muốn “đội đá, vá trời” chăng? – Tôi chỉ mỉm cười, chẳng phản đối, cũng chẳng thanh minh.

Đúng giờ, tôi đến địa điểm hẹn. Tôi quá bất ngờ và đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác. Đón tôi là một ông Tiên thực thụ. Cụ vận bộ kaki bạc màu, đi đôi bata của đồng bào dân tộc Tày. Cụ không chờ tôi lên mà dáng nhanh nhẹn, Cụ vội bước xuống ngang chỗ tôi đứng bắt tay:

– Tôi đã chờ chú từ lâu. Người nói – Trước khi ra Bắc, chú đã về quê choa chưa?

Tôi bối rối và thực sự xúc động. Những điều lâu nay tôi chuẩn bị công phu nay tan biến cả trước một con người cao sang nhưng không xa cách, một vĩ nhân xa quê hương, đất nước hơn một phần ba thế kỷ nhưng vẫn không quên thổ ngữ thân thương. Tôi ấp úng trả lời:

– Thưa Cụ, con chưa kịp về quê nhà.

Cụ ôm eo tôi cùng bước lên, đưa tôi vào phòng khách. Đồng chí Đàm Quang Trung (1) lúc đó là Đội trưởng đội bảo vệ Bác vào định rót nước mời khách.

Cụ ngăn:

– Chú Phan Anh là khách của Bác, để Bác tiếp. Chú cứ lo việc của chú. Chính tay Bác rót nước mời tôi, thân mật như cha con lâu ngày gặp lại.

Vừa uống nước, Cụ vừa giải thích cho tôi hiểu tình hình thời cuộc và đời sống cùng cực của dân ta hiện nay. Cụ nói ý:

– Dân ta bao năm một cổ đôi tròng, sống dưới chế độ áp bức của thực dân, phong kiến và phát xít Nhật. Nay ta đã giành được độc lập, phải mau chóng tái thiết quốc gia để dân có cơm ăn, áo mặc, được học hành. Chú là người tài cao, học rộng, tôi đề nghị chú ra gánh vác việc nước và trực tiếp làm Chủ tịch Ủy ban Kiến thiết quốc gia.

Tôi ngỡ ngàng trước một sự việc mà mình chưa bao giờ nghĩ tới, liền thưa:

– Thưa Cụ, con chỉ được đào tạo về luật chứ chưa được đào tạo về kiến thiết xây dựng.

– Thế tôi có được ai đào tạo để làm Chủ tịch nước đâu? Dân giao thì mình phải làm, phải vừa làm, vừa học và làm cho tốt, cho thật tốt.

Bác Hồ của chúng ta là như vậy đó. Ngày 29-8-1945 là ngày mà Bác Hồ đổi đời cho tôi, cho gia đình tôi.

45 năm đã trôi qua, tôi lớn lên theo cách mạng, lớn lên theo sự dìu dắt, bảo ban của Người, của Bác Hồ kính yêu của chúng ta.

Con đường mà Luật sư đi theo cách mạng là như vậy. Luật sư Phan Anh là Chủ tịch đầu tiên của Ủy ban Kiến thiết quốc gia của nước ta.

Ngày 2-3-1946 Chính phủ liên hiệp quốc gia được thành lập do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu, ông được mời giữ chức Bộ trưởng Quốc phòng. Tháng 7-1946 ông được Chính phủ giao trọng trách Tổng Thư ký Phái đoàn Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đi dự Hội nghị Fontainbleau đàm phán với Chính phủ Pháp.

Trong những năm kháng chiến chống Pháp, ông từng đảm nhiệm các chức vụ: Bộ trưởng Bộ Kinh tế (1948), Bộ trưởng Bộ Công thương (1954). Tháng 7-1954, ông là phái viên Phái đoàn Việt Nam đàm phán tại Hội nghị Giơnevơ.

Sau Hiệp định Giơnevơ, Đảng, Nhà nước và Chủ tịch Hồ Chí Minh giao ông đảm nhận nhiều trọng trách: Bộ trưởng Bộ Kinh tế, Bộ trưởng Bộ Thương nghiệp rồi Bộ trưởng Bộ Ngoại thương.

Luật sư Phan Anh là đại biểu Quốc hội từ khóa II đến khóa VIII, là Phó Chủ tịch Quốc hội khóa VII. Ông cùng luật sư Nguyễn Mạnh Tường sáng lập Hội Luật gia Việt Nam và trở thành vị Chủ tịch đầu tiên của Hội và là Ủy viên Thường vụ của Hội Luật gia dân chủ thế giới.

Đối với sự nghiệp đại đoàn kết dân tộc và hoạt động của Mặt trận Dân tộc thống nhất, luật sư Phan Anh là thành viên của Ban Vận động thành lập Hội Liên hiệp quốc dân Việt Nam. Ngày 29-5-1946 khi Hội chính thức được thành lập, ông được cử làm Ủy viên Thường vụ.

Ngày 10-9-1955 MTTQ Việt Nam ra đời, ông tiếp tục được cử làm Ủy viên Đoàn Chủ tịch UBTƯ MTTQ Việt Nam cho đến khi Đại hội thống nhất các tổ chức Mặt trận trong phạm vi cả nước vào tháng 2-1977.

Tại Đại hội I và Đại hội II MTTQ Việt Nam, luật sư Phan Anh được cử làm Ủy viên Đoàn Chủ tịch. Và tại Đại hội III ông được cử làm Phó Chủ tịch thứ nhất Đoàn Chủ tịch UBTƯ MTTQ Việt Nam.

Luật sư Phan Anh là một trí thức tiêu biểu, tài năng và đức độ, một nhà hùng biện nổi tiếng, một trong những nhân vật đã từng được cộng tác mật thiết bên cạnh Bác Hồ trong nhiều năm và đã có những cống hiến to lớn vào việc xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân và Mặt trận Dân tộc thống nhất.

 Nguyễn Túc
(Ủy viên Đoàn Chủ tịch UBTƯ MTTQ Việt Nam)

(1) Sau này là Thượng tướng, Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước

GS Hoàng Minh Giám kể về những ngày vận nước “nghìn cân treo sợi tóc” (P 4)

(DVT.vn) – Bác Hồ gặp d’Argenlieu trên Vịnh Hạ Long. Viên đô đốc Pháp ra lệnh cho các chiến hạm “diễu binh”, nói là để “chào mừng” nhưng thực ra là để đe doạ.

Như chúng ta đã biết, sau khi Hiệp  định sơ bộ 6/3/1946 được ký  kết, một mong muốn của d’Argenlieu, theo báo cáo của Sainteny, là được gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh. Bác trả lời Sainteny:

– Tôi sẵn sàng tiếp ông Thủy quân đô đốc.

Sainteny nói:

– Thưa Chủ tịch, có một điều trở ngại.

– Trở ngại gì vậy?

– Ông đô  đốc nghĩ rằng sự có mặt của tướng Lư Hán là một trở ngại. Ông này đang ở Phủ Toàn quyền, và quân đội Trung Quốc chưa rút về nước. Nếu ông d’Argenlieu được gặp Chủ tịch ở một địa điểm nào khác, thì thuận tiện hơn. Thí dụ ở Vịnh Hạ Long. Ông đô đốc và hạm đội Pháp sẽ từ Sài Gòn đến vịnh đón Chủ tịch, và một thủy phi cơ của Pháp sẽ đưa Chủ tịch đến nơi gặp. Xin Chủ tịch cho biết ý kiến. Bác đồng ý, và hẹn ngày 24/3/1946 sẽ gặp d’Argenlieu trên vịnh Hạ Long.

Ngày 2/9/1945 ở Quảng trường Ba Đình, Hà Nội.

Đầu buổi chiều hôm đó, một thủy phi cơ đã đón Bác đi vịnh Hạ Long có Sainteny hộ tống. Đi giúp Bác, có tôi và anh Vũ Đình Huỳnh. Cố vấn Vĩnh Thụy cũng đi, nhưng hẹn sẽ khởi hành từ Hải Phòng, bằng một phương tiện khác.

Lúc chiếc thủy phi cơ hạ cánh xuống vịnh Hạ Long, tiến  đến sát chiến hạm Emile Bertin (trên đó có d’Argenlieu), Bác và chúng tôi đã trèo lên boong tàu, và được tin Cố vấn Vĩnh Thụy đã đến trước chúng tôi, nhưng lúc trèo lên chiếc thang để lên boong tàu thì bị tuột chân xuống nước biển, quần áo ướt hết. Vì thế, Cố vấn đã quay về Hải Phòng và xin lỗi, không có mặt trong buổi tiếp đón.

Trên chiếc chiến hạm Emile Bertin, trang trí cờ quạt lộng lẫy, đô đốc d’Argenlieu mặc quân phục đại lễ, với đông đảo quan chức văn võ và một  đơn vị lính thủy, đã xếp hàng chỉnh tề đón Bác.

Kèn chào nổi lên hoan nghênh vị Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

D’Argenlieu giới thiệu các quan khách có mặt. Tôi nhận thấy trong các quan khách đó, có một số nhân vật đã gặp trong thời gian thương lượng Hiệp định sơ bộ 6/3: Pignon, Gouron, Torel, Compain, v.v. Đa số các nhân vật đó là những công chức thuộc địa Pháp cao cấp (công sứ, thanh tra mật thám, v.v.) tập hợp xung quanh d’Argenlieu. Một người trong đám đó, béo phệ, nói tiếng Việt rất thạo, với một giọng hoàn toàn Việt Nam, nhích lại gần tôi, và nói:

– Tôi xin tự giới thiệu, tôi là Coussean, nguyên công sứ  tỉnh Sơn La.

Nghe anh ta nói, tôi có một cảm giác rất khó chịu, ghê  tởm, khó tả. Hồi Pháp thuộc, tôi đã nghe nói nhiều về tên Coussean này, công sứ tỉnh Sơn La, nổi tiếng là một tên đao phủ, đã hành hạ, giết hại bao nhiêu người cách mạng Việt Nam không may rơi vào tay nó, trong nhà tù Sơn La…

Tôi không trả lời nó, làm như không nghe rõ nói gì. Vừa lúc đó d’Argenlieu mời Bác tiến tới vài chục bước, để từ trên chiếc boong tàu Emile Bertin xem cuộc “diễu binh” trên biển của hạm đội Pháp (gồm năm, sáu chiến hạm) chào mừng Bác. Nhiều loạt đại bác nổ vang trong nhiều phút, rồi các chiến hạm diễu qua, quân lính trên các chiến hạm hô vang: “Hu-ra, Hu-ra, Hu-ra, Hu-ra…” theo nhịp điệu của quân nhạc…

D’Argenlieu đứng bên cạnh Bác, có vẻ hân hoan đắc chí  giới thiệu lần lượt các chiến hạm diễu qua trên mặt biển. Bác thỉnh thoảng vẫy tay chào… D’Argenlieu trả lời, có vẻ thích thú… Có một lúc d’Argenlieu đang nói chuyện với một số sĩ quan tùy tùng đến báo cáo gì đó, Bác quay lại phía tôi và noi khẽ:

– Nó  làm ra vẻ tôn trọng ta lắm. Thật ra, nó muốn phô trương lực lượng để dọa ta đó. Nhưng ta có sợ đâu!

Xong cuộc duyệt binh, d’Argenlieu mời Bác dự một tiệc trà  nhẹ, ngắn, với toàn thể quan khách,, rồi sau đó mời Bác đến “phòng khách danh dự” để đàm thoại về vấn đề thi hành các điều khoản của Hiệp định sơ bộ 6/3. Dự cuộc này, ngoài Bác và d’Argenlieu, chỉ có tôi.

Phát biểu trước, Bác nhắc d’Argenlieu chú ý việc thi hành nghiêm chỉnh các điều khoản nói về trách nhiệm của hai bên phải đình chỉ ngay chiến sự  ở miền nam Việt Nam, quân đội mỗi bên đóng ở đâu phải ở nguyên đó. Nếu chiến sự tiếp tục như hiện nay, thì tất nhiên không thể tạo nên không khí thuận lợi cho “cuộc đàm phán hữu nghị và chân thành” được nêu lên trong Hiệp định sơ bộ.

(Còn nữa)

dvt.vn

Bác Hồ trong Cải cách ruộng đất

Bác Hồ thăm hỏi bà con nông dân Tuyên Quang trong cải cách ruộng đất (1953). (Ảnh tư liệu)

(DVT.vn) – Sau đây là một vài mẩu chuyện nhỏ nói lên sự nhân ái, tài tình của Bác trong đời sống, trong công tác tư tưởng.

Nguyễn Sĩ Đại

Thiên cao Hồ viễn

Trong báo cáo bế mạc Hội nghị cán bộ TƯ tháng 3-1955, đồng chí Trường Chinh chỉ rõ:

“Hội nghị Trung ương lần thứ 7 đã đề ra 6 công tác để củng cố miền Bắc:

1.- Hoàn thành cải cách ruộng đất ở miền Bắc.
2.- Ra sức khôi phục kinh tế, nâng cao sản xuất.
3.- Xây dựng quân đội nhân dân hùng mạnh, củng cố quốc phòng.
4.- Chấn chỉnh công tác văn hóa, xã hội.
5.- Củng cố chính quyền nhân dân.
6.- Thành lập khu tự trị Thái, Mèo.

Trong 6 công tác cụ thể để củng cố miền Bắc thì cải cách ruộng đất là công tác trọng tâm, là công tác thứ nhất”.

Từ năm 1953, cuộc vận động Giảm tô (thuế) , sau đó là Cải cách ruộng đất được phát động. Người cày có ruộng, nông dân không còn bị địa chủ áp bức. Không khí phấn khởi từ hậu phương góp phần tạo nên tinh thần quyết chiến quyết thắng ở Điện Biên Phủ và các chiến trường khác. Nhưng sự khuynh tả đã gây nên nhiều oan ức và tổn thất lớn. Truy bức, đấu tố là một hình thức tai hại nhất, không đúng với phương pháp cách mạng và đạo lý dân tộc.

Xin trích tài liệu được in trong tập san Phát động quần chúng của Ủy ban Cải cách ruộng đất trung ương :

“Tính từ đầu đợt 6 giảm tô và đợt 2 cải cách ruộng đất đến nay ở các tỉnh Vĩnh- phúc, Bắc- giang, Sơn -tây, Thái – nguyên, đã xảy ra nhiều vụ tự sát nghiêm trọng. Theo báo cáo của các Đoàn ủy, trong những người tự sát không chỉ riêng có địa chủ mà có cả phú nông, người có ít ruộng đất cho phát canh và có cả trung nông, bần nông nữa.

Ở Bắc- giang có 19 vụ tự sát thì có 9 địa chủ, 1 phú nông, 2 con địa chủ, 1 tiểu thương có ít ruộng cho phát canh, 1 dân nghèo, 4 trung nông, 1 bần nông. Ngoài ra ở một số xã còn một số người định tự sát nhưng có người biết cứu được. Trong số những người tự sát thì địa chủ đầu sỏ rất ít, đa số là địa chủ thường và các thành phần khác. Riêng ở Thái- nguyên vì cán bộ chủ quan, thiếu cảnh giác nên đã xảy ra ba vụ địa chủ cường hào gian ác tự sát trước khi đấu tranh và một vụ địa chủ tự sát ngay trong khi xử án. Những vụ tự sát trên đều dồn dập vào cuối bước 2 và phần lớn xảy ra ở vùng mới giải phóng, nếu ta  không kịp thời sửa chữa thì sang giai đoạn đấu tranh quyết liệt các vụ tự sát còn có thể xảy ra nhiều hơn nữa”.
(Tài liệu đã dẫn, số 3, ngày 10-12-1954)

Trung ương Đảng, nhất là Bác Hồ , sớm phát hiện ra những sai lầm trong cải cách ruộng đất. Trong một bài nói chuyện tổng kết đợt 2 (đăng trên Tập san Phát động quần chúng số 7, ngày 5-3-1955)  Bác Hồ nói:

“Đợt cải cách ruộng đất thứ hai vừa rồi, các cô các chú đã có thành tích: đã giúp đỡ 75.000 nông dân có ruộng cày, tức là đã thực hiện được một phần chính sách “Người cày có ruộng”.

Khi nói về khuyết điểm, Người rất đau lòng  khi nhận thấy trình độ cán bộ rất thấp, không phân biệt được địch-ta, coi đội cải cách là vua, ”Thậm chí, có một số cán bộ hủ hóa, làm hại đến danh dự của Đảng, của Chính phủ, của tất cả cán bộ. Đó là một điều thật đáng thương tâm”.

Dùng nhục hình là điều phổ biến, điều Chủ tịch Hồ Chí Minh rất phản đối: “Trong đợt 2, một số cán bộ còn phạm khuyết điểm dùng nhục hình. Nhục hình là lối dã man, là cách của đế quốc, tư bản, phong kiến, nó dùng để trị quần chúng, trị cách mạng. Chúng ta có chính sách đúng, lý lẽ đúng, có lực lượng mạnh, sao còn dùng cách dã man? Dùng nhục hình là chưa tẩy sạch tư tưởng dã man, đầu óc phong kiến đế quốc… Đợt này, tuyệt đối không được dùng nhục hình, nếu dùng nhục hình là trái với chính sách của Đảng”…

Tuy vậy, khuyết điểm này còn kéo dài. Bệnh thành tích, quy cho được nhiều địa chủ, nhất là đầu sỏ, phản động khiến nhiều đội bắt con tố cha, vợ tố chồng, truy bức bắt phải nhận là Quốc dân đảng, Việt gian phản động…

Phương châm của Chủ tịch Hồ Chí Minh là “Thêm bạn bớt thù”; trong khi nhiều đội, đoàn lại theo phương châm của Mao Trạch Đông :”Tranh thủ số đông, đả kích số it, lợi dụng mâu thuẫn, đánh từng tên một”. Cái phương châm này sau được áp dụng trong cách mạng văn hóa, gây tổn thất lớn ở Trung Quốc trong những năm sáu mươi.

Tại Hội nghị tổng kết cải cách ruộng đất Bắc – Bắc (Bắc Ninh, Bắc Giang), đầu năm 1956, Bác lại nghiêm khắc phê bình:

“Chưa nhận rõ ai là địch, ai là ta nên một số cán bộ mắc phải khuyết điểm nữa rất nghiêm trọng là dùng nhục hình. Bác đã nhiều lần nhắc: Dùng nhục hình là dã man. Chỉ có bọn đế quốc phong kiến mới dùng. Đánh người ta đau quá thì không có người ta cũng nhận là có. Như thế là cán bộ đã tự mình lừa mình”.

Oan khuất nhiều, đến nỗi có nơi 100% đảng viên đều bị xem xét, xử lý. Nhiều cán bộ trung cao cấp của Đảng cũng bị Đội bắt. Ngay cả bần, cố nông cũng bị tố. Hồi đó có câu Thiên cao Hồ viễn , nghĩa là trời thì cao, Bác Hồ thì xa, ai thấu nông nỗi này!

Ông Mai Văn Hách, Bí thư Đoàn 12 Bắc Hưng Yên tự kiểm điểm :  Cho rằng, tất cả những người trước đây ở trong bộ máy thống trị của địch chẳng nhiều thì ít đều có tội nên chúng tôi cho bắt nhất loạt… Lúc đó chúng tôi chỉ nghĩ : Có bắt như thế mới kiên quyết trấn áp phản cách mạng… Qua thống kê, thấy con số bắt ít, chúng tôi chỉ thúc cho các đội”sao bắt ít thế”. Việc duyệt địa chủ cường hào gian ác và bọn cầm đầu phá hoại, chúng tôi hoàn toàn giao cho các đồng chí Đoàn ủy viên cụm duyệt, cũng không kiểm tra lại xem duyệt có đúng không; do đó có đồng chí đã duyệt cho đội bắt một lúc hàng chục người…

Tình hình đó tạo ra một không khí nặng nề  Bà con họ mạc, hàng xóm láng giềng không dám đến chơi nhà nhau, gặp nhau ngoài đường không dám trò chuyện, thậm chí không dám chào hỏi vì sợ nhỡ xảy ra việc gì lại liên quan. Tối tối , nhan dân đi họp rất  đông, nhưng chỉ ngồi nghe, không phát biểu; đi họp đông đủ cũng vì sợ ở nhà nhỡ xảy ra việc gì lại liên quan…(Mai Văn Hách).

Cốc nước đổ rồi, đừng làm đổ thêm

Trong cải cách, với tinh thần” triệt để” của cách mạng nông dân, địa chủ thì quy lên địa chủ cường hào gian ác; phú nông thì quy lên địa chủ, trung nông, nông dân cũng quy lên phú nông. Hiện tượng quy sai phổ biến. Nông dân Việt Nam nghèo. Năm 1954,1955 lại càng nghèo. Vì thế, ở Phú Thọ, nhà nông dân có ba cái chum, 5 cái nồi đồng mâm thau cũng bị trưng mua. Tình hình cải cách, chỉnh đốn Đảng ở Nghệ Tĩnh càng thiên tả.

Bác Nguyễn Văn Phượng, Phó Văn phòng Tỉnh ủy Nghệ An thời kỳ 1957-1961 hiện trú tại khối 17, Phường Hưng Bình, thành phố Vinh có kể lại  với tôi một câu chuyện sau:

Dịp 2-9-1956, Khu ủy khu 4 (lúc đó do đồng chí Đặng Thí làm bí thư) mời các cụ đảng viên 1930- 1931 ở Nghệ An và Hà Tĩnh về thành phố Vinh dự Quốc khánh.

Năm ấy bão lớn. Nhà cửa đổ nhiều. Các cụ phải di chuyển chỗ ở hết chỗ này sang chỗ khác. Trong hội nghị, đồng chí Hoàng Văn Đường (tức Thạc), Thường vụ Tỉnh ủy Nghệ An , được ủy nhiệm báo cáo về sai lầm cải cách ruộng đất và chủ trương sửa sai. Các cụ phát biểu rất hăng. Gặp mặt xong, tổ chức tặng quà, đưa các cụ về nhưng không ai chịu. Các cụ nói: “Bây giờ địch họa, thiên tai không còn đường sống nữa. Chúng tôi chỉ mong được gặp mặt Bác Hồ ở quê hoặc được ra Hà Nội báo cáo tình hình với Bác”. Chữ “địch họa” ở đây với ý là tổn thất lớn do chính ta gây ra với ta trong cải cách ruộng đất. Nguyện vọng đó được báo cáo với Bác. Bác chấp thuận nhưng gợi ý đoàn ra Hà Nội không quá mười người. Khu ủy khu 4 đã mời các cụ Tam, Nhu, Hài của Hà Tĩnh, cụ Kế (Nghệ An) với các đồng chí Hoàng Văn Đường, Tỉnh ủy Nghệ An; Phan Văn Trưng, Bí thư Huyện ủy Thanh Chương; nữ đồng chí Liên (Nam Đàn); đồng chí Phổ (Anh Sơn) là những địa phương làm “ mạnh” trong cải cách ruộng đất. Phụ trách hậu cần và tổ chức chuyến đi là đồng chí Nguyễn Văn Phượng, cán bộ Văn phòng Tỉnh ủy Nghệ An.

Đoàn ra Hà Nội ăn nghỉ tại 54 Nguyễn Du. 14 giờ ngày 8-9-1956, xe đón đoàn vào gặp Bác tại ngôi nhà của Chính phủ tại phố Mai Xuân Thưởng.

Mọi người vừa ngồi xong thì Bác và đồng chí Nguyễn Duy Trinh xuất hiện. Bác ngăn không cho chào đón và lần lượt bắt tay thân thiết từng người một.

An tọa, Bác nói trước: “Báo cáo về tình hình Nghệ An, Hà Tĩnh, Bác đã đọc rồi… Mời các chú uống nước”.

Lời mời của Bác không thể không theo. Từng ngụm nhỏ trà sen thanh tao và đậm đà ân tình làm cho nỗi bực bội trong lòng mỗi người được lắng dịu đôi phần. Rồi không biết vô tình hay cố ý, bàn tay Bác chạm vào cốc nước trước mặt, làm nước đổ ra đĩa. Bác đặt cái chén lên như cũ và nói đại ý:

– Các chú cẩn thận nên được uống nước. Bác vô ý làm đổ chén nước thì Bác không được uống. Nước đã đổ ra đĩa rồi, có rót lại cũng không được đầy như trước mà lại còn mất vệ sinh… Mục đích ta làm cải cách ruộng đất để cho người cày có ruộng là đúng. Đúng không các chú.

Tiếng “Đúng ạ” đồng thanh.

– Nhưng phương pháp làm – Bác nói tiếp – thì có sai. Sai thì sửa…

Sau khi thăm hỏi, nghe thêm và quán triệt chủ trương của Trung ương, Bác gợi ý đi thăm Nhà máy Diêm và một số cơ sở nông nghiệp khác ở Hà Nội nhưng cả đoàn đều nói bây giờ thì sáng rồi, tình hình ở nhà còn bề bộn, đoàn xin phép về để cùng các địa phương tiếp tục sửa sai. Bác đồng ý và chỉ thị cho đồng chí Nguyễn Duy Trinh đưa các cụ đi khám mắt, tặng mỗi người một cặp kính. Rồi Bác chia cho mỗi người một điếu thuốc lá dặn chung:

– Đoàn kết sửa sai tốt nhá!

Bác quay sang hỏi giờ đồng chí Nguyễn Duy Trinh. Bác Phượng nhìn theo bóng Bác bàng hoàng.

Mới chớp mắt mà đã năm mươi phút trôi qua. Một buổi gặp ngắn ngủi với Bác giữa thủ đô mà bao nhiêu thắc mắc, bao nhiêu điều không hiểu như mây mù bỗng được vén lên. Bầu trời lại cao xanh một niềm tin phấn chấn.

dvt.vn

GS Hoàng Minh Giám kể về những ngày vận nước “nghìn cân treo sợi tóc” (P 3)

(DVT.vn) – Leclerc, Sainteny muốn hòa hoãn, nhưng D’Argenlieu ngoan cố phá hoại Hiệp định sơ bộ. Thường vụ Trung ương Đảng chủ trương “hòa để tiến”. Hòa hoãn, chứ chưa phải hòa bình.

PHẦN 3

Vì tình hình khẩn trương, lễ ký Hiệp định sơ bộ được tiến hành ngay vào hồi 16 giờ 30 phút hôm 6/3/1946, tại ngôi nhà 38 Lý Thái Tổ, với sự có mặt của các lãnh sự Mỹ, Anh, Trung Quốc và đại diện Đảng SFIO (Đảng Xã hội Pháp) là Caput.

Sau lễ ký, Sainteny nâng cốc chúc mừng Bác. Bác bĩnh tĩnh trả lời: “Cảm ơn ông. Nhưng thật ra, tôi chưa vừa lòng. Ông biết đấy, tôi muốn nhiều hơn, tôi muốn nước tôi độc lập, và chắc chắn nước tôi sẽ độc lập.”

Có thể nói rằng đó chính là nội dung câu trả lời vắn tắt của Bác cho Sainteny. Trong hoàn cảnh phức tạp và nguy hiểm, phải đối phó cùng một lúc với nhiều thù trong giặc ngoài, ta cần một sự hòa hoãn (không phải là hòa bình, mà là hòa hoãn) để tranh thủ thời gian, củng cố và phát triển lực lượng để tiếp tục và đẩy mạnh cuộc chiến đấu lâu dài, gian khổ, nhưng nhất định thắng lợi vẻ vang.

Tối hôm 6/3/1946, Bác Hồ và anh Võ Nguyên Giáp báo cáo với Hội đồng Chính phủ về việc ký Hiệp định sơ bộ, và chiều hôm sau (7/3/1946), ta tổ chức một cuộc mít-tinh tại quảng trường trước Nhà hát Lớn thành phố Hà Nội. Anh Giáp trình bày nội dung, ý nghĩa của bản Hiệp định. Anh nhấn mạnh lý do khiến ta phải ký là Mỹ và Anh ủng hộ Pháp, và Trung Quốc đã ký thỏa thuận cho quân đội Pháp thay thế quân đội Trung Hoa. Hiệp định sơ bộ vừa ký có thể ví như Hiệp định Brest – Litovsk ký kết vào năm 1918 giữa chính quyền Xô-viết với Đức.

Sau đó, Bác Hồ cũng phát biểu: “Mục tiêu cuối cùng của chúng ta là độc lập, thống nhất; cuộc đấu tranh còn lâu dài, gian khổ, ta đã nhận cho 15.000 quân Pháp vào thay quân đội Trung Quốc, sau 5 năm, Pháp sẽ rút hết quân đội về nước. Chúng ta phải tin vào Chính phủ, phải đoàn kết, tiếp tục chiến đấu. Riêng tôi, tôi hứa với đồng bào tiếp tục trung thành với Tổ quốc, với đồng bào, Hồ Chí Minh nhất định không bao giờ bán nước!”

Tất cả vạn người nghe Bác đều vô cùng xúc động, vỗ tay, và tiếng vỗ tay, hoan hô “Hồ Chủ tịch muôn năm! Hồ Chủ tịch muôn năm!” vang lên như sấm.

Chủ tịch Hồ Chí Minh chụp ảnh với các thành viên Chính phủ lâm thời sau buổi họp đầu tiên.
Trong ảnh: GS Hoàng Minh Giám là người đứng thứ hai hàng thứ ba, từ trái sang phải.
(Ảnh do chị Hoàng Vĩnh Hạnh, con gái GS Hoàng Minh Giám cung cấp).

Ba ngày sau, ngày 9/3/1946, Thường vụ Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương ra chỉ thị nhan đề “Hòa để tiến”. Có thể nói rằng đó chính là nội dung câu trả lời lvắn tắt của Bác cho Sainteny. Trong hoàn cảnh phức tạp và nguy hiểm phải đối phó cùng một lúc với nhiều thù trong giặc ngoài, ta cần một sự hòa hoãn để tranh thủ thời gian, củng cố và phát triển lực lượng để tiếp tục và đẩy mạnh cuộc chiến đấu lâu dài, gian khổ, nhưng nhất định thắng lợi vẻ vang.

Theo tôi, do chưa có kinh nghiệm nên khi duyệt Hiệp định Sơ bộ, ta đã để một số chi tiết không chặt chẽ trong nội dung. Thí dụ: Khi có trưng cầu dân ý về vấn đề thống nhất ba kỳ thì nhất định nhân dân Nam kỳ không muốn mất đất đai của mình cho Pháp và cuộc trưng cầu sẽ có lợi cho ta. Nhưng trong Hiệp định không nói tới thời gian cụ thể của việc trưng cầu dân ý là một sơ sót bất lợi cho ta. Nếu thời gian dẫn tới cuộc trưng cầu dân ý càng dài thì thực dân Pháp càng có lợi và tiếp tục cai trị ở Nam kỳ.

Còn việc trưng cầu dân ý sẽ tổ chức chung trong cả nước hay làm riêng từng miền một? Sự không chặt chẽ và rõ ràng trong Hiệp định sẽ giúp Pháp gây cản trở cho ta. Nếu tổ chức trưng cầu dân ý trong cả nước thì có lợi cho ta, bởi vì nếu không may ở Nam Kỳ có ai dại dột ủng hộ Hiệp định Vua An Nam ký nhượng Nam kỳ cho Pháp, thì hai kỳ ngoài này sẽ bù lại số phiếu. Nếu có trưng cầu ý dân thì phải có hòa bình, còn nếu lúc đó nó đánh mình thì mình phải đánh trả. Trong văn bản cũng không nói tới vấn đề hòa bình khi có cuộc trưng cầu dân ý, như vậy là mình mới chỉ ký được với Pháp một hiệp định chưa trọn vẹn. Một hiệp định đúng nghĩa với tên của nó là “Hiệp định sơ bộ”.

Còn phía Pháp, đối với Hiệp định này có những phản ứng gì? Khi D’Argenlieu từ Pháp trở lại Đông Dương, Hiệp định sơ bộ 6/3 đã được ký kết vừa xong. Biết được tin này, D’Argenlieu phê phán gay gắt Leclerc, D’Argenlieu nói: “Lâu nay nước Pháp nổi tiếng dũng cảm, sao các anh lại đầu hàng nhanh thế?” Leclerc trả lời: “Với bản Hiệp định như thế, sao lại gọi là đầu hàng?” Sau chuyện này, hai tên trở thành kẻ thù của nhau. Lúc ký, Leclerc vẫn dưới quyền D’Argenlieu, nhưng y không xin chỉ thị của viên Cao ủy vì biết rằng nếu xin thì không bao giờ D’Argenlieu đồng ý để cho Sainteny ký. Vì vậy Leclerc và Sainteny bàn với nhau là đi đến việc ký Hiệp định 6/3.

Hạ tuần tháng 3/1946, D’Argenlieu ngỏ ý muốn gặp gỡ với Bác để bàn về quan hệ giữa hai nước. Quan hệ Việt – Pháp sau Hiệp định ngày càng xấu đi do D’Argenlieu cố tình phá hoại. Ở Nam bộ, D’Argenlieu ra lệnh cho quân Pháp càn quét, lấn chiếm; ở Bắc bộ, quân Pháp đi lại lung tung và tìm mọi cách phá hoại cuộc sống của nhân dân ta.

Trong Hiệp định sơ bộ có nói tới việc ký kết giữa ta và Pháp chỉ là tạm thời, sau đó, sẽ có một cuộc đàm phán và ký kết chính thức giữa hai chính phủ. D’Argenlieu muốn gặp Bác là để tìm cách cản trở việc đàm phán chính thức tại Paris, vì y muốn bưng bít sự thật ở Đông Dương. Ý định của y là hai bên sẽ đàm phán tại Hà Nội hoặc Sài Gòn, và nếu trường hợp đàm phán tại Paris, thì càng chậm càng tốt để y có thời gian thông báo tình hình cụ thể sang bên đó. Bác biết rất rõ âm mưu của viên Cao ủy này.

Thông qua Sainteny, D’Argenlieu ngỏ lời mời Bác với đại ý: “Tôi chưa gặp Cụ bao giờ. Lần này tôi muốn gặp để chào Cụ”. Bác nhận lời mời của D’Argenlieu và muốn hai bên sẽ gặp nhau tại Hà Nội. D’Argenlieu không muốn ra bắc vì nó sợ bị lép vế, sợ tình hình ở Hà Nội còn đang lộn xộn, Tưởng Giới Thạch chưa rút hết quân; và hơn nữa, chắc là nó sợ ta tổ chức ám sát nó. Còn việc D’Argenlieu muốn gặp Bác tại Sài Gòn tất nhiên là bị Người từ chối.

D’Argenlieu bèn nghĩ ra một kế là bố trí gặp Bác tại vịnh Hạ Long, vì ông ta cho rằng vịnh Hạ Long là địa điểm trung gian, không phải Sài Gòn và cũng không phải Hà Nội. Sau đó, ông ta nhờ Sainteny nói lại với Bác: “Nếu ông D’Argenlieu được gặp Chủ tịch ở một địa điểm nào khác thì thuận tiện hơn. Thí dụ ở vịnh Hạ Long. Ông Đô đốc và Hạm đội Pháp sẽ từ Sài Gòn đến Vịnh đón Chủ tịch, và một thủy phi cơ của Pháp sẽ đưa Chủ tịch đến nơi gặp. Xin Chủ tịch cho biết ý kiến”.

(Còn nữa)
Theo DVT

dvt.vn

Bác Hồ và lịch sử nước ta

Trong cuốn sách “Chiến đấu trong vòng vây”, hồi ức của Đại tướng Võ Nguyên Giáp (Hữu Mai ghi), có đoạn đáng chú ý như sau:
“…Một hôm, anh Vũ Kỳ, thư ký của Bác, viết thư cho tôi, nói Bác cần có một cuốn lịch sử Việt Nam. Thật khó tìm được cuốn sách này khi mọi người đã rời thành phố với một chiếc ba lô trên vai. Sau đó tôi được biết anh Kỳ đã tìm được một cuốn “Việt Nam sử lược” của Trần Trọng Kim. Bác đánh dấu những đoạn viết về các cuộc khởi nghĩa và chiến tranh chống ngoại xâm, đặc biệt là chiến tranh chống Nguyên Mông và khởi nghĩa Lam Sơn và dặn anh Kỳ nhắc anh Thận và tôi nên đọc lại những đoạn đó”. (trang 90)

Bác Hồ xem văn bia tại đền thờ Nguyễn Trãi ở Côn Sơn
Ảnh: T.L

Về sự kiện này, đồng chí Vũ Kỳ kể lại, sau ngày Toàn quốc kháng chiến 19-12-1946, Bác Hồ rời Hà Nội và từ ngày 18-2-1947, Bác làm việc ở tỉnh Thanh Hóa. Ở đây Bác đã viếng Vĩnh lăng – lăng của vị anh hùng giải phóng dân tộc Lê Lợi. Bác đọc lại một số đoạn sử trong cuốn “Việt Nam sử lược”. Bài học đánh giặc và giữ nước của ông cha đến lúc này hết sức thiết thân với dân tộc ta, nhất là khi bắt đầu kháng chiến chống Pháp, vũ khí của ta còn rất thô sơ (dao, gậy, tầm vông, kiếm) chống quân đội Pháp trang bị toàn vũ khí tối tân lại có viện trợ mọi mặt của Mỹ. Bác Hồ nhắc đồng chí Thận (Tổng Bí thư Trường Chinh) và đồng chí Võ Nguyên Giáp cần đặc biệt chú ý và nghiên cứu kỹ đoạn viết trong Việt Nam sử lược về chiến tranh chống giặc Nguyên Mông và chiến tranh chống giặc Minh.

Đoạn về chiến tranh chống giặc Nguyên Mông từ trang 132 đến trang 162. Giặc Nguyên Mông đã chiếm nửa thế giới và nước Tàu. Từ nước Tàu, chúng lấy cớ dẹp loạn Chiêm Thành nên mượn đường đi qua Việt Nam. Vua Trần Nhân Tông và cận thần biết rõ mưu đồ thâm độc của giặc Nguyên Mông sẽ chiếm nước ta nên từ chối, lấy cớ nước Nam không có đường đến Chiêm Thành. Giặc Nguyên Mông đòi tiến vào nước ta, đánh hay hòa, triều đình còn tranh cãi, một số người thấy Nguyên Mông mạnh quá, nước Tầu cũng đã phải chịu nữa là nước Nam. Chỉ còn cách hỏi ý kiến dân. Vua Trần Nhân Tông thông qua các bô lão họp tại điện Diên Hồng để bàn nên hòa hay nên đánh. Các bô lão đều đồng thanh xin đánh. Vua thấy dân đồng lòng như vậy cũng quyết kháng chiến. Lần đầu tiên nhân dân ta quyết định một vấn đề trọng đại của đất nước, Vua và triều đình coi đó như một mệnh lệnh cần chấp hành nghiêm chỉnh. Tháng 8 năm Giáp Thân (1284) Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn được phong chức Tiết chế thống lĩnh mọi lực lượng quân sự chống Nguyên Mông. Lời hịch truyền cho các vương hầu và quân sĩ thủy và bộ tại bến Đông bộ đầu, trước khi xuất kích bắt đầu cuộc kháng chiến đã được tóm tắt trong đoạn này như sau:

“…Bản chức phục mệnh thống đốc quân sĩ ra phá giặc. Các vương hầu và các tướng sĩ ai nấy phải cầm giữ phép tắc, đi đâu không được làm phiền nhiễu dân và phải đồng lòng hết sức đánh giặc, chớ thấy thua mà ngã lòng, chớ thấy được mà tự kiêu, việc quân có luật, phép nước không thân, các ngươi phải giữ…”

Những phẩm chất cao đẹp của một đội quân trung thành tuyệt đối với nhân dân đã được đúc kết trong lời hịch của Hưng Đạo Vương. Giặc Nguyên Mông tràn vào nước ta, tiến như vũ bão, thành Thăng Long thất thủ, Vua và triều đình rút về vùng nông thôn. Binh hùng tướng mạnh của địch chỉ vấp phải những trận đánh nhỏ của ta nhưng đều khắp các mặt trận đúng với tài thao lược “dùng ít thắng nhiều” của Hưng Đạo Vương. Giặc Nguyên Mông ba lần tiến vào nước ta, nhưng đều phải rút lui thảm hại. Sau hơn bốn năm kháng chiến, giữa năm 1288 ta toàn thắng, Vua sai mở tiệc khen thưởng quân sĩ, cho dân mở hội ba ngày, gọi là Thanh Bình diễn yến.

Đoạn về chiến tranh chống giặc Minh từ trang 199 đến trang 232 ghi lại mọi thủ đoạn tàn ác bắt người An Nam đồng hóa với người Tầu, lập ra đền miếu bắt dân ta cúng tế theo tục bên Tầu, cách ăn mặc cho đến học hành bắt theo như người Tầu. Mọi sách vở của ta giặc Minh đều thu nhặt hết mang về Tầu. Lại đặt ra các thứ thuế, bổ thêm sưu dịch lấy tiền của, làm cho dân ta kiệt quệ, đói khổ. Chính từ bước đường cùng này, không những mất nước mà còn bị đồng hóa. Vì vậy, nhân dân cả nước nhiệt liệt hưởng ứng cuộc khởi nghĩa Lam Sơn đứng đầu là Lê Lợi chống giặc Minh mặc dù giặc Minh rất mạnh, bộ máy cai trị tàn ác của chúng dầy đặc khắp nước, địa phương nào cũng có quan người Tầu thống trị. Cuộc chiến đấu cực kỳ gian khổ. Có lúc kiệt quệ, quân ta ăn cả cỏ; voi, ngựa gầy trơ xương cũng vẫn phải giết lấy thịt để ăn, tưởng không gượng dậy nổi nữa nhưng cuộc chiến đấu vẫn tiếp tục, vừa đánh vừa đàm, vừa đàm vừa đánh. Đội quân của Lê Lợi cũng như của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn đều từ dân mà ra, hết lòng phục vụ nhân dân. Các tướng lĩnh của Lê Lợi, dù quyền cao chức trọng đều “lấy giáp trụ làm chăn áo, lấy đồng cỏ làm cửa nhà”, “cơm ăn sớm tối không được hai bữa, áo mặc đông hè chỉ có một manh”. Từ tướng đến quân đều đồng cam cộng khổ với dân, cuộc kháng chiến đến năm thứ 10 thì ta quét sạch giặc Minh, chính quyền cả nước đặt dưới quyền Lê Lợi, lúc này đã xưng vương là Lê Thái Tổ, còn gọi là Bình Định Vương. Quân ta bắt được nhiều tù binh, dân ta có người căm thù giặc Minh đòi phải giết hết. Về việc này, Việt Nam sử lược đã ghi ý kiến của Bình Định Vương như sau:

“Phục thù, báo oán là cái thường tình của mọi người, nhưng cái bản tâm người có nhân không muốn giết người bao giờ. Vả người ta đã hàng mà lại còn giết thì không hay. Nếu mình muốn thỏa cơn giận một lúc, mà chịu cái tiếng muôn đời giết kẻ hàng, thì sao bằng để cho muôn vạn con người sống mà khỏi được mối tranh chiến về đời sau lại để tiếng thơm lưu truyền thiên cổ trong sử sách”.

Đã không giết tù binh, mặc dầu vừa trải qua cuộc kháng chiến nhân dân còn thiếu thốn đủ mọi thứ, Lê Lợi vẫn cấp 500 thuyền mới đủ đưa hai vạn tù binh về Tầu, không những cấp cho tù binh đủ lương ăn mà còn cả áo quần. Và sử còn ghi một hành động hết sức khác thường không ai đoán nổi: Lê Lợi Bình Định Vương đã đến tận nơi tiễn các tù binh này, coi như bắt đầu thời gian giao hảo bình thường giữa hai nước.

Lê Lợi đã giao Nguyễn Trãi trọng trách làm bản báo cáo tổng kết cuộc kháng chiến 10 năm chống giặc Minh. Nguyễn Trãi là tham mưu thân cận nhất của Lê Lợi, có công rất lớn đã giúp Lê Lợi lãnh đạo cuộc kháng chiến. Bản báo cáo mang tên “Bình Ngô Đại Cáo” được sử ghi là “bản văn chương rất có giá trị đời Lê”, và không chỉ có đời Lê mà các thế hệ sau này đều coi “Bình Ngô Đại Cáo” là một Tuyên ngôn độc lập của Tổ quốc ta.

Trên đây là tóm tắt hai đoạn trong Việt Nam sử lược mà khi bắt đầu cuộc kháng chiến chống Pháp, Bác Hồ đã căn dặn các lãnh đạo của Đảng phải đọc kỹ. Bài học sâu xa nhất mà hai cuộc kháng chiến chống giặc Nguyên Mông và giặc Minh để lại được nêu bật trong Việt Nam sử lược là phải coi sức mạnh của nhân dân là vô địch, không kẻ thù nào dù là Nguyên Mông hoặc giặc Minh đánh bại nổi, rõ ràng chúng chỉ có một lối thoát là đầu hàng, rút chạy. Cuộc kháng chiến 30 năm chống Pháp rồi chống Mỹ đã bắt đầu với những bài học vô giá ông cha để lại, với bao sự việc rất cụ thể ghi trong sử, chúng ta rất tự hào được sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ, quân đội ta được dân quen gọi là Bộ đội Cụ Hồ, đã tiếp thu trọn vẹn phẩm chất cao đẹp của lực lượng võ trang dưới quyền thống lĩnh của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn và Bình Định Vương Lê Lợi.

Dân tộc ta tồn tại đã ngàn năm, thường xuyên phải đối phó với giông bão về mọi mặt, tích lũy nhiều kinh nghiệm đánh giặc giữ nước và an dân trị nước. Chúng ta không ngạc nhiên khi Bác Hồ về nước sau hơn 30 năm xa cách, Bác đã viết ngay Lịch sử Việt Nam làm tài liệu học tập đào tạo cán bộ Việt Minh. Phải thông thạo lịch sử nước nhà mới có thể thực hiện đoàn kết muôn người như một đúng với truyền thống bao đời của ông cha, dù trong nước có giặc ngoại xâm hoặc không thì lúc nào cũng hòa hợp và đoàn kết không bỏ sót ai, không bao giờ chấp nhận lại có tầng lớp này chống tầng lớp kia.

Bác Hồ thường nêu gương các vị khai quốc công thần, anh hùng dân tộc để giáo dục thế hệ ngày nay. Đặc biệt mỗi lần nhắc đến Nguyễn Trãi, Bác biểu lộ một tấm lòng ưu ái và khâm phục sâu sắc. Chỉ có nhân dân là sức mạnh vô địch dù kẻ thù mạnh đến đâu và vai trò làm chủ đất nước sau khi đã giải phóng đất nước khỏi bọn xâm lược là những tư tưởng lớn của Nguyễn Trãi, đã vượt lên trên thời đại của ông, mãi mãi có sức sống cho đời sau. Lý tưởng của ông là cứu nước và cứu dân. Cứu nước mới là cứu dân thoát khỏi họa đàn áp bóc lột của bọn thống trị nước ngoài. Muốn cho dân thật sự hết lầm than khổ cực, còn phải cứu dân thoát khỏi ách đàn áp bóc lột của bọn thống trị trong nước. Như thế mới thực sự cứu dân, thực sự yêu dân, thực sự vì dân. Một số người chỉ nói giải phóng đất nước, nói cứu nước và thỏa mãn với đất nước không còn bóng tên xâm lược nhưng lại không hề nghĩ đến dân đã được giải phóng chưa? Chính quyền đã về tay ta nhưng ta là ai, là dân hoặc là những người xa dân, quan liêu, tham nhũng, chỉ lo cho cá nhân và phe nhóm mà Nguyễn Trãi gọi là bọn thống trị trong nước.

Bác Hồ rất tâm đắc với tư tưởng lớn của Nguyễn Trãi, ngay sau khi Cách mạng tháng 8 thành công, nước ta được độc lập, Bác Hồ đã nhìn thấy vấn đề cốt lõi của cách mạng là chính quyền, quyền lực chính trị, quyền lực Nhà nước thuộc về ai? Cách mạng thắng lợi, mọi quyền lực phải thuộc về nhân dân và chỉ thuộc về nhân dân. Bác Hồ đã nói: “Chúng ta đã hy sinh làm cách mệnh thì nên làm cho đến nơi, nghĩa là làm sao cách mệnh rồi thì quyền giao cho dân chúng số nhiều, chớ để trong tay một ít người. Thế mới khỏi hy sinh nhiều lần, thế dân chúng mới được hạnh phúc”.

Cho đến cuối đời, lúc nào Bác Hồ cũng đặc biệt quan tâm đến Đảng cầm quyền vì muốn dân thực sự được làm chủ, chỉ có dân mới được làm chủ thì Đảng phải là đầy tớ của dân. Nếu quyền đã được nhân dân giao phó lại không coi dân là chủ còn mình chỉ là người đầy tớ trung thành thì sớm muộn Đảng cũng sẽ xa dân, chưa phải là người lãnh đạo và người đầy tớ thật trung thành của nhân dân như Bác Hồ đã dạy.

Dân là chủ theo quan niệm của Nguyễn Trãi và của Hồ Chí Minh là một. Chính vì vậy Hồ Chí Minh thường xuyên “gần gũi” với Nguyễn Trãi. Mỗi lần Bác Hồ về thăm Côn Sơn, đền thờ Nguyễn Trãi, đồng chí Vũ Kỳ vẫn gọi là Bác Hồ “về thăm” Nguyễn Trãi. Giữa tháng 2-1965, Bác Hồ lại “về thăm” Nguyễn Trãi ở Côn Sơn trước khi Bác bắt đầu viết Di chúc. Trong bài báo “Tài liệu tuyệt đối bí mật” của đồng chí Vũ Kỳ phản ánh quá trình mấy năm Bác viết Di chúc, có một đoạn như sau:

Ngày 15 tháng 2 năm 1965, Bác Hồ “về thăm” Nguyễn Trãi ở Côn Sơn. Bác nghỉ trưa ở đó và xem rất kỹ văn bia trong đền thờ Nguyễn Trãi. Rồi đây các nhà viết sử có lẽ phải dành nhiều trang cho sự kiện không ngẫu nhiên này. Bởi Hồ Chí Minh tìm đến Nguyễn Trãi trong bước ngoặt lịch sử của dân tộc, đâu phải là một sự ngẫu nhiên. Cách nhau hơn năm thế kỷ (1380 – 1890) mà sao có những trùng hợp lạ kỳ, y như cuộc hẹn gặp lịch sử đã định sẵn. Hai nhà chính trị và quân sự kiệt xuất, hai nhà thơ lớn, hai nhân cách lớn và bao trùm lên tất cả là sự gặp nhau ở lòng tin tuyệt đối vào sức mạnh to lớn của nhân dân, là tấm lòng tha thiết đối với hạnh phúc nhân dân. Người đã từng nói: “Chở thuyền cũng là dân, lật thuyền cũng là dân”, cũng chính Nguyễn Trãi là người đã mở đầu “Bình Ngô Đại Cáo” bằng một câu bất hủ “Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân”. Hôm nay như hẹn vĩ nhân của thời đại mới với chân lý:

Gốc có vững, cây mới bền
Xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân.

Thái Duy

daidoanket.vn