Tag Archive | Hồ sơ – Tư liệu

Chủ tịch Hồ Chí Minh với Quốc hội đầu tiên của đất nước

(ANTĐ) -Sau thắng lợi vĩ đại của Cách mạng Tháng Tám, giành lại chính quyền về tay nhân dân, việc tổ chức thành công Tổng tuyển cử bầu Quốc hội của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa có ý nghĩa vô cùng trọng đại, khẳng định tính hợp pháp và hợp hiến của Nhà nước trước toàn thế giới. Trong tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”, thù trong giặc ngoài đang câu kết với nhau hòng phá hoại Tổng tuyển cử, lật đổ Chính phủ Hồ Chí Minh, thì cuộc bầu cử Đại biểu Quốc hội càng mang ý nghĩa sâu sắc hơn.

Bác Hồ đi bỏ phiếu bầu cử

Trong những ngày tháng vô cùng gian nan ấy, Chủ tịch Hồ Chí Minh vừa là người đứng đầu sóng ngọn gió, chèo lái con thuyền cách mạng vượt qua mọi thác ghềnh, vừa chỉ đạo các Bộ chuẩn bị tốt mọi mặt cho cuộc Tổng tuyển cử; đồng thời, Người trực tiếp gặp gỡ các tầng lớp nhân đan Thủ đô, kêu gọi toàn dân đoàn kết, không nghe theo luận điệu tuyên truyền phản dân hại nước của bọn Việt quốc, Việt cách, thực hiện nghĩa vụ và quyền lợi thiêng liêng của công dân yêu nước.

15 giờ ngày 5-1-1946, tại Việt Nam học xá (nay là khu Đại học Bách khoa), thay mặt các ứng cử viên của Quốc hội tại Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói chuyện với đồng bào dự mít tinh: “Làm việc nước bây giờ là hy sinh phấn đấu, quên lợi riêng mà nghĩ lợi chung. Những ai muốn làm quan cách mạng thì không nên bầu”(1). Cùng ngày, Người viết “Lời kêu gọi quốc dân đi bỏ phiếu” bầu đại biểu Quốc hội – những người ra gánh vác việc nước, trong đó, Người căn dặn đại biểu Quốc hội: “Những người trúng cử sẽ phải ra sức giữ vững nền độc lập của Tổ quốc, ra sức mưu sự hạnh phúc cho đồng bào.

Phải luôn luôn nhớ và thực hành câu: vì lợi nước, quên lợi nhà; vì lợi chung, quên lợi riêng. Phải làm cho xứng đáng với đồng bào, với Tổ quốc. Người không trúng cử, cũng không nên ngã lòng… ở trong Quốc hội hay ở ngoài Quốc hội, mình cũng cứ ra sức giúp ích nước nhà”(2).

Ngày 6-1-1946, Hà Nội tưng bừng trong ngày hội lớn. Chủ tịch Hồ Chí Minh đến địa điểm hòm phiếu ở số 10 phố Lý Thái Tổ thực hiện nghĩa vụ công dân, sau đó, Người đi thăm hỏi cử tri ở phố Hàng Bạc, Hàng Đào, Lò Đúc, Thụy Khuê, Hồ Khẩu, Yên Thái… Hình ảnh vị Chủ tịch nước giản dị, gần gũi trong ngày bầu cử mãi khắc sâu trong tâm khảm nhân dân. Người đã được  bầu với số phiếu cao nhất.

Ngày12-1-1946, Hà Nội tổ chức mít tinh mừng thắng lợi của Tổng tuyển cử. Thay mặt các đại biểu Quốc hội đã trúng cử, Hồ Chủ tịch cảm ơn nhân dân Hà Nội, biểu dương nhân dân Hà Nội và cả nước, trong hoàn cảnh khó khăn phức tạp đã làm tròn nhiệm vụ của người công dân yêu nước. Người căn dặn đồng bào ra sức củng cố và giữ gìn độc lập. Kết thúc bài phát biểu, Hồ Chủ tịch hứa: “Trước sự khó khăn của nước nhà, chúng tôi xin đi trước. Với việc giữ gìn nên độc lập, chúng tôi xin đi trước”.

Ngày 2-3-1946, kỳ họp thứ nhất của Quốc hội khóa I được tổ chức, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc lời khai mạc, báo cáo trước Quốc hội những việc chính phủ liên hiệp lâm thời đã làm trong 6 tháng: Ra sức kháng chiến; giảm bớt đói kém bằng cách thực hành tiết kiệm, tăng gia sản xuất; tổ chức Tổng tuyển cử; bầu Quốc hội thành công. Quốc hội đã nhất trí thành lập Chính phủ mới – Chính phủ kháng chiến với 10 Bộ do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch, Nguyễn Hải Thần làm Phó chủ tịch.

Thay mặt Chính phủ kháng chiến, Người đọc lời tuyên thệ thiêng liêng trước bàn thờ Tổ quốc, trước Quốc hội: “Cương quyết lãnh đạo nhân dân kháng chiến, thực hiện nền dân chủ cộng hòa Việt Nam, mang lại tự do, hạnh phúc cho dân tộc. Trong công việc giữ gìn nền độc lập, chúng tôi quyết vượt nỗi khó khăn dù phải hi sinh tính mệnh cũng không từ”(3).

Thực hiện lời tuyên thệ, Hồ Chủ tịch đã lãnh đạo chính phủ tiếp tục kháng chiến kiến quốc, củng cố chính quyền, thành lập mặt trận liên Việt mở rộng khối đại đoàn kết toàn dân, chuẩn bị mọi mặt cho cuộc kháng chiến.

Ngày 31-10-1946, tại kỳ họp thứ hai của Quốc hội, Người được giao trọng trách tiếp tục làm Chủ tịch nước. Đọc lời tuyên thệ, Hồ Chủ tịch thẳng thắn bày tỏ: “Hồ Chí Minh không phải là kẻ tham quyền cố vị, mong được thăng quan phát tài(…) Tôi xin tuyên bố trước Qốc hội, trước quốc dân, trước thế giới: Tôi chỉ có một đảng, đảng Việt Nam. Tôi cũng xin tuyên bố trước Quốc hội, trước quốc dân và thế giới, chính phủ sau đây phải là chính phủ liêm khiết”(4). Quốc hội đã nhất trí thông qua Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đặt nền móng cho tổ chức và hoạt động luật pháp của Nhà nước. Đó là một sự kiện  lớn có ý nghĩa quan trọng trong lịch sử Quốc hội nước ta.

Năm 1960, nhìn lại những ngày tháng cam go ấy, trong bài “Quốc hội thật vĩ đại, Hồ Chủ tịch viết: “Hồi đó, có người nói: nhân dân ta trình độ non kém, không nên vội tổ chức Tổng tuyển cử, nhưng Đảng ta kiên quyết nói: đồng bào ta phải được hưởng quyền dân chủ, chúng ta phải tổ chức Tổng tuyển cử.(…) Quốc hội đầu tiên trong lịch sử Việt Nam – Quốc hội khóa I – đã được toàn dân bầu ra(…) Quốc hội khóa I của ta là Quốc hội kháng chiến”(5).

Tự mình làm gương đạo đức cách mạng: Cần, Kiệm, Liêm, Chính, trước toàn đảng toàn dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã là người tổ chức và là linh hồn của Quốc hội, phát huy được sức mạnh đoàn kết của mọi tầng lớp nhân dân để chống thù trong giặc ngoài, xây dựng chính quyền thực sự do dân, vì dân, thực hiện dân chủ và dân quyền của nhân dân. Đó chính là cội nguồn để ngọn cờ độc lập dân tộc được giữ vững trước muôn vàn thử thách của giặc giã, đói nghèo, lạc hậu.

Ths Phạm Kim Thanh

(1), (2),(3),(4): Hồ Chí Minh, toàn tập, tập 4, NXB CTQG,H.1995, tr

(5): Hồ Chí Minh, toàn tập , tập 10, NXB CTQG, H.1996, tr

anninhthudo.vn

70 năm trước Bác Hồ về nước

QĐND – Sau khi tìm được con đường cứu nước, trở về nước “giúp đồng bào” luôn là nỗi canh cánh bên lòng Hồ Chí Minh. Tháng 6 năm 1923, khi rời Pa-ri đi Mát-xcơ-va, Người đã để lại cho những người bạn chiến đấu của mình trong Hội liên hiệp thuộc địa một lá thư thắm tình đồng đội, chứa chan sự đồng cảm của những người cùng cảnh ngộ và bày tỏ khát vọng của mình: “Chúng ta phải làm gì? Đối với tôi câu trả lời đã rõ ràng: Trở về nước, đi vào quần chúng, thức tỉnh họ, tổ chức họ, đoàn kết họ, huấn luyện họ, đưa họ ra đấu tranh giành tự do, độc lập”.

Song, từ khát vọng đến hiện thực là một khoảng cách dài, rất dài, có khi không đến được. Hồi hoạt động ở Pháp, trong một lá thư gửi Nguyễn Ái Quốc ngày 18-2-1922, cụ Phan Chu Trinh không tán thành phương pháp hoạt động của Nguyễn mà Cụ gọi là “Ngọa ngoại chiêu hiền, đãi thời đột nội” và khuyên Nguyễn ” trở về ẩn náu trong thôn dã, hô hào quốc dân đồng bào đồng tâm hiệp lực đánh đổ cường quyền áp chế, ắt là thành công!”. Cụ Phan rất chân thành, nhưng tỏ ra chưa hiểu hết lòng dạ của đối phương. Cho nên, dù rất kính trọng cụ Phan, bậc cha chú, nhưng Nguyễn đã không hành động theo lời khuyên đó. Bởi trở về nước lúc đó tức là tự nộp mình cho thực dân Pháp, phải “đãi thời” mới có thể “đột nội” được.

Bác Hồ về nước. Tranh sơn dầu của Trịnh Phòng.

Trong những năm hoạt động cách mạng ở Xiêm đã một đôi lần Nguyễn Ái Quốc tìm đường về nước, nhưng không thành. Trong một bản báo cáo gửi Quốc tế Cộng sản ngày 18-2-1930, Người có nói tới sự nỗ lực đó: “Hai lần tôi thử về Việt Nam nhưng đều phải quay trở lại. Mật thám và cảnh sát ở biên giới rất cảnh giác, đặc biệt là từ khi có vụ Việt Nam Quốc dân Đảng”. Thời cơ cho sự đột nội chưa đến với Người.

Tháng 9-1935, khi trả lời phỏng vấn của nhà báo Xô-viết I-li-a Ê-ren-bua về những ấn tượng mùa Xuân trên đất nước Lê-nin và những mong muốn của mình, Nguyễn Ái Quốc một lần nữa lại thốt lên: “Tôi chỉ có một mong ước là sớm trở về Tổ quốc”. Vậy là, cho đến năm 1935, trở về nước vẫn là niềm khát vọng cháy bỏng của Người.

Tháng 9-1938, sau khi được sự chấp nhận của Quốc tế Cộng sản, Người rời Liên Xô về Diên An, Trung Quốc, xích gần lại quê hương, tìm cơ hội trở về nước. Năm 1940, những biến cố thế giới đã tạo ra dấu hiệu xuất hiện cơ hội. Ngày 20-6-1940, nước Pháp đầu hàng Hít-le và Người đã nhìn thấy trong biến cố đó như một cơ hội tốt cho sự “đột nội” của Người. Người liền triệu tập cuộc họp tại tòa soạn Báo Đ.T bàn về các giải pháp tận dụng cơ hội đó. Đoạn hồi ký của Trịnh Đông Hải (Vũ Anh) cho chúng ta biết cái tài, sự nhạy bén của nhà cách mạng từng trải Nguyễn Ái Quốc trong việc nắm bắt và xử lý thông tin quan trọng đó:” Việc Pháp mất nước là một cơ hội rất thuận lợi cho cách mạng Việt Nam. Ta phải tìm cách về nước ngay để tranh thủ thời cơ, chậm trễ lúc này là có tội với cách mạng”. Tiếp đó, Người điện cho Lâm Bá Kiệt (Phạm Văn Đồng), Dương Hoài Nam (Võ Nguyên Giáp) và Cao Hồng Lãnh đang trên đường đi học ở Diên An quay lại, chuẩn bị về nước.

Thoạt đầu, Nguyễn Ái Quốc chuẩn bị về nước theo hướng Côn Minh-Lào Cai bởi hướng này có tuyến đường sắt từ Côn Minh nối với Lào Cai có nhiều gia đình công nhân người Việt làm việc và sinh sống thành từng làng mà Người đã chứng kiến qua cuộc khảo sát do Phùng Chí Kiên tháp tùng. Vì thế mà Người đã phái Bùi Đức Minh, Hoàng Văn Lộc về Hà Khẩu để điều tra, nắm tình hình trong nước và đặt cơ sở liên lạc. Nhưng rồi cầu Hồ Kiều, một chiếc cầu lớn trên tuyến đường sắt Việt-Điền nối hai nước Việt-Trung, bị máy bay Nhật đánh sập ngày 10-9-1940. Cửa khẩu lớn giữa hai nước bị đóng lại. Vậy là, ý định về nước theo hướng Lào Cai không còn. Người tin cho Bùi Đức Minh, Hoàng Văn Lộc trở lại Côn Minh, tìm hướng mới. Và hướng mới đó là Cao Bằng.

Trong suy nghĩ của Nguyễn Ái Quốc, Cao Bằng hội tụ 3 yếu tố quan trọng cho sự đột nội của Người: Địa, Nhân và sự gợi ý của Ban Thường vụ Đảng trong nước. Về Địa, Cao Bằng ở vào vị trí tiến thoái đều thuận lợi. Cách mạng phát triển, từ Cao Bằng theo tuyến đường bộ thông với Thái Nguyên, thông với Lạng Sơn về Hà Nội. Nếu gặp khó khăn, Cao Bằng thông sang Trung Quốc với những con đường mòn, những con suối nhỏ mà dân vùng biên thường qua lại. Cao Bằng còn là vùng đất hiểm trở mà trước đây các thế lực chống đối các triều đại phong kiến biến thành nơi dung thân, đợi thời, điển hình là nhà Mạc. Về Nhân, người dân cư trú trên mảnh đất này có truyền thống yêu nước và cách mạng sớm, đặc biệt có chi bộ Đảng sớm nhất ở Việt Bắc. Ngoài ra, trên bước đường hoạt động cách mạng của mình, người dân tộc thiểu số đầu tiên mà Người gặp là Hoàng Văn Nọn, người Tày Cao Bằng tại Mát-xcơ-va, đã để lại trong Người những ấn tượng tốt đẹp về người Tày và vùng quê của anh. Cuối cùng, trong thời điểm quyết định, đầu tháng 1-1941 diễn ra cuộc gặp gỡ kỳ thú giữa Nguyễn Ái Quốc và đồng chí Hoàng Văn Thụ, đại diện của Ban Thường vụ Trung ương Đảng từ trong nước sang tại làng Tân Khư, Tĩnh Tây (Trung Quốc). Tại cuộc gặp đó, đồng chí Hoàng Văn Thụ đã đề nghị Người về nước theo hướng Cao Bằng vì trình độ giác ngộ của dân chúng tương đối cao và đội ngũ cán bộ lãnh đạo khá vững vàng.

Theo sự chỉ dẫn của Bác, trước đó một tháng, Vũ Anh đã tìm được một nơi “bí mật, có hàng rào quần chúng bảo vệ và có đường rút lui”. Đó là hang Cốc Bó thuộc bản Pác Bó, huyện Hà Quảng, địa thế hiểm trở. Hang thông ra một con đường kín dẫn sang bên kia biên giới, có thể rút lui an toàn khi bị lộ. Cách đó không xa là bản Pác Bó, một hàng rào quần chúng bảo vệ rất tốt.

Ngày 28-1-1941, sau một thời gian chuẩn bị chu tất, Nguyễn Ái Quốc cùng Phùng Chí Kiên được Dương Đại Lâm dẫn đường, vượt biên giới Việt-Trung ở cột mốc 108 về nước. Đầu tiên Người được bố trí sống trong nhà dân ở bản Pác Bó. Từ ngày 8-2-1941, Người sống và làm việc tại hang Cốc Bó. Từ đó Cốc Bó trở thành đầu nguồn của cách mạng. Tại lán Khuổi Nậm, cách hang không xa, tháng 5-1941, Nguyễn Ái Quốc chủ trì Hội nghị Trung ương lần thứ Tám, hoàn thiện sự chuyển hướng chiến lược cách mạng Việt Nam đã được khởi động từ Hội nghị Trung -ương VI dưới sự chủ trì của Tổng bí thư Nguyễn Văn Cừ tháng 11-1939. Hội nghị chủ trương tiến hành cuộc cách mạng giải phóng dân tộc thắng lợi sau đó mới làm cách mạng tư sản dân quyền. Vấn đề dân tộc được đặt lên trên hết và trước hết: “Trong lúc này quyền lợi của bộ phận, của giai cấp phải đặt dưới sự sinh tử, tồn vong của quốc gia, của dân tộc. Trong lúc này nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc, thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được”. Lần đầu tiên, mối quan hệ giữa dân tộc và giai cấp trong cách mạng giải phóng dân tộc được giải quyết một cách thấu đáo như vậy. Không chỉ thế, hội nghị này còn chủ trương giải quyết vấn đề dân tộc trong khuôn khổ của từng nước Đông Dương: “Sau lúc đánh đuổi Pháp-Nhật, ta sẽ thi hành đúng chính sách “dân tộc tự quyết” cho dân tộc Đông Dương. Các dân tộc sống trên cõi Đông Dương sẽ tùy theo ý muốn, tổ chức thành liên bang cộng hòa dân chủ hay đứng riêng thành một dân tộc quốc gia tùy ý… Sự tự do độc lập của các dân tộc sẽ được thừa nhận và coi trọng… Riêng dân tộc Việt Nam, một dân tộc đông và mạnh hơn hết ở Đông Dương, sau lúc đánh đuổi được Pháp-Nhật sẽ thành lập một nước Việt Nam dân chủ mới theo tinh thần tân dân chủ”. Vì thế, hình thức tập hợp lực lượng cách mạng cũng thay đổi – Mặt trận Việt Nam Độc lập Đồng minh, gọi tắt là Việt Minh, được thành lập thay cho Mặt trận Thống nhất Dân tộc Phản đế Đông Dương không còn thích hợp. Cùng với hai vấn đề chiến lược trên, Hội nghị quyết định chuyển công tác Đảng về nông thôn là nơi chính quyền thực dân lỏng lẻo và chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang.

Nghị quyết của Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ Tám chính là sự chuẩn bị đường lối chính trị quyết định cho sự thắng lợi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 ở Việt Nam. Và Cao Bằng với “Ba mặt “Tam giang” trôi cuồn cuộn. Bốn bề “Tứ trụ” đứng chon von” đã trở thành chỗ đứng chân đầu tiên khi Nguyễn Ái Quốc về nước sau 30 năm hoạt động nơi góc bể chân trời. Từ đó mà đến tháng 6-1945 ta có Khu Giải phóng gồm 6 tỉnh (Cao – Bắc – Lạng – Hà – Tuyên – Thái) để đến tháng 8 năm 1945 ta được cả nước Việt Nam từ Lũng Cú đến mũi Cà Mau. Được tất cả những điều đó thực sự bắt đầu từ chọn đúng đột phá khẩu – Cao Bằng

PGS.TS Phạm Xanh
qdnd.vn

Đi tìm tư liệu về Bác Hồ ở nước Nga

Bác Hồ vào năm 1933 khi vừa từ Trung Quốc trở lại Nga (ảnh do Bảo tàng Hồ Chí Minh thu thập được trong chuyến công tác tại Nga cuối năm 2006)

TT – “Sau một tháng sang Nga tìm tư liệu về Bác, chúng tôi đã có không phải ba trang mà 1.000 trang, trong đó có khoảng gần 30% là tư liệu mới” – ông Chu Đức Tính, giám đốc Bảo tàng Hồ Chí Minh, chia sẻ những thông tin mới nhất mà các cán bộ bảo tàng mới mang về từ nước Nga.

Là một người làm lưu trữ hơn 20 năm, chị Phạm Thị Lai – trưởng phòng tư liệu Bảo tàng Hồ Chí Minh, người phụ trách nhóm công tác – cẩn trọng: “Tất cả sẽ được công bố sau khi chúng tôi đã phân loại, nghiên cứu và trình kết quả lên cấp có thẩm quyền. Có những bí mật mà tôi không đủ thẩm quyền công bố, và thật ra thì ngay ở Nga nó cũng chưa được giải mật”.

Chị Lai kể về một tháng tìm kiếm, làm việc kể từ khi đặt chân xuống sân bay Domodedovo đến khi xách những chiếc vali nặng trĩu tài liệu quí về nước: “Lưu trữ lịch sử chính trị quốc gia Nga là cơ quan lưu trữ lớn nhất nước Nga, có tới 685 phông lưu trữ (phông là đơn vị lưu trữ lớn nhất theo thuật ngữ của chuyên ngành lưu trữ) với 2,1 triệu hồ sơ lưu trữ. Trong đó tư liệu về Đảng Cộng sản VN và Bác Hồ chỉ là một mục lục trong một hồ sơ, với số lượng tài liệu hiện vật khoảng 7.000 trang. Trước đây, thời Liên Xô, các bạn có tặng chúng ta hầu hết các tài liệu mà họ lưu giữ, song chỉ là bản sao chụp, đen trắng, không rõ nét, nay chúng tôi phải tìm cách tiếp cận với hồ sơ gốc để scan. Qui định của cơ quan lưu trữ Nga là mỗi người mỗi ngày chỉ được đọc 5 đơn vị hồ sơ, 1.000 trang cũng tính là một đơn vị mà 1 trang cũng tính là một đơn vị, mà đặt tài liệu vào thứ hai thì thứ tư mới có để đọc”.

Trong số tài liệu mang về, chị Lai thích nhất bức ảnh Bác Hồ vào năm 1933, khi từ Trung Quốc quay lại Nga, với áo dài, khăn, giày, kính như một phú thương Trung Hoa (ảnh). Chị Lai kể: “Bảo tàng của chúng tôi có trưng bày cả bộ quần áo ấy, cả khăn, mũ kính ấy, nhưng chưa có một tài liệu nào, hình ảnh nào cho thấy Bác đã mặc chúng như thế nào. Khi nhìn thấy bức ảnh ấy lần đầu trong lưu trữ Nga, tôi đã nghẹn ngào vì sung sướng. Hay là tấm thẻ Bác chụp để đi dự Đại hội lần 7 của Quốc tế cộng sản năm 1935, với bốn thứ tiếng Anh, Nga, Pháp và Đức, Bác đã gầy và già đi bao nhiêu so với tấm ảnh trong thẻ dự đại hội 5 Quốc tế cộng sản vào năm 1924. Rồi tấm thẻ đảng viên Đảng Cộng sản Pháp năm 1922 với tên Henri Tchen (Henri Trần). Chúng tôi từng thống kê Bác có hơn 160 tên, nhưng mỗi lần gặp một tài liệu với một tên mới của Bác, vẫn không bao giờ hết ngạc nhiên về khả năng phi thường của Người”.

Chị Lai cho biết chuyến đi Nga lần này của đoàn cán bộ Bảo tàng Hồ Chí Minh có nhiều điều thú vị: phát hiện khá nhiều thư Bác gửi các lãnh tụ Đảng Cộng sản Liên Xô, hầu hết viết bằng tiếng Anh và tiếng Pháp, được trợ lý của họ dịch ra tiếng Nga và được cơ quan lưu trữ Nga gìn giữ rất cẩn thận, dù chỉ là hai dòng bút tích. Cũng có những bức thư viết bằng tiếng Nga, rất tình cảm, đặc biệt khi trình bày về các vấn đề thuộc địa. “Chúng tôi cũng đã tìm thấy những bức thư Bác gửi Quốc tế cộng sản xin được quay về Đông Dương, về VN hoạt động. Có những tư liệu về Bác chúng tôi tìm thấy không phải ở “Lưu trữ cá nhân – Nguyễn Ái Quốc” trong Lưu trữ quốc gia, mà ở Lưu trữ cá nhân của Stalin. Tôi hi vọng trong thời gian tới có thể nghiên cứu, báo cáo và công bố những tư liệu này” – chị Lai cho biết.

THU HÀ
Tuổi trẻ Online