Tag Archive | Độc lập

“Vào Quốc hội không phải để làm quan…”

Các ứng cử viên ĐBQH khóa I trong lễ ra mắt cử tri tại Việt Nam học xá (nay là trường Đại học Bách khoa Hà Nội). (Ảnh tư liệu trong sách ảnh 60 năm chính phủ Việt Nam của Nhà xuất bản Thông Tấn).

Là người kiến tạo ra nền chính trị Việt Nam hiện đại, Chủ tịch Hồ Chí Minh ý thức được tầm quan trọng của Quốc hội trong một thể chế dân chủ – cộng hòa được khẳng định từ rất sớm trong cương lĩnh Cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam.

Người lãnh đạo càng phải gương mẫu

Có thể nói không chỉ những vấn đề lý luận mà ngay cả kỹ năng tổ chức Quốc hội và kỹ năng thực thi trách nhiệm của một Đại biểu Quốc hội cũng được Bác rất quan tâm. Bác đặc biệt quan tâm đến việc làm sao một tổ chức chính trị của một đảng cách mạng và một quần chúng mới thoát ra khỏi thân phận là thần dân của chế độ phong kiến, thuộc dân của chế độ thuộc địa có thể bắt kịp với một cuộc bầu cử và đưa vào vận hành một thể chế chính trị tiên tiến như Quốc hội. Bác rất ý thức được tâm thế của người phương Đông là tính gương mẫu của người cầm quyền của các nhà lãnh đạo. Vì thế Bác luôn tự mình làm gương cho mọi người.

Để bảo đảm mối đoàn kết toàn dân, tháng 11-1945, theo chủ trương của Bác, Đảng Cộng sản Đông Dương tuyên bố “tự giải tán”, thực chất là rút vào hoạt động không công khai, chỉ có một bộ phận công khai mang tên tổ chức “Hội Nghiên cứu Chủ nghĩa Mác”. Khi ra ứng cử Bác cũng không lấy danh nghĩa này mà ứng cử với danh nghĩa “Đảng Quốc dân”. Thực chất chưa hề thành lập một tổ chức chính trị như thế nhưng có thể đấy là cách Bác cụ thể hóa tư tưởng đã từng tuyên bố công khai: “Đối với tôi chỉ có một đảng là Đảng Việt Nam tập hợp tất cả mọi người Việt Nam chỉ trừ hai hạng người là kẻ phản quốc và tham nhũng…”.

Nhà sử học Dương Trung Quốc.

Bác dạy ta “bài học vỡ lòng” về dân chủ

Chủ tịch Hồ Chí Minh ứng cử tại Hà Nội. Khi ấy, 118 vị chủ tịch UBND và tất cả các đại biểu làng xã tại Hà Nội đề nghị Bác “miễn phải ứng cử” và suy tôn làm chủ tịch vĩnh viễn nhưng Bác đã từ chối. Đấy là bài học vỡ lòng về “dân chủ” mà Bác muốn truyền cho nhân dân về nguyên lý: Mọi công dân đều bình đẳng và tuân thủ pháp luật. Nó cũng biểu hiện tính gương mẫu của người lãnh đạo vì lúc này Bác đang là chủ tịch Chính phủ lâm thời cũng được bầu ra từ một “Quốc dân đại hội” (họp trên Tân Trào) – là một hình thức sơ khai, tiền thân của Quốc hội.

Tôi muốn trích lại một đoạn trong thư trả lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh đề ngày 15-12-1945: “Tôi rất cảm động thấy toàn thể đồng bào ngoại thành Hà Nội đã có lòng quá yêu tôi… Nhưng tôi là một công dân nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nên không thể vượt qua thể lệ tổng tuyển cử đã định. Tôi đã ứng cử ở Thành phố Hà Nội nên không thể ra ứng cử ở nơi nào khác nữa…”.

Tại kỳ họp thứ hai (từ ngày 23-10 đến 9-11-1946), trong buổi khai mạc, Đại biểu Quốc hội tỉnh Rạch Giá là ông Nguyễn Văn Tạo (sau này từng làm Bộ trưởng Bộ Lao động) đã thay mặt các đại biểu Nam Bộ đưa ra đề nghị Quốc hội suy tôn Chủ tịch Hồ Chí Minh là “Người công dân số 1” của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa. Đây là cách vinh danh mà nhiều nước tiên tiến đã sử dụng và được toàn thể Quốc hội đồng tình tán thành. Đó cũng là sự xác nhận một sự thực lịch sử là Chủ tịch Hồ Chí Minh chính là người đã lựa chọn và xác lập thể chế cộng hòa – dân chủ của nước Việt Nam độc lập.

Đặt mục tiêu đại đoàn kết lên hàng đầu

Ta có thể đọc rất nhiều bài viết hay và sâu sắc của Bác về Quốc hội và vai trò Đại biểu Quốc hội. Tôi muốn nhấn mạnh đến sự lựa chọn và thiết lập một thể chế chính trị phù hợp với Việt Nam của Bác, khi cách mạng đã giành được chính quyền.

Bác đã từng say mê với lý tưởng “tự do-bình đẳng-bác ái” của cách mạng Pháp; Bác cũng từng khâm phục tư tưởng về một nhà nước “của dân, do dân, vì dân” của A. Lincohn và thể chế nghị viện của Mỹ; Bác cũng từng trải nghiệm chế độ Xô Viết ở Liên Xô và thời Quảng Châu công xã ở Trung Quốc. Cuối cùng Bác lựa chọn chế độ cộng hòa dân chủ. Đây là một thể chế chính trị gắn với học thuyết “Tam Dân” của Tôn Trung Sơn, một nhà dân chủ Trung Hoa đã tiếp thu và phương Đông hóa những tư tưởng chính trị phương Tây mà hạt nhân là của Mỹ. “Tam Dân” gắn với ba mục tiêu: dân tộc độc lập, dân quyền tự do và dân sinh hạnh phúc.

Tuy nhiên, Bác cũng vận dụng phù hợp với hoàn cảnh của dân tộc Việt Nam khi đặt mục tiêu đại đoàn kết lên hàng đầu. Do vậy mà Quốc hội Việt Nam luôn coi trọng tính đại diện của mọi tầng lớp nhân dân. Bác chủ động mời hay vận động nhiều đối tượng mà sự có mặt của họ trong Quốc hội có lợi hơn là để họ đứng ngoài, ví như Cựu hoàng Bảo Đại, nhiều vị quan lại cao cấp của chế độ cũ, các trí thức tiêu biểu… Thậm chí những người đối lập Bác cũng tìm mọi cách vận động tham gia Quốc hội.

Nhiều người hay nhắc đến việc tại kỳ họp đầu tiên, 70 đại biểu một số đảng phái đối lập từng chống phá Việt Minh tham gia Quốc hội. Đúng là họ đòi chia quyền, tẩy chay bầu Quốc hội. Nhưng Quốc hội bầu rồi Bác vận động họ tham gia và vận động cả Quốc hội cho phép họ tham gia. Thực tế cho thấy họ tham gia trong khuôn khổ hoạt động Quốc hội khiến họ khó chống đối hơn, thậm chí có một số vị đã ngả dần theo nhân dân. Đến kỳ họp sau (tháng 10 và 11-1946), khi quân Tưởng đã rút và ta đã ký Hiệp định Sơ bộ thì tự động họ bỏ cuộc… Đó không chỉ là nước cờ cao tay mà thực sự là một cách làm chính trị chính nghĩa.

Vào QH để đóng góp, hy sinh

Tại kỳ họp đầu tiên của Quốc hội khóa I, người điều khiển do một vị nhân sĩ Thiên Chúa giáo đảm nhiệm vì là người cao tuổi nhất; dân chúng được vào xem Quốc Hội (ngồi trên tầng trên cùng của Nhà hát Lớn)… Tức là đúng như những tập quán của các nước dân chủ tiên tiến khi đó.

Bầu cử với số dư rất lớn, Hà Nội chọn có sáu đại biểu từ 72 ứng cử viên. Người được bầu làm trưởng Ban Thường trực (Chủ tịch) cũng là một nhân sĩ, một nhà sử học – cụ Nguyễn Văn Tố. Chính cụ đã nêu tấm gương kiên cường chấp nhận hy sinh khi giặc Pháp bắt được (1947). Và trước đó, ngay trong ngày mở đầu Toàn quốc kháng chiến, bác sĩ Nguyên Văn Luyện, cũng là một Đại biểu Quốc hội đã bị Pháp sát hại ngay tại Thủ đô… Quốc hội có sức mạnh, có uy tín vì như Bác nhắc nhở và kỳ vọng rằng “Vào Quốc hội không phải để làm quan, để phát tài mà là để đóng góp, hy sinh, thực sự làm đầy tớ nhân dân…”.

Theo phapluattp.vn
Phương Thúy (st).

bqllang.gov.vn

Tư tưởng lập hiến của Hồ Chí Minh về một bản Hiến pháp dân chủ

Trong kho tàng lý luận đồ sộ của Chủ tịch Hồ Chí Minh về xây dựng nhà nước kiểu mới, thì tư tưởng lập hiến của Người là một bộ phận đặc biệt quan trọng. Nhân dịp kỷ niệm 66 năm Quốc khánh nước ta và trong điều kiện khẩn trương nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992 theo Nghị quyết Ðại hội Ðại biểu toàn quốc lần thứ XI của Ðảng thì việc nghiên cứu tư tưởng lập hiến của Người là rất cần thiết.

Tư tưởng lập hiến của Hồ Chí Minh trước hết là: Nước phải độc lập, quốc gia phải có chủ quyền là điều kiện tiên quyết để có Hiến pháp. Và Hiến pháp ra đời là để tuyên bố về mặt pháp lý một nhà nước độc lập, có chủ quyền, là phương tiện để bảo vệ độc lập và chủ quyền của đất nước. Trong những năm tháng bôn ba hải ngoại tìm đường cứu nước, Nguyễn Ái Quốc nhận thức một cách sâu sắc nỗi nhục của cảnh mất nước và giá trị cao quý của một nhà nước độc lập và có chủ quyền. Vì thế, khẩu hiệu lập hiến của Người trước khi có nhà nước kiểu mới sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 là khẩu hiệu lập hiến mang tính chất đấu tranh. Trong bản yêu sách gửi cho Hội Vạn quốc ký tên cùng với Phan Bội Châu và Phan Chu Trinh, Người đề nghị: “Nếu được độc lập ngay thì nước chúng tôi sắp đặt một nền Hiến pháp”… (1).

Khi nước đã được độc lập, dân có chủ quyền, thể hiện nhất quán tư tưởng lập hiến của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trương phải bầu ngay Quốc hội càng sớm càng tốt mặc dù lúc đó thù trong giặc ngoài, chính quyền non trẻ ngàn cân treo sợi tóc. Thực hiện quyết tâm đó, sau một thời gian chuẩn bị khẩn trương, cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên của dân tộc ta (ngày 6-1-1946) đã bầu ra Quốc hội Khóa I. Ngày 9-11-1946, Quốc hội đã thông qua bản Hiến pháp đầu tiên của một nước độc lập, có chủ quyền.

Hiến pháp năm 1946 đã mở ra một trang sử mới của dân tộc ta với một hệ thống chính quyền thống nhất, hoàn toàn đầy đủ danh nghĩa về mặt pháp lý để đại diện cho nhân dân Việt Nam về đối nội và đối ngoại. Ðúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Bên trong thì nhân dân tin tưởng vào chế độ mình. Trước thế giới, Quốc hội do dân bầu ra sẽ có một giá trị pháp lý không ai có thể phủ nhận được”(2). Như vậy, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh giữa độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia và Hiến pháp của Nhà nước có mối quan hệ không thể tách rời. Nước không được độc lập, quốc gia chưa có chủ quyền thì chưa có điều kiện để xây dựng và ban hành Hiến pháp. Ngược lại, Hiến pháp ra đời là để tuyên bố về mặt pháp lý với nhân dân trong nước và thế giới một nhà nước độc lập có chủ quyền và là phương tiện để bảo vệ độc lập và chủ quyền quốc gia.

Tư tưởng lập hiến thứ hai của Chủ tịch Hồ Chí Minh: Hiến pháp phải là một “Hiến pháp dân chủ”, được thể hiện xuyên suốt trong tất cả các tác phẩm của Người. Trong bản yêu sách của nhân dân An Nam gửi đến Hội nghị Véc-xây vào đầu năm 1919 do Nguyễn Ái Quốc khởi thảo gồm tám điểm, trong đó điểm thứ hai Người đòi phải: “Cải cách nền pháp lý ở Ðông Dương bằng cách cho người dân bản xứ cũng được quyền hưởng những đảm bảo về mặt pháp luật như người Âu châu”(3). Và trong một yêu sách khác gửi cho Hội Vạn quốc ngày 30-8-1926, Người đề nghị: “Nếu được độc lập ngay thì nước chúng tôi: sắp đặt một nền Hiến pháp về phương diện chính trị và xã hội, theo như những lý tưởng dân quyền”(4).

Những yêu sách nói trên vừa thể hiện tư tưởng về một bản Hiến pháp mà nội dung của nó là: “Sắp đặt một nền Hiến pháp về phương diện chính trị và xã hội theo như những lý tưởng dân quyền” (lý tưởng người dân làm chủ) và là phương tiện “đảm bảo về mặt pháp lý” để nhân dân được hưởng quyền như người châu Âu. Nhất quán với những tư tưởng đó, một ngày sau khi đọc Tuyên ngôn độc lập, trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa ra sáu nhiệm vụ cấp bách của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Trong đó, nhiệm vụ thứ ba là: “Trước chúng ta đã bị chế độ quân chủ chuyên chế cai trị, rồi đến chế độ thực dân không kém phần chuyên chế, nên nước ta không có Hiến pháp. Nhân dân ta không được hưởng quyền tự do dân chủ. Chúng ta phải có một Hiến pháp dân chủ”(5).

“Hiến pháp dân chủ” trong tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh còn đòi hỏi dân chủ phải là điều kiện để cho sự ra đời của một bản Hiến pháp. Các yếu tố độc lập, có chủ quyền nói ở phần trên là các điều kiện cần nhưng chưa đủ để có một “Hiến pháp dân chủ”. Ðiều kiện đủ để có một “hiến pháp dân chủ” đó chính là một chế độ dân chủ. Vì thế, trong Tuyên ngôn độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Vua Bảo Ðại thoái vị… dân ta lại đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế kỷ mà lập nên chế độ dân chủ cộng hòa”’(6). Nhờ chế độ dân chủ cộng hòa mà có điều kiện cho sự ra đời của một bản “Hiến pháp dân chủ”.

Hiến pháp dân chủ ra đời từ nhận thức sâu sắc của Nguyễn Ái Quốc về thân phận của người dân sống trong nhà nước quân chủ chuyên chế và trong nhà nước thực dân xâm lược. Ở đó, không có Hiến pháp nên không có Hiến định về quyền con người, quyền công dân, không có các định chế về Hiến pháp, về tổ chức quyền lực nhà nước để ràng buộc và đề cao trách nhiệm của nhà nước trong mối quan hệ với việc thực thi quyền con người, quyền công dân. Ðồng thời, xuất phát từ đạo lý được thừa nhận chung, như một giá trị tiến bộ của nhân loại là: “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; Trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”, Chủ tịch Hồ Chí Minh trong Tuyên ngôn độc lập – nền móng của Hiến pháp năm 1946 đã rút ra kết luận khoa học rằng: “Suy rộng ra, câu ấy có ý nghĩa là: Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”(7). Như vậy, quyền con người theo Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là quyền của cá nhân con người như trong Tuyên ngôn độc lập của nước Mỹ mà còn là quyền độc lập, quyền tự quyết của một dân tộc.

Tư tưởng về một “Hiến pháp dân chủ” được thể hiện xuyên suốt trong toàn bộ Hiến pháp năm 1946. Nét nổi bật nhất xuyên suốt nội dung của 7 chương 70 điều của Hiến pháp năm 1946 là tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân với một chính thể dân chủ rộng rãi, một bộ máy nhà nước mạnh mẽ và sáng suốt đề cao và tôn trọng quyền con người, quyền công dân.

Như vậy, Hiến pháp và dân chủ trong tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh là hai yếu tố không tách rời nhau. “Hiến pháp dân chủ” phải là một bản Hiến pháp có nội dung và cách thức ban hành dân chủ. Ðồng thời là phương tiện để cho nhân dân được hưởng quyền tự do dân chủ. Ngược lại, dân chủ là điều kiện cần và đủ cho một bản “Hiến pháp dân chủ” ra đời, tồn tại và phát huy giá trị.

“Thực hiện chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân” bằng sức mạnh “thần linh pháp quyền” của Hiến pháp cũng là một tư tưởng lập hiến quan trọng của Hồ Chí Minh. Sức mạnh “thần linh pháp quyền” của Hiến pháp không phải chỉ đến khi Chủ tịch Hồ Chí Minh là Trưởng ban khởi thảo Hiến pháp năm 1946 mới ra đời. Trong bản yêu sách của nhân dân An Nam gửi Hội nghị Véc-xây vào đầu năm 1919 và sau này diễn ca với tựa đề Việt Nam yêu cầu ca bằng lời thơ dễ hiểu, dễ phổ biến, Nguyễn Ái Quốc đã viết: “Bảy xin Hiến pháp ban hành, trăm đều phải có thần linh pháp quyền”(8). Ðây chính là sức mạnh của Hiến pháp – sức mạnh của tính pháp quyền. Sức mạnh đó trước hết là sức mạnh của tổ chức quyền lực nhà nước bằng Hiến pháp và tuân thủ Hiến pháp. Bởi theo quan niệm của Người: “Tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo”(9). Vì thế, nhân dân là chủ thể tối cao của quyền lực nhà nước cũng tức là chủ thể tối cao của quyền lập hiến. Thông qua quyền này, nhân dân giao quyền, nhân dân ủy quyền quyền lực nhà nước của mình cho các cơ quan nhà nước. Bằng phương thức đó mà tổ chức quyền lực nhà nước mang sức mạnh của nhân dân; làm cho quyền lực nhà nước được hình thành một cách chính thức, cầm quyền một cách chính đáng và buộc quyền lực nhà nước phải tuân theo Hiến pháp trong tổ chức và hoạt động của mình. Chính vì thế, với tư cách là Trưởng ban khởi thảo Hiến pháp năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trương: “Thực hiện chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân”(10) bằng quy định thành nguyên tắc và nội dung cơ bản của Hiến pháp, như lời nói đầu của Hiến pháp năm 1946 đã khẳng định./.

—————————————————————-

1 Hồ Chí Minh toàn tập, T.4, NXB Chính trị Quốc gia, H.1995, trang 8.
2 Hồ Chí Minh tuyển tập T.4, trang 356.
3 Hồ Chí Minh toàn tập, T.1, H.1995, trang 435,436.
4 Hồ Chí Minh pháp lý phục vụ cách mạng, NXB Sự thật, H.1975, trang 278.
5 Hồ Chí Minh tuyển tập, T.4, trang 8.
6 Hồ Chí Minh toàn tập, T.4, NXB Chính trị Quốc gia, H.1995, trang 3.
7 Hồ Chí Minh toàn tập T.4, NXB Chính trị Quốc gia H.1995, trang 1.
8 Hồ Chí Minh toàn tập, T.1, trang 438.
9 Ðiều 1 Hiến pháp năm 1946.
10 Lời nói đầu Hiến pháp năm 1946.

Theo GS.TS Trần Ngọc Đường (Viện Nghiên cứu lập pháp)
Nguồn Nhân dân
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Thực hiện lời dặn của Bác Hồ về con người và chính sách xã hội đối với con người

Bác Hồ với học sinh trường trung học Trưng Vương (Hà Nội) nǎm1956

(TCTG)- Chăm lo cho con người, để con người được giải phóng hoàn toàn là hạt nhân, đồng thời cũng là mục tiêu cuối cùng, sâu thẳm nhất trong hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung và chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh nói riêng. Vì vậy, một trong những lời dặn lại đầy tâm huyết của Chủ tịch Hồ Chí Minh là vấn đề con người và chính sách đối với con người.

Lời dặn “đầu tiên là công việc đối với con người”

Trong suốt cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, mỗi quyết sách, mỗi việc Người làm đều toát lên tình thương yêu vô hạn, sự tôn trọng, thái độ bao dung và lòng tin yêu con người.

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, con người vừa tồn tại với tư cách cá nhân, vừa là thành viên của gia đình và của cộng đồng, nên định nghĩa về con người của Hồ Chí Minh thật đặc biệt: “Chữ người, nghĩa hẹp là gia đình, anh em, họ hàng, bầu bạn. Nghĩa rộng là đồng bào cả nước. Rộng nữa là cả loài người”(1). Suốt hành trình đi khắp năm châu, bốn biển, ôm ấp một hoài bão lớn lao về giải phóng dân tộc mình, góp phần giải phóng loài người, Người đã khởi đầu từ cái cụ thể tưởng như nhỏ nhất, để rồi tạo dựng một công trình vĩ đại mang ý nghĩa thời đại, ý nghĩa lịch sử. Đó là đặt niềm tin vào con người, vào nhân dân và dân tộc mình, nâng niu trân trọng từng cá nhân con người; không quản ngại khó khăn, nhẫn nại thức tỉnh, giác ngộ, dìu dắt đồng bào, tiếp đó là giúp đỡ họ, đào tạo họ, cổ vũ và động viên họ trực tiếp tham gia sự nghiệp cách mạng, “đem sức ta mà tự giải phóng cho ta” để đấu tranh giải phóng dân tộc và giải phóng chính bản thân mình.

Người luôn thấu hiểu sâu sắc rằng, giải phóng con người, đem lại lợi ích cho con người chính là tạo ra động lực vô cùng lớn lao cho sự nghiệp giải phóng dân tộc. Trong quan niệm của Hồ Chí Minh: Con người cụ thể là những người dân Việt Nam lao động nghèo khổ bị áp bức cùng cực dưới ách thống trị của phong kiến, đế quốc; là dân tộc Việt Nam đang đắm chìm trong đêm trường nô lệ và mở rộng hơn là những người nô lệ mất nước – “người cùng khổ”. Đồng thời, Người cũng nhấn mạnh rằng quyền cơ bản nhất của mỗi con người là quyền được sống, được sung sướng, được tự do, mà trước hết hết là cần có ăn, có mặc, có nhà ở, được chữa bệnh và được học hành. Những nhu cầu tối thiểu cũng là những quyền tối thiểu đối với con người ấy luôn luôn được đặt ra như một mục tiêu phấn đấu của bất cứ xã hội nào muốn đem lại hạnh phúc thật sự cho con người.

Không chỉ tìm đường, chỉ lối và lãnh đạo họ tiến hành thắng lợi cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, Hồ Chí Minh còn luôn quan tâm đến nhu cầu, lợi ích của con người với những nhu cầu chính đáng ở mọi nơi, mọi lúc, trong mọi hoàn cảnh. Ngay sau ngày tuyên bố Việt Nam độc lập, chính vị Chủ tịch Chính phủ lâm thời Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Chúng ta phải làm ngay: 1. Làm cho dân có ăn. 2. Làm cho dân có mặc. 3. Làm cho dân có chỗ ở. 4. Làm cho dân có học hành”(2). Mục tiêu đó tiếp tục được xác định ngay cả trong hoàn cảnh cả nước tiến hành cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp: “Chương trình nội chính của Chính phủ và của quân dân ta chỉ có 3 điều mà thôi: a) Tăng gia sản xuất để làm cho dân ai cũng đủ mặc đủ ăn. b) Mở mang giáo dục để ai nấy cũng đều biết đọc, biết viết. c) Thực hành dân chủ để làm cho dân ta ai cùng được hưởng quyền dân chủ tự do”(3).

Giá trị của tự do, độc lập, định hướng của nhà nước dân chủ nhân dân do Hồ Chí Minh sáng lập và dày công xây dựng là tiến tới để thực hiện thắng lợi các mục tiêu đó. Bởi theo lời Người, nếu nước được tự do, độc lập mà người dân không được hưởng hạnh phúc, hưởng những quyền cơ bản của con người, thì độc lập, tự do cũng chẳng có nghĩa lý gì. Trên tinh thần đó, Hồ Chí Minh luôn đề cao những quyền cơ bản của con người, nhưng Người không dừng ở việc đề cao quyền cá nhân cực đoan theo quan điểm tư sản, mà chỉ rõ quyền cá nhân chỉ có thể thực hiện được trên cơ sở thực hiện quyền của dân tộc.

Sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, tiếp tục tiến hành cuộc chiến tranh giải phóng, cả dân tộc Việt Nam đồng hành trong 21 năm trường kỳ chống đế quốc Mỹ xâm lược. Cũng trong hành trình gian khó ấy, Hồ Chí Minh có một niềm tin lớn lao ở sức mạnh sáng tạo của quần chúng nhân dân, là nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng, nên đã kêu gọi, cổ vũ đồng bào và chiến sĩ cả nước cùng đồng thời vừa xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, vừa tiến hành cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam. Vẫn luôn đau đáu niềm suy tư vì con người, trước khi trở về với cõi vĩnh hằng, Hồ Chí Minh dặn lại trong Di chúc: “Ngay sau khi cuộc chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta đã hoàn toàn thắng lợi, công việc toàn Đảng toàn quân và toàn dân ta phải ra sức làm là mau chóng hàn gắn vết thương nghiêm trọng do đế quốc Mỹ gây ra trong cuộc chiến tranh xâm lược dã man”, đồng thời “phải có kế hoạch để xây dựng lại thành phố và làng mạc đẹp đẽ, đàng hoàng hơn trước chiến tranh. Khôi phục và mở rộng các ngành kinh tế. Phát triển công tác vệ sinh, y tế. Sửa đổi chế độ giáo dục cho hợp với hoàn cảnh mới của nhân dân… Công việc trên đây là rất to lớn, nặng nề, và phức tạp, mà cũng rất vẻ vang. Đây là một cuộc chiến đấu chống lại những gì đã cũ kỹ, hư hỏng, để tạo ra những cái mới mẻ, tốt tươi”(4).

Còn “đối với những người đã dũng cảm hy sinh một phần xương máu của mình (cán bộ, binh sĩ, dân quân, du kích, thanh niên xung phong …), Đảng, Chính phủ và đồng bào phải tìm mọi cách làm cho họ có nơi ăn chốn ở yên ổn, đồng thời phải mở những lớp dạy nghề thích hợp với mỗi người để họ có thể dần dần “tự lực cách sinh”.

Đối với các liệt sỹ, mỗi địa phương (thành phố, làng xã) cần xây dựng vườn hoa và bia kỷ niệm ghi sự hy sinh anh dũng của các liệt sĩ, để đời đời giáo dục tinh thần yêu nước cho nhân dân ta.

Đối với cha mẹ, vợ con (của thương binh và liệt sỹ) mà thiếu sức lao động và túng thiếu, thì chính quyền địa phương (nếu ở nông thôn thì chính quyền xã cùng hợp tác xã nông nghiệp) phải giúp đỡ họ có công việc làm ăn thích hợp, quyết không để họ bị đói rét”(5).

Tiếp tục thực hiện lời dặn của Hồ Chí Minh về chăm lo cho con người

Khẳng định sự nghiệp cách mạng mà chúng ta đang tiến hành sau chiến tranh là xóa bỏ cái cũ để xây dựng cái mới, cải tạo xã hội cũ để xây dựng một xã hội mới, Hồ Chí Minh chỉ rõ công việc phải làm đầu tiên là “đối với con người”. Công việc to tát, lớn lao ấy xuất phát từ lòng dân, phản ánh tâm tư nguyện vọng của nhân dân, vì nhân dân và hợp với thời đại, bởi không chỉ quan tâm và chăm lo đến những cán bộ, binh sĩ, dân quân du kích, thanh niên xung phong, các gia đình liệt sĩ, cha mẹ vợ con của thương binh, liệt sĩ… mà còn quan tâm cả đến những nạn nhân của chế độ xã hội cũ, như trộm cắp, gái điếm, cờ bạc, buôn lậu…

Thực hiện lời căn dặn của Người, Đảng, nhà nước đã từng bước đề ra các chính sách xã hội chăm lo cho con người, nhất là các đối tượng chính sách có một cuộc sống ngày càng được nâng cao về cả vật chất và tinh thần. Trong những năm qua, các cấp ủy đảng, chính quyền, đoàn thể đã thực hiện tốt Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng. Các ngành, các cấp đã thực hiện tốt chính sách bảo hiểm xã hội, trợ cấp xã hội, cứu tế xã hội để trợ giúp những người yếu thế và dễ bị tổn thương như người tàn tật, người già cô đơn, trẻ em mồ côi lang thang cơ nhỡ, giúp đỡ những người bị thiệt hại nặng do thiên tai, địch họa hoặc rủi ro trong cuộc sống… Thông qua các hình thức, các chương trình, cả nước đã phát huy truyền thống tương thân, tương ái trong cộng đồng, đoàn kết để giúp nhau vượt qua khó khăn, xóa đói, giảm nghèo, cải thiện đời sống.

Công tác thương binh, liệt sỹ, thực hiện chính sách hậu phương quân đội cũng đã được triển khai toàn diện, thực hiện đồng bộ và đạt hiệu quả thiết thực. Một số lượng lớn các văn bản pháp luật quy định về chế độ, chính sách đối với công tác thương binh, liệt sỹ, chính sách hậu phương quân đội và người có công với cách mạng, với gia đình hạ sĩ quan, binh sĩ tại ngũ và các lực lượng làm nhiệm vụ trên những địa bàn chiến lược, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo,v.v… đã được triển khai và thực hiện có hiệu quả.

Công tác tìm kiếm, cất bốc, quy tập hài cốt liệt sĩ được thực hiện khẩn trương và có kết quả cao. Các đơn vị quân đội đã tìm kiếm, cất bốc, quy tập được trên 910.000 hài cốt liệt sỹ về an táng trong gần 3.000 Nghĩa trang liệt sỹ, bảo đảm đúng nghi thức quân đội; trong đó, nhiều hài cốt đã xác minh được tên, tuổi… Những việc làm đầy tình nghĩa đó đã góp phần giữ ổn định, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của cán bộ, chiến sỹ và các đối tượng chính sách. Một mặt, tạo động lực quan trọng để xây dựng quân đội vững mạnh trong tình hình mới, mặt khác góp phần ổn định chính trị – xã hội, củng cố quốc phòng – an ninh.

Đặc biệt, với đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”, cả nước đã có nhiều việc làm phong phú, thiết thực, để chăm sóc thương binh, gia đình liệt sỹ. Cuộc vận động toàn dân ủng hộ xây dựng quỹ “Đền ơn đáp nghĩa” được khơi dậy và ngày càng phát triển mạnh. Nhiều phong trào được xã hội hoá, nổi bật nhất là phong trào phụng dưỡng Bà mẹ Việt Nam anh hùng, người có công với cách mạng, làm mới và sửa chữa nhà tình nghĩa, tu sửa nghĩa trang liệt sỹ, tặng sổ tiết kiệm tình nghĩa, thăm hỏi, tặng quà các gia đình có công với cách mạng…

Con người và chính sách xã hội với con người trong Nghị quyết Đại hội XI

Thực hiện lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong Di chúc, Đảng ta luôn chăm lo cho con người, coi con người là trung tâm, là động lực của sự phát triển, trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (bổ sung, phát triển năm 2011), Đảng ta tiếp tục khẳng định: “Chính sách xã hội đúng đắn, công bằng vì con người là động lực mạnh mẽ phát huy mọi năng lực sáng tạo của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Bảo đảm công bằng, bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ công dân; kết hợp chặt chẽ, hợp lý phát triển kinh tế với phát triển văn hoá, xã hội, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách; phát triển hài hoà đời sống vật chất và đời sống tinh thần, không ngừng nâng cao đời sống của mọi thành viên trong xã hội về ăn, ở, đi lại, học tập, nghỉ ngơi, chữa bệnh và nâng cao thể chất, gắn nghĩa vụ với quyền lợi, cống hiến với hưởng thụ, lợi ích cá nhân với lợi ích tập thể và cộng đồng xã hội. Tạo môi trường và điều kiện để mọi người lao động có việc làm và thu nhập tốt hơn”(6). Đồng thời Cương lĩnh cũng nhấn mạnh: “Nhà nước tôn trọng và bảo đảm các quyền con người, quyền công dân; chăm lo hạnh phúc, sự phát triển tự do của mỗi người. Quyền và nghĩa vụ công dân do Hiến pháp và pháp luật quy định. Quyền của công dân không tách rời nghĩa vụ công dân”(7).

Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 2011 – 2020 cũng khẳng định việc mở rộng dân chủ, phát huy tối đa nhân tố con người; coi con người là chủ thể, nguồn lực chủ yếu và là mục tiêu của sự phát triển; “phải bảo đảm quyền con người, quyền công dân và các điều kiện để mọi người được phát triển toàn diện”(8). Trong chính sách xã hội đối với con người, Đảng ta đã đề ra mục tiêu: “Đến năm 2020, chỉ số phát triển con người (HDI) đạt nhóm trung bình cao của thế giới, tốc độ tăng dân số ổn định ở mức khoảng 1%, tuổi thọ đạt bình quân 75 tuổi, đạt 9 bác sỹ và 26 giường bệnh trên một vạn dân, thực hiện bảo hiểm y tế toàn dân, lao động qua đào tạo đạt trên 70%, đào tạo nghề chiếm 55% tổng lao động xã hội”, “Tỉ lệ hộ nghèo giảm bình quân 1,5-2%/năm; phúc lợi xã hội, an sinh xã hội và chăm sóc sức khỏe cộng đồng được bảo đảm. Thu nhập thực tế của dân cư gấp khoảng 3,5 lần so với năm 2010; thu hẹp khoảng cách thu nhập giữa các vùng và nhóm dân cư. Xoá nhà ở đơn sơ, tỉ lệ nhà ở kiên cố đạt 70%, bình quân 25 m2 sàn xây dựng nhà ở tính trên một người dân”(9); “thực hiện tốt chính sách khám, chữa bệnh cho các đối tượng chính sách, người nghèo, trẻ em và người dân tộc thiểu số, chăm sóc sức khoẻ người cao tuổi”(10) và “có chính sách để phát triển mạnh nhà ở cho nhân dân, nhất là cho các đối tượng chính sách và người có thu nhập thấp”(11).

Làm được như vậy, sẽ không chỉ làm thỏa lòng mong ước của Chủ tịch Hồ Chí Minh, mà còn góp phần tạo sự đồng thuận trong xã hội, tiến tới xây dựng thành công một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, vững vàng hội nhập quốc tế/.

Theo tuyengiao.vn
Đỗ Hoàng Linh – Phó Giám đốc Khu Di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Dấu ấn của Chủ tịch Hồ Chí Minh với giai cấp công nhân và công đoàn

Bác Hồ nói chuyện với công nhân Ngành Đường sắt Việt Nam

Sau khi trở thành người cộng sản, Nguyễn Ái Quốc đã tích cực tìm kiếm những hình thức nhằm tập hợp, đoàn kết giai cấp công nhân Việt Nam, đặt nền móng xây dựng những cơ sở đầu tiên cho tổ chức công đoàn nước ta.

Cuối tháng 12-1920, anh Nguyễn cùng 160 đại biểu của Đảng Xã hội trong Đại hội Tua đã bỏ phiếu tán thành Quốc tế III và tuyên bố thành lập Đảng Cộng sản Pháp. Trước đó, ngay từ năm 1914, Người đã tham gia tổ chức “Lao động hải ngoại”, tổ chức nghiệp đoàn của những người thợ thuyền thuộc địa sống trên đất Anh. Năm 1919, Người gia nhập “công đoàn kim khí” quận 17 Paris. Cùng lúc đó, phong trào yêu nước và thợ thuyền Việt Nam ở Pháp bừng tỉnh. Cùng với luật sư yêu nước Phan Văn Tường và nhà chí sĩ cách mạng Phan Chu Trinh, Người tham gia lập “Hội những người Việt Nam yêu nước ở Pháp”. Đây là cầu nối đầu tiên giữa Người với công nhân, lính thợ, thủy thủ người Việt ở Pháp. Sau khi Người tham gia sáng lập “Hội Liên hiệp thuộc địa” (10-1921) và nhất là khi tờ “Người cùng khổ” ra mắt vào tháng 4-1922 thì những tổ chức công đoàn đầu tiên của người Việt Nam trên đất Pháp càng phát triển mạnh mẽ. Đồng chí Tôn Đức Thắng, một trong những người sáng lập phong trào công đoàn Việt Nam, đã 2 lần đến Paris để tìm Nguyễn Ái Quốc. Đồng chí đã tham gia cuộc nổi dậy phản chiến nổi tiếng ở Biển Đen và sau khi bị trục xuất về Sài Gòn (1922-1923), đã gieo những hạt giống đầu tiên của Công hội đỏ Việt Nam tại xưởng đóng tàu Ba Son.

Tháng 7-1924, Người tham gia Đại hội III “Quốc tế công hội đỏ” tại Mát-xcơ-va, là đại biểu duy nhất cho giai cấp công nhân thuộc địa và đọc bản tham luận chính thức trong phiên họp thứ 15 ngày 21-7-1924. Đây là tiếng nói chính thức đầu tiên của một đại biểu của phong trào công nhân và Công đoàn nước ta trên diễn đàn quốc tế. Người kêu gọi: “… tổ chức công nhân cách mạng Pháp phải tích cực giúp đỡ chúng tôi trong cuộc đấu tranh giải phóng của chúng tôi”(1). Năm 1925, Bản án chế độ thực dân Pháp được “Thư quán lao động” xuất bản tại Paris. Trong Chương XII mang tên “Nô lệ thức tỉnh”, tác giả cổ vũ cuộc bãi công của 600 công nhân nhuộm vừa nổ ra ở Chợ Lớn, “đây là lần đầu tiên một phong trào như thế nhóm lên ở thuộc địa”(2). Năm 1926, ngoài tờ báo “Thanh niên” có đăng một số bài của Người về tổ chức công đoàn Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc sáng lập thêm báo “Công Nông”, tờ báo đầu tiên của giai cấp công nhân Việt Nam. Năm 1927, tác phẩm “Đường kách mệnh” được xuất bản. Đây là tác phẩm quan trọng nhất của Người về cách mạng Việt Nam nói chung và về phong trào công đoàn nói riêng. Người xác định: “Tổ chức công hội trước là để cho công nhân đi lại với nhau cho có cảm tình; hai là để nghiên cứu với nhau; ba là để sửa sang lại cách sinh hoạt của công nhân cho khá hơn bây giờ; bốn là để giữ gìn quyền lợi cho công nhân…”(3). Như vậy là vào thời kỳ này, Người đã rất chú ý đến chức năng bảo vệ quyền lợi của người lao động. Quả thực, cho đến nay, chức năng cơ bản của công đoàn vẫn là bảo vệ lợi ích của người lao động. Khi xa rời chức năng đó thì người công nhân tự nhiên sẽ xa lánh hoặc thờ ơ với sự tồn tại của tổ chức công đoàn và công đoàn đến lượt nó mất đi tính đại diện của người lao động. Đề cập đến vấn đề này, trong bài nói chuyện tại Trường cán bộ Công đoàn ngày 19-1-1957, Người nói: “Công đoàn phải tuyên truyền đường lối, chính sách chung của Đảng, vì Đảng mình là Đảng của giai cấp vô sản. Đường lối chung là giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp. Giai cấp mà không có Đảng lãnh đạo thì không làm cách mạng được, Đảng mà không có giai cấp công nhân cũng không làm được gì. Đảng là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời cũng là đội tiên phong của dân tộc… Mục đích công đoàn là phải cải thiện dần đời sống công nhân, nâng cao đời sống vật chất, văn hóa của giai cấp công nhân nói riêng và nhân dân nói chung”(4). Hồ Chủ tịch cũng đã không ít lần bàn về đồng lương thực tế cho người thợ: “Bây giờ anh em mong được lên lương có chính đáng không? Có. Nhưng lương tăng gấp đôi mà hàng đắt thì vẫn không ăn thua gì”(5). Tại Đại hội Công đoàn toàn quốc lần thứ II, tháng 2-1961, Người nhấn mạnh: “Phát minh, sáng kiến, cải tiến kỹ thuật cũng là vấn đề quan trọng. Phải nhận rằng đại đa số công nhân ta đều cần cù, thông minh và có nhiều sáng kiến hay… Nếu công đoàn biết khuyến khích, áp dụng, cải tiến và phổ biến rộng rãi những sáng kiến ấy thì năng suất lao động sẽ nâng cao không ngừng”(6). Người còn dạy: “Công đoàn phải có biện pháp thiết thực để nâng cao trình độ văn hóa và kỹ thuật của công nhân, phải tùy khả năng cộng với cố gắng mà nâng cao dần đời sống vật chất của họ; phải chú ý bảo vệ sức khỏe, bảo vệ an toàn lao động và tăng cường công tác vệ sinh…”(7). Cải thiện, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho giai cấp công nhân nói riêng và nhân dân nói chung là khát vọng luôn canh cánh bên Người.

Hiện nay Đảng và nhà nước ta đặc biệt chú trọng đến việc phát huy vai trò trách nhiệm của giai cấp công nhân. Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011) xác định: “Xây dựng giai cấp công nhân lớn mạnh cả về số lượng và chất lượng; là giai cấp lãnh đạo cách mạng thông qua đội tiên phong là Đảng Cộng sản Việt Nam, giai cấp tiên phong trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội”(8). Báo cáo chính trị tại Đại hội XI của Đảng cũng chỉ rõ: “Quan tâm giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng, phát triển giai cấp công nhân Việt Nam cả về số lượng và chất lượng; nâng cao bản lĩnh chính trị, trình độ học vấn, chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp, kỷ luật lao động, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp CNH – HĐH và hội nhập quốc tế”(9). Quan điểm của Đảng về chiến lược xây dựng giai cấp công nhân lớn mạnh phải gắn kết chặt chẽ với chiến lược phát triển kinh tế, xã hội, CNH, HĐH đất nước, hội nhập quốc tế. Xử lý đúng đắn mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, chăm lo xây dựng giai cấp công nhân; bảo đảm hài hoà lợi ích giữa công nhân, người sử dụng lao động, nhà nước và toàn xã hội; không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của công nhân, quan tâm giải quyết kịp thời những vấn đề bức xúc, cấp bách của giai cấp công nhân. Đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ mọi mặt cho công nhân, từng bước trí thức hoá giai cấp công nhân là một nhiệm vụ chiến lược.

Bước vào thời kỳ đất nước hội nhập, vấn đề xây dựng giai cấp công nhân và tổ chức công đoàn lớn mạnh càng phải được quan tâm sâu sắc, toàn diện, thiết thực và cụ thể hơn theo tinh thần Nghị quyết 20/NQTW và Nghị quyết Đại hội XI của Đảng. Đây là trách nhiệm của Đảng, nhà nước và cả hệ thống chính trị cùng sự nỗ lực vươn lên của bản thân mỗi người công nhân, là yếu tố quan trọng thực hiện thành công nhiệm vụ xây dựng Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh./.

————

(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, NXBCTQG, H.2000, tập 1, tr.293. (2), (3) Sách đã dẫn, tập 2, tr.114, 302. (4), (5) Sách đã dẫn, tập 8, tr.295,297. (6), (7) Sách đã dẫn, tập 10, tr.291. (8), (9) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, NXBCTQG, H.2011, tr.80, 49.

Theo Tạp chí Xây dựng Đảng
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác tư tưởng

(TCTG ) Tuyên truyền là một bộ phận, một tác nghiệp của công tác tư tưởng có vị trí hết sức quan trọng, bởi vậy, Người định nghĩa và xác định rõ mục đích của tuyên truyền: “Tuyên truyền là đem một việc gì nói cho dân hiểu, dân nhớ, dân theo, dân làm. Nếu không đạt được mục đích đó, là tuyên truyền thất bại”.

Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh rất chăm lo đến công tác giáo dục chính trị tư tưởng, bởi theo Người: “Tư tưởng không đúng đắn thì công tác ắt sai lầm”; rằng: “Trong Đảng và ngoài Đảng có nhận rõ tình hình mới, hiểu rõ nhiệm vụ mới thì tư tưởng mới thống nhất, tư tưởng thống nhất thì hành động mới thống nhất”(1). Công tác tư tưởng tự bản thân nó đã hàm chứa những vấn đề nhạy cảm, phức tạp, đa chiều, liên quan đến tâm tư nguyện vọng của cán bộ, đảng viên, nhân dân; liên quan đến sự thành bại của sự nghiệp cách mạng. Người nói: “Lãnh đạo quan trọng nhất là lãnh đạo tư tưởng, phải hiểu tư tưởng của mỗi cán bộ để giúp đỡ thiết thực trong công tác; vì tư tưởng thông suốt thì làm tốt, tư tưởng nhùng nhằng thì không làm được việc”(2). Trong báo cáo tại Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá II (15-7-1954), trong mười công tác được xác định thì công tác lãnh đạo tư tưởng là quan trọng nhất (3). Hồ Chí Minh luôn yêu cầu “Cán bộ lãnh đạo và cán bộ các ngành, tư tưởng phải thông, phải thật thông. Phải có quyết tâm khắc phục khó khăn, làm tròn nhiệm vụ”(4). “Phải đánh thông tư tưởng và động viên sáng kiến và lực lượng của toàn Đảng, toàn dân. Mọi người quyết tâm làm cho được và tin tưởng làm nhất định được”(5). Mỗi lần về thăm các nhà máy, công trường, hợp tác xã, Bác Hồ luôn nhắc nhở, động viên cán bộ, đảng viên, nhân viên “Muốn quản lý tốt thì cán bộ và công nhân phải thông suốt tư tưởng”.

Trên cơ sở quy luật của công tác tư tưởng, Người đã trù liệu hệ quả khi đảng viên chưa thông suốt tư tưởng sẽ dẫn tới những biến dạng khôn lường “Nếu đảng viên tư tưởng và hành động không nhất trí, thì khác nào một mớ cắt rời, “trống đánh xuôi, kèn thổi ngược”. Như vậy, thì không thể lãnh đạo quần chúng, không thể làm cách mạng”(6). Do đó mà Người luôn canh cánh kỳ vọng làm sao tư tưởng tiên tiến, tư tưởng XHCN phải trở thành chủ đạo, trường tồn cùng với Đảng, với cán bộ, đảng viên và nhân dân. Người chỉ rõ “Tư tưởng thông suốt thì mọi việc làm đều tốt. Phải làm cho tư tưởng xã hội chủ nghĩa hoàn toàn thắng, tư tưởng cá nhân hoàn toàn thất bại”(7).

Tuyên truyền là một bộ phận, một tác nghiệp của công tác tư tưởng có vị trí hết sức quan trọng, bởi vậy, Người định nghĩa và xác định rõ mục đích của tuyên truyền “Tuyên truyền là đem một việc gì nói cho dân hiểu, dân nhớ, dân theo, dân làm. Nếu không đạt được mục đích đó, là tuyên truyền thất bại”(8). Người nói “Người tuyên truyền bao giờ cũng phải tự hỏi: Viết cho ai xem? Nói cho ai nghe? Nếu không vậy, thì cũng như cố ý không muốn cho người ta nghe, không muốn cho người ta xem”(9). Do mục đích, yêu cầu của công tác tuyên truyền, nhất là tính chính xác và sức lay động lan toả đối với dân chúng nên Hồ Chí Minh đòi hỏi cán bộ tuyên truyền “Phải biết cách nói. Nói thì phải giản đơn, rõ ràng, thiết thực. Phải có đầu, có đuôi, sao cho ai cũng hiểu được, nhớ được”(10); rằng: Người tuyên truyền không điều tra, không phân tách, không nghiên cứu, không hiểu biết quần chúng, chỉ gặp sao nói vậy, bạ gì viết nấy, nhất định thất bại. Khi tuyên truyền vận động đồng bào dân tộc thiểu số, Người lưu ý: Phải nói thiết thực, rõ ràng để đồng bào dễ nghe, dễ hiểu và làm được tốt.

Với sự quan sát và thông qua nhiều kênh tiếp nhận, với tình cảm chân thành mà Người nhắc nhở, phê phán một số báo cáo viên thiếu chủ động, đầu tư trong việc chuẩn bị bài nói, thuyết trình “Nhiều người trước khi nói không sắp sửa kỹ càng. Lúc ra nói hoặc lắp lại những cái người trước đã nói. Hoặc lắp đi lắp lại cái mình đã nói rồi”(11); hoặc “Nhưng viết một cách cao xa, mầu mè, đến nỗi chẳng những quần chúng không hiểu, mà cả cán bộ cũng không hiểu”(12). Đặc biệt, Người còn phê phán một số người sính dùng chữ, nhất là thích dùng chữ Hán “Tiếng ta có thì không dùng, mà cứ ham dùng chữ hán. Dùng đúng, đã là một cái hại, vì quần chúng không hiểu. Nhiều người biết không rõ, dùng không đúng, mà cũng ham dùng, cái hại lại càng to”(13). Vì vậy, Hồ Chí Minh mong muốn làm sao trong mỗi bài nói, bài viết phải thấu cảm được ý tưởng và mong ước của nhân dân. Người yêu cầu “Mỗi tư tưởng, mỗi câu nói, mỗi chữ viết, phải tỏ rõ cái tư tưởng và lòng ước ao của quần chúng”(14). Có như vậy công tác tư tưởng mới đạt được mục tiêu “được người, được việc, được tổ chức” như nguyên Tổng bí thư Lê Khả Phiêu đã khẳng định. “Phải đạt được mục đích tăng cường đoàn kết nhất trí trong Đảng, trong quân đội”(15).

Hơn lúc nào hết đội ngũ cán bộ tuyên truyền “Phải có lòng tự tin, tin vào mình, tin Đảng, tin giai cấp, tin nhân dân mình”(16), thiếu nó thì khó có thể hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao trên mặt trận tư tưởng văn hoá. Xuất phát từ vai trò, tầm quan trọng của công tác tư tưởng nên Người luôn mong muốn “Người tuyên truyền cần phải chịu khó, chịu khổ, khéo ở, siêng làm. Chớ tưởng rằng: Đi phớt qua địa phương, diễn thuyết một hai giờ đồng hồ mà có kết quả. Đến một địa phương nào cần phải đi thăm các cụ phụ lão, các người phụ trách, rồi đi thăm các nhà đồng bào để gây cảm tình, và để hiểu biết tình hình địa phương”(17). Người còn chỉ giáo “Thấy dân làm việc gì, bất kỳ to nhỏ, ta cũng ra tay làm giúp. Đó là cách gây cảm tình tốt nhất, nó sẽ giúp cho việc tuyên truyền kết quả gấp bội”(18). Cán bộ Tuyên truyền cần phải chủ động học tập nâng cao trình độ, kiến thức, nếu không sẽ lạc hậu, thoái bộ; luôn nắm vững chủ trương, nghị quyết của Đảng, pháp luật của Nhà nước, tập quán, sinh hoạt của nhân dân. Chú trọng “nâng cao trình độ lý luận, gắn liền công tác lý luận với thực tiễn cách mạng; phải đi sát thực tế, phải liên hệ mật thiết với quần chúng”(19). Đồng thời Người còn căn dặn: Cán bộ, đảng viên phải nâng cao chí khí chiến đấu, nâng cao lòng tin tưởng. Trong kháng chiến rất khó khăn nếu chí khí chiến đấu của bộ đội, cán bộ, nhân dân mà sụt thì sẽ thất bại.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đi xa chúng ta nhưng tư tưởng của Người nói chung, về công tác tư tưởng nói riêng vẫn còn sống mãi với thời gian, với Đảng ta, và đội ngũ những người làm công tác tuyên giáo hôm nay. Đó là hành trang, phương pháp luận quý báu để Đảng ta, đội ngũ làm công tác tuyên truyền vững tin hơn, trí tuệ sắc sảo hơn nhằm góp phần nâng cao chất lượng công tác tư tưởng của Đảng lên một tầm cao mới. Đặc biệt càng có ý nghĩa cấp bách khi Đảng ta thực hiện chủ trương mở cửa, hội nhập; khi các lực lượng thù địch chưa từ bỏ mưu toan chống phá cách mạng nước ta, hòng chia rẽ Đảng với nhân dân; khi “Công tác tư tưởng còn thiếu sắc bén, tính chiến đấu còn hạn chế; chưa làm tốt công tác giáo dục chính trị, tư tưởng và đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, tư tưởng cơ hội, những quan điểm mơ hồ, sai trái; thiếu quan tâm giáo dục lý tưởng, đạo đức, lối sống”(20). Khắc phục và thực hiện tốt các nhiệm vụ đó là nhân tố để “Đảng ta là một tập thể lớn, tư tưởng nhất trí, hành động nhất trí” trong tiến trình kiến tạo đất nước theo lý tưởng xã hội chủ nghĩa, đẩy nhanh công nghiệp hoá, hiện đại hoá vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

TS. Nguyễn Thế Tư, Học viện Chính trị- Hành chính khu vực III

Tài liệu tham khảo

(1); (2); (3) Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, H, 2000, tập 7, tr.319; tr.466; tr.319
(4); (5); (6); (7) Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, H, 2000, tập 9, tr.224; tr.246; tr.288; tr.277
(8); (9); (10); (11); (12); (13); (14); (17); (18) Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, H, 2000, tập 5, tr.162; tr.300; tr.162; tr.301-302; tr.304; tr.305; tr.306; tr.163; tr.163
(15); (16); (19) Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, H, 2000, tập 8, tr.353; tr.385; tr.157
(20) Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khoá X, Nxb CTQG, H, 2007, tr.36

Theo http://www.tuyengiao.vn
Tâm Trang (st)

bqllang.gov.vn

Nồng nàn tình yêu dân, yêu Tổ quốc

Cuối năm 1940, Bác về nước. Bác đến hang Pắc Bó ở Cao Bằng ngày 8 tháng 2 năm 1941. Trên đường về, Bác biết tin có 40 thanh niên, có người là Đảng viên, là cảm tình của Đảng, ức bọn Nhật Pháp đã tổ chức nhau sang Trung Quốc mua sắm vũ khí đánh Nhật, Pháp, nhưng đến nơi bị Nguyễn Hải Thần phát hiện. Bác đã liên lạc gặp được 40 thanh niên này và giác ngộ họ. Bác nói: Ở đây bây giờ không phải là đất hoạt động của chúng ta, đất hoạt động của chúng ta là ở đất nước mình. Bây giờ chúng ta phải gấp rút về nước. Thế là Bác đưa 40 thanh niên này về gần biên giới.

Trong số ấy có các đồng chí Hoàng Sâm, Đàm Quang Trung, v.v…Bác giao cho các đồng chí Võ Nguyên Giáp và Cao Hồng Lĩnh huấn luyện các anh em ấy, đợi ngày về nước. Bác đi đến đâu là Bác tiếp tục đào tạo cán bộ cách mạng, gây cơ sở đến đấy. Ở Pắc Bó, Bác lấy tên là Ké Thu. Hội nghị Trung ương Đảng do Bác triệu tập đã họp ở đây. Nghị quyết của Hội nghị này quyết định thành lập mặt trận Việt Minh. Bác làm việc rất có kế hoạch, phân chia thời gian hàng ngày cụ thể, giờ nào làm việc ấy. Bác gương mẫu hàng ngày báo cáo kế hoạch làm việc của mình để mọi người noi theo. Kế hoạch của Bác là sáng dậy tập thể dục, tập quyền, rồi leo núi và làm vệ sinh, sau đó đi tắm. Dù trời rét Bác cũng tắm. Tắm xong uống nước chè (đó là nước nấu bằng lá ngải cứu đã sao vàng). Sau đó dịch lịch sử Đảng, viết báo. Trưa ăn cơm, rồi đi nghe đài, đọc báo, nghe báo cáo của các địa phương. Buổi chiều tiếp tục làm công việc buổi sáng còn lại sau đó ăn cơm. Trước khi ăn cơm, Bác nghe đài, đi lấy củi, tắm và tối thì lên lớp giảng bài. Bác không bao giờ chịu sai chương trình, nếu gặp việc đột xuất thì kiếm thì giờ khác bù vào không chịu lỡ kế hoạch. ở với Bác hàng ngày, cứ xem Bác làm gì, thì biết là mấy giờ rồi, không cần phải dùng đồng hồ, vì giờ nào việc ấy là tác phong của Bác.

Có một buổi tối lên lớp, nhiều đồng chí tò mò, nghe Bác nói cứ đoán đây là đồng chí Nguyễn Ái Quốc cho nên nói dễ hiểu, dễ nghe, dễ nhớ mặc dù chưa ai gặp bao giờ và cũng chẳng được xem ảnh. Có đồng chí không biết hút thuốc, nhưng cứ bật diêm lên xem mặt. Lần đầu, Bác quay mặt đi. Lần thứ hai, Bác lại quay mặt đi. Lần thứ ba, Bác biết đấy là các đồng chí tò mò. Bác nói:

Việc gì Đảng cho biết thì phải tìm hiểu thật sâu, nắm thật chắc, làm thật tốt. Việc gì Đảng và đoàn thể không cho biết thì không nên tò mò. Tò mò chỉ có hại thôi.

Sau khi thành lập Mặt trận Việt Minh, Bác là người đi làm thí điểm việc xây dựng cơ sở Mặt trận ở vùng này, để lấy kinh nghiệm phổ biến cho toàn quốc. Bác bảo đồng chí Dương Đại Lâm: Chú về nói với ông cụ là có ông Ké Thu ở bản Nà Kéo sang chơi. Ông này kể “Tam quốc chí” rất hay. Nói với bố như thế, ông thích nghe Tam quốc chí, chuẩn bị chè nước, Ké Thu sẽ đến.

Tối hôm đó, Bác đến nhà đồng chí Dương Đại Lâm. Mấy ông cụ ở trong bản cũng đến. Bác kể chuyện Tam quốc chí, rồi đến Chinh Đông, Chinh Tây, Thủy Hử… Các cụ kéo đến nghe kể chuyện ngày càng đông. Lúc đó Bác mới nói đến chuyện bây giờ phải làm cách mạng. Các cụ nói:

– Làm cách mạng thì được thôi. Nhưng phải giết bọn cai tổng đi mới làm cách mạng được tốt. Nếu không bọn chúng báo cho Tây, không làm cách mạng được đâu. Bác thân mật giải thích để các cụ hiểu nếu làm như thế là không đúng với đường lối mặt trận Việt Minh, đó là không phân biệt giàu nghèo, không phân biệt đảng phái, không phân biệt nam nữ, v.v… Ai yêu nước, chống đế quốc thì vào mặt trận đó. Bác nói:

– Cái đinh đóng được vào gỗ là nhờ cái búa. Bây giờ ta vứt cái búa đi. Thì cái đinh không thể nào đóng được vào gỗ. Ta đuổi là đuổi thằng đế quốc đi. Còn cai tổng, lý trưởng nó đều là người mình cả, giác ngộ nó rồi nó cũng đi theo mình thôi. Các cụ nghe ra sôi nổi bảo:

– Như vậy phải lắm. Thế làm được thôi. Bác tổ chức được tổ phụ lão cứu quốc đầu tiên ở bản Pắc Bó và rút kinh nghiệm phổ biến ra toàn quốc.

Mặc dù Bác hàng ngày bận trăm công ngàn việc, nhưng Bác vẫn dành thời gian dạy học văn hóa cho các đồng chí Nông Thị Trưng, Thế An, Đức Thành và các đồng chí khác. Bác lại thường xuyên làm tuyên truyền về Đảng, quần chúng tiếp thu như thế nào Bác lại báo cáo với chi bộ. Khi quần chúng đã giác ngộ, Bác tổng kết lại đưa ra chi bộ thông qua và chịu trách nhiệm về quần chúng mà Bác đã tuyên truyền giáo dục. Đấy là ý thức tổ chức của Bác trong việc giáo dục tuyên truyền quần chúng.

Tháng 5-1942, Bác đi họp tỉnh ủy Cao Bằng, Bác đóng vai ông thầy mo kiêm thầy thuốc nhưng mà điếc. Đồng chí Thế Anh đóng vai đón ông thầy mo về chữa cho vợ bị ốm. Lúc này đồng chí Thế Anh mới chỉ biết Bác là ông Ké Thu. Bác nhờ tỉnh ủy Cao Bằng chuẩn bị cho Bác một cuốn sách cúng, một cái thanh la, một con gà và mấy bao gạo nếp. Đồng chí Thế Anh đeo cái bao gạo nếp. Bác đội nón Nùng, lấy khăn che râu, mặc một bộ quần áo Nùng, tay chống gậy.

Đến ngã ba Đôn Chương thì gặp bọn tổng đoàn và bọn lính gác. Bọn chúng hỏi:

– Đi đâu?

– Đồng chí Thế Anh đáp: Đi đón ông Ké về chữa cho vợ đang bị bệnh phong.

– Tốt lắm. Về chữa cho vợ tao đang ốm nặng.

Như thế thì gay go rồi. Đồng chí Thế Anh nói đi nói lại với tụi nó: Ông Ké này cũng xoàng thôi. Chỉ biết cúng, có bệnh phong thôi, lại điếc nữa mà. Nói mãi, chúng nó cũng nhượng bộ và nói rằng:

– Mày đi xong, chiều về nhớ cúng cho vợ tao.

Ông Ké quay lại cười. Đồng chí Thế Anh bực quá, đi một quãng xa, rồi quay lại phê bình ông Ké: – Đã bảo là điếc rồi, mà ông Ké còn quay lại cười với nó. Làm vậy nó bắt thì làm sao? – Nếu không cười thì nó bắt rồi. Điếc thì nó nói không nghe. Nhưng mình còn hệ thần kinh. Ông Ké giải thích mình còn đi lại được, nó vỗ vào người phải biết. Chứ nó vỗ vào mà không đứng lên nó cho là điếc giả vờ, nó bắt rồi. Đi một quãng, đồng chí Thế Anh lại ngạc nhiên khi nhìn hàm răng ông Ké trắng là thế, sao hôm nay lại bẩn vậy. Bác cười và nói: Chục, chục, cheng cheng, xôi đầy, gà béo đưa cho thầy, thầy ăn. Ăn chưa hết nó còn dính như thế! Bác đã lấy nhựa sung phơi khô tai tái rồi dí vào răng sau đó lấy xôi nhét vào. Lúc Bác cười, hạt xôi cứ rơi lả tả. Việc làm này của Bác càng làm cho chúng ta thấy rõ Bác đã chuẩn bị cải trang và giữ bí mật rất chu đáo.

Đi họp xong về đến bản Nà Mạ, đồng chí Thế Anh báo cáo với ông Ké:

– Bây giờ tối rồi không về nữa. Mời ông Ké lên núi nằm, bản này có nhiều cơ sở tốt lắm. Ông Ké động viên Thế Anh đi. Nhưng đồng chí vẫn cứ bước đi thoăn thoắt lên núi, Bác phải đi theo. Lên đến nơi, đồng chí dặn ông Ké đừng có đi đâu mà bị lạc khó tìm. Đồng chí xuống bản gặp đồng chí Đức Thành và các đồng chí khác. Đồng chí Thế Anh thật thà nói: Bây giờ ông Ké, tôi để ở trên hang, ông Ké thượng cấp ấy mà. Tối nay ông sẽ ngủ ở đây. Ông chủ nhà nghe nói thấy có “ông Ké thượng cấp” về nghỉ, ông chuẩn bị một con vịt, hai chai rượu, làm ba mâm. Mâm giữa thịt to hơn, đĩa đầy hơn, nạc hơn. Làm cơm xong, Thế Anh đi đón ông Ké xuống đưa ông Ké vào mâm giữa. Ông Ké nhìn đồng chí Ba bảo vệ rồi hỏi:

Chú Ba soạn bữa cơm này phải không?

Đồng chí Ba lúng túng trả lời: – Thưa không.

Đồng chí Đức Thành trả lời: – Thưa ông Ké đây là tấm lòng tốt của chủ nhà đấy ạ. Mọi người mời ông Ké vào mâm giữa. Ông Ké không ngồi, ông Ké nói:

– Tại sao lại thế này?

– Đồng chí Đức Thành đáp:

– Thưa ông Ké, đây là phong tục tập quán ở địa phương.

– Bác bảo: Đây là tục chứ không phải là phong. Thôi đã trót làm thì chia đều ra cùng ăn.

Lúc đó phong trào cách mạng ngày một lên cao, bọn mật thám cũng tăng cường hoạt động và ngày càng có nhiều hành động gian ác. Đồng chí Ba bảo vệ cho Bác lệnh cho Đức Thành giết một tên phản động lợi hại, ở bản Nà Kéo. Bác biết chuyện, Bác gọi đồng chí Ba lên:

– Chú bảo Đức Thành giết tên phản động ở bản Nà Kéo phải không?

– Đồng chí Ba lúng túng, chưa dám nói thật, sợ ông Ké phê bình: Thưa ông Ké không ạ? – Không à?

Bác đưa cho đồng chí Ba cuốn lịch sử Đảng Bônsêvích mà Lênin viết: đoạn nói về việc chống ám sát cá nhân. Bác bảo đồng chí Ba đọc đi rồi cho ý kiến. Đồng chí Ba đọc từ sáng đến tối. Bác hỏi:

– Có thấy gì không?

– Thưa ông Ké không thấy gì ạ.

– Thôi thế tối nay suy nghĩ, sáng mai trả lời. Chú đã suy nghĩ chưa?

– Dạ, suy nghĩ rồi ạ. Thưa ông Ké không thấy gì cả.

Bác bảo tiếp tục đọc và trả lời. Đến trưa Bác lại hỏi. Đồng chí Ba lại thưa với Bác là không thấy gì. Lúc đó Bác mới nói:

– Nói dối cấp trên tức là nói dối Đảng. Nếu ai cũng như chú làm thế nào Trung ương nắm tình hình cho đúng, để ra đường lối, chủ trương cho sát được. Nhìn đồng chí Ba ngồi, mặt hơi cúi xuống có vẻ hối hận.

– Bác nói tiếp: Cái cây có bao nhiêu cành chúng ta đã biết. Bây giờ chúng ta chặt cành đi, thì mầm nó lại mọc lên. Cái cây không chết đâu mà là mọc nhiều mầm lên nữa. Muốn cây chết phải đào tận gốc nhổ nó đi. Giết một vài thằng không thể thay đổi chế độ của nó, mà phải lật cả chế độ của nó đi. Qua lời giảng dạy có lý, có tình, giản dị mà rất sâu sắc của Bác như vậy, đồng chí Ba đã nhận ra khuyết điểm của mình, và tự phê phán rồi hứa quyết tâm sửa chữa.Bác bảo:

Quyết tâm như thế là tốt. Nhưng sợ Đức Thành không nhận ra như chú, rồi lúc vô địa phương chỉ đạo phong trào, Đức Thành lại muốn làm gì thì làm, chú không biết, làm thế nào chú lãnh đạo được đồng bào một cách sít sao? Thế là đồng chí Ba lại bảo đồng chí Đức Thành lên để Bác phân tích cho. Các đồng chí đều hối hận về lỗi lầm của mình đã mắc phải và hứa sửa chữa lỗi.

Bác lại căn dặn các đồng chí rất tỉ mỉ là hiện nay đồng bào đang mắc bệnh đậu mùa, đi tuyến truyền cho đồng bào làm cách mạng nhưng nhớ tuyên truyền đồng bào giữ vệ sinh, đừng có giặt quần áo của người bệnh ở nguồn nước. Người nào mắc bệnh phải cách ly ra. Người nào mắc bệnh nặng quá thì phải lấy lá rải xuống để người bệnh nằm cho êm, quần áo phải lấy lá đắng đun lên. Lấy nước mà luộc quần áo, chứ đừng có đem giặt. Bác trông nom từng ly, từng tí đến đời sống của quần chúng. Bác lại dạy cán bộ là làm cán bộ phải biết địa lý Tổ quốc mình, biết cả địa lý thế giới, trước hết phải biết thủ đô các nước. Có đồng chí không thông, Bác lại kiên trì giải thích: Làm cách mạng phải biết Thủ đô các nước, vì Thủ đô là nơi trung tâm văn hóa, chính trị, kinh tế, v.v… Trong cuộc chiến tranh hiện nay, phát xít Đức đang chuẩn bị tiến công vào Thủ đô Mạc Tư Khoa. Nếu nó chuẩn bị tiến công mạnh thì lực lượng chủ yếu của Liên Xô sẽ rút ra đánh du kích. Liên Xô sẽ dùng trong đánh ra, ngoài đánh vào, lại giải phóng Thu đô. Nhưng mà đối với phát xít Đức, khi Liên Xô đã tấn công, thì nhất định Liên Xô sẽ tấn công vào tận sào huyệt của bọn chúng, tấn công vào tận Thủ đô của bọn phát xít Đức. Khi phản công như thế, ta phải gấp rút Tổng khởi nghĩa cho kịp thời. Bọn đế quốc mất Thủ đô là coi như mất cả nước của nó. Thí dụ Đức đánh qua Bỉ, vào Thủ đô Paris là Pháp đầu hàng: Ta phải nắm lấy thời cơ đó mà Tổng khởi nghĩa cho kịp thời.

Bác soạn ra cuốn Việt Nam địa lý diễn ca và Việt Nam lịch sử diễn ca. Bác bảo cán bộ phải biết địa lý, biết lịch sử để giải thích cho đồng bào dễ nhớ. Bác cũng viết một cuốn lịch sử bằng thơ lục bát từ đời Hồng Bàng đến thời Pháp thuộc. Và cuốn địa lý Việt Nam:

Nước ta hình chữ S
Một bán đảo rất xinh
Trên bờ bể Thái Bình
Tại Đông Nam châu Á

Tính bình phương cây số có 30 vạn hơn(1)

Ngót 20 triệu dân
Sống trong miền nhiệt đới…
Hoặc Bác viết về Cao Bằng:
Cao Bằng đông bắc giáp Tàu
Hà Giang, Bắc Cạn ở vào phía Tây
Nam giáp tỉnh Lạng, gần đây
Bốn nghìn tám dặm tỉnh này gồm bao.
Na-gia, Pia-vắc thật cao
Hơn hai nghìn thước xôn xao một hàng
Sông to thì có Bằng Giang
Xê Lao, Trà Lĩnh chạy ngang hai hàng…

Bác có hai hòn đá. Một hòn tròn và đen, một hòn hơi đục và có cạnh. Hàng ngày Bác dùng hai hòn đá để tập cho cứng gân cốt. Đồng chí Nông Thị Trưng có nói với Bác: Chú Thu ơi, hàng ngày chú đã làm việc vất vả rồi, lúc đọc báo, nghe đài chú ngồi cho thoải mái chứ. Sao chú cứ nắin lấy hai hòn đá đó làm gì? Bác thân ái chỉ rõ: Bác cháu ta trước đây là nhân dân lao động. Bây giờ đi làm cách mạng, do công việc đòi hỏi cho nên ta phải thoát ly. Thoát ly như thế nào rồi về tuyên truyền cách mạng cho quần chúng, ta khoanh tay sau lưng tuyên truyền à. Làm như vậy quần chúng nào người ta nghe. Chưa cuốc được mấy nhát cuốc tay đã phồng lên, quần chúng người ta sẽ bảo cán bộ chỉ nói mép thôi, nhưng làm thì chẳng bằng ai. Cho nên hàng ngày phải luyện tập cho da tay phồng lên, để khi đi làm với quần chúng được lâu hơn khỏi phồng tay.

Đó là quan điểm lao động, quan điểm quần chúng và là quan điểm cách mạng của Bác. Trong cuộc đời hoạt động của Bác, lần bị bọn Tưởng bắt là lần Bác khổ nhất, vì theo Bác “cay đắng chi bằng mất tự do”. Bác bị bọn Tưởng Giới Thạch bắt giam từ đầu mùa thu 1942 đến mùa thu 1943 mất 14 tháng trời và trải qua hơn 30 nhà tù. Nó giam Bác trong một phòng kín như bưng, không có ánh sáng lọt vào. Khi nó thả ra, mắt Bác đã lòa đi và chân thì tê liệt. Trong khi Bác ở tù, Trương Phát Khuê đến hỏi cung, hắn hỏi chặn đầu:

Tôi biết ông chính là Nguyễn Ái Quốc. Thôi rồi, ông không thể chối được nữa.

Bác thản nhiên trả lời: Nếu tôi là Nguyễn Ái Quốc thì thật là hay.

Trương Phát Khuê về bảo là Nguyễn Hải Thần nói láo, đây chỉ là ông đồ yêu nước, chứ đâu có phải là Nguyễn Ái Quốc và nó thả Bác ra. Lúc đó mắt Bác đã bị lòa. Hàng ngày, Bác dậy rất sớm, chờ cho trời sáng dần dần. Khi nhìn thấy ánh sáng mạnh, Bác lại phải quay ngay vào trong tối nuôi con ngươi quen dần để khỏi bị lòa. Lúc nắng, Bác lại đưa chân ra ngoài để cho ánh nắng chiếu vào, những con dòi chui ra và Bác cho thuốc vào chữa đôi chân, Bác dựa vào lan can để tập đi. Bác lại tập leo núi.

Đây là tinh thần trách nhiệm của Bác đối với Tổ quốc. Chính vì tinh thần cách mạng của Bác cao như thế, Bác đã kịp trở về đưa cuộc Cách mạng tháng Tám vĩ đại của dân tộc ta dưới sự lãnh đạo của Đảng đến thành công. Bác đã được Quốc dân Đại hội họp ở Tân Trào nhất trí bầu làm Chủ tịch ủy ban dân tộc giải phóng. Khi đoàn quân giải phóng trở về Thủ đô Hà Nội khởi nghĩa cướp chính quyền, Bác về ở nhà số 48 phố Hàng Ngang viết Tuyên ngôn độc lập. Từ đây Bác đã khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Đất nước anh hùng của chúng ta ngàn nãm mãi mãi truyền tụng công lao vĩ đại của Bác. Bác là cây đại thọ Việt Nam mà rễ ẩn sâu xuống lòng đất, đời đời xanh tươi. Bóng mát che rợp cả ba phần tư thế kỷ 20. Công huân của Bác đối với Tổ quốc, đối với nhân dân muôn đời sáng chói. Hồ Chủ tịch là người sáng lập lãnh đạo và rèn luyện Đảng ta, là người xây dựng nền Cộng hòa Dân chủ Việt Nam và Mặt trận dân tộc thống nhất, là người cha thân yêu, của các lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam. Người là linh hồn, là ngọn cờ chói lọi, lãnh đạo toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đoàn kết một lòng, chiến đấu anh dũng, viết nên nhừng trang sử vẻ vang nhất của Tổ quốc ta. “Dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta đã sinh ra Hồ Chủ tịch, người anh hùng dân tộc vĩ đại và chính người đã làm rạng rỡ dân tộc ta, nhân dân ta và non sông đất nước ta”.(2)

(1) Đây là ước lượng diện tích đất liền, chưa kể các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và các đảo khảc trên biển Đông thuộc chủ quyền của Việt Nam. (BT)

(2) Điếu vănn của Ban Chấp hành Trung ương Đảng do đồng chí Lê Duẩn đọc trong lễ truy điệu Hồ Chủ tịch ngày 9-9-1969 tại Quảng trường Ba Đình – Hà Nội.

Theo Phuly.edu.vn
Tâm Trang (st)

bqllang.gov.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh với gia đình Raymond Aubrac

Một trong những gia đình người Pháp có kỷ niệm sâu sắc với Chủ tịch Hồ Chí Minh là gia đình Raymond Aubrac.

Năm 1946 sau cuộc đàm phán với Pháp không kết quả, nhận lời mời của Chính phủ Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sang thăm Pháp với danh nghĩa Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà từ giữa tháng 6 đến giữa tháng 9-1946.

Thời gian Bác thăm Pháp lâu, vì ở Pháp lúc đó có cuộc bầu cử Quốc hội và phải thay đổi Chính phủ. Cũng trong khoảng thời gian này, ở Pháp có Hội nghị Fontainebleau giữa Pháp và Việt Nam. Đoàn Việt Nam do đồng chí Phạm Văn Đồng làm Trưởng đoàn. Chủ tịch Hồ Chí Minh lúc đó cũng ở Pari nhưng không tham gia đoàn việt Nam ở Hội nghị. Sau khi Hội nghị Fontainebleau kết thúc, Đoàn đại biểu Việt Nam về nước, còn Bác ở lại để cùng với Marius Moutet, Bộ trưởng Bộ Hải ngoại, đại diện Chính phủ Pháp ký bản Tạm ước với hy vọng cứu vãn hoà bình. Ngày 19-9-1946, Bác lên tầu ở cảng Toulon, trở về nước.

Ngày 27-7-1946, Việt kiều ở Pháp đã tổ chức một cuộc chiêu đãi tại Vườn Hồng Bagatelle ở Paris để chào mừng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ông Raymond Aubrac có mặt trong buổi chiêu đãi. Sau đó, ông mời Bác về ở nhà mình, ở ngoại ô Paris.

Bác đến ở nhà ông Raymond Aubrac 6 tuần, từ đầu tháng 8 đến giữa tháng 9-1946. Nhà ở Soissy-sous-Monmorency, phía Bắc Paris, đi khoảng 20 phút xe hơi. Nhà được xây dựng từ thế kỷ 18, để làm nhà nghỉ cho một gia đình quý tộc. Xung quanh nhà có vườn rộng, cách đường cái một bức tường có hàng cây dẻ và một vài cây anh đào. Trong vườn có mấy cụm hoa lớn, còn lại là thảm cỏ. Nhà có ba tầng với một tầng hầm và một tầng sát mái. Lúc đó gia đình ông Aubrac có hai vợ chồng, hai con nhỏ, bà mẹ vợ và một người giúp việc. Trong thời gian ở cùng gia đình, lúc đầu bà Aubrac và mẹ bà nấu cho Bác ăn. Nhưng sau này thấy bận và Bác có nhiều khách, nên anh em đã cử ông Ty, một Việt kiều yêu nước đến nấu ăn cho Bác. Ông Ty có một cửa hàng ăn ở khu sinh viên Quartier latin, nhưng ông đã đóng cửa, đến phục vụ Bác.

Mỗi buổi sáng người nhà ông Aubrac mang đến cho Bác sách báo tiếng Pháp và báo chí tiếng Anh, Đức, Nga… Bác thường đọc báo ngay trên thảm cỏ. Hàng ngày Bác cũng tiếp khách ở ngoài vườn. Chính phủ Pháp dành cho Bác một tầng trong một ngôi nhà lớn ở gần Khải hoàn môn, nhưng Bác thường không vào Paris tiếp khách, mà mời về nhà ông Aubrac. Đoàn đại biểu của ta tại Hội nghị Fontainebleau ngày nào cũng đến làm việc với Bác. Ở đây Bác tiếp và chiêu đãi nhiều nhân vật thuộc các khuynh hướng chính trị khác nhau, các nhà văn, nhà báo.

Ông Aubrac kể lại rằng cuối tháng 7, nhân ngày sinh của ông, Bác đã tặng ông một bức tranh của họa sĩ Vũ Cao Đàm, một trí thức Việt kiều yêu nước. Bức tranh tả một bà mẹ mới sinh con, đang vươn cánh tay dài với những ngón tay mảnh dẻ vuốt đầu cháu bé. Ít lâu sau, bà Aubrac sinh cháu Elisabeth. Bác đã đến Nhà hộ sinh Port – Royal ở Paris thăm, tặng hoa và nhận là người đỡ đầu. Từ đó trở đi, năm nào đến ngày sinh của cháu, Bác cũng đều gửi quà mừng.

Ông bà Aubrac tuy không phải là đảng viên cộng sản nhưng là những người tiến bộ, yêu nước, tích cực tham gia cuộc kháng chiến của nhân dân Pháp chống phát xít. Ông bà chịu ảnh hưởng của những người cộng sản, thời đó gọi là những người “bạn đồng hành” của những đảng viên cộng sản, là những người luôn đứng về phái công lý. Hai ông bà là những chiến sĩ kiên cường trong kháng chiến chống phát xít Đức, bí mật tham gia kháng chiến ở Lyon. Ông góp phần thành lập bộ tham mưu quân đội bí mật. Bố mẹ ông Aubrac cũng bị phát xít Đức giết chết. Ông bị phát xít Đức bắt, ngày 15-6-1943 được lực lượng kháng chiến cứu thoát. Ngày 21-6-1943, ông bị Gestapo bắt và đưa đi xử bắn. Bà Lucie đã tổ chức một cuộc tập kích giải thoát cho chồng. Bị lộ, hai vợ chồng theo tướng De Gaulle sang Anh.

Ông Aubrac kể khi ông làm đại diện Chính phủ Pháp tại Marseille năm 1944-1945, ở đó có rất nhiều lính thợ Việt Nam được Chính phủ Pháp tuyển mộ sang Pháp từ năm 1939 để thay thế cho thanh niên Pháp nhập ngũ. Phát hiện ra tại các trại này anh em bị bọn côn đồ đàn áp, ông đã giải tán Ban chỉ huy, thay bằng những người tốt và cho anh em tự bầu ra một Ban tư vấn bên cạnh Ban chỉ huy. Từ đó anh em biết ơn ông và năm nào đến dịp lễ Tết đều mời ông dự. Ông cho rằng cũng vì vậy mà ông được mời dự cuộc chiêu đãi ở Bagatelle và được giới thiệu với Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Sau chiến tranh ông trở thành anh hùng kháng chiến, được cử làm đại diện Chính phủ Pháp tại Marseille, rồi về làm việc ở Bộ Xây dựng. Ông là kỹ sư công chính. Còn bà Aubrac được cử làm đại biểu Hội đồng tư vấn, một nhân chứng lịch sử đấu tranh giải phóng. Sau đó, bà làm giáo viên của Trường Trung học Enghien.

Hai ông bà đều có quan hệ gắn bó với Bác Hồ và Việt Nam trong nhiều thập kỷ. Ông thường nói ngày được gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh 27-7-1946 đã đánh dấu một bước ngoặt trong cuộc đời ông, cho tận đến bây giờ, một giai đoạn gắn bó với đất nước Việt Nam.

Sau năm 1946 ông Aubrac đã gặp Bác hai lần. Một lần vào năm 1955, ở Bắc Kinh, khi Bác đang thăm Trung Quốc. Bác đã mời ông ăn sáng và mời sang Hà Nội, gặp Thủ tướng Phạm Văn Đồng, để giúp giải quyết vấn đề buôn bán giữa Việt Nam và Pháp. Ông đi xe lửa từ Bắc Kinh đến Lạng Sơn, sau đó đi xe Jeep đến Hà Nội. Ông ở Việt Nam khoảng nửa tháng, đi thăm Hà Nội và vịnh Hạ Long.

Lần thứ hai, năm 1967, ông cùng Viện trưởng Viện Pasteur Herbrt Marcovitch sang để trao đổi về tình hình Việt Nam. Bác cùng Thủ tướng Phạm Văn Đồng tiếp ông tại Nhà sàn, Hà Nội. Sau 12 năm xa cách, ông được gặp Bác. Đây cũng là lần cuối cùng.

Ông viết cuốn sách “Où s attarde la mémoire” (Những gì để nhớ), xuất bản năm 1946, trong đó kể lại những kỷ niệm gắn bó với cuộc đời của ông. Bác Hồ và Việt Nam đã để lại những ấn tượng sâu sắc trong lòng vợ chồng Raymond Aubrac. Ông bà đã trở thành những người bạn thân thiết của Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhân dân Việt Nam.

Ngày 14-3-2007, bà Aubrac qua đời, tại Paris, thọ 95 tuổi. Lễ truy điệu bà được tổ chức trọng thể tại Cung Invalides với sự có mặt của Tổng thống Pháp Jacques Chirac. Đài Truyền hình Pháp đã dành hai buổi chiếu cuốn phim về đời hoạt động của bà. Chủ tịch nước ta Nguyễn Minh Triết đã gửi điện chia buồn.

Ông Aubrac năm nay đã 94 tuổi, nhưng vẫn tích cực hoạt động vì tình hữu nghị với Việt Nam.

Năm 2006, ông tặng tôi cuốn sách của ông, với lời đề tặng “Thân tặng ông Trịnh Ngọc Thái cuốn Những gì để nhớ, với những kỷ niệm viết trong cuốn sách này của một kỹ sư công chính, Đại sứ sẽ thấy dấu ấn của sự gắn bó bền vững của tôi với đất nước của ông – Ký tên Raymond Aubrac”./.

Trịnh Ngọc Thái
Theo Phuly.edu.vn
Tâm Trang (st)

bqllang.gov.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh và Cố vấn Vĩnh Thụy

Chính phủ VNDCCH ra mắt Quốc Hội khóa 1 ngày 2/3/1946. Từ trái sang phải: Ông Trương Đình Tri, ông Đặng Thai Mai, ông Chu Bá Phượng, nhà văn Nhất Linh Nguyễn Tường Tam, cụ Huỳnh Thúc Kháng, Chủ tịch Hồ Chí Minh, Cố vấn Vĩnh Thụy, ông Lê Văn Hiến, luật sư

Tóm tắt: Từ hơn nửa thế kỷ qua, đối với người dân Huế, mỗi lần nhắc đến lịch sử Cách mạng tháng Tám năm 1945, người ta lại nhớ đến sự kiện vua Bảo Đại thoái vị chấm dứt thời đại quân chủ ở Việt Nam và nhớ đến chuyện Chủ tịch Hồ Chí Minh thực hiện chính sách đoàn kết dân tộc đã mời ông vua vừa thoái vị làm Cố vấn cho Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (1945-1946).

Từ hơn nửa thế kỷ qua, đối với người dân Huế, mỗi lần nhắc đến lịch sử Cách mạng tháng Tám năm 1945, người ta lại nhớ đến sự kiện vua Bảo Đại thoái vị chấm dứt thời đại quân chủ ở Việt Nam và nhớ đến chuyện Chủ tịch Hồ Chí Minh thực hiện chính sách đoàn kết dân tộc đã mời ông vua vừa thoái vị làm Cố vấn cho Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (1945-1946). Là một người nghiên cứu Huế, nghiên cứu Chủ tịch Hồ Chí Minh với Thừa Thiên Huế, tôi đã sưu tầm được khá nhiều tư liệu lịch sử có liên quan đến mối quan hệ của Chủ tịch Hồ Chí Minh với Cố vấn Vĩnh Thụy. Tôi xin trích 4 tư liệu sau đây để độc giả thưởng lãm và nhớ đến Bác.

1 . Hồi ức của sĩ quan hầu cận

Qua gia đình của cụ Hoàng Xuân Hãn ở Paris, tôi được biết ông Hoàng Xuân Bình, học viên của Trường Thanh niên tiền tuyến đã được cử làm sĩ quan hầu cận cho Cố vấn Vĩnh Thụy hồi đầu tháng 9/1945. Một buổi sáng tháng 8 năm 1999, tôi tìm đến nhà ông Bình ở cuối đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa (Q.3, TP.HCM) đối diện với chùa Vĩnh Nghiêm. Tôi xin phép được hỏi về những kỷ niệm của ông trong thời gian ông làm sĩ quan cận vệ cho Cố vấn Vĩnh Thụy.

Ông Bình nặng tai và người không được khỏe nên ông từ chối trả lời những câu hỏi của tôi. Thay vào đó ông đưa cho tôi một trang báo Văn nghệ của Hội Nhà văn Việt Nam có đăng bài Cố vấn Vĩnh Thụy và tờ tạp chí Văn nghệ Nghệ Tĩnh, số 45, tháng 5/1991 với bài Hồ Chủ tịch và Cố vấn Vĩnh Thụy. Cả hai bài đều do ông Hoàng Xuân Bình kể, và thầy giáo Lê Trần Sửu ghi. Ông Bình bảo tôi:

– “Lúc kể cho Lê Trần Sửu ghi, trí nhớ của tôi còn rất tốt. Bây giờ quên đi nhiều rồi. Anh xem khai thác được điều gì bổ ích… cứ việc!”.

Đó là lần đầu tiên tôi được gặp ông Bình và không ngờ cũng là lần cuối cùng. Ông Bình đã mất vào tháng 4 năm 2000. Xin phép người quá cố tôi trích một đoạn trong Văn nghệ Nghệ Tĩnh để độc giả cả nước thưởng lãm:

“Bắt đầu 5/9, tôi một mình làm nhiệm vụ “sĩ quan hầu cận” của tối cao Cố vấn, vì anh Nguyễn Thế Lương nhận lệnh về Huế công tác.

Sáng 5/9, quân phục chỉnh tề, tôi theo ông Vĩnh Thụy đi ra mắt Hồ Chủ tịch. Bác ra đón tại cửa phòng làm việc trong bộ đồ ka-ki kiểu cổ đứng, hai tay mở rộng – một cử chỉ đầy ý nghĩa – vừa thân tình vừa trọng thị, làm ông vua cũ hình như cũng bất ngờ một cách thích thú.

Độ hơn một tiếng đồng hồ sau, Bác Hồ lại tiễn ông Cố vấn ra tận cửa chính của Bắc bộ phủ, nơi xe đã tiến lên đón ông Vĩnh Thụy trở về. Ông lộ hẳn ra mặt sự mừng rỡ, mãn nguyện về cuộc tiếp kiến và cho biết buổi chiều Cụ Chủ tịch sẽ tới thăm tại nhà ở 51 đường Gambetta.

Ba giờ chiều, tất cả nhà, từ ông Cố vấn cho tới người cần vụ, người nấu bếp, lái xe, các anh em trong tiểu đội canh gác đều sẵn sàng và bị thu hút chờ đón vị Chủ tịch ở sân trước biệt thự.

Xe Bác vào. Bác tới cùng mấy người nữa. Ông Vĩnh Thụy chờ đón Bác dưới chân tam cấp lớn, và hướng dẫn Bác lên phòng khách đón. Tất cả chúng tôi đều kéo theo lên và quên hết phép tắc, cũng vào cả trong phòng khách mà chẳng ai nhắc nhở can ngăn kể cả anh sĩ quan bảo vệ Bác.

Sau ít phút trò chuyện trong phòng, Bác đề nghị đi dạo ngoài vườn để nói chuyện. Thế là hai người khoác tay nhau – đúng hơn là Bác khoác tay ông Cố vấn – xuống sân và dạo theo các lối đi rải sạn, chuyện trò thân mật như những người cố tri. Thật là một cảnh tượng có lẽ là có một không hai trong lịch sử mà mỗi một chúng tôi được chứng kiến hôm đó đều xúc động. Một cựu hoàng đế, mập mạp, phương phi, quần áo đúng mốt sang trọng của Paris hoa lệ cắt bằng vải đắt tiền, giày da hai màu, bóng loáng cùng khoác tay đi dạo rất “tâm đắc” với một nhà cách mạng lão thành đã mang án tử hình của nhà nước thực dân, phong kiến mà người kia là một kẻ tiêu biểu, một con người giản dị vô song, quần áo ka-ki thường cắt theo kiểu cổ lỗ, chân xỏ đôi giày “tàu” vải đen, hồn nhiên như thanh sắc của cây cỏ tỏa quanh bước chân dạo đi của Người.

Sau đó, khi mở đầu “Tuần lễ vàng” Hồ Chủ tịch cử Cố vấn thay mặt Chủ tịch nước khai mạc. Diễn văn khai mạc do ông Phạm Khắc Hòe soạn, và trước khi đi dự lễ, ông Vĩnh Thụy đọc thử cho tôi nghe. Ông đọc giọng Huế, không trôi chảy mấy và ngắt câu nhiều chỗ không đúng. Khi được nhận xét như vậy, ông đã nhờ tôi dùng viết chì màu đánh dấu các chỗ ngắt giọng. Buổi lễ khai mạc diễn ra ở thềm trước Nhà hát thành phố. Sau khi đọc diễn văn một cách trôi chảy, ông Cố vấn trở lại chỗ ngồi, đi qua chỗ tôi không quên cảm ơn bằng một nụ cười kèm theo một cái lè lưỡi kín đáo như mừng rỡ đã “tai qua nạn khỏi”.

Hồi đó, Hội đồng lập hiến được thành lập để làm dự thảo Hiến pháp. Ông Cố vấn là thành viên của Hội đồng, thành phần rộng rãi, trong Việt Minh, ngoài Việt Minh, nhân sĩ, trí thức có tiếng tăm.

Một hôm, gặp thầy cũ là ông Đặng Thai Mai, ông cho tôi biết nhận xét của ông (cũng là một thành viên của Hội đồng):

– “Ông Vĩnh Thụy tưởng là người ăn chơi nhưng không ngờ lại có những hiểu biết khá rộng về pháp lý và có nhiều ý kiến hay”.

… Sau đó không lâu, một hôm đi làm việc về, ông qua buồng tôi, bảo nhỏ cho tôi biết rằng Cụ Hồ đề nghị ông thay mặt Chính phủ đi một chuyến qua Trung Quốc, Pháp, Anh, Mỹ để giới thiệu chế độ mới, vận động họ công nhận nước Việt Nam độc lập. Tôi thầm nghĩ trong bụng, khâm phục tài sử dụng người của Cụ Hồ, đưa một cựu hoàng vừa thoái vị nhường quyền cho chế độ Cộng hòa đi tuyên truyền cho chế độ đó!”

2. Chủ tịch Hồ Chí Minh nói gì với Cố vấn Vĩnh Thụy đang đi công cán ở nước ngoài?

Cố vấn Vĩnh Thụy ra nước ngoài vào ngày 16/3/1946. Mấy tháng sau, Bác Hồ đã gởi một lá thư trao đổi công việc với ông. Trong lá thư ấy Bác đã nhắc nhở ông phải luôn luôn nhớ đến vai trò quan trọng mà đất nước đang giao phó cho ông. Ông phải sống xứng đáng với vai trò đó. Nhà sử học Pháp Jean Lacouture đã được đọc lá thư ấy và đã trích dẫn vào sách HO CHI MINH, (Le Seuil, 1967), một đoạn sau:

Ngài chớ quên rằng Ngài là đại diện cho nước Việt Nam và lịch sử Việt Nam. Ngài phải làm thế nào để đời sống cửa Ngài xứng đáng với cái tên mà Ngài đang mang, xứng đáng với Tổ quốc chung, với nền độc lập của chúng ta đến nay mới giành lại được” (tr.114).

Trước ngày toàn quốc kháng chiến (19/12/1946) – theo bà Mộng Điệp (vợ thứ của Vĩnh Thụy) – Bác Hồ đã cử bác sĩ Phạm Ngọc Thạch đem tiền và vàng qua Hồng Kông cho Cố vấn Vĩnh Thụy tiêu. Đến trước tháng 8/1947, trả lời phỏng vấn của báo chí về Cố vấn Vĩnh Thụy, Bác Hồ không ngần ngại đáp rằng:

Nhiều thành viên trong Chính phủ và bản thân tôi, tất cả đều là bạn của ông Cố vấn Vĩnh Thụy, chúng tôi rất mong muốn gặp lại ông Cố vấn và cầu mong ông Cố vấn sớm trở về để cùng nhau lo việc nước. Nhưng Cố vấn Vĩnh Thụy hiện nay (7/1947 NĐX) không thể rời Hồng Kông được. Chúng tôi xa mặt chứ không cách lòng. Chính phủ và nhân dân Việt Nam hoàn toàn tin tưởng vào sự trung thành của Cố vấn Vĩnh Thụy hiện đang ở nước ngoài nhưng vẫn tiếp tục làm việc cho chính phủ quốc gia mà Cố vấn vẫn là thành viên”. (trích lại của Philippe Devillers, Histoire du Viet-Nam de 1940-1952, Eïdition du Seuil, 1952, p.402).

Bác Hồ rất tin tưởng Cố vấn Vĩnh Thụy, nhưng Cố vấn Vĩnh Thụy vốn rất nhu nhược, không vượt qua được sự túng thiếu về tài chính và các cạm bẫy của mật thám Pháp và các thành phần thân Pháp nên ông đã bị đẩy vào cái thế phải trở lại làm bù nhìn cho thực dân Pháp, phản bội lại chính nghĩa của quốc gia, chống lại kháng chiến giải phóng dân tộc, đối đầu với Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chính phủ đã cưu mang và tin tưởng ông. Nhưng, tuy nhu nhược, Vĩnh Thụy là người có lương tri tho nên khi gặp cơ hội thuận tiện ông vẫn không giấu được những tình cảm tốt đẹp về Bác Hồ, về kháng chiến đã ẩn sâu dưới đáy tim ông.

3. Bảo Đại qua điệp viên A.13

Người điệp viên đầu tiên của cách mạng (A.13) được “Quốc trưởng” Bảo Đại tin dùng là ông Nguyễn Văn Hoàng. Khai thác tư liệu của ngành an ninh và lời tự thuật của ông Hoàng, nhà văn đại tá Công an Lê Tri Kỷ (1924-1993) đã viết cuốn Câu lạc bộ chính khách (Nxb Công an nhân dân, H.1986). Ông Hoàng nguyên là công nhân nhà máy Dĩ An, hoạt động cách mạng từ sau năm 1930. Hồi đầu kháng chiến chống Pháp, ông làm Trưởng ty Công an Thanh Hoá, sau đó ông được tướng Nguyễn Sơn và ông Đặng Thai Mai đưa vào thành hoạt động giả danh lãnh tụ đảng Phục Việt (không có thật) – “một đảng chính trị tham gia kháng chiến ngoài cộng sản”.

Ông Hoàng cùng với “người bảo vệ” Trúc Lâm (Điệp viên A.14) vào Đà Lạt tiếp kiến “Quốc trưởng” Bảo Đại tìm cách thúc đẩy Bảo Đại can thiệp với quân đội Pháp làm sao tránh được những cuộc càn quét bắn phá tỉnh Thanh Hoá – cửa ngõ vào Nam, nơi cung cấp người và lương thực cho kháng chiến và cũng là nơi có lăng Triệu Tường tổ tiên của dòng họ nhà Nguyễn của Bảo Đại. Lần đầu gặp Bảo Đại, Văn Hoàng có cảm tưởng như sau:

“Đã quen với hình ảnh Bảo Đại in trên bìa vở học sinh và truyền đơn quảng cáo Hiệp ước Hạ Long rồi, thế mà khi trông thấy ông ta đứng dậy dạng chân khoanh tay giữa phòng đợi, Văn Hoàng không khỏi bỡ ngỡ pha lẫn buồn cười. Ông ta to quá, khoẻ quá kềnh càng quá, ngước trông lên cứ tưởng như ông bị sưng cằm. Trong lòng bàn tay to rộng ông ta đưa ra bắt, bàn tay Văn Hoàng chỉ như tay con nít.

Sau giây phút ngỡ ngàng, Văn Hoàng nhanh chóng trấn tĩnh nhếch một nụ cười thân thiện thay một lời chào chưa nghĩ kịp. Nhưng rất chủ động và lịch thiệp, Bảo Đại không để anh lúng túng chờ đợi:

– Ông ở ngoài nớ vô, thế có được tin tức gì về Cụ Hồ Chí Minh không? Ngài có được mạnh khỏe không? Các ông bộ trưởng trong Chánh phủ kháng chiến có được mạnh khỏe không?

Mở đầu thật bất ngờ. Không phải đối thoại căng thẳng mà là thăm hỏi thân tình. May sao sức khỏe Bác Hồ thì có người dân nào là không theo dõi? Văn Hoàng trả lời lưu loát:

– Tôi không được nghe gì về các ông bộ trưởng nhưng về Chủ tịch Hồ Chí Minh thì luôn luôn được nghe nói tới. Cụ vẫn rất khỏe, đi bộ mỗi ngày 40 cây số, nhiều thanh niên theo được còn là mệt.

Bảo Đại nuốt tiếng thở dài. Giọng ông ta đã trầm, mồm như dầy lưỡi, lại nói thứ tiếng Huế khê đặc nên rất khó nghe:

– Tôi đã từng sống cạnh Cụ Hồ, nghe Cụ nói chuyện, cùng Cụ đi công cán hay chủ tọa nhiều phiên họp nội các, từng chứng kiến đức độ của Cụ, coi Cụ như cha và cũng được Cụ thương yêu như con. Những điều đó đã để lại trong lòng tôi không ít kỷ niệm đẹp, và có thể nói nó chi phối không ít những việc làm của tôi kể từ ngày tôi xa Cụ tới nay (1950)…”

Đọc đoạn trao đổi này tôi hơi nghi ngờ. Do đó nhờ nhà văn Vũ Hạnh giới thiệu, tôi đã được gặp ông Nguyễn Văn Hoàng (điệp viên A.13 năm xưa). Năm nay ông Hoàng vừa tròn tuổi 93 tuổi, nhà ở tại đường Lê Văn Sỹ, Q.3 Thành phố Hồ Chí Minh. Ông Hoàng đã xác nhận những gì Lê Tri Kỷ đã viết và được tôi vừa trích dẫn trên là đúng sự thật. Từ đó tôi mới tin.

Trong buổi lễ vận động cứu đói tổ chức trước Nhá hát lớn Hà Nội. Ngồi hàng trước, từ trái sang phải: Cụ Nguyễn Văn Tố, tướng Mỹ Gallagher (Đại diện LL Đồng Minh), Chủ tịch Hồ Chí Minh, Cố vấn Vĩnh Thụy, cụ Ngô Tử Hạ. Ảnh: TL.

4. Vào cuối đời Cựu hoàng Bảo Đại nói gì về Chủ tịch Hồ Chí Minh?

Việc thoái vị của Bảo Đại là một sự kiện lịch sử lớn. Nếu người dân Việt Nam còn muốn nhắc đến Bảo Đại chính vì hành động thoái vị của ông vào ngày 30 tháng 8 năm 1945. Bảo Đại cũng biết thế. Trước khi vĩnh biệt cuộc đời (31/7/1997), Bảo Đại đã nhờ người viết hồi ký Con rồng An Nam (Le Dragon d’Annam), trả lời phỏng vấn trên đài Phát thanh Pháp, trả lời phỏng vấn đài truyền hình Pháp về sự kiện ông thoái vị. Trong chuyến đi Pháp (1999) tìm tài liệu nghiên cứu triều Nguyễn và Huế xưa, tôi đã có dịp tiếp xúc với những gì ông Bảo Đại còn để lại có liên quan đến sự kiện này. Theo tôi, cuốn phim ông trả lời phỏng vấn nhà sử học nổi tiếng của Pháp Fédéric Mittérand của đài truyền tình Pháp là đầy đủ và trung thực với ông nhất.

Tôi xin trích một số câu hỏi của nhà báo sử gia Fédéric Mittérand và câu trả lời của Bảo Đại (do kỹ sư Bùi Hữu Lân dịch qua Việt ngữ):

F.M: Và Ngài đã đi Hà Nội để gặp ông Hồ Chí Minh. Điều kỳ lạ là ông Hồ Chí Minh đối xử với Ngài với một sự cung kính đặc biệt?

Bảo Đại: Vâng, xin đừng quên rằng ông Hồ Chí Minh xuất thân từ một gia đình Nho giáo… Ông cấm những người xung quanh ông gọi tôi bằng đồng chí, bằng những tên gọi của giai cấp vô sản, ông luôn luôn gọi tôi là Ngài.

F.M: Ông Hồ Chí Minh mời Ngài làm Cố Vấn Tối Cao của chính phủ?

Bảo Đại: Vâng, lúc đó không một lý do gì để mà từ chối bởi vì mọi người Việt Nam đều theo ông Hồ. Điều chúng tôi muốn, là nước nhà phải được độc lập. Tôi muốn làm dân một nước độc lập hơn làm vua một nước nô lệ. Mọi người Việt Nam đều muốn ủng hộ chính phủ ấy để tranh thủ một nền độc lập thực sự.

F.M: Ngài đã ở gần ông Hồ Chí Minh, ông ấy đã cho Ngài cảm tưởng thế nào về ông ấy? Nay đã qua một thời gian dài, cảm tưởng ấy có thay đổi nhiều không?

Bảo Đại: Không, không thay đổi. Tôi luôn luôn xét ông Hồ Chí Minh ngoài cái tư tưởng cộng sản của ông ấy.

F.M: Nhưng đối với Ngài, ông Hồ cũng là một nhà ái quốc?

Bảo Đại: Đối với tôi, còn hơn thế nữa, đó là một người có tinh thần quốc gia. Ông là một người yêu nước (Cest pour moi en plus, cest un nationaliste. Il aimait son pays)

F.M: Trong cuốn sách của Ngài (cuốn Le Dragon d’Annam) không thấy có một lời buộc tội khắt khe nào đối với ông Hồ. Ngài quý trọng ông Hồ? Và cũng thế, quả là rất ngạc nhiên khi thấy ông Hồ không bao giờ công kích Ngài?

Bảo Đại: Không, không có lý do gì để tôi công kích ông ấy. Ban đầu, tôi còn ủng hộ ông ấy nữa. Cố gắng đưa nước nhà thoát khỏi chiến tranh, vì chúng ta đã khổ vì chiến tranh.

F.M: Lúc ấy Ngài đã biết gì về chủ nghĩa Cộng sản? Ngài đã nắm hết chủ nghĩa Cộng sản?

Bảo Đại: Không, tôi biết rất ít.

F.M: Trong khoảng thời gian hai năm ấy (1945-1946), Ngài đã ở bên cạnh ông Hồ, và Ngài đã giúp cho ông ta nhiều việc quan trọng. Nếu phải lập lại việc này hôm nay, Ngài cũng sẽ lập lại chăng? Ngày nay Ngài đánh giá việc này thế nào?

Bảo Đại: Còn tùy. Nếu là vì hạnh phúc của nhân dân tôi, tôi cũng sẽ làm vậy (Cà dépend. Si cest pour le bien de mon peuple, je le ferais).

Điểm lại bốn đoạn trích trên của người trong cuộc, của các nhân chứng lịch sử, của ngành an ninh chúng ta thấy dù ở trong hoàn cảnh nào vua Bảo Đại – Cố vấn Vĩnh Thụy – “Quốc trưởng” Bảo Đại – ông vua lưu vong sắp từ giã cuộc đời vẫn trước sau một lòng yêu kính Chủ tịch Hồ Chí Minh. Một người như ông Vĩnh Thụy – Bảo Đại mà còn yêu kính Bác đến thế, tôi nghĩ rằng còn biết bao tấm lòng yêu kính Bác của các nhân vật chính trị, trí thức, nhà văn hóa khác mà vì chiến tranh chúng ta chưa khám phá hết. Càng nghiên cứu về Bác càng thấy sự vĩ đại của Bác. “Mai sau dù có bao giờ” việc nghiên cứu về Bác Hồ vẫn luôn luôn còn có nhiều thông tin mới.

Gác Thọ Lộc, một ngày cuối thu 2003
Tổng thuật của Nguyễn Đắc Xuân – Nhà nghiên cứu Huế
Theo Lichsu.vn
Tâm Trang (st)

bqllang.gov.vn

Đổi mới – linh hồn của tư tưởng Hồ Chí Minh

Chủ tịch Hồ Chí Minh với bản di tích lịch sử. Ảnh: Tuấn Anh

Với chủ trương đổi mới, Đại hội lần thứ VI của Đảng ta đã có cống hiến to lớn, mang ý nghĩa lịch sử đối với Đảng, với dân, với nước. Đại hội tuyên bố: “Đối với nước ta, đổi mới đang là yêu cầu bức thiết của sự nghiệp cách mạng, là vấn đề có ý nghĩa sống còn”.

Đây quả là những chữ vàng sẽ mãi mãi khắc sâu trong tâm khảm của mỗi người dân Việt Nam. Thực tế cho thấy, mỗi khi Đảng ta trở về với tư tưởng Hồ Chí Minh trong những hoàn cảnh cách mạng gặp khó khăn, đất nước lại như từ chỗ tối bước sang chỗ sáng, từ ngõ cụt bước ra con đường lớn rộng thênh thang. Và công lao bất hủ của Đại hội VI là đã sáng suốt trở về với tư tưởng đổi mới của Hồ Chí Minh, đề xướng chủ trương đổi mới để Đảng ta lãnh đạo toàn Đảng, toàn dân và toàn quân đưa đất nước thoát khỏi tình trạng trì trệ, bế tắc và khủng hoảng kinh tế – xã hội đã xuất hiện từ cuối những năm 70, ngay sau khi tiến hành cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa theo nếp cũ, bằng những biện pháp hành chính, mệnh lệnh, chủ quan duy ý chí nhằm thực hiện việc quá độ trực tiếp lên CHXH trên phạm vi cả nước.

Nhìn vào quá trình hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh, chúng ta sẽ thấy rất rõ đó là một quá trình đổi mới liên tục trong nhận thức tư tưởng, cũng như trong hoạt động thực tiễn của Người. Có thể nói, Hồ Chí Minh là con người đổi mới, là một người đổi mới bẩm sinh, một thiên tài đổi mới. Ngay từ năm 1927, trong Đường cách mệnh, Người đã viết: “Cách mệnh là phá cái cũ đổi ra cái mới, phá cái xấu đổi ra cái tất”. Danh từ “đổi mới” là danh từ của Hồ Chí Minh, là danh từ mà Người đã nêu ra từ năm 1949 trong bài Dân vận bất hủ: “Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân”. Bốn năm sau, trong bài nói chuyện trong buổi khai mạc lớp chỉnh huấn cán bộ Đảng, dân, chính ở cơ quan trung ương, ngày 6/2/1953, Người đã đưa ra luận điểm bất diệt:

“Xã hội bây giờ ngày mót phát triển. Tư tưởng hành động cũng phát triển. Nên cứ giữ lấy cái kẹp giấy cũ không thay đổi là không đi đến đâu cả” (chúng tôi nhấn mạnh – N.H).

Và, nhiệm vụ đổi mới căn bản và toàn diện, “chống lại những gì cũ kỹ, hư hỏng, để tạo ra những cái mới mẻ tốt tươi” là nhiệm vụ mà Hồ Chí Minh đã xác định trong Di chúc của Người. Có thể nói, đổi mới chính là linh hồn của tư tưởng Hồ Chí Minh. Kết luận này được rút ra từ những sự kiện lịch sử.

Ngay từ lúc mới 13 tuổi, khi lần đầu được tiếp xúc với những từ Tự do – Bình đẳng – Bác ái trong tiếng Pháp, Người nảy ra ý nghĩ mới lạ, ý nghĩ mà lịch sử về sau đã chứng minh tính chất phi thường của nó – “muốn làm quen với nền văn minh Pháp, muốn tìm xem những gì ẩn giấu đằng sau những từ ấy”. Ý nghĩ này thể hiện tính ham hiểu biết, muốn tìm hiểu sự vật đến nơi đến chốn của Hồ Chí Minh. Đến khi 15 tuổi, Người đã nuôi chí đánh đuổi thực dân Pháp, giải phóng đồng bào. Người tham gia công tác bí mật, làm liên lạc. Người khâm phục những nhà yêu nước tiền bối Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám, Phan Chu Trinh và Phan Bội Châu, nhưng thấy rằng phải có cách làm khác với cách làm của các cụ. Trong khi các trí thức và thanh niên có tinh thần yêu nước đua nhau theo phái Đông du sang Nhật thì Người lại chọn con đường sang nước Pháp và các nước khác để xem họ làm như thế nào rồi trở về giúp đồng bào.

Trước khi đi theo Quốc tế cộng sản, Người chưa biết chiến lược, sách lược là gì, không rõ CHXH và chủ nghĩa cộng sản khác nhau thế nào, cũng chưa đọc một tác phẩm nào của Lênin, vậy mà khi cần phải có quyết định trong việc lựa chọn giữa Quốc tế II và Quốc tế III, Người đã nhạy bén chỉ dựa vào một tiêu chí duy nhất là Quốc tế nào ủng hộ các dân tộc thuộc địa, để đưa ra quyết định đúng đắn.

Trong khi chủ nghĩa Mác – Lênin và Quốc tế cộng sản đặc biệt nhấn mạnh đấu tranh giai cấp chống địa chủ, tư bản và coi việc chống chủ nghĩa xét lại, chủ nghĩa cải lương, chủ nghĩa dân tộc là nhiệm vụ hàng đầu, trong khi Quốc tế cộng sản có quan điểm cho rằng công cuộc giải phóng thuộc địa chỉ có thể thực hiện sau khi giai cấp vô sản ở chính quốc giành thắng lợi trong cách mạng vô sản, thì Người đã không như thường lệ, chỉ giản đơn phụ họa và chứng minh cho những quan điểm đó, mà đã khảng khái và dũng cảm nêu lên những quan điểm mới, khác hẳn. Trong Báo cáo về Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ, Người đã đưa ra chủ trương tiến hành khởi nghĩa vũ trang ở các nước Đông Dương. Ở đây, một là, Hồ Chí Minh đã xác định rõ con đường đấu tranh vũ trang mang tính quần chúng để giải phóng dân tộc, chứ không chờ đến sau khi “giai cấp vô sản giành được thắng lợi ở các nước tư bản tiên tiến” như Tuyên ngôn thành lập của Quốc tế cộng sản năm 1919 và Nghị quyết Đại hội lần thứ VI của Quốc tế cộng sản về sau (1928) đã xác định. Hai là, cuộc khởi nghĩa vũ trang có thể nổ ra trùng hợp với cuộc cách mạng vô sản Pháp, chứ không phải đợi sau khi cuộc cách mạng vô sản Pháp thắng lợi rồi mới tiến hành. Đây là tư duy đổi mới bước đầu của Hồ Chí Minh về cách mạng giải phóng dân tộc. Và, như chúng ta đều biết, về sau, khi đã cân nhắc, xem xét kỹ lưỡng mọi mặt, Hồ Chí Minh đã đạt đến sự thăng hoa trong tư tưởng: cách mạng giải phóng dân tộc có thể thành công trước cách mạng vô sản ở các nước tư bản chính quốc và giúp cho phong trào công nhân ở các nước chính quốc.

Những quan điểm đổi mới táo bạo và to lớn được viết trong Báo cáo trên thể hiện tinh thần đổi mới, tầm cao trí tuệ và khí phách anh hùng cách mạng của Hồ Chí Minh. Nó chỉ có thể là sản phẩm phi thường của một trí tuệ phi thường, một tư duy đổi mới phi thường. ở đây, xin phép được lưu ý ràng, Hồ Chí Minh đã viết báo cáo đó trong lần đầu tiên đến Mátxcơva vào năm 1924. Lúc đó, Người mới theo Lênin và Quốc tế cộng sản được 4 năm trời, và nhiều lắm cũng chỉ mới qua một lớp học ngắn ngày và có lẽ là ngẫu nhiên tại Trường Đại học phương Đông. Vậy mà, Người đã dũng cảm và trung thực, bất chấp mọi sự nguy hiểm về mặt chính trị có thể xảy ra đối với bản thân, viết ra những cảm nhận và suy nghĩ độc đáo hết sức khác thường của mình, xuất phát từ thực tiễn, lấy thực tiễn và lợi ích của đất nước làm thước đo chân lý duy nhất. Điều đáng lưu ý nữa là, văn phong của bản báo cáo là văn phong biện luận. Sau khi nêu lên những sự thật về tình trạng giai cấp ở Việt Nam, Người đã viết: “Điều đó, không thể chối cãi được”. (Sau này, trong Tuyên ngôn độc lập, nghĩa là 31 năm sau, Người lại dùng câu: “Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được” sau khi nêu lên những quyền con người được ghi trong Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mỹ và Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp năm 1791, để đi đến tuyên bố về quyền dân tộc chính đáng không thể phủ nhận của nhân dân Việt Nam).

Và, chúng ta không lấy làm lạ, từ những nhận thức phi thường ban đầu đó, về sau Hồ Chí Minh đã đi đến những quan điểm đổi mới hết sức phi thường, những kết luận hết sức phi thường trong việc đổi mới chiến lược, sách lược cách mạng phù hợp với điều kiện thực tế của Việt Nam là một nước thuộc địa nửa phong kiến. Có thể thấy, trong điều kiện giai cấp và quan hệ giai cấp như ở Việt Nam khi đó, trong điều kiện “công nhân có thể là 2% trong dân số, không được học hành” (theo báo cáo của Nguyễn Ái Quốc gửi Quốc tế cộng sản ngày 21/9/1923), có nghĩa là trong điều kiện giai cấp công nhân công xưởng mới ở thời kỳ manh nha hình thành và với thực trạng giai cấp và quan hệ giai cấp đó thì liệu có thể áp dụng học thuyết đấu tranh giai cấp, cách mạng vô sản và chuyên chính vô sản quá độ trực tiếp lên CHXH của chủ nghĩa Mác – Lênin được không, Nguyễn Ái Quốc đã dũng cảm nêu lên những nhận xét và quan điểm: “Cuộc đấu tranh giai cấp không diễn ra giống như ở phương Tây”, “chủ nghĩa dân tộc là động lực lớn của đất nước”, “xem xét lại chủ nghĩa Mác về cơ sở lịch sử của nó” và “chúng ta phải coi chừng”! Các dân tộc Viễn Đông có trải qua hai giai đoạn đầu (chế độ nô lệ, chế độ nông nô – N.H) không?”. Có thể nói, những nhận thức nêu lên trong bản báo cáo trên chính là ngọn nguồn tư tưởng của đường lối giương cao ngọn cờ dân tộc dân chủ ngay từ đầu và sự đổi mới chiến lược, sách lược bước đầu được xác định ở Hội nghị Trung ương VIII (khoá I), để rồi sau đó, được hoàn chỉnh ở Đại hội II của Đảng. Và, 29 năm sau, trong Thường thức chính trị, Hồ Chí Minh đã trực tiếp trả lời cho những vấn đề nêu trên với những nội dung hoàn toàn mới mẻ như sau: “Thời đại của chúng ta là thời đại mới, thời đại cách mạng thắng lợi…”. “Thời đại mới khiến cách mạng Việt Nam phải là cách mạng dân chủ mới”. Và, “tuỳ theo hoàn cảnh mà các dân tộc phát triển theo con đường khác nhau để đi đến CHXH.

Đối với Việt Nam là một nước đi lên CHXH từ xã hội phong kiến thuộc địa thì phải “kinh qua chế độ dân chủ mới, rồi tiến lên CHXH”. Đồng thời, Hồ Chí Minh đã nêu lên những đặc điểm về chính trị và kinh tế của chế độ dân chủ mới: sự lãnh đạo của Đảng, thực hiện “nhân dân dân chủ chuyên chính”, phát triển nền kinh tế 5 thành phần (quốc doanh, hợp tác xã, cá thể, tư bản tư nhân, tư bản Nhà nước, trong đó, kinh tế quốc doanh giữ vai trò lãnh đạo).

Rõ ràng, Báo cáo về Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ thực sự là một bản báo cáo hết sức phi thường. Nó thể hiện tính độc lập tự chủ, đổi mới trong tư duy, trong nhận thức lý luận và tính trung thực, thái độ tôn trọng chân lý, tôn trọng sự thật, tinh thần đồng cảm và khí phách cách mạng của Hồ Chí Minh. Nó báo hiệu sự hình thành, sự ra đời tất yếu của một hệ thống tư tưởng mới của Hồ Chí Minh. Ở đây, có thể nêu lên một số điểm mang tính khái quát trong hệ thống tư tưởng mới đó, để chúng ta cùng suy ngẫm:

Từ “dùng sức ta mà giải phóng cho ta” đến cách mạng giải phóng dân tộc có thể giành thắng lợi trước cách mạng vô sản ở chính quốc.

Từ “trở về trước, đi vào quần chúng… đưa họ ra đấu tranh giành tự do độc lập” đến “không có gì quý hơn độc lập tự do”.

Từ “chủ nghĩa dân tộc là động lực lớn của đất nước” đến cách mạng dân tộc dân chủ, Nhà nước dân chủ, “nước ta là nước dân chữ đến Đảng chỉ có thể là Đảng của một quốc gia.

Từ “thời đại mới là thời đại cách mạng thắng lợi” đến “cách mạng Việt Nam là cách mạng dân chủ mới”.

Từ “Đảng của nhân dân, Đảng của dân tộc” đến Mặt trận đại đoàn kết toàn dân, đại đoàn kết dân tộc.

Từ “quyền dân tộc của nhân dân Việt nam” đến Mặt trận quốc tế ủng hộ cách mạng Việt Nam.

Từ “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”, “nhân, nghĩa, trí, dũng, tín” đến “trăm điều phải có thần linh pháp quyền”.

Từ chiến lược, sách lược đánh thắng hai đế quốc to đến chiến lược đối ngoại hòa bình, làm bạn với tất cả các nước, không gây thù oán với một ai.

Từ “ngoại giao và kinh tế có ảnh hưởng lẫn nhau”, “nếu mình có một chương trình kinh tế có lợi cho người ngoại quốc, họ có thể giúp mình” đến thực hiện chính sách mở cửa”, mở rộng “lưu thông trong ngoài” để phát triển nền kinh tế “theo hướng chủ nghĩa xã hội” của đất nước.

Từ đấu tranh vũ trang đến đường lối ứng xử hiện đại: cùng giữ gìn hoà bình, cùng tôn trọng độc lập chủ quyền của nhau, cùng đối thoại bình đẳng, cùng hiểu biết nhau, cùng thành thực tin cậy nhau, cùng nhân nhượng, cùng thỏa thuận và hợp tác cũng có lợi.

Từ đổi mới nhận thức về CHXH đến con đường định hướng XHCN thích hợp với điều kiện thực tế của Việt Nam.

Từ “toàn dân kháng chiến, toàn diện kháng chiến, trường kỳ kháng chiến” đến “dựa vào lực lượng vĩ đại của toàn dân”, tiến hành đổi mới “chống lại những gì đã cũ kỹ, hư hỏng, để tạo ra những cái mới mẻ, tốt tươi”, tiến tới xây dựng và thực hiện thành công CHXH ở nước ta.

Nhìn vào những quan điểm mới mang tính hệ thống trong tư tưởng Hồ Chí Minh, chúng ta thấy, chúng xứng đáng được mệnh đanh là một học thuyết mới – học thuyết Hồ Chí Minh. Chúng ta không kìm được tự hỏi: Chúng sản sinh như thế nào? Trên cơ sở nào? Trong một bài viết về tư tưởng Hồ Chí Minh, nhà cách mạng lão thành, Giáo sư sử học Trần Văn Giàu đã có lý khi đề cập đến phương pháp luận, phương pháp tư duy Hồ Chí Minh. Đây chính là cơ sở dẫn đến sự hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh. Ông viết: “Suốt đời mình, Cụ Hồ có tính quen là quan sát thực tế… Sát thực tế là tính Cụ Hồ”, “óc phân tích tổng hợp của Cụ Hồ rất sắc sảo”. Và, “Cụ Hồ là người Việt Nam đầu tiên đề cao tầm quan trọng của lý luận. Theo Cụ Hồ, lý luận đối với một chính đảng quan trọng như linh hồn đối với con người. Song người ta thấy Cụ Hồ sau khi đã vạch ra tổng lộ tuyên thì chú trọng đặc biệt đến thực tiễn. Thực tiễn có thể chứng minh hoặc bác bỏ, hoặc đòi sửa đổi chủ trương mang tính lý luận. Thấy sai trái hay thiếu sót thì can đảm sửa, bổ sung, hay bỏ đi, đến đây thì thực tiễn là ưu tiên. Cụ Hồ là người dám nhìn thẳng vào sự thật. Cụ xem thực tiễn là trọng yếu số một. Cụ không thích lý luận tư biện cũng như không thích thực tiễn mù quáng”.

Đúng vậy. Chúng ta có thể tìm thấy câu trả lời như trên trong các tác phẩm của Hồ Chí Minh: nói theo tiếng nói của thực tiễn trên cơ sở phép biện chứng duy vật và lấy lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân làm thước đo chân lý duy nhất. Trong thư từ biệt gửi các bạn cùng hoạt động ở Pháp trước khi rời Paris năm 1923, Người viết:

“Chúng ta phải làm gì? Chúng ta không thể đặt vấn đề ấy một cách máy móc. Điều đó tuỳ hoàn cảnh của mỗi dân tộc chúng ta. Đối với tôi, câu trả lời đã rõ ràng: trở về nước, đi vào quần chúng, thức tỉnh họ, đoàn kết họ, huấn luyện họ, đưa họ ra đấu tranh giành tự do độc lập”.

30 năm sau, Người viết rất rõ trong Thường thức chính trị: “Tất cả những người lao động trên thế giới đều có một mục đích chung là thoát khỏi áp bức bóc lột, được sống sung sướng tự do, tức là thực hiện chế độ cộng sản. Nhưng để đi đến mục đích ấy, mỗi nước phải tuỳ theo điều kiện của mình mà tiến dần”…

“Tính chất thuộc địa và phong kiến của xã lội cũ Việt Nam khiến cách mạng Việt Nam phải chia làm hai bước. Bước thứ nhất là đánh đổ đế quốc, đánh đổ củ phong kiến, thực hiện “người cày có ruộng”, xây dựng chính trị và kinh tế dân chủ mới. Trong giai đoạn này, phải bảo vệ tư sản dân tộc, vì họ cũng chống đế quốc, chống phong kiến và họ là một lực lượng để phát triển công nghệ, nông nghiệp và thương nghiệp. Bước thứ hai là tiến lên CHXH, tức là giai đoạn đầu của chủ nghĩa cộng sản”.

Thật rõ ràng, không thể đặt vấn đề một cách máy móc, giáo điều, Việt Nam nhất định sẽ đi đến CHXH nhưng từ điểm xuất phát là xã hội thuộc của và phong kiến, nên phải theo một con đường riêng thích hợp, mọi chủ trương chính sách đều phải xuất phát từ hoàn cảnh thực tế, cụ thể của đất nước và mỗi khi tình hình biến đối, có điều kiện mới nảy sinh thì phải kịp thời có sự thay đổi trong nhận thức tư tưởng và trong hành động, kể cả trong chiến lược, sách lược cách mạng, vận dụng linh hoạt phép biện chứng duy vật, lấy lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân làm thước đo chân lý duy nhất, coi lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân trên hết. Đó là những cơ sở khiến cho Hồ Chí Minh, với trí tuệ phi thường của mình, sáng tạo nên một hệ thống những quan điểm mới về chiến lược, sách lược cách mạng phù hợp với điều kiện thực tế của Việt Nam và tính chất của thời đại mới, đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Chúng ta không thể không chú ý, khi nói đến ưu điểm của chủ nghĩa Mác, Hồ Chí Minh chỉ nêu “phương pháp làm việc biện chứng” thôi. Đương nhiên, điều này trước hết có nghĩa là phép biện chứng duy vật vẫn giữ nguyên giá trị cho đến ngày nay. Những gì trái với nó đều không có cơ sở để tồn tại. Và, đối với chúng ta, việc vận dụng nó chỉ có thể đem lại hiệu quả khi thực sự xuất phát từ thực tế, không thoát ty điều kiện vật chất thực tế và lấy lợi ích ủa Tổ quốc, của nhân dân làm thước đo chân lý duy nhất. Xét đến cùng, theo học thuyết Hồ Chí Minh, lợi ích của tổ quốc, của nhân dân mới là “cái bất biến”, tất cả mọi cái khác, kể cả những quan điểm, tư tưởng, nếu muốn duy trì địa vị là chân lý hoặc trở thành chân lý mới, đều phải phù hợp với “cái bất biến” đó. Những gì trái với nó đều không phải là chân lý, càng không phải là chân lý mới. Người nói: “Chân lý là cái gì có lợi cho Tổ quốc, cho nhân dân. Cái gì trái với lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân tức không phải chân lý”.

Đương nhiên, việc phát hiện và nêu lên những quan điểm mới, những chân lý mới là một việc rất không giản đơn và dễ dàng. Những thế lực ra đời trên cơ sở những quan điểm cũ và được lợi (về chính trị, vật chất và tinh thần) trong việc duy trì những quan điểm cũ sẽ tìm trăm phương nghìn kế chống lại bất kỳ một quan điểm mới nào mà họ cho là có thể làm tổn hại lợi ích hoặc tình cảm riêng tư của họ. Cho nên, một người đám nêu lên những quan điểm mới, nhất là những quan điểm mới trong lĩnh vực khoa học xã hội, thực sự là một người “trí, nhân, dũng”. Và, Hồ Chí Minh chính là một con người “trí, nhân, dũng” vĩ đại.

Nhìn chung, có thể thấy hệ thống những quan điểm mới của Hồ Chí Minh đều là sản phẩm của sự kế thừa biện chứng và sự phát triển nâng cao về chất của Người đối với những giá trị tinh thần và tư tưởng của dân tộc Việt Nam, những quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin vẫn giữ được giá trị trong thời đại mới và những giá trị quý báu trong kho tàng tinh thần và tư tưởng của phương Đông, phương Tây, của toàn nhân loại. Đặc biệt, Người đã vận dụng tài tình hai quy luật của phép biện chứng duy vật, hai quy luật quy định tiến trình vận động và phát triển của xã hội: quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và quy luật cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng. Đồng thời, Người còn kết hợp, vận dụng một cách linh loạt và tài tình một quy luật khác nữa, đó là quy luật đổi mới công bằng. Luận điểm mang tính tiên tri đã nuêu của Người phản ánh yêu cầu tổng quát, mang tính tất yếu của quy luật này: nếu cứ duy trì phương pháp tư duy cũ, tư tưởng và quan niệm cũ và cách làm (bao gồm cả chiến lược, sách lược) cũ, là không đi đến đâu cả, có nghĩa là đi vào chỗ bế tắc, đi vào ngõ cụt. Thực ra, quy luật này cũng là một quy luật vận động của xã hội loài người. Con người thường vẫn vận dụng nó, nhưng không nhận thức ra nó. Trong thời đại mới ngày nay, sự hoạt động của nó trở nên hết sức sôi động, mạnh mẽ và nếu con người biết vận đụng nó một cách đúng đắn thì có thể đạt được những kết quả khả quan trong sự phát triển. Quy luật này yêu cầu: thứ nhất, tuỳ theo sự thay đổi của điều kiện, hoàn cảnh và tình hình thực tế ở trong nước và thế giới mà tiến hành đổi mới trong tư duy, nhận thức và hành động thực tiễn, thử hai, đổi mới phải toàn diện, đồng bộ, triệt để và nhất quán, bảo đảm duy trì được sự cân bằng giữa các mặt, các bộ phận cấu thành hữu cơ của chỉnh thể từ vĩ mô đến vi mô, từ đó duy trì được sự phát triển với tốc độ cao và bền vững trong sự ổn định của chỉnh thể, thử ba, đổi mới phải năng động, kịp thời, chắc chắn, tương ứng với đòi hỏi đổi mới của thực tiễn.

Quy luật này cũng là một quy luật của phép biện chứng. Trong thời đại mới ngày nay, cuộc cách mạng khoa học và công nghệ phát triển như vũ bão, làm cho lực lượng sản xuất phát triển mạnh mẽ và nhanh chóng, xã hội ngày càng phát triển mạnh mẽ và nhanh chóng. Nó đặt ra vấn đề “Đổi mới hay là chết ?” trước tất cả các nước, nhất là các nước đang phát triển (ở những nước này, nếu đưa ra khẩu hiệu “Chủ nghĩa xã hội hay là chết” thì như Ph.Ăngghen đã nói trong thư gửi Iôxíp Vâyđơmaiơ, ngày 12/4/ 1858, sẽ là “quá sớm”). Muốn tránh tụt hậu, nhanh chóng rút ngắn khoảng cách và đuổi kịp các nước phát triển tiên tiến, muốn tránh không rơi vào tình trạng trì trệ, khủng hoảng và bế tắc, muốn duy trì củ sự phát triển với tốc độ cao và bền vững, hạ thì phải vận dụng có hiệu quả quy luật này đi đôi với việc vận dụng đúng đắn quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và quy luật cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng, tuỳ theo sự thay đổi của điều kiện và tình hình thực tế ở trong và ngoài nước mà kịp thời tiến hành đổi mới năng động, thực hiện được sự cân bằng động trong quá trình phát triển. Sự cân bằng động này dựa trên cơ sở sự phát triển không ngừng của lực lượng sản xuất, là sản phẩm của sự phát triển không ngừng của lực lượng sản xuất. Trong điều kiện phát triển bình thường, nó có thể đạt được thông qua sự đổi mới mang tính điều chỉnh cục bộ. Còn trong tình trạng khủng hoảng toàn cục thì nó đòi hỏi phải tiến hành đổi mới căn bản, toàn điện và đồng bộ. Nhìn chung, nó bao hàm một chuỗi bất tận những sự cân bằng tĩnh tương đối của sự vật, ở đây là xã hội. Theo đà phát triển của lực lượng sản xuất, những nhân tố phá vỡ sự cân bằng tĩnh tương đối dần dần sản sinh và tích tụ, đến một trình độ nào đó sẽ đòi hỏi phải thiết lập một sự cân bằng tĩnh tương đối mới, và đây chính là lúc con người phải kịp thời nhận thức và hành động, tiến hành việc đổi mới, nhằm tạo nên một sự cân bằng tĩnh tương đối mới ở trình độ cao hơn cho sự vật, bảo đảm duy trì được sự phát riển liên tục, không để cho sự vật rơi vào tình trạng khủng hoảng, bế tắc và đổ vỡ. Đây chính là mục đích của việc nhận thức và vận dụng quy luật đổi mới cân bằng động theo tư tưởng đổi mới của Hồ Chí Minh, gắn liền với việc nhận thức và vận dụng quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và quy luật cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng theo quan điểm duy vật biện chứng khi áp dụng vào việc nghiên cứu xã hội của C.Mác và Ph.Ăngghen.

Nhìn lại thực tế đổi mới trong hơn 15 năm qua, chúng ta thấy, từ những thành quả bước đầu rất đáng khích lệ đến những vấn đề còn cần được tiếp tục đổi mới, tất cả đều nói lên một điều mà Cố vấn Phạm Văn Đồng đã nêu trong Văn hóa và đổi mới: đổi mới là quy luật. Càng suy ngẫm, chúng ta càng thấy ý nghĩa sâu xa của luận điểm nêu trên của Hồ Chí Minh. Quả vậy, đúng như thực tế ta cho thấy, trong thời đại mới ngày một phát triển ngày nay, “nếu cứ giữ cái nếp cũ”, những cái đã trở nên lỗi thời, lạc hậu trong tư duy và hành động, không đổi mới là không có lối ra, là đi vào ngõ cụt, là đổ vỡ. Điều này thích hợp với mỗi quốc gia, mỗi doanh nghiệp và với cả mỗi cá nhân con người.

Chúng ta cần có sự suy ngẫm và nhận thức đầy đủ đối với luận điểm thể hiện chân lý và tính quy luật của thời đại mới nêu trên của Hồ Chí Minh. Thứ nhất, phải nhận thức và vận đụng cho tốt quy luật đổi mới cân bằng động nêu trên. Thứ hai, phải đổi mới căn bản, toàn điện và đồng bộ đối với “cái nếp cũ” nói chung cũng như đối với “cái nếp cũ” cụ thể trong mỗi lĩnh vực của đời sống xã hội. Chúng ta không chỉ phải nghiên cứu sự đổi mới “cái nếp cũ” trong tư tưởng và hành động của Hồ Chí Minh trong lĩnh vực xây dựng chiến lược, sách lược cách mạng, mà còn phải nghiên cứu những tư tưởng đổi mới của Người đối với “cái nếp cũ” trong tất cả các lĩnh vực của cuộc sống: nếp nhà, nếp làng, nếp nước, nếp tu thân – lối làm người, nếp tư duy – lối suy nghĩ, nếp hành động – lối làm việc, nếp diễn đạt – lối viết lối nói, nếp giao tiếp – lối ứng xử, nếp sinh hoạt – lối sống… Chắc chắn, tư tưởng đổi mới của Hồ Chí Minh trong các lĩnh vực này cũng hết sức độc đáo, đặc sắc, sáng ngời chân – thiện – mỹ. Nghiên cứu bộ phận tư tưởng này của Hồ Chí Minh cũng sẽ giúp chúng ta giải quyết tất mối quan hệ giữa cái quá khứ, cái hiện tại và cái tương lai. ở đây, chúng tôi xin phép được nêu lên một nhận xét chung là: con người bao giờ cũng sinh ra trong một hoàn cảnh mà trong đó, đã có sẵn “cái nếp cũ”, trong đó bao gồm cả những cái vốn là truyền thống nhưng nay đã trở nên lỗi thời, lạc hậu, được sản sinh và tồn tại từ trước trong quá khứ. Con người được thừa hướng những mặt tốt đẹp do quá khứ để lại, nhưng cũng phải gánh chịu những mặt tiêu cực của những cái cũ kỹ, lạc hậu, lỗi thời của quá khứ trong “cái nếp cũ” đó. Vì thế, con người bao giờ cũng đứng trước một nhiệm vụ kép, một mặt phải kế thừa, nâng cao và phát huy những cái tất đẹp, những cái vẫn phù hợp hoặc thích ứng được với cuộc sống hiện tại, mặt khác, phải khắc phục hoặc uốn nắn những cái cổ hủ, lạc hậu và những cái đã trở nên lỗi thời trước cuộc sống thực tế hiện tại, nói chung là phải khắc phục “cái nếp cũ” của quá khứ để lại kể cả những tập quán, quan niệm, thiết chế, hình thức truyền thống đã trở nên lỗi thời, lạc hậu. Muốn hoàn thành tốt trách nhiệm kép này, con người phải tiến hành đổi mới đối với “cái nếp cũ” trong tất cả các lĩnh vực, trước hết là cái nếp cũ trong chiến lược, sách lược cách mạng, bởi nhìn chung, đây là nhân tố quyết định chiều hướng và tính chất của sự đổi mới “cái nếp cũ” trong các lĩnh vực khác, sau đó, phải tiến hành sự đổi mới tương ứng “cái nếp cũ” ấy trong tất cả các lĩnh vực khác còn lại, nhất là trong lĩnh vực triển khai thực hiện cụ thể chiến lược, sách lược cách mạng đã được đổi mới.

Đương nhiên, con người không thể phủ nhận, nhất là không được chống lại quá khứ. Bởi vì, như thế tức là tự phủ nhận, là tự chống lại chính mình. Nhưng mà, vì lợi ích hiện tại và tương lai của mình, con người cũng không nên để mình trở thành tù nhân, trở thành nô lệ của quá khứ, nhất là không được để mình trở thành tù nhân, trở thành nô lệ của “cái nếp cũ” do quá khứ để lại, là “cái nếp” đã trở nên lỗi thời, không còn phù hợp với thực tế hiện tại đã thay đổi và còn tiếp tục thay đổi. Trong khi kế thừa, nâng cao và phát huy những cái tốt đẹp của quá khứ để lại, một mặt, con người cần phải tỉnh táo, không tự đánh mất mình trong cái vinh quang có sẵn, mặt khác, phải biết để cho những cái lạc lậu, lỗi thời – “cái nếp cũ” nằm yên trong quá khứ, không để mình bị chúng trói buộc chân tay, và hơn nửa, phải biết lấy chúng làm bài học lịch sử cho việc đổi mới hiện tại, chuẩn bị tất cho tương lai.

Trở lại một cách toàn diện và triệt để với hệ thống tư tưởng đổi mới của Hồ Chí Minh, với học thuyết Hồ Chí Minh đó là cơ sở, là điều kiện, là tiền đề cho việc đưa đất nước phát triển thành công theo định hướng xã hội chủ nghĩa, từng bước thực hiện dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, tiến nhanh đến mục tiêu CHXH.

Theo Tạp chí Triết học
Thu Hiền (st)

bqllang.gov.vn

Dân có sức mạnh hơn cả sông núi nếu ta biết dựa vào dân thì sẽ thành công

Một lần bác Hồ đi thăm nhân dân khu Hồng Quảng bị bão lụt. Các đồng chí lãnh đạo báo cáo việc khắc phục hậu quả chậm, gặp nhiều khó khăn, với lý do: Dân ở đây chậm giác ngộ, không hợp tác tốt với lực lượng của Trung ương về ứng cứu. Nghe các đồng chí lãnh đạo báo cáo xong, Bác không nói gì. Nhưng sau đó, Bác gặp riêng các đồng chí lãnh đạo và kể cho các đồng chí này nghe một câu chuyện:

– Trong thời kháng chiến chống Pháp, ở Thái Nguyên có hai đơn vị bộ đội về đóng quân. Đơn vị thứ nhất bị dân phản ảnh, kêu ca; tình hình hết sức khó khăn, bộ đội không mua được gạo, thịt và các nhu yếu phẩm trong dân. Đơn vị thứ hai đến sau, cũng đóng quân tại chính địa điểm này, nhưng hoàn toàn không có hiện tượng đó. Tình quân dân rất thắm thiết, nhân dân còn mang măng, chuối, trứng gà đến tặng đơn vị. Vấn đề đặt ra là: Vì sao đơn vị trước lại bị dân phản ảnh, kêu ca?

– Bác giải thích: Tại vì đơn vị trước là “quan” rồi, nên không chịu làm công tác dân vận, cái gì cũng bỏ tiền túi ra mua, khi mua còn bị dân làm khó, không chịu bán. Đơn vị sau biết cách tổ chức tốt công tác dân vận nên được nhân dân ủng hộ, quí mến, chăm lo như người thân trong gia đình. Rồi Bác hỏi lại các đồng chí lãnh đạo: “Vậy có phải dân ở đó kém giác ngộ và xấu không? Rồi Bác nhấn mạnh: “Tình hình ở đây cũng vậy thôi, các chú phải xem lại có phải dân chậm giác ngộ, hay tại các chú chưa làm tốt công tác dân vận?”

Trong một lần khác, tại lớp học chính trị ở hang Kéo Quảng (Nguyên Bình), do Bác Hồ trực tiếp phụ trách. Hồi bấy giờ, Hítle đang ồ ạt tiến công Liên Xô. Quân phát xít Đức đã chiếm gần hết Ucraina và chỉ còn cách Thủ đô Matxcơva khoản 30 kilômet. Nhiều người lo lắng hỏi: “Thưa lão đồng chí, phát xít Đức mạnh như thế, liệu Liên Xô có thể bị mất không ạ”?. Bác nói: “Việc gì mà phải lo. Liên Xô đã chuẩn bị từ lâu. Đất nước này rộng lắm. Các nhà máy ở Thủ đô đều đã dời vào dãy núi Uran cách xa hàng ngàn cây số. Nếu quân đội của Hítle chiếm đóng những vùng gần Thủ đô thì Liên Xô sẽ rút về phía Uran và tiếp tục kháng chiến. Đánh giặc phải có căn cứ địa chứ”.

Nghe nói đến căn cứ địa, có người hỏi: “Thưa lão đồng chí, ở miền núi thì lấy núi, lấy sông làm căn cứ địa, thế còn ở đồng bằng không có địa thế hiểm trở thì làm thế nào ạ”?

Bác cười bảo: “Có núi thì dựa vào núi, có sông thì dựa vào sông, không có núi, có sông thì dựa vào người dân ở đó. Rồi Bác kể: Ông cha ta bao đời đánh giặc, nhất là trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên, kẻ địch mạnh đến nỗi hầu hết các nước đều phải chịu thua. Nhưng khi chúng kéo quân vào nước ta, thì cả ba lần đều bị thất bại. Đó là vì Triều Trần biết lấy dân làm sông, làm núi. Các chú có biết trong chữ Hán có chữ “nhân sơn, nhân hải”, có nghĩa là “núi người, biển người” không? Ở đâu có dân là ở đó có núi, có sông, có biển. Dân có sức mạnh hơn cả sông núi. Nếu ta biết dựa vào dân thì sẽ thành công.

Từ hai câu chuyện trên, chúng ta nhận thức được rằng, tư tưởng, đạo đức của Bác Hồ thấm nhuần một chân lý sâu sắc: “Dễ trăm lần không dân cũng chịu. Khó vạn lần dân liệu cũng xong”. Bài học “dựa vào dân” của Bác nêu ra, làm cho mọi người chúng ta, nhất là đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức phải suy nghĩ, nghiên cứu cho thật kỹ, thật sâu.

Trong quan hệ, liên hệ công tác, làm việc với nhân dân, trước hết phải hiểu rằng mình là người của Đảng, của Nhà nước, của đoàn thể cử ra làm việc với mục đích là phục vụ thật tốt những nhu cầu, yêu cầu chính đáng, hợp pháp của mỗi một người dân; đôi khi trong quá trình làm việc, công tác, có thể sẽ gặp những người dân khó tính, bắt bẻ này nọ.

Trong trường hợp có những cán bộ, công chức, viên chức, người thừa hành công vụ khó chịu. Song, như Bác Hồ nói, chúng ta phải toàn tâm, toàn ý phục vụ nhân dân. Bởi vì khi làm nhiệm vụ là chúng ta thay mặt Đảng, Nhà nước, đoàn thể để làm chứ không phải với tư cách cá nhân của mình mà làm việc.

Đó là cốt lõi của câu nói mà Bác Hồ luôn nhắc nhỡ đội ngũ cán bộ, công chức: “Làm cách mạng là phải dĩ công vi thượng”. Dĩ công vi thượng là cán bộ, đảng viên phải đặt lợi ích chung lên trên hết, tất cả vì nước vì dân, đặt lợi ích của dân, của nước, của Ðảng lên trên hết, đem lòng chí công vô tư mà đối xử với người, với việc, không mảy may có chút chủ nghĩa cá nhân. Dĩ công vi thượng là cốt cách người cách mạng. Nếu ai không làm được điều này thì không thể trở thành người cách mạng, người cán bộ, đảng viên, đoàn viên chân chính. Lời dạy của Bác thật là chí nghĩa, chí tình với dân, với nước, với đồng bào, đồng chí chúng ta.

Theo http://www.ubmttq.hochiminhcity.gov.vn
Anh Tú (st)

bqllang.gov.vn

“Người bạn Pháp của Việt Nam” kể chuyện Hồ Chí Minh

Chủ tịch Hồ Chí Minh bế con gái đỡ đầu Elizabeth. Bên cạnh là bà Lucie Aubrac. Ảnh tư liệu

“Khi Người lưu lại gia đình tôi, nhiều người bạn hỏi phải chăng Hồ Chí Minh đến ở nhà tôi để giải trí? Không phải vậy, Người ở đó để tranh thủ thời gian tìm hiểu về đời sống người dân Pháp”, ông Raymond Aubrac nhớ lại.

Nhân dịp 120 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, tháng 5/2010, ông Aubrac đã cùng con gái Elisabeth trở lại thăm Việt Nam. Đã 96 tuổi, nhưng hễ nhắc đến Chủ tịch Hồ Chí Minh, ông Raymond Aubrac lại trở nên phấn chấn lạ thường. “Tôi có cơ may được gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh là nhờ vào cuộc kháng chiến chống phát xít Đức của nhân dân Pháp”, ông chậm rãi mở đầu câu chuyện.

Ông kể, giữa năm 1946, sau cuộc đàm phán với Pháp không có kết quả, nhận lời mời của Chính phủ Pháp, Hồ Chí Minh đã sang thăm Pháp với danh nghĩa Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Cũng thời gian này ở Pháp có Hội nghị Fontainebleau. Đoàn Việt Nam tham dự do Thủ tướng Phạm Văn Đồng làm Trưởng đoàn. Chủ tịch Hồ Chí Minh lúc đó cũng ở Paris, nhưng không tham gia Hội nghị. Sau khi hội nghị kết thúc, Đoàn Việt Nam về nước, còn Người ở lại để cùng với Marius Moutet, Bộ trưởng Bộ Hải ngoại, đại diện Chính phủ Pháp ký bản Tạm ước với hy vọng cứu vãn hoà bình.

Ngày 27/7/1946, Việt kiều ở Pháp tổ chức tiệc chiêu đãi tại Vườn Hồng Bagatelle ở Paris để chào mừng Chủ tịch. Ông Raymond Aubrac cũng có mặt trong buổi chiêu đãi. Trò chuyện trong buổi gặp gỡ đầu tiên, “người bạn Pháp” cảm nhận và chia sẻ sự gắn kết gần gũi về lý tưởng đấu tranh cách mạng với Hồ Chí Minh.

“Đó là mối quan hệ giữa cuộc kháng chiến của lực lượng yêu nước Pháp và sự nghiệp cách mạng của nhân dân Việt Nam”, ông Raymond Aubrac kể lại. Ngay khi đó, ông đã nảy ý định mời Chủ tịch Hồ Chí Minh đến ở nhà riêng của mình ở Soisy-sous-Montmorency, ngoại ô Paris, dù Chính phủ Pháp dành cho Người một tầng trong ngôi nhà lớn ở gần Khải hoàn môn.

Ông Aubrac kể, khi ông làm đại diện Chính phủ Pháp tại Marseille năm 1944-1945, ở đó có rất nhiều lính thợ Việt Nam được Chính phủ Pháp tuyển mộ sang Pháp từ năm 1939 để thay thế cho thanh niên Pháp nhập ngũ. Phát hiện tại các trại này anh em bị côn đồ đàn áp, ông đã giải tán Ban chỉ huy, thay bằng những người tốt và cho anh em tự bầu ra một Ban tư vấn bên cạnh Ban chỉ huy. Từ đó anh em biết ơn ông và năm nào đến dịp lễ Tết đều mời ông dự. “Có lẽ vì thế mà tôi được mời dự cuộc chiêu đãi ở Bagatelle và được giới thiệu với Chủ tịch Hồ Chí Minh. Và ngày hôm đó đã đánh dấu một bước ngoặt trong cuộc đời tôi”, ông Aubrac nói. 6 tuần Chủ tịch Hồ Chí Minh ở nhà ông là khoảng thời gian đáng nhớ nhất với gia đình ông Aubrac. Lúc đó gia đình ông Aubrac có hai vợ chồng, hai con nhỏ, mẹ vợ và một người giúp việc.

“Khi Người lưu lại gia đình tôi, nhiều người bạn Pháp hỏi phải chăng Hồ Chí Minh đến ở nhà tôi để giải trí. Không phải vậy, Người ở đó để tranh thủ thời gian tìm hiểu về đời sống của người dân Pháp, hoàn cảnh nước Pháp… Chủ tịch nói chuyện với mẹ tôi, qua đó so sánh với điều kiện sống của dân Việt Nam”, ông Aubrac nhớ lại.

Mỗi buổi sáng, người nhà ông Aubrac mang đến cho Bác sách báo tiếng Pháp, tiếng Anh, Đức, Nga… Bác thường đọc báo ngay trên thảm cỏ hàng giờ liền. Chính phủ Pháp dành cho Bác một tầng trong một ngôi nhà lớn ở gần Khải hoàn môn, nhưng Bác thường không vào Paris tiếp khách, mà mời về nhà ông Aubrac. Ở đây Bác tiếp và chiêu đãi nhiều nhân vật thuộc các khuynh hướng chính trị khác nhau, các nhà văn, nhà báo…Ông kể lại rằng, ngày 31/7/1946, nhân ngày sinh của ông, Bác đã tặng ông một bức tranh của họa sĩ Vũ Cao Đàm, một trí thức Việt kiều yêu nước. Bức tranh tả một bà mẹ mới sinh con, đang vươn cánh tay dài với những ngón tay mảnh dẻ vuốt đầu cháu bé. Ít lâu sau, vợ ông sinh người con gái thứ ba, Elizabeth, Người đã đến nhà hộ sinh thăm, tặng hoa và nhận là người đỡ đầu. “Đó là ngày 15/8/1946. Từ đó trở đi, cả trong thời gian chiến tranh, chúng tôi luôn nhận được một món quà hay một cử chỉ nào đó của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi cho con gái tôi”, ông Aubrac bồi hồi.

9 năm sau kể từ năm 1946, ông Aubrac mới có cơ hội gặp lại Chủ tịch Hồ Chí Minh. Năm 1955 khi công tác tại Bắc Kinh, ông Aubrac vô tình đọc được trên tờ báo Bắc Kinh bằng tiếng Anh dòng chữ rất to “Chào đón Chủ tịch Hồ Chí Minh đến thăm nước CHND Trung Hoa”. Ngay lập tức, ông gọi điện đến Đại sứ quán Việt Nam tại Trung Quốc nhờ gửi đến Chủ tịch Hồ Chí Minh lời chào của người bạn sau 9 năm chưa gặp lại. 15 phút sau, điện thoại đổ chuông, một người nói với ông “Chủ tịch Hồ Chí Minh mời ông 6 giờ sáng mai đến ăn sáng”.

Ông Raymond Aubrac (phải) nhận được tình cảm nồng nhiệt từ những người bạn Việt Nam. Trong ảnh, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng thân mật bắt tay và trò chuyện với ông bên lề Hội thảo quốc tế Di sản Hồ Chí Minh giữa tháng 5. Ảnh: Nguyễn Hưng.

Sáng hôm sau, lái xe đón ông đến gặp Bác Hồ. Vừa gặp, Chủ tịch Hồ Chí Minh ôm hôn ông và hỏi thăm tình hình gia đình, các con của ông Aubrac. Khi biết ông Aubrac đến Bắc Kinh để đàm phán về một hiệp định thương mại Pháp – Trung, Chủ tịch Hồ Chí Minh đề nghị ông giúp đỡ trong việc đàm phán hiệp định thương mại đầu tiên giữa Pháp và Việt Nam.

“Hồ Chủ tịch nói nếu như tôi ở Hà Nội thì có thể giúp Việt Nam được việc này vì hai phái đoàn Pháp – Việt đều biết tôi. Tôi đã trả lời rất vui nếu được giúp nối lại cuộc đàm phán này. Ngay sau đó tôi sang Hà Nội”, ông Aubrac kể.

Ông Aubrac đã vượt quãng đường dài 5 ngày 4 đêm từ Bắc Kinh qua cửa khẩu Lạng Sơn bằng tàu hỏa đến Việt Nam lần đầu tiên. Đến Hà Nội, ông Aubrac đã gặp ông Phạm Văn Đồng và đại diện đoàn Pháp. Trong vòng 5 phút sau khi ông Aubrac đưa ra ý kiến trọng tài về cuộc đàm phán này, hai bên đã ký Hiệp định thương mại đầu tiên. Sau đó, ông lại bắt tàu hỏa từ Lạng Sơn về Bắc Kinh. “Thế là tôi đi mất 10 ngày, 8 đêm chỉ để làm việc 5 phút”, ông nói vui khi nhớ lại. Năm 1967 cuộc chiến tranh chống Mỹ của Việt Nam đang ở giai đoạn khốc liệt. Dư luận thế giới bày tỏ sự lo lắng, trong số đó có Pugwash, Tổ chức chống chiến tranh hạt nhân gồm nhiều nhà khoa học nổi tiếng thế giới trong lĩnh vực chế tạo bom nguyên tử. Hội nghị ở Paris năm đó có bàn về vấn đề Việt Nam và nhất trí cử hai nhà khoa học Pháp làm “sứ giả” giữa Washington và Hà Nội. Mục tiêu là tiến tới sự gặp gỡ giữa người đại diện có thẩm quyền của hai Chính phủ để bàn về việc ngừng leo thang chiến tranh. Khi đó, ông Aubrac đang làm việc cho Tổ chức Nông lương của Liên hợp quốc (FAO) ở Rome (Italy). Ông nhận được yêu cầu trở về Pháp và cùng giáo sư người Pháp Herbert Marcovich thực hiện nhiệm vụ này. Hai ông phải dừng chân tại Phnom Penh (Campuchia) để xin visa vào Hà Nội vì khi đó Việt Nam chưa có đại diện ngoại giao ở châu Âu.

Sau khi tới Hà Nội, ông đã tới nhà sàn gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh. Vừa gặp, Chủ tịch Hồ Chí Minh hỏi thăm bà Lucie Aubrac và các cháu, nhất là Elisabeth. Sau câu chuyện hàn huyên, ông Aubrac nói về cuộc họp của Pugwash ở Paris và nói ông có nhiệm vụ chuyển tới Chủ tịch một “bức thông điệp miệng” của Tổ chức này nhằm tìm một giải pháp cho vấn đề chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam. Chủ tịch nói: “Không thể chấp nhận được, trừ khi Mỹ phải chấm dứt không điều kiện việc ném bom bắn phá Việt Nam”. Trước khi về nhà sàn nghỉ, Bác Hồ chuyển cho ông một tấm lụa và nói: “Đây là quà tôi gửi cho Elisabeth” rồi ôm hôn ông thắm thiết.

Sau đó, trong vai trò sứ giả ông Aubrac nhiều lần tiếp xúc với đại diện Mỹ và Việt Nam ở Paris. Tháng 8/1967, Nhà Trắng gửi cho Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa công hàm bày tỏ sẵn sàng ngừng ném bom miền Bắc với điều kiện “việc làm này không bị lợi dụng và đưa đến những cuộc thảo luận có kết quả”.

Lần gặp năm 1967 là lần cuối cùng ông gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tuy nhiên đó không phải lần cuối cùng ông đến Việt Nam. Đến nay ông đã sang Việt Nam 16 lần. Vào ngày 30/4/1975, ông cũng có mặt tại Hà Nội để chứng kiến thời khắc lịch sử giải phóng hoàn toàn miền Nam thống nhất đất nước.

Gắn bó với Việt Nam từ năm 1946, khi gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Paris, Raymond Aubrac là người đã giúp đỡ ký kết Bản thỏa thuận thương mại đầu tiên giữa Việt Nam và Pháp (năm 1955); trao đổi thông điệp giữa Hà Nội và Washington để xác định chấm dứt vô điều kiện việc Mỹ ném bom xuống Việt Nam (năm 1967); kêu gọi và góp phần làm chấm dứt ném bom xuống các đê sông Hồng (năm 1972).

Theo vnexpress
Tâm Trang (st)

bqllang.gov.vn

Nhớ lời Bác dặn: “Học lấy cái bằng làm người”

Toàn Đảng, toàn dân và toàn quân đang tích cực triển khai thực hiện Chỉ thị số 03-CT/TW ngày 14/5/2011 của Bộ Chính trị về tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, Trang tin điện tử Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh trân trọng đăng bài viết dưới đây của Thiếu tướng Tiến sĩ Đặng Nam Điền, Bí thư Đảng uỷ, Chính uỷ Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm đến công tác giáo dục, đào tạo, Người đã khẳng định mọi công việc từ to đến nhỏ có thành công hay không yếu tố con người vẫn là quyết định. Trong cuốn Sổ vàng truyền thống Trường Nguyễn Ái Quốc Trung ương tại Chiến khu Việt Bắc năm 1949, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn: “Học để làm người, làm việc, làm cán bộ”. Khi Bác đến thăm thầy và trò Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Người đã chỉ rõ: “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, trước hết cần phải có những con người xã hội chủ nghĩa”. Trước lúc đi xa, trong Di chúc để lại, điều đầu tiên, Người vẫn giành tình cảm thương yêu cho đồng bào, đồng chí, cho các cháu thiếu niên và nhi đồng yêu quý….Phải chăng đây chính là cái gốc của đạo đức mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã suốt đời hy sinh cống hiến, trở thành tấm gương mẫu mực cho các thế hệ người Việt Nam học tập và noi theo.

Mỗi người chúng ta đều thấy rõ ở Chủ tịch Hồ Chí Minh, lời nói luôn đi đôi với việc làm. Theo thống kê của Bảo tàng Hồ Chí Minh, trong 15 năm từ 1955 đến 1969, trên cương vị Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, Người đã có hơn 700 lần đi cơ sở. Người đến các địa phương, các công trường, nhà máy, xí nghiệp, các đơn vị bộ đội, công an, trường học và các cơ quan…

Hình ảnh một vị Chủ tịch nước tuy tuổi đã cao nhưng vẫn sắn quần lội ruộng cùng nông dân, đến bên bờ ruộng thăm hỏi nhân dân thu hoạch, trao đổi về mùa vụ với người ngư dân ngay tại bãi biển, kiểm tra tình hình sản xuất trong xưởng máy, động viên bộ đội tại trận địa, đến thăm học sinh, sinh viên tại giảng đường… lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của từng người dân bình thường nhất, động viên kịp thời từng gương tốt, phê bình góp ý cho cán bộ, lãnh đạo ngay tại địa bàn… đấy không phải chỉ là tác phong sâu sát mà còn là thái độ “yêu dân, kính dân”, “gắn bó máu thịt với nhân dân”.

Hàng năm Tết đến, Xuân về chúng ta ai ai cũng háo hức chờ nghe thơ chúc Tết của Người, nhưng với Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ có làm thơ Tết mà còn lo có Tết cho mọi nhà, vì vậy mà trước giao thừa năm nào Người cũng có những chuyến thăm tất niên, trong nh÷ng đối tượng được Người đến bao giờ cũng có những gia đình nghèo. Chủ tịch Hồ Chí Minh muốn đến với những người dân nghèo cần có sự quan tâm đúng lúc cũng như Bác muốn nhìn thấu đáo tới một sự thật để khẳng định trách nhiệm của Đảng cầm quyền: Không chỉ chăm lo đến đường lối chính sách mà Đảng còn phải chăm lo đến tương cà, mắm muối cho dân. Hễ dân đói là Đảng có lỗi, dân rét là Đảng có lỗi, dân còn bệnh tật là Đảng có lỗi….

Nhớ câu chuyện cảm động do đồng chí Nguyễn Lương Bằng kể lại: Khi chuẩn bị viết tác phẩm “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân” Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh rằng: Cán bộ đảng viên là cái gương để quần chúng soi vào, cho nên dân ta mới có câu nói “đảng viên đi trước, làng nước theo sau!” muốn làm được điều đó thì cán bộ đảng viên phải tu dưỡng rèn luyện để khổ mấy cũng chịu được, nhưng sướng mấy cũng phải chịu được. Người còn nói tiếp: Bác rất lo khi đã có chính quyền rồi, có điều kiện kinh tế khác thời kháng chiến rồi cán bộ dễ bị sa ngã, dễ quan liêu, tham nhũng, hư hỏng, đó là những cán bộ đảng viên không chịu được “sướng” đấy. Vì vậy, kinh tế càng phát triển, đời sống càng được nâng cao thì càng phải chống chủ nghĩa cá nhân, càng phải rèn luyện nâng cao đạo đức cách mạng. Càng phải tôn trọng và gắn bó máu thịt với nhân dân, phải giữ gìn và xứng đáng là những tấm gương để quần chúng nhân dân soi vào. Nói đi đôi với làm, chúng ta thấy Chủ tịch Hồ Chí Minh thực sự là con người như vậy. Vì sao trong tủ quần áo của Người chỉ với mấy bộ kaki, có chiếc đã sờn cổ, sờn tay dùng để hội họp và tiếp khách, vài bộ quần áo phụ để đi thăm đồng bào? Vì sao vị Chủ tịch không chịu diện những đôi giầy da bóng lộn mà quen với đôi dép cao su vẹt gót? Vì sao không ô không lọng mà đi đâu cũng với chiếc mũ “cát” quen thuộc? Không thích kỷ đài, không ưa khẩu hiệu đến đâu cũng quan tâm đến chỗ ăn, chỗ ở, nơi vệ sinh, thăm hỏi để thấm tận tâm tư chứ không xã giao sáo rỗng? Vì sao trọn đời cống hiến hy sinh mà vẫn một mực chối từ những tấm Huân chương rất xứng đáng của Quốc hội và của các quốc gia khác trao tặng? Vì Tổ quốc chưa được độc lập hoàn toàn, nhân dân còn đói khổ, đất nước ta còn nghèo lắm thì không ai được tự cho mình cái đặc quyền đặc lợi, không ai được tự cho mình cái quyền sống trên sự đau khổ của đồng bào mình.

Năm 1960, khi đoàn 72 sinh viên khóa đầu tiên tốt nghiệp Đại học lên báo cáo kết quả học tập với Quốc hội. Sau khi nghe báo cáo, động viên khen ngợi, thay mặt Nhà nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn: “Các cô, các chú đã cã bằng Đại học rồi, bây giờ hãy về bệnh viện, trường học, nhà máy, công trường để học lấy cái “bằng làm người” nữa. Có như vậy mới phục vụ nhân dân và đất nước được lâu dài”. Những lời Bác dặn năm xưa, mỗi chúng ta cùng suy ngẫm để mãi mãi noi gương học tập và làm theo lời Người./.

Tháng 11, năm 2011
Đặng Nam Điền

bqllang.gov.v