Tag Archive | Cuộc đời Hồ Chí Minh

Điện mừng Quốc khánh nước Cộng hoà Mali (20-9-1968)

Kính gửi:Tổng thống Môđibô Câyta, nước Cộng hoà Mali,

Bamlacô

Nhân dịp kỷ niệm lần thứ tám ngày tuyên bố thành lập nước Cộng hoà Mali, thay mặt nhân dân Việt Nam, Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và nhân danh cá nhân, tôi xin gửi Ngài, Chính phủ và nhân dân Mali lời chúc mừng nhiệt liệt nhất.

Nhân dân Việt Nam vui mừng trước những thắng lợi to lớn mà nhân dân Mali, dưới sự lãnh đạo của Ngài, đã giành được trong tám nǎm qua. Nhân dân Việt Nam chân thành chúc nhân dân Mali anh em thu được nhiều thắng lợi rực rỡ hơn nữa.

Nhân dân Việt Nam luôn luôn đứng bên cạnh nhân dân Mali và triệt để ủng hộ cuộc đấu tranh của nhân dân Mali chống chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa thực dân cũ và mới để củng cố độc lập dân tộc xây dựng nước Mali phồn vinh, góp phần giữ gìn hoà bình ở châu Phi và trên thế giới.

Nhân dịp này, tôi xin chân thành cảm ơn Chính phủ và nhân dân Mali anh em đã tích cực ủng hộ sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước của chúng tôi.

Chúc tình đoàn kết chiến đấu và sự hợp tác anh em giữa hai nước chúng ta ngày càng củng cố và phát triển.

Hà Nội, ngày 20 tháng 9 nǎm 1968
Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà
Hồ Chí Minh

——————-

Báo Nhân dân, số 5275, ngày 22-9-1968.
cpv.org.vn

Vững bước trên con đường Người đã chọn

Bí thư Thành ủy TPHCM Lê Thanh Hải cho biết trong suốt hơn 80 năm qua, Đảng bộ và nhân dân TP luôn tâm nguyện và vững bước trên con đường Bác Hồ đã chọn

Sáng 5-6, TPHCM đã long trọng tổ chức lễ kỷ niệm 100 năm ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước (5.6.1911-5.6.2011). Dự lễ kỷ niệm có ông Trương Tấn Sang, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư; nguyên Thủ tướng Phan Văn Khải; các vị lãnh đạo TPHCM, lão thành cách mạng, mẹ Việt Nam anh hùng cùng đông đảo nhân dân TP.

Tìm đường cứu dân, cứu nước

Đọc diễn văn tại lễ kỷ niệm, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy TPHCM Lê Thanh Hải ôn lại sự kiện lịch sử trọng đại của dân tộc, cách nay tròn 100 năm, ngày 5-6-1911, Sài Gòn – Gia Định đã tiễn người thanh niên Việt Nam 21 tuổi Nguyễn Tất Thành, với tên Văn Ba, rời cảng Sài Gòn đi ra nước ngoài để thực hiện khát vọng tìm đường cứu dân, cứu nước. Đó là một ý định cách mạng và táo bạo, thể hiện tư tưởng đổi mới, cả tầm nhìn và hành động, báo hiệu sự xuất hiện của bậc vĩ nhân Nguyễn Ái Quốc – Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Diễn văn nêu rõ: Từ chủ nghĩa yêu nước chân chính, Bác đã đến với chủ nghĩa Mác – Lênin, chân lý của thời đại; từ người yêu nước trở thành chiến sĩ cộng sản, tìm thấy con đường cứu nước đúng đắn. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng sáng tạo, phát triển học thuyết Mác – Lênin phù hợp với hoàn cảnh lịch sử của đất nước ta, xác lập đường lối cứu nước đúng đắn để thực hiện.

Các đại biểu tham dự lễ kỷ niệm 100 năm ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước vào sáng 5-6 tại TPHCM

Đó là cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân do Đảng Cộng sản, đội tiên phong của giai cấp công nhân, lãnh đạo nhằm đánh đổ đế quốc và phong kiến tay sai, giành độc lập dân tộc. Cuộc hành trình tìm đường cứu nước của Bác đã tạo nên những bước ngoặt lớn của cách mạng Việt Nam, đã làm thay đổi chiều hướng phát triển của lịch sử, thay đổi số phận của cả dân tộc Việt Nam trong thế kỷ XX, đồng thời in dấu ấn không thể phai mờ trong lịch sử thế giới hiện đại.

Tạo chuyển biến mới, thắng lợi mới

Trong niềm tự hào TPHCM là nơi Bác Hồ khởi đầu cuộc hành trình tìm đường cứu nước và là TP được vinh dự mang tên Người, ông Lê Thanh Hải kêu gọi Đảng bộ và nhân dân TP phát huy cao độ truyền thống cách mạng kiên cường, đoàn kết, năng động, sáng tạo; ra sức phấn đấu thực hiện đường lối, quyết sách của Đảng đã đề ra, tạo những chuyển biến mới, thắng lợi mới.

Ông Lê Thanh Hải chỉ đạo TP cần tập trung cao độ trong việc thực hiện có hiệu quả kết luận số 02-KL/TW của Bộ Chính trị và Nghị quyết số 11/NQ-CP của Chính phủ về những giải pháp chủ yếu tập trung kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội, góp phần thúc đẩy sản xuất – kinh doanh phát triển, giữ vững ổn định chính trị, cải thiện đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân.

“Trong suốt hơn 80 năm qua dưới sự lãnh đạo của Đảng, Đảng bộ và nhân dân TP luôn tâm nguyện và vững bước trên con đường Người đã chọn… Trong mỗi tấm lòng của người dân Sài Gòn – Gia Định – TPHCM luôn có Bác Hồ kính yêu”- ông Lê Thanh Hải bày tỏ.

Sau lễ kỷ niệm, các đại biểu đã tham gia nghi thức động thổ xây dựng giai đoạn 2 dự án Bảo tàng Hồ Chí Minh – Chi nhánh TPHCM. Giai đoạn này có tổng mức đầu tư hơn 69 tỉ đồng, bao gồm việc xây mới nhà trưng bày chuyên đề với hội trường, phòng trưng bày và phòng chiếu phim tư liệu về Bác Hồ có tổng diện tích xây dựng khoảng 1.195 m2; đầu tư các trang thiết bị nhằm hiện đại hóa công tác bảo tồn, trưng bày; cải tạo, chỉnh trang một số hạng mục để tạo sự khang trang, điểm nhấn cho cảnh quan công trình và toàn bộ khu vực. Dự kiến công trình sẽ hoàn thành vào quý II/2012.

Chiều cùng ngày, các nhà xuất bản Chính trị Quốc gia – Sự thật, Trẻ, Công an Nhân dân đã tổ chức buổi ra mắt những tác phẩm mới xuất bản về Bác Hồ. Một số tác phẩm được giới thiệu gồm: nghiên cứu, xác minh tư liệu và địa chỉ Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sống, làm việc ở nước ngoài từ năm 1911 – 1941; Theo chân Bác; Cận vệ Bác Hồ…

Khánh thành Đền thờ Bác tại Bạc Liêu

Sáng 5-6, ông Nguyễn Xuân Phúc, Bộ trưởng – Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ, cùng các lãnh đạo Trung ương, các ban ngành và các tỉnh ĐBSCL đã cắt băng khánh thành công trình Đền thờ Bác Hồ tại xã Châu Thới, huyện Vĩnh Lợi – Bạc Liêu. Đây là công trình trùng tu, tôn tạo mở rộng di tích lịch sử Đền thờ Bác Hồ hoàn thành ở giai đoạn I với tổng kinh phí hơn 29 tỉ đồng.

Ông Nguyễn Xuân Phúc tuyên dương truyền thống đấu tranh cách mạng, truyền thống văn hóa và tình cảm của nhân dân Bạc Liêu đối với Bác. Ông Phúc động viên, khuyến khích nhân dân gìn giữ, phát huy hơn nữa truyền thống dân tộc và di tích lịch sử này để nơi đây mãi mãi là địa chỉ đỏ trong việc giáo dục truyền thống cho các thế hệ.

K.Châu

Ra sức thực hiện mong ước của Bác

Phát biểu trong chương trình cầu truyền hình “Hồ Chí Minh – Cuộc hành trình của thời đại” diễn ra tối 5-6, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết trân trọng bày tỏ lòng biết ơn đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị lãnh tụ vĩ đại, người thầy của cách mạng Việt Nam.

Chủ tịch nước kêu gọi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ra sức thực hiện mong ước cháy bỏng của Bác lúc sinh thời về xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, sánh vai cùng với bạn bè năm châu bằng các việc trọng tâm cần làm là giữ vững ổn định chính trị, xã hội của đất nước; tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc; ý thức đầy đủ quyền lợi và nghĩa vụ, lao động với năng suất và hiệu quả cao, ra sức học tập và rèn luyện theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh…

“Tôi tin rằng với ý chí, bản lĩnh và trí tuệ của dân tộc Việt Nam, truyền thống quý báu của dân tộc, truyền thống vẻ vang của Đảng thì toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta nhất định sẽ xây dựng thành công một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa sánh vai cùng với các cường quốc năm châu”- Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết khẳng định.

T.Nhàn

Bài và ảnh: THANH NHÀN
nld.com.vn

Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân (3-2-1969)

Nhân dân ta thường nói: đảng viên đi trước, làng nước theo sau. Đó là một lời khen chân thành đối với đảng viên và cán bộ chúng ta.

Trải qua 39 nǎm đấu tranh oanh liệt, làm Cách mạng Tháng Tám thành công, kháng chiến lần thứ nhất thắng lợi và ngày nay vừa chiến đấu chống Mỹ, cứu nước, vừa xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, nhân dân ta tin tưởng rằng: Đảng ta lãnh đạo rất sáng suốt đã đưa dân tộc ta tiến lên không ngừng từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Trong lịch sử đấu tranh của Đảng và trong mọi hoạt động hằng ngày, nhất là trên mặt trận chiến đấu và sản xuất, rất nhiều cán bộ, đảng viên ta tỏ ra anh dũng, gương mẫu, gian khổ đi trước hưởng thụ đi sau và đã làm nên những thành tích rất vẻ vang.

Đảng ta đã đào tạo một thế hệ thanh niên cách mạng, gái cũng như trai, rất hǎng hái, dũng cảm trong mọi công tác.

Đó là những bông hoa tươi thắm của chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Nhân dân ta và Đảng ta rất tự hào có những người con xứng đáng như thế.

Song bên cạnh những đồng chí tốt ấy, còn có một số ít cán bộ, đảng viên mà đạo đức, phẩm chất còn thấp kém.

Họ mang nặng chủ nghĩa cá nhân, việc gì cũng nghĩ đến lợi ích riêng của mình trước hết. Họ không lo “mình vì mọi người” mà chỉ muốn “mọi người vì mình”.

Do cá nhân chủ nghĩa mà ngại gian khổ, khó khǎn, sa vào tham ô, hủ hoá, lãng phí, xa hoa. Họ tham danh trục lợi, thích địa vị quyền hành. Họ tự cao tự đại, coi thường tập thể, xem khinh quần chúng, độc đoán, chuyên quyền. Họ xa rời quần chúng, xa rời thực tế, mắc bệnh quan liêu mệnh lệnh. Họ không có tinh thần cố gắng vươn lên, không chịu học tập để tiến bộ.

Cũng do cá nhân chủ nghĩamà mất đoàn kết, thiếu tính tổ chức, tính kỷ luật, kém tinh thần trách nhiệm, không chấp hành đúng đường lối, chính sách của Đảng và của Nhà nước, làm hại đến lợi ích của cách mạng, của nhân dân.

Tóm lại, do cá nhân chủ nghĩa mà phạm nhiều sai lầm.

Để làm cho tất cả cán bộ, đảng viên xứng đáng là những chiến sĩ cách mạng, Đảng ta phải ra sức tǎng cường giáo dục toàn Đảng về lý tưởng cộng sản chủ nghĩa, về đường lối, chính sách của Đảng, về nhiệm vụ và đạo đức của người đảng viên. Phải thực hành phê bình và tự phê bình nghiêm chỉnh trong Đảng. Phải hoan nghênh và khuyến khích quần chúng thật thà phê bình cán bộ, đảng viên. Chế độ sinh hoạt của chi bộ phải nghiêm túc. Kỷ luật của Đảng phải nghiêm minh. Công tác kiểm tra của Đảng phải chặt chẽ.

Mỗi cán bộ, đảng viên phải đặt lợi ích của cách mạng, của Đảng, của nhân dân lên trên hết, trước hết. Phải kiên quyết quét sạch chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức cách mạng, bồi dưỡng tư tưởng tập thể, tinh thần đoàn kết, tính tổ chức và tính kỷ luật. Phải đi sâu đi sát thực tế, gần gũi quần chúng, thật sự tôn trọng và phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân. Phải cố gắng học tập, rèn luyện, nâng cao trình độ hiểu biết để làm tốt mọi nhiệm vụ.

Đó là một cách thiết thực để kỷ niệm ngày thành lập Đảng ta, Đảng vĩ đại của giai cấp công nhân và nhân dân anh hùng của chúng ta. Đó cũng là một việc làm cần thiết để giúp tất cả cán bộ, đảng viên đều tiến bộ, góp sức nhiều hơn nữa cho sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước toàn thắng và xây dựng chủ nghĩa xã hội thành công.

T.L

Báo Nhân dân, số 5409, ngày 3-2-1969.
cpv.org.vn

Niềm lạc quan và tin tưởng

Bác Hồ quan sát mặt trận Đông Khê

Sinh thời, trong cuộc sống và hoạt động cách mạng, ở Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn có niềm lạc quan và niềm tin vào sự tất thắng của cách mạng, vào tương lai tươi sáng của dân tộc. Nhiều bài viết, bài nói chuyện của Bác và chính phong cách của Người ngời sáng phẩm chất, đức tính quý báu này. Với bút danh “CB”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết bài “Lòng tin tưởng” đăng trên báo Nhân Dân ra ngày 21-2-1952.

Ở thời điểm ấy, theo Bác-cách mạng Tháng Tám thành công; toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ở mọi miền đất nước đang vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, không tiếc máu xương, của cải vật chất để tập trung cho kháng chiến chống Pháp – “Đó là vì lòng tin tưởng“. Bác 5 lần khẳng định như thế và nêu câu hỏi: “Tin tưởng vào gì? Tin tưởng vào ai?“. Câu trả lời của Bác ngay sau đó là:

Tin tưởng vào tương lai của dân tộc

Tin tưởng vào lực lượng vô cùng tận của nhân dân ta. Tin tưởng vào lực lượng cách mạng của nhân dân thế giới… Đảng và Chính phủ ta phụ trách tổ chức và lãnh đạo nhân dân ta, nên ta tin tưởng vào Đảng và Chính phủ ta…”.

Niềm lạc quan và tin tưởng ấy cần có trong mọi con người, mọi hoàn cảnh. Với cương vị, chức trách của mình, chính ủy, chính trị viên phải là trung tâm hội tụ và lan tỏa niềm tin, niềm lạc quan trong cán bộ, chiến sĩ, nhất là trước những nhiệm vụ khó khăn, tình huống phức tạp. Đương nhiên, niềm tin, niềm lạc quan ấy phải có cơ sở vững chắc, tránh kiểu “lạc quan tếu”, mà Bác thường xuyên dặn nên tránh.

Đồng Đội
qdnd.vn

Những hồi ức về một mùa thu

Cụ Vi Văn Định với con cháu và các con rể (GS Hồ Đắc Di - hàng đầu, bên phải và GS Nguyễn Văn Huyên - hàng sau, bên trái) ở vùng Ngòi Quẵng, Chiêm Hóa, Tuyên Quang

TTCT – Chính ngọn cờ đại nghĩa của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lôi cuốn được trăm ngàn nhân sĩ, trí thức dấn thân, bền chí đi theo con đường cách mạng gian khó, hiểm nguy.

Trước Cách mạng Tháng Tám 1945, cụ Phan Kế Toại giữ chức khâm sai đại thần, làm việc tại Bắc Bộ phủ. Người con trai cụ Toại là anh Phan Kế An, sinh viên Trường cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, tham gia phong trào sinh viên cứu quốc, thường bí mật tìm mua vũ khí cho Việt Minh rồi cất giấu trong nhà cụ ở làng Mông Phụ, xã Đường Lâm (nay thuộc thị xã Sơn Tây, tỉnh Hà Tây).

Nghe phong thanh vậy, nhưng bọn Nhật chưa vội “động thủ” mà gửi công văn cho quan khâm sai, khuyến cáo về một “trào lưu nguy hiểm”, rồi nhắc nhở: “Rất tiếc, trong số đó có cả quí công tử!”

Cụ Toại xem xong bức công văn, cười, rồi đưa cho anh Phan Kế An xem để đề phòng. Bọn Nhật đâu có ngờ chính quan khâm sai cũng đã lặng lẽ mua ủng hộ Việt Minh 500 đồng tín phiếu!

Gần đây, trong cuốn Hồi ký Thanh Nghị, luật sư Vũ Đình Hòe kể lại: Theo gợi ý của ông Dương Đức Hiền – một lãnh đạo phong trào sinh viên cứu quốc, ông Vũ Đình Hòe tìm gặp ông Nguyễn Văn Huyên, em vợ cụ Toại, nhờ ông Huyên “tháp tùng” để vào Bắc Bộ phủ “thăm” cụ. Ông Hòe nói:

– Anh em trí thức Hà Nội rất hoan nghênh cụ “cáo ốm”, không chịu đi hiểu dụ nhân dân “bán” thóc cho Nhật. Nhưng anh em muốn cụ làm mạnh hơn!…

Cụ Toại liền vặn lại ông Hòe:

– Thế ông là Việt Minh à?

Ông Hòe bèn lảng sang chuyện khác.

Cụ Toại mỉm cười, nói nhỏ:

– Thôi, ông đừng giấu tôi nữa! Con cháu tôi cũng vào Việt Minh rồi mà!

Phó thủ tướng Chính phủ kháng chiến Phan Kế Toại cùng con trai là họa sĩ Phan Kế An ở Tân Trào, Tuyên Quang

Việt Minh chủ trương giúp cụ Toại, không để cụ bị bọn Nhật lợi dụng đàn áp cách mạng, và để khi thời cơ tới thì việc tiếp quản chính quyền tránh được đổ máu. Nhưng sau bị Nhật o ép quá, cụ Toại đành từ chức, trao lại quyền cho ông Nguyễn Văn Chữ vào ngày 17-8-1945, chỉ hai ngày trước khi nổ ra cuộc biểu tình bao vây Bắc Bộ phủ.

Trong một thiên hồi ký, giáo sư Nguyễn Xiển cho biết: tình hình biến chuyển mau lẹ, đang giữ chức giám đốc Đài Thiên văn Phủ Liễn ở Kiến An, Hải Phòng, ông đạp xe một mạch về Hà Nội, đúng vào lúc quần chúng đang bao vây Bắc Bộ phủ, bọn bảo an binh bên trong đang chờ lệnh của quan khâm sai Nguyễn Văn Chữ (mới được Nhật đưa lên thay cụ Toại).

“Tôi liền dựng xe đạp – giáo sư Nguyễn Xiển kể – vượt hàng rào sắt vào gặp ông Chữ, nói với ông ta: “Nhật đầu hàng rồi, quần chúng đang bao vây tòa nhà này, các ông chống thế nào được? Để tránh đổ máu, ông nên ra gặp họ đi!”.

Đầu năm 1947, cụ Phan Kế Toại nhận được thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh mời lên Việt Bắc tham gia Chính phủ kháng chiến. Cùng lên Đinh Hóa vào ngày đầu nổ súng chống Pháp còn có các cụ Bùi Bằng Đoàn, Vi Văn Định, linh mục Phạm Bá Trực…

***

…Mùa hè nóng bỏng năm 1946.

Mặc dù phải lo toan biết bao công việc, trước khi lên đường sang Pháp dự hội nghị Fontainebleau, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn không quên giao nhiệm vụ cho ông Hoàng Hữu Nam, thứ trưởng Bộ Nội vụ, phải đón cho kỳ được cụ Vi Văn Định – nguyên tổng đốc Thái Bình – về sống ở Hà Nội, kẻo “hữu sự thì không kịp”!

Phát xít Đức chiếm Paris, quân Nhật tiến vào Đông Dương. Năm 1942, cụ Vi xin hưu, về ở ẩn tại bản quê dưới chân núi Mẫu Sơn. Cụ Vi có ba chàng rể sống ở Hà Nội, đều được cách mạng tin cậy giao trọng trách: Nguyễn Văn Huyên – bộ trưởng Bộ Giáo dục; Hồ Đắc Di – hiệu trưởng Trường đại học Y kiêm giám đốc Bệnh viện Đồn Thủy (nay là Bệnh viện Trung ương quân đội); Tôn Thất Tùng – giám đốc Bệnh viện Phủ Doãn (nay là Bệnh viện Hữu nghị Việt – Đức).

Bác nói: “Con cháu cụ Vi đều đi với cách mạng cả. Hãy mời cụ về Hà Nội!” và dặn phải cho những cán bộ cách mạng trước đây từng bị cụ Vi bắt giam (khi cụ còn là tổng đốc) cầm giấy mời của Chính phủ trân trọng trao tận tay cụ, để cụ thấy ta không giữ hận thù mà thật lòng đoàn kết. Ông Ba Ngọ, một cựu chính trị phạm, được giao việc đó, cùng đoàn cán bộ Chính phủ đến Bản Chu, huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn.

Ông Ba Ngọ tha thiết mời cụ quay trở lại Hà Nội (cụ có một tòa biệt thự ở góc hồ Thiền Quang). Nhưng cụ từ chối:

– Tôi nay già yếu rồi! Chắc chẳng đóng góp được gì. Xin để cho “lão giả an chi”!

Ông Ba Ngọ cùng đoàn cán bộ đành lui ra nghỉ tạm tại thị xã Lạng Sơn. Hai hôm sau, ông lại quay trở vào Bản Chu. Lần này, cụ Vi không nỡ từ chối. Cụ cho mời tất cả bà con trong làng và các trại vùng quanh, tất cả khoảng vài nghìn người (cụ vốn thuộc dòng họ “thiên hộ hầu”) đến dự bữa cỗ tiễn biệt. Nhà nước ta đã giữ trọn lời hứa, chăm sóc cụ Vi cho đến lúc cụ qua đời tại Hà Nội, ngày 20-12-1975, thọ 96 tuổi.

HÀM CHÂU
cpv.org.vn

Nơi Bác Hồ định đô kháng chiến

Dòng sông lặng ngắt như tờ
Sao đưa thuyền chạy, thuyền chờ trăng theo
Bốn bề phong cảnh vắng teo
Chỉ nghe cót két tiếng chèo thuyền nan
Lòng riêng riêng những bàn hoàn
Lo sao khôi phục giang san Tiên Rồng
Thuyền về trời đã rạng đông
Bao la nhuốm một màu hồng đẹp tươi.

Thiếu nữ ở Thủ đô kháng chiến Tuyên Quang hôm nay. Ảnh: Đồng Khắc Thọ

Đó là bài thơ của Bác Hồ mang tựa đề Đi thuyền trên sông Đáy. Nhân đầu Xuân năm Rồng, tôi muốn nói đôi điều với chiến sĩ ta, nhìn từ phía lịch sử.

Dù chiến sĩ ta đã lên hay chưa lên Sơn Dương, Tuyên Quang hẳn đã nghe, đã đọc “Mái đình Hồng Thái, cây đa Tân Trào”. Tân Trào là “Thủ đô Khu giải phóng” trước năm 1945. Sự tôn danh dân dã thôi mà trở nên thiêng liêng cao quý, chứ đâu có văn bản quy pháp gì – ý dân là ý trời mà! Ý trời thành văn hẳn hoi, chẳng rõ tự bao giờ, là hai câu đối trong đình:

Để Giang tả bảo linh nguyên hội
Ngọc tỉnh hữu triều thụy Khí chung

Để Giang là tên chữ Hán của dòng sông, nôm na gọi sông Đáy Con, Tiểu Đáy. Tôi khi nghe lần đầu tên sông Phó Đáy lại nghĩ Phó là phụ, là thứ, là nhánh… của sông Đáy. Đâu phải! Ngọn nguồn như bao con sông khác: Những dòng suối nhỏ, những tia nước róc rách từ khe núi cao nhảy ra – con sông lớn chảy từ lòng suối nhỏ. Dòng Phó Đáy hợp lưu những dòng suối từ dãy núi Phia Bi Oóc trên Bắc Kạn, qua các huyện Chợ Đồn (Bắc Kạn), Định Hóa (Thái Nguyên), Chiêm Hóa, Yên Sơn, Sơn Dương (Tuyên Quang) về gần trên ngã ba Việt Trì, Phú Thọ thì hòa chung vào dòng sông Lô lịch sử.

Năm 1953-1954, chính tôi là cán bộ TNXP, quân của Đoàn trưởng Vũ Kỳ, Đội trưởng đặc trách ATK Tạ Quang Chiến đóng quân bên này Chợ Chu, Định Hóa, bên kia Hùng Hợi, Yên Sơn.

Núi Hồng sừng sững như một trường thành cách ngăn địa giới hai tỉnh. Trong sách Bác Hồ với Thái Nguyên – Thái Nguyên với Bác Hồ, Đại tướng Võ Nguyên Giáp viết: “Tôi bàn với hai anh Tấn và Song Hào đề nghị Bác chọn Tân Trào vì Chợ Chu tuy cơ sở chính trị, kinh tế đều tốt nhưng có đường thông thương với Thái Nguyên dễ bị uy hiếp; còn Tân Trào dân cư có thưa thớt, kinh tế có khó khăn nhưng địa thế hiểm trở hơn. Châu Sơn Dương còn cách tỉnh lỵ Tuyên Quang bởi con sông Lô, tiện bảo vệ”.

Vậy là ngày 21-5-1945, Bác Hồ từ Cao Bằng về Tân Trào, đặt cơ quan đầu não lãnh đạo công cuộc giành độc lập – nơi đây được tôn danh Thủ đô của Khu giải phóng gồm 6 tỉnh: Cao-Bắc-Lạng, Hà-Tuyên-Thái cho đến sau ngày 19-8, Người về Hà Nội. Rồi Toàn quốc kháng chiến, ngày 2-4-1947, Bác trở lại làng Sảo cũng thuộc Tân Trào, bắt đầu cuộc định đô mới, cùng tọa lạc bên “dòng sông nguồn thiêng Để Giang”.

Anh em đi tìm địa điểm mới đã thuộc lòng lời Bác dặn:

Trên có núi, dưới có sông
Có đất gieo trồng, có bãi vui chơi
Tiện đường sang Bộ Tổng
Thuận lối tới Trung ương
Nhà thoáng ráo, kín mái
Gần Dân, không gần đường.

Xin phép viết hoa chữ “dân” bởi chữ đó như cuộc đời máu thịt của Bác Hồ. Ngày ấy, chúng tôi thực hành triệt để kỷ luật “3 không”: Không biết, không hỏi, không nói. Xã Bình Yên có tới 7 thôn, 8 dân tộc anh em sinh sống. BKT12 chỉ ở gọn trong thung lũng đại ngàn bên tả ngạn Phó Đáy, nay là rộc ruộng trồng lúa.

Đường Hồ Chí Minh xuyên Việt từ Pác Bó sẽ qua Tân Trào – Thác Dẫng về Đền Hùng và đi khắp nước. Mong sao, Thác Dẫng nhanh chóng dựng xây một công trình – một tháp cao vút có ngôi sao chói sáng, xứng danh Hồ Chí Minh.

Trịnh Tố Long
qdnd.vn

Chiếc chuyên cơ từng chở Bác Hồ sẽ được trưng bày tại Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam

QĐND Online – Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam phối hợp với Quân chủng PKKQ đã thành lập đoàn công tác tiến hành khảo sát và xác minh lý lịch khoa học cho chiếc máy bay IL-14 mang số hiệu VN-C 516 hiện đang lưu giữ tại Trung đoàn Không quân 918-Quân chủng PKKQ. Chiếc IL-14 số hiệu VN-C 516 là một trong số những máy bay do chính phủ Liên Xô tặng nhân dân Việt Nam từ năm 1958, được Quân đội nhân dân Việt Nam sử dụng trong kháng chiến chống Mỹ và chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam. Chiếc IL-14 này có ý nghĩa đặc biệt vì nó là một trong những chiếc chuyên cơ Bác Hồ từng sử dụng lúc sinh thời.

Chiếc chuyên cơ IL-14 mang số hiệu VN-C 516 khi mới được phát hiện

Thượng tá Lê Tôn Văn, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn Bảo đảm kỹ thuật hàng không Trung đoàn Không quân 918 cho biết: “Chúng tôi đã kiểm tra toàn bộ các thông số kĩ thuật của chiếc IL-14. Hiện nay, công tác phục hồi nguyên trạng đang được thực hiện và dự kiến đến hết quý 1 năm 2012 sẽ hoàn thành”.

Theo kết quả làm việc gần đây nhất giữa Bảo tàng Lịch sử Quân sự với Quân chủng PKKQ, sau khi kết thúc quá trình phục hồi trạng thái ban đầu cho chiếc chuyên cơ này, hai bên sẽ tiến hành bàn giao và di dời về Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam. Đây là một hiện vật có giá trị sẽ được Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam trưng bày đúng vào dịp kỷ niệm 122 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19-5-1890/19-5-2012).

Tin, ảnh: Bích Trang
qdnd.vn

“Miệng nói, tay làm, giúp các chú là tốt hơn…”

Ông Lê Bá Cải – Ủy viên Ban Liên lạc những người trực tiếp phục vụ Bác Hồ hiện ở khu tập thể Văn phòng Chính phủ phường Phương Mai (Hà Nội) còn giữ được tấm ảnh quý giá và nhớ mãi những câu chuyện như bài học Bác dạy …

Bác Hồ hỏi chuyện anh Nguyễn Văn Nuôi – đang chống que chọc lò rèn lưỡi cày – Ảnh: Đinh Đăng Định

Cưa cây phải để hở mạch

Đầu năm 1953, ông Cải cùng nhiều thanh niên quê Thanh Hóa được tuyển chọn điều lên chiến khu Việt Bắc, bổ sung vào Đội Xây dựng thuộc Ban kiểm tra 12 – bí danh của Chủ tịch Phủ – Thủ tướng phủ tại An toàn khu (ATK) Sơn Dương, Tuyên Quang.

Cuối năm đó, một đêm cả vùng bị cơn lốc mạnh làm đổ nhiều cây chắn ngang đường. Đội được lệnh phân làm nhiều tổ đi giải tỏa các con đường mòn khi trời sáng.

Tổ ông Cải có 6 người: Nguyễn Văn Chừng, Nguyễn Văn Quang, Lê Văn Tước, Phạm Văn Chi và Nguyễn Văn Sách. Anh em chia từng cặp, đang chăm chú cưa từng đoạn cây thì bỗng thấy Bác đi ngựa cùng bốn người nữa đi tới.

Anh em vội đứng lên chào Bác, luống cuống quên cả việc đang làm. Bác xuống ngựa, rồi tiến tới chỗ mọi người đang bối rối. Bác bảo: “Các chú chào Bác xong lại tiếp tục công việc, khẩn trương lên chứ, sao còn đứng đấy”.

Bấy giờ ai nấy mới vội chạy về vị trí đang làm, cầm cưa. Nhưng luống cuống cưa mắc kẹt, kéo đẩy đều không được. Bác bảo cặp cưa Cải – Quang: “Các chú phải một chân giữ cây, một chân đè lên thân cây hai bên cho nó hở mạch thì cưa mới nhanh được:.

Bác nhìn sang cặp Tước – Chi, lưỡi cưa cũng đang mắc kẹt giữa thân cây dài vắt qua đường. Người nói vui, thân mật: “Mấy chú này chắc chưa quen cầm cưa. Cây này dài, đè chân lên mạch càng ngậm chặt, các chú phải kê đỡ dưới mạch hoặc một người nâng mạch cưa lên”.

Một người đi cùng Bác cũng đứng hướng dẫn thêm. Anh vừa nói, vừa chỉ tay ra hiệu. Bác đến bên vỗ vai: “Chú nói đúng. Nhưng miệng nói tay làm giúp các chú cho nhanh, càng đúng hơn”.

Mọi người cùng cười vui vẻ và Bác cũng giúp một tay dọn dẹp rất nhanh một lối đi nhỏ.

May mà Bác ra sớm

Tác phong làm việc của Bác Hồ rất sâu sát và đặc biệt, giao việc cho ai, dù tin vẫn phải kiểm tra.

Lần ấy, hè năm 1957, Bác tiếp Đoàn văn công Trung Quốc sang biểu diễn. Ông Trần Quý Kiên – Phó Văn phòng được Chánh văn phòng Phan Mỹ giao nhiệm vụ trực tiếp bày bàn ghế để Chủ tịch nước tiếp khách.

Ông Cải cùng anh em được phân công xếp bàn ghế hình chữ T phủ khăn trắng và sắp ghế hai bên. Trước 8 giờ 15 phút, Bác ra xem liền hỏi: – Chú Mỹ, chú Kiên đâu? Anh em nhớn nhác nhìn nhau, vội tìm hai ông. Bác chỉ dãy bàn vội hỏi:

– Các chú quên rồi sao? Hôm nay Bác tiếp khách hoa quả. Bày chữ T thế này khách đến họ lại tưởng ăn tiệc mặn…

Nói rồi, Bác tự tay ra hiệu mọi người xúm vào kê lại bàn ghế hình chữ U để khách ngồi quanh. Vừa bày lại xong, nhìn ra cổng Phủ Chủ tịch, đoàn xe khách từ từ tiến vào sân.

Tinh thần thế là tốt

Năm 1962, trên khắp miền Bắc, phong trào hợp tác hóa nông nghiệp phát triển mạnh. Đâu đâu cũng nêu cao khẩu hiệu tất cả để phục vụ nông nghiệp.

Chi đoàn Thanh niên cơ quan đề xuất, được Chánh Văn phòng Phan Mỹ ủng hộ, anh em xây một lò đúc lưỡi cày 51 ở phía sau đình Hội đồng (nay là phòng họp lớn của Chính phủ).

Hôm khai lò, anh em không ngờ Bác và Thủ tướng Phạm Văn Đồng đến xem. Bác hỏi đoàn viên đứng lò Nguyễn Văn Nuôi: “Các chú đúc được bao nhiều lưỡi cày rồi?”

– Dạ thưa Bác, chúng cháu mới đúc thử 10 chiếc ạ!

Bác lại hỏi: Thế các chú đúc ra định đem bán hay làm gì?

Cả Bác cháu cùng cười ồ lên. Anh em chưa ai nghĩ ra nên trả lời Bác như thế nào thì Chánh Văn phòng Phan Mỹ đỡ lời: “Thưa Bác, chi đoàn báo cáo là lưỡi cày đúc được sẽ đem tặng các hợp tác xã làm ăn giỏi ạ”.

Bác khen: Làm được cày 51 là “Tất cả cho nông nghiệp”. Tinh thần của việc làm như thế là tốt…

Theo Trịnh Tố Long – Tiền Phong

tuoitre.vn

Bác Hồ – người khai sinh báo chí cách mạng Việt Nam

Hàng năm, cứ đến Ngày Báo chí Cách mạng Việt Nam 21-6, chúng ta lại không khỏi bồi hồi nhớ tới vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại- Anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hóa kiệt xuất Việt Nam, người đã khai sáng nền báo chí cách mạng Việt Nam.

Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết trên 2000 bài báo từ bài viết đầu tiên, Quyền của các dân tộc thuộc địa trên Báo Nhân đạo của Pháp ngày 18-6-1919 đến bài báo cuối cùng, Thư trả lời tổng thống Mỹ trên Báo Nhân dân ngày 25-8-1969, tức chỉ một tuần trước ngày Bác đi xa. Hồ Chí Minh là người sáng lập và đồng sáng lập 9 tờ báo và tạp chí như: Le Paria (Người cùng khổ) in bằng tiếng Pháp ra số đầu tiên vào ngày 1-4-1922 tại Pari, Quốc tế Nông dân – 1924; Thanh niên – 1925, Công nông – 1925, Lính Kách mệnh- 1925, Thân ái- 1928, Tạp chí Đỏ, tiền thân của Tạp chí Cộng sản hiện nay- 1929, Việt Nam Độc lập – 1941, Cứu quốc – 1942. Năm 1925, cùng với việc thành lập tổ chức Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, Nguyễn Ái Quốc sáng lập tờ Báo Thanh niên. Với việc sáng lập Báo Thanh niên, Hồ Chí Minh đã chính thức khai sinh ra nền báo chí cách mạng Việt Nam, bởi tờ báo là trường học bồi dưỡng, tập hợp lực lượng cách mạng.

Trong cuộc đời làm báo của mình, Hồ Chí Minh sử dụng trên dưới 150 bút danh, viết nhiều tác phẩm báo chí xuất sắc với nhiều chủ đề đa dạng sinh động, văn phong độc đáo, gần gũi với mọi người. Bác là người chỉ đạo, cộng tác viên mật thiết cho các tờ báo của Đảng, đặc biệt là Báo Sự Thật – Nhân Dân hiện nay- cơ quan ngôn luận của Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam. Tổng cộng Bác đã viết và đăng tổng cộng 1.205 bài trên báo Nhân Dân kể từ số đầu tiên, ngày 11-3-1951. Hồ Chí Minh còn là cộng tác viên của nhiều tờ báo trên thế giới như Thiên Tân (Tờ báo của Mỹ xuất bản tại Bắc Kinh); Báo Yi Che Pao của Triều Tiên; Nhân Đạo, Đời sống thợ thuyền, Dân chúng của Pháp; Sự thật của Liên Xô cũ v.v…

Là nhà báo vĩ đại, đồng thời Hồ Chí Minh cũng để lại cho đội ngũ các thế hệ nhà báo những bài học và kinh nghiệm quý báu từ chính cuộc đời làm báo của mình. Tháng 5-1949, trong thư gửi lớp viết báo đầu tiên Huỳnh Thúc Kháng ở Việt Bắc, Người viết “Muốn viết báo khá thì cần: 1. Gần gũi quàn chúng, cứ ngồi trong phòng giấy mà viết thì không thể viết thiết thực; 2. Ít nhất cũng phải biết một thứ tiếng nước ngoài để xem báo nước ngoài mà học kinh nghiệm của người; 3. Khi viết xong bài, tự mình phải xem lại ba bốn lần, sửa chữa lại cho cản thận. Tốt hơn nữa, là đưa nhờ một vài người ít văn hóa xem và hỏi họ những câu nào, chữ nào không hiểu thì sửa lại cho dễ hiểu; 4. Luôn luôn gắng học hỏi, luôn luôn cầu tiến bộ…”. Tại Đại hội lần thứ II, Hội Nhà báo Việt Nam, ngày 16-4-1959, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn “…Tất cả những người làm báo (…) phải có lập trường chính trị vững chắc. Chính trị phải làm chủ. Đường lối chính trị đúng thì những việc khác mới đúng được. Cho nên các báo chí của ta phải có đường lối chính trị đúng…phải cố gắng học tập chính trị, nâng cao tư tưởng…; phải nâng cao trình độ văn hóa, phải đi sâu vào nghiệp vụ của mình”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn “Cán bộ báo chí cũng là chiến sĩ cách mạng. Cây bút, trang giấy là vũ khí sắc bén của họ”. Ngoài việc viết báo, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn có nhiều bài viết về công việc viết báo nhằm chia sẻ kinh nghiệm với người làm báo. Nói chuyện tại Đại hội lần thứ III, Hội Nhà báo Việt Nam ngày 8-9-1962, Người nói “Kinh nghiệm của tôi là thế này: mỗi khi viết một bài báo thì đặt câu hỏi: Viết cho ai xem? Viết để làm gì? Viết thế nào cho phổ thông dễ hiểu, ngắn gọn dễ đọc? Khi viết xong thì nhờ anh em xem và sửa giùm”.

Với 50 năm gắn bó và hoạt động trong lĩnh vực báo chí, Chủ tịc Hồ Chí Minh đã để lại cho chúng ta một di sản báo chí vô cùng đồ sộ, đồng thời cũng để lại một tấm gương cao đẹp về đạo đức nghề nghiệp. Người thực sự là một nhà báo vĩ đại của nền báo chí cách mạng Việt Nam.

Theo dvhnn.org.vn

hcmpc.com.vn

Học cách đi cơ sở, tiếp xúc với nhân dân của Bác Hồ

QĐND – Tại Hội nghị cán bộ toàn quốc quán triệt, triển khai Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”, trong bài phát biểu kết luận, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh: Để chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, chúng ta phải tiến hành đồng bộ các giải pháp, nhưng có một việc mà mọi cán bộ, đảng viên có thể làm ngay, không tốn kém đầu tư chút công sức, của cải nào, càng không phải chờ kế hoạch của Bộ Chính trị, đó là việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Đồng chí Tổng Bí thư chỉ rõ: Làm theo phải toàn diện, nhưng trước hết, từng đồng chí cán bộ cấp cao phải học tập cách đi cơ sở, gặp gỡ, tiếp xúc, lắng nghe ý kiến nhân dân của Bác Hồ. Hiện nay, nhiều đồng chí trong Bộ Chính trị đề nghị các địa phương không căng khẩu hiệu “nhiệt liệt chào mừng” mỗi khi có lãnh đạo Trung ương về thăm và làm việc, nhưng các đồng chí chấp hành chưa nghiêm…

Bác Hồ đi công tác ở chiến khu Việt Bắc/Ảnh tư liệu

Sinh thời, mỗi khi Bác Hồ về thăm địa phương nào, thấy địa phương chăng đèn, kết hoa, căng khẩu hiệu chào mừng, Bác đều góp ý: Bác là “công bộc” về thăm, kiểm tra, nắm tình hình nhân dân chứ không phải ông vua, ông quan. Sau những lần như vậy, các địa phương đều sửa được bệnh “hình thức” đó. Tuy nhiên, để nắm được thực chất đời sống của người dân, Bác Hồ còn tự tổ chức những chuyến đi bí mật, trực tiếp gặp gỡ những người nghèo khổ, những hoàn cảnh éo le. Câu chuyện “Bác không đến thăm thím thì thăm ai” do một chiến sĩ bảo vệ kể về lần Người giao cho các đồng chí thư ký, bảo vệ phải tìm cho Bác một gia đình nghèo nhất Hà Nội để Bác đến thăm vào đêm Giao thừa, đã phản ánh tư tưởng, tác phong gần dân, trọng dân và hiểu dân sâu sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Người luôn xác định, với từng đối tượng người dân phải có cách tiếp cận phù hợp thì người dân mới nói hết tâm tư, tình cảm với cán bộ, nhất là cán bộ cấp cao.

Trong nhiều bài viết, bài nói để lại cho đời sau, Bác Hồ luôn nhấn mạnh: Cán bộ cấp Trung ương về địa phương làm việc, đó là trách nhiệm. Các địa phương cứ chăng đèn, kết hoa, hô khẩu hiệu sẽ khiến cho buổi làm việc trở nên lễ nghi, nặng tính hình thức, vừa tốn kém, vừa khiến lãnh đạo thêm xa dân. Quan liêu, xa rời thực tế là căn bệnh nguy hại nhất đối với cán bộ, nhất là cán bộ cấp Trung ương. Thực tế đã có rất nhiều bài học về việc cấp trực thuộc Trung ương báo cáo một đằng, làm một nẻo khiến lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước đánh giá không sát tình hình, đưa ra quyết sách không phù hợp, gây hậu quả xấu. Chẳng hạn như chuyện những vấn đề tiêu cực ở Thái Bình trước đây: Cấp cơ sở có vấn đề, cấp huyện, cấp tỉnh “nhùng nhằng” mãi không giải quyết được nhưng ngay cả khi có cán bộ cấp Trung ương về kiểm tra, tỉnh vẫn không báo cáo đầy đủ, thực chất vấn đề khiến những vụ việc nhỏ kéo dài, thành ra chuyện lớn.

Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trong cách gặp gỡ nhân dân, khắc phục tình trạng “nhiệt liệt chào mừng” hiện nay, không chỉ là trách nhiệm của địa phương mà còn của chính các đồng chí lãnh đạo cấp cao. Thứ nhất, khi thấy địa phương phô trương, hình thức thì tự đồng chí đó phải chấn chỉnh, góp ý cho địa phương ngay. Thứ hai, trong điều kiện truyền thông phát triển như hiện nay, Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư cần có quy định về việc cán bộ cấp cao phải trực tiếp đi gặp dân, nghe dân phản ánh bao nhiêu buổi; buổi nào cho phép báo chí đi theo tuyên truyền, buổi nào phải hạn chế tối đa số lượng người đi theo… Ngay như việc ăn uống, sinh hoạt khi đi thăm, làm việc với địa phương cũng vậy, cần quy định rõ hoàn cảnh nào cán bộ phải tự túc, hoàn cảnh nào thì gặp gỡ, ăn uống, sinh hoạt thân mật với địa phương, cấp dưới… Nghiêm khắc với cán bộ cấp cao như vậy thì địa phương, cấp dưới mới có cơ sở thực hiện. Hiệu quả của những quy định như vậy sẽ rất lớn.

Khắc phục được bệnh phô trương, hình thức sẽ góp phần ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống trong đội ngũ cán bộ – một công việc cấp bách hàng đầu mà Nghị quyết Trung ương 4 đã chỉ ra./.

HỒNG HẢI

qdnd.vn

Giữ cái phúc của dân

TTO – Bác coi người cán bộ là đầy tớ của dân. Dân có phúc khi gặp người cán bộ biết lo cho dân. Còn cán bộ mà tha hóa về đạo đức thì đó là cái họa cho dân.

Bác Hồ là một tấm gương sáng về thực hành tiết kiệm. Với Bác tiết kiệm không có nghĩa là kiệt sỉ. Tiết kiệm phải phù hợp với tình hình thực tế, chi tiêu phải đúng lúc, đúng chỗ, phải đạt được hiệu quả cao!

Trong thời kì hoạt động cách mạng ở Trung Quốc, Bác vẫn thường mặc chiếc áo len vừa cũ kĩ lại vừa bị rách. Bà Tống Khánh Linh khuyên Bác nên đổi chiếc áo khác nhưng Bác từ chối với lí do áo còn tốt. Cảm động quá, bằng bàn tay khéo léo của mình, bà Tống Khánh Linh đã mạng lại chiếc áo bị rách cho Bác.

Rõ ràng trong hoàn cảnh đó, tiết kiệm của Bác là đúng chỗ, và hiệu quả cao. Những người phục vụ khi thấy Bác vẫn mặc chiếc áo bông đã có nhiều miếng vá, ái ngại muốn Bác thay chiếc khác. Bác nói “Chủ tịch Đảng, Chủ tịch nước mặc áo vá vai thế này là cái phúc của dân đấy, đừng bỏ cái phúc ấy đi”. Hội phụ nữ cứu quốc Hà Động tặng Bác tấm áo lụa, trên ngực có thêu dòng chữ “Kính dâng Hồ Chủ tịch”. Bác cất đi không dùng, để tặng cho người có công với Tổ quốc!

Đến thăm làng Lỗ Khê (Đông Anh – Hà Nội), nơi có phong trào thi đua sản xuất giỏi, Bác căn dặn đồng bào: “Làm giỏi nhưng phải tiết kiệm giỏi”. Trong cuộc sống hàng ngày, chúng ta vẫn thấy hình ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh với bộ quần áo ka-ki màu sáng, cùng chiếc mũ cát-két và đôi dép cao su đã đi vào huyền thoại! Những người phục vụ vẫn thường thấy Bác mặc chiếc quần đùi cũ và chiếc áo may ô sờn vai…

Đề thi viết tháng thứ tư (từ 10-9 đến 10-10)

Sinh thời, Bác Hồ thường nhận được tặng phẩm như vải lụa, quần áo do các tầng lớp nhân dân trong nước và bạn bè quốc tế gửi biếu, Bác đã dùng những tặng phẩm đó để tặng lại các cụ phụ lão, các anh em chiến sĩ, bộ đội, thương binh, bệnh binh và những người có nhiều thành tích trong học tập, lao động sản xuất, chiến đấu.

Trong khi đó, Bác vẫn mặc một chiếc áo bông đã được vá nhiều chỗ. Bác nói với các đồng chí phục vụ “Chủ tịch Đảng, Chủ tịch nước mặc áo vá vai thế này là cái phúc của dân đấy, đừng bỏ cái phúc ấy đi”.

Bạn hiểu thế nào về câu nói và về tấm gương cần kiệm liêm chính, chí công vô tư của Chủ tịch Hồ Chí Minh? Qua câu nói của Bác, bạn hãy viết lên những suy nghĩ của mình và liên hệ với thực tiễn ở địa phương, ngành mình… trong bối cảnh chúng ta đang thực hiện cuộc vận động học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí?

Bài dự thi không quá 1.000 chữ, gửi e-mail: theoguongbac@tuoitre.com.vn, hoặc qua bưu điện đến địa chỉ: Báo Tuổi Trẻ, 60A Hoàng Văn Thụ, Q.Phú Nhuận, TP.HCM.

TTO

Sáng ngày 24/7/1957, lúc đó Bác đang ở thăm Ba Lan, tại phòng lễ tân vào khoảng 9 giờ sáng, khi mặt trời đã lên cao mà ba chùm đèn với hàng trăm ngọn sáng trưng, Bác Hồ đã yêu cầu gặp Vụ trưởng lễ tân. Bộ trưởng Bộ ngoại giao nước bạn liền có mặt. Bác hỏi: “Chỗ tắt điện ở đâu?”. Lập tức mấy chiến sĩ bảo vệ đi tắt điện. Chủ tịch Ba Lan Zawasdzki nói giọng nghiêm trang: “Xin cảm ơn đồng chí Hồ Chí Minh. Tôi thành thật nhận khuyết điểm chưa nghiêm túc thực hiện chỉ thị tiết kiệm của Lênin”.

Khi nhắc đến Chủ tịch Hồ Chí Minh, bà J.Xtin-sơn, nhà sử học Mỹ đã viết: “Tôi xin ca ngợi lời ca đẹp nhất về Người, tôi ngưỡng mộ Người bằng cả đầu óc khoa học của tôi, đồng thời bằng cả trái tim của người con gái hậu thế…. Hồ Chí Minh là một người cộng sản vĩ đại, là một siêu nhân. Người càng vĩ đại hơn ở chỗ Người là một con người bình dị…”.

Soi tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh vào thực tế hiện nay mà thấy chạnh lòng. Nhiều cơ quan đoàn thể thi nhau sắm xe hơi sang trọng đắt tiền, đập nhà cũ xây nhà mới. Nhiều lãnh đạo cũng thi “xem xe ai hơn xe ai” để bằng mọi cách mua xe đắt tiền, với tư tưởng “con gà tức nhau tiếng gáy”. Chính vì thế mới sinh ra tham ô, tham nhũng.

Có xe rồi phải biết ăn sang! Tôi từng chứng kiến nhiều hội nghị, tiệc tùng thấy có những vị lãnh đạo cứ nâng li liên tục, mồm hét lớn “Dzô! Dzô! Dzô!”. Họ uống rượu ngoại, bia hảo hạng, thứ ăn ê hề, thừa mứa… Như thế không chỉ là lãng phí mà còn thậm lãng phí.

Có thủ trưởng đứng trước cơ quan thì nói hay lắm, “tiết kiệm” lắm, nhưng thực tế là một người lãng phí có hạng. Lãng phí về sức khoẻ do chơi bời nhậu nhẹt; lãng phí về thì giờ do nói nhiều, bởi vì không có chuẩn bị trước; lãng phí tiền bạc của cơ quan vì “ tiếp khách”… Cán bộ xa hoa lãng phí, chắc chắn là phải phải dính tới gian trá, tham ô … Vậy, lớp trẻ, người dân học gì ở họ ? Hy vọng gì ở họ?

Tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, đặc biệt về thực hành tiết kiệm thật đáng để mọi người (trong đó có tôi) phải suy ngẫm…

ĐÀO SỸ QUANG
GV Trường Cao đẳng nghề Đồng Nai, P. Thống Nhất, TP. Biên Hòa

tuoitre.vn

Từ bài học đầu tiên

Cách đây đúng 65 năm, dưới sự lãnh đạo của Đảng,toàn thể dân tộc Việt Nam đã tiến hành Cách mạng Tháng Tám thành công. Cách mạng Tháng Tám, như tên gọi, là một cuộc cách mạng. Xét về ý nghĩa của một cuộc cách mạng, chúng ta đã rút ra nhiều bài học vô cùng quý báu. Và bài học đầu tiên trong những bài học đó là: Cách mạng là sự nghiệp của nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng. Để lãnh đạo cách mạng thành công, Đảng phải dựa vào nhân dân, vì nhân dân mà chiến đấu và phục vụ, luôn luôn gắn bó mật thiết với nhân dân, phát huy cao độ sức mạnh của nhân dân.

Khi phát động cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám, chúng ta chỉ có ít vũ khí thô sơ, Đảng ta cũng chỉ có khoảng 5.000 đảng viên – một con số rất nhỏ bé so với tổng số dân nước ta lúc đó là khoảng 20 triệu người. Nhưng nhiều hơn như vậy và mạnh mẽ hơn như vậy chính là sức mạnh bão táp của cả dân tộc, sức mạnh được tổ chức và tập hợp dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản vì khát vọng độc lập, tự do.

Với đường lối đúng đắn của Đảng tiên phong cách mạng, Đảng ta đã gắn liền mục tiêu độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội và những quyền lợi thiết thực của tất cả các tầng lớp nhân dân, từ đó động viên được hàng chục triệu người tham gia vào dòng thác của một cuộc cách mạng toàn dân để chỉ trong vòng nửa tháng đã xác lập chính quyền nhân dân trong cả nước. Trong những ngày tháng ấy, Đảng đã làm tất cả những gì cần phải làm và có thể làm để quần chúng nhân dân ý thức về quyền lợi và sức mạnh của mình, để nhân dân tin rằng Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng của mình, đồng lòng theo Đảng làm nên cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám, khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa.

Dù thời cuộc trải qua bao biến động, song bài học về sức mạnh to lớn của nhân dân và sự gắn bó mật thiết giữa Đảng với nhân dân từ Cách mạng Tháng Tám vẫn luôn có ý nghĩa thời sự, sâu sắc. 65 năm qua, Đảng ta đã luôn phát huy bài học của Cách mạng Tháng Tám trong việc huy động lực lượng quần chúng tham gia các phong trào cách mạng, phong trào thi đua yêu nước, các cuộc vận động lớn trong toàn xã hội, quan tâm đến lợi ích chính đáng, trực tiếp của nhân dân, dựa vào dân, phát huy vai trò sáng tạo của nhân dân để thực hiện mục tiêu bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước. Đường lối đổi mới do Đảng khởi xướng và lãnh đạo đang được thể chế hóa, hệ thống pháp luật, chính sách ngày càng được hoàn thiện, đồng bộ, tạo điều kiện khơi dậy sức mạnh nội lực, tranh thủ ngoại lực cho sự phát triển của nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

Bên cạnh những thành tựu, chúng ta cũng nhận rõ những khó khăn, thách thức không nhỏ, đặc biệt là khi đất nước đang chủ động hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng hiện nay. Năm nay, chúng ta kỷ niệm 65 năm Cách mạng Tháng Tám trong bối cảnh cả nước đang tiến hành đại hội Đảng các cấp tiến tới đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI. Thấm thía bài học lịch sử từ Cách mạng Tháng Tám, chúng ta cũng thấy rõ hơn những điều mới mẻ, gần gũi với thực tế và vận mệnh đất nước đang diễn ra hôm nay.

Thực tế tình hình đòi hỏi chúng ta phải đẩy mạnh sự đổi mới trong xây dựng Đảng, kiện toàn bộ máy Nhà nước, kiên quyết chống tệ nạn tham nhũng đang làm xói mòn niềm tin và quan hệ gắn bó giữa Đảng với nhân dân. Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, củng cố niềm tin trong nhân dân, phát huy sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, tạo nên bước đột phá của đất nước trong thời kỳ mới là cách thiết thực nhất kỷ niệm 65 năm Cách mạng Tháng Tám.

Theo: SGGP online

hcmpc.com.vn