Tag Archive | Chủ tịch Hồ Chí Minh

Lời Bác thắp sáng ước mơ



Trong hai ngày 4 và 5-6 tại TPHCM, Đại hội Thanh niên tiên tiến làm theo lời Bác năm 2011 đã diễn ra với nhiều hoạt động thiết thực. Mỗi bạn trẻ trong số hơn 300 thanh niên tiên tiến dự đại hội là một tấm gương gắn với cuộc vận động “Tuổi trẻ Việt Nam học tập và làm theo lời Bác”.

Người hùng bình dị

Anh Lê Văn Điệp, Phó Bí thư Chi đoàn thôn Hà Lời, xã Sơn Trạch, tỉnh Quảng Bình, được người dân địa phương đặt cho cái tên rất trìu mến “Anh hùng sông Son”. Tháng 10-2010, toàn bộ xã chìm trong nước lũ. Lấy một chiếc thuyền thường dùng để đưa du khách tham quan động Phong Nha, anh Điệp lao vào dòng nước lũ, đưa bà con trong thôn đến nơi an toàn. Được cả nước biết đến nhờ thành tích cứu hơn 150 người trong trận lũ tại thôn Hà Lời, thế nhưng cuộc sống của người hùng Lê Văn Điệp vẫn còn những khoảng lặng. Con gái đầu lòng của anh vừa mới mất vì bạo bệnh, ngôi nhà bị lũ cuốn trôi vẫn chưa được xây dựng lại.

Nhìn vóc dáng thư sinh của thiếu úy Nguyễn Chí Ninh (Đồn Biên phòng cửa khẩu quốc tế Tây Trang, tỉnh Điện Biên), ít ai nghĩ rằng người y sĩ này lại là khắc tinh của tội phạm ma túy. Trong một chuyên án, thiếu úy Ninh bị đối tượng nhiễm HIV đâm khiến phải điều trị phơi nhiễm hơn 3 tháng. Nhiều lần đứng ở lằn ranh giữa cái sống và cái chết, anh không hề băn khoăn.

Anh kể: “Tôi luôn tâm niệm hai điều Bác dạy. Một là tận tụy với nhân dân, hai là cương quyết với kẻ địch. Tháng 4-2010, khi đánh chuyên án ma túy cùng với 4 đồng đội ở gần khu vực cửa khẩu quốc tế Tây Trang. Lúc ấy hơn 3 giờ sáng và sương mù dày đặc. Sau một lúc giằng co, chống trả quyết liệt, biết không thể thoát được, đối tượng đã liều lĩnh lao xuống vực (sâu hơn 30m) để tẩu thoát. Không kịp nghĩ ngợi, tôi lập tức lao theo giữ chặt đối tượng”.

Lan tỏa

Theo anh Trần Văn Toàn (Đồn Biên phòng Sóc Hà, Hà Quảng, Cao Bằng), thấm nhuần bài học gần dân của Bác, cán bộ chiến sĩ biên phòng luôn chủ động gần gũi nhân dân. Nhờ đó, người dân đã cung cấp rất nhiều thông tin, giúp các anh phá nhiều vụ án mua bán phụ nữ, trẻ em qua biên giới, tiêu thụ tiền giả…

Anh Toàn chia sẻ: “Cuộc đời vĩ đại của Bác có vô số những bài học mà chúng ta không dễ dàng gì thấm nhuần hết được. Thế nên, trước hết cần phải suy ngẫm những gì gắn liền với chuyên môn, công tác của mình để học tập và làm theo. Tư tưởng, đạo đức của Bác như ngọn lửa soi đường cho thế hệ trẻ”.

Phát biểu tại Đại hội Thanh niên tiên tiến làm theo lời Bác, đồng chí Lê Thanh Hải, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy TPHCM, cho rằng, những thanh niên tiên tiến được tuyên dương lần này đã khắc họa hình ảnh thế hệ thanh niên thời kỳ mới, luôn trung thành tuyệt đối và tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, nêu cao lòng yêu nước và trách nhiệm công dân, dám dấn thân, tình nguyện vì cộng đồng, đến những nơi gian khó, đảm nhận những việc mới, việc khó với ý chí quyết tâm đưa đất nước vươn lên.

Thanh An

sggp.org.vn

Một thế kỷ bến Nhà Rồng

Tròn 100 năm, người con ưu tú của dân tộc Nguyễn Tất Thành bước chân xuống tàu Admiral Latouche Tréville tại Bến Nhà Rồng bôn ba khắp thế giới tìm đường cứu nước. Sự kiện đó để lại dấu ấn thiêng liêng cho Cảng Nhà Rồng trở thành  một biểu tượng của miền Nam thành đồng Tổ quốc. Với  niềm vinh dự này mà lực lượng Biên phòng hiện đang làm nhiệm vụ tại cụm Cảng Sài Gòn đã nhiều năm qua luôn có những thành tích bất ngờ và vượt trội.

Cảnh quan quanh Bến Nhà Rồng nhìn từ sông Sài Gòn.

Chúng tôi theo chiếc bo bo của Bộ đội Biên phòng cụm cảng Khánh Hội – Nhà Rồng hành trình tuần tra thường nhật qua mặt sông trung tâm thành phố. Thiếu tá Phan Thanh Bình, người lái bo bo đưa đường gắn bó với chốt kiểm soát số 2 đã 4 năm qua, hàng ngày đều phải thường trực ở chốt gác đặc biệt này. Anh nói: Chúng tôi ở đây vẫn coi Nhà Rồng như một điểm đỏ gợi nhớ đến Hồ Chủ tịch và sự nghiệp giải phóng dân tộc của Người. Công việc hàng ngày của các anh là tuần tra an ninh, kiểm soát hàng hải và hơn hết là bảo vệ di tích “điểm đỏ” này.

Nhà Rồng của 100 năm trước nguyên là tòa nhà bán vé cho hành khách của Hãng tàu biển của Pháp Messageries Maritimes. Ngày nay, Bến Nhà Rồng được đánh số 1, khởi đầu đường Nguyễn Tất Thành – con đường xương sống để phát triển kinh tế xã hội cho quận 4, TP Hồ Chí Minh. Trong tổng thể 12.000 m2 khuôn viên di tích bây giờ được dùng làm Bảo tàng Hồ Chí Minh, lưu giữ những hình ảnh nơi ra đi tìm đường cứu nước của Bác Hồ. Không xa tòa nhà đặc biệt này, bến phà Thủ Thiêm nối quận 1 và quận 2 của thành phố vẫn đang hoạt động trước khi hầm Thủ Thiêm được đưa vào sử dụng trong năm 2011. Ngã ba sông Sài Gòn – Bến Nghé nay mai sẽ hình thành con đường ngầm qua sông hiện đại, nối dài thành phố bằng đại lộ Đông Tây. Từ Bến Nhà Rồng dọc theo sông Sài Gòn, đề án quy hoạch gồm cảng tàu du lịch gắn với khu di tích Bảo tàng Hồ Chí Minh sẽ trở thành một quần thể cảnh quan phức hợp dịch vụ du lịch và cảng biển.

Trong vòng bán kính 1km quanh bến Nhà Rồng đang diễn ra một cuộc thay đổi lịch sử trong quy hoạch hạ tầng đô thị đối với TP Hồ Chí Minh. Một tòa nhà hiện đại 68 tầng cao nhất Đông Nam Á đã hoàn thiện với hình dáng một búp sen vươn lên trên bờ sông Sài Gòn. Gần kề ngã ba sông Sài Gòn là cây cầu Phú Mỹ hiện đại vươn qua hai khu vực đô thị lớn là Thủ Thiêm và Phú Mỹ Hưng.

Tuần tra trên sông.

Năm 2010, đã có 103 chuyến tàu cập cảng Nhà Rồng – Khánh Hội với gần 27 ngàn thuyền viên và hơn 50 ngàn lượt khách du lịch. Càng gần dịp đón Tết Nguyên đán Tân Mão, khách du lịch đi tàu biển đến TP Hồ Chí Minh càng đông. Trong đó có một địa điểm mà họ không thể bỏ qua trong lịch trình tham quan đó là di tích Nhà Rồng. Chốt gác số 2 những ngày này luôn phải thường trực đủ quân số, chỉ nghỉ ca, chứ không được nghỉ ngày lễ. Những hôm có bắn pháo bông tại khu vực Bến Nhà Rồng, các anh phải căng thẳng tuần tra hàng giờ trên mặt sông, nhất là vào giờ cao điểm như Giao thừa, sáng mùng 1 – khi các tàu vào cảng “xông đất”. Ngoài việc giám sát các tàu ra vào cảng, 5 cán bộ, chiến sĩ phải thường trực đảm bảo thông thoáng mặt sông liền kề với trung tâm đô thị. Năm 2010, Biên phòng Cửa khẩu Cảng Sài Gòn đạt danh hiệu đơn vị Quyết thắng và đánh dấu một bước ngoặt lớn trong việc cải cách thủ tục khai báo hành chính qua cảng.

Thượng tá Đào Quốc Huy, Chính trị viên của Biên phòng Cửa khẩu Cảng Sài Gòn phấn khởi nói: “Chưa có đơn vị kiểm soát hành chính nào tại cụm cảng Sài Gòn có được sự đổi mới toàn diện thủ tục hành chính như biên phòng cho tới thời điểm này. Điều mấu chốt của sự quyết tâm đổi mới không nằm ở máy móc hiện đại hay là biên chế thông thoáng mà lại nằm ở lòng người có muốn hay không”. Khẳng định như thế bởi đây là đơn vị tiên phong trong cải cách thủ tục hành chính từ cách đây 5 năm. Vào thời điểm này, khi các đơn vị khác còn đang mắc míu trong lộ trình đổi mới thì Biên phòng Cảng Sài Gòn đã nhanh chóng đưa chương trình ứng dụng công nghệ thông tin để tiếp nhận thông tin khai báo thủ tục biên phòng qua mạng cho tất cả các tàu thuyền Việt Nam và nước ngoài xuất, nhập, quá cảnh ra vào cửa khẩu cảng của TPHCM. Ngày trước, mỗi tàu cập cảng, biên phòng phải có một chốt gác 4 ca 16 người nay giản tiện chỉ còn 4 người. Người nào đeo thẻ điện tử có mã vạch thì chỉ kiểm tra một lần thay vì chồng chéo nhiều lần kiểm tra, nhiều ngành kiểm tra như trước đây. Đây cũng là tiền đề cơ bản ra đời nghị định mới về quản lý hoạt động hàng hải tại các cảng biển và khu vực hàng hải Việt Nam.

Dự án cảng Sài Gòn tại khu đô thị cảng Hiệp Phước có tổng diện tích khoảng 100 ha với năng lực xếp dỡ khoảng 18 triệu tấn hàng hóa mỗi năm đã được khởi động. Cùng với việc nạo vét sông Soài Rạp, cảng hàng hóa Nhà Rồng – Khánh Hội sẽ được di dời về đây. Việc chuyển cảng hàng hóa khỏi nội ô thành phố là tất yếu cho một đô thị du lịch dịch vụ hiện đại. Đoạn bờ sông từ cầu Sài Gòn đến cầu Tân Thuận (quận 1, 4, Bình Thạnh), dài khoảng 4km sẽ là khu công viên văn hóa dịch vụ cảng biển phức hợp lớn nhất khu vực. Sông Sài Gòn trong tương lai sẽ như một cảnh quan thiên nhiên làm đẹp cho thành phố với bến Nhà Rồng – biểu tượng vĩnh cửu của miền Nam ở ngã ba Bến Nghé.

Đăng Bảy – Thúy Hằng

bienphong.com.vn

Nhân kỷ niệm 86 năm Ngày báo chí cách mạng Việt Nam


Đấu tranh giai cấp với tư duy nhà báo Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh

Theo báo cáo của mật thám Jean tại Paris trong ngày 9 tháng 2 năm 1919, Nguyễn Ái Quốc đã hai lần đến thư viện Sainte Geneviève, rồi sau đó vào các ngày 10, 11, 12, 13, 15, 17, 19 và nhiều ngày nữa vẫn tiếp tục đến đọc sách trong thư viện này. Trong một lần kể chuyện cho một cán bộ, Hồ Chủ tịch nói Bác đã đọc Tư bản luận của Mác bảy ngày liền. Phải chăng Người đã đọc cuốn sách đồ sộ của Mác tại thư viện Sainte Geneviève?

Gần đúng hai tháng sau, ngày 11 tháng 2 năm 1920, Nguyễn Ái Quốc đã trình bày đề tàiChủ nghĩa Bônsêvích ở châu Á tại Hội nghị những người Thanh niên Cộng sản Pháp quận II, Paris. Tháng 7 cùng năm, Nguyễn Ái Quốc đọc tác phẩm của Lênin về Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về các vấn đề dân tộc thuộc địa đăng trên báo L’Humanité(Nhân đạo) số ra ngày 16 và ngày 17 tháng 7 năm 1920. Luận cương này đã làm cho Nguyễn Ái Quốc “cảm động, phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng biết bao” – một tình cảm và nhận thức mà do nhiều nguyên nhân trước đó Người  chưa có cho đến khi đọc tác phẩm của Mác. Nguyễn Ái Quốc còn viết thư bằng tiếng Pháp gửi Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản cho biết: “Luận cương này đã ảnh hưởng rất lớn đến sự hình thành thế giới quan của mình”.

Văn bản đầu tiên mà Nguyễn Ái Quốc nêu tên V.I.Lê nin là bài “ Mấy ý nghĩ về vấn đề thuộc địa” viết bằng tiếng Pháp đăng trên báo L’Humanité, ký tên Nguyễn Ái Quốc, ngày 25 tháng 5 năm 1922. Trong bài này, tác giả viết: “Chủ nghĩa Bôn sêvích, trước con mắt người dân bản xứ có nghĩa là sự phá hoại tất cả, hoặc tự giải phóng khỏi ách nước ngoài. Nghĩa thứ nhất, làm cho quần chúng ít học và nhút nhát xa lánh chúng ta, nghĩa thứ hai thì dẫn họ đến chủ nghĩa quốc gia. Cả hai điều đó đều nguy hiểm cả”.

Băn khoăn, suy nghĩ về chủ nghĩa Bônsêvích thực ra là chủ nghĩa Mác áp dụng như thế nào trong một nước thuộc địa có bọn đế quốc thực dân và tay sai, có đông đảo nông dân, một bộ phận nhỏ công nhân mới hình thành cùng với nhiều tầng lớp xã hội khác – như ở Việt Nam – là một chuỗi dài tháng năm tư duy, chọn lọc, tìm kiếm của Nguyễn Ái Quốc.

Nguyễn Ái Quốc đã đi từ nhận định: “Ở Đông Dương có hai con người: Người được bảo hộ và người đi bảo hộ” (báo Le Paria, số 16 tháng 7 năm 1923) đến kết luận: “Vậy là, dù màu da có khác nhau, trên đời này chỉ có hai giống người, giống người bóc lột và giống người bị bóc lột” (Báo Le Paria, số 25 tháng 5 năm 1924) và “ chỉ có hai loại người: Thiện và Ác”.

Trong bài Phong trào cách mạng ở Ấn Độ đăng trên Tạp chí Cộng sản tiếng Pháp, số 18 – 19 tháng 8, 9 năm 1921, Nguyễn Ái Quốc viết: “Thảm họa của đất nước đã xóa bỏ, sự phân biệt đẳng cấp và tôn giáo, người giàu, người nghèo, quý tộc và nông dân, Hồi giáo và Phật giáo đều hiệp sức đoàn kết”.

Trong năm 1924, tại Mátxcơva, Nguyễn Ái Quốc đã được mời đến giảng tại một lớp học của những đảng viên cộng sản Đức, văn bản đã được nhà sử học Pháp Alain Rusico công bố dưới đề mục Báo cáo về Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ. Người đọc báo cáo này được đánh giá là một người am hiểu sâu sắc chủ nghĩa Mác và thực tế lịch sử Việt Nam trong quá khứ và hiện tại… Nguyễn Ái Quốc nói: “Cuộc đấu tranh giai cấp (ở Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ) không diễn ra giống như ở phương Tây”.

Tại sao vấn đề đấu tranh giai cấp – hòn đá tảng để phân biệt những người cách mạng chân chính hay cơ hội, là động lực phát triển của xã hội có giai cấp đối kháng như Mác – Lênin đã nêu, lại “không diễn ra ở phương Đông, ở Việt Nam, giống như phương Tây”? Nguyễn Ái Quốc, xuất phát từ thực tiễn Việt Nam, với một tư duy độc lập nhằm mục đích cao nhất là tìm ra một phương pháp tối ưu, phù hợp với Việt Nam để giải phóng dân tộc, đã lập luận rằng: “Xã hội Đông Dương về mặt cấu trúc kinh tế không giống các xã hội phương Tây thời Trung cổ, cũng như thời Cận đại, và đấu tranh giai cấp ở đó (ở Đông Dương, Việt Nam) không quyết liệt như ở đây (ở châu Âu)”.

“Chủ nghĩa Mác sẽ còn đúng ở đó (ở Đông Dương). Dù sao thì cũng không thể cấm bổ sung “cơ sở lịch sử” của chủ nghĩa Mác bằng cách thêm vào đó những tư liệu mà Mác ở thời mình không thể có được”.

Nguyễn Ái Quốc nói tiếp: “Mác đã xây dựng học thuyết của mình trên một triết lý nhất định của lịch sử, nhưng lịch sử nào? Lịch sử châu Âu. Mà châu Âu là gì? Đó chưa phải là toàn thể nhân loại”.

Ở đây ta có thể thấy tư duy của phương Đông, của Việt Nam (mà Nguyễn Ái Quốc là một đại diện), khác với châu Âu. Triết học ở phương Tây thiên về lý, duy lý, có lúc đơn thuần, duy nhất, cực đoan. Ở Việt Nam có một triết lý khác: có cả lý và tình. Trong cái xấu còn có thể tìm ra cái tốt, ở cái mạnh vẫn bộc lộ điểm yếu, trong âm có dương…

Nguyễn Ái Quốc dẫn ra lý luận của Mác: “Sự tiến triển của xã hội phải trải qua 3 giai đoạn: chế độ nô lệ, chế độ nông nô, chế độ tư bản và trong mỗi giai đoạn ấy đều có đấu tranh giai cấp tuy có khác nhau”. Nhưng Nguyễn Ái Quốc lại cảnh báo: “Chúng ta phải coi chừng. Các dân tộc Viễn Đông có trải qua 2 giai đoạn đầu không?”

Nguyễn Ái Quốc không phủ nhận “đấu tranh giai cấp” ở châu Âu theo chủ nghĩa Mác, mà suy tính vận dụng chủ nghĩa Mác vào Việt Nam như thế nào để cách mạng Việt Nam giành thắng lợi.

Trên thực tế, ở Việt Nam “chủ nghĩa dân tộc còn là động lực lớn nhất của đất nước”. Từ quá trình lịch sử hình thành dân tộc Việt, người Việt từ xa xưa đã có một tinh thần dân tộc cao, biết thương yêu đùm bọc lẫn nhau, đoàn kết chặt chẽ chống thiên tai, ngoại xâm. Từ đó nảy sinh ra tình yêu nước, thương dân cao cả. Hồ Chí Minh đã từng nói: “Hễ là người Việt Nam, ai cũng có lòng yêu nước”.

Tình yêu nước ấy gắn bó tất cả những người Việt, những cộng đồng các dân tộc chung sống với dân tộc Việt trên đất Việt Nam thành một thành viên chung được gọi là đồng bào. Hồ Chí Minh định nghĩa đồng bào “nghĩa hẹp là gia đình, anh em họ hàng, bạn bè, nghĩa rộng là đồng bào cả nước, rộng hơn nữa là cả loài người”.
Theo mạch tư duy riêng của mình, Hồ Chí Minh không định nghĩa cách mạng theo cách châu Âu là biến đổi bất ngờ và táo bạo trong cơ cấu kinh tế xã hội, là khởi nghĩa, nổi dậy, nổi loạn, bước ngoặt cơ bản, bước nhảy vọt bất ngờ từ một tình trạng chất lượng này sang một chất lượng khác, cuộc biến đổi lớn thông qua đấu tranh giai cấp… Trên cơ sở thực tiễn Việt Nam, Hồ Chí Minh đã định nghĩa ngay từ năm 1927 – trong Đường Kách mệnh: “Cách mệnh là phá cái cũ đổi ra cái mới, phá cái xấu đổi ra cái tốt”. Như vậy, làm cách mạng ở Việt Nam đâu nhất thiết theo cách hiểu của phương Tây?

Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh chủ trương ở nước Việt Nam bị đô hộ, vấn đề trước hết là phải nêu cao chủ nghĩa yêu nước, đoàn kết dân tộc, đoàn kết mọi giai cấp có thể đoàn kết được để giải phóng dân tộc, chớ chưa phải và không phải là đấu tranh giai cấp chống địa chủ, tư bản tràn lan. Có giải phóng được dân tộc mới có điều kiện giải phóng được giai cấp nông dân, công nhân. Quan điểm này đã khiến Quốc tế Cộng sản và nhiều học trò, đồng chí của Nguyễn Ái Quốc không tán thành, ủng hộ, và cho rằng Nguyễn Ái Quốc coi nhẹ đấu tranh giai cấp là cải lương, dân tộc chủ nghĩa, khiến cho Nguyễn Ái Quốc đã từng trở thành một lữ hành cô đơn (câu của Đại tướng Võ Nguyên Giáp). Nhưng Nguyễn Ái Quốc vẫn giữ quan điểm của mình.

Trong sách Sửa đổi lối làm việc viết năm 1947, ký tên X.Y.Z, Hồ Chí Minh đã nhắc cán bộ rằng: “Nghe người ta nói giai cấp đấu tranh  mình cũng ra khẩu hiệu giai cấp đấu tranh mà không xét hoàn cảnh nước mình như thế nào để làm cho đúng”. Tiếp đó, trong bàiDuy vật biện chứng và duy vật lịch sử ký tên X.Y.Z, đăng trên tờ Sinh hoạt nội bộ, Ban Chấp hành Liên chi khu bộ tái bản năm 1950, Hồ Chí Minh viết: “Trong lúc cần toàn dân đoàn kết mà chủ trương đấu tranh là một điều ngu ngốc. Việc gì cũng phải đúng với địa điểm, điều kiện và thì giờ thì mới thành công”. Ba điều đúng (địa điểm, điều kiện, thời cơ) đó chính là thực tiễn – thực tiễn Việt Nam.

Hồ Chí Minh viết tiếp: “Chính sách mà Đảng cách mạng lập ra trên sự cần kíp của xã hội, trên lực lượng chính của sự phát triển xã hội, chớ không phải lập ra trên những lý luận mênh mông”.

Đi từ thực tiễn Việt Nam, đối chiếu với chủ nghĩa Mác, theo Luận cương của Lênin về vấn đề thuộc địa, Hồ Chí Minh có lần giải thích rằng: “Chủ nghĩa Mác – Lênin ở Việt Nam là đại đoàn kết”. Đại đoàn kết tất cả các giai tầng xã hội, theo Hồ Chí Minh không phải là đoàn kết vô nguyên tắc, mà chỉ là đoàn kết những người yêu nước, phụng sự Tổ quốc, không đoàn kết với những kẻ phản bội Tổ quốc, những kẻ tham ô, tham nhũng.

Trong cải tạo công thương nghiệp tư doanh trên miền Bắc, sau khi hoàn thành cải cách ruộng đất, Hồ Chủ tịch đã nói trong một hội nghị cán bộ cao cấp rằng: “Không nên coi tư sản dân tộc là đối tượng cách mạng, mà nên coi họ là đồng minh”.

Nguyễn Ái Quốc đã từng vận dụng đấu tranh giai cấp ở Pháp, ở Hoa Nam, ở Xiêm trong đồng bào người Việt Nam. Năm 1941, sau 30 năm học tập lý luận, đối chiếu thực tiễn, qua kinh nghiệm hoạt động của bản thân, với những luận điểm riêng của mình đã được Quốc tế Cộng sản chấp nhận bước đầu qua Đại hội VII của Quốc tế cộng sản, Nguyễn Ái Quốc đã trở về Việt Nam với đầy đủ kinh nghiệm để thực hiện đại đoàn kết. Người viết trên tờ trên tờ báo Việt Nam độc lập rằng: “Lực lượng chúng ta là ở chỗ đoàn kết, đoàn kết toàn dân, đoàn kết người đàn ông, đoàn kết đàn bà, người già, trẻ con, đoàn kết người làm ruộng, làm thợ, đi buôn, người làm việc cho Tây, người đi lính cho Tây”, “không phải đoàn kết nhất thời mà đoàn kết mãi mãi”.

Đại đoàn kết của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh – một vận dụng sáng tạo đấu tranh giai cấp của chủ nghĩa Mác ở Việt Nam, đã tập hợp, đại hòa hợp được tất cả con Rồng, cháu Tiên, nông dân, công nhân, trí thức, đại tư sản…, nghĩa là gần như tất cả những người dân yêu nước, chỉ trừ những kẻ phản quốc, Việt gian, kẻ chống lại Tổ quốc, dân tộc. “Đại đoàn kết ấy thực sự là một trong những yếu tố quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam”.

Là một di sản quốc bảo của Hồ Chí Minh, của Tổ quốc ta, dân tộc ta, bài học về đại đoàn kết, đấu tranh giai cấp này mãi mãi vẫn là một nhân tố quyết định đồng hành với thắng lợi của đất nước ta trong thế kỷ mới. Đối với một số quốc gia, dân tộc, di sản này còn là một phương án tham khảo tích cực.

Theo Dấu ấn của nhà báo Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh trong cách mạng giải phóng dân tộc

Ts Nguyễn Văn Khoan

daibieunhandan.vn

Nhà báo Nga vạch trần thông tin bịa đặt về Bác Hồ

Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập. (Nguồn: Internet)

Chủ tịch Hồ Chí Minh là vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc Việt Nam. Cảm phục về Người, đã có nhiều chuyên gia và phóng viên nước ngoài viết về Chủ tịch Hồ Chí Minh với tất cả lòng kính trọng.

Vietnam+ xin giới thiệu bài viết về Chủ tịch Hồ Chí Minh của nhà báo người Nga Sergey Afonin:

Trong những ngày Thu năm 2010, cả nước Việt Nam long trọng kỷ niệm 65 năm Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập trước quốc dân đồng bào, khai sinh ra nước Việt Nam, mở ra một trang sử mới trên con đường đấu tranh giành độc lập, tự do của cả dân tộc Việt Nam.

Lúc sinh thời, Hồ Chủ tịch coi bản tuyên ngôn được chính Người viết tại một căn nhà bí mật ở Hà Nội là tác phẩm tâm đắc nhất của mình. Căn nhà đó, nay trở thành di tích lịch sử của đất nước. Ấy vậy mà lại có một số kẻ mang trong mình dòng máu Việt lại trắng trợn xuyên tạc là đã có người viết giúp Hồ Chí Minh bản tuyên ngôn đó.

Không dừng lại ở đó, chúng còn lôi kéo một số người Việt lưu vong tham gia vào việc bôi nhọ, xuyên tạc cuộc đời hoạt động cách mạng, đạo đức trong sáng của Hồ Chí Minh.

Vì lòng tôn kính đối với lãnh tụ của Việt Nam – Hồ Chí Minh, vì tình yêu đối với đất nước và người dân Việt Nam, xuất phát từ cuộc đời của mình từng gắn bó với Việt Nam, tôi nhận thấy rằng: chính những người đồng chí đã kề vai sát cánh với Bác Hồ trên con đường cách mạng giành độc lập dân tộc, xây dựng đất nước; chính người dân Việt Nam và bạn bè quốc tế có dịp tiếp xúc, làm việc với Hồ Chí Minh mới là những người đánh giá khách quan nhất về Bác.

Tôi may mắn được 3 lần gặp Bác Hồ vào các năm 1961, 1964 và 1969 tại Hà Nội. Ấn tượng cá nhân của tôi về Hồ Chí Minh – đó là một con người hết sức thông thái, nắm vững tình hình thế giới, trân trọng lý luận của Lenin và kinh nghiệm của Cách mạng tháng Mười Nga.

Tôi cũng đã từng nhiều năm làm chuyên viên tại Ban Đối ngoại Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô, đã có rất nhiều dịp được tiếp kiến, trò chuyện lúc thì ở Hà Nội, khi thì ở Mátxcơva với các đồng chí Tôn Đức Thắng, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Lương Bằng, Lê Duẩn, Lê Đức Thọ, Văn Tiến Dũng, Tố Hữu, Võ Chí Công, Võ Văn Kiệt, Nguyễn Hữu Thọ, Nguyễn Thị Định… Hầu hết những nhà lãnh đạo đó đã trải qua tù đầy, hoạt động bí mật và cũng như Hồ Chí Minh, họ giữ gìn đạo đức cách mạng và lòng trung thành đối với dân tộc.

Tôi đã gặp vô số nông dân, công nhân, trí thức, chiến sỹ lão thành cách mạng trong những năm tháng chiến tranh ác liệt ở Việt Nam. Qua những cuộc tiếp xúc với họ, tôi mới cảm nhận được tình yêu và sự kính trọng từ trong lòng mình của toàn thể nhân dân Việt Nam đối với lãnh tụ của mình.

Đối với họ, Bác Hồ là một con người thông thái nhưng giản dị, bằng cả trái tim mình lo cho đồng bào và vận mệnh nước nhà. Thời gian sẽ cho chúng ta thấy rõ, bất chấp những lời vu khống và bịa đặt, hình ảnh gần gũi và giản dị của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã, đang và sẽ mãi là tấm gương mẫu mực cho tất cả những ai có thiện chí trên thế giới này.

Vì vậy, tôi không thể nào đồng ý với những người làm ra cuốn DVD “Sự thật Hồ Chí Minh,” trong đó nhận định Hồ Chí Minh đã coi thường lợi ích của nhân dân mình, đưa dân tộc này đi theo con đường sai lầm. Chỉ cần tập hợp tất cả những hồi ký, bài viết về Hồ Chí Minh của mọi tầng lớp trong xã hội Việt Nam cũng như trên toàn thế giới, tôi chắc rằng đó sẽ là một thư viện khổng lồ và chân thực nhất về Người.

Di sản tư tưởng của Hồ Chí Minh ngày nay đang được nghiên cứu, giảng dạy và vận dụng tại Việt Nam, tư tưởng này có ý nghĩa quốc tế rất cao do được cả thế giới tiến bộ thừa nhận. Di sản to lớn đó ngày càng được phổ biến rộng rãi trên hành tinh. Và thực tế đó là đúng đắn nhất, khác với những gì kẻ thù bịa đặt về con người vĩ đại này.

Tôi và tiến sỹ sử học Evgheny Kobelev (hiện nay là lãnh đạo Trung tâm nghiên cứu Việt Nam và ASEAN thuộc Viện Viễn Đông – Viện Hàn lâm Khoa học Nga) đã viết 2 cuốn sách về Hồ Chí Minh, đọc hầu hết những tác phẩm của Người và những hồi ký về Người. Hoạt động tích cực của Hồ Chí Minh tại Quốc tế Cộng sản đã tạo điều kiện cho việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam và điều đó báo hiệu cho những thắng lợi tiếp theo của Cách mạng Việt Nam sau này.

Trong nhiều năm, Hồ Chí Minh lãnh đạo cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc chống thực dân Pháp, quân phiệt Nhật, sau đó phải chống bọn xâm lược Pháp một lần nữa và cuối cùng là chống Mỹ xâm lược. Trong thời khắc nóng bỏng của cuộc chiến tranh cuối cùng này, tháng 6/1966, Hồ Chủ tịch tuyên bố: “Nhân dân Việt Nam quyết không sợ. Không có gì quý hơn độc lập tự do!.” Tôi được tận mắt chứng kiến khẩu hiệu đó đã cổ vũ nhân dân Việt Nam ở miền Bắc và miền Nam đạt được những chiến công rực rỡ như thế nào. Câu nói về giá trị của Độc lập và Tự do đã được ghi tạc trong lăng của Người ở thủ đô Hà Nội.

Có thể coi Lời di chúc của Hồ Chí Minh là một trong những tài liệu quan trọng nhất chứng minh rõ tư duy triết học của Người, tình yêu vô bờ bến đối với đồng bào, niềm tin không gì lay chuyển nổi vào thắng lợi cuối cùng của cuộc cách mạng, tính lạc quan và niềm tin vào bạn bè trên thế giới.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Mặt trận Tổ quốc, nhân dân Việt Nam đang xây dựng xã hội mới hạnh phúc, Việt Nam đã trở thành một nước độc lập, tự do, thống nhất, hòa bình, ổn định, dân chủ và phồn vinh, đúng như ước nguyện của Hồ Chủ tịch. Điều đó đã khiến tất cả những người bạn của nhân dân Việt Nam cảm thấy vui mừng. Chính mắt tôi đã chứng kiến những đổi thay to lớn trên đất nước Việt Nam trong chuyến đi tham dự Hội thảo quốc tế “Di sản Hồ Chí Minh trong thời đại ngày nay” được tổ chức tại Hà Nội vào tháng 5/2010.

Trong chuyến công du gần đây nhất đến Việt Nam cuối tháng 10/2010, Tổng thống Nga Dmitry Medvedev cũng đã khẳng định 10 năm qua, Việt Nam đã phát triển và thay đổi mạnh mẽ theo hướng hiện đại hơn. Tuy nhiên, những thành tựu mà Việt Nam đạt được lại gây nên sự ghen tị, thù hằn và bực tức cho những kẻ thù của nhân dân Việt Nam, đặc biệt là những kẻ sống lưu vong ở nước ngoài.

Chúng không thể nào hài lòng với thực tế này nên một số kẻ âm mưu gieo rắc những thông tin sai lệch về Bác Hồ. Mục đích của bọn chúng nhằm gây ra sự hỗn loạn ở Việt Nam sẽ không bao giờ đạt được. Hình ảnh của Bác Hồ không ai có quyền xuyên tạc và xúc phạm bởi đó là hình ảnh một danh nhân văn hóa đã được Tổ chức Văn hóa và giáo dục Liên hợp quốc thừa nhận.

Trong lịch sử khó tìm thấy hai sự đối lập vĩnh viễn – đó là Sự thật và Bịa đặt. Không gì có thể bào chữa được cho những kẻ phản bội Tổ quốc mình và làm những gì mà chủ của nó sai khiến, những kẻ muốn tước đoạt những thứ không bao giờ có thể lấy lại được. Không ai có thể phá hoại những thành tựu của nhân dân Việt Nam, uy tín xứng đáng của Việt Nam và Đảng Cộng sản Việt Nam./.

(Vietnam+)

vietnamplus.vn

Ra sức học tập và làm theo đạo đức, phong cách báo chí Hồ Chí Minh

Chủ tịch Hồ Chí Minh (Ảnh tư liệu)

(ĐCSVN) – Chủ tịch Hồ Chí Minh là lãnh tụ thiên tài của cách mạng Việt Nam và là nhà báo cách mạng vĩ đại. Suốt đời Bác tận tụy, hết lòng, hết sức phục vụ cách mạng, phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, những người làm báo cần ra sức làm theo tinh thần, trách nhiệm phục vụ nhân dân và học tập phong cách báo chí của Người.Nhà báo lỗi lạc Hồ Chí Minh

Trong cuộc đời hoạt động cách mạng, Hồ Chí Minh có 50 năm viết báo, làm báo. Điều đặc biệt có ý nghĩa là Bác Hồ đã khởi đầu xây dựng sự nghiệp báo chí cách mạng Việt Nam ngay khi tìm thấy con đường giải phóng dân tộc, dùng báo chí để tuyên truyền cách mạng. Sự kiện ấy đã xảy ra cách nay 86 năm, Người đã sáng lập Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên và xuất bản tờ Thanh Niên làm công cụ tuyên truyền chủ nghĩa Mác – Lênin, giác ngộ những người yêu nước, dẫn dắt họ trong cuộc đấu tranh cách mạng để giành độc lập cho dân tộc, tự do cho nhân dân. Báo Thanh Niên là tờ báo cách mạng đầu tiên do Bác Hồ sáng lập và làm chủ bút đã làm tròn sứ mệnh là chuẩn bị về lý luận, tổ chức, tập hợp những lực lượng yêu nước và cách mạng tiến tới thành lập Đảng Cộng sản Việt nam.

Những người làm báo Việt Nam thật vinh dự và tự hào có Chủ tịch Hồ Chí Minh là một nhà báo cách mạng vĩ đại và là người thầy của báo chí cách mạng.

Sự nghiệp cách mạng và cuộc đời hoạt động cách mạng của Bác Hồ luôn gắn với báo chí. Sinh thời Bác từng nói, Người có duyên nợ với báo chí. Ngay từ những năm tháng gian khó của cuộc hành trình tìm đường cứu nước ở nước ngoài, Bác Hồ học viết báo, học làm báo để vừa kiếm sống vừa tuyên truyền cách mạng, giác ngộ quần chúng, tố cáo tội ác của chủ nghĩa thực dân. Từ năm 1941, ngay khi về nước trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng, Bác đã trực tiếp sáng lập các tờ báo và viết báo để tổ chức và giáo dục cán bộ, đảng viên, nhân dân làm cách mạng giải phóng dân tộc, mà đỉnh cao là Cách mạng tháng Tám năm 1945. Khi Đảng có chính quyền, Bác viết báo phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân, tổ chức và giáo dục cán bộ, đảng viên, nhân dân kháng chiến, kiến quốc…Bác viết báo để phát động các phong trào thi đua yêu nước, phong trào Tết trồng cây, thực hành tiết kiệm, chống tham ô lãng phí, sửa đổi lối làm việc của Đảng và chính quyền, nâng cao đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân, chăm sóc thiếu niên nhi đồng…Tất cả các bài báo của Bác luôn gắn với các phong trào cách mạng, gắn với nhân dân vì nhân dân. Đã có lần Bác nói với các nhà báo rằng, đề tài viết báo của Bác là tuyên truyền độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, với ham muốn tột bậc của Người là làm cho nước ta được độc lập, dân ta được tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành. Bác đã dùng báo chí làm phương tiện đấu tranh cách mạng và phục vụ nhân dân, đoàn kết nhân dân và nhân loại để giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng con người. Là người từng trải nghiệm công việc làm báo, Bác truyền lại cho các thế hệ những người làm báo Việt Nam nhiều bài học kinh nghiệm quý giá. Người thường dạy, báo chí là một nghề, cho nên người làm báo cách mạng cần được bồi dưỡng lập trường cách mạng vững vàng, thường xuyên rèn luyện đạo đức, được đào tạo nghề nghiệp tinh thông, biết ngoại ngữ…Những người làm báo cần ra sức trau đồi kiến thức, học tập lý luận, lăn lộn trong thực tiễn và gắn bó với nhân dân. Bác nói với các nhà báo mà như tâm tình với bạn đồng nghiệp: Nếu các bạn viết báo mà quần chúng hiểu, quần chúng ham đọc, quần chúng khen hay – thế là các bạn tiến bộ. Trái lại – là các bạn chưa thành công .

Học tập đạo đức, phong cách làm báo của Bác

Đạo đức và sự nghiệp báo chí của Bác là tài sản tinh thần quý giá của Đảng và của nhân dân. Đội ngũ những người làm báo có vinh dự và trách nhiệm lớn được kế thừa và phát triển tài sản, sự nghiệp báo chí của Bác. Học tập và làm theo Bác, những người làm báo cần ra sức nghiên cứu đường lối chính sách của Đảng, luật pháp của nhà nước, đi sát cuộc sống của nhân dân, không ngừng tu dưỡng, rèn luyện để nâng cao đạo đức và chuyên môn, tinh thông nghề nghiệp, tận tụy phục vụ nhân dân, góp phần tích cực trong công cuộc đổi mới, trong cuộc đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, thực hành tiết kiệm… xứng đáng với chỉ dạy của chủ tịch Hồ Chí Minh: nhà báo là chiến sĩ trên mặt trận văn hoá, cây bút, trang giấy là vũ khí trong đấu tranh phò chính, trừ tà, phục vụ lợi ích cách mạng, phục vụ nhân dân.

Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, những người làm báo cần ra sức làm theo tinh thần và trách nhiệm phục vụ nhân dân của Người. Trước tiên là quan điểm làm báo của Bác “mục đích viết làm gì? Viết cho ai xem?” . Quan điểm báo chí phục vụ nhân dân của Chủ tịch Hồ Chí Minh cần thấm nhuần trong từng trang viết, từng bài báo, từng tin, từng ảnh, không chạy theo thị hiếu tầm thường và tránh thương mại hoá . Vì lợi ích của nhân dân, lợi ích của đất nước, những người làm báo cần suy tư, trăn trở để làm cho các ấn phẩm báo chí đáp ứng tốt nhất nhu cầu thông tin, định hướng dư luận, động viên khích lệ các tầng lớp nhân dân hăng hái sản xuất, kinh doanh, phát triển kinh tế, văn hoá, đảm bảo an sinh xã hội, xây dựng đời sống văn hoá, bảo vệ toàn vẹn chủ quyền Tổ quốc. Đồng thời, các cơ quan báo chí cũng cần có những bộ phận tiếp nhận những ý kiến đóng góp ý kiến của các tầng lớp nhân dân để tờ báo, tạp chí thật sự là diễn đàn của nhân dân, tiếp thu sự phê bình của nhân dân, làm cầu nối Đảng với nhân dân, chính quyền với nhân dân.

Báo chí hiện nay cần học Bác trong việc tuyên truyền người tốt viêc tốt góp phần giáo dục toàn dân, chăm lo xây dựng con người mới , phát triển nguồn nhân lực trong tiến trình CNH,HĐH đất nước. Thông qua tuyên truyền người tốt việc tốt, báo chí cần tham gia tích cực vào sự nghiệp trồng người, nhất là đối với cán bộ, đảng viên thì đấy còn là cách giáo dục lẫn nhau có tác dụng thiết thực như Bác dạy. Như có lần nói chuyện về làm và xuất bản sách “người tốt, việc tốt”, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: Làm cán bộ tức là suốt đời làm đày tớ trung thành của nhân dân. Mấy chữ a, b, c này không phải ai cũng thuộc đâu, phải học mãi, học suốt đời mới thuộc được. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, tuyên truyền người tốt việc tốt có ý nghĩa giáo dục sâu sắc với cán bộ ,đảng viên. Bởi lẽ, muốn là cán bộ, đảng viên tốt, trước hết phải là người tốt, phải làm việc tốt, phải tự rèn luyện và phấn đấu, tu dưỡng đạo đức, phải nêu gương tốt trước quần chúng, trước nhân dân, nếu có khuyết điểm thì phải thật thà sửa chữa khuyết điểm, làm việc, công tác phải dựa vào nhân dân, đặt quyền lợi của nhân dân lên trên … Hiện nay báo chí cần thật sự thấm nhuần lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: Tuyên truyền người tốt việc tốt còn có ý nghĩa xây dựng con người mới, trong việc phát huy nhân tố con người để cả dân tộc ta là một vườn hoa đẹp. Phải chăm lo xây dựng con người mới vì con người là lực lượng sản xuất hàng đầu, là nhân tố quyết định nhất trong CNH, HĐH và xây dựng xã hội dân giàu nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Báo chí, những người làm báo cần phải làm tốt vai trò cổ vũ, động viên những con người mới, những nhân tố mới, những tấm gương tiêu biểu trong sự nghiệp đổi mới. Theo Hồ Chí Minh thì xây dựng con người mới phải dựa trên những “vật liệu quý” đó, những cán bộ không biết làm việc hoặc có cái nhìn không đúng chính là không thấy được tầm quan trọng của những tấm gương tập thể, cá nhân làm “những việc nhỏ, bình thường thôi, nhưng ích nước lợi dân”.

Trong tiến trình hội nhập, mở cửa thị trường, mở rộng giao lưu quốc tế, thực hiện CNH, HĐH, báo chí cần thực hiện chức năng giám sát xã hội và cổ vũ những người dũng cảm tố cáo, đấu tranh chống các hành vi vi phạm pháp luật cùng các tiêu cực xã hội khác. Thông qua các thông tin trên báo chí tạo nên các làn sóng dư luận xã hội, góp phần ngăn chặn, đẩy lùi tiêu cực, tham nhũng và loại bỏ những cán bộ, công chức, viên chức thoái hoá, biến chất để xây dựng Đảng, chính quyền ngày càng trong sạch, vững mạnh, phục vụ nhân dân tốt hơn như điều mong muốn của Chủ tịch Hồ Chí Minh./.

Phạm Văn Khánh

cpv.org.vn

Nhớ lời dạy của Bác về Cao Bằng

Ông Trần Viết Hoàn, nguyên Giám đốc Khu di tích lịch sử Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch đã đưa ra một trang giấy nhỏ, là bút tích việc chuẩn bị bài nói mà Bác Hồ đã chuẩn bị: Chúc đồng bào pi mư đạy lai (tiếng Tày nghĩa là: Chúc đồng bào năm mới nhiều tốt đẹp). Cao Bằng phải cao bằng những tỉnh tốt nhất, tốt nhất là Cao Bằng vượt mức cao không ai bằng.

Nghiên cứu di sản và cuộc đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, tôi tự rút ra cho mình một nhận xét, tuy là không mới nhưng là điều tôi hướng theo khi nói về tư tưởng Hồ Chí Minh hay ở một bình diện khác: Văn hoá Hồ Chí Minh. Trên báo Ogoniok (Liên Xô), số 39, ra ngày 23/12/1923, nhà thơ, nhà báo nổi tiếng O.Mandenxtam đã có một tiên cảm tinh tế, chính xác về Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Dáng dấp con người đang ngồi trước mặt tôi đây, Nguyễn Ái Quốc, cũng đang tỏa ra thật lịch thiệp và tế nhị. Từ Nguyễn Ái Quốc đã tỏa ra một thứ văn hoá, không phải văn hoá châu Âu, mà có lẽ là một nền văn hoá tương lai” (Thăm chiến sĩ cộng sản quốc tế Nguyễn Ái Quốc).

Đúng! đó là một nền văn hoá tương lai nhưng nền văn hoá tương lai đó không đến từ hư không mà là kết quả sự dung nạp, chắt lọc từ nhiều nền văn hoá, tư tưởng, kết hợp với nền văn hoá dân tộc truyền thống. Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh đã từng nói: “Học thuyết Khổng Tử có ưu điểm là sự tu dưỡng đạo đức cá nhân. Cơ Đốc giáo có ưu điểm là lòng nhân ái cao cả.

Chủ nghĩa Mác có ưu điểm là phương pháp làm việc biện chứng. Chủ nghĩa Tôn Dật Tiên có ưu điểm: chính sách của nó thích hợp với những điều kiện nước ta.

Các vị đó có những điểm chung. Họ đều nghĩ về nhân loại mà mưu cầu hạnh phúc, vì xã hội mà mưu cầu phúc lợi. Tôi gắng làm người học trò nhỏ của các vị ấy“.

Như vậy là trong “người học trò” nhỏ ấy có tư tưởng tiến bộ của Chúa Giêsu, có Đức Phật, có Mác – Lê nin, có Tôn Dật Tiên, có Trần Nhân Tông, Trần Hưng Đạo, Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Du… và cả Trạng Quỳnh nữa! Điều nổi bật nhất trong suy nghĩ, trong cách nói, cách viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh là có chất trí tuệ uyên bác, tiên tri của Trạng Trình và chất hài hước, dí dỏm, cách nói đa nghĩa của Trạng Quỳnh! Có thể nói, 2 ông Trạng Việt Nam đó luôn có ở trong con người Hồ Chí Minh, do đó trong cuộc đời mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiên đoán những sự kiện lớn cực kỳ chính xác (Việt Nam độc lập năm 1945, Mỹ thua trên bầu trời Hà Nội 1972 v.v…). Còn cách nói nước đôi, hài hước, dí dỏm, cách chơi chữ thì ngay từ những truyện, ký Người viết ở nước ngoài, những bài thơ trong “Nhật ký trong tù”, trong những bài báo in trên những tờ báo trong và ngoài nước.

Sau 20 năm, Hồ Chủ tịch về thăm lại Pắc Bó (Cao Bằng – 1961).

Cách nói đa nghĩa và chơi chữ là cách Người hay dùng, chẳng hạn đầu xuân năm 1961, trong lần trở lại thăm Cao Bằng, trong buổi nói chuyện với các cán bộ lãnh đạo của tỉnh, Bác hỏi: “- Cao Bằng giờ có dám phấn đấu để không ai cao bằng mình không?

Đồng chí Hồng Kỳ, Bí thư Tỉnh ủy, đứng dậy nhìn các cộng sự của mình, rồi thưa rằng:

– Dạ, phong trào cả tỉnh đang nhiều mặt yếu, Bác dạy thế cao quá, Cao Bằng khó lòng đạt được.

Sau vài giây suy nghĩ, Bác hỏi:

– Vậy thì, Cao Bằng chí ít cũng phải phấn đấu để cao bằng người ta.

Đó là yêu cầu tối thiểu, đồng chí Hồng Kỳ thay mặt Đảng bộ hứa sẽ quyết tâm thực hiện bằng được lời Bác dạy“. (Tư tưởng Hồ Chí Minh với việc xây dựng con người xã hội chủ nghĩa ở Cao Bằng, kỷ yếu hội thảo Bác Hồ với Cao Bằng – 1994). Trong cuộc hội thảo Bác Hồ với Cao Bằng, tổ chức tại tỉnh Cao Bằng nhân kỷ niệm 70 năm Bác Hồ về nước (1911 – 2011), ông Trần Viết Hoàn, nguyên Giám đốc Khu di tích lịch sử Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch đã đưa ra một trang giấy nhỏ, là bút tích việc chuẩn bị bài nói mà Bác Hồ đã chuẩn bị. Nội dung đoạn bút tích đó như sau:

Chúc đồng bào pi mư đạy lai (tiếng Tày nghĩa là: Chúc đồng bào năm mới nhiều tốt đẹp).

Cao Bằng phải cao bằng những tỉnh tốt nhất, tốt nhất là Cao Bằng vượt mức cao không ai bằng.

Đó là nỗi niềm, là lòng mong ước, là lời dạy của Bác Hồ đối với nhân dân Cao Bằng thật dễ nhớ, dễ thuộc, dễ khắc sâu, bởi ý nghĩa sâu xa, bởi lối chơi chữ biến ảo: Chữ Cao Bằng, danh từ chỉ địa danh đổi thành tính từ so sánh. Tôi nghĩ cách nói này của Bác Hồ vừa dân dã vừa linh hoạt, ít chữ mà nội dung tải được lại rất nhiều so với cả một đoạn dài được chuẩn bị rất bài bản mà Bác Hồ đọc trong buổi mít tinh đón Người tại sân vận động thị xã Cao Bằng, năm 1961: “Bác mong tỉnh Cao Bằng sớm trở thành một trong những tỉnh gương mẫu trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội cũng như trước đây Cao Bằng là tỉnh gương mẫu trong công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc“.

Năm mươi năm đã trôi qua kể từ ngày Bác Hồ lên thăm Cao Bằng lần cuối cùng và để lại những lời dạy quý báu, Cao Bằng đã không ngừng phấn đấu vươn lên, nhưng buồn thay ước muốn của Bác Hồ về sự đi lên, sự gương mẫu, sự cao bằng người… vẫn còn xa vời lắm. Cao Bằng vẫn là một trong những tỉnh nghèo nhất nước, nhiều ngành “đứng đầu” cả nước… tính từ dưới lên! (như ngành Giáo dục – đào tạo). Mà Giáo dục là quốc sách. Giáo dục mà như thế, Cao Bằng làm sao cao bằng người được! Trong cuộc vận động học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, Cao Bằng cũng đã có nhiều nỗ lực, nhưng điều cần học tập nhất là làm sao để Cao Bằng cao bằng người lại dường như bị lãng quên. Thế mới biết, nói thì dễ làm sao mà làm mới khó làm sao!

Năm mươi năm nữa, một trăm năm nữa và mãi mãi, lòng mong ước, lời dạy của Bác Hồ với Cao Bằng: Cao Bằng phải cao bằng người hay “Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không…” vẫn luôn vang vọng, dẫn dắt toàn dân đi lên trên con đường hướng tới một xã hội tươi đẹp: Ấm no, hạnh phúc, công bằng, dân chủ văn minh

Nhà văn Hoàng Quảng Uyên

cand.com.vn

Khánh thành đặt tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch

(ĐCSVN)Chiều 15/6, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Việt Nam và Đảng Lao động Mê-hi-cô đã tổ chức lễ khánh thành đặt tượng đài “Bác Hồ ngồi làm việc trong vườn hoa Phủ Chủ tịch” tại Phủ Chủ tịch.

Tham dự buổi lễ có các đồng chí: Trương Tấn Sang, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư; Alberto Anaya Gutíerrez, Tổng Bí thư Đảng Lao động Mê-hi-cô; Lê Khánh Hải, Thứ trưởng Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch cùng lãnh đạo Bộ Công an, Ban Đối ngoại Trung ương, Ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội; cán bộ nhân viên Đại sứ quán Mê-hi-cô tại Việt Nam và đông đảo cán bộ Khu Di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch và một số cơ quan ban, ngành Trung ương và Hà Nội.

Bức tượng là quà tặng của Đảng Lao động Mê-hi-cô trao tặng nhân dân Việt Nam nhân kỷ niệm 121 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, 100 năm ngày Người ra đi tìm đường cứu nước.

Bức tượng “Bác Hồ ngồi làm việc trong vườn hoa Phủ Chủ tịch” là tác phẩm của nhà điêu khắc Mê-hi-cô Pedro Ramirez Ponzanell- tác giả của tác phẩm tượng đài có kích thước thực Chủ tịch Hồ Chí Minh được đặt tại Trung tâm lịch sử Thành phố Mê-hi-cô (năm 2009). Dù chưa một lần đặt chân đến Việt Nam, chưa một lần được gặp Bác Hồ, song với lòng kính yêu sâu sắc, nhà điêu khắc Mê-hi-cô Pedro Ramirez Ponzanell đã khắc họa được thần thái, cốt cách, tác phong làm việc của Bác.

Lễ khánh thành đặt tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch.

Bức tượng được đặt trang trọng ngay tại địa danh lịch sử “Vườn hoa Phủ Chủ tịch”, nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh thường ngồi làm việc và tiếp khách. Bức tượng được sáng tác phỏng theo ảnh tư liệu chụp tại vị trí Vườn hoa Phủ Chủ tịch khi Bác Hồ còn sống. Tượng được làm bằng đồng, cao 1,09m, rộng 0,7m, khắc họa chân dung “Bác Hồ ngồi làm việc trong vườn hoa Phủ Chủ tịch”, tay phải cầm bút, tay trái cầm điếu thuốc, trước mặt là quyển sách, dựa theo bức ảnh cùng tên của tác giả Đinh Đăng Định. Cùng với bức tượng còn có bàn làm việc và 2 ghế mây bằng thép.
Phát biểu tại lễ khánh thành đặt tượng, đồng chí Alberto Anaya Gutíerrez, Tổng Bí thư Đảng Lao động Mê-hi-cô bày tỏ niềm vinh dự và tự hào được thay mặt Đảng Lao động Mê-hi-cô trao tặng nhân dân Việt Nam bức tượng đồng “Bác Hồ ngồi làm việc trong vườn hoa Phủ Chủ tịch”. Đồng chí nhấn mạnh: Chủ tịch Hồ Chí Minh là người anh hùng giải phóng dân tộc, người chiến sĩ quốc tế có những đóng góp to lớn cho phong trào cộng sản và công nhân thế giới. 100 năm trước, Người đã ra đi tìm đường cứu nước. Con đường Người lựa chọn cho cách mạng Việt Nam và tư tưởng Hồ Chí Minh đã, đang và mãi mãi là định hướng cho sự phát triển của dân tộc Việt Nam. Bức tượng “Bác Hồ ngồi làm việc trong vườn hoa Phủ Chủ tịch”- món quà nhỏ nhưng đó là tấm lòng của những người lao động Mê-hi-cô với Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Thay mặt Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch, Thứ trưởng Lê Khánh Hải đã cảm ơn món quà mang ý nghĩa lớn mà Đảng Lao động Mê-hi-cô trao tặng nhân dân Việt Nam; cảm ơn những tình cảm quí báu của những người lao động Mê-hi-cô, của đất nước và nhân dân Mê-hi-cô dành cho Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhân dân Việt Nam. Sự kiện Đảng Lao động Mê-hi-cô trao tặng Việt Nam bức tượng Chủ tịch Hồ Chí Minh là một sự kiện có ý nghĩa lớn lao, góp phần vào phát triển quan hệ hữu nghị và hợp tác, đối tác toàn diện giữa hai nước.

Vương Hà

cpv.org.vn

Kỷ niệm 100 năm ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước

Hành trình mở trang sử mới

QĐND Oline- Ngày 5-6-1911, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành bước chân xuống con tàu A-mi-ran La-tút-sơ Trê-vin (Amiral Latouche Tréville) với mục đích tìm ra con đường cứu nước. Hành trình cách mạng của người thanh niên ấy (sau này là lãnh tụ Hồ Chí Minh) đã mở ra một trang mới cho lịch sử dân tộc Việt Nam. Nhân kỷ niệm 100 năm ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước, báo QĐND Online gửi đến bạn đọc tư liệu tổng hợp về một phần hành trình của Người..

Bối cảnh lịch sử Việt Nam

Những năm cuối thế kỷ IX đầu thế kỷ XX, thực dân Pháp bắt tay vào khai thác thuộc địa lần thứ nhất. Xã hội Việt Nam bắt đầu có những biến chuyển và phân hóa. Sự xâm nhập của chủ nghĩa tư bản Pháp đã làm nảy sinh trong xã hội Việt Nam hai giai cấp mới: giai cấp tư sản và giai cấp vô sản.

Trước sự áp bức, đè nén của thực dân Pháp, truyền thống yêu nước của dân tộc Việt Nam đã phát huy mạnh mẽ. Các phong trào yêu nước chống Pháp của nhân dân ta diễn ra đa dạng, sôi nổi: phong trào có khuynh hướng dân chủ tư sản Đông Du, Đông Kinh Nghĩa Thục, Duy Tân, Việt Nam Quang Phục Hội; phong trào chống sưu thuế của nông dân ở Trung Kỳ; phong trào đánh Pháp như: vụ đầu độc binh lính Pháp ở Hà Nội, cuộc khởi nghĩa của nghĩa quân Yên Thế…Thực dân Pháp đã tìm mọi cách để dập tắt các phong trào yêu nước đó và sau khi dập tắt phong trào Cần Vương, thực dân Pháp bắt tay vào cuộc khai thác thực địa để làm giàu cho chính quốc.

Sở dĩ các phong trào yêu nước chống Pháp trên đều thất bại có nguyên nhân sâu xa là do thiếu đường lối chính trị đúng đắn, khoa học, thiếu sự lãnh đạo của một giai cấp tiên tiến. Sự vùng lên nhằm khôi phục nền độc lập của một số nhà yêu nước chưa đủ mạnh để đương đầu với chế độ thực dân đã tích luỹ đủ mưu mô chính trị và tiềm lực kinh tế, quân sự. Giai cấp phong kiến, có vai trò tiến bộ nhất định trong lịch sử đã trở thành giai cấp phản động, bán nước, tay sai cho đế quốc. Giai cấp tư sản mới ra đời, còn non yếu với lực lượng kinh tế phụ thuộc và khuynh hướng chính trị cải lương, không có khả năng lãnh đạo cuộc đấu tranh chống đế quốc và phong kiến để giành độc lập tự do. Giai cấp nông dân và tiểu tư sản khao khát độc lập, tự do, hăng hái chống đế quốc và phong kiến, nhưng không thể vạch ra con đường giải phóng đúng đắn và không thể đóng vai trò lãnh đạo cách mạng. Cách mạng Việt Nam đứng trước cuộc khủng hoảng trầm trọng về đường lối cứu nước.

Bến Nhà Rồng hiện nay trong lung linh ánh điện-Ảnh Internet

Trong bối cảnh đó, xuất hiện một con người- người mà sau này trở thành lãnh tụ của cách mạng Việt Nam. Đó là cậu bé Nguyễn Sinh Cung- Nguyễn Tất Thành.

Nguyễn Tất Thành sinh ra và lớn lên trong một gia đình có truyền thống hiếu học, ở một địa phương có truyền thống yêu nước nồng nàn. Từ lúc tuổi còn nhỏ, Người sớm được tiếp cận với các tư tưởng lớn của phương Đông, hấp thụ vốn văn hóa truyền thống của dân tộc cũng như vốn kiến thức Hán học và bước đầu tiếp xúc với văn hóa phương Tây. Chứng kiến cảnh khổ cực của người dân mất nước, tinh thần đấu tranh bất khuất của cha anh, Người càng tỏ rõ tinh thần yêu nước, thương dân sâu sắc và hun đúc những hoài bão lớn lao. Nguyễn Tất Thành rất khâm phục tinh thần yêu nước của các văn thân, chí sĩ xả thân vì nước, nhưng Người không tán thành đường lối cứu nước của các bậc tiền bối. Tư tưởng yêu nước của Nguyễn Tất Thành tuy lúc đó chưa gặp chủ nghĩa xã hội, nhưng đã thể hiện tầm vóc vượt trước quan điểm cứu nước đương thời. Người cho rằng, chủ trương của cụ Phan Chu Trinh yêu cầu người Pháp thực hiện cải lương chẳng khác gì “đến xin giặc rủ lòng thương”; chủ trương của cụ Phan Bội Châu nhờ Nhật giúp đỡ để đuổi Pháp chẳng khác nào “đưa hổ cửa trước, rước beo cửa sau”, chủ trương của cụ Hoàng Hoa Thám tuy thực tế hơn, nhưng không có hướng thoát rõ ràng, “còn mang nặng cốt cách phong kiến”.

Thất bại của các cụ Hoàng Hoa Thám, Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh… nói lên một sự thật lịch sử là: không thể cứu nước trên lập trường phong kiến hay lập trường của giai cấp tư sản, tiểu tư sản. Các đường lối và phương pháp này đều không đáp ứng được yêu cầu giải phóng dân tộc trong điều kiện chủ nghĩa đế quốc đã trở thành hệ thống thế giới. Chủ nghĩa yêu nước truyền thống Việt Nam đang đồi hỏi được đổi mới, đó là một nhu cầu cấp thiết của dân tộc lúc bấy giờ.

Mô hình lớp học ở Trường Dục Thanh (Phan Thiết), nơi Thầy giáo Nguyễn Tất Thành dạy học trước lúc ra đi tìm đường cứu nước. (Ảnh Intrenet)

Vốn có tư chất thông minh, tinh thần ham học hỏi, khả năng tư duy độc lập, tính ham hiểu biết và nhạy bén với cái mới, Người bị lôi cuốn bởi khẩu hiệu “tự do, bình đẳng, bác ái” và thôi thúc bởi ý định tìm hiểu “cái gì ẩn dấu sau” những mỹ từ đẹp đẽ đó ở chính nước sinh ra khẩu hiệu đó. Những tư tưởng tiến bộ của cuộc cách mạng ở Pháp năm 1780, thành tựu văn minh, tiến bộ của nhân loại ở Pháp và các nước châu Âu khác, đã thúc đẩy Người muốn đến tận nơi tìm hiểu. Đó chính là những lý do Nguyễn Tất Thành quyết định chọn nước Pháp, chọn châu Âu làm điểm đến đầu tiên trong cuộc hành trình đi tìm đường cứu nước năm 1911.

Tình hình chính trị thế giới

Vào nửa cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, chủ nghĩa tư bản đã từ giai đoạn tự do cạnh tranh chuyển sang giai đoạn chủ nghĩa đế quốc và đã xác lập được sự thống trị trên phạm vi thế giới. Phần lớn các nước châu Á, châu Phi, châu Mỹ La-tinh đã trở thành thuộc địa và phụ thuộc của chúng. Chủ nghĩa đế quốc vừa tranh giành xâu xé, vừa vào hùa với nhau để nô dịch các dân tộc nhỏ bé. Cùng với những mâu thuẫn cơ bản trong xã hội tư bản-mâu thuẫn giữa giai cấp vô sản và tư sản, chủ nghĩa đế quốc làm phát sinh mâu thuẫn mới-mâu thuẫn giữa các dân tộc thuộc địa với chủ nghĩa đế quốc thực dân. Đời sống nhân dân ở các nước thuộc địa và phụ thuộc vô cùng cực khổ, trong đó có nhân dân Việt Nam dưới xiềng xích của chế độ thực dân Pháp. Phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa và phụ thuộc bắt đầu phát triển và có xu hướng lan rộng.

Ở Trung Quốc, lúc ấy đất nước rộng lớn này bị các nước tư bản phương Tây xâu xé và cũng đang tìm lối ra nhưng đến giữa năm 1911, nhìn chung vẫn chưa có lối thoát mà phải đợi đến tháng 10-1911, dưới sự lãnh đạo của Tôn Dật Tiên, Trung Quốc mới tìm thấy hướng đi thông qua cuộc cách mạng Tân Hợi.

Ở Ấn Độ, đất nước bị thực dân Anh đô hộ, những nhà ái quốc Ấn Độ cũng đang tìm hướng đi cho dân tộc mình và Đảng Quốc Đại đã bước lên vũ đài chính trị.

Ở In-đô-nê-xi-a (bị thực dân Hà Lan đô hộ), nhiều tổ chức yêu nước của trí thức tư sản tiến bộ ra đời, thu hút đông đảo nhân dân tham gia.Từ 1905, nhiều tổ chức công nhân được thành lập và bước đầu truyền bá chủ nghĩa Mác.

Đất nước Lào, đầu thế kỷ XX, nhân dân các bộ tộc Lào đã nhiều lần nổi dậy chống thực dân Pháp….

Như vậy, bối cảnh trong khu vực, thế giới có những thay đổi, đòi hỏi mỗi quốc gia, dân tộc phải có những bước chuẩn bị tiền đề cho sự đi lên của mình. Và ngày 5-6-1911, với tên gọi Văn Ba, từ bến cảng Nhà Rồng ( Sài Gòn cũ), trên con tàu A-mi-ran La-tút-sơ Trê-vin (Amiral Latouche Tréville), Nguyễn Tất Thành trong vai người phụ bếp đã bắt đầu con đường sứ mệnh lịch sử đối với dân tộc Việt Nam.

Nhận thức về con đường giải phóng dân tộc của Nguyễn Tất Thành-Nguyễn Ái Quốc

Tìm ra con đường chân lý

QĐND Online – Hành trang ban đầu của Nguyễn Tất Thành khi ra nước ngoài là tri thức về văn hóa phương Đông và phương Tây, lòng yêu nước nhiệt thành, tiếp thu có chọn lọc con đường cứu nước của các nhà yêu nước lớp trước và một dự định rõ rệt, lớn lao, đó là “xem nước Pháp và các nước khác, sau khi xem xét họ làm như thế nào, tôi sẽ trở về giúp đồng bào ta”, đó là dự định đi tìm con đường cứu nước, cứu dân. Ngày 5 tháng 6 năm 1911, trên con tàu “Đô đốc Latouche Tresville”, từ bến cảng Nhà Rồng của Thành phố Sài Gòn, Nguyễn Tất Thành đã lên đường sang Pháp. Người làm bất cứ việc gì để sống và hoạt động (phụ bếp dưới tàu, làm bánh trong các khách sạn, cào tuyết, đốt lò, chụp ảnh…). Gần mười năm, vừa lao động kiếm sống, vừa tiến hành khảo sát thực tiễn nhiều nước tư bản và các nước thuộc địa, khảo sát các cuộc cách mạng ở các nước Pháp, Anh, Mỹ… Nguyễn Tất Thành đã có nhận thức quan trọng là: cách mạng tư sản là những cuộc cách mạng vĩ đại, nhưng là những cuộc cách mạng chưa đến nơi. Nó đã phá tan gông xiềng phong kiến cùng những luật lệ hà khắc và những ràng buộc vô lý để giải phóng sức lao động của con người. Cách mạng tư sản xây dựng lên một chế độ mới tiến bộ hơn xã hội phong kiến. Nhưng cách mạng xong rồi dân chúng vẫn khổ, vẫn bị áp bức, bóc lột và vẫn mưu toan làm cách mạng. Từ đó, Người đi đến kết luận, chúng ta đổ xương máu để làm cách mạng thì không đi theo con đường cách mạng này. Nguyễn Tất Thành đã tìm ra những mặt trái của xã hội phương Tây, nhận ra “ở đâu cũng có người nghèo khổ như xứ sở mình” do ách áp bức, bóc lột dã man, vô nhân đạo của bọn thống trị. Điều đó đã giúp Người có một nhận thức quan trọng: nhân dân lao động trên toàn thế giới cần đoàn kết lại để đấu tranh chống kẻ thù chung là giai cấp thống trị; cùng nhau thực hiện nguyện vọng chung là độc lập, tự do.

Tàu “Đô đốc Latouche Tresville” nơi Nguyễn Tất Thành làm phụ bếp khi rời Tổ quốc đi tìm đường cứu nước.

Sống hòa mình cùng nhân dân lao động và phong trào đấu tranh của công nhân Pháp, Nguyễn Ái Quốc say sưa hoạt động cách mạng, viết báo, hội họp, tuyên truyền, cổ động. Năm 1917, Nguyễn Tất Thành tham gia hoạt động trong phong trào của những người Việt Nam yêu nước tại Pháp. Thành công của Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 có ảnh hưởng rất lớn đến tình cảm và nhận thức của Người. Đầu năm 1919, Nguyễn Tất Thành tham gia Đảng xã hội Pháp. Ngày 18-6-1919, với tên Nguyễn Ái Quốc, Người thay mặt những người Việt Nam yêu nước tại Pháp gửi bản yêu sách tới Hội nghị Véc-xây yêu cầu về quyền tự do, dân chủ, bình đẳng dân tộc cho nhân dân An Nam. Tám yêu cầu không được chấp nhận, nhưng đã vạch trần bản chất giả dối của các cường quốc thống trị, đồng thời cũng đem lại cho Nguyễn Ái Quốc một nhận thức tỉnh táo là các dân tộc muốn được giải phóng chỉ có thể dựa vào sức lực của bản thân mình.

Ra đi tìm đường cứu nước với tuổi đời còn rất trẻ và từ một xã hội thuộc địa, nửa phong kiến, lúc đó Nguyễn Ái Quốc chưa có một ý niệm rõ ràng về giai cấp, đấu tranh giai cấp, đảng chính trị, chủ nghĩa Mác-Lê-nin… Từ những hoạt động thực tiễn trên và đọc “Sơ thảo lần thứ nhất luận cương về các vấn đề dân tộc và thuộc địa” của V.I.Lê-nin đăng trên báo L’Humanité tháng 7-1920, Người đã đến với chủ nghĩa Mác-Lê-nin. Trong bối cảnh bấy giờ có nhiều trí thức Việt Nam sống tại Pháp, nhưng Người đã thể hiện tính vượt trội của tư tưởng khi nhận ra được chân lý lớn nhất của thời đại. Luận cương đã giải đáp cho Nguyễn Ái Quốc những băn khoăn về con đường giành độc lập, tự do cho dân tộc, trả lời câu hỏi ai là người lãnh đạo, lực lượng tham gia và mối quan hệ giữa cách mạng giải phóng ở các nước thuộc địa với cách mạng vô sản ở chính quốc… Luận cương đã ảnh hưởng rất lớn đến sự hình thành thế giới quan cộng sản của Nguyễn Ái Quốc.

Chủ nghĩa Mác- Lê-nin, chủ nghĩa yêu nước Việt Nam soi sáng đường cách mạng.

Quá trình tiếp thu chủ nghĩa Mác-Lê-nin của Nguyễn Ái Quốc ngày càng có hệ thống và hoàn thiện khi Người tham gia Đảng Cộng sản Pháp, học tập ở Đại học phương Đông, sống trong không khí sục sôi ở trung tâm phong trào cộng sản ở Nga, hoạt động trong Quốc tế Cộng sản. Nhận thức của Người về sức mạnh của nhân dân lao động thế giới, về mối quan hệ giữa các dân tộc bị áp bức, giữa cách mạng ở các nước thuộc địa và các nước chính quốc trong cuộc đấu tranh chống đế quốc, vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản của giai cấp công nhân, về chính quyền cách mạng và sử dụng bạo lực cách mạng… ngày càng sâu sắc và có những luận điểm bổ sung, phát triển, sáng tạo. Sự kiện Nguyễn Ái Quốc bỏ phiếu tán thành Quốc tế Cộng sản và tham gia thành lập Đảng Cộng sản Pháp tháng 12-1920 là một mốc lịch sử quan trọng trong hành trình đi tìm đường cứu nước của Người, đánh dấu bước chuyển biến quyết định, nhảy vọt, thay đổi về chất trong nhận thức tư tưởng và lập trường chính trị của Người – từ một nhà yêu nước chân chính trở thành một chiến sĩ cộng sản. Đồng thời, sự kiện đó cũng đánh dấu một bước ngoặt lịch sử vĩ đại của cách mạng Việt Nam, mở đầu quá trình kết hợp đấu tranh giai cấp với đấu tranh dân tộc, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, tinh thần yêu nước chân chính với chủ nghĩa quốc tế vô sản. Từ đây, cách mạng Việt Nam bắt đầu đi vào quỹ đạo của cách mạng vô sản. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, con đường cách mạng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội bắt đầu hình thành.

Đầu năm 1924, Nguyễn Ái Quốc về Quảng Châu (Trung Quốc). Tại đây, Người bắt đầu xây dựng những nhân tố bảo đảm cho cách mạng Việt Nam: truyền bá chủ nghĩa Mác – Lê-nin vào Việt Nam, khơi dậy tinh thần đấu tranh của các tầng lớp nhân dân, xây dựng tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam, phát triển lực lượng cách mạng… Việc Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Điều lệ vắn tắt do Người dự thảo được thông qua tại Hội nghị hợp nhất, chứng tỏ đến 1930, tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc về con đường cách mạng Việt Nam đã được hình thành cơ bản.

Nguyễn Ái Quốc và một số đồng chí dự Quốc tế Cộng sản V

Sau hơn 40 năm xa Tổ quốc, ngày 28-1-1941, Nguyễn Ái Quốc trở về nước để trực tiếp lãnh đạo cuộc đấu tranh cách mạng. Một trang mới mở ra trong cuộc đời cách mạng của Người và cũng lả bước ngoặt mới cho cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc Việt Nam.

Lịch sử đã khẳng định và chứng minh rằng: Việc tìm ra con đường cứu nước, con đường phát triển của dân tộc của Nguyễn Ái Quốc có ý nghĩa lịch sử to lớn. Đó là, đến với chủ nghĩa Mác – Lê-nin, với học thuyết chủ nghĩa xã hội khoa học, Nguyễn Ái Quốc đã đặt nền móng cho lý luận cách mạng Việt Nam trong thời đại mới; chấm dứt khủng hoảng đường lối cứu nước triền miên từ giữa thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX. Nguyễn Ái Quốc đã tìm thấy đường lối phát triển đúng đắn cho dân tộc, phù hợp với trào lưu tiến hóa chung của nhân loại và xu thế của thời đại.

Quá trình mà người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành quyết ra đi tìm con đường chân lý đến khi Người trở thành Lãnh tụ Hồ Chí Minh là quá trình đã đem ánh sáng chủ nghĩa Mác – Lê-nin soi đường cho phong trào yêu nước, chủ nghĩa yêu nước truyền thống Việt Nam, làm cho chủ nghĩa yêu nước vươn lên tầm thời đại, trở thành chủ nghĩa yêu nước Hồ Chí Minh, mà sau này biểu tượng sáng chói trong hai cuộc kháng chiến lừng lẫy của dân tộc chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, trong công cuộc tái thiết và phát triển đất nước theo con đường đi lên chủ nghĩa xã hội.

Với việc tìm ra con đường cứu nước, phát triển của dân tộc Việt Nam, Hồ Chí Minh đã đóng góp to lớn, thiết thực chuẩn bị cho việc mở ra một giai đoạn phát triển mới của phong trào cách mạng vô sản nói chung, phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa và phụ thuộc trên thế giới và châu Á nói riêng.

Tầm nhìn và những quyết định sáng suốt của Chủ tịch Hồ Chí Minh trước bước ngoặt của cách mạng

Truyền bá Chủ nghĩa Mác-Lê-nin và sáng lập Đảng

QĐND Online- Truyền bá chủ nghĩa Mác – Lê-nin vào nước ta, hợp nhất các tổ chức cộng sản, thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, khởi thảo Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt-Cương lĩnh đầu tiên của Đảng, xác định con đường của cách mạng Việt Nam là độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội….Những công việc cách mạng vĩ đại đó cho thấy tầm nhìn xa, trông rộng của Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh với cách mạng Việt Nam.

Xuất phát từ thực trạng của đất nước, Nguyễn Ái Quốc không thành lập ngay đảng cộng sản mà thành lập một tổ chức cách mạng theo khuynh hướng mác-xít để qua đó dần dần đưa chủ nghĩa Mác – Lê-nin vào quần chúng lao động, đó là Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Trong các tác phẩm, các bài báo, bài giảng của mình, Người đã kết hợp việc phổ biến lý luận chủ nghĩa Mác – Lê-nin với việc giới thiệu những phương hướng cơ bản của cách mạng Việt Nam, vạch cho nhân dân ta con đường đi đến độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội. Đường Cách mệnh là một trong những tác phẩm có giá trị to lớn trên phương diện lý luận và thực tiễn, đóng vai trò quan trọng trong việc truyền bá chủ nghĩa Mác – Lê-nin ở Việt Nam những năm 20. Người tổ chức chuyển tài liệu, sách vở, báo chí về nước, gấp rút đào tạo cán bộ làm nòng cốt cho phong trào cách mạng; tổ chức tuyên truyền, cổ động tư tưởng cứu nước trong nhân dân; mở lớp huấn luyện chính trị tại Quảng Châu để trang bị cho các học viên những vấn đề cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lê-nin, về những nguyên tắc hoạt động bí mật và kỹ năng thực hành các công việc vận động quần chúng; chọn những học viên ưu tú kết nạp vào Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên và cử về nước gây dựng phong trào… Việc truyền bá chủ nghĩa Mác – Lê-nin đã thúc đẩy sự phát triển những tổ chức cộng sản, tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam sau này. Phong trào “vô sản hóa” đã góp phần đẩy nhanh quá trình giác ngộ chủ nghĩa Mác – Lê-nin của giai cấp công nhân. Phong trào đấu tranh của nhân dân lao động được lãnh đạo, liên kết với nhau thành một làn sóng mạnh mẽ. Chủ nghĩa Mác – Lê-nin do Nguyễn Ái Quốc có công truyền bá, đã thật sự chiếm lĩnh được lòng tin của phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam.

Nguyễn Ái Quốc tại Đại hội Tua năm 1920. Ảnh TL

Năm 1930, việc hợp nhất thành công các tổ chức cộng sản thành một đảng cộng sản duy nhất là công lao to lớn của Nguyễn Ái Quốc. Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhất là đã vạch ra đường lối cách mạng đúng đắn (qua Chánh cương, Sách lược), có hệ thống tổ chức thống nhất, chặt chẽ, rộng khắp cả nước, là một bước ngoặt quyết định của lịch sử cách mạng Việt Nam. Nguyễn Ái Quốc – người tìm ra con đường cứu nước, truyền bá chủ nghĩa Mác – Lê-nin vào Việt Nam; người tổ chức, sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam; người rèn luyện, cán bộ, đảng viên theo chuẩn mực của đảng Mác – Lê-nin chân chính, trong sạch, vững mạnh, xứng đáng là người lãnh đạo, người đày tớ trung thành của nhân dân.

Những quyết sách chiến lược trọng đại

Bằng nhạy cảm chính trị thiên tài, Nguyễn Ái Quốc nhận thấy tình hình thế giới có chuyển biến lớn, Người gấp rút trở về nước trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng. Người triệu tập và chủ trì Hội nghị Trung ương Tám (5-1941). Đây là Hội nghị hoàn chỉnh thêm một bước sự chuyển hướng chiến lược và sách lược của cách mạng Việt Nam được vạch ra từ Hội nghị Trung ương Sáu (11-1939). Tại Hội nghị này, Nguyễn Ái Quốc đã xác định nhiệm vụ dân tộc phải được đặt lên hàng đầu. Người khẳng định: Lúc này nếu quyền lợi của dân tộc không đòi lại được thì quyền lợi của bộ phận, của giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được. Người chỉ đạo thành lập một mặt trận rộng rãi và có tên thích hợp hơn Mặt trận Thống nhất dân tộc phản đế Đông Dương để tập hợp lực lượng chống đế quốc. Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh (gọi tắt là Việt Minh) ra đời với Chương trình cứu nước do chính Hồ Chí Minh dự thảo. Người chỉ đạo xây dựng lực lượng vũ trang, xây dựng căn cứ địa, tích cực chuẩn bị mọi mặt để sẵn sàng khởi nghĩa giành chính quyền. Đón bắt kịp thời thời cơ, Người và Đảng ta đã triệu tập Hội nghị toàn quốc của Đảng và Đại hội Quốc Dân ngày 16 và 17-8-1945 thống nhất ý chí toàn dân, quyết định Tổng khởi nghĩa, làm nên thắng lợi vĩ đại của Cách mạng Tháng Tám 1945.

Nắm vững vị trí quan trọng của chính quyền cách mạng, với Tuyên ngôn độc lập, Người khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đặc biệt, với việc tổ chức thành công cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và sự ra đời Hiến pháp 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sáng lập Nhà nước cách mạng- Nhà nước của dân, do dân, vì dân. Suốt chặng đường sau đó, bằng tầm nhìn văn hóa sâu rộng, kinh nghiệm chính trị phong phú và sáng tạo, Người đã lãnh đạo, tổ chức và xây dựng Nhà nước kiểu mới của giai cấp công nhân và nhân dân lao động Việt Nam, luôn phấn đấu vì độc lập tự do của dân tộc và hạnh phúc của nhân dân.

Bác Hồ nói chuyện với cán bộ, chiến sĩ Đại đoàn Quân Tiên phong tại Đền Hùng trước khi về tiếp quản Thủ đô Hà Nội. Bác căn dặn “Các Vua Hùng đã có công dựng nước. Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”. Ảnh TL

Với phương châm kháng chiến “toàn dân, toàn diện”, “trường kỳ và tự lực cánh sinh”, “vừa kháng chiến, vừa kiến quốc”; với ý chí “không có gì quý hơn độc lập tự do”, “Chúng ta thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ”, Người đã hiệu triệu được lòng yêu nước, ý chí quật cường của nhân dân Việt Nam trong hai cuộc chiến tranh chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược. Những tư tưởng chỉ đạo sáng suốt của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta trong thời điểm đất nước “ngàn cân treo sợi tóc” với thù trong, giặc ngoài năm 1946; trong Nghị quyết Trung ương 15 (tháng 1-1959) về đường lối cách mạng miền Nam; trong chỉ đạo thực hiện đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược ở hai miền Nam-Bắc và cả tinh thần “đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào”… là những nhân tố quan trọng, quyết định làm nên thắng lợi và thể hiện tinh thần nhân văn cao cả của dân tộc Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam trong xu thế thời đại, phát huy được sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại trong cuộc chiến đấu vì chính nghĩa của dân tộc. Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội – lá cờ bách chiến, bách thắng của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được toàn Đảng, toàn dân, toàn quân giương cao, đưa Việt Nam thành lương tâm và khí phách của thời đại.

Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam đã vận dụng sáng tạo lý luận về chủ nghĩa xã hội của học thuyết Mác – Lên-nin vào điều kiện Việt Nam. Chủ nghĩa xã hội-con đường phát triển của dân tộc mà Người đã lựa chọn, đang từng bước được hiện thực hóa sinh động trên đất nước Việt Nam.

Những đóng góp to lớn của Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác – Lê-nin và cách mạng vô sản thế giới

Xông pha, nhiệt huyết trong thực tế

QĐND Online- Hồ Chí Minh-nhà chính trị, nhà tư tưởng, người chiến sĩ cộng sản lỗi lạc của phong trào cộng sản, phong trào công nhân quốc tế. Từ khi rời Tổ quốc đi tìm con đường giải phóng dân tộc, Hồ Chí Minh sớm nhận thức muốn hoạt động cách mạng cần phải tham gia các tổ chức và hòa mình vào phong trào đấu tranh cách mạng. Người đã hoạt động trong phong trào của người Việt Nam yêu nước và phong trào công nhân Pháp, tham gia Đảng Xã hội Pháp; sinh hoạt trong Câu lạc bộ Phôbua; tham gia sáng lập Hội Liên hiệp thuộc địa; chủ nhiệm kiêm chủ báo Người cùng khổ; tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp, tham gia Quốc tế Cộng sản, hoạt động trong Quốc tế Nông dân; tham gia thành lập Hội Liên hiệp các dân tộc bị áp bức… Những hoạt động đầy nhiệt huyết của Người-với tư cách nhà chính trị, nhà tư tưởng, người chiến sĩ cộng sản quốc tế đã in dấu đậm nét trong lịch sử cách mạng vô sản thế giới. Trong quá trình hoạt động cách mạng, nhiều lần phải sống trong thiếu thốn, khổ cực, nguy hiểm, tù đày, thậm chí bị hiểu lầm, nhưng trong hoàn cảnh nào, Người cũng có một niềm tin sắt son vào chủ nghĩa Mác – Lê-nin, nêu cao ý chí, bản lĩnh và phẩm chất của người chiến sĩ cộng sản.

Hồ Chí Minh có công truyền bá chủ nghĩa Mác – Lê-nin không chỉ ở Việt Nam mà còn ở nhiều nước trên thế giới. Nhiều bài báo của Người đã được đưa vào tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp, xuất bản năm 1925, một công trình nghiên cứu về bản chất của chủ nghĩa thực dân, thức tỉnh và cổ vũ nhân dân các nước thuộc địa đứng lên tự giải phóng. Hoạt động trong tổ chức Quốc tế Cộng sản, Người tích cực đưa lý luận Mác – Lê-nin vào phong trào cách mạng ở các nước thuộc địa; kiên trì bảo vệ, phát triển sáng tạo những quan điểm của Lê-nin về vấn đề dân tộc và thuộc địa; hướng sự quan tâm của Quốc tế Cộng sản tới phong trào giải phóng dân tộc. Với trách nhiệm là Ủy viên Ban phương Đông của Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản, Người hướng dẫn và xây dựng phong trào cách mạng, phong trào cộng sản ở các nước châu Á và xúc tiến thành lập Đảng cộng sản ở Việt Nam.

Sức lan tỏa của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc ở Việt Nam do Hồ Chí Minh lãnh đạo đối với các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc rất mạnh mẽ. Tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng dân tộc và chủ nghĩa xã hội đã ảnh hưởng sâu sắc tới phong trào cách mạng ở hàng trăm nước thuộc địa và phụ thuộc ở châu Á, châu Phi và châu Mỹ La-tinh. Hàng loạt các phong trào giải phóng dân tộc liên tiếp nổ ra ở các nước Á, Phi và Mỹ La-tinh rộng lớn trong suốt các thập kỷ 50, 60 và 70 của thế kỷ XX. Hệ thống thuộc địa thế giới đã từng được chủ nghĩa thực dân đế quốc xây dựng ròng rã trong 500 năm đã nhanh chóng sụp đổ hoàn toàn chỉ trong vòng chưa đầy 50 năm sau mốc son Việt Nam mang đậm dấu ấn Hồ Chí Minh.

Bổ sung sức sống của lý luận

Chủ tịch Hồ Chí Minh có những đóng góp quan trọng với lý luận chủ nghĩa Mác, thể hiện ở một số nội dung chủ yếu sau: Nguyễn Ái Quốc đã khẳng định cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa không hoàn toàn phụ thuộc vào cách mạng vô sản ở các nước chính quốc, nhân dân các dân tộc ở các nước thuộc địa có thể đứng lên tự giải phóng chính mình và cuộc cách mạng có thể thắng lợi trước. Đây là những cống hiến quan trọng vào kho tàng lý luận chủ nghĩa Mác – Lê-nin.

Xuất phát từ tình hình ở các nước tư bản, Lê-nin đã nêu luận điểm Đảng Cộng sản là sản phẩm của sự kết hợp chủ nghĩa Mác với phong trào công nhân. Xuất phát từ tình hình Việt Nam, Hồ Chí Minh nhận thấy việc ra đời của Đảng Cộng sản ở đây nếu chỉ kết hợp chủ nghĩa Mác – Lê-nin với phong trào công nhân thì chưa đủ, vì giai cấp công nhân còn nhỏ bé và phong trào còn non yếu, do đó phải kết hợp cả với phong trào yêu nước rộng lớn của các tầng lớp nhân dân đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân. Đảng cộng sản Việt Nam là sản phẩm của sự kết hợp giữa chủ nghĩa Mác – Lê-nin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước. Hồ Chí Minh còn đi đến kết luận: Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng của giai cấp công nhân, đồng thời là Đảng của dân tộc Việt Nam. Đây là những luận điểm mới của Hồ Chí Minh, bổ sung vào học thuyết về Đảng Cộng sản của chủ nghĩa Mác – Lê-nin.

Các Mác, Ăng-ghen xác định, quần chúng làm cách mạng là giai cấp công nhân, nông dân. Lê-nin, trong cách mạng vô sản Nga, xác định quần chúng cách mạng là công nhân, nông dân và binh lính. Đối với Hồ Chí Minh, lực lượng cách mạng là “cả quần chúng”, bao gồm: giai cấp công nhân-giai cấp lãnh đạo cách mạng, giai cấp nông dân-cùng với công nhân là gốc của cách mạng, tiểu tư sản, trí thức, phú nông, trung, tiểu địa chủ, tư sản dân tộc, các cá nhân yêu nước, “Bị áp bức dân tộc và vô sản giai cấp thế giới”. Quan điểm này của Người không chỉ đúng trong cách mạng giải phóng dân tộc mà còn trong sự nghiệp xây dựng đất nước ngày nay.

Hồ Chí Minh có những sáng tạo độc đáo trong các bước đi giành và bảo vệ nền độc lập dân tộc; luận giải khoa học, sâu sắc về mối quan hệ giữa độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, ưu tiên giải quyết vấn đề dân tộc trước, giải quyết vấn đề dân chủ từng bước. Bảo vệ nền độc lập dân tộc đã giành được bằng biện pháp hòa bình, nhưng khi kẻ thù dùng chiến tranh xâm lược để áp đặt sự nô dịch mới, thì cần dựa vào và phát huy sức mạnh của cả dân tộc để bảo vệ nền độc lập dân tộc. Để bảo vệ nền độc lập dân tộc chân chính, cần xây dựng một xã hội mới là xã hội chủ nghĩa. Độc lập dân tộc để xây dựng chủ nghĩa xã hội thành công và xây dựng chủ nghĩa xã hội để bảo vệ vững chắc độc lập dân tộc.

Trong di sản tư tưởng của Người, có cả một hệ thống những chỉ dẫn khoa học về cách thức, biện pháp, bước đi trong thực hiện công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Lý luận xây dựng chủ nghĩa xã hội của Hồ Chí Minh thấm nhuần sâu sắc không chỉ tính khoa học, cách mạng mà còn có nhiều luận điểm bổ sung từ góc độ đạo đức, văn hóa, nhân văn.

Trách nhiệm kế thừa, phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh

Kế thừa và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội, Đảng ta luôn tìm tòi, làm sáng tỏ hơn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, khẳng định quyết tâm tiếp nối con đường đó trong các văn kiện đại hội của Đảng, nhất là trong các Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) khẳng định: “Đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử”. Mục tiêu tổng quát khi kết thúc thời kỳ quá độ là: “Xây dựng được về cơ bản nền kinh tế của chủ nghĩa xã hội với kiến trúc thượng tầng về chính trị, tư tưởng, văn hóa phù hợp, tạo cơ sở để nước ta trở thành một nước xã hội chủ nghĩa phồn vinh, hạnh phúc”.

Hơn bao giờ hết, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân nêu cao tinh thần trách nhiệm và nỗ lực thực hiện con đường mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chọn, nhất là những điều căn dặn trong Di chúc của Người về điều kiện bảo đảm sự bền vững của con đường đó: bảo vệ độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, tổ chức một đời sống xã hội ưu việt, đầy tính nhân văn và thực sự đem cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân, bồi dưỡng thế hệ trẻ sống có lý tưởng, có hoài bão, có phẩm chất đạo đức trong sáng, có lòng yêu nước nồng nàn để tiếp tục sự nghiệp cách mạng của ông cha, thực hiện đoàn kết dân tộc và đoàn kết quốc tế…

Hơn bốn năm qua, Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” đã được triển khai sâu rộng trong các tổ chức của hệ thống chính trị và toàn xã hội đã tạo được những chuyển biến quan trọng. Để phát huy những kết quả đó, trách nhiệm của mỗi cấp ủy, các tổ chức Đảng, cơ quan nhà nước, mỗi cán bộ đảng viên và mọi tầng lớp nhân dân cần tiếp tục thực hiện có hiệu quả Cuộc vận động này, gắn liền với những nhiệm vụ về xây dựng Đảng trong sạch vững mạnh, nâng cao năng lực và sức chiến đấu của Đảng, đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc.

Hiện nay, các thế lực thù địch đang tấn công vào chủ nghĩa Mác – Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Chúng tìm mọi cách xuyên tạc, bôi nhọ cuộc đời, sự nghiệp, tư tưởng của Người với ý đồ đen tối “lật đổ thần tượng Hồ Chí Minh”, đánh vào nền tảng tư tưởng của Đảng ta, phủ định con đường cách mạng Việt Nam… Trách nhiệm của cán bộ, đảng viên và nhân dân là bảo vệ những giá trị bền vững của chủ nghĩa Mác – Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên quyết đấu tranh bác bỏ mọi luận điệu thâm hiểm của các thế lực thù địch, phản động. Tiếp tục nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn, phát triển chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong giai đoạn mới. Đó chính là sự bảo vệ đúng đắn nhất chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Kiên định chủ nghĩa Mác-Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, là kim chỉ nam cho mọi hành động của Đảng ta vững bước đi theo con đường của Hồ Chí Minh đã chọn, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Kỷ niệm sự kiện 100 năm Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước gắn với kỷ niệm 121 năm Ngày sinh của Người, chúng ta càng hiểu rõ hơn về cuộc đời cách mạng và tư tưởng vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đây cũng dịp cán bộ, đảng viên và nhân dân hiểu sâu sắc hơn về những cống hiến to lớn của Người đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam và thế giới. Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta nguyện thực hiện thắng lợi mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội do Đảng hoạch định tại Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, được bổ sung, phát triển năm 2011. Đó là tấm lòng tri ân sâu sắc của toàn dân tộc đối với công lao vĩ đại của Lãnh tụ Hồ Chí Minh.

Ngọc Thụy (biên tập)

qdnd.vn

Những bài viết ký tên Nguyễn Ái Quốc tại Pháp từ 1919 đến 1923


Kỷ niệm 100 năm Ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước (5-6-1911/5-6-2011)

QĐND – Trên báo mạng của Đài RFI tiếng Việt, tác giả Thụy Khuê đăng bài viết 4 kỳ với một cái tít khá giật gân: “Ai viết những bài ký tên Nguyễn Ái Quốc tại Pháp từ 1919 đến 1923?”. Tên bài khiến tôi phải đọc. Bởi lẽ ai cũng biết, thời gian đầu, Nguyễn Ái Quốc được coi là bút danh tập thể của ba người: Phan Châu Trinh, Phan Văn Trường và Nguyễn Tất Thành sau khi thảo bản Yêu sách gửi tới Hội nghị Versailles. Nếu làm rõ được những bài viết sau đó, khoảng từ giữa năm 1919 sang đầu năm 1920, bài nào là của Phan Châu Trinh, Phan Văn Trường; bài nào là của Nguyễn Tất Thành thì cũng là một đóng góp trong việc nghiên cứu, bởi cần phải “trả lại những gì của César cho César”. Đó chính là cách ứng xử sòng phẳng đối với các vấn đề của lịch sử nói chung; cũng là một thái độ cần có trong nghiên cứu khoa học.

Nhưng để làm được việc đó thật không đơn giản chút nào. Những bài viết ấy xuất hiện cách đây đã hơn 80 năm, trong khi các tác giả của nó đã đi vào lịch sử từ rất lâu và những người đương thời-như những chứng nhân lịch sử-cũng chẳng còn ai. Để có thể làm rõ một cách thuyết phục, đòi hỏi phải rất công phu; phải đi sâu khảo sát thư tịch, sưu tầm, tra cứu bản thảo, bút tích của các tác giả từ những nguồn lưu trữ khác nhau trong và ngoài nước, so sánh đối chiếu nội dung, sự kiện được đề cập đến trong bài viết với cuộc đời hoạt động và văn phong của các tác giả,… để xem vào thời điểm đó, ai có thể viết, được công bố lần đầu tiên ở đâu, trên báo nào… Tóm lại, phải có minh chứng, lập luận, lý giải thuyết phục, chứ không thể cứ một mực tùy tiện, nói liều!

Nguyễn Ái Quốc phát biểu tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ 18 đảng Xã hội Pháp (12/1920). Ảnh tư liệu.

Đọc xong bài viết của Thụy Khuê, tôi hoàn toàn thất vọng, bởi tác giả của nó hình như không có ý định xuất hiện như một nhà khảo cứu với phương pháp làm việc khoa học, mà chỉ muốn làm một nhà báo tuyên truyền cho động cơ chính trị của nhà đài! Âu cũng là chuyện thường tình như là “nợ áo cơm, phải trả hình hài” vậy thôi! Người đọc nhận thấy ngay các chủ kiến và lập luận của Thụy Khuê đưa ra hoàn toàn không phải là kết quả của một quá trình tìm tòi nghiêm túc, dựa trên các chứng cứ xác thực, được chứng minh cụ thể, có nguồn xuất xứ tin cậy, mà chỉ toàn xuất phát từ những thiên kiến chủ quan, những lập luận hời hợt, để rồi đưa ra những kết luận hồ đồ với cách thức diễn đạt không thể chấp nhận trong nghiên cứu khoa học:Có lẽ là, có thể là, rất có thể là, phải chăng là… (của Nguyễn Thế Truyền, Nguyễn An Ninh,…) được tác giả lặp đi lặp lại hàng chục lần! Những lỗi thô thiển về logic và lập luận như vậy có lẽ chỉ những học sinh trung học đang tập viết văn chính luận mới thường mắc phải!

Tuy nhiên, người đọc vẫn hiểu được cái đích của bài viết mà Thụy Khuê muốn đi tới: Tất cả các bài báo ký tên Nguyễn Ái Quốc từ 1919 đến 1923, thậm chí đến năm 1927. Thụy Khuê cho rằng: Tất cả những bài được đăng trên Inprekor-cơ quan thông tin của Quốc tế cộng sản; rồi cuốn Đông DươngBản án chế độ thực dân Pháp cũng được quy cho là của Nguyễn Thế Truyền hoặc Nguyễn An Ninh mà không cần bất cứ một sự chứng minh nào! Thật không thể tưởng tượng nổi có một người cầm bút, định làm nghiên cứu mà lại liều lĩnh đến như vậy!

Cơ sở xuất phát cho mọi thiên kiến cực đoan của Thụy Khuê bắt đầu từ chỗ tác giả cho rằng: Giữa năm 1919 Nguyễn Tất Thành mới từ Anh trở lại Pa-ri. Lúc đó Nguyễn Tất Thành mới đang học tiếng Pháp nên chưa thể viết những bài báo có nội dung chính trị phức tạp được!

Kể ra, đối với một bài viết tùy tiện như thế, thực không đáng phải tốn nhiều giấy mực về nó. Nhưng với nhiều bạn đọc, nhất là các bạn trẻ, không có điều kiện trực tiếp với thư tịch gốc, đọc Thụy Khuê sẽ dễ bị ngộ nhận, nên tôi thấy cần thiết phải viết bài trao đổi này với Thụy Khuê và với các bạn đọc có quan tâm đến vấn đề được đặt ra.

Vậy, Nguyễn Tất Thành trở lại Pa-ri năm nào? Trình độ tiếng Pháp của anh ra sao?

Đúng là vấn đề thời gian Nguyễn Tất Thành trở lại Pa-ri chính xác vào ngày, tháng, năm nào vẫn đang còn có ý kiến khác nhau. Trong hai công trình nghiên cứu của mình về Phan Châu Trinh và Nguyễn Ái Quốc, Tiến sĩ sử học Thu Trang đều cho rằng: “Nguyễn Ái Quốc đã đến Pa-ri vào đúng lúc Hội người Việt Nam yêu nước ra đời. Nghĩa là vào cuối năm 1916 đầu năm 1917, chắc hẳn không phải là trường hợp ngẫu nhiên”. Một số người khác, trong đó có nhà sử học Pháp Daniel Hémery, lại cho là vào năm 1919 chứ không phải năm 1917”. Cả hai phía đều dựa vào những báo cáo khác nhau của mật thám. Tuy nhiên, có nhiều nhà nghiên cứu lại cho rằng cần phân biệt thời điểm Nguyễn Tất Thành bí mật trở lại Pa-ri với thời điểm mật thám phát hiện ra anh từ sau vụ việc anh thay mặt nhóm người Việt Nam yêu nước đến trao bản Yêu sách 8 điểmgửi Hội nghị hòa bình Versailles. Nghĩa là mật thám Pháp chỉ phát hiện ra anh từ sau ngày 18-6-1919. Đó chính là thời điểm mà Tổ chức giúp đỡ người lao động nhập cư của Đảng Xã hội đã lo xong cho Nguyễn Tất Thành những giấy tờ hợp pháp, để từ đó anh có thể xuất hiện công khai. Như vậy, Nguyễn Tất Thành đã phải có mặt ở Pa-ri trước thời điểm nói trên từ lâu rồi.

Bạn đọc có thể tham khảo thêm bài viết của một đảng viên Xã hội kỳ cựu, nguyên là công nhân xưởng in Báo L’Humanité, có chân trong ban đón tiếp người lao động nhập cư của Đảng Xã hội sau chiến tranh; ông kể: “Lần đầu tiên tôi gặp anh Nguyễn là vào tháng 7-1918, khi anh mới từ Luân Đôn sang được mấy tháng. Lúc đó, anh đang phải sống ẩn dật trong một căn phòng nhỏ ở phố Charonne, có khi hàng tuần không dám ra ngoài, để tránh mọi sự khám xét. Tôi đã thu xếp cho anh một chỗ ở mới tại quận 13, nhà đồng chí Moktar, người Tunisie. Để đảm bảo an toàn, khi Moktar đi vắng, anh không được đốt lửa, thắp đèn, mùa đông năm ấy rất rét. Anh phải chịu đựng như thế cho đến khi Đảng thu xếp xong cho anh các giấy tờ hợp pháp: Giấy quân dịch, thẻ lao động…”.

Chứng cứ rành rành là vậy mà Thụy Khuê vẫn khẳng định thời điểm Nguyễn Tất Thành đến Pa-ri là tháng 6-1919 vì nó phù hợp với chủ kiến của mình: Mãi giữa năm 1919 Nguyễn Tất Thành mới đến Pa-ri, tiếng Pháp chưa thạo, làm sao viết được những bài báo chính trị phức tạp!

Vấn đề cần làm rõ là vào thời điểm đó, khả năng tiếng Pháp của Nguyễn Tất Thành đã đạt tới trình độ nào? Theo tiểu sử, chúng ta biết khi ở trong nước, anh Thành đã theo học tại Trường Quốc học Huế và hoàn thành chương trình lớp cao đẳng (cours supérieur). Trong lời khai với sở mật thám Huế ngày 19-3-1920, ông Nguyễn Tất Đạt cũng nói rõ: “Il obtint son certificat d’e’studes primaires en 1908 et fut admís au Quôc Hoc”. Khi ra nước ngoài, Nguyễn Tất Thành làm việc trên tàu viễn dương cho các hãng Chargeurs Réunis, rồi hãng Messageries Maritimes (Năm Sao). Đây đều là các hãng vận tải biển của Pháp, chỉ chuyên nói tiếng Pháp. Tại Marseille, ngày 15-9-1911, Nguyễn Tất Thành viết đơn bằng tiếng Pháp, gửi Tổng thống Cộng hòa Pháp, xin vào học Trường Thuộc địa, cuối thư có nói rõ: Biết tiếng Pháp, quốc ngữ và chữ Hán. Tiếp theo, tại Sài Gòn ngày 31-10-1911 và tại Niu Y-oóc ngày 15-12-1912, Nguyễn Tất Thành đã gửi hai bức thư cho Khâm sứ Trung Kỳ, một bức nhờ chuyển cho cha một ngân phiếu 15$, một bức cho biết đã gửi cho cha là Nguyễn Sinh Huy 3 ngân phiếu nhưng mới chỉ nhận được một thư trả lời. Thư anh Thành viết tỏ ý muốn được biết địa chỉ và tình hình cha mình hiện nay sống ra sao. Những bức thư này đều được anh Thành viết bằng tiếng Pháp với cách diễn đạt gãy gọn, trong sáng và chuẩn xác về chính tả-ngữ pháp. Điều này chứng tỏ người viết đã có một trình độ vững vàng về tiếng Pháp. Thời gian đầu sang Anh, trong một lá thư gửi Phan Châu Trinh, Nguyễn Tất Thành viết: “Mấy bốn tháng rưỡi nay thì chỉ làm với Tây, nói tiếng Tây luôn. Tuy ở Anh nhưng chẳng khác gì ở Pháp”. Điều đó cho thấy việc học nói và viết tiếng Pháp của anh Thành là một quá trình liên tục. Vì vậy, khi trở lại Pa-ri, anh đã có thể nói và viết tiếng Pháp thông thạo, đó là điều dễ hiểu.

Các mật vụ người Việt được “giao” nhiệm vụ theo dõi anh đều có báo cáo giống nhau. Ví như mật báo của Đốc phủ Bảy (mật danh là Edouard) viết: “Anh ta nói được tiếng Anh và tiếng Pháp thông thạo, biết ít tiếng Đức và tiếng Trung Quốc”. Một nhà báo Mỹ đã phỏng vấn anh và đăng bài đó trên tờ Yi Che Pao, xuất bản ở Thiên Tân, số ra ngày 2-9-1919, xác nhận “Nguyễn Ái Quốc nói tiếng Pháp rất giỏi” (parle admirablement le francais).

Không lâu, sau khi xuất hiện công khai, Nguyễn Ái Quốc đã hăng hái đăng đàn diễn thuyết bằng tiếng Pháp với thính giả Pháp, xin đơn cử:

– Ngày 14-1-1920, tại số 3 đường Chateau – Pa-ri, Nguyễn Ái Quốc diễn thuyết về đề tài “Sự tiến triển trong xã hội các dân tộc châu Á và những yêu cầu của nước Nam” (Theo BáoL’Humanité các số ra ngày 13 và 14-1-1920 và báo cáo của mật thám Jean).

– Ngày 11-2-1920, Nguyễn Ái Quốc thuyết trình đề tài “Chủ nghĩa cộng sản ở châu Á và vấn đề ruộng công điền ở Trung Quốc và Việt Nam”, tại Hội nghị những người thanh niên CS Quận 2 (Theo báo cáo của mật thám Jean).

– Tại cuộc mít tinh kỷ niệm 1-5-1920, Nguyễn Ái Quốc đã lên diễn đàn nói về “Chương trình hoạt động của Nhóm Xã hội đòi ngừng gửi người thuộc địa sang Pháp” (Báo cáo của mật thám Jean).

– Ngày 25-12-1920, Nguyễn Ái Quốc, đại biểu duy nhất là người bản xứ, được mời tham dự Đại hội lần thứ XVIII Đảng Xã hội Pháp, khai mạc tại thành phố Tours. Ngay buổi chiều hôm sau, anh được Chủ tịch phiên họp-Emile Goude-mời lên phát biểu. Bài phát biểu ứng khẩu, được biên bản tốc ký ghi lại cho thấy ở anh một tư duy và ngôn ngữ Pháp sắc sảo, súc tích, sáng sủa, mạch lạc, tập trung vào mục tiêu tố cáo tội ác của chủ nghĩa thực dân, kêu gọi sự ủng hộ thiết thực sự nghiệp giải phóng các dân tộc thuộc địa. Bài phát biểu đã được đại hội nhiều lần vỗ tay hoan nghênh nhiệt liệt.

Ngay sau phát biểu của anh, Chủ tịch phiên họp E.Goude nhận xét: “Bằng một thứ tiếng Pháp tuyệt vời (En un excellent francais), ông đã tố cáo những tội ác, những hành động đàn áp và chuyên chế mà hai mươi triệu người An Nam là nạn nhân, họ bị đầu độc bằng rượu và thuốc phiện, bị bóc lột và truy nã bởi một thứ công lý tư sản đè nặng lên họ. Tất cả những đảng viên xã hội nhất trí phản kháng, chống lại những bất công và tội ác của thứ công lý tư sản ở Đông Dương” (Vỗ tay).

Đưa ra một vài dẫn chứng để hiểu được trình độ tiếng Pháp của Nguyễn Ái Quốc vào quãng 1919-1920 khi ông bước vào hoạt động chính trị ngay tại thủ đô Pa-ri. Tất nhiên, từ văn nói đến văn viết còn phải qua một chặng đường học tập và rèn luyện nữa. Nguyễn Ái Quốc hiểu rằng, hoạt động chính trị công khai giữa Pa-ri phải sử dụng được vũ khí tuyên truyền sắc bén là sách báo. Vì vậy, Nguyễn Ái Quốc đã ra sức học viết, trước hết là học với người thầy trực tiếp ở ngay cùng nhà là Phan Văn Trường, sau đó là miệt mài ở các thư viện. Nhờ khiêm tốn và dày công học hỏi, nên Nguyễn Ái Quốc đã tiến bộ rất nhanh trong viết báo. Dấu ấn phong cách Phan Văn Trường trong những bài viết đầu tiên của Nguyễn Ái Quốc là rất rõ; hoặc do Phan Văn Trường hướng dẫn hoặc được Phan trực tiếp sửa chữa, nên sự khó phân biệt cũng là dễ hiểu (chính Hồ Chí Minh sau này đã công khai nói rõ điều đó). Vì vậy, ngày nay mới cần đến sự thẩm định của các nhà nghiên cứu.

Thụy Khuê xuất phát từ cái nhìn miệt thị, cho rằng Nguyễn Tất Thành tuy cũng xuất thân con quan, nhưng khi xuất dương đã phải sống một cuộc sống nghèo khổ, cực nhọc, không được học hành, không có bằng cấp như Phan Văn Trường, Nguyễn Thế Truyền, Nguyễn An Ninh, nên không đủ kiến thức và Pháp văn để viết. Vai trò của Nguyễn Tất Thành trong tờ Báo Le Paria chỉ là “giữ sổ sách, tập viết mấy dòng tin tức, in và phát truyền đơn” thế thôi! Những câu viết khinh thị với đầu óc nặng bằng cấp này chứng tỏ Thụy Khuê tuy sống ở Pháp đã lâu nhưng lại không có được cái nhìn tiên tiến của giới trí thức Pháp. Người Pháp thứ thiệt rất coi nhẹ bằng cấp mà coi trọng thực tài, đề cao tư duy độc lập, khả năng phản biện và cá tính sáng tạo. Hãy nghe một trí thức Pháp, ông Daniel Hémery, đánh giá về Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh sau này: “Hồ Chí Minh không hoàn thành trọn vẹn một chương trình giáo dục nào, ông cũng không tiếp nhận đầy đủ một nền tri thức hiện đại cũng như nền nho học cổ truyền mà đứng giữa hai nền văn hóa đó. Ông là một người tự học đầy tài năng, là hình mẫu của giới trí thức không bằng cấp, sẽ giữ vai trò quyết định trong phong trào cách mạng”.

Bút danh Nguyễn Ái Quốc trở thành tên riêng của Nguyễn Tất Thành như thế nào và từ bao giờ?

Bút danh Nguyễn Ái Quốc xuất hiện lần đầu tiên vào tháng 6-1919 trong bản Thỉnh nguyện thư gửi hòa hội Versailles, đồng thời cũng được gửi đến Tổng thống Hợp chủng quốc và các đoàn đại biểu nhiều nước tham dự hội nghị. Theo nhiều nhà nghiên cứu, sáng kiến đưa Thỉnh nguyện thư là của Phan Châu Trinh, Nguyễn Tất Thành và do Phan Văn Trường chấp bút, dưới ký bút danh chung là Nguyễn Ái Quốc. Tuy nhiên, địa chỉ ghi bên dưới Thỉnh nguyện thư không phải là 6 Villa des Gobelins, mà là 56 phố Monsieur le Prince, nơi cư trú lúc đó của Nguyễn Tất Thành. Ngày 14-11-1919, Bộ Thuộc địa Pháp có thư mời Nguyễn Ái Quốc đến gặp để kiểm tra lý lịch và đã gửi thư về địa chỉ 56 phố Monsieur le Prince. Tuy nhiên, khi đó Nguyễn Tất Thành đã chuyển đến số 6 Villa des Gobelins, nhà của Phan Văn Trường. Nhận được thư mời, Nguyễn Tất Thành ung dung đến trụ sở Bộ Thuộc địa kiến diện Bộ trưởng A.Sarraut – người đã có hai nhiệm kỳ làm Toàn quyền Đông Dương – và sau đó với P.Pasquier (người sau này cũng trở thành Toàn quyền Đông Dương). Qua những cuộc gặp gỡ và đối thoại thẳng thắn này, cùng với kết quả xác minh của những mật thám người Việt bủa vây quanh anh, người mang tên Nguyễn Ái Quốc hiện diện bằng xương bằng thịt đã được khẳng định chính là Nguyễn Tất Thành.

Chủ tịch Hồ Chí Minh. (Nguồn: Internet).

Tất nhiên, bút danh Nguyễn Ái Quốc có thể vẫn được Phan Văn Trường tiếp tục sử dụng thêm trong khoảng thời gian từ cuối 1919 đến đầu năm 1920. Bởi lẽ, ở thời gian đó, bản Yêu sách vừa mới được công bố trên L’Humanité, nên các thế lực thực dân đang có phản ứng mạnh về nội dung bản Yêu sách. Do vậy, bút danh Nguyễn Ái Quốc đang nổi như cồn. Nếu các tác phẩm được ký với bút danh đó sẽ thu hút sự chú ý của người đọc hơn. Mặt khác, xét về nội dung các bài báo xuất hiện cuối năm 1919 như: Ở Đông Dương, Vấn đề dân bản xứ (L’Humanité, ngày 2-8-1919); Đông Dương và Triều Tiên (Le Populaire ngày 4-9-1919); Thư gửi ông Outrey (Le Populaire, ngày 14-10-1919)… nói chung đều xoay quanh nội dung bản Yêu sách, cùng một mạch văn, nên có thể vẫn do Phan Văn Trường viết. Điều này cũng đã từng được Tiến sĩ sử học Thu Trang nêu lên qua phân tích sự khác nhau trong lối hành văn, cách lý luận giữa Phan Văn Trường và Nguyễn Ái Quốc. Thu Trang cho rằng:“Phan Văn Trường vốn là luật sư, “có một túi luật lệ”, nên thỉnh thoảng ông đưa sự hiểu biết chuyên môn của mình ra để đấu khẩu với những tên thực dân (như bài Thư gửi ông Outrey); còn Nguyễn Ái Quốc, trong những bài báo về sau, “không mấy khi Nguyễn dùng luật lệ để bắt bẻ thực dân, mà phần nhiều hay dùng những chứng cớ hiển nhiên, dễ hiểu, thực tế đập vào mắt độc giả. Nội dung giản dị, dễ đọc, không đi vào chuyên môn; khi cần dẫn chứng thì mới trích đoạn chỗ này, chỗ khác, hoặc trích vài con số để chứng minh sự thật”.

Thu Trang nghi vấn các bài này có thể là của Phan Văn Trường, chứ không hề nghĩ đến Nguyễn An Ninh hay Nguyễn Thế Truyền như Thụy Khuê đã gán một cách vô căn cứ cho hai người này, bởi đơn giản là vì vào năm 1919-1920 Nguyễn Thế Truyền vẫn chưa có mặt tại Pa-ri. Theo Đặng Hữu Thụ, từ 1916 đến 1920, ông Truyền đang học đại học ở Toulouse, miền Nam nước Pháp. Năm 1920, ông Truyền tốt nghiệp kỹ sư hóa học và cử nhân khoa học ban Lý Hóa, sau đó về nước cưới vợ và ở lại trong nước hơn một năm. Ngày 23-8-1921, ông lại được học bổng của Thống sứ Bắc Kỳ, tiếp tục đi du học lần thứ ba và theo học tại Đại học Sorbonne. Cuối năm 1922, ông Truyền đậu cử nhân triết học và bắt đầu kết giao thân thiết với Nguyễn Ái Quốc, tham gia viết báo Le Paria. Có một thời gian ngắn ông Truyền tá túc ở số 6 Villa des Gobelins, sau đó thuê nhà ở tại số 6 đường Saint-Louis-en-I’Ile Paris. Như vậy, những bài báo đầu tiên của Nguyễn Thế Truyền sẽ chỉ bắt đầu xuất hiện vào cuối năm 1922 trên tờ Le Paria.

Còn Nguyễn An Ninh, sinh năm 1900, 18 tuổi ông mới sang Pa-ri, tiếp tục học luật tại Sorbonne. Hai năm sau (1920) Nguyễn An Ninh đỗ cử nhân luật với tấm bằng xuất sắc, nhưng chưa thấy nói đến những hoạt động chính trị của ông vào thời gian này. Như vậy, khó có thể nói võ đoán như Thụy Khuê rằng Thư gửi ông Outrey là do Nguyễn An Ninh viết, với một lập luận “kỳ khôi”:“Outrey và Nguyễn An Ninh cùng ở Nam Kỳ nên biết rõ hành tung của nhau. Outrey biết rõ gốc gác và hành động của Nguyễn An Ninh,… khi đọc văn, y đoán chắc là của Nguyễn An Ninh, nên trong lời buộc tội của hạ viện, Outrey đã mô tả Nguyễn Ái Quốc như Nguyễn An Ninh” (sic)! Thụy Khuê cần biết rằng Outrey là ủy viên Hội đồng thuộc địa Nam Kỳ và là đại biểu của Hội đồng thuộc địa Nam Kỳ trong Hạ viện Pháp, rồi làm Thống đốc Nam Kỳ, đang dòm ngó chức Toàn quyền Đông Dương; còn Nguyễn An Ninh khi ở trong nước mới chỉ là một học sinh cao đẳng pháp chính thuộc Đại học ĐD, chưa đến 18 tuổi, hãy còn vô danh, nghĩa là chưa viết lách và chưa có hoạt động chống đối tiếng tăm gì. Vậy tại sao một quan chức thực dân cao cấp như Outrey lại có thể biết rõ gốc gác và hành tung của Nguyễn An Ninh, khi đọc văn y nhận ra ngay để có thể khẳng định Nguyễn Ái Quốc chính là Nguyễn An Ninh? (những lập luận kiểu “tự do sáng tác” như thế không hiếm trong bài viết của Thụy Khuê, có dẫn ra nữa cũng chỉ làm mất thêm thì giờ của độc giả).

Vậy bút danh Nguyễn Ái Quốc trở thành tên riêng của Nguyễn Tất Thành từ bao giờ? Cần nói ngay rằng “nhóm Ngũ Long” là do người đời sau đặt ra để tôn vinh năm nhà hoạt động yêu nước nổi tiếng có mặt tại Pa-ri trong những năm 20 của thế kỷ trước (ví dụ như người ta vẫn đặt: “Nam Đàn tứ hổ”, “Thăng Long tứ kiệt”,….) chứ không phải là một “nhóm” có ý nghĩa về tổ chức, hình thành và hoạt động bên nhau cùng một lúc. Mỗi người có một vai trò và nổi lên ở một giai đoạn nhưng không phải khi nào họ cũng nhất trí với nhau về xu hướng, quan điểm và phương pháp hành động. Nguyễn Ái Quốc từ khi gia nhập Đảng Xã hội rồi trở thành người cộng sản thì xu hướng ngày càng cấp tiến, hoạt động ngày càng mạnh mẽ. Phan Văn Trường là một trí thức có quốc tịch Pháp nên chủ yếu muốn dựa vào pháp luật và báo chí công khai để đấu tranh. Phan Châu Trinh thì chủ trương cải cách ôn hòa, mềm mỏng, không muốn làm mất lòng người Pháp. Vì vậy, họ thường tranh luận, có khi to tiếng với nhau, từ đêm này qua đêm khác, khiến hàng xóm phải than phiền. Tranh luận mãi mà không thuyết phục được nhau cũng mệt mỏi, cuối cùng đành mỗi người tạm đi một nơi: Cụ Phan dọn về ở 21 Pernety rồi cuối năm đó xuống Marseille làm việc hơn một năm; Nguyễn Ái Quốc dọn về số 9 Ngõ Compoint, còn Phan Văn Trường đi Mayence, ngôi nhà ở Gobelin bỏ trống. Tuy vậy, về mặt tình cảm, họ vẫn kính trọng nhau và duy trì quan hệ với nhau hết sức tốt đẹp.

Thực tế đó cho thấy: Nguyễn Ái Quốc đã đi theo một con đường riêng, xu hướng thiên tả của anh được bộc lộ rõ ràng và mạnh mẽ trong hoạt động cũng như trong các bài viết. Theo đó, từ khi gia nhập Đảng Xã hội Pháp năm 1919, rồi sau đến Đại hội Tours (tháng 12-1920), trở thành người cộng sản, bút danh Nguyễn Ái Quốc được ký dưới những bài báo có xu hướng xã hội chủ nghĩa, thường hay nhắc đến Quốc tế Cộng sản, đã trở thành bút danh riêng của Nguyễn Tất Thành. Đó là điều dễ thấy, không ai có thể xuyên tạc được.

Về tác phẩm Đông DươngBản án chế độ thực dân Pháp: Trong bài viết của mình, Thụy Khuê có nói đến cuốn La France en Indochine của Nguyễn An Ninh được viết và xuất bản tại Pháp tháng 4-1925, nhưng thừa nhận nay không còn dấu tích (nghĩa là Thụy Khuê cũng chưa từng nhìn thấy, chưa nói là từng đọc), chỉ còn bài viết La France ent L’Indochine của ông đăng trên Europe, số 31, ra ngày 15-7-1925 cho ta biết tư tưởng đấu tranh của Nguyễn An Ninh. Thế mà Thụy Khuê đã vội phỏng đoán một cách hồ đồ rằng: “Cuốn sách mang tên Đông Dương (1923-1924) được dịch và đưa vào Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 1, phải chăng đây chính là tác phẩm La France en Indochine mà Nguyễn An Ninh đã cho in năm 1925?” (sic!).

Để tránh những kết luận liều lĩnh như trên, tôi khuyên Thụy Khuê nên đến Trung tâm Lưu trữ tư liệu lịch sử Nga, vào Phòng Quốc tế cộng sản, mở cặp tư liệu về Nguyễn Ái Quốc, đọc Hồ sơ số 7, sẽ thấy bản thảo bút tích, đánh máy tiếng Pháp, cuốn sách nhỏ nhan đề Đông Dương của Nguyễn Ái Quốc được lưu tại đó. Trang bìa in nền hoa văn, có chữ viết tay của thủ thư bằng tiếng Nga, dịch ra như sau: “ĐÔNG DƯƠNG”

Dự thảo cuốn sách nhỏ của đồng chí Quốc (1923-1924): Dự thảo có 18 bài, gồm 82 trang đánh máy bằng tiếng Pháp, với các đề mục như sau: 1. Sa gesographie, Les classes. L’histoire. 2. Sa vie esconomique. 3. Les méfaits du militarisme. 4. Les atrocités de la civilisation. 5. Mentalité coloniale. 6. Les administrateurs. 7. Parasitisme et pétaudière. 8. Le consortium des bandits. 9. Concessions et concessionnaires. 10. Les travauxpublics. 11. Corvées ou travaux forces. 12. L’obscurantisme. 13. La presse. 14. Les impots. 15. La résistance. 16. L’Eglise. 17. La Justice. 18. L’Annam vu par les francais.

Đọc qua, người đọc có thể thấy ngay tên một số đề mục có sự trùng hợp với tên một số chương của Bản án chế độ thực dân Pháp. Tuy nhiên, có điều nội dung cuốn Đông Dương chỉ giới hạn tố cáo tội ác chế độ thực dân trong phạm vi xứ Đông Dương, còn Bản án chế độ thực dân Pháp đã được tác giả bổ sung và phát triển, mở rộng sự tố cáo ra các thuộc địa Á-Phi khác thành một tác phẩm đầy đặn hơn. Ông D.Hesmery đã cho rằng “Đông Dương” chính là tiền thân của tác phẩm “Bản án chế độ thực dân Pháp”.

Trước khi đề cập đến tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp tưởng cũng nên nói qua về những bài viết trên Báo Le Paria. Vẫn quen lối nói bất cần khảo chứng, Thụy Khuê cứ tùy tiện nói bừa: “Những bài xuất hiện trên Báo Le PariaL’Humanité, phần lớn là của Nguyễn Thế Truyền; những bài trên Le Libertaire, phần lớn là của Nguyễn An Ninh; những bài ký tên Nguyễn Ái Quốc sau khi Nguyễn Tất Thành đi Nga, từ 1923 đến 1927, trên Le Paria và trên Inprékorr, báo Nga ấn bản Pháp ngữ, cũng của Nguyễn Thế Truyền” (sic)! “Nói có sách, mách có chứng”, yêu cầu đó đối với người Việt Nam, ngay cả trẻ nhỏ, ai cũng đều biết cả. Nhưng vì quá hăng hái “lập công” nên Thụy Khuê đã liều lĩnh nói bừa. Tuy nhiên, đáng tiếc là những lập luận đó của Thụy Khuê cũng chẳng đánh lừa được ai! Cần nhắc lại rằng Báo Le Paria do Nguyễn Ái Quốc tham gia sáng lập, trực tiếp làm chủ nhiệm kiêm chủ bút và viết chính. Số đầu tiên ra mắt bạn đọc ngày 1-4-1922 đã có giới thiệu về số 2: Đón đọc bài Động vật học được viết rất hay của Nguyễn Ái Quốc, photographe – (chữ thợ ảnh được chú thích đàng hoàng như một chức danh, đó là bài viết của một thợ ảnh chứ không phải của moogj avocat hay licencié nào).

Bác Hồ, người thầy vĩ đại của báo chí Cách mạng Việt Nam. Ảnh tư liệu

Còn Nguyễn Thế Truyền, như đã nói ở trên, mãi cuối năm 1922 mới kết thân với Nguyễn Ái Quốc và tham gia cộng tác với Le Paria. Trong khi, bút danh Nguyễn Ái Quốc từ lâu đã trở thành tên riêng của Nguyễn Tất Thành. Trong 38 số báo Le Paria, có tới 37 bài của Nguyễn Ái Quốc, không kể bài dịch, với văn phong giản dị, thiết thực nhưng không kém phần trào lộng tinh tế, châm biếm sắc sảo, dồi dào tình cảm cách mạng và có tính chiến đấu cao, không thể trộn lẫn được. Chính nội dung những bài viết này, sau đã được Nguyễn Ái Quốc sử dụng lại, đưa vào tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp. Có điều lạ là Thụy Khuê đều vơ tất cả các bài trênLe Paria và trên các báo khác về cho Nguyễn Thế Truyền và Nguyễn An Ninh mà lại gạt Phan Văn Trường ra? Nên nhớ, mãi đến 6-12-1923, ông Phan Văn Trường mới lên tàu về nước. Dưới một bút danh mới là PHAN, ông đã viết nhiều bài cho Le Paria. Theo GS Nguyễn Phan Quang, trong cuốn Luật sư Phan Văn Trường, các bài đó được đăng trên Le Paria các số: 11, 12, 13, 14, 16, 18-19, 21,… vào các năm 1922-1923.

Đối với tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp, lúc đầu, Thụy Khuê khẳng định rằng đó là của Nguyễn Thế Truyền. Tuy nhiên, sau có lẽ thấy nói thế không thuyết phục được ai, nên Thụy Khuê đổi giọng: “có thể được coi là một sáng tác tập thể, mà Nguyễn Thế Truyền làm chủ biên và viết lời giới thiệu”. Thụy Khuê dẫn thêm một câu của Trần Dân Tiên: “Ông Nguyễn chỉ viết một cuốn sách duy nhất là tác phẩm “Bản án chế độ thực dân Pháp”, trích trong những sách của người Pháp viết để ở thư viện quốc gia”, để rồi lu loa lên rằng: Viết như thế “chứng tỏ ông chưa đọc “Bản án chế độ thực dân Pháp” vì “chẳng có cuốn sách nào của người Pháp lại viết về tội ác của một thành phần dân tộc mình như thế và lưu trong thư viện để ông chép lại” (sic)! Ô hay! Thật kỳ lạ cho tư duy của một nhà phê bình! Chẳng lẽ ở Pháp, Thụy Khuê chỉ quen biết với toàn những tên thực dân mà quên rằng, nước Pháp còn là quê hương của lý tưởng Tự do, Bình đẳng, Bác ái; của những người xã hội và cộng sản; của những trí thức chân chính theo đuổi lý tưởng nhân đạo vào chính nghĩa, như J.Jaurès, A.France, M.Cachin, Vigné D,Octon…. và rất nhiều người khác nữa. Họ viết sách, viết báo lên án tội ác của chủ nghĩa thực dân, bênh vực các dân tộc thuộc địa. Nguyễn Ái Quốc trích dẫn những nhận định, đánh giá mà họ đã viết, đã nói như là một cách dùng “gậy ông đập lưng ông” thì có gì là lạ? Đây là dụng ý của Nguyễn Ái Quốc, được mật thám Jean ghi lại và đưa vào mật báo ngày 19-1-1920: “Tôi không muốn tự mình viết lấy, vì như thế không có giá trị trung thực. Tôi sẽ dùng những đoạn văn trong sổ sách đã viết về thực dân Pháp. Tôi sẽ cố gắng làm cho đậm nét những đoạn ấy”.

Có thể thấy, chính Thụy Khuê chưa đọc, hơn nữa có thể còn chưa được nhìn thấy tác phẩmBản án chế độ thực dân Pháp của Nguyễn Ái Quốc. Bởi nếu được nhìn qua thôi, tôi tin chắc Thụy Khuê không dám liều lĩnh nói sách này là của Nguyễn Thế Truyền hoặc do ông Truyền làm chủ biên. Đơn giản là vì ngay trước trang bìa bên trong, sách đã in trang trọng ảnh chân dung tác giả của tác phẩm là Nguyễn Ái Quốc, một điều cũng hiếm thấy ở phương Tây lúc bấy giờ. Chính Nguyễn Thế Truyền trong lời giới thiệu cũng viết: Chúng tôi sẽ lần lượt đưa ra những bản án của các dân tộc là thuộc địa của Pháp trong một loạt các tập sách nhỏ mà mở đầu bằng bản án của một người An Nam: Nguyễn Ái Quốc.

Đề cập đến vấn đề tác giả của tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp, ông Đặng Hữu Thụ, vốn người Hành Thiện, tác giả cuốn sách khá đầy đặn về “thân thế và sự nghiệp nhà cách mạng Nguyễn Thế Truyền”, cho biết: “Trước khi đi Mạc Tư Khoa, ông Nguyễn Ái Quốc có viết cuốn sách lên án chế độ thực dân Pháp bằng Pháp ngữ. Ông có giao bản thảo sách cho ông Nguyễn Thế Truyền nhờ sửa chữa lại bản thảo, đề tựa và cho in tại Pháp. Sách được in năm 1926 tại, có bài tựa của ông Nguyễn Thế Truyền” (tr.120). Ông Truyền nhờ ông Bửu Nghi, du học ở Pháp là bạn thân của ông Truyền sửa dùm các lỗi chính tả, văn phạm, lời văn; sau ông Truyền xem lại, sửa chữa lần nữa, gọt dũa lại câu văn, viết lại nhiều câu ý tưởng còn thiếu mạch lạc, trước khi trao cho nhà in (tr.123-124). Ông Thụ kết luận: “Vậy tác giả cuốn sách trên là ông Nguyễn Ái Quốc” (tr.125).

Thụy Khuê chắc đã đọc kỹ cuốn sách này vì đôi lần trích ý kiến Đặng Hữu Thụ trong bài của mình. Tuy nhiên, đến đoạn nhận định mà tôi vừa nêu trên của ông Thụ thì Thụy Khuê lại lờ đi không nhắc đến chỉ vì nó không có lợi cho dụng tâm đang muốn thực thi. Cách trích dẫn của Thụy Khuê là như vậy, nhiều khi cố tình cắt xén cốt sao đạt được ý đồ của mình. Bản Việt Namyêu cầu ca được Nguyễn Ái Quốc chuyển thành văn vần để cho những người ít chữ dễ thuộc, dễ nhớ, nhưng không thể đưa in vì ở Pháp lúc đó không có chữ in quốc ngữ có dấu. Vì vậy, Nguyễn Ái Quốc phải viết tay, làm bản chụp rồi in ra. Việt Nam yêu cầu ca được Nguyễn Ái Quốc viết theo thể thơ lục bát. Bản phô tô trong sách của Thu Trang cho thấy Nguyễn Ái Quốc viết liền 2 câu 6/8 cùng 1 dòng. Nhưng vì dụng ý của mình, khi trích dẫn, Thụy Khuê chỉ chép lại trong bài viết của mình toàn các câu 6, bỏ các câu 8, làm cho nó trở nên ngô nghê, chẳng còn vần điệu gì. Làm như thế, Thụy Khuê cốt để hạ một câu: Nguyễn Tất Thành do sớm bỏ học, nên tiếng Pháp sơ sài, quốc ngữ cũng kém!

Vở kịch Le Dragon en bambou (chứ không phải de bambou như Thụy Khuê viết) cũng được Thụy Khuê gán cho là của Nguyễn An Ninh mà không đưa ra được chứng lý nào. Chúng ta được biết, Nguyễn Ái Quốc không chỉ viết báo chính luận mà còn sử dụng các loại hình nghệ thuật khác như: Truyện, ký, kịch, tranh biếm họa để phục vụ cho tuyên truyền chống chủ nghĩa thực dân. Tháng 5-1922, Chính phủ Pháp mở Hội chợ triển lãm thuộc địa tại thành phố Marseille để khoe công lao khai hóa thuộc địa và có mời vua bù nhìn Khải Định sang dự. Dụng ý của Chính phủ Pháp lúc bấy giờ là với sự có mặt của Khải Định minh chứng cho “công lao” khai hóa thuộc địa của chủ nghĩa thực dân tại triển lãm lần này. Sự kiện này làm cho những người Việt Nam yêu nước có mặt ở Pháp cảm thấy bị sỉ nhục. Một chiến dịch phản đối bùng lên, phê phán mạnh mẽ tên vua bù nhìn ươn hèn, ăn chơi trác táng. Phan Châu Trinh viết: Thất điều thư, còn Nguyễn Ái Quốc thì viết nhiều bài báo và truyện ngắn châm biếm Khải Định, trong đó có vở kịch ba hồiCon rồng tre (trước đó, ông đã diễn thuyết về đề tài sân khấu Việt Nam tại CLB Faubourg buổi sinh hoạt tháng 4-1922). Vở kịch được nhóm Faubourg đem công diễn và được khán giả nhiệt liệt hoan nghênh. Điều này được chính Léo Pold é s, một trí thức phái tả, là chủ nhiệm CLB Faubourg thời bấy giờ thừa nhận rất rõ trong một bài viết đăng trên Tuần báo Le Paria số 53, ra ngày 11, 12-6-1946, sau khi được gặp lại Nguyễn Ái Quốc đang thăm chính thức nước Pháp thời gian đó. Bài viết có đoạn: “Tôi đã đọc tập bản thảo. Thật là hay, thật là đẹp, lời văn vừa chải chuốt vừa gọn gàng với những cái châm biếm dí dỏm kiểu Aristophane… Thật không ngờ rằng 25 năm sau, người thợ ảnh ở ngõ hẻm Compoint, tác giả “Con rồng tre”, lại trở nên một vị Quốc trưởng với cái tên mới Hồ Chí Minh, Chủ tịch Việt Nam Dân chủ Cộng hòa!”.

Đỉnh điểm của sự xuyên tạc được gói lại trong phần kết luận của bài viết cuối cùng của Thụy Khuê. Trong bài viết này, Thụy Khuê đưa ra danh sách những bài báo ký bút danh Nguyễn Ái Quốc từ 1919 đến 1923 và tất cả đều được gán cho Phan Văn Trường, Nguyễn An Ninh và nhiều nhất là cho Nguyễn Thế Truyền, không có bài nào là của Nguyễn Ái Quốc! Làm một cuộc phủ định sạch trơn như vậy, Thụy Khuê muốn nhằm mục đích gì? Thụy Khuê đã vu cáo một cách thâm độc: “Hồ Chí Minh không ngần ngại nhận mình là tác giả những bài viết và những công trình không phải của mình” vì “chính những bài báo đó đã xây dựng nên huyền thoại Hồ Chí Minh”, “đã xác định tư tưởng Hồ Chí Minh”! “Vì thế, không thể để cho lớp trẻ học mãi những điều mạo nhận”! (sic).

Tuy nhiên, như bạn đọc đã thấy, âm mưu “lật đổ thần tượng” của Thụy Khuê đã thất bại thảm hại. Ở thời đại thông tin phát triển rộng rãi như hiện nay, mọi nguồn lưu trữ đã được minh bạch hóa. Đến những tài liệu được coi là tối mật của Mỹ mà cũng đã được WikiLeaks tung lên mạng. Trình độ nhận thức của đa số người đọc ngày nay cũng đã khác xưa. Thủ đoạn vu cáo, bịa đặt, xuyên tạc, tung hỏa mù,… của thời chiến tranh lạnh mà Thụy Khuê quen dùng đã trở nên cũ kỹ, rất gây phản cảm cho người đọc. Viết văn, viết báo – dù là tiểu trí thức – thường bao giờ cũng phải lấy sự thật làm đầu, theo đuổi chân lý, chính nghĩa. Nếu dùng lối ngụy tạo một cách trơ trẽn, để lộ một nhân cách tầm thường thì chẳng đánh lừa được ai.

Mấy bài báo ở thời kỳ đầu khi Nguyễn Ái Quốc mới bước lên vũ đài chính trị chỉ là số rất nhỏ trong hàng vạn bài báo và tác phẩm do Hồ Chí Minh viết sau này, nó chẳng có vai trò như Thụy Khuê suy diễn, nếu như có sự lầm lẫn một đôi bài báo đó thì chính là lỗi ở các nhà sưu tầm, cả Pháp lẫn Việt, chứ không liên quan gì đến Hồ Chí Minh.

Cuộc đời vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn gắn liền với báo chí. Ảnh tư liệu/internet.

Huyền thoại Hồ Chí Minh đâu có thể hình thành từ vài bài báo? Huyền thoại Hồ Chí Minh chính là sản phẩm của một đời đấu tranh vào sinh ra tử, phải vượt qua bao thử thách hiểm nguy, phải đối phó với bao kẻ thù hung bạo, trong một bối cảnh quốc tế cực kỳ phức tạp, để chèo lái con thuyền cách mạng Việt Nam cập bến bờ độc lập, tự do. Đó cũng là sản phẩm của cuộc đời một chính khách trong sạch và liêm khiết có một không hai như Hồ Chí Minh. Đóng góp vào sự hình thành huyền thoại đó còn phải nói đến vai trò của các bạn bè Pháp và ngay cả mật thám Pháp như P.Arnoux,…

Tư tưởng Hồ Chí Minh là cả một hệ thống quan điểm về con đường cách mạng Việt Nam từ độc lập dân tộc đi tới xây dựng thành công một nước Việt Nam “hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ, giàu mạnh và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”. Tư tưởng đó là kết quả của quá trình học tập, thâu hóa tinh hoa tư tưởng nhân loại, của các vĩ nhân như: Khổng tử, Jésus, Marx, Tôn Dật Tiên,… để từ đó thăng hoa lên thành tư tưởng Hồ Chí Minh. Trả lời câu hỏi của một phóng viên: Ông là ai, theo chủ nghĩa cộng sản hay chủ nghĩa Tôn Dật Tiên? Hồ Chí Minh từng nói: “Tôi vẫn là tôi ngày trước – một người yêu nước”. “Tôi hiến dâng cả đời tôi cho Tổ quốc tôi”. Tên gọi Nguyễn Ái Quốc đã kết tụ đầy đủ lý tưởng, bản chất, mục tiêu chiến đấu, phẩm chất đạo đức của cuộc đời Hồ Chí Minh.

Hồ Chí Minh không “vơ vào” cho mình một chút gì cả! Sinh thời, Người thẳng thắn từ chối mọi danh hiệu mà người đời khen tặng. Có một nhà văn nước ngoài gọi Người là nhà thơ. Người khoát tay: Nhà thơ gì tôi, chẳng qua là trong tù, đi ngang được ba bước, đi dọc được sáu bước, không biết làm gì thì làm thơ, thế thôi. Tôi chỉ là người có chút duyên nợ với báo chí, gọi tôi là nhà cách mạng chuyên nghiệp là đúng nhất. Cũng cần nhắc lại: Hồ Chí Minh là nhà lãnh đạo Việt Nam duy nhất không có huân chương. Người không tán thành dựng tượng đồng, bia đá, bảo tàng… cho mình khi nhân dân còn thiếu bệnh viện, trường học.

Giáo sư Nguyễn Mạnh Tường, một trí thức chân chính, vì chính kiến riêng mà phải chịu một cuộc sống đau khổ hơn ba mươi năm. Cuối đời, năm 1989, ông được học trò và người thân mời trở lại thăm nước Pháp vào đúng lúc Đông Âu đang xảy ra biến cố. Phóng viên Báo Le Monde đã phỏng vấn ông. Theo tâm lý thường tình, người ta nghĩ ông sẽ thực hiện “un coup pied de l’âne” (cú đá của con lừa thừa cơ người khác đang gặp khó khăn). Nhưng với nhân cách của một trí thức chân chính không cho phép ông hành xử như vậy.

– PV: Ngài thấy chủ nghĩa cộng sản bây giờ thế nào?

– GS Nguyễn Mạnh Tường (NMT): Trước hết các ông đừng lẫn lộn chủ nghĩa cộng sản, mà nhiều trí thức Pháp đã coi là hy vọng cuối cùng của loài người, với những người đã thực hiện nó.

– PV: Vậy ngài thấy các lãnh tụ cộng sản thế nào?

– GS NMT: Cũng như vậy, các ông chớ xếp chung các lãnh tụ cộng sản vào một gói. Làm sao có thể đặt ngang hàng Xêauxetxcu với Hồ Chí Minh? Các ông đều biết Cụ Hồ đến khi chết vẫn chỉ có hai bộ quần áo ka ki đã sờn và một đôi dép lốp cao su vẹt gót.

– PV: Liệu Việt Nam có như Đông Âu không?

– GS NMT: Đảng Cộng sản Việt Nam cũng có những sai lầm, nhưng không ai quên công lớn của Đảng đã lãnh đạo nhân dân giành lại độc lập, thống nhất, giải phóng dân tộc.

Tôi muốn dẫn một người nữa, GS Hoàng Xuân Hãn, một học giả đáng kính, được coi như là lương tâm của trí thức Việt kiều ở hải ngoại. Một phóng viên của Diễn đàn (Paris), trong một lần trao đổi với GS về sự đánh giá của ông đối với công lao của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhất là của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ông nói: “Bây giờ lòng người còn phân tán, hận thù còn quá nhiều, nên sự đánh giá còn lệch lạc. Nhưng với con mắt của người nghiên cứu lịch sử dân tộc, bác tin rằng vài chục năm nữa, có lẽ sớm hơn, người ta sẽ nhìn nhận công lao của Cụ Hồ”. Rồi ông nói cụ thể hơn: “Cũng những anh thanh niên ấy mà bác đã quan sát, vì đã dạy học họ trong mấy năm, nhưng không tập hợp nhau được, hay tập hợp được cũng chẳng làm nên việc gì, thế mà hôm trước hôm sau, họ thay đổi hẳn”. Theo lời phóng viên được đối thoại thì ý này của GS Hoàng Xuân Hãn trùng hợp với nhận xét của viên tướng chỉ huy quân đội Nhật ở Đông Dương thời đó. Viên tướng này nhận xét: Trên đường từ Hà Nội vào Sài Gòn ngay sau ngày 19-8-1945, ông ta cũng nhận thấy “những đôi mắt, những ánh mắt” trên khuôn mặt người Việt Nam chỉ “hôm trước, hôm sau” đã “hoàn toàn khác hẳn” (do GS Vĩnh Sinh thuật lại). Sau khi ôn lại những cố gắng liên tiếp của các thế hệ cha ông từ cuối thế kỷ XIX, tìm đường giải phóng đất nước mà không thành, GS Hãn kết luận: “Vì chưa bao giờ trong lịch sử của mình, dân ta phải đương đầu với một quốc gia xâm lược mà thế lực, trình độ phát triển, hơn hẳn ta đến như vậy”. Vậy mà Cụ Hồ đã thành công. Có lẽ, đó cũng là nhận thức chung của những trí thức Việt kiều có lương tri ở hải ngoại hiện nay.

Hàng chục năm nay, đã có không ít kẻ xấu xa bị thất bại ê chề trong âm mưu “lật đổ thần tượng”. Họ phải biết rằng: Hồ Chí Minh, cũng như Trần Hưng Đạo, Nguyễn Trãi,… là những thần tượng muôn đời của dân tộc. Do vậy, một vài đứa con lạc bầy, dù có hò hét điên cuồng đến đâu, cũng không thể nào đánh đổ được. Mong rằng, Thụy Khuê sẽ không ăn phải đũa của những kẻ “bội tín”, sẽ tiếp bước lớp trí thức tinh hoa ở hải ngoại, có những đóng góp tích cực vào sự nghiệp đoàn kết, hòa hợp dân tộc và phát triển đất nước.

NGÔ TRẦN ĐỨC

qdnd.vn

Tinh thần cùng với người dân


Kỷ niệm 121 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19-5-1890/19-5-2011)

QĐND – “Nói về lịch sử Việt Nam, thì tinh thần yêu nước, thương dân, yêu dân tộc của Chủ tịch Hồ Chí Minh – một nhân vật vĩ đại xứng đáng là tấm gương cho các nhà lãnh đạo chính trị trên thế giới”.

Lời khẳng định trên là của Giáo sư, Tiến sĩ Ahn Kyong Hwan, thuộc Trường Đại học Chosun Hàn Quốc, khi nói về Chủ tịch Hồ Chí Minh, người mà ông đã dành hơn 20 năm để nghiên cứu, tại Hội thảo Di sản Hồ Chí Minh trong thời đại ngày nay, nhân kỷ niệm 120 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19-5-2010), ở Hà Nội.

Vị Chủ tịch gần gũi nhân dân

Trong bài viết của mình, Giáo sư, Tiến sĩ Ahn Kyong Hwan nhấn mạnh: “Tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, có thể nói một cách tóm tắt là Tinh thần cùng với người dân. Cả đời Người hiến thân vì sự nghiệp độc lập và tự do cho Tổ quốc Việt Nam, và thực hiện ba tinh thần là tinh thần cùng sống với người dân, tinh thần cùng ăn với người dân và tinh thần cùng làn việc với người dân”.

Tại sao lại có sự khẳng định như vậy? Giáo sư, Tiến sĩ Ahn Kyong Hwan phân tích: Chủ tịch Hồ Chí Minh lúc sinh thời đã không thần tượng hóa hay thần thánh hóa về mình. Người được nhân dân thân thương gọi là Bác Hồ. Cả đời Người sống thanh bần, không lập gia đình riêng. Người không màng tới địa vị của mình. Người được thừa nhận là nhà lãnh đạo mang tầm cỡ thế giới và là một người yêu nước, sống như cuộc sống của một người dân bình thường, hiến thân phục vụ vì đại nghĩa, luôn chăm lo cải thiện cuộc sống của đồng bào Việt Nam. Chính những tư tưởng trên của Người đã đưa Người tới gần nhất với đời sống của nhân dân.

Các đại biểu và học giả trao đổi bên lề Hội thảo diễn ra vào tháng 5-2010.
Ảnh: Hoa Huyền

Theo Giáo sư, Tiến sĩ Ahn Kyong Hwan, khi một nhà lãnh đạo chính trị hành động với tinh thần tập thể cùng sống, cùng ăn, cùng ở, cùng làm việc với người dân thì tập hợp được sức mạnh của toàn dân, đất nước dù có gặp những khó khăn thế nào cũng khắc phục và tìm được con đường giải quyết, đưa đất nước khỏi con đường bế tắc. “Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đã cùng sống, cùng ăn và cùng làm việc với người dân. Ngay cả khi ở địa vị tối cao của một nhà lãnh đạo, Người cũng không đòi hỏi đặc quyền gì cho bản thân mình. Một nhân vật đã cùng khổ, cùng sướng với người dân và qua đó đã có được một cơ sở vững chắc là sự tin cậy của người dân – nguồn sức mạnh để giành lại độc lập từ tay thực dân Pháp”, Giáo sư Ahn Kyong Hwan nói.

Suốt đời hy sinh cho dân tộc Việt Nam

Trong bài viết “Chủ tịch Hồ Chí Minh qua cảm nghĩ của một người Hàn Quốc” mà Giáo sư-Tiến sĩ Ahn Kyong Hwan trình bày tại Hội thảo Di sản Hồ Chí Minh trong thời đại ngày nay, Giáo sư đã nhấn mạnh, cho dù có sự khác biệt về tư tưởng hay tôn giáo với các vĩ nhân khác trên thế giới, nhưng về nhân cách của Người, đáng để cho tất cả mọi người trên thế giới tôn kính. Giáo sư Ahn Kyong Hwan cho rằng, Chủ tịch Hồ Chí Minh là người theo chủ nghĩa dân tộc và là nhà yêu nước xuất sắc. Nhiều nhà lãnh đạo trên thế giới phải noi gương tinh thần yêu nước, yêu đồng bào vĩ đại của Người.

Phân tích luận điểm trên, Giáo sư Ahn Kyong Hwan đã dẫn giải rằng, Chủ tịch Hồ Chí Minh là một nhà yêu nước chân chính, tuyệt đối không mang tinh thần chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi. Chủ nghĩa dân tộc của Người là “chủ nghĩa dân tộc mở”, luôn hướng về thế giới. Chủ nghĩa dân tộc của Hồ Chí Minh là chủ nghĩa dân tộc bao gồm thế giới, đâu phải là chủ nghĩa dân tộc bị trói buộc trong một vòng chật hẹp. Chủ tịch Hồ Chí Minh chọn lựa chiến lược vận động cho độc lập, thống nhất đất nước bằng đấu tranh vũ trang, bằng chiến tranh nhân dân, nhưng về cơ bản Người là một người theo chủ nghĩa hòa bình, một nhà văn hóa.

Trong 79 năm cuộc đời mình, Người đã cùng dân tộc trải qua con đường chông gai trong suốt cuộc đấu tranh giành độc lập. Người đã cùng dân tộc Việt Nam làm nên nhiều thắng lợi lịch sử. Người đã vì Tổ quốc và dân tộc mà sống một cuộc đời đầy gian khổ. Người là một nhân vật luôn tuân theo mệnh lệnh tối cao của dân tộc mà đấu tranh để giành độc lập-tự chủ. Những con người đi theo con đường vì Tổ quốc, vì dân tộc như Chủ tịch Hồ Chí Minh mãi mãi là niềm tự hào, là vĩ nhân bất diệt của nhân dân Việt Nam. Hiểu về Người, là đã hiểu một phần về Việt Nam. Khi tinh thần của Người được kế thừa và phát huy, chắc chắn thắng lợi của Việt Nam là đời đời bền vững. Người luôn sống mãi trong lòng người dân Việt Nam.

NGUYỄN HÒA (ghi)

qdnd.vn

Hành trình 40 ngày trên biển của Bác qua ảnh vệ tinh

(GDVN) – 100 năm kể từ ngày chàng trai trẻ Nguyễn Văn Ba lên tàu Amiral Latouche Tréville rời Bến cảng Nhà Rồng, bắt đầu hành trình 30 năm bôn ba tìm đường cứu nước. Nhân sự kiện này, GDVN vẽ lại hành trình 40 ngày lên đênh trên biển của Người qua những hình ảnh vệ tinh.

a

Thương cảng Sài Gòn năm 1911 khá tấp nập, chỉ dài 600m. Có nhiều tuyến đường lớn chạy qua thương cảng này, đó là các đường Paul Blanchy (nay là đường Hai Bà Trưng),
Catinat (nay là đường Đồng Khởi), Charner (nay là đường Nguyễn Huệ), Krantz và Duperré (nay là đường Hàm Nghi). (Trong ảnh là Bến cảng Nhà Rồng với mô hình 3D của Google Earth ngày nay)

a

Thương cảng Sài Gòn khi ấy có 5 cầu tàu: 3 cầu tàu nhỏ ở đầu đường Đồng Khởi dành cho các hãng chuyên chở đường sông, 1 cầu tàu lớn ở đầu đường Nguyễn Huệ dành cho các tàu viễn dương và 1 cầu tàu nhỏ ở đầu đường Hàm Nghi dành cho hãng tàu người Hoa. Brébion đã mô tả Thương cảng Sài Gòn hồi 1911: “Trên bến Francis Garnier (nay là bến Bạch Đằng), phía bờ sông có nhiều loại cầu tàu chiếm chỗ. Một trong số cầu tàu lớn nhất là nơi cập bến các tàu
lớn thuộc hãng Chargeurs Resunis (hãng Năm Sao).
Trong ảnh là hình ảnh tư liệu về Bến cảng Nhà Rồng xưa.

a

Trưa 2/6/1911, chiếc tàu Amiral Latouche Tréville của hãng Năm Sao từ Hải Phòng cập cảng Sài Gòn. Bác xuống tàu và gặp viên thuyền trưởng Lui E-du-a Mai-sen. Ngày 3/6/1911, Bác chính thức xuống tàu làm phụ bếp với mức lương 50 phơ-răng Pháp. Đây là một trong những tàu lớn hồi đó vừa chở hàng, vừa chở khách. Tàu Latouche dài 124,1m, rộng 15,2m, chạy máy hơi nước, 2.800 mã lực với tốc độ 13 hải lý/giờ, trọng tải 5.572 tấn và có đủ nhiên liệu để chạy một mạch 12.000 hải lý.

a

Trưa 5/6/1911, con tàu Amiral Latouche Tréville đã rời bến sông Sài Gòn với 72 thủy thủ trên tàu. Trong ảnh, điểm chấm đỏ là cảng Nhà Rồng, mũi tên đỏ chỉ hướng tàu Amiral Latouche Tréville di chuyển.

a

Tàu Amiral Latouche Tréville di chuyển từ Sài Gòn tới Singapore trong 3 ngày (trong ảnh chấm đỏ chỉ đường di chuyển của tàu Amiral Latouche Tréville. Đường di chuyển của tàu Amiral Latouche Tréville bằng chấm đỏ chỉ mang tính tương đối)

a

Ngày 8/6/1911, tàu Amiral Latouche Tréville cập cảng Keppel của Singapore. Trong ảnh là cảng Keppel ngày nay được chụp bằng Google Earth.

a

Toàn cảnh về đêm trên cảng Keppel của Singapore ngày nay.

a

Từ cảng Keppel, Singapore, tàu Amiral Latouche Tréville tiếp tục hành trình của mình trên Ấn Độ Dương để tới Quốc đảo Sri Lanka.

a

Ngày 14/6/1911 tàu Amiral Latouche Tréville cập cảng Colombo, Sri Lanka sau 6 ngày lênh đênh trên biển. Trong ảnh là cảng Colombo, Sri Lanka được chụp bằng Google Earth.

A

Toàn cảnh cảng Colombo Sri Lanka ngày nay

a

Vượt qua phần còn lại của Ấn Độ Dương, tàu Amiral Latouche Tréville đi vào vùng biển đỏ, qua tiếp kênh đào Suez tàu Amiral Latouche Tréville cập cảng Said phía Bắc Ai Cập.

a

Tàu Amiral Latouche Tréville đã cập cảng Said, Ai Cập ngày 30/06/1911. Trong ảnh là cảng Said chụp bằng Google Earth

a

Một phần cảng Said, Ai Cập ngày nay

Said, Ai Cập

Từ cảng Said, Ai Cập, tàu Amiral Latouche Tréville tiếp tục hành trình vượt qua Địa Trung Hải để tới cảng Mác Xây (Marseille) Pháp ngày 06/07/1911.

a

Bến Đa – Răng trong cảng Mác Xây. Ngày 06/07/1911, Bác đã lần đầu tiên tới nước Pháp. Cũng chính nơi đây lần đầu tiên trông đời Bác thấy có những người Pháp gọi anh bằng “ông”. Trong ảnh là toàn cảnh cảng Mác Xây, Pháp chụp bằng Google Earth.

a

Một ngày ở lại Mác-xây, đi thăm phố xá, Bác nhận xét: Thì ra, người Pháp ở bên Pháp không ác như thực dân Pháp ờ Việt Nam. Thì ra, bên Pháp cũng có người nghèo như bên ta. Trong ảnh là một phần cảng Mác Xây, Pháp ngày nay.

a

Tàu Amiral Latouche Tréville không dừng lại ở Mác Xây, nó phải tiếp tục hành trình về phía Bắc của nước Pháp. Đó là cảng Le Havre

a

Ngày 15/07/1911, tàu Amiral Latouche Tréville cập cảng Le Havre, cảng chính ở phía Bắc nước Pháp kết thúc 40 ngày lên đênh trên biển. Do công việc dưới tàu cực khổ, 14 thủy thủ, nhân viên đã bỏ nghề lên các bến dọc đường. Khi tàu đến Le Havre, tổng số người làm trên tàu chỉ còn có 58 người, trong đó có Bác.

a

Bác đã thắng sóng gió và điều kiện làm việc cực nhọc dưới tàu biển để khởi đầu cho cuộc dấn thân trường chinh tìm đường cứu nước. Trong ảnh là toàn cảnh cảng Le Havre, Pháp ngày nay.

Nam Chấn (Hình ảnh chụp từ Google Earth)

giaoduc.net.vn

Hồ Chí Minh và con đường giải phóng dân tộc

Tìm đường đi cho dân tộc

(VOV) – Đây là sự khởi đầu đúng đắn để từ đó Người đã dẫn dắt ngọn cờ cách mạng của dân tộc Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.

Cách đây 100 năm, ngày 5/6/1911, người thanh niên Nguyễn Tất Thành – Nguyễn Ái Quốc với lòng yêu nước nồng nàn, lên đường bôn ba 5 châu, 4 biển, tìm con đường giải phóng dân tộc.

Đất nước đẹp vô cùng nhưng Bác phải ra đi

Với ý chí, nhiệt huyết và sức trẻ của tuổi thanh xuân, Nguyễn Tất Thành đã khởi đầu cho hành trình tìm đường giải phóng dân tộc với chân làm thuê trên tàu Đô đốc L’Amiral Latouche Tréville, rời Tổ quốc vào tháng 6/1911, ra nước ngoài xem nước Pháp và các nước khác đã làm thế nào để có được độc lập, tự do, rồi “trở về giúp đồng bào mình”. 30 năm sau, Người trở về, tạo nên sự thay đổi của vận mệnh và tương lai cả dân tộc.

Theo ông Bùi Kim Hồng – Giám đốc Khu di tích Phủ Chủ tịch, quyết định ra đi tìm đường cứu nước là sự khởi đầu một con đường đi hoàn toàn đúng đắn của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh. Người trực tiếp sang miền đất của chính kẻ thù đang cai trị dân tộc mình để hiểu được bản chất của vấn đề, bản chất của xâm lược, và khẳng định được rằng, ở bất cứ nước nào, người dân nô lệ cũng đều phải sống cuộc đời lầm than. Muốn giải phóng được dân nô lệ phải giải phóng đất nước, giành độc lập, tự do cho dân tộc. Đấy không chỉ là con đường đối với dân tộc Việt Nam, mà là con đường đi của tất cả các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới.

Sau năm 1911, trong vòng 10 năm tiếp theo, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tận dụng mọi cơ hội để được đến nhiều nơi trên thế giới. Với ý chí kiên cường và lòng yêu nước nồng nàn, Người đã sống cuộc đời của người lao động, hòa mình vào phong trào cách mạng của giai cấp công nhân ở các nước tư bản chủ nghĩa, của các dân tộc bị áp bức bóc lột ở thuộc địa.

Qua những chuyến đi, những cuộc khảo nghiệm thực tế đó, chủ nghĩa yêu nước ở Người có những chuyển biến mới. Sự đồng cảm với đồng bào mình đã được nâng lên thành sự đồng cảm với nhân dân lao động, với các dân tộc cùng cảnh ngộ bị áp bức như dân tộc mình. Quá trình thâm nhập vào những xã hội văn minh rộng lớn đã giúp Người nhận thức rõ hơn, khái quát hơn diện mạo của kẻ thù: không chỉ đối với thực dân Pháp mà cả chủ nghĩa thực dân, chủ nghĩa đế quốc nói chung.

Với tinh thần ham hiểu biết và học hỏi, với tư duy độc lập sáng tạo, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm hình thành chí hướng lớn lao và quyết tâm tìm con đường đi cho riêng mình. Người trân trọng và khâm phục tinh thần đấu tranh bất khuất của những chí sĩ yêu nước trước đó, nhưng không đi theo con đường của các bậc tiền bối đã đi, mà có suy nghĩ, cách thức khác. Trong 30 năm xa Tổ quốc, Người mất gần 10 năm để tìm lời giải cho bài toán khó: làm thế nào để giải phóng Tổ quốc và nhân dân thoát khỏi ách nô lệ của thực dân, để nước nhà được độc lập, dân được tự do, hạnh phúc.

PGS, TS Bùi Đình Phong (Học viện Chính trị – Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh) phân tích: “Trong 10 năm ấy, Bác đã phải nghiên cứu, khảo nghiệm, chắt lọc đối chiếu từ cách mạng tư sản pháp 1779, cách mạng tư sản Mỹ 1776… Cuối cùng khi đọc Luận cương của Lênin, Người mới tìm thấy được lời giải thực sự cần thiết. Như vậy, Bác Hồ đến với chân lý cách mạng của thời đại không chỉ  để giải quyết nhu cầu giải phóng dân tộc của cách mạng Việt Nam mà còn đáp ứng cả xu thế của thời đại. Tức là phong trào giải phóng dân tộc phải đi vào quỹ đạo của phong trào cách mạng vô sản”.

Đêm mơ nước, ngày thấy hình của nước

Nguyễn Tất Thành nhận làm bồi tàu, thủy thủ để có điều kiện được tiến hành cuộc khảo sát rộng lớn thế giới tư bản, nhưng tâm hồn Người luôn hướng về Tổ quốc, luôn đau đáu về mục tiêu cao cả: giành độc lập, tự do cho dân tộc.

Từ cảng Nhà Rồng, Người đã đi qua Singapore, Colombo, vượt Hồng hải, qua Suez đến cảng Saïd, Marseille, Le Havre. Từ Pháp, Người trở lại Sài Gòn, rồi đi vòng quanh châu Phi, qua các nước Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Algeria, Tunisia, trở lại các cửa biển Đông Phi, vòng qua Congo, Dahomey, Guinée, Sénégal, vượt Đại Tây Dương tới Hoa Kỳ, vòng xuống Nam Mỹ, tới Argentina… Sau đó, trở lại Anh, về Pháp, qua Đức, tới Liên Xô, về Trung Quốc, sang Thái Lan…

Suốt thời thanh niên, Nguyễn Tất Thành vừa lao động kiếm sống, vừa tích luỹ tri thức và tìm hiểu đời sống chính trị, xã hội ở các quốc gia, dân tộc và các nền văn hoá của nhiều châu lục.

Đặc biệt, từ năm 1921 – 1923, giữa mùa đông giá lạnh ở Paris, căn phòng không điện, không nước trong ngôi nhà số 9, ngõ Compoint đã nuôi dưỡng một con người có trái tim luôn khát khao cháy bỏng để tìm ra con đường cứu nước cho dân tộc Việt Nam. Căn phòng này còn là nơi tụ họp rất nhiều người Việt Nam yêu nước đang sinh sống tại Paris để tìm ra con đường mới cho cách mạng Việt Nam.

Có thể nói, vào đầu thế kỷ XX, Hồ Chí Minh là một trong số rất ít các nhà cách mạng đương thời có điều kiện đi nhiều, có một vốn hiểu biết khá tường tận về chủ nghĩa đế quốc và hệ thống thuộc địa của chúng. Bản thân là người dân thuộc điạ, ra nước ngoài hòa mình vào cuộc sống lao động và đấu tranh của vô sản ở chính quốc, có gần 10 năm bôn ba, khảo sát các thuộc địa của đế quốc Anh, Pháp, Đức – từ châu Á, châu Phi đến châu Mỹ La tinh, nên Người có hiểu biết về bản chất chung và màu sắc riêng của mỗi nước đế quốc cũng như trình độ phát triển kinh tế-văn hóa-xã hội khác nhau giữa các nước thuộc địa. Nhờ vốn hiểu biết thực tế đó, cùng với một năng lực tư duy độc lập, tự chủ, đã giúp Người không rơi vào các khuynh hướng cơ hội nhưng cũng không dễ dàng chấp nhận một cách giáo điều những công thức lý luận không phù hợp với thực tế các nước thuộc địa, nhất là ở phương Đông.

Cảm phục trước cuộc đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhà văn Australia, Allan Asbolt đã viết: “Một trong những nét nổi bật về cuộc đời Hồ Chí Minh là Người đã sống nhiều năm ở nước ngoài – ở châu Âu, Anh, Liên Xô, Mỹ và Trung Quốc, nhưng Người không có tham vọng cá nhân, phù phiếm; không cố công để trở thành một nhân vật xuất chúng, theo ngôn ngữ của các nhà xã hội tư bản. Người dành thời gian chủ yếu cho việc nghiên cứu và học hỏi, nghiên cứu chủ nghĩa tư bản trong thực tế có phần dựa vào kinh nghiệm hàng ngày của bản thân trong giai cấp công nhân. Người luôn luôn có suy nghĩ làm thế nào để giải phóng nhân dân nước mình khỏi ách đô hộ và bóc lột thực dân. Người cũng nhận thức sâu sắc rằng cần phải kết hợp sức mạnh chiến đấu của ý thức dân tộc Việt Nam đang trỗi dậy với những mục tiêu đồng cảm về cơ bản là hòa bình và nhân đạo của chủ nghĩa xã hội. Trong gần 3 thập kỷ, Người đã sống và làm việc ở nước ngoài nhưng về ý thức, Người không hề xa Tổ quốc”./.

Tìm lời giải cho “Bài toán thế kỷ” của dân tộc

(VOV) – Nhà sử học Italia, Perugia: “Hồ Chí Minh là một trong những người hiếm có của thời đại chúng ta. Không có Người, lịch sử có thể đã đi theo một con đường khác”.

Trong cuộc viễn du 30 năm, qua 28 quốc gia và vùng lãnh thổ, Nguyễn Ái Quốc đã tìm thấy cẩm nang thần kỳ của Lênin, tạo ra bước ngoặt cơ bản trong tư tưởng cách mạng, giúp Người đưa ra một kết luận quan trọng: Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc, không có con đường nào khác là con đường cách mạng vô sản.

Theo GS.TS Tạ Ngọc Tấn – Giám đốc Học viện Chính trị – Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh, điều này ngày càng chứng minh tư duy độc lập, sáng tạo của Bác Hồ. Người đã đi suốt từ châu Âu, châu Phi, châu Mỹ, nghiên cứu các nước phát triển nhất của hệ thống Tư bản chủ nghĩa lúc bây giờ. Đồng thời bằng trải nghiệm qua thực tiễn quê hương mình, Người đã nghiên cứu cuộc sống của người dân ở những thuộc địa khốn khổ ở Châu Phi. Từ đó Người cân nhắc tìm con đường và khi tiếp cận luận cương của Lênin về vấn đề thuộc địa, Bác Hồ đã nhận ra con đường cứu nước cứu dân tộc. Toàn bộ việc đi tìm đường cứu nước của Người là có chủ ý, đã có những điều kiện nền tảng về tư tưởng và Bác đã chọn con đường rất mới, sang châu Âu để tìm con đường cứu nước, để hướng tới những tư tưởng hiện đại nhất thời đại lúc bấy giờ.

Theo PGS, TS Lê Văn Yên (Nhà xuất bản Chính trị quốc gia), Nguyễn Tất Thành chọn cho mình hướng đi mới, đó là tìm đến các nước phương Tây, nơi có trào lưu Tự do, Bình đẳng, Bác ái để tìm cách làm mới, phương pháp mới, rồi trở về nước giúp Tổ quốc, giúp đồng bào. Trong lúc đất nước còn khủng hoảng, Nguyễn Tất Thành rời Tổ quốc vượt trùng dương đi tìm chân lý cách mạng. Có thể nói, đây là sự kiện lịch sử quan trọng, là bước mở đầu cho cách mạng Việt Nam chuẩn bị đi vào con đường cách mạng vô sản, nhịp bước với thời đại, kết hợp chủ nghĩa yêu nước chân chính với chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân một cách hữu cơ từ trong bản chất giai cấp, trên tinh thần đấu tranh vì lợi ích nhân loại.

PGS,TS Nguyễn Trọng Phúc (Học viện Chính trị – Hành chính Quốc gia Hồ Chí minh) nhấn mạnh: Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chắt lọc những tư tưởng, học thuyết đã có sẵn và luôn luôn mở rộng tầm nhìn, khai thác tư tưởng mới của nhân loại. Đây là sự gặp gỡ giữa tư tưởng của một con người có tầm trí tuệ với các vấn đề khách quan của thời đại đặt ra. Sự gặp gỡ giữa một trí tuệ lớn, một nhân cách lớn, một khát vọng lớn của một con người với những vấn đề nóng bỏng của thời đại đã hun đúc nên tư tưởng và đường hướng phát triển của tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng dân tộc.

Nguyễn Ái Quốc tại Đại hội Tua năm 1920

Ra đi tìm đường cứu một quốc gia là nhiệm vụ vô cùng khó khăn, nhưng tìm thấy con đường ấy là việc khó gấp bội phần. PGS, TS Lê Văn Tích (Học viện Chính trị – Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh) khẳng định: Sau nhiều thất bại của các bậc tiền bối, Hồ Chí Minh là người đầu tiên tìm ra lời giải cho “Bài toán thế kỷ” đặt ra trước dân tộc.

Từ việc làm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, theo ông Nguyễn Huy Hoan – nguyên Phó Giám đốc Bảo tàng Hồ Chí Minh, chúng ta rút ra được rất nhiều bài học. Bài học đầu tiên, đó là có lòng yêu nước sâu sắc nhưng phải biến lòng yêu nước đó thành hành động cụ thể. Hành động cụ thể của Nguyễn Tất Thành, Nguyễn Ái Quốc từ khi ra đi tìm đường cứu nước là sự toàn tâm, toàn ý tập trung vào việc tìm cho dân tộc con đường giải phóng đúng đắn.

Bài học thứ hai là phải có trí tuệ sáng suốt, phải biết lựa chọn con đường đúng đắn. Ở giai đoạn Hồ Chí Minh đi tìm đường cứu nước, các quan điểm của thế giới về con đường giải phóng dân tộc rất nhiều, cũng như lúc bấy giờ chưa có một mô hình nào cụ thể về con đường giải phóng dân tộc. Nhưng sự thiên tài của Bác Hồ là đã chọn được mô hình rất đúng đắn để giải phóng dân tộc và chúng ta hoàn toàn có thể tự hào là cuộc cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam thoát khỏi ách thực dân là cuộc cách mạng giải phóng dân tộc đầu tiên trên thế giới và chúng ta cũng lập ra chính quyền của dân đầu tiên trên thế giới từ một nước thuộc địa.

Bài học thứ ba chính là tấm gương học tập, nghiên cứu của Người. Người học suốt ngày, học cho đến 11 giờ đêm. Đi đâu cũng học và gặp ai cũng học.

Bài học thứ tư là sự sáng tạo của Người khi tìm lời giải cho bài toán khó của đất nước. Nhờ sáng tạo ấy Bác Hồ của chúng ta đã tìm được con đường giải phóng có hiệu quả. Luận cương Lênin chỉ nêu những vấn đề cơ bản, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có sự sáng tạo, mà hai luận điểm sáng tạo nhất của Bác là: Muốn giải phóng dân tộc phải dựa vào sức của nhân dân mình là chính; Và, cách mạng giải phóng dân tộc phải tiến hành trước chính quốc. Cách mạng Tháng Tám năm 1945 của Việt Nam đã diễn ra theo đúng tư tưởng chiến lược đó của Bác./.

Những bài học lớn

(VOV) – Vận dụng sáng tạo, phát huy tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh sẽ giúp toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta giành được nhiều thắng lợi to lớn trong sự nghiệp đổi mới đất nước ngày nay.

Chủ tịch Hồ Chí Minh mở ra con đường mới và dẫn dắt toàn Đảng, toàn dân đi theo con đường độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Với trái tim đầy nhiệt huyết, bộ óc sáng suốt, Người luôn luôn vươn tới những giá trị của Chân, Thiện, Mỹ. Sự nghiệp của Hồ Chí Minh, con đường Hồ Chí Minh tìm thấy và dẫn dắt mọi người dân Việt Nam yêu nước dựa vào nền văn hóa mà ở đó biểu đạt những giá trị toàn cầu, những khát vọng của con người, của các dân tộc khác nhau, có bản sắc, cốt cách, đặc tính khác nhau nhưng thống nhất, hài hòa trong những giá trị chung nhất, tốt đẹp nhất mà con người toàn nhân loại và các dân tộc trên thế giới khát khao vươn tới.

Theo PGS-NGND Lê Mậu Hãn (Đại học Quốc gia Hà Nội), Chủ tịch Hồ Chí Minh dạy chúng ta một bài học lớn: mọi quyết định đều phải dựa vào thực tiễn của thời đại và sức mạnh của dân tộc.

PGS-TS Vũ Quang Hiển (Đại học Quốc gia Hà Nội) nhấn mạnh, bài học lớn mà chúng ta luôn luôn khắc ghi đó là phát huy tinh thần độc lập, tự chủ, sáng tạo trong quá trình chỉ đạo sự nghiệp đổi mới để xây dựng nước ta ngày càng giàu mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Nói đến độc lập dân tộc, độc lập tự do  không thể tách rời với thống nhất đất nước. Vì một đất nước độc lập đồng thời phải là một đất nước thống nhất quốc gia một cách toàn diện.

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế như hiện nay, vấn đề độc lập dân tộc càng được coi trọng. Sự hội nhập của các quốc gia đều là trên nền tảng giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc.

Cũng theo PGS-TS Vũ Quang Hiển, bản sắc văn hóa đó thể hiện qua ngôn ngữ, tiếng nói, phong cách ứng xử, mà phong cách đó biểu hiện ở mọi người Việt Nam, từ những người có chức có quyền cho đến những người bình thường, một anh lái xe taxi, một người đạp xích lô, một chị bán hàng ở một kiốt ở Bờ Hồ, hay một chị lao công quét rác… Trong con mắt bạn bè quốc tế, người ta thấy ở họ một con người hiền lành trong đời thường, chăm chỉ trong lao động sản xuất và dũng cảm, quyết liệt trong cuộc đấu tranh chống ngoại xâm. Nhìn vào họ, người ta thấy được hình ảnh tiêu biểu của con người Việt Nam.

Giới trẻ Việt Nam rất năng động, và trong điều kiện hiện tại, sự năng động và thông minh của giới trẻ có điều kiện phát huy. Giới trẻ một mặt hướng tới cái mới, năng động tìm kiếm cái mới, nhưng phải luôn luôn giữ gìn các giá trị đã đi vào bản chất của con người Việt Nam, tiếp tục nắm vững và phát huy ngọn cờ độc lập dân tộc.

Trong kỷ nguyên toàn cầu hóa, chúng ta nhớ bài học quí giá mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy, đó là: “có cái gì tốt của Đông phương và Tây phương thì ta phải học lấy để làm giàu cho văn hóa Việt Nam”. Ngày nay, chúng ta càng phải nâng cao chủ nghĩa yêu nước, không chấp nhận nghèo nàn lạc hậu, làm cho con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện. Chúng ta phải chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế. Chúng ta phải luôn luôn nung nấu mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Đó cũng là những bài học được GS-TS Tạ Ngọc Tấn (Giám đốc Học viện Chính trị Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh) nhấn mạnh: “Từ sự kiện Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước sẽ là những bài học rất lớn cho chính bản thân cách mạng nước ta, đó là trong điều kiện thực tiễn thế nào chúng ta tìm ra những giải pháp, những con đường giải quyết những vấn đề trong đất nước. Bài học cho thế hệ trẻ là tinh thần yêu nước, ý thức tự lực tự cường và thái độ trách nhiệm với đất nước…”.

Theo GS,TS Mạch Quang Thắng (Học viện Chính trị – Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh), để đất nước phát triển ngày càng vững chắc trên con đường hội nhập quốc tế, chúng ta luôn luôn phải học Bác vừa kiên định, vừa sáng tạo. “Hồ Chí Minh để lại cho chúng ta thông điệp cho sự phát triển của dân tộc Việt Nam là con đường đi tới Chủ nghĩa xã hội, Chủ nghĩa cộng sản. Thông điệp đó là thông điệp quan trọng nhất hiện nay và tôi cho rằng phải kiên định con đường đó. Nhưng phải vừa kiên định vừa sáng tạo”.

PGS, TS Nguyễn Bá Linh (Học viện Chính trị – Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh) nêu hai bài học để phát huy tư tưởng Hồ Chí Minh đó là: Thứ nhất, phát huy tinh thần độc lập, tự chủ, sáng tạo trong quá trình chỉ đạo sự nghiệp đổi mới để đạt mục tiêu mà Đảng đã đề ra: Xây dựng nước ta thành một nước dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Thứ hai, luôn luôn kết hợp lý luận với thực tiễn, nói đi đôi với làm, đã nói là phải làm, không đánh trống bỏ dùi để làm gương cho toàn dân tộc theo phương châm: Đảng viên đi trước, làng nước theo sau như Bác thường răn dạy.

Tròn một thế kỷ đã trôi qua nhưng sự kiện người thanh niên Nguyễn Tất Thành – Nguyễn Ái Quốc ra đi tìm đường cứu nước vẫn còn nguyên ý nghĩa lịch sử và ý nghĩa thời đại. Đây là dịp để mỗi chúng ta học tập và noi gương Bác Hồ, kiên định con đường mà Bác đã lựa chọn.

Một nhà báo nước ngoài viết về Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh rằng: Hồ Chí Minh ngày càng trở nên vĩ đại, vì Người đã cho chúng ta lý do để sống và khả năng để thực hiện những ước mơ của mình. Chúng ta thật hạnh phúc khi được học theo Bác, để biết khởi đầu đúng và đi tới đích./.

Mai Hồng

vov.vn