Tag Archive | Chủ tịch Hồ Chí Minh

Mùa xuân là Tết trồng cây

Hằng năm, cứ mỗi dịp Tết đến Xuân về, người người, nhà nhà, các cơ quan, đơn vị khắp nơi lại cùng nhau tham gia phong trào trồng cây, gây rừng, thực hiện lời Bác dạy năm xưa “Mùa xuân là Tết trồng cây, làm cho đất nước càng ngày càng xuân”. Từ hải đảo xa xôi nơi đầu sóng ngọn gió, các chiến sĩ cùng người dân huyện đảo Trường Sa nô nức thực hiện “Tết trồng cây đời đời nhớ ơn Bác”. Phong trào trồng cây phủ xanh đảo cát đã được quân dân huyện đảo duy trì đều đặn hằng năm. Từng đơn vị, cụm dân cư và người dân đều có nghĩa vụ phải trồng và chăm sóc cây theo chỉ tiêu được phân bổ.

Còn tại tỉnh miền núi Lào Cai, dân làng Khẩu Cồ, xã Bản Cầm, huyện Bảo Thắng lại tưng bừng lễ hội ăn thề bảo vệ rừng. Đồng bào Tày xã Tả Chải ở Bắc Hà cũng vậy, năm nào cũng tổ chức lễ cúng rừng vào dịp năm mới. Mọi người cùng nhau thắp hương cùng thề bảo vệ rừng, trồng rừng và bàn về các quy định bảo vệ rừng. Các lễ hội này của đồng bào miền núi mang ý nghĩa khuyến khích phong trào trồng rừng, phủ xanh đất trống đồi trọc và động viên bà con dân tộc không đốt rừng làm nương rẫy.

Tại miền xuôi, học sinh các trường học, rồi các cụ già, thanh niên… đều phát động phong trào trồng cây xanh nhân dịp đầu Xuân năm mới. Nhiều nơi vẫn duy trì phong trào chăm sóc, bảo vệ và trồng mới vườn cây, ao cá Bác Hồ.

Trước thực trạng môi trường sống và môi trường thiên nhiên bị ô nhiễm nghiêm trọng dẫn tới hiện tượng thay đổi khí hậu đe dọa cuộc sống của con người, chúng ta càng thấm thía lời Bác kêu gọi: “Người người trồng cây, nhà nhà trồng cây” để bảo vệ môi trường sinh thái cho chính cuộc sống của con người. Đồng bào miền Trung sẽ bớt được nỗi lo mỗi mùa bão lũ nếu rừng đầu nguồn, rừng phòng hộ không bị chặt phá một cách bừa bãi. Phong trào trồng cây, gây rừng được phát động rộng rãi và mọi người đều có ý thức chăm sóc và bảo vệ cây xanh, là biện pháp hiệu quả để giảm nhẹ hậu quả của các thảm họa thiên tai như bão lũ. Sinh thời, Người từng kêu gọi nhân dân ta phải bảo vệ rừng như bảo vệ ngôi nhà của chính mình vậy.

Những lần đi thăm nước bạn hoặc tiếp đón các vị nguyên thủ quốc gia tới Việt Nam, Bác đều tổ chức trồng cây lưu niệm. Người đã trồng cây đại ở Ấn Độ, trồng cây sồi ở Nga và Người gọi đó là “những cây hữu nghị”. Cây lớn lên theo thời gian, không chỉ thể hiện tình hữu nghị giữa nhân dân Việt Nam với bạn bè thế giới mà còn thể hiện ý thức bảo vệ môi trường.

Trồng cây còn có giá trị kinh tế, cải thiện đời sống cho nhân dân, theo lời Bác Hồ dạy. Trong Di chúc, Bác cũng không quên nhắc nhở nhân dân ta phải tiếp tục trồng cây gây rừng: “Nên có kế hoạch trồng cây trên đồi, ai đến thăm thì trồng một cây làm kỷ niệm. Trồng cây nào phải tốt cây ấy. Lâu ngày, cây nhiều thành rừng, sẽ tốt cho phong cảnh và lợi cho nông nghiệp”.Trong bài viết cuối cùng của mình về “Tết trồng cây” đề ngày 5-2-1969, Bác nhắc tới “ích lợi to lớn cho kinh tế, quốc phòng” của việc trồng cây gây rừng, “đồng bào các địa phương phải biến đồi trọc thành vườn cây”.

Đẹp và ý nghĩa biết bao, nét văn hóa trồng cây ngày Xuân được Người khởi xướng và được cả nước ý thức giữ gìn, ngày một nhân rộng cho đến tận ngày nay và cả mãi mãi sau này.

Mai Xuân

bqllang.gov.vn

Sống tốt, làm giỏi mỗi ngày để theo gương Bác

Sáng 18-2, tại Thành phố Hồ Chí Minh, Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức hội nghị sơ kết 1 năm thực hiện cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Trong năm qua, các cơ sở Đảng đã quán triệt, triển khai sâu rộng cuộc vận động trong toàn Đảng, toàn dân, tạo nên không khí thi đua sôi nổi và đã được những kết quả bước đầu đáng khích lệ.

Qua cuộc vận động, mỗi người đã học được ý chí và nghị lực phi thường; lòng nhân ái, vị tha; đức tính cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư… của Bác bằng chính công việc hằng ngày của mình.

Nghị quyết “xuống dân”

Theo ông Nguyễn Tấn Long, Bí thư Đảng ủy phường 9, quận 10, đầu năm 2007, Đảng ủy phường 9 đã tích cực triển khai kế hoạch thực hiện cuộc vận động với 3 giai đoạn then chốt: Tổ chức học tập cho cán bộ, đảng viên, công chức và các đoàn thể nhân dân; lấy ý kiến đóng góp của quần chúng nhân dân; thảo luận ở các chi bộ, cán bộ công chức, các đoàn thể viết thu hoạch cá nhân và đề ra chương trình hành động. Tiếp đó, Đảng ủy ban hành Nghị quyết chuyên đề về học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, trong đó có chương trình “xuống dân”.

Để thực hiện việc này, một đoàn công tác (gồm Thường trực Đảng ủy, UBND – HĐND – MTTQ và đại diện người dân) đi xuống từng khu phố để lắng nghe, ghi nhận, phân loại sự việc theo thẩm quyền giải quyết và rút ra kinh nghiệm, đề ra các giải pháp thực hiện trên từng địa bàn dân cư. Tháng 5-2007, khi nghe người dân khu phố 2 phản ánh tình trạng cướp giật, hút chích ma túy tại một số con hẻm trên đường Lý Thái Tổ, đoàn công tác đã yêu cầu công an vào cuộc ngay và chỉ sau một đêm, người dân đã thở phào nhẹ nhõm. Kế đến là bức xúc của người dân khu phố 1 xung quanh việc làm giấy chủ quyền nhà đất, phường 9 đã phối hợp với các ngành chức năng của quận giải tỏa ngay những lo lắng của dân…

Chuyển biến tích cực về tư tưởng, hành động

Ông Trần Trọng Kính, Bí thư Đảng ủy Công ty TNHH một thành viên thuốc lá Sài Gòn (gọi tắt là Công ty Thuốc lá Sài Gòn), phấn khởi khi nói về việc triển khai cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” tại đơn vị.

Theo ông Kính, ngay sau khi thành lập Ban Chỉ đạo cuộc vận động, gồm đại diện Đảng ủy, ban giám đốc, Công đoàn, đoàn thanh niên, hội cựu chiến binh, công ty mở 2 lớp nghiên cứu, quán triệt, học tập một loạt chuyên đề “Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh”, “Đẩy mạnh học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay”, nghiên cứu tác phẩm “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân”, “Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh”; tổ chức các hội thi tuyên truyền với sự tham gia của hơn 3.000 cán bộ, công nhân viên chức – lao động.

Tại hội thi kể chuyện về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh do Đảng ủy Khối Bộ Công nghiệp tổ chức (từ tháng 8 đến tháng 11-2007), đội Công ty Thuốc lá Sài Gòn đã đoạt giải nhất. Đánh giá bước đầu triển khai cuộc vận động, ông Trần Trọng Kính cho rằng cuộc vận động đã tạo sự chuyển biến tích cực về tư tưởng và hành động trong cán bộ, đảng viên, quần chúng; gắn với cuộc vận động xây dựng và chỉnh đốn Đảng, với thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, quan liêu và gắn với các mặt công tác của đơn vị.

Đi vào cuộc sống

Cũng như bao đơn vị khác, Trường ĐH Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh đã tổ chức cho hơn 300 đảng viên của 28 chi bộ trực thuộc quán triệt Chỉ thị 06-CT/TW của Bộ Chính trị và Hướng dẫn 11-HD/TTVH của Ban Tuyên giáo Trung ương, Kế hoạch 12-KH/TU của Ban Thường vụ Thành ủy TPHCM. Qua cuộc vận động lớn này, trường đã lồng ghép, liên hệ thực tế với những công việc của một trường ĐH có nhiệm vụ đào tạo đội ngũ thầy giáo, cô giáo không chỉ cho Thành phố Hồ Chí Minh mà cho cả các tỉnh phía Nam, thậm chí không ít sinh viên có hộ khẩu ở các tỉnh phía Bắc với cuộc vận động “hai không” do Bộ trưởng Bộ Giáo dục – Đào tạo phát động.

Đối với hơn 10.000 sinh viên hệ chính quy, Đảng ủy giao cho Đoàn Thanh niên Cộng sản của nhà trường tổ chức nhiều hình thức phong phú để đưa cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” đi vào cuộc sống, làm hành trang cho các em vào đời. Ngoài thi kể chuyện, Đoàn còn phát động sinh viên viết nhật ký “làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Trường ĐH Sư phạm TP đang phát huy những thành quả này để tập thể CB-CNV, giảng viên tiếp tục phấn đấu “làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”.

Vũ Gia – Minh Nam

bqllang.gov.vn

Ấm sáng những ngọn lửa bên Người

Đến ngày lịch sử 3 tháng 2 năm nay, Đảng ta tròn 78 mùa xuân và cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” cũng đi trọn năm đầu triển khai thực hiện.

Đúng vào dịp này năm trước, khi đồng chí Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh thay mặt Bộ Chính trị phát động cuộc vận động sau một thời gian chuẩn bị kỹ lưỡng và làm thí điểm khá công phu ở một số ngành, đơn vị, địa phương, vẫn có không ít người, kể cả cán bộ, đảng viên âu lo, trăn trở.

Bởi chỉ cách đây mấy năm, chúng ta cũng tiến hành cuộc vận động”Xây dựng, chỉnh đốn Đảng” theo tư tưởng Hồ Chí Minh, Di chúc thiêng liêng của Người và Nghị quyết Hội nghị Trung ương sáu (lần 2) khoá VIII. Dù đã thu được những kết quả đáng khích lệ thì trong sâu xa của tâm nguyện, chưa mấy ai tự bằng lòng.

Những câu chuyện về Người

Chưa bao giờ, một đợt sinh hoạt chính trị – văn hoá gây được cảm xúc mãnh liệt, ấn tượng sâu sắc cho mọi người như các hội thi kể chuyện tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh – một trong những nội dung quan trọng của cuộc vận động được tổ chức trong năm qua. Gọi là hội thi vì sự kiện này thu hút rất nhiều người, đủ mọi thành phần, lứa tuổi, dân tộc, cả tín đồ tôn giáo tham gia.

Ở thủ đô Hà Nội, hội thi lần đầu tiên được tổ chức tại quận Ba Đình – nơi mà hai, ba thế hệ người dân ở đây có may mắn, vinh dự được sống gần Bác những ngày Cách mạng tháng Tám vừa thành công và quãng thời gian 15 năm sau ngày thủ đô được giải phóng. Những chuyện kể về Bác ở hội thi này làm cho hết thảy người nghe đều rưng rưng xúc động. Hội thi cấp cơ sở của xã Dương Hà, huyện Gia Lâm; hội thi cấp quận, huyện ở Đông Anh, Từ Liêm, Long Biên… được tổ chức vào buổi tối, tại đình làng hay sân vận động huyện, thu hút hàng ngàn người đến dự.

Có thí sinh đã tuổi hạc, tóc mây, vậy mà khi kể về Bác vẫn ngập tràn một nỗi niềm kính yêu tha thiết. Chị Cao Thị Oanh – nhân viên Trạm truyền tải điện Thanh Hoá, ra Hà Nội tham dự hội thi do Công ty truyền tải Điện I tổ chức. Chị Oanh kể câu chuyện “Lời Bác dặn trước lúc đi xa” làm cả hội trường mấy trăm người chứa chan nước mắt, không gian tĩnh lặng rồi vỡ oà tiếng vỗ tay khi chị kết thúc.

Ở Ban Tuyên giáo Trung ương – cơ quan thường trực cuộc vận động, Ban giám khảo hội thi ở đây đã trao giải nhất cho chị Nguyễn Thị Ánh – một nhân viên công nghệ thông tin. Ánh quê Nam Đàn, Nghệ An. Với câu chuyện “Bác Hồ về thăm quê” đã được in trên sách, báo, phát trên sóng phát thanh từ nhiều năm, vậy mà khi kể, chất giọng Nam Đàn cùng sự cảm nhận chân thành, tinh tế của Ánh đã đưa người nghe đến gần như tận cùng của cảm xúc với bao mới mẻ, bất ngờ.

Cuộc thi “Tôi yêu tổ quốc tôi, tôi yêu đồng bào tôi” do Báo Sinh Viên Việt Nam và Hoa Học Trò tổ chức có số lượng thí sinh vượt xa mong đợi ban đầu. Trò Quỳnh Hương đoạt giải nhì với bài viết “Thấy tình yêu trong những áng mây bay”. Theo em, để nói lời yêu với tổ quốc mình, người viết có thể không phải là “một cao thủ văn chương”, nhưng nhất thiết phải là một công dân có trái tim luôn nồng nàn nhiệt huyết.

Với các em, “Tổ quốc có hương”: Mùa hạ hương lúa, mùa thu hương cốm..; “tổ quốc có màu”: Màu xanh của núi, của cây, màu vàng của rơm rạ, màu đỏ của đất Tây Nguyên, màu trắng của muối mặn Sa Huỳnh, Năm Căn; “tổ quốc có vị mặn”: Vị mặn của đất đai, của mồ hôi, nước mắt, cả máu nữa… Em Kim Ngân – người đoạt giải ba cuộc thi, viết: ” Mỗi chúng con là một Việt Nam, một Việt Nam trẻ. Và xin cha mẹ, thầy cô hãy tin, khi nhìn chúng con, bạn bè thế giới đã nhìn thấy tổ quốc mình với những gì giản dị nhất, sinh động nhất, tươi trẻ nhất”.

Hội thi “Chúng em kể chuyện tấm gương đạo đức Bác Hồ” do Trung ương Đoàn TNCSHCM tổ chức lôi cuốn hàng vạn thiếu niên, học sinh tham gia. Tại Hà Nội, có 4 thí sinh là công dân của 4 nước: Đức, Hàn Quốc, Trung Quốc và Bỉ. Bác Hồ trong câu chuyện của các em là người rất mực yêu thương, quý trọng thiếu nhi quốc tế; đi thăm nước nào, Bác cũng dành cho trẻ thơ sự quan tâm đặc biệt. Câu chuyện “Quả táo Bác Hồ” được các em kể có sức truyền cảm lạ kỳ.

Ở thành phố Hồ Chí Minh, Nam Định, Ninh Bình, Đồng Nai, Tây Ninh…, người lên kể chuyện tấm gương đạo đức Cụ Hồ là các chức sắc, tín đồ đạo Phật, đạo Thiên Chúa. Theo họ, Cụ Hồ cũng cao cả, thánh thiện, nhân ái, giàu đức hy sinh như Đức Phật Thích Ca, như Chúa Giêsu. Trong câu chuyện, họ trân trọng nhắc đến câu nói nổi tiếng của Bác Hồ về các đấng tối cao của các tôn giáo.

Ấm sáng những ngọn lửa

Một năm, chỉ là bước khởi đầu của con đường dài rộng. Tuy vậy, cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” đã đạt được một số kết quả quan trọng. Nhiều cán bộ, đảng viên và người dân hiểu rõ và đầy đủ hơn về tư tưởng đạo đức và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh; về vị trí, vai trò của đạo đức đối với sự phát triển của mỗi cá nhân, gia đình và xã hội; nhận rõ: Đạo đức là “gốc” của mỗi con người, nhất là người cách mạng; cần thường xuyên trau dồi, vun đắp để cái gốc đó ngày một vững vàng.

Ở Bệnh viện Đa khoa Đắc Nông, việc đầu tiên mà tập thể cán bộ, bác sĩ, nhân viên y tế ở đây thực hiện cuộc vận động là học lại, làm tốt hơn 12 điều y đức. Năm qua, bệnh viện tiến hành 3 đợt khám sức khoẻ cộng đồng, cấp thuốc miễn phí cho đồng bào các dân tộc vùng sâu, vùng xa và một số trạm biên phòng.

Tổ chức Đoàn Thanh niên ở đây thực hiện trên 300 ca mổ cho bệnh nhân nghèo là người già bị đục thuỷ tinh thể và trẻ em bị sứt môi, hở hàm ếch. Bệnh viện phối hợp với Hội Chữ thập Đỏ tỉnh, Uỷ ban Đoàn kết Công giáo tỉnh quyên góp tiền ủng hộ của các doanh nghiệp, cơ quan, người hảo tâm để lập tủ thuốc tình thương, bếp ăn tình thương. Tất cả số bệnh nhân thuộc diện 139 (theo Quy định của Chính phủ) vào bệnh viện được khám – chữa bệnh không mất tiền, được hưởng suất ăn miễn phí 12.000 đồng/người/ngày.

Khi được hỏi: Việc làm nào để lại ấn tượng sâu đậm nhất qua cuộc vận động, Giám đốc Bệnh viện, bác sĩ Nguyễn Mạnh Cường trả lời: Trong năm 2007, có 3 bệnh nhân khi được đưa đến viện đã ở trong tình trạng “thập tử nhất sinh”, người bị vỡ lá lách, người bị vỡ gan, lần khác là sản phụ bị băng huyết nặng sau khi sinh con. Cả ba lần, bệnh nhân đều cần tiếp một lượng máu lớn, trong khi người thân ở xa, chưa đến kịp.

Không chần chừ, một số bác sĩ, y sĩ có cùng nhóm máu với người bệnh đã tự nguyện hiến máu. Lại có những việc nhỏ, rất bình thường, nhưng nếu bệnh viện nào cũng làm được thì hiệu quả cuối cùng là không nhỏ. Đó là quy định: Bác sĩ, y tá, hộ lý không được nhận tiền nong, quà cáp của bệnh nhân khi họ đang khám, điều trị tại cơ sở y tế của mình; không được lạm dụng các xét nghiệm nếu thấy không cần thiết; công khai, minh bạch việc đấu thầu mua sắm trang thiết bị, xây dựng nhà cửa, kho tàng; không bố trí khu chữa bệnh bình dân gần khu chữa trị theo yêu cầu cho người có thu nhập khá, người giàu có…Bệnh viện Việt Đức, Bệnh viện Thanh Nhàn, Trường Đại học Y Hà Nội đi theo hướng này và đã tạo được bước chuyển đáng khen ngợi.

Ở thành phố Hồ Chí Minh, Ban Thường vụ Thành uỷ ban hành Chỉ thị 15 – CT/TU, gắn việc thực hiện cuộc vận động với phong trào Ba xây, ba chống: “Xây tác phong quần chúng – chống quan liêu, cửa quyền; xây tinh thần trách nhiệm – chống tham ô, nhũng nhiễu; xây ý thức cần kiệm – chống lãng phí, xa hoa”. Năm qua, khối cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức trong các ngành công an, hải quan, thuế, tài nguyên – môi trường đã có sự tiến bộ rõ về tác phong, lề lối làm việc, thái độ ứng xử, cải cách thủ tục hành chính.

Ban Chỉ đạo tỉnh Nghệ An gắn việc thực hiện cuộc vận động với nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh và các phong trào sôi nổi khác: Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư; xây dựng Quỹ Vì người nghèo; giúp đỡ nhân dân vùng bị thiên tai; thi đua lập thành tích kỷ niệm tròn 50 năm Ngày Bác Hồ về thăm tỉnh nhà. Huyện Nam Đàn – quê Bác, ngay từ năm 2004 đã xoá xong toàn bộ nhà tranh cho hộ nghèo, nay tiếp tục quyên góp giúp đỡ các địa phương miền núi.

Đảng bộ các cơ quan dân – chính – Đảng có 20 cơ quan, đơn vị và Đảng bộ khối doanh nghiệp bước đầu có 10 doanh nghiệp đăng ký giúp các xã nghèo của đồng bào dân tộc vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn. Sự giúp đỡ này bao gồm: Quyên góp tiền giúp đồng bào xoá nhà tranh; tham gia bồi dưỡng cán bộ cơ sở; chuyển giao tiến bộ khoa học, công nghệ; khảo sát đất đai, tiềm năng để xây dựng quy hoạch, kế hoạch sản xuất. Chỉ tính số tiền quyên góp ủng hộ người nghèo, xã nghèo; tu bổ nghĩa trang liệt sĩ; chăm sóc gia đình liệt sĩ, thương binh, bệnh binh… đã lên tới con số hàng chục tỉ đồng.

Ở Công ty Bảo Việt Nghệ An, mọi người bước vào cuộc vận động bằng nghĩ suy, hành động hết sức tự nhiên, giản dị: Thực hiện cuộc vận động, trước hết là cho doanh nghiệp, vì doanh nghiệp và cho mỗi cán bộ, nhân viên làm việc tại đây. Hình ảnh một doanh nghiệp mạnh, tiếng tăm thơm lành; hình ảnh những cán bộ, nhân viên tươi tắn, lịch thiệp, trung thực, hết lòng với mọi người… sẽ là sức hút mạnh mẽ với bất cứ khách hàng nào.

Qua một năm thực hiện tốt cuộc vận động, doanh thu của công ty đạt gần 55 tỉ đồng, tăng 13,2% so với năm trước. Mỗi tháng, mỗi cán bộ, nhân viên ở đây góp vào Quỹ xã hội, từ thiện ít nhất là 1 ngày lương. Năm 2007, công ty tiếp tục giữ vững danh hiệu Đơn vị thi đua xuất sắc của Tổng Công ty Bảo hiểm Việt Nam. Có một doanh nghiệp khác ở tỉnh Quảng Bình – Công ty lâm công nghiệp Long Đại, qua thực hiện cuộc vận động cũng thu được kết quả đáng khích lệ.

Doanh thu cả năm của công ty đạt 91 tỉ đồng, vượt 42% kế hoạch, nghĩa vụ ngân sách vượt 75% kế hoạch, thu nhập người lao động đạt 1,9 triệu đồng/tháng, tăng 20% so với năm trước. Nguyễn Ngọc Sơn – Bí thư Đảng uỷ, Phó Giám đốc Công ty – cho biết: Công nhân chúng tôi học và làm theo tấm gương đạo đức của Bác, bắt đầu bằng các câu chuyện giản dị mà xúc động về Người. Chuyện “Ba chiếc balô” được anh em ở các tổ cơ động bảo vệ rừng hết sức tâm đắc và ghi nhớ.

Mỗi chuyến đi rừng dài ngày, anh em chuẩn bị tư trang, lương thực, thực phẩm và dụng cụ hỗ trợ kỹ càng hơn, kế hoạch chuyến đi được xây dựng chu đáo, thiết thực hơn. Các chuyện kể “Thời gian quý hoá lắm”, “Không có việc gì khó”, “Phải biết bảo vệ từng cành cây” thì ngay cả các cháu nhỏ, các bậc cao niên trong khu tập thể đều thuộc và có thể kể lại một cách mạch lạc, hào hứng. Khi được hỏi: Những tập thể, cá nhân nào đạt thành tích cao trong cuộc vận động, Giám đốc Trần Đức Bá trả lời không phút đắn đo: Là Trần Quang Đảm – Giám đốc Lâm trường Khe Giữa; Phan Thanh Sơn – công nhân Lâm trường Rừng Thông; Nguyễn Đăng Tiếng – Văn phòng công ty; Nguyễn Văn Tiếp – Xí nghiệp khai thác vận tải; Phan Mạnh Hùng – Xí nghiệp chế biến nhựa thông…

Mỗi ngày, lại có thêm những con người, sự việc như đã kể, gần gũi, thân thương lẫn trong muôn mặt đời thường. Ấy là lúc chúng ta thắp sáng một ngọn lửa. Ấy là lúc bên Người, ta toả sáng, ánh sáng giản dị, khiêm nhường.

Theo Nguyễn Thế Kỷ – Lao Động

bqllang.gov.vn

Nhà sàn Bác Hồ: Bài học về sự giản dị, tiết kiệm

Cách đây 50 năm (Tháng 5/1958), thể theo nguyện vọng của Bác Hồ, cán bộ, chiến sĩ phục vụ đã dựng ngôi nhà sàn hai gian bên bờ hồ dưới tán cây trong vườn Phủ Chủ tịch để làm nơi Bác ở. Ngôi nhà sàn giản dị, xinh xắn được khánh thành nhân kỷ niệm sinh nhật Bác. Anh em trong đội phục vụ ai cũng hết sức vui mừng, phấn khởi vì đây là món quà vô giá, với ý nghĩa thiết thực, tiết kiệm mừng ngày sinh của Người.

Sau chuyến đi thăm hợp tác xã nông nghiệp đầu tiên của tỉnh Thái Nguyên, trên đường về Bác trầm ngâm suy nghĩ rồi nói với các đồng chí phục vụ: Bác muốn làm một căn nhà sàn ở bên kia ao để ở và làm việc cho thoáng. Theo ý Bác, mùa hè năm 1958, anh em trong đội phục vụ bắt tay thi công ngôi nhà này. Công việc thiết kế, tính toán cụ thể được giao cho ông Nguyễn Văn Ninh, kiến trúc sư, Cục trưởng Cục thiết kế dân dụng, Bộ Kiến trúc (nay là Công ty Tư vấn xây dựng thuộc Bộ Xây dựng). Ông Ninh là một trong tám người của nước ta học kiến trúc khoá đầu tiên ở trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương. Ông đã từng thiết kế lễ đài Ba Đình để đón Bác và Trung ương Đảng, Chính phủ trở về Thủ đô Hà Nội tháng 1-1955.

Trước lúc bắt tay vào việc, Bác đã căn dặn ông Ninh rất cụ thể, tỷ mỷ. Người nói: Ngôi nhà sàn này cũng làm giống như những ngôi nhà sàn Bác đã ở chiến khu Việt Bắc. Tầng trên có hai phòng nhỏ, xung quanh cần có hành lang để các đồng chí lãnh đạo đến làm việc với Bác và tiện cho các đồng chí phục vụ đi lại. Tận dụng vách ngăn hai phòng làm giá sách nhỏ vừa tiết kiệm vừa tiện sử dụng. Bác dặn đi, dặn lại: Nhà làm bằng gỗ bình thường, loại gỗ làm tà vẹt đường sắt và trường học. Bên dưới xây bệ xi măng thấp, trên có lát ván tạo thành những hàng ghế băng dài cho các cháu thiếu niên vào chơi thăm Bác có đủ chỗ ngồi. Sau khi được Bác tham gia góp ý, bản vẽ thiết kế đã nhanh chóng hoàn thành và tổ chức thi công. Sợ việc làm nhà gây ồn áo, bụi bặm ảnh hưởng tới sức khoẻ và công việc của Bác, nên các đồng chí đã chọn đúng đợt Bác đi công tác mới tổ chức khởi công. Đội thi công gồm ba mươi cán bộ, chiến sĩ công binh khẩn trương được triệu tập. Ai nấy đều thấy rõ vinh dự, tự hào được làm nhà cho Bác Hồ nên đều cố gắng hết sức mình, sao cho nhà Bác vừa đẹp, vừa chắc chắn và phải xong trước ngày Bác đi công tác về. Một đợt thi đua rất tự giác, không cần tổ chức phát động.

Chỉ trong thời gian ngắn ngôi nhà sàn của Bác Hồ đã hoàn thành, mọi việc tất thảy đâu vào đấy. Ngôi nhà được thiết kế hai tầng theo kiểu nhà sàn của đồng bào dân tộc dài 10,5 m, rộng 6,2 m. Tầng trên có hai phòng, một phòng Bác dùng làm việc, còn một phòng để nghỉ. Tầng dưới là nơi Bác dùng để làm việc vào mùa hè, họp Bộ Chính trị, nơi tiếp khách thân mật…. Hôm Bác đi công tác về nhìn ngôi nhà sàn hai gian thoáng đãng, tầng dưới để thoáng rộng, tầng trên có hai gian, xung quanh là hành lang rộng có mành che. Mọi người ai cũng mừng nhưng rất hồi hộp, không biết ngôi nhà có hợp với ý Bác không? Ai cũng mong được nghe ý kiến trực tiếp của Bác. Như đoán được ý nghĩ của mọi người, Bác tổ chức một buổi gặp mặt tất cả số anh em tham gia công việc ngay tại tầng dưới của ngôi nhà sàn vừa mới dựng, có đủ cả chè nước, bánh kẹo. Anh em khi ấy gọi vui đây là bữa tiệc “tân gia” mừng nhà mới của Bác.

Kiến trúc sư Nguyễn Văn Ninh kể rằng: Không khí của buổi liên hoan bữa ấy đầm ấm lạ thường, Bác giục mọi người ăn kẹo, uống nước, Bác khen:

– Các chú làm như thế là nhanh, tốt, bảo đảm thời gian. Nhưng còn một khuyết điểm, các chú có biết khuyết điểm gì không?

Mọi người nhìn nhau lo lắng, ông Nguyễn Văn Ninh vội đứng dậy đáp:

– Thưa Bác, so với ý Bác dặn thì có tốn kém hơn đôi chút ạ.

– Chú nói đúng, Bác cười rồi nói với mọi người:

– Nước ta còn chưa giàu, dân ta còn khổ, chưa đủ nhà ở, Bác ở thế này là quá tốt rồi, các chú không phải lo cho Bác.

Bài học về sự giản dị, tiết kiệm của Bác hôm ấy làm cho mọi người ai cũng xúc động với tấm lòng kính yêu vô hạn tới Bác kính yêu.

Ngày 18-5-1958, một ngày trước sinh nhật của Người, Bác đã dọn về ở và làm việc tại ngôi nhà sàn này. Nhà sàn Bác Hồ đã trở thành món quà sinh nhật vô giá, ý nghĩa thật giản dị, nhưng lớn lao. Ngôi nhà sàn giản dị nằm giữa Thủ đô là nơi Bác kính yêu của chúng ta sống và làm việc lâu nhất trong cuộc đời hoạt động cách mạng của mình. Nhà sàn Bác Hồ không chỉ mang đậm dấu ấn lịch sử mà còn là một công trình kiến trúc mạng đậm bản sắc văn hoá dân tộc Việt Nam. Hiện nay, Nhà sàn Bác Hồ là một di tích đặc biệt, quan trọng trong quần thể di tích Phủ Chủ tịch. Từ khi Bác qua đời, nơi đây đã đón tiếp hàng chục triệu lượt khách trong và ngoài nước tới tham quan, trong số đó có nhiều đoàn khách cấp cao, là nguyên thủ quốc gia cùng hàng trăm nước và các tổ chức quốc tế.

Theo “Sự kiện và nhân chứng” số 173 tháng 5/2008.
Thanh Hương

bqllang.gov.vn

Bác Hồ và người gánh nước đêm giao thừa

Chuyện suy tư đêm 30 Trước thời khắc chuyển giao giữa năm mới và năm cũ của 45 năm về trước, khi nhà nhà sum họp, quây tụ, Bác “vi hành”.

Thiếu tướng Phan Văn Xoàn, nguyên là cận vệ của Chủ tịch Hồ Chí Minh kể lại: Đúng 11 giờ đêm giao thừa, bác mặc áo bông, quần vải gụ, đi dép cao su, đội mũ len đen và quấn khăn chòng cổ, tìm đến nhà “một gia đình nghèo nhất Hà Nội” như người cận vệ của bác báo về. Đó là nhà chị Nguyễn Thị Tín, góa chồng, ngoài 40 tuổi, đêm trừ tịch vẫn phải đi gánh nước thuê nuôi các con.

Đến nay, sau gần nửa thế kỷ, liệu đất nước chúng ta đã hết những cảnh nghèo khổ, cơ cực như chị Tín?

Tết năm ấy Bác Hồ buồn. Trước những người hàng phố quanh nhà cô Tín ở, Bác đã hỏi: “Tại sao cả một khu phố như vậy mà không thấy ai quan tâm đến một gia đình như cô Tín? Chúng ta đã quá quan liêu để không biết những câu chuyện như vậy ở ngay thủ đô nước mình”.

Nếu bây giờ Bác Hồ hoặc bất kỳ ai hay tin về những vụ bạo hành trong các khu dân cư âm ỉ hàng chục năm – biểu hiện của sự thờ ơ, vô cảm – chắc chắn là Bác sẽ buồn biết bao nhiêu? Mong rằng, mỗi lần nhớ đến Bác với những câu chuyện như thế này, bệnh quan liêu sẽ được thuyên giảm. Nên chăng, cuối năm, chúng ta nên lắng lại để nhìn lại mình và nhớ tới những người sống quanh mình, để trái tim cởi mở hơn, ấm áp hơn.

Lúc ấy, Người đã nói về tinh thần “lá lành đùm lá rách” mà chúng ta vẫn luôn cho rằng đó là truyền thống quý báu của mình. Trước hết là trách nhiệm của khu phố, và như Bác nói “điều lớn nhất vẫn là trách nhiệm của Chính phủ”.

Ngày ấy Bác Hồ đã đích thân nhờ cảnh vệ đi tìm một gia đình nghèo thực sự để chúc Tết, vì thế, sau nhiều ngày, người thân cận bên Bác mới có thể tìm đến đúng nhà cô Tín. Và như Bác nói là “đu đúng người thật, việc thật”.

Bác còn nói một chữ “nếu”: “Nếu mà mình báo trước với thành phố, hỏi nhà nào nghèo nhất thì chắc chắn không phải nhà cô Tín rồi…”.

Điều ấy khiến ta giật mình vì đến nay những chuyện viếng thăm đầy tính hình thức, thiếu tính thực tâm đâu đã mất đi?

Gương soi mỗi độ Xuân về

Giở những trang báo Xuân, năm nào cũng vậy, luôn gặp những câu chuyện về Bác. Đó là điều rất đỗi tự nhiên và dễ hiểu, không cần phải đợi đến những đợt vận động hay thi đua nào để thấm thía những lời nói và hành động vì nước, vì dân của Người. Bản thân những câu chuyện thật, việc thật – dù chỉ bình dị thôi – nhưng luôn có sức lan truyền.

Câu chuyện này gieo cho chúng ta một mong ước trước thềm Xuân rằng: Mỗi “người trong một nước” rung động với nhau nhiều hơn, Chính phủ và các cấp chính quyền đến gần dân hơn – để không còn những cảnh nghèo như gia đình chị Nguyễn Thị Tín – thì nước mới mạnh.

Theo “ Vietnam net”.
Bùi Dũng

bqllang.gov.vn

Chuyện về những bữa cơm của Bác Hồ

Phong cách sinh hoạt giản dị, thanh cao, ghét thói xa hoa, lãng phí của Chủ tịch Hồ Chí Minh được nhân dân Việt nam và nhân dân thế giới ngưỡng mộ. Một tác giả nước ngoài đã viết rằng: Cuộc sống giản dị của Chủ tịch Hồ Chí Minh và sự gần gũi với nhân dân là đặc trưng cho tình yêu đối với đất nước của một Con Người đã trở thành huyền thoại ngay trong cả cuộc sống đời thường của mình. Một trong những yếu tố góp phần làm nên huyền thoại ấy bắt đầu từ điều vô cùng bình thường nhất, đó là những bữa ăn của vị Chủ tịch nước.

Ngày mới giành chính quyền năm 1945, Bác làm việc tại Bắc Bộ Phủ trong căn phòng nhỏ trên gác hai. Bác được cấp mỗi tháng 200đ cho việc ăn uống. Tới giờ ăn, Bác đến ăn tại bếp tập thể cùng anh em. Bữa ăn của Bác đạm bạc, thường chỉ có một miếng cá nhỏ, một bát canh, vài quả cà, mấy cọng dưa, dăm lát ớt và miệng bát cơm. Ngày 10 – 4 – 1946, giữa lúc đất nước bộn bề công việc, Bác về thăm Ninh Bình để dàn xếp vấn đề đối nội, đặc biệt là tôn giáo,. Khoảng 8h, khi xe Bác đến thị xã, nhân dân ùa đến, vẫy cờ, hô khẩu hiệu đón Bác. Anh em trong Uỷ ban khẩn khoản mời Bác ở lại nghỉ cho đỡ mệt và ăn tối, nhưng Bác nói: “Hàng ngàn đồng bào chờ Bác ngoài kia, Bác không thể nghỉ ở đây để ăn cơm vì 9h tối Bác đã có việc ở Chủ tịch phủ. Bây giờ các chú giúp Bác: một chú ra tập hợp đồng bào vào một ngã tư rộng gần đây để Bác ra nói chuyện với đồng bào mươi phút; một chú ra cửa hàng bánh mua cho Bác một cặp bánh giò. Còn các chú đi với Bác thì tranh thủ ăn cơm trước. Nói chuyện xong, Bác về Hà Nội ngay cho kịp hẹn. Trong xe, Bác sẽ ăn bánh vừa đỡ tốn kém, vừa tiết kiệm thời gian cho Bác”. Sau đó Bác ra nói chuyện với đồng bào. Khá muộn, Bác vẫy tay chào đồng bào rồi lên xe về Hà Nội. Xe đi được một quãng, Bác mới bắt đầu dùng bữa ăn tối của mình.

Kháng chiến bùng nổ, Bác cùng các cơ quan Trung ương và Chính phủ trở lại Việt Bắc. Những năm đầu, đời sống kháng chiến vô cùng kham khổ, Bác vẫn ăn chung với anh em, bát ăn chỉ là ống bương cưa ra, thức ăn chủ yếu là măng, rau, cao cấp nhất là thịt chim, sóc săn bắn hoặc đánh bẫy được đem kho mặn với muối để Bác ăn dần, thi thoảng tìm được con gà bồi dưỡng riêng cho Bác thì Người nói lộc bất khả tận hưởng, rồi đem chia đều cho mọi người. Món ăn chủ lực của Bác và anh em vẫn là món thịt Việt Minh gồm: 1kg thịt + 1kg muối + 1 nửa kg ớt xào lên cho vào ống, đi đến đâu dùng cũng tiện. Khi tăng gia, chăn nuôi được nhiều, anh em xin ý kiến, Bác đồng ý cho bỏ món thịt Việt Minh. Có lần, đoàn công tác của Bác đi qua huyện Yên Sơn theo kế hoạch ghé vào một cơ sở để ăn trưa. Nhưng khi đến nơi, thì nghe có tiếng máy bay địch nên Bác bảo anh em đưa cơm ra bãi cỏ ở bìa rừng ngồi ăn thuận tiện hơn. Hai đồng chí bảo vệ vào xóm bưng cơm lại mượn thêm chiếc chiếu của gia đình đồng bào ra ngồi. Lúc đặt mâm cơm xuống, Bác thấy có con gà luộc, đĩa cá và hai bát canh. Thấy thế, Bác không vui: “Các chú không nên mượn chiếu của bà con làm phiền đến dân”, ngừng một lát, Bác nói tiếp: “Trong khi nhân dân đang thắt lưng buộc bụng kháng chiến, mình ăn cơm thế này là ăn cơm “quan” đấy”. Nói rồi, Bác vừa chia đôi tất cả các món ăn trên mâm. Bác bảo anh em đem một phần đã chia đưa vào biếu các gia đình nghèo trong xóm. Phần còn lại Bác lại chia làm đôi: Chỉ ăn một nửa, còn một nửa gói dành cho bữa sau. Một lần khác đi công tác, mấy Bác cháu được bố trí ăn cơm ở nhà một cơ sở. Dạo đó thiếu thốn nên nồi cơm phải độn nhiều sắn, khoai. Vì thương Bác nên gia đình đã nấu thêm nồi cơm gạo trắng và sắp một mâm riêng. Khi vào bữa, Bác bưng bát cơm trắng, gắp thêm máy miếng thức ăn ngon để mời cụ cố đang ngồi bên bếp lửa gian trong, Bác nói rành rọt: “Cơm này là để dành cho người già nhất ăn”, rồi Bác lấy bát xới cho mình một bát cơm độn và cùng ăn với cả nhà. Trong rừng chiến khu đôi khi vẫn thiếu rau nhưng có nhiều mít, thế là Bác bày cách cho chị cấp dưỡng làm món nhút ăn cho đỡ xót ruột. Bác còn chú ý cả hình thức trình bày để bữa ăn tuy đơn giản nhưng ngon miệng. Một lần đi công tác, Bác cháu dừng bên bờ suối nấu ăn, Bác bảo anh em nấu cơm để Người làm trứng rán. Bác làm rất thành thạo, khi trứng rán xong cơm chưa chín, Người lấy que sắt nung trên than hồng rồi đặt lên khoanh trứng tạo thành hình quả trám rất đẹp, thấy anh em trâm trồ, Bác nói: “Khi có điều kiện làm cho ngon hơn, đẹp hơn thì ta cứ làm chứ các chú!”. Cũng có dịp đặc biệt như cuối năm 1953, quân và dân miền Nam thắng trận U Minh, Đồng Tháp Mười, Tây Nguyên, Bác quyết định mở tiệc khao quân với các món: Thịt gà luộc (được chặt làm 20 miếng đều nhau vừa đủ số người trong cơ quan ), canh cải xanh, rau muống xào tỏi, xôi nếp, cơm tẻ đều là sản phẩm cơ quan tăng gia. Bữa tiệc xong, Bác bỗng nói, giọng trầm xuống: “Hôm nay Bác cháu mình ngồi ở chiến khu Việt Bắc ăn xôi với thịt gà mừng chiến thắng, thì quân và dân miền Nam đã 9 năm rồi, kể từ ngày 23 – 9 – 1945 không lúc nào ngơi tay súng chiến đấu với quân thù để bảo vệ nên độc lập Tổ quốc, biết bao chiến sĩ và đồng bào đã hy sinh anh dũng…”. Mọi người cùng lặng đi khi thấy hai giọt nước mắt Bác lăn trên đôi má gầy sạm…

Cuộc kháng chiến chống Pháp thắng lợi. Bác trở về thủ đô Hà Nội ở tạm trong ngôi nhà của người thợ điện, gọi là nhà 54. Bữa ăn hàng ngày của Người vẫn không cầu kỳ, không cao lượng mỹ vị. 7h, bữa điểm tâm của Bác thường là xôi ruốc, thịt hoặc bánh cuốn, bánh mỳ. Đến khoảng 9h. Bác uống một cốc cà phê. 11h, Bác ăn cơm trưa, trên mâm cơm của Người thường có bát canh nước trong, một món xào hoặc thịt luộc, cá quả hoặc cá bống kho gừng và không thiếu hương vị miền quê cà kho tương hoặc dầm đường ớt… bữa nào Bác cũng ăn đúng hai bát. Mỗi khi xong bữa, Người lại tự tay xếp bát đĩa gọn ghẽ để bớt phân công việc cho các đồng chí phục vụ. Khoảng 14h, Bác uống một cốc sữa. 17h30, Bác dùng cơm tối. 21h, Bác uống một cốc cà phê sữa cho tỉnh táo khi làm việc khuya. Có lần, đồng chí phục vụ đưa lên đĩa cá anh vũ – một loại cá quý thường chỉ có ở ngã ba sông Bạch Hạc (Việt Trì). Bác bảo: “Cá ngon quá, thế mà chú Tô (Thủ tướng Phạm Văn Đồng) lại đi vắng ! Thôi, các chú để đến chiều đồng chí Tô về cùng thưởng thức”. Thấy Bác khen, anh em gửi tiếp cá đến, nhưng thấy món cá hôm trước lại xuất hiện, Bác không hài lòng: “Bác có phải là vua đâu và phải cung với tiến?” rồi kiên quyết bắt mang đi, không ăn nữa. Năm 1957, Bác thăm một số nước Đông Âu. Sau buổi tiệc do Đại sứ quán Việt nam tổ chức tiết kiệm và trang trọng, các món ăn không thừa, không thiếu, Người nói: “Ăn uống lãng phí, Bác xót xa lắm, vì đây là tiền bạc của nhà nước , của nhân dân. Bà con ta ở trong nước làm đổ mồ hôi, sôi nước mắt, mới có miếng mà ăn. Vì vậy để lãng phí, xa hoa là có tội với nhân dân”. Có lần ở Liên Xô, bạn chiêu đãi toàn những đặc sản, nhưng Bác lại chỉ nhớ món cá bống kho lá gừng. Không để bạn phật ý, đồng chí thư ký phi trổ tài tháo vát bằng cách giới tiệu với bạn một món cổ truyền Việt nam để nồi cá bống được có mặt trong bữa ăn.

Từ tháng 5 – 1958, Bác chuyển sang ở nhà sàn, nhưng hàng ngày, đúng giờ quy định, Người trở về dùng bữa tại nhà ăn phía bên kia bờ ao, cơm nước xong, Người lại đi bộ trở về nhà sàn, dù thời tiết mưa to, gió lớn cũng vẫn vậy. Các đồng chí phục vụ nhìn Bác xắn quần lội qua quãng đường ngập nước mà thương Bác vô cùng. Một hôm, sắp hết giờ làm việc buổi sáng, trời đổ mưa to. Thấy cơ hội thuận tiện, đồng chí giúp việc xin phép được mang cơm sang nhà sàn, Bác dừng tay làm việc, trầm ngâm nhìn trời mưa, hỏi đồng chí phục vụ “Thế mang cơm cho Bác cần mấy chú?”, “Dạ, thưa Bác, một đồng chí bên cơm, một đồng chí bê thức ăn và hai đồng chí đi kèm che mưa”, “Thế chú muốn một mình Bác vất vả hay muốn để nhiều người vất và vì một mình Bác?”. Hết giờ làm việc, mưa vẫn tầm tã, Bác xắn cao quân, tay cầm ô, tay chống gậy, lần từng bước qua con đường vòng ao cá nước chảy xiết sang nhà ăn. Những lần đi công tác các địa phương, Bác đều nhắc anh em mang cơm đi theo, khi thì cơm nắm, khi thì bánh mỳ với thức ăn nguội, chỉ có món canh cho vào phích để đến bữa Bác dùng cho nóng. Trên đường đi, cứ đến bữa là Bác chọn nơi vắng, mát, sạch cho dừng xe, Bác cháu bày cơm ra ăn đơn giản, không phiền ai cả. Một lần về thăm Thái Bình, Tỉnh uỷ và Uỷ ban nhân dân cố nài Bác ở lại ăn cơm, Người nói: “Đi thăm tỉnh lụt còn ăn uống nỗi gì?”, nhưng vì thương cán bộ đã chót bày mâm, Bác lấy gói cơm nắm và thức ăn mặn rồi bảo đồng chí cảnh vệ: “Chú mời đồng chí Bí thư và Chủ tịch đến ăn cơm với Bác. Còn chú và chú bác sĩ sang mâm kia ăn với cán bộ tỉnh”. Khi phải công tác ở địa phương nào lâu, Bác dặn cán bộ tỉnh chỉ làm cơm cho mấy người và ăn những món nào, dù cán bộ tỉnh bày cỗ ra Bác vẫn chỉ gắp vào bát của anh em và bát của mình mỗi người một miếng gọi là nếm thử, rồi xếp ngay ngắn đĩa thức ăn ấy, để ra ngoài mâm, Bác vói với anh em: “Người ta dọn ra một bữa sang. Bác cháu mình có khi chẳng ăn và chẳng ăn hết. Nhưng đi rồi để lại cái tiếng: đấy Bác Hồ đến thăm cũng làm cơm thế này, thế nọ, cũng điều động người làm mất thời gian. Thế là tự mình, Bác lại bao che cho cái chuyện xôi thịt…”. Hai lần Bác về thăm quê, tỉnh nhà đều làm cơm chiêu đãi Bác. Năm 1957, Bác mời mọi người cùng ngồi chung mâm có đĩa cà muối quê hương. Năm 1961, Bác cũng ngồi vào bàn ăn nhưng lại chiêu đãi mọi người món cơm đã chuẩn bị sẵn, mang từ Hà Nội vào: đó là những gói cơm nắm độn bắp, gạo trắng và ngô nhỏ mịn gói lại vuông vức. Bữa cơm ấy thật ngon, nhiều ý nghĩa và cảm động. Năm 1965, cuộc chiến tranh phá hoại của Mỹ đang ác liệt, nhân dân ta bắt đầu phải ăn cơm độn sắn, ngô, Bác dặn anh em: “Các chú thổi cơm độn cho Bác. Nhân dân, cán bộ ta ăn độn bao nhiều phân trăm, độn cho Bác từng ấy”. Khi đó Bác đã bước vào tuổi 75, nhìn Bác ăn độn mà anh em xót quá, mới thưa lai có quy định các cụ già trên 70 tuổi không phải ăn cơm độn, nhưng Bác bảo: “Bác cũng nhiều tuổi, nhưng Bác còn khoẻ. Thế thì Bác theo cán bộ. Cán bộ thế nào thì Bác thế ấy. Cứ thổi tiếp đi cho Bác ăn”. Anh em xay ngô thật nhỏ, độn gọi là, nhưng Bác biết, người nhắc: “50% cơ mà!”.

Thủ tướng Phạm Văn Đồng là người được vinh dự dùng cơm với Bác nhiều lần nhất, Thủ tướng kể lại rằng bữa ăn nào Bác cũng ăn tiết kiệm, vừa đủ không bỏ món thừa, không vương vãi một hột cơm. Bác rất thích ăn những món dân dã như vó bò, cà dầm tương, mắm, canh cua với rau chuối thái ghém hoặc dọc mùng. Những hôm mời khách ăn cơm, bao giờ Bác cũng báo trước cho đồng chí cấp dưỡng biết để chuẩn bị và số tiền đãi khách đó được trừ vào tiền lương của Bác, không bao giờ người dùng vào tiền công quỹ. Bác thường mời cơm thân mặt một số đồng chí trong Bộ Chính trị, đôi khi cả gia đình một số đồng chí trong Trung ương, cán bộ, các anh hùng dũng sĩ miền Nam ra báo cáo công tác hoặc chữa bệnh. Những lần tiếp khách như vậy bao giờ Người cũng nhắc các đồng chí phục vụ nấu những món ăn phù hợp khẩu vị của khách để anh em ngon miệng. Chiều ngày 1 – 8 – 1969, vị khách cuối cùng được Bác mời cơm là đồng chí Nguyễn Văn Linh, Phó Bí thư Trung ương cục miền nam ra báo cáo tình hình với Người.

Phong cách sinh hoạt đời thường của Bác Hồ là biểu hiện của tình thương yêu con người, là đạo đức cần – kiệm – liêm – chính, tạo nên nét thanh cao và sự vĩ đại của một nhà hiền triết, một bậc thánh nhân thế kỷ XX, bởi vậy: “ Cuộc đời của Hồ Chủ tịch trong như ánh sáng. Đó là tấm gương tuyệt vời về chí khí cách mạng kiên cường, tinh thần độc lập tự chủ, lòng nhân đạo và yêu mến nhân dân thắm thiết. Tư tưởng và đạo đức và đạo đức cao cả của Người mãi mãi soi sáng và nâng cao tâm hồn chúng ta”.

Đỗ Hoàng Linh

bqllang.gov.vn

Tình yêu Bác Hồ giành cho những khúc dân ca

Đã có nhiều công trình nghiên cưú, nhiều bài báo, lời ca, câu truyện… ngợi ca vẻ đẹp con nguời Hồ Chí Minh – đó là vẻ đẹp của sự hoàn mỹ nhưng không xa lạ, vĩ đại mà gần gũi thân thương, toả sáng mà ấm áp hiền hoà. Bản thân Người, cuộc đời của Người là nguồn đề tài bất tận cho tất thảy những ai khao khát mong muốn cái đẹp “gieo mầm cho sự sống”. Cuộc vận động “ Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” đã khiến cho mỗi chúng ta biết dừng lại trong nhịp sống hối hả của cơ chế thị trường để tự soi mình vào tấm gương đạo đức Bác Hồ, tự gột rửa mình, làm cho mình sống tốt đẹp hơn lên, có ích cho gia đình và xã hội hơn. Và trước muôn vàn câu truyện kể về Người, trái tim tôi lại trào lên xúc cảm trước những phút giây cuối cùng trong cuộc đời Bác – đó là câu truyện về tình yêu của Người dành cho những khúc hát dân ca.

Vào buổi sáng ngày 2/9/1969, đây là buổi sáng cuối cùng trong cuộc đời 79 mùa xuân của Bác. Bởi sau 9 giờ sáng hôm ấy Người thực sự bước vào “ cuộc trường chinh nhẹ cánh bay”, để lại cho nhân dân Việt Nam và nhân dân thế giới một niềm đau thương, mất mát không thể nào diễn tả nổi bằng mọi ngôn từ.

Không gian của câu truyện cũng chỉ thu nhỏ trong căn nhà A67. Căn phòng này cách ngôi nhà sàn của Bác chỉ vài chục bước chân. Trước đó, theo lời đề nghị của bác sỹ, để tiện cho việc theo dõi, chăm sóc sức khoẻ của Người, ngày 18/8/1969, các đồng chí trong Bộ Chính trị và những đồng chí trực tiếp chăm sóc Bác đã chuyển Bác xuống ở căn phòng này.

Sau gần 20 ngày chống cọi với bệnh tật, Bác đã yếu lắm. Nhưng hễ tỉnh lại là ngay lập tức, Người hỏi thăm tình hình chiến đấu ở miền Nam, tình hình lũ lụt ở miền Bắc. Người còn dặn các đồng chí trong Bộ Chính trị phải làm sao tổ chức ngày lễ Quốc khánh thật long trọng để nhân dân vui, phải bắn pháo hoa cho nhân dân phấn khởi. Trong những giây phút cuối cùng, đứng giữa ranh giới mong manh của sự sống và cái chết, đối diện với quy luật nghiệt ngã của sự tồn vong Bác vẫn luôn nghĩ cho đồng bào, cho đất nước mà “ nâng niu tất cả chỉ quên mình”. Nằm trên giường bệnh, sáng 2/9, lúc này Người đã rất mệt, mong muốn cuối cùng của Người là được gặp và thăm đồng bào miền Nam không thực hiện được, hơi thở của người mỗi lúc một yếu dần. Các đồng chí trong Bộ Chính trị và các bác sỹ không ai nỡ rời xa Người dù chỉ là một phút. Lần đầu tiên tỉnh lại sau cơn đau, Người nhìn xung quanh rồi hỏi:

– Trong các chú có ai biết hò Huế không?

Mọi người lúng túng nhìn nhau, quả là một tình huống không ai chuẩn bị trước. Thường ngày, Người vẫn thường nói “ miền Nam luôn ở trong trái tim tôi”, thêm vào đó Huế vốn là mảnh đất gắn bó cùng Người suốt một thời gian dài tuổi thơ. Giờ đây, trong những phút cuối cùng, có lẽ Người mong muốn mang hình ảnh miền Nam yêu thương, hình ảnh núi Ngự, sông Hương với những kỷ niệm buồn đau theo mình vào cõi vĩnh hằng bất tử. Nỗi niềm ấy của người dường như ai cũng thấu hiểu, nhưng tìm nghệ sỹ hò Huế lúc này thật khó.

Lần thứ hai tỉnh lại, Người lại hỏi. Lúc này giọng người đã yếu hơn nhiều:

-Trong các chú, ai có thể hát cho Bác nghe một làn điệu ví dặm Nghệ Tĩnh được không?

Thêm một lần nữa sự im lặng và bối rối bao trùm căn phòng. Câu ví dặm câu hát dân ca xứ Nghệ đã bao bọc và nuôi dưỡng tâm hồn Người từ thủa lọt lòng. Ngươì lớn lên và đi ra thế giới từ chiếc nôi văn hoá quê hương mặn mòi tình nghĩa ấy. Trước giây phút sắp biệt ly Người khao khát được nghe, được sống trong hơi ấm quê hương.

Lần thứ ba tỉnh lại, Người ngỏ ý muốn nghe một khúc dân ca quan họ Bắc Ninh, lần này thật may mắn khi cô y tá bé nhỏ Ngô Thị Oanh tiến lại gần Bác: “Thưa Bác, cháu xin hát cho Bác nghe ạ”. Với chất giọng trong trẻo của người con gái Vĩnh Phúc, chị cất lời hát “ Ngươì ở đừng về”.. Căn phòng nhỏ chìm trong tiếng hát. tiếng hát hay tiếng lòng! Không ai phân biệt được. Chỉ biết rằng lời quan họ sâu lắng, tha thiết quá. “ Người ơi, người ở đừng về. Mà người ơi, người ở đừng về” đã nói hộ lòng người. Cô y tá càng hát càng ngẹn ngào, những người xung quanh không ai cầm được nước mắt. 9 giờ 47 phút ngày 2/9/1969 trái tim vĩ đại của Bác Hồ đã ngừng đập, để lại muôm vàn tình thưong yêu cho đồng bào cả nước. Sinh ra và lớn lên từ trong câu hát dân ca, từ điệu ví dặm ầu ơ ngọt ngào đằm thắm của mẹ, cuối cùng Ngươì thanh thản nhẹ nhàng bước vào cuộc trường sinh bằng âm hưởng tiếng hát dân ca.

Sau này, trong một bài báo tôi còn đựơc biết chị Ngô Thị Oanh, cô y tá viện quân y 108, người hát khúc hát dân ca “ Ngươì ở đừng về” vào những giây phút cuối cùng của cuộc đời Bác kể lại: Sau khi chị hát xong, Bác Hồ nhìn chị, chị cảm giác như Bác đang mỉm cười. Người còn bảo lấy bông hoa hồng bạch trên bàn mang tặng chị. Cử chỉ nhỏ mà ý nghĩa thật to lớn. Cho đến phút cuối đời, quên cả nỗi đau đang vò xé, Người vẫn giành trọn niềm yêu thương, sự quan tâm đặc biệt cho mỗi người, đặc biệt là phụ nữ. Và bông hoa hồng nhỏ bé ấy chị đã ép khô để luôn giữ và xem nó là vật kỷ niệm thiêng liêng theo chị suốt cả cuộc đời:

Giấu mình đi Người chẳng làm phiền ai cả
Dép một đôi, áo quần vài bộ
Chỉ có trái tim bao la là tất cả gia tài

Câu truyện giản dị mà sâu sắc như biết bao câu truyện kể về Người. Từ những tình tiết của câu truyện ta nhận thấy ở Người một tình yêu lớn bao la và đặc biệt. Ngưòi không chỉ yêu cuộc sống, yêu con người, không những chẳng làm đau một chiếc lá trên cành, thích sống hoà đồng với thiên nhiên, cỏ cây hoa lá mà Người còn yêu biết mấy những khúc hát dân ca. Người thèm nghe một câu hò Huế, một làn điệu ví dặm hay một khúc quan họ đâu phải chỉ là nghe hát mà chính là để mang cả hình ảnh quê hương xứ sở, hình ảnh miền Nam yêu thương vào cuộc trường sinh. Cả cuộc đời người sống cho nhân dân, cho dân tộc, không gợn chút riêng tư, hành trang mà Người mang theo về thế giới người hiền chỉ là ước nguyện bình dị : Mang theo âm hưởng câu hát dân ca vào cõi bất tử. Người đã để lại cho chúng ta bài học sâu sắc, thấm thía rằng muốn yêu Tổ quốc mình, càng yêu tha thiết những câu hát dân ca. Bởi khúc dân ca là linh hồn, là nơi nắng đọng tình yêu, tinh hoa, bản sắc văn hoá dân tộc. Nó là nguồn sữa tinh thần bồi đắp và nuôi dưỡng tâm hồn con người. Trước lúc đi xa Người muốn thế hệ sau hãy yêu những câu hát dân ca, hãy trân trọng và giữ gìn nền văn hoá của dân tộc.

NSUT Phạm Quỳnh Hoa

bqllang.gov.vn

Điều quan trọng nhất là làm theo gương Bác

Bác Hồ là tấm gương sáng tuyệt vời, ai cũng cố gắng học tập và tự hào được làm theo Bác. Lần này, bước vào Cuộc vận động, mỗi người đều thấy mình tiến bộ thêm một bước: Chăm đọc và làm theo sách báo của Ðảng, quan tâm hơn đến những vấn đề chung của đất nước, quê hương; gắng sức làm việc tốt để góp phần nhỏ bé của mình vào công tác xây dựng Ðảng, chính quyền, đoàn thể từ địa phương lên; sống với nhau thêm tình nghĩa chân thành, học tập nhau phát huy mặt mạnh và giúp nhau khắc phục yếu kém.

Nghiêm túc học tập tấm gương Bác là điều không dễ và làm theo Bác lại càng khó hơn. Nhưng nếu có tấm lòng trong sáng và quyết tâm bền vững, ai cũng đều có thể học và làm theo Bác được. Có người cho rằng mình bận công việc tối ngày, khó có thời gian và điều kiện làm những việc như Bác là không đúng. Dù bận việc nước, việc dân, Bác vẫn có thời gian chăm lo đến những việc nhỏ nhất, chan hòa tình thương đến mọi người, không sót một ai!

Mọi người đều có thể học và làm theo Bác từ những việc hằng ngày mà ai cũng thấy ở mọi lúc mọi nơi, rất đỗi bình thường giản dị và chính sự bình thường giản dị ấy càng tôn thêm tầm vĩ đại của Bác. Bác thường xuống cơ sở, đến với dân không báo trước, không bố trí nơi đón rước linh đình mà Bác đến thẳng nơi ăn ở, trong bếp núc, nơi làm việc, chỗ vệ sinh của công nhân, nông dân, bộ đội, thanh niên xung phong, nhà trẻ… xem tận nơi, quan tâm thiết thực đến đời sống mỗi người.

Các buổi lễ lớn, Bác thường xuất hiện từ phía sau vào hội trường rồi những ai đang đón rước ở bên ngoài, ở phía trước tự giải tán vào theo Bác. Bác thường không chỉ nghe báo cáo viết sẵn, trình bày một chiều mà Bác đã bằng nhiều cách quan sát thực tiễn, hiểu rõ những nét cơ bản nhất, chân thật nhất của tình hình rồi mới đọc và nghe báo cáo. Nên không thể có báo cáo sai sự thật, “làm láo báo cáo hay”, sa vào “bệnh thành tích” để chủ quan tự sai lầm.

Ai cũng thấy Bác tiết kiệm từng thứ nhỏ nhất trong nếp sống và làm việc hằng ngày. Không chỉ vì nghèo mới tiết kiệm mà tiết kiệm là đức tính thuộc về bản chất, truyền thống của dân tộc ta. Nhất là tiết kiệm thời giờ của mình và của mọi người, vì “của cải nếu hết còn có thể làm thêm, khi thời giờ đã qua rồi không bao giờ kéo nó trở lại được!”. Bác không bao giờ để những cuộc họp vô bổ kéo dài phí thời giờ của nhiều người.

Ai cũng tự xác định cho mình suốt đời học tập và làm theo gương Bác để không ngừng tiến bộ, thiết thực làm mọi việc ích nước lợi dân, tránh được những sai lầm dù nhỏ.

Báo Nhân dân

bqllang.gov.vn

Những chuyện cảm động về Bác Hồ qua lời kể của thành viên nhóm tình báo Con Nai (Mỹ)

Henry Prunier năm nay đã 86 tuổi, là một trong bảy thành viên của nhóm tình báo Con Nai (Deer Team) thuộc OSS. Theo lời kêu gọi của Bác Hồ, nhóm Con Nai nhảy dù xuống Tân Trào tháng 7 năm 1945 để giúp đỡ trong việc huấn luyện các chiến sĩ Việt Minh đánh Nhật.

Chúng tôi đến thăm hai ông bà Henry Albert Prunier và Maria Prunier vào một buổi sáng mưa lạnh ở vùng New England. Ông Henry Prunier rất vui khi biết chúng tôi có ý định tìm hiểu, tham vấn ông để làm một cuốn sách liên quan đến thời kì đó.

Theo ông, lịch sử sẽ dần trôi vào quên lãng nếu không có những người nhắc lại giai đoạn đặc biệt này của quan hệ giữa hai nước – Một giai đoạn rất ngắn khi Việt Nam và Hoa Kỳ đã từng là bạn.

Những thành viên của The Office of Strategic Services (OSS), đã giúp đỡ Việt Minh sử dụng vũ khí và cũng chính những thành viên ấy đã hết sức nhiệt tình chuyển giúp thư của Bác Hồ đến chính phủ Mỹ, đề nghị Tổng thống Truman công nhận độc lập của Việt Nam.

Chỉ tiếc rằng lịch sử đã đi theo hướng hai nước trở thành đối thủ trong cuộc chiến 20 năm.

Có lẽ ông là một trong rất ít người còn sống và đã cùng ông Allison K. Thomas (trưởng nhóm Con Nai), trở lại Hà Nội năm 1995 gặp gỡ các chiến sĩ Việt Minh mà ông đã có dịp sống và làm việc. Cuộc gặp mặt sau 50 năm được tổ chức theo sáng kiến của Hội Hữu nghị Việt – Mỹ và do Quỹ Ford tài trợ.

Khi đến Tân Trào, ông mới 24 tuổi, làm thông dịch viên cho nhóm. Chỉ có chưa đầy một tháng được tiếp xúc với Bác Hồ, đại tướng Võ Nguyên Giáp và các chiến sĩ Việt Minh, nhưng đã để lại trong ông những kí ức và kỷ niệm khó quên mà ông mang theo bên mình trong hành trình hơn nửa thế kỷ.

Ông nhớ rõ từng chi tiết khi nhảy dù xuống Tân Trào. Nhóm Con Nai ở cách Tân Trào 3 km, trước đó đây là nơi dành cho các lớp bồi dưỡng chính trị, nay thành thao trường huấn luyện của Việt Minh.

Nhóm Con Nai mỗi người mỗi việc, trong đó có bác sĩ đã từng chữa bệnh cho Bác Hồ khi Người bị ốm. Vũ khí, thuốc men, thực phẩm của họ đều được tiếp tế bằng máy bay trực thăng. Tuy nhiên, cả nhóm vẫn dùng thực phẩm của địa phương như cơm, ngô, măng rừng, rau và thịt gà. Ông nhớ nhất là bữa ăn rất thiếu rau, còn thịt gà là món ông nhớ nhất vì nó… không ngon một chút nào.

Tiếp đó là những ngày hành quân về Hà Nội cùng tướng Đàm Quang Trung, qua Thái Nguyên còn phải đánh nhau với tàn quân Nhật. Các ông về đến Hà Nội vào ngày 9/ 9/1945.

Ông được gặp lại Bác Hồ, bây giờ là Chủ tịch nước Việt Nam độc lập, với cảm giác ngỡ ngàng vì trước đó một tháng ông chỉ biết đó là “Mr. Hồ”. Con người giản dị đó giờ đây đã trở thành người đứng đầu một đất nước thoát khỏi ách thuộc địa.

Ông ở Hà Nội một thời gian ngắn, rồi sang Côn Minh và về Mỹ tháng 1/1946.Ông học đại học, rồi làm việc ở công ty gia đình J.S, Prunier and Sons.

Năm 1997, ông tham dự cuộc gặp mặt những thành viên OSS và các chiến sĩ Việt Minh tại New York. Hiện ông đang sống tại thành phố Webster nằm phía đông của bang Massachusetts, Hoa Kỳ.

Bước vào nhà, vật đầu tiên ông chỉ cho chúng tôi là bức tranh thêu trên lụa khổ 1,5 m x 0,6 m, về một nhân vật trong lịch sử Trung Quốc, được lồng trong khung kính, treo trang trọng trong phòng khách.

Đó là món quà của Bác Hồ tặng ông từ năm 1945, và ông đã giữ cho đến tận bây giờ. Mặc dù đã 62 năm đã trôi qua, nhưng bức tranh không hề phai màu, được bảo quản gần như mới…

Ông đưa chúng tôi vào nơi trước đây là Văn phòng giao dịch của công ty J.S. Prunier and Sons. Bây giờ, đây là nơi ông lưu giữ những cuốn sách về Bác Hồ, về Việt Nam, về đội Con Nai, OSS trong những ngày ở Đông Dương.

Những cuốn sách của các tác giả là thành viên của đội OSS như Charlse Fenn, Archimedes Patti, và các nhà nghiên cứu về Việt Nam sau này như William Duiker, Dixee R. Bartholomew-Feis. Ông gìn giữ cẩn thận từng băng ghi âm các cuộc phỏng vấn của các cơ quan truyền thông trong những năm 1960, cả những băng cối, sử dụng rộng rãi vào thời kỳ đó.

Ông cho chúng tôi xem những băng ghi hình về Bác Hồ của nhiều đài truyền hình, các hãng thông tấn khác nhau như Đài BBC, kênh truyền hình “Lịch sử” của Mỹ (History Channel) và các cuộc phỏng vấn ông khi làm phim về Bác.

Từng tập hồ sơ, nhật ký của đội OSS ông còn giữ từ năm 1945, rồi ông đem những bức hình của các chiến sĩ Việt Minh năm xưa so sánh với những bức ảnh ông chụp với họ khi gặp lại nhau năm 1995 ở Hà Nội và năm 1997 tại New York.

Đặc biệt nhất là những bức ảnh đen trắng ông được chụp chung với Bác Hồ, đại tướng Võ Nguyên Giáp và các chiến sĩ Việt Minh. Những bức ảnh gốc đã hơn 60 năm tuổi, chúng có mặt trên các tạp chí nổi tiếng như Life Magazine của Hoa Kỳ (1978), Paris Match của Pháp (1968) và trong nhiều phim tài liệu về lịch sử ngắn ngủi trong quan hệ Việt-Mỹ.

Ông tháo trên tường một khung kính nhỏ hơn khổ giấy A4 một chút, đó là chứng chỉ do Đại học Berkeley cấp ngày 2/9/1944, công nhận ông đã học qua khóa tiếng Việt trong 9 tháng (chứng chỉ ghi là tiếng Annam).

Hóa ra có trường đại học Mỹ đã dạy tiếng Việt từ thời kỳ đó. Ông trân trọng cho chúng tôi xem từng bài viết về Bác Hồ, được cắt ra từ báo hoặc tạp chí. Đã nhiều năm trôi qua, nhiều chỗ đã hoen ố, nhưng dường như chúng vẫn mang hơi thở của thời kỳ ra đời. Và với chúng tôi, những người tìm hiểu về lịch sử thì đó là kho tài liệu vô giá.

Đề tài ông thích nhất có lẽ là nói về Bác Hồ. Ông có thể ngồi hàng giờ nói chuyện về những kỷ niệm không bao giờ quên trong thời gian hơn ba tuần được tiếp xúc với Bác.

Mặc dù là phiên dịch tiếng Việt, nhưng ông bảo Bác Hồ nói tiếng Pháp và tiếng Anh rất thạo, đương nhiên là hơn hẳn tiếng Việt của ông nên Bác thường trao đổi trực tiếp bằng tiếng Anh, khiến ông gần như… thất nghiệp.

Biết ông là người Massachusetts, Bác nhắc lại kỷ niệm về những ngày Bác sống và làm việc ở Boston và New York. Ông nhắc đi nhắc lại ấn tượng về Bác Hồ: Một con người rất đời, giản dị nhưng có chí khí mãnh liệt, một con người rất Việt, nhưng mang trong mình mọi tính cách của thành viên thuộc cộng đồng thế giới.

Ông mỉm cười khi nói đến hình ảnh ông nhớ nhất về Bác Hồ là Bác mặc áo cánh và quần sooc khi ở Tân Trào và cả khi về Hà Nội, trên cương vị Chủ tịch nước, Bác vẫn ăn mặc giản dị như thế khi tiếp đón các thành viên OSS tại Phủ Chủ tịch. Bác chiêu đãi, tặng quà và cám ơn các thành viên trong nhóm. Bác không hề tỏ ra mình là nhân vật quan trọng, khi mà trên thực tế lúc đó Bác là người vô cùng quan trọng.

Ông buồn rầu kể: “Hồ Chí Minh đã nhờ chúng tôi viết thư về Mỹ đề nghị Tổng thống Truman công nhận quyền độc lập của Việt Nam. Chúng tôi là những người lính chứ không phải các chính trị gia, nên mặc dù đã làm hết sức mình, nhưng không giúp được gì nhiều. Chỉ tiếc là những bức thư đó sau này nằm trong kho lưu trữ quốc gia. Thời điểm ấy, nước Mỹ chỉ tập trung vào châu Âu, bỏ qua khu vực Đông Nam Á.

Tổng thống Truman đã để Charlse de Gaulle quyết định vấn đề Đông Dương. Phải chăng đây cũng là một phần nguyên nhân của cuộc chiến kéo dài 30 năm? Hồ Chí Minh mời chúng tôi trở lại Việt Nam bất cứ lúc nào, thế mà phải 50 năm sau tôi mới có dịp trở lại”.

Năm 1968, khi tổng thống Johnson leo thang chiến tranh, ném bom miền Bắc, tại Mỹ phong trào chống chiến tranh trong mọi tầng lớp nhân dân, sinh viên, thanh niên đã phân đất nước thành hai cực.

Nước Mỹ tìm hiểu về cuộc chiến, một tờ báo địa phương của thành phố Worcester, tiểu bang Massachusetts nơi ông sinh sống đã đăng bài về Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị lãnh tụ của phía bên kia qua lời kể của Henry Prunier.

Bài báo ông cho chúng tôi xem không khác những điều ông trân trọng kể về Bác hôm nay. Trong cuộc phỏng vấn do đài phát thanh thành phố thực hiện, Henry Prunier đã khẳng định: “Chúng ta không bao giờ giành chiến thắng tại Việt Nam bởi vì chúng ta chiến đấu không có mục đích. Trong khi đó, người Việt chiến đấu vì mục đích, vì niềm khao khát độc lập tự do”.

Chúng tôi hỏi ông vì sao chỉ với thời gian rất ngắn ở Việt Nam mà ông đã có kết luận như vậy? Ông trả lời: “Đơn giản lắm, người Việt có chung niềm khao khát độc lập như chúng tôi đã có ở thế kỉ 18. Khi đó chúng tôi phải giành độc lập bằng mọi giá do chính sách thuế má nặng nề của nước Anh áp đặt lên chúng tôi, vì có mục đích chúng tôi mới chiến thắng trong cách mạng Mỹ”.

Ngay sau khi ông phát biểu trên đài phát thanh, con gái ông còn đang đi học đã bị một số bạn bè và cả thầy cô quy kết là “con của cộng sản”. Ông bảo họ muốn nói gì cũng mặc, với ông, cái gì ông cho là đúng thì ông làm. Và điều ông nói đã thành sự thật. Năm năm sau, những người lính Mỹ cuối cùng đã rút khỏi Việt Nam và năm 1975, đất nước ta đã hoàn toàn thống nhất. Với người viết bài này, đây là một cuộc gặp mặt thật cảm động và khó quên. Người đang làm cuốn sách liên quan đến thời kỳ lịch sử này là ông David Thomas, một cựu binh đã tham chiến tại Playku năm 1968, người đã trân trọng quý mến Bác Hồ và vẽ trên 50 bức tranh về Bác.

Henry Prunier, cựu binh của thế chiến II, người đã tham gia giúp Việt Minh kháng chiến chống Nhật. Còn David Thomas, cựu binh của Chiến tranh Việt Nam, người đã tham chiến chống lại quân đội nhân dân Việt Nam.

Hơn 30 năm sau, tại nước Mỹ, hai thế hệ cựu binh đều gật đầu đồng tình với ý kiến của ông Prunier: “Đúng, chúng ta (người Mỹ) đã thất bại bởi vì chúng ta chiến đấu không có mục đích”.

Theo: Minh Phương
(Bài viết đăng trên Tạp chí Sự kiện nhân chứng)

bqllang.gov.vn

Người lập “bảo tàng” Bác Hồ ngay trong nhà mình

Một cụ ông, vì yêu quý Bác Hồ, đã thể hiện tình yêu của mình bằng cách bỏ ra nhiều năm đi sưu tầm tranh ảnh, tài liệu về Bác Hồ. Sau hơn 20 năm miệt mài sưu tầm, ông đã có trong tay hàng trăm bút tích cùng rất nhiều tranh ảnh Bác Hồ. Thậm chí, ông còn bỏ ra hơn trăm mét đất ngay giữa lòng thành phố để lập một bảo tàng về Bác Hồ. Cụ ông ấy có tên là Nguyễn Đình Sơn, một cựu sĩ quan thương binh, hiện đang sống ở Phường Tân Thành, thành phố Thanh Hoá.

Với dáng người nhỏ bé, có lẽ không mấy người nghĩ ông cụ đã có một thời gian dài phục vụ trong ngành công an. Theo lời kể của ông Sơn thì năm 17 tuổi, ông đã chính thức được “biên chế” trong quân đội. Đến năm 1953, ông được cử vào An toàn khu (ATK), làm nhiệm vụ “phòng gian bảo mật”, nhằm đảm bảo an toàn từ vòng ngoài cho Hồ Chủ tịch và Trung ương làm việc. Thời gian làm một người lính cận vệ, ông Sơn đã được gặp và trò chuyện với Bác Hồ đôi lần.

Ông Sơn kể, một lần ông đang tập võ cùng ông Vũ Kỳ (lúc ấy là thư ký của Bác Hồ và cũng là chỉ huy trực tiếp của ông Sơn), Bác Hồ trông thấy, đã đến tập luyện cùng. Những lần được gặp gỡ và tiếp xúc ít ỏi với Bác Hồ trong những hoàn cảnh rất bình dị khác nữa, càng làm cho lòng kính yêu Bác của ông được nhân lên. Sau này, trong 5 lần được nhận huy hiệu Bác Hồ, ông Sơn đã hai lần vinh dự được chính Người trao tặng.

Năm 1963, khi vừa học xong lớp thí điểm đại học đầu tiên của ngành công an thì vợ ông qua đời. Sau đó, ông Sơn đã xin chuyển về quê và làm việc ở Ty công an Thanh Hóa. Năm 1982, ông nghỉ hưu với cấp bậc thượng uý và chứng nhận thương binh hạng 3/4. Tính đến khi nghỉ hưu, ông đã có 28 năm phục vụ trong ngành công an và nhiều năm làm công tác bảo vệ Bác Hồ. Ngay sau khi nghỉ hưu, ông Sơn bắt tay vào việc đi sưu tầm tranh ảnh, bút tích của Bác. Ông bảo, từ lâu, ông đã mong muốn làm được một việc thật có ý nghĩa, thể hiện lòng kính yêucủa mình với Bác Hồ.

Nhưng, chỉ đến khi ông có trong tay hai bức ảnh Bác, do chính tay ông chụp được thì ông mới mơ hồ biết về những việc ông phải làm sau này. Đó là năm 1954, khi ông theo đoàn Trung ương về tiếp quản Thủ đô. Lần đó, ông đã mượn được người bạn chiếc máy ảnh và đã chụp “trộm” được hai kiểu ảnh có hình Bác Hồ. Đề tài nghiên cứu về Bác Hồ liên quan đến Thanh Hóa của ông sau này. Để việc sưu tầm tiến hành được thuận lợi, ông Sơn đã thành lập ra hẳn một Ban nghiên cứu, do ông đứng ra làm chủ nhiệm. Gọi là Ban nghiên cứu cho oai, chứ việc đi sưu tầm tài liệu, tranh ảnh và bút tích của Bác những lần về Thanh Hóa, cũng chỉ có mình ông đảm nhiệm.Sau hơn hai mươi năm sưu tầm, nghiên cứu, đến nay Ban Đề tài TLLS 2253 NV, do ông Sơn làm chủ nhiệm đã có hàng trăm bức ảnh về Bác và hàng chục bút tích (tất cả đều là bản gốc) Bác viết khi về Thanh Hóa công tác. Ngoài ra, ông còn có một lượng tài liệu khổng lồ mà ông sưu tầm được qua rất nhiều sách báo và các tạp chí.

Việc đi sưu tầm thường xuyên trong nhiều năm đã khiến lượng tài liệu trong nhà ông Sơn mỗi ngày một nhiều. Trong ngôi nhà cấp bốn cũ kỹ, tranh ảnh, tài liệu liên quan đến Bác Hồ được treo kín trên các bức tường. Ngay cả chiếc tủ sắt lớn làm bằng xác máy bay Mỹ, đặt ở gian giữa cũng đã chứa đầy tài liệu từ nhiều năm rồi. Để tránh mối mọt, mưa dột và ẩm mốc xâm hại đến các tài liệu quý, ông Sơn đã cho ép plastic hầu hết những tài liệu mà qua nhiều năm ông đã sưu tầm được. Chỉ cho khách xem tủ tài liệu, ông Sơn bảo: “Tất cả những tài liệu đều có một lai lịch cả đấy. Nhiều tài liệu, trước khi đem về đây, nó đã có cả một thời gian lưu lạc thăng trầm”.

Rồi ông lại kể, có tài liệu ông sưu tầm được khá tình cờ. Chẳng hạn, có lần nghe tin ông Kháng (một trong những người bảo vệ Bác) đang lưu giữ một bản bút tích của Người trong một chuyến vào Thanh Hóa làm việc, ông đã tìm đến và được ông Kháng chấp nhận mà không đòi hỏi gì. Song, cũng có những tài liệu ông Sơn phải năm lần bảy lượt đến thuyết phục gia chủ mới được họ chấp thuận cho đem về. Nhiều tài liệu đem được về rồi, ông lại phải mang ra tận Viện bảo tàng Hồ Chí Minh để nhờ xác minh lại xem bút tích đó có đúng là bút tích của Bác hay không.

Hễ nghe thấy ở đâu có tranh ảnh, bút tích, hay những thông tin về Bác Hồ có liên quan đến Thanh Hóa quê ông, thì đường xa đến mấy, ông Sơn cũng thu xếp công việc lẫn tiền bạc để lên đường.

Năm 2004, cô con gái của ông đi lao động bên Nga, có gửi chút tiền dưỡng già, ông Sơn đã dùng cả số tiền ấy để xây cất một ngôi nhà tử tế. Sau đó, ông đã chuyển dần những tài liệu từ gian nhà cấp bốn lên trưng bày tại ngôi nhà mới. Ông bảo: “Mình già rồi, sống thế nào cũng được. Nhưng những tài liệu mình đã dày công sưu tầm và nghiên cứu này thì không thể để mối mọt hoặc ẩm mốc làm hỏng được”!

Trong ngôi nhà mới xây, ông Sơn cho dựng một tấm bia đá có khắc dòng chữ rất to, rất ấn tượng ngay tại phòng khách: “Đời đời nhớ công ơn Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại và các anh hùng liệt sĩ”. Ông bảo, nhờ Hồ Chủ tịch và công ơn các anh hùng liệt sĩ mà đất nước thoát khỏi ách nô lệ, nhân dân được hưởng cuộc sống ấm no, hạnh phúc ngày nay. Ông muốn sau này, ngôi nhà của ông, nếu không trở thành một bảo tàng nhỏ về Bác Hồ, thì ít nhất, nó cũng trở thành một ngôi nhà truyền thống, có thể giáo dục lý tưởng và lòng yêu nước cho lớp trẻ trong vùng.

Sự thực thì từ lâu, ngôi nhà của ông Sơn đã trở thành một địa chỉ văn hóa được nhiều người tìm đến. Những lúc có khách, ông Sơn nhanh nhẹn và hoạt bát lạ thường. Ông giới thiệu với khách ý nghĩa và lai lịch của từng bức ảnh, lai lịch của từng trang tài liệu. Nếu vị khách nào muốn biết Bác Hồ đã bao nhiêu lần về Thanh Hóa, về trong thời gian nào, ở đâu, làm gì, ông có thể nói làu làu một cách chính xác đến khó tin.

Năm nay, ông Sơn đã bước sang tuổi 79. Ông bảo, bây giờ ông cũng chẳng đi lại được nhiều nữa. Vì vậy, lúc nào ông cũng đau đáu lo đề tài ông đã dày công nghiên cứu sau này sẽ không có người kế tục. Còn về ngôi nhà, ông vẫn thích gọi nó với cái tên Nhà bảo tàng hơn là cái tên Nhà trưng bày, dù để trở thành một nhà bảo tàng theo đúng nghĩa, thì ngôi nhà của ông còn cần thêm rất nhiều thứ nữa.

Rồi ông lại bảo, đến một lúc nào đó, ông sẽ hiến toàn bộ ngôi nhà cùng những tài liệu quý báu ông đã sưu tầm được cho Nhà nước. Bởi ông cho rằng, chỉ có Nhà nước quản lý thì những tài liệu và hiện vật trong ngôi nhà mới phát huy được hết những giá trị tinh thần của nó.

Trọng Tuyến
(Đăng trên Vietimes)

bqllang.gov.vn

“Càng già chí khí càng dai…”

Bác Tôn Đức Thắng sinh năm 1888, hơn Bác Hồ 2 tuổi. Tình cảm giữa Bác Hồ và Bác Tôn cũng hình thành từ rất sớm, khi hai người chưa hề gặp nhau: Bác Tôn Đức Thắng từng ngưỡng mộ Nguyễn Ái Quốc từ năm 1919 khi Người còn hoạt động trên đất Pháp, đã đưa ra “Bản yêu sách của nhân dân An Nam” 8 điểm đòi quyền độc lập cho Việt Nam làm chấn động Hội nghị Véc-xây… Nhưng mãi đến cuộc Tổng tuyển cử ngày 6-1-1946, khi Bác Tôn được bầu là đại biểu Quốc hội và ra Hà Nội làm việc, lần đầu tiên Bác Tôn và Bác Hồ mới gặp mặt nhau.

Tại phiên họp vào ngày 8-11-1946 của kỳ họp thứ hai Quốc hội khóa một, khi Chủ tịch Chính phủ liên hiệp (lâm thời) Hồ Chí Minh phát biểu từ chức, trao quyền để Quốc hội chọn người đứng ra lập Chính phủ mới-Chính phủ “tập họp nhân tài, đoàn kết kháng chiến”-thì đại biểu Quốc hội Nam Bộ Tôn Đức Thắng đã đứng lên dõng dạc phát biểu ý kiến: “Tôi xin giới thiệu Cụ Hồ Chí Minh, tức nhà yêu nước Nguyễn Ái Quốc là người xứng đáng hơn ai hết, đứng ra thành lập Chính phủ mới”. Ý kiến của Bác Tôn đã làm cho nhóm đại biểu các đảng phái phản động chưng hửng, thất vọng vì họ đã chuẩn bị sẵn một “danh sách tân chính phủ”…

Sau ngày Toàn quốc kháng chiến 19-12, Bác Tôn cùng hai con gái là Hạnh, Nghiêm đều đã tham gia cách mạng được theo cha lên chiến khu Việt Bắc công tác. Trong kháng chiến chống Pháp, Bác Tôn là quyền Bộ trưởng Nội vụ, Trưởng ban vận động thi đua ái quốc Trung ương, Trưởng ban Thường trực Quốc hội… Giữa chiến khu Việt Bắc những ngày kháng chiến, Bác Hồ thường mời Bác Tôn đến gặp để đàm đạo công việc, trao đổi ý kiến về những công việc cụ thể nhằm đẩy mạnh phong trào Thi đua ái quốc, đẩy mạnh kháng chiến.

Bác Tôn cũng là người có phong cách rất cần kiệm trong đời sống, giản dị trong sinh hoạt. Hai Bác xưng hô với nhau rất thân mật bằng đại từ “cụ” và thân tình như một đôi bạn tri kỷ luôn “tâm đầu ý hợp”. Sau ngày kháng chiến thành công, trở về sống ở Thủ đô, Bác Hồ vẫn chỉ ở và làm việc tại căn phòng của người thợ điện cạnh tòa nhà Phủ Chủ tịch. Ngày vợ chồng hai người con gái là chị Hạnh-anh Phúc và chị Nghiêm-anh Trúc theo cha (Bác Tôn) về Hà Nội, thì bà Giàu từ miền Nam tập kết ra, lúc này gia đình mới sum họp. Ở nhà 35 Trần Phú, vợ chồng chị Hạnh, chị Nghiêm cũng chỉ có một phòng rộng không quá 20m2, hai chị em nhất định nhường cho ông thư ký riêng của cha căn phòng rộng hơn, vì “gia đình ông đông người hơn”. Ở Hà Nội, Bác Hồ thường sang thăm gia đình Bác Tôn. Thấy Bác Tôn làm việc, nghỉ ngơi trên tầng 2, hằng ngày thường phải lên xuống cầu thang không thuận tiện và tốn sức tuổi già, Bác Hồ nhắc Văn phòng: “Phải sắp xếp và đưa cụ xuống tầng dưới để ít phải đi lại, xuống hầm (hầm trú ẩn tránh bom đạn khi máy bay Mỹ đánh phá) cũng nhanh hơn…”. Những thời gian có thể, thường vào chiều thứ bảy trong tháng, Bác Hồ lại cho mời Bác Tôn sang nhà sàn cùng ăn cơm và đàm đạo với nhau. Mỗi lần như vậy, khi đến giờ, Bác Hồ ra tận gốc cây sát bờ ao thả cá đứng đợi “đón bạn”. Khi Bác Tôn đến, Bác Hồ lên tiếng: “Chào cụ!”. Bác Tôn cũng liền chắp hai bàn tay đáp lại: “Chào cụ !” đáp lễ…

Vào dịp kỷ niệm 70 năm ngày sinh của Bác Tôn (20-8-1958), Quốc hội quyết định tặng Bác Tôn Đức Thắng Huân chương Sao Vàng. Tại buổi lễ, trước khi gắn huân chương lên ngực áo Bác Tôn, Bác Hồ rất vui và rất xúc động phát biểu: “Đồng chí Tôn Đức Thắng là một gương mẫu đạo đức cách mạng: Suốt đời cần, kiệm, liêm, chính; suốt đời hết lòng hết sức phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân… Thay mặt nhân dân và Chính phủ, tôi trân trọng trao tặng đồng chí Tôn Đức Thắng Huân chương Sao Vàng, là huân chương cao quý nhất của nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa, mà đồng chí Tôn Đức Thắng là người đầu tiên và rất xứng đáng được tặng…”.

Hai năm sau, ở tuổi 72, kỳ họp Quốc hội tháng 7-1960 đã tín nhiệm bầu Bác Tôn làm Phó chủ tịch nước. Bác Tôn không chịu nhận có thêm thư ký riêng với lý do “công việc không nhiều”, sử dụng thêm một cán bộ là lãng phí. Nhưng Bác Hồ không tán thành, vì Bác Tôn tuổi đã cao. Bác Hồ bàn với Văn phòng sắp xếp công việc để có người giúp việc Bác Tôn, nên năm 1962 mới có người giúp việc-thư ký cho Bác Tôn, đó là ông Lê Hữu Lập… Cho đến năm Mậu Thân 1968, Bác Tôn Đức Thắng tròn 80 tuổi giữa thời kỳ cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đang rất quyết liệt. Bác Hồ lúc đến chúc thọ người bạn già tri kỷ Tôn Đức Thắng, đã tặng bạn hai câu thơ:

Càng già chí khí càng dai
Chống Mỹ, cứu nước ít ai hơn già”.

Tuấn Hải
(Tạp chí Sự kiện nhân chứng)

bqllang.gov.vn

Người lập bàn thờ Bác trong Khu Di tích Phủ Chủ tịch

“Với tất cả tấm lòng thành kính, năm 2001, tức ba năm trước khi về hưu, tôi “xin” Bác một phòng ngay gần nhà sàn, nơi Bác ngồi ký các sắc lệnh xưa kia, làm nơi thờ cúng Người”. Anh cảnh vệ năm xưa nay đã ngoại lục tuần, Trần Viết Hoàn, kể.

Trong số những cảnh vệ trẻ khi xưa của Bác Hồ, có lẽ ông Trần Viết Hoàn là người gắn bó lâu năm nhất với Bác. Tự nhận có “diễm phúc” được ở bên Người trong 3 năm cuối ở nhà sàn và 16 năm ở cương vị Giám đốc Khu di tích Phủ Chủ tịch, ông Hoàn được mọi người gọi với cái tên “Ông từ giữ đền”. Dáng cao dong dỏng, tóc bạc trắng, ông Trần Viết Hoàn gây ấn tượng ở đôi mắt sáng và nụ cười rạng rỡ. “Từ khi về hưu năm 2004 đến nay, cứ ngày mồng 1 hàng tháng, tôi lại tới thắp hương cho Cụ ở căn phòng mà tôi đã “xin” Bác. Năm nào cơ quan cũng làm giỗ cho Bác vào ngày 21 tháng 7 âm lịch”. Bao năm ở bên Bác, canh cho Bác từng bữa ăn, giấc ngủ, nay “ông từ” Hoàn vẫn nhớ nguyên cảm giác lạnh lẽo khi bước vào nhà sàn sau khi Bác mất.”Tại nhà nơi Bác mất, anh em đặt lư hương để thắp hương cho Bác bên cạnh cửa sổ. Đến năm 2001, tôi “xin” Bác cho một phòng mà Bác vẫn ngồi ký các sắc lệnh để mọi người về có chỗ tưởng nhớ người ông, người cha của mình”.Trong căn phòng nhỏ nằm ngay gần nhà sàn, ông Hoàn cho đặt tượng Bác, bên trên có tấm hoành phi ghi 4 chữ “Cần, kiệm, liêm, chính”. Hai bên tượng là câu đối: Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công.

Khi được hỏi “Ông cầu khấn gì mỗi lần thắp hương cho Bác?”, ông Hoàn cười: “Tôi chỉ khấn đúng như thế này: Cầu mong Bác trong giấc ngủ bình an ban phước ban lộc cho mọi người được mạnh khỏe, tiến bộ. Chứ tuyệt nhiên tôi không xin cho mình điều gì cả”. Thế nhưng ngẫm ra, ông thấy mình được Bác ban phát rất nhiều “lộc”: một gia đình hạnh phúc, con cái phương trưởng. Lạ một điều, cả nhà ông đều quây quần bên Bác. Vợ ông trước khi về hưu làm kế toán ở Bảo tàng Hồ Chí Minh. Con trai ông hiện là trưởng phòng bảo vệ Khu Di tích, con gái làm ở phòng thuyết minh. Nhớ lại cách đây 44 năm, chàng sinh viên ngoại ngữ Trần Viết Hoàn, khi đó mới tròn 20, được chuyển sang trường Công an Trung ương (C500) rồi được phân công về Cục Cảnh vệ, Bộ Công an. “Năm 1963, khi còn học ở trường Ngoại ngữ, tôi được đứng ở cổng Nhà khách Chính phủ vẫy chào Chủ tịch Trung Hoa Lưu Thiếu Kỳ. Đó cũng là lần đầu tiên, tôi được nhìn thấy Cụ Hồ trong lễ đón. Người cứ lâng lâng vì vui và tự hào”, ông Hoàn nhớ lại.Năm 1966, Trần Viết Hoàn được điều về đội 1 trực tiếp bảo vệ Bác Hồ, tổ bảo vệ nhà sàn. “Đó là cả một diễm phúc. Người Việt Nam ta, từ cụ già đến em nhỏ, ai mà chẳng muốn gặp Bác dù chỉ một lần. Đằng này, tôi lại được nhìn thấy Bác hàng ngày”.Một buổi trưa, chàng cảnh vệ Hoàn đi gánh nước tưới rau, đúng lúc Bác đi bách bộ theo thói quen mươi – mười lăm phút trước bữa ăn. “Thấy Bác, tôi giật mình lùi lại. Bác mới bảo: Này chú, việc chú, chú cứ làm, việc Bác, Bác đi. Ông kể, có anh gặp Bác trên đường khi đang đi xe đạp bèn xuống xe. Bác liền nói: “Bác có phải đền Bạch Mã đâu mà các chú xuống xe”. “Bác thường xuống thăm anh em nhà bếp và cảnh vệ, xem anh em ăn uống thế nào. Đi công tác về, bao giờ Bác cũng có quà, lần thì điếu thuốc, lần thì cái kẹo, quả táo”. Theo lời ông Hoàn, những dịp đặc biệt, Bác Hồ cho anh em bảo vệ bắt cá từ ao mà thường ngày Bác vẫn chăm sóc để biếu các cụ già, cháu nhỏ, các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước và để anh em cải thiện bữa ăn.”Năm 1968, chúng tôi bắt được một con cá trắm cỏ rất to. Bác bảo: Các chú thử cân xem con cá nặng bao nhiêu. Anh em nhà bếp lấy bàn cân ra nhưng không sao cân nổi, vì đầu, đuôi con cá cứ chạm xuống đất. Bác nói: Một chú bê con cá và đứng lên cân, rồi trừ trọng lượng của chú ấy đi. Mọi người làm theo lời Bác thì biết được con cá nặng tới 24 kg. Lúc đó, Bác nói: “Bắt con cá này lên để đề phòng cá lớn nuốt cá bé”.

Sau này, khi giữ chức Giám đốc Khu di tích, ông Trần Viết Hoàn kể câu chuyện trên cho nhiều đoàn khách, trong đó có các nguyên thủ quốc gia, nhiều vị nghe mà lặng người. Kỷ niệm về Bác, ông Hoàn có thể kể hàng giờ. Mỗi câu chuyện là một bài học. Về một nhân cách lớn. “Ngần ấy năm sống ở gần Bác, tôi không hề thấy Bác cáu giận. Thư ký của Bác, ông Vũ Kỳ kể với chúng tôi: Có lần, ông tự nhận với Bác là còn cáu gắt với anh em. Bác bảo: Chú ở với Bác lâu, Bác cũng ở với chú lâu, Bác chưa bao giờ thấy chú cáu gắt với Bác cả. Thế cáu gắt với anh em có phải vì chú cậy mình là cấp trên không?”.Ông nhớ hồi chiến tranh phá hoại, Bác Hồ dứt khoát không đi sơ tán, “Bác bỏ dân làm sao được”. Bộ Chính trị bèn bàn việc xây cho Bác một căn hầm bằng bê tông để tránh bom bi, mảnh đạn. Nhưng Bác vẫn nói: “Trước khi lo cho Bác, các chú hãy lo cho dân đi đã”.Tháng 5/1967, đúng dịp sinh nhật mình, Bác lại “đi vắng” như mọi năm, tránh phiền mọi người đến chúc mừng. “Bác sang Trung Quốc trong thời gian 2 tháng để chữa bệnh luôn. Ở nhà, Bộ Chính trị quyết định làm nhanh cho Bác căn nhà bê tông, tường dày đến 60 phân, do bên công binh thiết kế, thi công”. Ông Hoàn nhớ như in, ngày 20/7, Bác về. Bộ Chính trị chuẩn bị đón Bác ở ngôi nhà mà trước khi đi chưa có. “Hôm đó, Bác chỉ hỏi: Đây là sáng kiến của chú nào?”. Đồng chí Phạm Hùng thay mặt Bộ Chính trị đứng lên báo cáo: “Thưa Bác, đây là nguyện vọng của quần chúng nhân dân. Bác nói: “Bộ Chính trị làm thì Bộ Chính trị ở đi, Bác có nhà sàn rồi!”.”Thế nhưng, với tinh thần tôn trọng tập thể và giữ kỷ luật của Đảng, Bác quyết định nơi đây sẽ là nơi họp hàng tuần của Bộ Chính trị. Căn nhà kiên cố mà Bộ Chính trị làm cho Bác đã trở thành trụ sở của Bộ Chính trị như thế đó”.Người cảnh vệ năm nào kể: Nhiều đêm, Bác xuống hầm để ở, tránh bom, vì thế trong nhà có một chiếc giường. Từ ngày 12/8/1969, tuy mệt nhưng Bác vẫn lên, xuống nhà đó. Đến ngày 17/8, Bác yếu đi nhiều, bác sỹ đề nghị Bác ở lại. Bác chấp hành ý kiến. “Không ngờ, căn nhà đó lại là nơi chứng kiến những ngày cuối cùng của Bác, chứng kiến quy luật của cuộc đời”.Ở bên Bác đến 3 năm, hình ảnh in đậm nhất trong trí nhớ của ông Trần Viết Hoàn là hình ảnh vị lãnh tụ ngồi làm việc, mặc quần cộc, áo cộc rất thoải mái, bên chiếc đèn bàn có chao làm bằng giấy hồng. “Gương mặt Bác hồng lên, gió thổi nhẹ làm chòm râu đung đưa. Những lúc ấy, Bác giống hệt một ông tiên”.Ông Trần Viết Hoàn nhận quyết định làm Giám đốc Khu Di tích Phủ Chủ tịch vào 8h sáng ngày 8/8/1988. Suốt trong 16 năm đất nước bắt đầu hội nhập thế giới, “Ông từ giữ đền” đã có hơn 60 lần tiếp các nguyên thủ quốc gia, những người lần đầu tiên đến thăm Việt Nam.”Đoàn nào có ông Hoàn xuất hiện, tiếp đón, thuyết minh thì không khí trang trọng lên rất nhiều”, các cán bộ của ông nói. Ông nhớ mãi chuyến du lịch sang Nga cùng vợ tháng 11/2002. Dù chỉ đi một tuần lễ nhưng vợ chồng ông được Bộ Văn hóa Nga tiếp đón thân tình, theo yêu cầu của đích thân Tổng thống Putin.”Ấy là nhờ một năm trước đó, sau khi thăm xong khu Di tích, Tổng thống Putin dừng lại nói với tôi: Tôi xin hỏi ông, ông có được gặp Cụ Hồ bao giờ không? Tôi trả lời: Cám ơn Tổng thống, tôi là một trong những người trực tiếp bảo vệ Bác Hồ. Ông Putin bèn nói: Tôi rất kính trọng Bác Hồ. Tôi sẽ mời ông và cả phu nhân sang thăm Nga. Ngay 4 giờ chiều nay, tôi bay về nước, mời ông đi ngay với tôi”.Trước lời mời bất ngờ của Tổng thống Nga, ông Hoàn phải tìm cách thoái thác: “Tôi còn công việc bề bộn, thu xếp chưa xong. Xin khất ngài vào dịp khác”. Nghe vậy, Tổng thống Putin yêu cầu vị đại sứ đi cùng làm việc với Bộ Văn hóa Nga thu xếp một chuyến thăm Nga cho ông Hoàn và vợ. Trước đó, vào năm 1998, sau khi được ông Hoàn tiếp đón, Ủy viên Bộ Chính trị, Trưởng Ban Tổ chức TW Đảng CS Trung Quốc Tăng Khánh Hồng cũng quyết định mời ông Hoàn sang thăm Trung Quốc và giao cho Nhà tưởng niệm Mao Trạch Đông tiếp đón ông. Sau chuyến đi của ông Hoàn, Khu Di tích Phủ Chủ tịch và Nhà tưởng niệm đã kết nghĩa với nhau và duy trì những chuyến thăm hỏi, học tập lẫn nhau đến tận bây giờ. Còn rất nhiều kỷ niệm nữa giữa ông Hoàn với các vị lãnh đạo cấp cao trên thế giới, từ chuyện tặng Huy hiệu Bác Hồ cho Chủ tịch Cuba Fidel Castro, chuyện “đuổi theo” Tổng thống Pháp Mitterrand khi ông bất ngờ vào thăm ao cá Bác Hồ… Vị cựu Giám đốc Khu Di tích Phủ Chủ tịch chẳng khác nào một pho từ điển sống. “Có ai được những diễm phúc ấy. Tôi cho rằng đó là “lộc” của Cụ Hồ. Hưởng lộc, hưởng phước mà Cụ ban cho thì phải sống và làm việc cho xứng đáng”, ông Hoàn vẫn tự răn mình.Người lính bảo vệ Bác năm xưa tự hào trong suốt cuộc đời luôn giữ được mình, rèn mình không để vi phạm điều gì về đạo đức, nhân cách, không mảy may thu vén mưu lợi riêng. Nay đã ngoại lục tuần, ông Trần Viết Hoàn đang chuẩn bị tập hợp các bài viết, các bài nói chuyện của mình thành một cuốn sách. “Nhớ Bác Hồ, những điều bình dị” – người cảnh vệ năm xưa của Hồ Chủ tịch dự định đặt tên cho cuốn sách mà mình ấp ủ lâu nay.

Theo Báo Vietnam net

bqllang.gov.vn