Tag Archive | Chính trị – Xã hội

Chuyện kể của người chiến sĩ quyết tử năm xưa

QĐND Online – Năm nay đã 91 tuổi, song ông Nguyễn Trọng Hàm-người chiến sĩ quyết tử của Thủ đô năm xưa vẫn còn rất khỏe mạnh và minh mẫn. Gần đến ngày kỷ niệm 65 năm Ngày toàn quốc kháng chiến, chúng tôi có may mắn được gặp ông, nghe ông kể về những ngày Hà Nội sục sôi khí thế “Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh” của 65 năm về trước…

Ông Nguyễn Trọng Hàm

Đại tá Nguyễn Trọng Hàm nhiều năm nay là Trưởng ban liên lạc truyền thống quyết tử Liên khu 1 anh hùng. Trước khi về hưu (năm 1983), ông là Phó tham mưu trưởng Quân khu Thủ đô (nay là Bộ tư lệnh Thủ đô). Ông Nguyễn Trọng Hàm bắt đầu tham gia hoạt động cách mạng từ năm 1944, với nhiệm vụ tuyên truyền, rải truyền đơn. Tháng 5-1945, ông đã làm cho quân Nhật thất điên bát đảo, khiếp sợ khi trực tiếp giết chết một tên quan năm Nhật ngay giữa Thủ đô. Với “vốn liếng” kinh nghiệm ấy, khi toàn quốc kháng chiến, ông đã là Trung đội trưởng Trung đội 2 (Tiểu đoàn 102, Trung đoàn Thủ đô).

– Trước đó, Tiểu đoàn 102 còn được gọi là Khu Đông Thành; Tiểu đoàn 101 là Khu Đồng Xuân và Tiểu đoàn 103 là Khu Đông kinh nghĩa thục, đều trực thuộc Liên khu 1, Đại tá Nguyễn Trọng Hàm tâm sự.

Trung đội 2 do ông Nguyễn Trọng Hàm chỉ huy còn được gọi là Trung đội Hàng Thiếc. Sở dĩ gọi như vậy bởi lực lượng gia nhập Trung đội 2 khi ấy chủ yếu là công nhân ở phố Hàng Thiếc, gia đình ông Hàm cũng sinh sống tại khu phố này.

Đại tá Nguyễn Trọng Hàm bộc bạch:

– Về mặt chiến lược của chúng ta lúc đó vẫn là mềm dẻo, linh hoạt nhằm cứu vãn hòa bình, đúng như lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Chúng ta muốn hòa bình”. Tuy nhiên, chúng ta vẫn phải gấp rút chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu.

Công tác chuẩn bị chiến đấu tại các đơn vị của Trung đoàn Thủ đô khi đó diễn ra rất khẩn trương. Mỗi buổi tối, ông Hàm đều tổ chức cho Trung đội 2 luyện tập đội ngũ, với mục đích tạo ý thức tập thể cho anh em chiến sĩ. Đồng thời tăng cường huấn luyện phương pháp sử dụng các loại vũ khí có trong biên chế.

– Súng ống khi đó rất ít, chủ yếu được bà con mua, tặng chúng tôi. Còn lại chủ yếu là mã tấu, dao găm. Song khi ấy, mọi người đều nhận thức rằng, vũ khí không phải là tất cả, ta chiến đấu trên những con phố ta sinh sống, với lòng yêu nước và ý chí quyết tâm cao, chúng ta sẽ chiến thắng- ông Hàm nhớ lại.

Tối nào cũng vậy, phố Hàng Thiếc luôn sôi động bởi không khí luyện tập của các chiến sĩ quyết tử. Bà con dân phố mang đèn ra treo trước cửa, xem và động viên các chiến sĩ luyện tập.

Khi nói đến chuyện những quả bom ba càng, ánh mắt ông Nguyễn Trọng Hàm vụt sáng. Ông bồi hồi kể: “Khi đó, Trung đội 2 có 36 cán bộ, chiến sĩ. Ai cũng muốn được chọn vào đội hình luyện tập, sử dụng loại vũ khí đặc biệt này, dẫu biết sẽ hy sinh khi ôm bom ba càng xung trận. Tuy nhiên, qua kiểm tra thể lực và sự nhanh nhẹn, khéo léo, chỉ có 10 chiến sĩ được lựa chọn để huấn luyện sử dụng bom ba càng”…

Cột điện, gốc cây thành nơi … diệt địch

Chuẩn bị cho toàn quốc kháng chiến, ta đã vận động nhân dân mua tích trữ gạo. Theo Đại tá Nguyễn Trọng Hàm, nhờ tích cực chuẩn bị lương thực như vậy nên quân và dân Thủ đô Hà Nội đã chiến đấu liên tục, hiệu quả trong 2 tháng trời ròng rã.

Trên những phố được xác định địch sẽ tiến quân ra, ta đều triển khai chướng ngại vật, nhằm cản bước tiến của chúng. Nhiều phố đã khoan thân cây, gài mìn vào đó, sẵn sàng cho nổ khi địch tới. Tương tự, nhiều cột đèn cũng được ta cài mìn. Các cột điện cũng được ta lợi dụng triệt để nhằm bố trí các ụ súng bắn qua lỗ trên thân cột điện; đồng thời cột điện cũng trở thành “lá chắn” bảo vệ quân ta trước làn đạn của kẻ thù.

– Chuyện đục tường, nối thông các nhà ở nội đô Hà Nội trong những ngày toàn quốc kháng chiến đã trở thành nét sáng tạo của phương thức chiến đấu- ông Nguyễn Trọng Hàm kể tiếp- vì đặc điểm kiến trúc của mỗi nhà khác nhau, nên những bức tường đục đã tạo nên “ma trận” với quân Pháp, khi chúng cơ động qua đó.

Các chiến sĩ Trung đội 2, Tiểu đoàn 102, Trung đoàn Thủ đô. Ông Nguyễn Trọng Hàm đứng thứ 4, từ trái qua. Ảnh chụp lại

Chiều 19-12-1946, ông Nguyễn Trọng Hàm đã nhận được thông tin đêm đó sẽ diễn ra những trận đánh ác liệt, mở đầu cho toàn quốc kháng chiến.

Tối 19-12, ông cùng một số chiến sĩ của Trung đội 2 đi nhận vũ khí ở cơ sở của ta, gồm 50 quả lựu đạn, 2 quả bom ba càng và một số giáo mác, mã tấu.

Cầm vũ khí trong tay, tất cả đều hồi hộp đón chờ thời khắc vùng lên tiêu diệt kẻ thù…

“Lấy thô sơ thắng hiện đại”

Người lính già Nguyễn Trọng Hàm rưng rưng xúc động khi nhớ lại lời Chủ tịch Hồ Chí Minh, ghi trong “Thư Bác Hồ gửi các chiến sĩ yêu quý của Trung đoàn Thủ đô”, ngày 27-1-1947. Ông bảo: Còn gì sung sướng hơn khi vị lãnh tụ cao nhất gọi các chiến sĩ quyết tử của Liên khu 1 anh hùng bằng cái tên chung – “các em”- trìu mến, ấm áp như thế. Và thực tế là từ những thời khắc đầu tiên cho đến suốt 2 tháng sau đó, các chiến sĩ của Trung đoàn Thủ đô nói chung, Trung đội 2 của ông Nguyễn Trọng Hàm nói riêng, đã anh dũng chiến đấu, lập nên những chiến công vang dội giữa lòng Thủ đô.

Dừng lời kể, nhấp thêm ngụm trà, Đại tá Hàm hào hứng nhớ lại: “Đúng 20 giờ 03 phút ngày 19-12-1946, ánh đèn trên các đường phố Hà Nội vụt tắt. Từ pháo đài Láng, Xuân Canh… tiếng nổ vang dậy khắp thành phố, báo hiệu cuộc kháng chiến toàn quốc bắt đầu”.

Mặc dù đã được chuẩn bị rất kỹ càng cho trận đối đầu được dự đoán sẽ rất quyết liệt trong đêm 19-12, song những giờ đầu tiên, quân Pháp tập trung đánh vào Bắc Bộ Phủ…mà chưa qua phố Hàng Thiếc. Khi đó, lực lượng của Trung đội 2 đã được phân tán nhỏ lẻ, sẵn sàng chặn chân địch tại các phố Hàng Thiếc, Thuốc Bắc, Lãn Ông, Hàng Ngang, Hàng Đào…

Những ngày sau đó, chiến sự diễn ra ác liệt. Đến ngày 7-2-1947, Trung đội 2 của Đại tá Hàm đã thực sự trải qua một cuộc “thử lửa” khốc liệt với quân Pháp.

Tượng đài Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh trên vườn hoa Vạn Xuân nhắc nhở mọi người nhớ về một Hà Nội máu lửa của mùa Đông 1946

Ông Hàm bồi hồi kể lại: “Hôm đó, địch từ phố Hàng Bông, qua Hàng Nón, có ý địch “thọc sườn” phố Hàng Thiếc. Lực lượng của chúng có khoảng một đại đội, với sự yểm trợ của xe bọc thép”.

Vào phố Hàng Thiếc, “ma trận” được tạo nên từ những bức tường đục đã đưa quân Pháp vào…bước đường cùng. Do tường chỉ được đục vừa với thân hình của chiến sĩ ta, nên những tên địch có hình thể “kềnh càng” chui qua rất khó khăn. Chúng luôn phải đưa súng qua lỗ trước, sau đó mới “nhồi” người qua. Khi chúng chui đến nhà thứ 12, tên đi đầu bị quân ta bất ngờ dùng đòn gánh đập trúng đầu, khi hắn vừa thò đầu qua lỗ. Khi tên đi trước bị “nhét” trong lỗ, bọn đi sau hoảng loạn, ú ớ. Quân ta mai phục trên gác các căn nhà gần đó ném lựu đạn xuống, tiêu diệt khoảng chục tên, số còn lại bỏ chạy tán loạn.

– Đó là một trong những trận đánh khá tiêu biểu của Trung đội 2 trong 2 tháng chiến đấu giữa Thủ đô. “lấy thô sơ thắng hiện đại”, “lấy ít thắng nhiều”, “lấy yếu thắng mạnh”, đó là phương thức tác chiến chủ yếu của ta trong những ngày đáng nhớ ấy, Đại tá Nguyễn Trọng Hàm tâm đắc.

Với tinh thần ngoan cường, dũng cảm của quân và dân Thủ đô, suốt 60 ngày đêm khói lửa, ta không những đã giam chân địch trong nội thành, ngăn chặn chúng mở rộng đánh ra các vùng lân cận, mà còn phá vòng vây của địch, bảo vệ Trung ương Đảng, Chính phủ và nhân dân Thủ đô sơ tán trở lại vùng tự do, căn cứ địa cách mạng an toàn.

Khi chúng tôi nói lời chia tay với người chiến sĩ quyết tử của Thủ đô 65 năm trước, cũng là lúc ông nhận được điện thoại của bà Vũ Thị Nhàn, năm nay đã 80 tuổi, chiến sĩ nữ của Tiểu đoàn 103 năm xưa. Nghe xong điện thoại, Đại tá Nguyễn Trọng Hàm chia sẻ: “Ngày mai chúng tôi lên đài PT-TT Hà Nội, làm chương trình kỷ niệm 65 năm Ngày toàn quốc kháng chiến. Ở cái tuổi gần đất xa trời, sức khỏe giảm sút, nhưng chúng tôi vẫn có thể giúp lớp trẻ hôm nay hiểu hơn về một thế hệ quyết tử của Thủ đô huyết lệ, để các cháu thêm hiểu và trân trọng lịch sử, từ đó sống có ích hơn cho xã hội”…

Bài, ảnh: Phạm Hoàng Hà
qdnd.vn

Lặng thầm cho những chuyến đi

QĐND Online – Trong nhà riêng ở xã Quang Lộc, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh, Đại tá-CCB Nguyễn Hữu Tuần, nguyên Trưởng ban Tác chiến- Huấn luyện Lữ đoàn 125, người trực tiếp làm kế hoạch cho các đội Tàu không số, kể với chúng tôi về những kỷ niệm của một thời hoa lửa vẫn vẹn nguyên trong ông…

Chuẩn bị cho những chuyến đi-vài câu chuyện nhỏ

Về Đoàn 125, tôi được giao nhiệm vụ biên soạn và bổ sung các phương án chiến đấu, phương thức đi biển, giao thả hàng, để các đội tàu đi dài ngày trên biển độc lập tác chiến và xử trí mọi tình huống. Trước đó, các tàu của ta không có hải đồ tỷ lệ nhỏ ven biển miền Nam để tham khảo vào bến chính xác, mà chỉ có loại hải đồ 1/1.000.000 dùng ở miền Bắc. Chúng tôi có sáng kiến và được thủ trưởng Đoàn đồng ý mở lớp huấn luyện cho cán bộ, chiến sĩ hàng hải cách đo xác định vị trí tàu bằng thiên văn. Có lẽ đây là phương pháp định vị tàu độc nhất vô nhị trên thế giới: chỉ với máy 1/6, chân trời-góc biển tưởng tượng, các sao cố định.

Cùng thời gian đó, nước bạn nhận cải dạng một số tàu theo mẫu thiết kế của ta và đóng mới cho ta hai tàu vận tải tốc độ cao, có trang bị ra-đa phát hiện mục tiêu, dẫn đường, để né tránh địch và vào bến.

Tháng 8-1965, Tàu 68 do đồng chí Đỗ Văn Bé làm thuyền trưởng, Trần Ngọc Ẩn làm Chính trị viên cải dạng, đi trinh sát toàn khu vực biển Đông và khu vực quần đảo Trường Sa, đồng thời kiểm tra kết quả lớp học xác định vị trí tàu bằng thiên văn. Kết quả chuyến trinh sát được đưa về Đoàn, làm cơ sở để nghiên cứu những yếu tố sơ hở của địch và lựa chọn phương pháp đưa tàu của ta về bến giao hàng hoặc quay về an toàn. Trong chuyến đi này có chuyện rất vui mà anh em Đoàn còn nhớ mãi. Khi giao nhiệm vụ cho cán bộ chiến sĩ tàu, tôi quán triệt quy định “tuyệt đối không được lên đảo”. Đến khi về, tôi cũng là người đầu tiên xuống gặp anh em để nắm tình hình để viết bản tổng kết. Khi xuống tàu thì nghe tiếng kêu “chiếp chiếp” trong khoang hàng. Tôi hỏi: “Ai cho các đồng chí nuôi gà trên tàu?”. Đồng chí Trần Ngọc Ẩn báo cáo, khi tàu qua khu vực quần đảo Trường Sa, một số cán bộ, chiến sĩ lên đảo nắm tình hình và lấy hàng tạ trứng chim xuống tàu. Trứng ăn không hết, để dưới hầm hàng có hơi ẩm nên khi về đến Hải Phòng nhiều trứng đã nở ra chim…

Đại diện Ban liên lạc Hội truyền thống Đường Hồ Chí Minh trên biển 2 tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, báo cáo hoạt động với nguyên Chủ tịch nước Lê Đức Anh. Đại tá Nguyễn Hữu Tuần ngoài cùng bên phải. Ảnh chụp lại

Kỷ niệm không phai về đồng đội

Có nhiều năm gắn bó với cán bộ, chiến sĩ của các đội tàu, tôi hiểu rõ tính từng người. Anh em “trên bến dưới thuyền” gắn bó với nhau như ruột thịt. Thuyền trưởng Nguyễn Chánh Tâm (Tàu 165) trước lúc lên đường đã mở túi áo lấy chiếc ví bên trong có một ít tiền và tấm ảnh kỷ niệm của gia đình chụp trước ngày anh lên đường tập kết ra Bắc, nhờ tôi giữ để sau chuyến đi về nhận lại. Nhưng chuyến đi ấy anh đã không về. 18 giờ ngày 29-2-1968, Đoàn nhận được điện Tàu 165 báo về “Tàu cách bờ 20 hải lý thì gặp nhiều tàu địch”. Sở chỉ huy liên lạc với bến thì nhận được trả lời: “Đêm 29-2 bến tổ chức đón. Quan sát ra ngoài biển có nhiều vết lửa đạn bắn lên, sau đó nghe một tiếng nổ và cột lửa bốc lên cao”. Mọi người lúc này mới biết Tàu 165 đã dũng cảm chiến đấu với địch và điểm hỏa phá hủy tàu để giữ bí mật. Chiếc ví của Nguyễn Chánh Tâm đã được tôi gửi lại cho đồng chí cán bộ chính sách của Đoàn, chờ ngày chiến thắng đưa về cho gia đình đồng chí Tâm.

Có lẽ với tôi, cuộc chia tay Nguyễn Phan Vinh sẽ là kỷ niệm không bao giờ quên. Phan Vinh quê ở Điện Bàn, Quảng Nam, là một thuyền trưởng được đào tạo chính quy, có trình độ chỉ huy và chuyên môn nghiệp vụ rất giỏi. Tháng 12-1968, Phan Vinh trên cương vị là Thuyền trưởng Tàu 235, nhận nhiệm vụ chuyển hàng vào bến Ninh Vân, cách Nha Trang 15km về phía Bắc. Trước đó, Vinh đã đi trên 10 chuyến thành công vào các tỉnh Cà Mau, Bến Tre, Trà Vinh…. Đêm 26-12-1968, tiễn chân Vinh ở Vịnh Hạ Long có tôi và đồng chí Trần Phong. Biết chuyến đi này sẽ vô cùng cam go, chúng tôi trao đổi với nhau cách đối phó với địch trong những tình huống có thể xảy ra. Trao đổi xong công việc, Phan Vinh tâm sự: “Em sắp đến tuổi tứ tuần, chưa vợ con. Trong cuộc sống đời thường, có nhiều người rất thương yêu em nhưng em không muốn ngỏ lời yêu vì biết nhiệm vụ của mình rất nặng nề, có thể hy sinh bất cứ lúc nào. Em biết chuyến đi này thực sự khó khăn. Các thủ trưởng đã tin tưởng giao cho em con tàu vận tải mới, hiện đại, em sẽ quyết tâm đưa hàng vào đến bến”.

1 giờ sáng ngày 27-2-1968, chúng tôi chia tay. Tàu Phan Vinh xuất phát sang đảo Hải Nam tìm đường vào bến, tàu chúng tôi trở về Hải Phòng và dõi theo chuyến đi của Vinh. Đến 19 giờ ngày 29-2, chúng tôi nhận được điện Phan Vinh báo về: “Tàu địch đã phát hiện tàu ta còn cách bờ 50 hải lý. Trời rất tối, tôi quyết tâm tránh né địch đưa tàu vào bãi”. 22 giờ, bức điện thứ 2 gửi về có nội dung: “Có nhiều tàu địch từ bờ ra bám theo chúng tôi, chúng càng ra nhiều tôi càng dễ tránh để tiếp tục vào bờ”. Đến 1 giờ ngày 1-3-1968, bức điện thứ 3 và cũng là bức điện cuối cùng được gửi về từ tàu 235. Trên vùng biển Hòn Hèo lúc đó đã diễn ra trận đánh không cân sức. Phan Vinh và một số đồng chí khác hy sinh, 5 đồng chí sống sót là Vũ Long An, Nguyễn Văn Phong, Hà Minh Thật, Lê Duy Mai, Lâm Quang Tuyến, sau 6 tháng đi bộ vượt đường Trường Sơn đã về đến Đoàn và tổ chức viết bản tổng kết trận đánh, làm tài liệu học tập cho cán bộ, chiến sĩ trong Đoàn.

Suốt 14 năm chi viện cho miền Nam (1961-1975), Đoàn 125 đã thực hiện khẩu hiệu “Quân lệnh như sơn, có lệnh là đi”, thiết lập một con đường huyền thoại không hoa tiêu, không cầu cảng, chỉ có trái tim và niềm tin tất thắng của những con người quả cảm. Những đồng đội của tôi, nay người còn, người mất, nhưng những kỷ niệm về họ, về con đường mà chúng tôi đã cùng gây dựng vẫn còn mãi với thời gian.

Bích Trang (Ghi theo lời kể của Đại tá Nguyễn Hữu Tuần)
qdnd.vn

Đánh máy bay địch bằng mọi quy mô, từ mọi hướng

QĐND Online – Tháng 10, khi cả nước sôi nổi tổ chức kỷ niệm 50 năm Ngày mở đường Hồ Chí Minh trên biển, chúng tôi đến thăm những cán bộ của Đội thuyền 128 (Đội giao thông tình báo trên biển) anh hùng năm xưa. Họ là những người tiên phong mở ra một cung đường biển vận chuyển cán bộ, tài liệu, vũ khí giữa hai miền Bắc-Nam. Tuy nhiên, những chiến công thầm lặng ấy chưa được nói tới nhiều…

Khởi đầu bí mật

Trong gian nhà nhỏ trên đường Trần Tấn Mới (tên Anh hùng LLVTND của Đội thuyền 128), thành phố Đà Nẵng, Thiếu tướng, Trần Tiến Cung (năm nay 82 tuổi), nguyên Phó tổng cục trưởng Tổng cục II, người trực tiếp chỉ huy Đội thuyền 128 năm xưa bồi hồi kể lại câu chuyện cách đây hơn nửa thế kỷ…

Năm 1954, sau khi hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết, tình hình miền Nam thay đổi, chính quyền ngụy được dựng lên và thi hành nhiều chính sách thâm độc, đánh phá ác liệt và kiểm soát gắt gao vùng giới tuyến. Trước bối cảnh đó, Bộ Chính trị, Trung ương Đảng và Bác Hồ đã xác định yêu cầu giao thông phải mở đường đi trước. Khi nhiệm vụ cách mạng thôi thúc, ngành tình báo đã khẩn trương, tích cực đẩy mạnh hoạt động giao thông. Đến đầu năm 1956, lãnh đạo, chỉ huy Nha Liên lạc-Cục Quân báo-Bộ Tổng tham mưu (nay là Tổng cục II-Bộ Quốc phòng) đã xác định nhiệm vụ tập trung lực lượng giải quyết về tổ chức giao thông và duy trì thông suốt. Theo Thiếu tướng Trần Tiến Cung, khi đó Trung ương Đảng, Bác Hồ và Quân ủy trung ương đã triệu tập đồng chí Nguyễn Đôn, Phó tư lệnh Liên khu V và đồng chí Lê Câu, Trưởng ban tình báo Khu vực phi quân sự ra miền Bắc để giao nhiệm vụ. Sau khi về, hai đồng chí đã phổ biến lại nhiệm vụ cấp trên giao là đưa một lực lượng ra Bắc tập kết trong 2 năm, đồng thời chuẩn bị lực lượng tại chỗ để quản lý khu vực tập kết quân 300 ngày và cả cho lâu dài. Vào thời điểm đó, việc di chuyển từ Nam ra Bắc và ngược lại vô cùng khó khăn, phải mất hàng tháng trời.

Vượt qua nhiều cản trở, ngành tình báo quyết định tổ chức lực lượng giao thông thủy gồm nhiều tổ thuyền, mỗi tổ thuyền thành lập một chi bộ. Tháng 3-1956, 2 tổ thuyền đầu tiên được thành lập lấy tên là Thống Nhất và Trung Hòa. Đây chính là thời điểm đánh dấu sự ra đời Đội thuyền 128 anh hùng của ngành tình báo. Ngay từ khi thành lập, các chi bộ đã nhận định, cho dù địch đánh phá, có thể bị bắt, có thể hy sinh, nhưng nhiệm vụ Đảng, tổ chức giao bằng mọi giá phải hoàn thành. Đầu năm 1956, Nha Liên lạc đã cử một đồng chí Trưởng phòng Giao thông vào trạm đầu cầu Vĩnh Linh để nắm tình hình, tiếp cận địa bàn, nghiên cứu, tổ chức thăm dò, xác định thời gian, cự ly vào cửa Tư Hiền (Thừa Thiên-Huế), Nam Ô (Đà Nẵng)…

Đại tá Trần Xuân Tự (80 tuổi), nguyên Cục trưởng Cục 11 đã từng tham gia chỉ huy Đội thuyền 128 kể rằng, với những chiếc thuyền nan thô sơ của buổi ban đầu, các chiến sĩ giao liên tình báo đã dũng cảm vượt qua giới tuyến vào Huế, Đà Nẵng…trước sự kiểm soát gắt gao của địch, để nối thông đường giao thông thủy. Cũng trong tháng 3-1956, trạm Vĩnh Linh tổ chức thuyền đi khảo sát địa bàn vùng Thanh Khê, Xuân Hà (Đà Nẵng) đồng thời thu thập các loại mẫu giấy tờ, con dấu cần thiết để hợp thức hóa cho đội thuyền Vĩnh Linh. Vào tới Đà Nẵng, đoàn đã móc nối được với cấp ủy địa phương để nắm tình hình và khi trở ra đã đưa một cán bộ Thường vụ Thành ủy Đà Nẵng ra Bắc hoạt động do đã bị lộ…Đó là những chuyến đi khai phá mở đường trên biển đầu tiên của lực lượng tình báo, bảo đảm thắng lợi, an toàn tuyệt đối. Thêm vào đó, đã để lại những kinh nghiệm hình thành phương thức giao thông thủy trên biển Đông một cách đồng bộ, vững chắc, góp phần mở ra ý tưởng táo bạo cho Đoàn tàu không số vượt đại dương tiếp tế cho chiến trường miền Nam.

Đại tá Trần Xuân Tự trò chuyện với thế hệ cán bộ tình báo hôm nay

Hoạt động trong thầm lặng

Ông Nguyễn Xuân Đích (83 tuổi), nguyên là thợ máy của Đội thuyền 128 và Đoàn tàu không số kể lại, ông đã vinh dự được phục vụ Bác Hồ, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Anh hùng Liên Xô Giéc man-Ti tốp… cùng rất nhiều cán bộ cao cấp của Đảng và quân đội Việt Nam. Tuy nhiên, do đặc thù nhiệm vụ của ngành tình báo nên ông Đích cùng với các đồng đội khác đều tuyệt đối bí mật, giữ im lặng về công việc của mình. Ông nói rằng: “Suốt một thời gian dài phục vụ Đội thuyền 128 cũng như sau này phục vụ Đoàn tàu không số, những cán bộ, chiến sĩ chúng tôi đều nhận thức rõ vai trò, trách nhiệm của mình. Vì vậy chúng tôi chỉ làm mà không nói ra những việc mình đang làm”. Một trong những kỷ niệm ông Đích nhớ nhất là được nói chuyện với Bác Hồ trên chuyến tàu ông phục vụ Bác.

Từ 2 tổ thuyền ban đầu, ngành tình báo đã phát triển thành đội thuyền mang phiên hiệu 128 gồm 26 tổ thuyền với 183 đồng chí, có nhiệm vụ bảo đảm thông tin liên lạc tình báo Bắc-Nam; tổ chức thực hiện kế hoạch phái khiển cán bộ, giao thông viên, nhân viên kỹ thuật cơ động theo chỉ thị của cấp trên. Ngoài ra, còn tổ chức nắm tình hình địa bàn, thu thập giấy tờ hợp pháp của người, tàu, mua máy, đóng mới thuyền, trang bị hàng hóa, ngư cụ theo yêu cầu, chuyên chở vũ khí, phương tiện tiếp tế cho các trạm tình báo…Đội thuyền 128 khi đó hoạt động dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Ban Giao thông thủy, nằm trong tổ chức Phòng 73 của ngành tình báo. Mỗi thuyền thành lập một chi bộ, chi ủy lãnh đạo trực tiếp, thuyền trưởng kiêm bí thư chi bộ, thuyền phó phụ trách hậu cần và đời sống, còn lại là 4-5 thuyền viên…Sự khác biệt của Đội thuyền 128 với Đoàn tàu không số chính là ở chỗ chủ yếu hoạt động trên các thuyền nhỏ, gần bờ theo nguyên tắc bí mật, cự ly, đơn tuyến. Mỗi thuyền được hợp thức hóa về người, phương tiện, giấy tờ tùy theo từng địa phương như thẻ ngư phủ, thẻ căn cước, do chính quyền ngụy cấp, có câu chuyện ngụy trang phù hợp để đi từ vùng này sang vùng khác, làm ăn theo mùa…Đội thuyền 128 của ngành tình báo đã áp dụng hình thức đột kích qua ranh giới, hướng thẳng biển Đông, xuôi dần vào Nam, nhằm thẳng điểm đến, sẵn sàng đột nhập vào bờ ban đêm rồi nhanh chóng rút lui tới địa điểm khác, tránh sự theo dõi của kẻ địch. Khi thấy tình hình giới tuyến có biến động, các thuyền sẽ chủ động tiến thẳng ra hải phận quốc tế, sau đó cập bến ở điểm khác…

Thiếu tướng Trần Tiến Cung nhớ lại, do yêu cầu công tác nắm địch ngày càng khẩn trương nên các chuyến liên lạc tăng, đội thuyền phát triển lên nhiều tổ thuyền, đường đi dài hơn từ cửa biển phía Bắc tới tận Nha Trang, Phan Thiết…thuộc vùng địch kiểm soát. Từ năm 1965, Mỹ-Ngụy kiểm soát gắt gao trên biển, trong khi đó mỗi thuyền chỉ có một chiếc la bàn, nhiều khi cán bộ, giao liên phải nhìn trăng, sao để xác định hướng đi. Mỗi chuyến đi là một lần đối mặt với muôn vàn hiểm nguy. Có lần để bảo đảm bí mật đường dây liên lạc, cán bộ của tổ phải hủy thuyền rồi bơi vào bờ hay khi gặp bão biển, thuyền phải neo cả tuần ngoài đảo vắng hoặc kẹt ở bến cảng của địch hàng tháng trời. Nhưng với tinh thần mưu trí, dũng cảm, sáng tạo, các chiến sĩ giao thông tình báo đã bình tĩnh đối phó, xử lý các tình huống bảo đảm an toàn cho tài liệu, con người và phương tiện.

Chiến công không lời

Kể từ khi thành lập (tháng 3-1956) đến tháng 4-1975, Đội thuyền 128 đã tổ chức thực hiện 263 chuyến đưa đón cán bộ, vận chuyển tài liệu, vũ khí…vào Nam ra Bắc. Có những thuyền đã phục vụ hàng trăm lượt cán bộ, nhân viên giao thông, tổ chức cụm trạm tình báo ở địa bàn ven biển. Đội cũng đã tiến hành 6 chuyến tiếp tế cho các cụm, 9 chuyến nắm tình hình, thu thập con dấu, giấy tờ, tài liệu ở địa bàn cực Nam. Đặc biệt có những chuyến đưa đón đột xuất cán bộ cao cấp của trên vào địa bàn. Điển hình như tổ thuyền Tiền Phong thành lập tháng 10-1956, với 22 đồng chí, đã thực hiện 46 chuyến đưa cán bộ vào chiến trường và về Bắc; liên lạc với cán bộ địch hậu, giao nhận tài liệu và đưa cán bộ, tiếp tế tài chính xây dựng các căn cứ. Tổ thuyền đã được tặng thưởng Huân chương Chiến công Hạng nhất, Nhì, Ba và đạt danh hiệu Quyết thắng 6 năm liền (1969-1975). Đồng chí Trần Tấn Mới, phụ trách tổ Tiền Phong đã được phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVTND năm 1973. Anh hùng Trần Tấn Mới không chỉ là một thuyền trưởng giỏi mà còn là một giao thông viên dày dặn kinh nghiệm với nhiều năm hoạt động trong vùng địch. Ngày nay, một con đường tại thành phố Đà Nẵng đã được đặt Tên ông: Trần Tấn Mới. Trước đó, ngày 28-5-1970, Đội Giao thông tình báo trên biển 128 cũng đã được nhận danh hiệu Anh hùng LLVTND.

Ông Trần Xuân Đích giới thiệu tấm ảnh chụp chung với Bác Hồ

Đồng chí Trần Việt Tám (81 tuổi), nguyên Thượng tá tình báo, phục vụ Đội thuyền 128 đã khóc khi nói với chúng tôi về đơn vị của ông. Trong suốt 19 năm đội giao thông tình báo trên biển đã lập nhiều chiến công, trải qua mọi khó khăn thử thách, giữ vững khí tiết người cách mạng nhưng cũng có những mất mát và hy sinh. Đã có 43 đồng chí bị địch bắt và tù đày, 10 đồng chí hy sinh để con đường giao thông trên biển thông suốt và hiệu quả. Sau ngày giải phóng, Đội thuyền 128 được giải tán, có người trở về quê hương, có người ly tán trên nhiều vùng miền của Tổ quốc, nên việc giữ liên lạc, ghi nhận chiến công, tri ân đồng đội còn nhiều hạn chế…Sau này khi tổ chức công nhận, thực hiện chế độ chính sách thì nhiều đồng chí đã không còn nữa hoặc mất liên lạc. Nhiều đồng chí còn sống nhưng mang trên mình thương tật hoặc có cuộc sống khó khăn, nhưng tất cả đều giữ trọn phẩm chất, đạo đức trong sáng, bản lĩnh vững vàng của người chiến sĩ đội thuyền anh hùng. Họ là những tấm gương sáng để cán bộ, chiến sĩ tình báo quốc phòng hôm nay học tập, noi theo.

Bài và ảnh: Hoàng Trường Giang
qdnd.vn

Ngày 21 tháng 1: “Tôi tuyệt nhiên không ham danh lợi”

Thứ tư, 21/01/2009, 01:56 (GMT+7)

Việt Nam - Hồ Chí Minh

83 năm trước, vào ngày 21-1-1926, nhân 2 năm ngày V.Lênin mất, Nguyễn Ái Quốc, lúc này đang hoạt động ở Trung Quốc, đã viết bài báo “Lênin và phương Đông” đăng trên tờ “Tiếng Còi” (Liên Xô), trong đó khẳng định: “Lênin là người đầu tiên đã đặt cơ sở cho một thời đại mới, thật sự cách mạng trong các nước thuộc địa”, “Đối với tất cả các dân tộc bị áp bức và bị nô dịch, Lênin đã thể hiện một bước ngoặt trong lịch sử cuộc đời đau khổ và bị mất quyền của họ, là tượng trưng cho một tương lai mới, xán lạn”.

2 thập kỷ sau, ngày 21-1-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh trả lời phỏng vấn của các nhà báo nước ngoài và công bố rộng rãi như một tuyên ngôn cá nhân vào thời điểm cuộc Tổng tuyển cử đã thành công: “Tôi tuyệt nhiên không ham muốn công danh phú quý chút nào. Bây giờ phải gánh chức Chủ tịch là vì đồng bào ủy thác thì tôi phải gắng sức làm như một người lính vâng mệnh lệnh quốc dân ra trước mặt trận vậy… Tôi chỉ có một ham muốn tột bậc là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành. Riêng phần tôi sẽ làm một cái nhà nho nhỏ, nơi có non xanh nước biếc để câu cá, trồng hoa, sớm chiều làm bạn với các cụ già hái củi, em trẻ chăn trâu, không dính líu gì với vòng danh lợi. Nay tôi chỉ có một tin tưởng vào Dân tộc độc lập. Nếu cần có đảng phái thì sẽ là Đảng Dân tộc Việt Nam. Đảng đó chỉ có một mục đích là làm cho dân tộc ta hoàn toàn độc lập. Đảng viên của đảng đó sẽ là tất cả quốc dân Việt Nam, trừ những kẻ phản quốc và những kẻ tham ô ra ngoài”.

Còn cách đây 62 năm, ngày 21-1-1947 ứng với ngày 30 Tết Đinh Hợi, cái tết kháng chiến đầu tiên nhưng Bác vẫn chủ trì Chính phủ họp tại phủ Quốc Oai bàn về vấn đề tản cư dân, động viên dân chúng và tăng gia sản xuất.

Sau buổi họp, Bác đến Đài Phát thanh Tiếng nói Việt Nam đang sơ tán tại chùa Trầm để đọc “Lời kêu gọi nhân Tết Nguyên đán” và lời thơ chúc tết: “Cờ đỏ sao vàng tung bay trước gió / Tiếng kèn kháng chiến vang dậy non sông / Toàn dân kháng chiến, toàn diện kháng chiến / Chí ta đã quyết, lòng ta đã đồng / Tiến lên chiến sĩ ! Tiến lên đồng bào / Sức ta đã mạnh, người ta đã đông / Trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi / Thống nhất, độc lập nhất định thành công”.

19 năm sau, ngày 21-1-1966 cũng lại là ngày mồng một Tết Bính Ngọ, cả nước đón thơ chúc mừng năm mới của Bác Hồ. Vẫn là những vần thơ mang tính thời sự nóng bỏng: “Mừng miền Nam rực rỡ chiến công / Nhiều Dầu Tiếng, Bàu Bàng, Plây Me, Đà Nẵng… / Mừng miền Bắc chiến đấu anh hùng / Giặc Mỹ leo thang ngày càng thua nặng / Đồng bào cả nước đoàn kết một lòng / Tiền tuyến hậu phương, toàn dân cố gắng / Thi đua sản xuất chiến đấu xung phong / Chống Mỹ cứu nước, ta nhất định thắng!”.

D.T.Q và nhóm cộng sự
sggp.org.vn

Ngày 20 tháng 1: Tuổi trẻ – mùa xuân của xã hội

Thứ ba, 20/01/2009, 01:19 (GMT+7)

Việt Nam - Hồ Chí MinhVào dịp xuân đầu tiên của nước Việt Nam độc lập, Bác Hồ gửi thư tới thanh niên và nhi đồng toàn quốc nhân dịp tết sắp đến. Bức thư khởi đầu bằng những lời lẽ hết sức sâu sắc nhằm động viên giới trẻ bước vào cuộc vận động “Đời sống mới” mà người đứng đầu nhà nước phát động và đặt nhiều kỳ vọng:

“Một năm khởi đầu từ mùa xuân. Một đời khởi đầu từ tuổi trẻ. Tuổi trẻ là mùa xuân của xã hội. Vậy qua năm mới, các cháu phải xung phong thực hành “đời sống mới”. Đời sống mới là: – Hăng hái kiên quyết, không sợ khó, không sợ khổ; – Phải siêng học, phải siêng làm, phải tiết kiệm; – Việc nên làm (như ủng hộ kháng chiến, tăng gia sản xuất) thì ta không chờ ai nhắc nhủ; – Việc nên tránh (như tự tư tự lợi) thì ta không đợi ai ngăn ngừa.

Năm mới, chúng ta thực hành “đời sống mới” để trở nên những công dân mới, xứng đáng với nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa”.

Một năm sau đó, khi toàn quốc kháng chiến đã bùng nổ được gần một tháng, ngày 20-1-1947, Bác cũng không quên viết thư cho người chuyển vào thành phố, nơi chiến sự đương diễn ra ác liệt, để khuyên sư cụ chùa Ngũ Xã nên tản cư. Chiều hôm đó, con đường đến Hà Đông lầy lội đến mức các đại biểu, kể cả vị Chủ tịch nước, không đến nổi địa điểm cuộc họp đầu tiên của chính phủ dự kiến triệu tập vào buổi chiều cùng ngày chỉ cách Hà Nội hơn chục cây số.

Một năm tiếp sau, Bác và đầu não của cuộc kháng chiến đã xây dựng căn cứ vững chắc trên chiến khu Việt Bắc, ngày 20-1-1948, Bác ký nhiều sắc lệnh quan trọng. Trong đó có việc phong quân hàm Đại tướng cho Tổng chỉ huy Quân đội Quốc gia và Dân quân tự vệ Võ Nguyên Giáp (số 109), phong quân hàm cấp Thiếu tướng cho một loạt các nhà lãnh đạo quân sự mà sau này trở thành những tướng lĩnh nổi tiếng như Hoàng Văn Thái, Hoàng Sâm, Trần Tử Bình, Văn Tiến Dũng, Lê Hiến Mai… Đây là sự kiện lịch sử đánh dấu bước trưởng thành vượt bậc của Quân đội Nhân dân Việt Nam khi chỉ sau một năm đã vượt qua những thử thách vô cùng khắc nghiệt của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp nhằm bảo vệ nền độc lập dân tộc vừa giành được và quyết tâm thực hiện mục tiêu thống nhất nước nhà.

14 năm sau, ngày 20-1-1962, tại Hà Nội, Bác dự họp Bộ Chính trị bàn vấn đề chống tham ô lãng phí. Tại đây, Bác phát biểu: “Quan liêu, lãng phí, tham ô làm hại cho dân. Tham ô, lãng phí là một tội đối với nhân dân. Ai cũng phải chống… Phong trào phải làm từ trên xuống, từ dưới lên, dân chủ và phải trường kỳ. Trung ương có hội, có nghị, có quyết mà không hành là do mình không cương quyết. Không gấp nhưng phải làm cho kỳ được”.

Cùng ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký lệnh phong danh hiệu Anh hùng Lao động cho Thiếu tá Ghecman Titốp, phi công vũ trụ Liên Xô đã thực hiện chuyến bay quanh trái đất trong nhiều ngày trên con tàu vũ trụ “Phương Đông II”.

D.T.Q và nhóm cộng sự
sggp.org.vn

Ngày 19 tháng 1: Khi đặt kế hoạch, phải nhìn xa thấy rộng

Thứ hai, 19/01/2009, 01:20 (GMT+7)

Việt Nam - Hồ Chí MinhTối ngày 19-1 cách đây 89 năm (1920), Nguyễn Ái Quốc đi cùng một đồng bào người Việt xem tại Nhà hát Nouveau Lirique ở Paris. Trong khi theo dõi sự kiện này viên mật thám đã phát hiện ý định của Nguyễn Ái Quốc đang viết một cuốn sách dự kiến mang tên là “Les Opprimés” (Những kẻ bị áp bức). Nguyễn Ái Quốc tỏ ra quyết tâm thực hiện bằng được.

Khi được hỏi lấy tiền đâu để in, Nguyễn Ái Quốc đã trả lời: “Khi nào tôi hoàn thành xong quyển sách ấy, tôi sẽ đem bản thảo đến một đảng viên xã hội hay bất cứ ai khác. Sau khi biết giá tiền để in, tôi sẽ bán thân tôi cho họ như một người đầy tớ. Chả nhẽ tôi không biết đánh giày hay dọn nhà hay sao?” và thổ lộ mối quan tâm lớn nhất là “làm sao để đưa cuốn sách về trong nước”.

Ngày 19-1-1933, từ con tàu “Ho Sang” mới cập bến, Nguyễn Ái Quốc một lần nữa bị cảnh sát Hồng Công bắt lại. Thêm một lần nữa Bác lại thoát hiểm sau khi viết một bức thư gửi luật sư Loseby và nhờ sự can thiệp của vị luật sư này, Nguyễn Ái Quốc lập tức được thả ngay trong ngày bị bắt.

Ngày 19-1-1946, tại Bắc Bộ phủ, Bác tiếp các phóng viên và khẳng định rằng quyết tâm bảo vệ nền độc lập là một quyền chính đáng “cũng như dân Pháp mong muốn độc lập khi bị nước Đức chiếm đóng” và tỏ rõ quan điểm “nước Pháp không thể nào trở lại thống trị nước Việt Nam một lần nữa vì nước Pháp ngày nay không như xưa, cũng như nước Việt Nam bây giờ không phải là nước Việt Nam ngày trước”.

Cách đây nửa thế kỷ, vào dịp Tết Kỷ Hợi (1959), Bác Hồ phát động Tết trồng cây, ngày 19-1-1960 Báo Nhân Dân đăng bài “Tết trồng cây đã thắng lợi bước đầu”. Bài báo nêu gương một số địa phương và nhắc nhở phải “xem trọng chất lượng, nghĩa là trồng cây nào chắc cây ấy, không nên tham trồng quá nhiều mà không ra sức bảo vệ và trông nom cây” và “thực hiện Tết trồng cây cùng với kế hoạch trồng cây gây rừng của nhà nước một cách liên tục, bền bỉ và vững chắc”.

Ngày 19-1-1965, bước vào kế hoạch 5 năm lần thứ hai giữa lúc đế quốc Mỹ phát động cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân ra miền Bắc, Bác Hồ nói chuyện với Hội nghị phổ biến kế hoạch nhà nước năm 1965, đề cập tới một số tư tưởng trong chỉ đạo thực hiện kế hoạch: “Đặt kế hoạch thật tốt và thật sát là rất cần, nhưng đó chỉ là bước đầu.

Kế hoạch 10 phần thì biện pháp cụ thể là 20 phần, chỉ đạo thực hiện sát sao phải 30 phần. Có như thế mới chắc chắn hoàn thành kế hoạch. Khi đặt kế hoạch thì phải nhìn xa. Có nhìn xa mới quyết định đúng đắn thời kỳ nào làm công việc gì là chính. Phải thấy rộng. Có thấy rộng thì mới sắp đặt các ngành hoạt động một cách cân đối. Khi đi vào thực hiện thì mỗi ngành, mỗi nghề phải rất tỉ mỉ, chu đáo, thật sát với mỗi cơ sở. Đó là “một bộ ba” để hoàn thành tốt kế hoạch”.

D.T.Q và nhóm cộng sư
sggp.org.vn

Ngày 18 tháng 1: Phải đâu lãng phí cỗ bàn mới Xuân!

Chủ nhật, 18/01/2009, 01:20 (GMT+7)

Việt Nam - Hồ Chí Minh86 năm trước, ngày 18-1-1923, hồ sơ mật thám cho biết Nguyễn Ái Quốc tham dự kỳ họp hàng tháng của Hội Liên hiệp Thuộc địa. Đây là tổ chức được thành lập từ năm 1921 tập hợp đông đảo thành viên là người dân các thuộc địa đang sống ở nước Pháp. Tham dự kỳ họp này cùng với Nguyễn Ái Quốc là người tham gia sáng lập còn có Phan Văn Trường, Nguyễn Văn Ái, Trần Tiến Nam và một người tên là Toàn Hải (có tài liệu cho đó là con trai của nhà báo Nguyễn Văn Vĩnh) cùng nhiều bạn đồng chí các nước khác.

23 năm sau, Nguyễn Ái Quốc đã trở thành Chủ tịch Hồ Chí Minh đang chèo chống con thuyền cách mạng và bảo vệ nền độc lập của nước Việt Nam trước mối đe dọa của chủ nghĩa thực dân. Ngày 18-1-1946, nhân dịp Liên hiệp quốc họp ở Luân Đôn – thủ đô nước Anh, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư tới Tổng thống Mỹ H.Truman lên án hành động chiến tranh của thực dân Pháp đồng thời yêu cầu người đứng đầu nhà nước Mỹ hãy “can thiệp ngay lập tức và có giải pháp để nhân dân Việt Nam thoát ra khỏi cuộc chiến tranh đó” và “Với sự giúp đỡ to lớn của Cộng hòa Mỹ, của Trung Quốc và Liên hiệp quốc về tài chính và kỹ thuật, Cộng hòa Việt Nam chúng tôi sẽ có đủ khả năng góp phần xây dựng nền hòa bình và thịnh vượng chung trên thế giới”. 

Khi miền Bắc bước vào thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội. Mục tiêu xây dựng con người mới, lối sống mới trở thành mối quan tâm của Bác Hồ. Thời gian này trên nhiều tờ báo, Bác thường viết những bài báo nhỏ đề cập đến những vấn đề đời thường và thời sự.

10 ngày trước Tết Canh Tý cách nay 49 năm, ngày 18-1-1960, Bác Hồ đã viết bài“Mừng Tết Nguyên đán như thế nào?” đăng trên báo Nhân Dân, nêu những điều đáng khen, đáng chê trong việc ăn tết, nhắc nhở cán bộ phải làm gương, hướng dẫn nhân dân ăn tết vui vẻ, tiết kiệm và kết luận bằng câu thơ: “Trăm năm trong cõi người ta/Cần kiệm xây dựng nước nhà mới ngoan/Mừng Xuân, Xuân cả thế gian/Phải đâu lãng phí cỗ bàn mới Xuân”.

Cũng trong ngày bài báo được đăng, Bác đi thăm tỉnh Kiến An (nay là huyện thuộc thành phố Hải Phòng) gặp gỡ cán bộ và nhân dân, Bác nhắc nhở đảng viên phải “thường thường ôn lại, tự liên hệ và giữ đúng tiêu chuẩn của người đảng viên”.

Một năm sau, ngày 18-1-1961, cũng trên tờ báo của Đảng, Bác Hồ đã viết bài “Một lòng một dạ phục vụ nhân dân” phê phán một số hiện tượng tiêu cực, cửa quyền của những cán bộ ngành thương nghiệp quốc doanh. Bài báo phân tích: “Chế độ ta là chế độ dân chủ. Tức là nhân dân làm chủ. Tức là cán bộ và nhân viên từ cấp trên đến cấp dưới đều là đày tớ của nhân dân, đều phải một lòng một dạ phục vụ nhân dân… Đảng và Chính phủ dạy chúng ta phải kính trọng nhân dân, phải một lòng một dạ phục vụ nhân dân. Không thể tha thứ những thái độ khinh miệt nhân dân, dối trá nhân dân…”.

D.T.Q. và nhóm cộng sự
sggp.org.vn

Ngày 17 tháng 1: Đánh kẻng còn hơn gảy đàn!

Thứ bảy, 17/01/2009, 03:50 (GMT+7)

Việt Nam - Hồ Chí MinhCách đây 83 năm, ngày 17-1-1926, trên báo Thanh Niên xuất bản tại Quảng Châu (Trung Quốc), Nguyễn Ái Quốc viết bài “Báo chí bình dân” đưa ra một quan niệm về báo chí cách mạng. Bài báo viết: “Chúng tôi bất chấp (xem thường) việc sử dụng những từ mỹ miều, văn phong lịch lãm, câu chữ đong đưa, nhịp câu đăng đối song hành, những sự tô vẽ văn chương mà các nhà nho ham chuộng. Nhưng ngược lại, chúng tôi gắng sức vì lợi ích của tất cả mọi người, dùng một văn phong sáng sủa, chính xác và dễ hiểu.

Vì mục đích của chúng tôi là: 1. Đánh trả sự tàn bạo của người Pháp, 2. Khích lệ dân tộc An Nam liên kết lại, 3. Làm cho họ thấy được nguyên nhân những đau khổ, đói nghèo của họ và chỉ ra cho họ làm thế nào để tránh được những điều đó nên bản báo của chúng tôi làm tròn nhiệm vụ là hồi kẻng báo động… Tiếng đàn chắc chắn hay hơn tiếng kẻng, nhưng trước mối họa đang đe dọa chúng ta, tốt nhất là đánh kẻng còn hơn gảy đàn!”.

20 năm sau
 sự kiện trên, ngày 17-1-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi điện văn tới bộ trưởng ngoại giao các nước Liên Xô, Hoa Kỳ và đại diện Trung Quốc tại Liên hiệp quốc “thiết tha yêu cầu công nhận nền độc lập và nhận Việt Nam vào Hội đồng Liên hiệp quốc”. Đây là lần đầu tiên chính phủ Việt Nam gửi một văn bản chính thức đặt vấn đề với 3 quốc gia sáng lập Liên hiệp quốc: “Sự có mặt của chúng tôi trong hội nghị sẽ có ích nhiều trong việc giải quyết một cách nhanh chóng và hòa bình các vấn đề ở Đông Nam Á châu hiện nay”.

Lịch sử cho thấy, phải bằng một cuộc đấu tranh lâu dài tới 30 năm sau đó (1976), Việt Nam mới chính thức gia nhập Liên hiệp quốc với tư thế của một quốc gia độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ.

Cùng ngày, tham dự cuộc họp giám đốc và chủ tịch các ủy ban công sở ở Hà Nội, Bác có “Lời khuyên anh em viên chức” (về sau đăng thành một bài báo) trong đó nhấn mạnh đến 4 đức tính là: “Cần, kiệm, liêm, chính. Cần, anh em viên chức phải tận tâm làm việc, một người làm bằng hai, bằng ba người. Và phải tôn trọng kỷ luật. Anh em phải theo nguyên tắc là có việc mới cần đến người, chứ không phải là có sẵn người nên phải tìm việc cho làm. Kiệm là phải biết tiết kiệm đồng tiền kiếm được, cũng như các vật liệu và đồ dùng trong công sở. Rút bớt hết những gì không cần thiết, chớ phao phí giấy má và các thứ của công. Phao phí những thứ đó là phao phí mồ hôi nước mắt của dân nghèo. Chớ tưởng tiết kiệm những cái cỏn con như mẩu giấy, ngòi bút là không có ảnh hưởng. Một người như thế, trăm người như thế, vạn người như thế, công quỹ đã bớt ra được một số tiền đáng kể, lấy ở mồ hôi nước mắt dân nghèo mà ra. Có cần, có kiệm, không tiêu đến nhiều tiền, anh em viên chức mới có thể trở nên liêm, chính để cho người ngoài kính nể được”.

D.T.Q. và nhóm cộng sự
sggp.org.vn

Mở đường vào Tây Bắc (Kỳ 1)

Kỷ niệm 60 năm trận Mộc Châu (11-1952 / 11-2012)

QĐND – Tháng 11-2012 là tròn 60 năm ngày quân đội ta đánh thắng trận Mộc Châu (Sơn La), mở đường lên chiến trường Điện Biên Phủ và vùng Thượng Lào. Mộc Châu hôm nay đã trở thành vùng đất trù phú, dân cư đông đúc và là vùng có nhiều tiềm năng du lịch của miền Tây nhưng chắc ít người biết tới trận đánh năm ấy. Tôi đã đi tìm gặp ông Đặng Văn Việt, nguyên Trung đoàn trưởng Trung đoàn 174 (Sư đoàn 316) năm xưa được giao nhiệm vụ chỉ huy đơn vị đánh trận Mộc Châu để nghe ông kể về chiến công cách đây hơn nửa thế kỷ…

Kỳ 1: Trọng điểm trên cao nguyên

Tôi đã từng viết câu chuyện về Sư đoàn 335 hành quân lên bảo vệ Mộc Châu và thành lập Nông trường Quân đội Cờ Đỏ năm 1955 để xây dựng miền đất này. Và hôm nay tôi gặp ông, để nghe ông kể về trận đánh phá tan khu vực phòng thủ Mộc Châu của thực dân Pháp, mở đường cho bộ đội và dân công tiến lên chiến trường Điện Biên Phủ, tiếp tế lương thực và chuẩn bị cho trận đánh quyết định 2 năm sau đó. Trong căn phòng tập thể chưa đầy 15m2, người lính già đã 93 tuổi vẫn hào sảng kể lại trận chiến năm ấy…

Khi đó phân khu Mộc Châu có một vị trí rất đặc biệt, nằm giữa Quân khu Tây Bắc, dưới Sơn La, trên Hòa Bình, án ngữ trục Quốc lộ 6 và ngã ba Pa Háng để sang Lào. Ông Việt nhấn mạnh, đồn Mộc Châu là hệ thống phòng thủ của Pháp với sự bố phòng đặc biệt khi nằm trên một núi đá tai mèo, có chiều dài gần 500m, vách đứng thành vại và được bố trí tới gần 100 hỏa điểm cố định thay cho lô cốt, 2 vạn quả mìn, 2.000 tấn dây thép gai rào thành nhiều tầng lớp… Ban ngày leo lên được núi còn khó, chưa nói gì tới ban đêm. Đồn Mộc Châu khi đó như một con nhím khổng lồ, húc vào là chỉ có chết. Đồn có một tiểu đoàn lính Thái, một đại đội biệt kích, quân số chừng 450 tên, được trang bị 2 đại bác 94mm, 2 cối 81mm, trọng liên 20mm, 2 đại liên, 27 trung liên… Trong số gần 100 hỏa điểm, mỗi hỏa điểm bố trí 2-3 người, có dự trữ đủ đạn dược, lương thực để chiến đấu lâu dài. Ngoài ra, địch chất dây thép gai thành 4 lớp bùng nhùng để không thể phá bằng bộc phá. Mìn được gài gắp nơi, trên các nẻo đường, trong vườn rau và cả trên lớp dây thép gai… Trên đỉnh núi, địa hình được san phẳng để làm đài quan sát, đặt trung tâm hỏa lực, thông tin và chỉ huy. Ngoài đồn chính, địch còn bố trí hai trạm tiền tiêu, mỗi trạm một tiểu đội là Pom Lót và Pom Thơm.

Trung đoàn trưởng đầu tiên của Trung đoàn 174 Đặng Văn Việt.

Đã 60 năm trôi qua, nhưng Trung đoàn trưởng Đặng Văn Việt vẫn nhớ rõ. Đời binh nghiệp của ông chỉ có 15 năm, ông đã chỉ huy đánh hơn 100 trận lớn nhỏ nhưng trận Mộc Châu với ông là một ký ức đặc biệt. Ông gọi đó là một trận đánh tuyệt đẹp. Khi ấy, người Trung đoàn trưởng mới 32 tuổi đã có biệt danh Hùm xám đường số 4. Trong chiến đấu, yếu tố bí mật, bất ngờ là vô cùng quan trọng, tuy nhiên ở trận Mộc Châu này không có nhiều điều bất ngờ. Chiến dịch mở ra từ ngày 13-10-1952 mà đêm 19-11-1952 ta mới công đồn, vì vậy trinh sát của địch đã theo dõi khá kỹ mọi động thái của quân ta. Điều bất ngờ ở đây, có chăng chỉ có thể là cách đánh sáng tạo mà thôi. Theo nhận định lúc bấy giờ của chúng ta, nếu không đánh được đồn Mộc Châu trong đêm 19-11-1952 thì những đêm sau khó mà đánh vì Pháp sẽ cho máy bay B26 ném bom làm tan tác cả núi rừng xung quanh, ta không còn chỗ trú ẩn mà tiếp tục công đồn…

Diệt đồn Ca Vịnh, Ba Khe, Thượng Bằng La

Người lính già đã sống gần trọn thế kỷ, nheo mắt nhìn ra ô cửa nhỏ của căn phòng tập thể đầy nắng thu. Có lẽ lúc này mọi ký ức của trận đánh cách đây hơn nửa thế kỷ đang ùa về với ông… Khi ấy Bộ Tổng tư lệnh chủ trương mở chiến dịch Tây Bắc với mục đích tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, giải phóng vùng Tây Bắc rộng lớn. Trận Mộc Châu là một trận then chốt của chiến dịch. Nếu đồn Mộc Châu không bị tiêu diệt thì coi như chiến dịch bế tắc, ta không thể khống chế đường số 6. Thế trận của địch vẫn vững chắc và chưa biết khi nào chúng ta mới giải phóng được Tây Bắc. Nếu ta không làm chủ được Mộc Châu thì hàng trăm xe vận tải chở đầy ắp gạo đang chờ ở Hòa Bình để lên tiếp tế cho cả vạn quân dân sẽ bị chặn lại. Và 15 ngày lương trên vai từng cán bộ, chiến sĩ, dân công sẽ cạn kiệt… Tư tưởng quân sự được xác định khi đó là “cưỡi lên đầu hổ – đánh từ nóc nhà đánh xuống”.

Trung đoàn 174 trước giờ xuất trận.

Trung đoàn 174 (E174) là một cánh quân chủ lực mạnh, nằm trong đội hình của Sư đoàn 316, được giao nhiệm vụ làm một mũi tiến công vào Tây Bắc từ hướng Yên Bái, đặc biệt là đánh đồn Mộc Châu. Thời điểm nhận nhiệm vụ, E174 đang đóng quân trên vùng Đông Bắc trung du (Mẹt – Bắc Giang) được lệnh hành quân qua Thái Nguyên, tập kết ở bến Âu Lâu (tả ngạn sông Thao, thuộc tỉnh Yên Bái). Việc chỉ huy hành quân của đơn vị được giao cho Chính ủy Chu Huy Mân (sau này là Đại tướng, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó chủ tịch Hội đồng Nhà nước), còn Trung đoàn trưởng tổ chức đi khảo sát thực địa và lo kế hoạch tác chiến. Trung đoàn trưởng Đặng Văn Việt khi ấy đã không ít lo nghĩ, suy tư bởi E174 từ khi thành lập (năm 1949) đến nay chỉ hoạt động trên chiến trường Đông Bắc, dọc đường số 4 theo biên giới Việt – Trung, nay lại được giao tác chiến trên một địa bàn hoàn toàn mới. Chính vì vậy đoàn trưởng đã tổ chức một đội trinh sát và đích thân dẫn đầu để thăm dò tình hình cũng như địa thế khu vực này. Sau đợt thực địa hơn chục ngày, Trung đoàn trưởng Việt xác định rõ, muốn tiếp cận Mộc Châu, trước tiên phải diệt các đồn tiền tiêu Ca Vịnh, Ba Khe và Thượng Bằng La. Oái oăm thay, đúng ngày định ra lệnh tiến công đồn Ca Vịnh đầu tiên thì hầu hết cán bộ chủ chốt của trung đoàn lăn ra sốt rét. Ngay cả Trung đoàn trưởng cũng nằm bẹp không dậy nổi. Vào thời điểm gấp rút, cam go ấy, Trung đoàn trưởng Đặng Văn Việt đã quyết định vẫn phải đánh, ông yêu cầu quân y tăng liều thuốc cao chạy chữa cho cán bộ, còn riêng mình sử dụng lượng thuốc gấp đôi để đẩy lùi cơn sốt, cùng trung đoàn ra trận. Ngay sau đó, một số tiểu đoàn trưởng và chỉ huy đại đội chủ chốt gượng dậy được và bám lấy đơn vị. Trung đoàn trưởng vẫn chưa khỏe nhưng đã ngồi trên cáng để anh em khiêng tới vị trí chỉ huy trận đánh. Nhưng trên đường cáng ra trận địa, có những dân công nhìn thấy xì xào: “Thương binh mà lại cáng ra trận à?”. Sợ việc ngồi cáng sẽ ảnh hưởng đến tinh thần của bộ đội trước khi bước vào trận đánh nên Trung đoàn trưởng Việt đã cương quyết rời khỏi cáng, nhờ đồng chí cần vụ buộc mình vào lưng ngựa để đi… Nhưng ông chỉ trụ được trên lưng ngựa tới chân đồi thì phải xuống vì quá mệt. Quyết phải đi tới đích, ông tiếp tục yêu cầu hai chiến sĩ buộc dây vào thân người kéo lên dốc, hai chiến sĩ đẩy lưng đằng sau để tiến lên đỉnh đồi… Bằng cách ấy, người chỉ huy đã tiếp cận được trận địa để chỉ huy bộ đội tác chiến. Sau thắng lợi diệt đồn Ca Vịnh, bộ đội ta thu toàn bộ vũ khí quân dụng, bắt sống tên quan hai và 20 tù binh. Thắng lợi đó tạo đà cho Trung đoàn 174 tiêu diệt tiếp đồn Ba Khe và Thượng Bằng La, là những đồn tiền tiêu bảo vệ phía đông của Tây Bắc bị quét sạch. Niềm vui chiến thắng diệt 3 đồn địch liên tiếp đã thổi thêm sức mạnh cho bộ đội E174 đẩy lùi sốt rét, hành quân 3 ngày đêm để tiếp cận đồn Mộc Châu.

Người lính già Đặng Văn Việt cho biết: “Với cán bộ, chiến sĩ E174 chúng tôi khi đó, niềm vui và sự tự tin đầy ắp. Lần đầu tác chiến ở một địa bàn mới mà đã hoàn thành nhiệm vụ, diệt 3 đồn tiền tiêu của Tây Bắc. Đó là động lực lớn lao thúc giục chúng tôi hành quân nhằm đồn Mộc Châu thẳng tiến”. Sau khi hành quân tới Mộc Châu, Trung đoàn 174 đóng quân cách đồn địch khoảng 12km, trong khu rừng chuối ven Quốc lộ 6. Giữa núi rừng Tây Bắc hoang sơ, hùng vĩ, tại một lòng suối cạn trong khe núi, Trung đoàn trưởng Đặng Văn Việt cùng các chỉ huy đơn vị Nguyễn Hữu An (sau này Thượng tướng, Giám đốc Học viện Quốc phòng), Lê Hoàn, Thanh Tâm, Lê Vũ, Đình Giang, Hùng Quốc… đã họp bàn để thống nhất phương án tác chiến…

———–

Kỳ 2: Công đồn Mộc Châu

Ghi chép của Hoàng Trường Giang
qdnd.vn

Ngày 16 tháng 1: Xây dựng CNXH phải lấy “Cần” làm gốc

Thứ sáu, 16/01/2009, 01:59 (GMT+7)

Việt Nam - Hồ Chí MinhCách đây 74 năm, ngày 16-1-1935, Nguyễn Ái Quốc lúc này đang ở Liên Xô đã viết “Thư gửi Ban Phương Đông” của Quốc tế Cộng sản nêu lên tình trạng thiếu lý luận cách mạng của đa số cán bộ của Đảng Cộng sản Đông Dương, Trung Quốc, Thái Lan, Indonesia… và cho rằng nhiều vấp váp sai lầm hay bế tắc của phong trào cộng sản ở đây đều bắt nguồn từ “trình độ lý luận rất thấp”và yêu cầu “phải giúp đỡ các đồng chí của chúng ta khắc phục những khó khăn ấy bằng cách tạo điều kiện cho các đồng chí tiếp thụ được những kiến thức sơ đẳng nhất mà mỗi chiến sĩ đều phải có”.

Nguyễn Ái Quốc còn nêu tên các tài liệu cần được xuất bản dưới dạng các cuốn sách nhỏ như Tuyên ngôn Cộng sản, Lịch sử Quốc tế Cộng sản, Luận cương và nghị quyết về vấn đề thuộc địa. Bức thư kết luận rằng đó là những “biện pháp duy nhất có hiệu quả” để chấm dứt tình trạng lạc hậu về lý luận cách mạng ở các nước thuộc địa như Đông Dương, nơi mà Đảng phải hoạt động bất hợp pháp và trình độ văn hóa của người lao động còn thấp.

12 năm sau, ngày 16-1-1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh soạn thảo “Lời kêu gọi đồng bào phá hoại để kháng chiến”.

Sau “Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến” ngày 19-12-1946, thì đây là một văn kiện quan trọng kêu gọi toàn dân tiếp tục cuộc kháng chiến bằng những việc làm cụ thể. Văn kiện viết: “Vì sao ta phải kháng chiến? Vì không kháng chiến thì Pháp sẽ cướp nước ta lần nữa. Chúng sẽ bắt dân ta làm nô lệ lần nữa. Vì ta không chịu làm trâu ngựa cho Pháp, vì ta phải gìn giữ non sông đất nước ta, cho nên ta phải đánh bọn thực dân Pháp. Đánh thì phải phá hoại… Ta vì nước hy sinh chịu khổ một lúc. Đến ngày kháng chiến thắng lợi, ta sẽ cùng nhau kiến thiết sửa sang lại nào có khó gì”.

Trên báo Nhân Dân ra ngày 16-1-1960, Bác viết bài báo “Lấy Cần làm gốc” phân tích những cách nhìn nhận phiến diện về chủ nghĩa xã hội và cho rằng: “Xây dựng chủ nghĩa xã hội phải lấy “Cần” làm gốc. “Cần” là lao động cần cù và sáng tạo. Năng suất lao động càng tăng là nguồn no ấm của chúng ta”.

Ngày 16-1-1961, Bác đến thăm Viện Đông y và căn dặn: “Thầy thuốc cắt thuốc tốt mà sắc thuốc không tốt thì chữa bệnh vẫn chưa tốt. Thầy thuốc cắt thuốc tốt và sắc thuốc tốt nhưng nấu ăn không tốt, để giường có rệp, muỗi cắn hút máu của người bệnh thì chữa bệnh cũng không tốt. Cho nên phải đoàn kết trên dưới thành một khối như chiếc máy đồng hồ vậy”.

Ngày 16-1-1966, Bác nói chuyện với Hội nghị cán bộ cao cấp nghiên cứu Nghị quyết Hội nghị 12 của Trung ương Đảng. Phân tích sự can thiệp và mở rộng chiến tranh của đế quốc Mỹ, Bác khẳng định: “Bây giờ Mỹ có 20 vạn quân ở miền Nam, nó có thể đưa thêm vào hơn nữa đến 30, 40, 50 vạn quân. Ta vẫn thắng và nhất định thắng”. Lịch sử đã chứng minh nhận định trên của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thành hiện thực.

D.T.Q. và nhóm cộng sự
sggp.org.vn

Ngày 15 tháng 1: Lênin dạy chúng ta chống tham ô, lãng phí

Thứ năm, 15/01/2009, 02:48 (GMT+7)

Việt Nam - Hồ Chí MinhNgày 15-1-1923 (cách đây 86 năm), Nguyễn Ái Quốc với tư cách là một đảng viên thuộc địa của Đảng Cộng sản Pháp tích cực hoạt động nhằm thu hút sự chú ý của chính giới đối với vấn đề thuộc địa nói chung, xứ sở Đông Dương của mình nói riêng. Vào ngày 15-1-1923, bài báo “Những người bản xứ được ưa chuộng” đăng trên tờ “Người Cùng khổ” (Le Paria).

Bằng một giọng văn hài hước sắc sảo và sâu cay, tác giả lấy tích truyện “Othenlo” của đại văn hào Shakespeare để liên tưởng đến thân phận những người da màu trên nước Pháp hiện đại, bóc trần những thủ đoạn và sự tuyên truyền lừa bịp về nền dân chủ và công lý…

23 năm saungày 15-1-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh (số 5) hủy bỏ quyền quản lý và sử dụng đường sắt Hải Phòng – Vân Nam của Công ty Hỏa xa Vân Nam. Đây là một trong những thế lực mạnh của nền kinh tế thuộc địa. Nó độc quyền khai thác con đường huyết mạch nối vùng Tây Nam Trung Quốc thông ra biển, ra cảng Hải Phòng. Không chỉ người Pháp mà lúc này Trung Hoa Quốc dân Đảng cũng muốn nắm. Theo sắc lệnh này thì toàn bộ tài sản của công ty này thuộc quyền sở hữu và sử dụng của nhà nước Việt Nam.

Để ổn định trị an, Bác cũng ký sắc lệnh (số 6) về hình phạt đối với tội trộm cắp, tự ý phá hủy, cắt dây điện thoại hoặc tàng trữ các loại vật tư có liên quan; và sắc lệnh bổ sung về chức năng của Tòa án quân sự. Trong tàng thư hiện còn một lá thư đề ngày này năm 1947, nội dung yêu cầu Văn phòng Chính phủ chuẩn bị soạn thảo sắc lệnh lưu ý trong các văn bản của nhà nước nên viết ngắn gọn, dễ hiểu và “không dùng tiếng Tây”.

Ngày 15-1-1950, trong thư viết cho Hội nghị công an toàn quốc (lần thứ 5), Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Xây dựng bộ máy công an nhân dân tức là công an phải có tinh thần phục vụ nhân dân, là bạn dân… Tổ chức phải giản đơn thiết thực, tránh cái tệ hình thức, giấy má. Lề lối làm việc phải dân chủ. Phải hoan nghênh nhân dân phê bình công an, để đi đến hiểu công an, yêu công an và giúp đỡ công an”.

Ngày 15-2-1952 (cách nay 57 năm), Bác ký sắc lệnh truy tặng Huân chương Độc lập hạng ba cho nữ anh hùng dân quân Bùi Thị Cúc, quê ở Hưng Yên, vì đã giữ vững khí tiết người chiến sĩ cách mạng khi bị giặc Pháp bắt và giết hại một cách dã man.

Ngày này một năm sau đó (1953), chuẩn bị kỷ niệm lần thứ 30 ngày Lênin mất (21-1-1924 – 21-1-1954) Bác viết bài “Kỷ niệm Lênin” đăng trên báo Nhân Dân. Bài báo nêu lên những bài học sâu sắc: “Lênin dạy chúng ta chống quan liêu, tham ô, lãng phí. Dù vô tình hay cố ý, duy trì 3 bệnh ấy tức là giúp sức cho kẻ địch và làm hại cho nhân dân, cho Chính phủ, cho Đảng… Chúng ta kỷ niệm đồng chí Lênin, thương nhớ đồng chí Lênin thì càng phải học tập và thực hành chủ nghĩa Mác – Lênin. Đó là con đường duy nhất cho chúng ta đưa kháng chiến đến thắng lợi, kiến quốc đến thành công”.

D.T.Q. và nhóm cộng sự
sggp.org.vn

Ngày 14 tháng 1: “Tôi chẳng sợ chết, cũng chẳng sợ tù đày”

Thứ tư, 14/01/2009, 01:31 (GMT+7)

Việt Nam - Hồ Chí MinhNgày 14-1-1920 (cách đây 89 năm), Nguyễn Ái Quốc lúc này là Thư ký “Nhóm người cách mạng An Nam”, tại Pháp có một cuộc diễn thuyết vào lúc 20 giờ 30 tại số 3 đường Chateau, Paris với đề tài “Sự tiến triển trong xã hội các dân tộc vùng châu Á và những lời yêu cầu của xứ An Nam”. Theo báo cáo của mật thám Pháp, mấy ngày sau (19-1), trả lời câu hỏi của một người đồng bào tên là Lâm e ngại việc làm của Nguyễn Ái Quốc là quá mạnh, nhà cách mạng trẻ thẳng thắn trả lời: “Nếu ai hỏi tôi là “Nhóm người cách mạng An Nam” ở đâu, tôi sẽ trả lời là 20 triệu người ở trong nước, họ đã phản đối hàng ngày, nhưng bị đàn áp, bị dìm đi. Nói cho cùng, ai làm gì tôi? Lưu đày tôi ư? Hoặc cắt đầu tôi? Điều ấy có xảy đến tôi cũng bất cần!”.

Một năm sau, ngày 14-1-1921, Nguyễn Ái Quốc vào bệnh viện Côsanh ở Paris để mổ áp xe vai. Ca mổ thực hiện vào ngày 19-1 và phải điều trị tại đó cho đến 25-3-1921. Trong thời gian này mật thám Pháp luôn theo dõi sát sao những tiếp xúc của nhân vật trong Đại hội Tours cuối năm trước đã bỏ phiếu theo Quốc tế III. Dưới đây là đoạn trích trong đối thoại của Nguyễn Ái Quốc với viên mật thám giả là khách đến thăm:

– “…Tại sao ông lại thích làm chính trị? Ông không sợ bị theo dõi, ông không sợ người ta làm hại ông?

– Nguyễn Ái Quốc: Chẳng hề chi. Tôi thích làm chính trị thì tôi chẳng sợ chết cũng chẳng sợ tù đày. Trong đời này, chúng ta chỉ chết có một lần, tại sao lại sợ?… Tôi vẫn luôn luôn có ý thành lập một tổ chức dưới hình thức một hội thân hữu để tất cả những người Đông Dương tại Pháp gặp gỡ nhau, học hỏi về chính trị. Không cần đông lắm. Để thành một lực lượng mạnh mẽ, điều cần thiết là phải đồng ý với nhau về quan điểm và có tinh thần yêu nước…”.

5 năm sau, ngày 14-1-1926, Nguyễn Ái Quốc đã ở Trung Quốc với bí danh là Vương Văn Đạt được mời đến phát biểu tại Đại hội lần thứ II của Quốc dân Đảng Trung Hoa. Kết thúc bài phát biểu, đại biểu Vương kêu gọi: “Tất cả các dân tộc bị áp bức đều cùng chịu sự áp bức của chủ nghĩa đế quốc, chúng ta phải cùng nhau liên hiệp lại, đánh đổ đế quốc Pháp, đánh đổ chủ nghĩa đế quốc trên thế giới… Không phân biệt nước nào, dân tộc nào, tất cả hãy đứng lên chống kẻ thù chung của chúng ta!”.

20 năm tiếp theo, ngày 14-1-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh số 4 về việc cử người vào Ủy ban nghiên cứu kế hoạch và kiến thiết, một cơ quan tư vấn được thành lập từ cuối năm 1945. Trong danh sách bổ sung có nhiều nhà trí thức lớn như Đào Duy Anh, Đặng Văn Hưởng, Nguyễn Cao Luyện, Bùi Công Trừng, Nghiêm Xuân Yêm, Trần Đăng Khoa, Nguyễn Thiệu Lâu, Hoàng Văn Đức…

Sức thu hút nhân tài của Bác Hồ không chỉ mở rộng khối đại đoàn kết toàn dân mà thực sự đã quy tụ được trí tuệ của dân tộc.

D.T.Q. và nhóm cộng sự
sggp.org.vn