Tag Archive | Chính trị – Xã hội

TỔNG HÀNH DINH TRONG MÙA XUÂN TOÀN THẮNG : Chương 8

GIẢI PHÓNG TRƯỜNG SA

Trong những ngày này, một sự kiện đặc biệt đã diễn ra ngoài kế hoạch chiến lược ban đầu. Đó là sự chỉ đạo của Bộ Chính trị, Quân uỷ Trung ương và Bộ Tống tư lệnh giải phóng các đảo thuộc quần đảo Trường Sa do quân nguỵ Sài Gòn đóng giữ, một vùng lãnh hải thiêng liêng của Tổ quốc có vị trí chiến lược rất quan trọng về kinh tế và quân sự.

Ngay sau chiến thắng Buôn Ma Thuột, Quân uỷ Trung ương kiến nghị với Bộ Chính trị Trung ương Đảng: “Vừa chuẩn bị cho trận quyết chiến chiến lược cuối cùng, vừa tiến hành giải phóng các đảo và quần đảo quân nguỵ đang chiếm giữ”. Kiến nghị này đã được ghi vào Nghị quyết Bộ Chính trị ngày 25-3-1975.

Cũng từ ngày ấy, Quân uỷ điều anh Hoàng Trà, Chính uỷ Hải quân về làm việc cạnh Bộ Tổng Tham mưu, giúp theo dõi tình hình địch trên biển, kiến nghị về nhiệm vụ của Hải quân trong trận tổng giao chiến cuối cùng. Tôi cũng yêu cầu Bộ Tổng Tham mưu, Bộ Ngoại giao cung cấp tài liệu về các đảo, quần đảo thuộc vùng biển của Việt Nam, đồng thời chỉ thị cho Cục Quân báo nắm tình hình địch ở Biển Đông.

Nhìn vào bản đồ quân sự và hải đồ Việt Nam, Biển Đông là một vùng biển có độ sâu từ 2.000 đến 4.000m, nổi lên hai quần đảo lớn: Hoàng Sa ở phía bắc và Trường Sa ở phía nam.

Từ thế kỷ XVII, Nhà nước phong kiến Việt Nam đã thực hiện chủ quyền một cách liên tục và hoà bình đối với hai quần đảo này, hồi đó được gọi là Đại Trường Sa, không gặp sự tranh chấp của quốc gia nào. Trong Đại Nam nhất thống toàn đồ (bản đồ nước Đại Nam thống nhất) được biên vẽ vào thời Nguyễn sau 1838 là năm quốc hiệu Việt Nam đổi thành Đại Nam, hai quần đảo ở Biển Đông được vẽ thành một dải song song với bờ biển miền Trung Việt Nam, ngang với tỉnh Quảng Nam ở phía bắc và tỉnh Khánh Hoà ở phía nam với tên gọi “Hoàng Sa” và, “Vạn lý Trường Sa”.

Từ 1920, chính quyền Pháp ở Đông Dương đã tuyên bố khẳng định chủ quyền đối với Hoàng Sa, Trường Sa và tổ chức quản lý về mặt nhà nước trên hai quần đảo.

Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, cuộc tranh chấp chủ quyền diễn ra đối với cả hai quần đảo ở Biển Đông.

Tháng 4-1946, Pháp cho quân ra kiểm soát cụm phía tây quần đảo Hoàng Sa. Tháng 11-1946, quân Tưởng đổ bộ lên đảo Phú Lâm thuộc quần đảo Hoàng Sa, và tháng 12 năm ấy đổ bộ lên Itu Aba thuộc quần đảo Trường Sa.

Năm 1950, quân Tưởng rút khỏi hai quần đảo. Song năm 1951, nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa ra tuyên bố bảo lưu chủ quyền của Trung Quốc đối với hai quần đảo này. Từ 1956, tranh chấp diễn ra giữa Trung Quốc với chính quyền Nam Việt Nam. Năm 1961, chính quyền Sài Gòn sáp nhập các đảo thuộc quần đảo Trường Sa vào xã Phước Hải, quận Đất Đỏ, tỉnh Phước Tuy.

Trong khi điều trị tại Liên Xô, tôi được ở nhà điện sang cho biết: Ngày 19 và 20-1-1974, nhân lúc quân nguỵ Sài Gòn đang gặp khó khăn, Trung Quốc dùng hàng chục tàu chiến và một phi đội máy bay tiêm kích tiến công chiếm cụm đảo phía tây quần đảo Hoàng Sa (còn gọi là Nguyệt Thiềm) do quân Nam Việt Nam đồn trú, bắt các binh sĩ quân đội Sài Gòn làm tù binh.

Nhớ lại đầu những năm 60, khi Nghị quyết Trung ương lần thứ 15 khẳng định cách mạng miền Nam phải tiến lên bằng con đường bạo lực, cùng với sự ra đời của Đoàn vận tải Trường Sơn (559), Quân uỷ Trung ương đã tổ chức một bộ phận đặc biệt chi viện miền Nam bằng đường biển. Từ năm 1964 trở về trước, ta dùng các tàu nhỏ xuất phát từ Đồ Sơn dọc theo ven biển đi vào Nam.

Từ năm 1965, ta mở đường đi trong hải phận quốc tế, qua Hải Nam, Lôi Châu, Đông Hoàng Sa đến Song Tử Tây rồi qua Na Tu Na vào đến Cà Mau. Ta đã sử dụng các đảo thuộc quần đảo Trường Sa làm nơi tạm dừng trên “đường mòn Hồ Chí Minh trên biển”, dựa vào chướng ngại thiên nhiên là các bãi san hô ngầm dưới nước.

Tuy gian nan, vất vả, nhưng kết quả vận chuyển vẫn khả quan. Tổng cộng đã đi được 169 chuyến, đến nơi 100 chuyến, 50 chuyến phải quay về, tổn thất 19 chuyến, vận chuyển được 5.677 tấn hàng, mất gần 700 tấn. Ta hy sinh 76 đồng chí, 51 đồng chí bị thương.

Cũng như đối với Đoàn Trường Sơn, công việc vận chuyển trên biển cho miền Nam chiến đấu được Bác Hồ đặc biệt quan tâm khích lệ. Nhớ mãi câu nói vui của Người khen ngợi chiến công độc đáo của thuyền trưởng Bông Văn Dĩa, người thuỷ thủ đi từ Nam ra Bắc bằng thuyền gỗ thô sơ: “Đi biển kiểu ấy thì xưa nay chỉ có Crixtốp Côlông và chú!”. Ôi, ký ức còn tươi rói về những ngày đầu gian khổ ấy. Trong khóe mắt long lanh ướt của Bác, tôi thấy cả miền Nam đau thương, anh dũng đang vẫy gọi, hậu phương đâu tiếc sức mình.

Sự kiện Trung Quốc tiến công quân nguỵ, đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa ở phía bắc ngày 20-1-1974, càng cho thấy tầm chiến lược của những mảnh đất xa xôi, chập chờn trên sóng gió Biển Đông. Nhãn quan chiến lược quân sự của Bộ thống soái tối cao, đã nhìn rõ vấn đề. Cần tổ chức giải phóng kịp thời phấn đất này.

Nếu chậm, để quân đội nước khác xâm chiếm nơi đây, tình hình sẽ rất phức tạp. Khó khăn lớn nhất là phải đánh chiếm các đảo với lực lượng hải quân nhỏ bé lúc bấy giờ. Trên mặt trận Biển Đông, hành động cũng phải “Thần tốc, táo bạo, bất ngờ, chắc thắng”.

Ngày 2-4, tại Tổng hành dinh, sau khi nghe báo cáo về trận Đà Nẵng, tôi trực tiếp chỉ thị cho anh Lê Trọng Tấn: Ngoài nhiệm vụ truyền đạt mệnh lệnh cho Quân khu 5 và Bộ Tư lệnh Hải quân, tổ chức tiến công giải phóng các đảo, đặc biệt là quần đảo Trường Sa. Vùng này có thể có tàu chiến của Hạm đội 7 và hải quân các nước khác hoạt động. Hải quân nguỵ cũng được trang bị các loại tàu lớn. Do đó, nghệ thuật tác chiến phải kiên quyết, táo bạo, đồng thời phải hết sức mưu trí, sáng tạo, bất ngờ. Các đơn vị có nhiệm vụ sẵn sàng, có thời cơ là đánh được ngay, bảo đảm chắc thắng. Đánh phải đúng lúc. Nếu có hiện tượng chúng rút, phải tranh thủ đánh chiếm ngay. Nếu tình hình chung địch bị nguy khốn, nhất là ở Sài Gòn, Bộ sẽ thông báo để kịp thời đánh chiếm. Nếu quân nước ngoài đã chiếm đảo thì ta kiên quyết chiếm lại. Nếu có khó khăn thì xin chỉ thị của Bộ.

Tôi cũng chỉ thị cho Bộ Tổng Tham mưu điều ngay Sở chỉ huy tiền phương của Bộ Tư lệnh Hải quân vào Đà Nẵng, vừa tiếp quản căn cứ hai quân của địch ở đây, vừa chuẩn bị sẵn sàng phát triển chiến đấu trên mặt biển.

Trước đó, ngày 30-3, Quân uỷ Trung ương điện cho các anh Võ Chí Công và Chu Huy Mân: “Theo chỉ thị của Bộ Chính trị, Thường vụ giao cho Khu uỷ và Bộ Tư lệnh B1 (1), nhiệm vụ nghiên cứu, chỉ đạo thực hiện gấp rút, nhằm thời cơ thuận lợi nhất đánh chiếm các đảo hiện do quân nguỵ miền Nam chiếm đóng thuộc quần đảo Nam Sa (2). Trong việc này, anh Nguyễn Bá Phát, phái viên của Bộ Tổng tham mưu và các cán bộ Hải quân cùng đi sẽ do Khu uỷ và Quân khu uỷ chỉ đạo để thực hiện kế hoạch”.

Đây là một nhiệm vụ rất quan trọng vì vùng quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam. Theo thăm dò, triển vọng ở đây có dự trữ dầu lửa lớn. Với tầm nhìn chiến lược, có thể thấy biển và đại dương sẽ là nguồn tài nguyên chủ yếu của nhân loại kể từ thế kỷ XXI.

Chiều 4-4, Quân uỷ Trung ương điện tiếp cho Quân khu 5:

“Thực hiện kịp thời đánh chiếm các hòn đảo ở vùng Nam Hải, đặc biệt là các đảo Nam Sa. Việc này phải chuẩn bị gấp và bí mật, chỉ để cán bộ có trách nhiệm biết”.

Mệnh lệnh được thi hành tức khắc. Quân khu 5 cùng Bộ Tư lệnh Hải quân triển khai kế hoạch tác chiến. Các lực lượng của Quân khu 5 cùng một biên đội tàu và lực lượng đổ bộ của Hải quân được tổ chức lại gồm: Các tàu vận tải của Đoàn 125 vừa từ Hải Phòng vào tiếp quản Đà Nẵng; những con tàu không số này vốn từng quen với “đường mòn Hồ Chí Minh trên biển”, nhiều lần qua lại khu vực quần đảo Trường Sa nên đã quen nhận dạng, phân biệt các đảo, và cũng có kinh nghiệm tránh đá ngầm; Đội 1 Đoàn 126 đặc công là đơn vị có bề dày thành tích với cách đánh bí mật, bất ngờ, đã đánh chìm nhiều tàu địch ở chiến trường Cửa Việt. Chỉ huy trưởng là đồng chí Mai Năng.

Ngày 9-4, Cục Quân báo phát hiện địch rút quân khỏi các đảo ở biển Nam Hải. Quân uỷ Trung ương điện “tối khẩn” cho các anh Võ Chí Công, Chu Huy Mân, đồng điện cho anh Hoàng Hữu Thái, Phó tư lệnh Hải quân ở Đà Nẵng: “Có tin quân nguỵ chuấn bị rút khỏi đảo Nam Sa. Các anh cho kiểm tra lại ngay và chỉ thị cho lực lượng ta hành động kịp thời theo phương án đã định. Nếu để chậm, có thể quân nước ngoài chiếm trước, vì hiện nay một số nước ngoài đang có ý đồ xâm chiếm”.

Ngày 13-4, Quân khu 5 điện về Bộ Tổng Tham mưu báo cáo kế hoạch đánh chiếm các đảo. Tôi điện ngay cho anh Mân: “Các anh đã tích cực tổ chức thực hiện quyết định của Quân uỷ Trung ương về việc đánh chiếm các đảo. Ý kiến của tôi:

1. Việc đánh chiếm các đảo cần làm đúng thời cơ.

Nếu có thời cơ cụ thể mà không kịp đánh chiếm thì các nước ngoài có thể chiếm trước. Nếu địch chưa rút mà ta đã chiếm trước thì tình hình có thể trở nên phức tạp, vì lực lượng ta có hạn và việc tăng viện có gặp khó khăn.

2. Do đó, thời cơ cụ thể đánh chiếm là: a) Nếu địch đã rút toàn bộ hoặc rút đại bộ phận thì đánh chiếm ngay. Nếu quân nước ngoài đánh chiếm trước thì đánh chiếm lại, b) Nếu địch mới có triệu chứng rút hoặc bắt đầu rút thì theo dõi, kịp thời đánh chiếm khi địch rút đại bộ phận, c) Khi tình hình chung của địch nguy khốn, nhất là tình hình địch ở trọng điểm, thì đánh chiếm ngay.

Hai thời cơ cụ thể trên do anh theo dõi và quyết định.

Thời cơ cụ thể thứ ba, tôi sẽ kịp thời báo anh khi xuất hiện”.

Thời cơ đánh chiếm là như vậy, nhưng cách đánh chiếm thì sao, trong tình hình vũ khí, phương tiện của ta còn kém hơn địch cả về số lượng và trình độ hiện đại?

Nhớ lại dịp kỷ niệm 15 năm thành lập Hải quân nhân dân Việt Nam, phát biểu về chiến tranh nhân dân trên chiến trường sông, biển, tôi đã nhấn mạnh việc đánh địch ở ven biển, ở biển gần và ở các quần đảo của Việt Nam cần được hết sức coi trọng, và căn dặn cán bộ, chiến sĩ cần vận dụng tư tưởng lấy nhỏ thắng lớn, lấy ít thắng nhiều trong tác chiến của Hải quân. Biểu dương các “con tàu không số” và các đơn vị “đặc công nước”, tôi khái quát nghệ thuật đánh giặc của Hải quân ta là biết lấy số lượng trang bị ít hơn, kém hiện đại hơn địch mà vẫn đánh thắng được địch. Muốn vậy, phải tích cực, chủ động, kiên quyết, linh hoạt, mưu trí, sáng tạo, bí mật, bất ngờ.

Ngày hôm sau, một nguồn đáng tin cậy báo về: Có triệu chứng quân nguỵ chuẩn bị rút khỏi quần đảo Trường Sa.

Sau khi kiểm tra lại nguồn tin, tôi điện tiếp cho Quân khu 5: ” Thời cơ đánh các đảo thuộc khu vục Nam Sa lúc này rất thuận lợi. Chỉ đánh các đảo quân nguỵ miền Nam chiếm đóng. Các anh ra lệnh đánh chiếm ngay.

Theo dõi, đôn đốc kiểm tra chặt chẽ và thường xuyên báo cáo về Bộ”.

Nhận các chỉ thị, mệnh lệnh của Quân uỷ và Bổ Tổng tư lệnh, anh Hoàng Hữu Thái ra lệnh cho các tàu hải quân nguỵ trang giả dạng tàu đánh cá, xuất phát vào lúc trời chưa sáng.

Bằng phương tiện nhỏ và ít, đối mặt với tàu chiến lớn của địch và đại dương mênh mông, quân ta đánh theo kiểu của mình: bí mật tiếp cận, nhanh chóng đổ bộ, bất ngờ đánh chiếm mục tiêu. Đúng 4 giờ 30 phút sáng ngày 14-4, sau hơn 1 giờ tổ chức đổ bộ, ta nổ súng tiến công, nhanh chóng tiêu diệt và bắt sống toàn bộ quân địch, giải phóng đảo Song Tử Tây, kéo lá cờ Tổ quốc lên đỉnh cột cờ trên đảo. Tiếp đó, ngày 25-4, quân ta tiến công đánh chiếm đảo Sơn Ca. Ngày 27-4, ta giải phóng đảo Nam Yết và đảo Sinh Tồn. Ngày 28-4, quân ta giải phóng đảo Trường Sa, đảo An Bang, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao trong vòng nửa tháng với những cố gắng lớn nhất.

Ngay trong ngày 28-4, quân ta trên các đảo, trên các tàu chiến nhận được điện khen: “Quân uỷ Trung ương rất phấn khởi được tin quân ta đã chiếm các đảo thuộc Trường Sa. Nhiệt liệt khen ngợi các đơn vị đã hoàn thành nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lược”.

Sức mạnh tiến công và nổi dậy của chiến trường trọng điểm cùng với sự chi viện to lớn của hậu phương làm cho thế và lực của quân và dân ta lớn mạnh vượt bậc. Tuyến phòng ngự từ xa của địch đã bị phá vỡ. Một vùng biển rộng lớn giàu tài nguyên với những đảo và quần đáo có vị trí chiến lược hết sức quan trọng đã thuộc chủ quyền của Tổ quốc. Các cánh quân lớn dày dạn kinh nghiệm chiến đấu sẵn sàng đi vào trận tiến công hang ổ cuối cùng của địch.

Chú thích:

(1) tức Quân khu 5.
(2) Trung Quốc và chính quyền Sài Gòn gọi Trường Sa là Nam Sa.

TÁC GIẢ: Võ Nguyên Giáp
vnthuquan.net


Copy Sách Truyện từ Vnthuquan mà không ghi rõ nguồn và người đánh máy là hành động ăn cắp đáng xấu hổ!
Đánh máy : MoHaNoi – NguyenHoc
Nguồn: MoHaNoi
Người đăng: NHDT
vào ngày: 24 tháng 8 năm 2006

Ngày 2 tháng 8: “Chúng nhất định thất bại”

123th Anniversary of Uncle Ho

Chủ nhật, 02/08/2009, 01:56 (GMT+7)

Cách đây 90 năm, ngày 2-8-1919, Báo L’Humanité (Nhân Đạo) của Đảng Xã hội Pháp đăng bài “Vấn đề dân bản xứ”, nhắc lại những nội dung cơ bản của “8 yêu sách của nhân dân An Nam” đã gửi tới Hòa hội Versaille (6-1919) để nhấn mạnh rằng: “Rất ôn hòa cả về những nội dung và hình thức, các nguyện vọng của chúng tôi nhằm vào những cải cách chủ yếu cho việc giải phóng chúng tôi và nhằm vào những quyền tự do, mà nếu không có chúng thì con người ngày nay chỉ là một kẻ nô lệ khốn nạn. Không ai có thể phủ nhận rằng nếu không có các quyền tự do ấy, thiết yếu cho việc truyền bá những tư tưởng và kiến thức mà đời sống hiện đại đòi hỏi, thì không thể trông mong tiến hành bất cứ một công cuộc giáo hóa nghiêm chỉnh nào cả”.

Đầu tháng 8-1942, lãnh tụ Việt Minh Nguyễn Ái Quốc sáng tác “Bài ca du kích” để vận động các tầng lớp tham gia vũ trang đánh Tây, đuổi Nhật, trong đó có đoạn: “Kẻ có súng dùng súng/Kẻ có dao dùng dao/Kẻ có cuốc dùng cuốc/Người có cào dùng cào/Thấy Tây cứ chém phứa/Thấy Nhật cứ chặt nhào/…Chúng nhất định thất bại/Mình sức càng dồi dào”.

Tháng 8-1943, Bác tiếp tục bị Trung Hoa Quốc dân Đảng giam cầm tại Cục Chính trị Đệ Tư chiến khu. Tại đây, Bác đã sáng tác nhiều bài thơ chữ Hán như “Thu cảm 1 và 2”, “Nhân đỗ ngã” (Nhân lúc đói bụng), “Trần khoa viên lai thám” (Khoa viên họ Trần tới thăm), “Hầu chủ nhiệm ân tặng nhất bộ thư” (Chủ nhiệm họ Hầu tặng một bộ sách), “Mông thượng lệnh chuẩn xuất lung hoạt động” (Được lệnh trên cho đi lại ngoài buồng giam). Những bài thơ này góp vào tập “Ngục trung nhật ký” được tập hợp lại sau này.

Ngày 2-8-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đang ở thăm nước Pháp, đã tiếp nhiều nhà báo Pháp và Trung Quốc, cựu Thủ tướng Herriot, Thống chế Leclerc, một số nghị sĩ và lãnh đạo Đảng Xã hội Pháp.

Ngày 2-8-1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh đến dự Hội nghị cán bộ Trung ương lần thứ 7 do Tổng Bí thư Trường Chinh chủ trì, bước sang ngày thứ 2, đang sôi nổi thảo luận vấn đề Đảng ra công khai và lấy tên là Đảng Lao động, đồng thời cũng chuẩn bị nội dung cương lĩnh Đại hội II sẽ triệu tập trong thời gian tới. “Nhật ký bộ trưởng” của Lê Văn Hiến thuật lại: “Buổi tối họp tại hội trường, Hồ Chủ tịch chủ tọa. Cụ lần lượt trả lời tất cả các thắc mắc của anh em và cuối cùng tuyên bố hội nghị có nhiệm vụ phải nghiên cứu phương pháp thi hành cho được việc Đảng ra công khai với tên là Đảng Lao động. Toàn thể hội nghị yên lặng tuân theo. Tên Đảng tuy là Đảng Lao động, nhưng nội dung không khác trước bao nhiêu… Vấn đề đặt ra là cần có chiến thuật mềm dẻo, linh động để thống nhất giai cấp công nhân, lôi kéo các tầng lớp dân tộc dân chủ, cô lập các tầng lớp phát xít, tiến tới lập một mặt trận dân tộc, dân chủ… Sự đổi tên của Đảng chẳng những chỉ có lợi cho cuộc chiến đấu trong một nước mà cũng cùng theo chiến lược chung của mặt trận dân chủ thế giới”.

Ngày 2-8-1969, Bác họp Bộ Chính trị để nghe báo cáo về quy hoạch xây dựng thủ đô, nhắc nhở đã quy hoạch thì phải làm đúng theo quy hoạch. Tiếp đó, cuộc họp bàn về vấn đề đấu tranh ngoại giao và tình hình miền Nam.

D.T.Q. và nhóm cộng sự
sggp.org.vn

Ngày 1 tháng 8: “Đào tạo con người là vấn đề chiến lược”

123th Anniversary of Uncle Ho

Thứ bảy, 01/08/2009, 04:50 (GMT+7)

Cách đây 87 năm, ngày 1-8-1922, Báo La Paria (Người Cùng Khổ) đăng 3 bài báo của Nguyễn Ái Quốc. Bài “Sở thích đặc biệt” tố cáo cuộc sống xa hoa và tính cách khác thường của vua Khải Định. Bài “Khai hóa giết người”, thông qua cái chết của một nhân viên Sở Hỏa xa Nam kỳ để lên án: “Trong lúc ở Marseille người ta triển lãm cảnh phồn thịnh giả tạo của xứ Đông Dương thì xứ An Nam đang có những người bị chết đói. Ở bên này người ta ca tụng lòng trung thành, còn ở bên kia người ta đang giết người”.

Còn bài “Phụ nữ An Nam và sự đô hộ của Pháp” thuật lại vụ án binh lính Pháp hãm hiếp một bé gái và 2 phụ nữ Việt Nam rồi giết hại, và kết luận: “Chế độ thực dân, tự bản thân đã là một hành động bạo lực của kẻ mạnh đối với kẻ yếu rồi. Bạo lực đó, đem ra đối xử với trẻ em và phụ nữ, lại càng bỉ ổi hơn nữa…”.

Ngày 1-8-1941, Nguyễn Ái Quốc ra số báo “Việt Nam Độc Lập” đầu tiên nhằm tuyên truyền đường lối của Mặt trận Việt Minh. Báo đăng lời kêu gọi “Khuyên đồng bào mua báo Việt Nam Độc Lập” bằng văn vần: “Báo “Độc lập” hợp thời đệ nhất/Làm cho ta mở mắt mở tai/Cho ta biết đó biết đây/Ở trong việc nước, ở ngoài thế gian/Cho ta biết kết đoàn tổ chức/Cho ta hay sức lực của ta/Cho ta biết chuyện gần xa/Cho ta biết nước non ta là gì…”.

Ngày 1-8-1942, cũng trên báo này, đăng bài thơ “Nhóm lửa” của Nguyễn Ái Quốc, ví sự nghiệp cách mạng như việc nhóm lửa để có ngày: “Lửa cách mạng sáng choang bờ cõi/Chiếu lá cờ độc lập, tự do!”.

Ngày 1-8-1945, tại chiến khu Tân Trào, Đại đội Việt-Mỹ, đơn vị vũ trang hỗn hợp được thành lập giữa 200 chiến sĩ Việt Minh và đơn vị “Con Nai” của tổ chức OSS bước vào đợt huấn luyện sử dụng các loại vũ khí mới, để tổ chức chống phát xít Nhật.

Ngày 1-8-1949, Bác ra “Lời kêu gọi thi đua chuẩn bị tổng phản công”, khẳng định:“Trong việc thi đua ái quốc, cần phải nêu rõ tinh thần cần, kiệm, liêm, chính. Khẩu hiệu thi đua ái quốc hiện nay là: Tất cả để chiến thắng. Chiến thắng thực dân. Chiến thắng giặc dốt. Chiến thắng giặc đói. Chiến thắng mọi tính xấu trong mình ta…”.

Ngày 1-8-1951, Bác viết lời điếu đồng chí Hồ Tùng Mậu với tình cảm “thân thiết hơn anh em ruột”: “Mất chú, đồng bào mất một người lãnh đạo tận tụy. Chính phủ mất một người cán bộ lão luyện. Đoàn thể mất một người đồng chí trung thành, và tôi mất một người anh em chí thiết. Mấy nguồn thương tiếc, cộng vào trong một lòng tôi!… Tôi lại hứa với chú: toàn thể đồng sự và đồng chí sẽ cố gắng noi gương đạo đức cách mạng của chú đã tận trung với nước, tận hiếu với dân”.

Ngày 1-8-1959, kết thúc chuyến thăm Liên Xô, trên đường về, bay ngang ngọn Thiên Sơn (Trung Quốc), Bác cảm tác một bài thơ chữ Hán và tự dịch: “Xa trông cảnh đẹp núi Thiên San/Ráng đỏ vây quanh, tuyết trắng ngần/Sáng dậy mặt trời như lửa tía/Muôn hào quang đỏ chiếu nhân gian”.

Ngày 1-8-1969, tiếp Thứ trưởng Bộ Văn hóa Hà Huy Giáp bàn về việc xuất bản sách “Người tốt việc tốt”, Bác căn dặn: “Đào tạo con người là vấn đề chiến lược, phong trào “Người tốt việc tốt” chính là một biện pháp quan trọng của chiến lược đào tạo con người đó”.

D.T.Q. và nhóm cộng sự

sggp.org.vn

Ngày 31 tháng 7: “Quan liêu, tham ô, lãng phí là tội ác”

123th Anniversary of Uncle Ho

Thứ sáu, 31/07/2009, 01:22 (GMT+7)

Cách đây 84 năm, ngày 31-7-1925, Nguyễn Ái Quốc được Đoàn Chủ tịch Quốc tế Nông dân phân công phụ trách công tác vận động nông dân ở Trung Quốc, Đông Dương, Miến Điện, Xiêm (Thái Lan), Đài Loan và Philippines với nhiệm vụ: Nắm bắt tình hình, gây dựng tổ chức để gia nhập Quốc tế Nông dân.

Ngày 31-7-1931, liên quan đến “Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Công”, phiên tòa thứ nhất xét xử Tống Văn Sơ và Lý Phương Thuận diễn ra. Các luật sư bảo vệ cho 2 nhà cách mạng Việt Nam do công ty luật của luật sư Loseby đảm trách, đã phân tích những sai trái trong thủ tục tố tụng của nhà cầm quyền Anh khi bắt và thẩm vấn những người bị bắt. Đồng thời, các luật sư cho rằng sự vắng mặt của 2 “bị cáo” tại phiên tòa là vi phạm “Luật Bảo thân” của nước Anh. Đây là những luận chứng cơ bản buộc chính quyền Hồng Công phải trả tự do cho những nhà cách mạng Việt Nam.

Ngày 31-7-1946, tiếp tục tận dụng thời gian lưu lại Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp xúc với nhiều nhân vật như Đô đốc Muselier, nữ nhà báo nổi tiếng André Viollis, nhà khoa học nổi tiếng Lengevin và dự sinh nhật của ông Aubrac.

Ngày 31-7-1952, Báo Nhân Dân đăng 3 bài viết của Bác.

Bài thứ nhất là “Anh hùng chế mìn và anh hùng đánh mìn”, biểu dương tấm gương của Nguyễn Văn Kim, một cán bộ chính trị được giao tổ chức nhà máy quân giới đã sáng chế ra vũ khí và cách đánh có hiệu quả.

Bài thứ hai là “Mâu thuẫn giữa Mỹ và Pháp”, phân tích những khác biệt về lợi ích và đường lối của 2 đế quốc trong chiến tranh Việt Nam, để khoét sâu vào những mâu thuẫn của đối phương: “Ta càng thắng lợi thì mâu thuẫn giữa địch càng to, chúng càng bị chia rẽ, thế chúng càng yếu, thế ta càng mạnh, chúng càng thua, ta càng thắng. Thế tức là: khéo dùng tình hình địch để làm lợi cho tình hình ta”.

Bài thứ ba là “Chống quan liêu, tham ô, lãng phí”, vạch rõ: “Quan liêu, tham ô, lãng phí là tội ác. Phải tẩy sạch nó để thực hiện cần kiệm liêm chính, để đẩy mạnh thi đua sản xuất và tiết kiệm, để đưa kháng chiến đến thắng lợi, kiến quốc đến thành công, để xây dựng thuần phong mỹ tục trong toàn dân, toàn quốc. Đó là một nhiệm vụ quan trọng của mỗi người chúng ta”.

Ngày 31-7-1965, tại cuộc họp của Bộ Chính trị bàn về kế hoạch đấu tranh với Mỹ, Bác đề nghị nên tuyên bố để giới cầm quyền Mỹ và thế giới rõ về quyết tâm của ta là: “Mỹ đưa 5 vạn quân chứ 50 vạn ta cũng quyết tâm đánh. Mỹ muốn thương thuyết với ta trên thế mạnh, vì thế cố gắng bổ sung quân số, nhưng đó là thất bại của Mỹ. Chúng ta phải giải thích cho nhân dân cả miền Nam và miền Bắc thấy được điều đó. Mỹ to xác, trang bị tốt nhưng không dai đâu. Phải nghiên cứu xem có phải thay đổi cách đánh…”.

Ngày 31-7-1967, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết thư khen cán bộ và nhân viên quân y cùng với những lời biểu dương và nhắc nhở: “Luôn luôn ghi nhớ rằng người thầy thuốc giỏi, đồng thời phải là người mẹ hiền, hết lòng hết sức cứu chữa và phục vụ thương binh, bệnh binh…”.

D.T.Q. và nhóm cộng sự
sggp.org.vn

Ngày 30 tháng 7: “Vấn đề con người là hết sức quan trọng”

123th Anniversary of Uncle Ho

Thứ năm, 30/07/2009, 04:37 (GMT+7)

Cách đây 87 năm, ngày 30-7-1922, mật thám Pháp theo dõi Nguyễn Ái Quốc đi dự đám tang Jules Guesde, một chính khách thiên tả, đến Nghĩa trang Père Lachaise và buổi chiều tham gia một cuộc mít tinh tại Saint Gervais.

Ngày 30-7-1931, liên quan đến “Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông”, viên Thống đốc người Anh đã ký lệnh bắt giam Tống Văn Sơ lần thứ tư.

Ngày 30-7-1948, trên Báo Sự Thật, với bút danh A.G, Bác viết bài “Giữ bí mật” để chứng minh một nguyên lý quan trọng mà “Vị tổ sư của các nhà quân sự là ông Tôn Tử nói rằng: Trong chiến tranh điều gì quan trọng nhất? Giữ bí mật là quan trọng nhất”, để đi đến một nhận định: “Thế là cuộc chiến tranh thắng hay bại, một phần lớn là do biết giữ bí mật hay không biết giữ bí mật mà quyết định”. Từ đó, bài báo liên hệ đến thực tế là “Trong cuộc chiến tranh này, chúng ta đã biết giữ bí mật chưa? Chưa!” và đi đến kết luận: “Biết giữ bí mật, tức là ta đã nắm chắc một phần lớn thắng lợi trong tay ta”.

Ngày 30-7-1950, Báo Sự Thật đăng bài “Xin chỉ thị, gửi báo cáo”, với bút danh XYZ, Bác đề cập đến hiện trạng: “Trước khi làm không xin chỉ thị. Khi làm rồi, không gửi báo cáo. Nhiều địa phương mắc phải cái bệnh ấy. Họ không hiểu rằng thế là: Vô kỷ luật, vô chính phủ, địa phương chủ nghĩa… Vì bệnh ấy có nơi phải thất bại chua cay”. Bài báo phân tích sự cần thiết phải thực hiện những nguyên tắc bảo đảm mối quan hệ giữa Trung ương và địa phương. Bài báo cũng hướng dẫn rất cụ thể những cách thức để việc báo cáo mang lại hiệu quả: “Báo cáo phải thật thà, gọn gàng, rõ ràng, thiết thực. Những tài liệu và con số phải phân tích và chứng thật. Không nên hàm hồ, bèo nheo. Điều gì biết thì nói biết, không biết thì nói không biết, không nên nói ẩu. Không nên viết “tràng giang đại hải” mà làm lu mờ những điểm chính”. Bài báo kết luận: “Đánh thắng khuyết điểm của ta, tức là một phần đã đánh thắng địch”.

Ngày 30-7-1962, tham dự cuộc họp của Bộ Chính trị bàn về công tác kiểm tra kế hoạch nhà nước năm 1963, Bác phát biểu: “Từ ngày hòa bình lập lại năm nào cũng có thuận lợi, có khó khăn và năm nào cũng không đạt kế hoạch. Tình hình mỗi ngày một căng thẳng. Ta phải tính cách nào, nếu cần có thể giảm bớt một phần xây dựng để giải quyết vấn đề ăn và mặc cho quần chúng được tốt hơn nữa, đừng để cho tình hình đời sống căng thẳng quá. Vấn đề con người là hết sức quan trọng. Nhà máy cũng cần có thêm, có sớm, nhưng cần hơn là con người, là sự phấn khởi của quần chúng. Làm tất cả là do con người…”.

Ngày 30-7-1969, Bác tiếp nhà toán học Hoàng Tụy, nghe báo cáo về việc ứng dụng vận trù học trong phân phối hàng hóa để góp phần giải quyết việc xếp hàng “rồng rắn” trước các cửa hàng. Giáo sư Hoàng Tụy thuật lại: “Trong cuộc gặp, Bác trao đổi: “Nên tìm chữ gì dễ hiểu hơn, chữ “vận trù học” thì Chủ tịch nước cũng không hiểu nổi. “Vận trù” là câu của Trương Lương: “Vận trù ư duy ác chi trung, quyết thắng ư thiên lý chi ngoại”. Vận trù cũng là tham mưu, Bộ đội ta có nhiều người không học tính toán được nhiều mà làm “vận trù” cũng khá là nhờ cái này”. Rồi người chỉ vào trái tim mình”.

D.T.Q. và nhóm cộng sự
sggp.org.vn

Ngày 29 tháng 7: “Phải làm cho giáo dục liên kết với đời sống”

123th Anniversary of Uncle Ho

Thứ tư, 29/07/2009, 01:25 (GMT+7)

Cách đây 87 năm, ngày 29-7-1922, Nguyễn Ái Quốc tham dự sinh hoạt tại Câu lạc bộ Ngoại ô (Club du Faubourg), sau đó đến dự mít tinh do Chi bộ cộng sản vùng Seine tổ chức tại rạp xiếc Mùa Đông ở Paris.

Ngày 29-7-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh được Chính phủ Pháp mời tham dự lễ khai mạc Hội nghị hòa bình của 21 nước Đồng minh họp tại Điện Luxembourg, tức trụ sở Thượng nghị viện Pháp.

Tháng 7-1951, trong thư gửi cán bộ và chiến sĩ bộ đội địa phương Hà Đông, Bác biểu dương: “Nhờ sự phối hợp chặt chẽ với bộ đội chủ lực, các chú đã phá tan kế hoạch của 10 tiểu đoàn địch hòng bao vây tiêu diệt lực lượng ta. Các chú lại tiêu diệt được nhiều sinh lực địch. Bác gởi lời thân ái khen các chú và khuyên các chú học tập kinh nghiệm trong trận vừa qua, ra sức củng cố lực lượng của mình để tranh lấy thắng lợi mới to lớn hơn nữa”.

Cũng trong tháng 7-1951, Bác gửi thư tới Chính ủy Đại đoàn 320 Văn Tiến Dũng, sau lời khen những chiến công đã đạt được, thư nhắc nhở: “Tư tưởng cần thông suốt từ trên đến dưới, từ trên đến dưới phải đồng cam cộng khổ. Kiên quyết đánh thắng mọi khó khăn, thắng được khó khăn tức là thắng địch một phần”.

Cùng thời gian này, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư tới Đại hội giáo dục toàn quốc với đề nghị: “Đại hội nên chú ý làm thế nào cho việc giáo dục liên kết với đời sống của nhân dân, với công cuộc kháng chiến và kiến quốc của dân tộc. Làm thế nào để phối hợp việc giáo dục của trường học với việc tuyên truyền và giáo dục chính trị chung của nhân dân”. 

Tháng 7-1951, Bác cũng viết thư gửi kiều bào ta đang sinh sống tại Vân Nam (Trung Quốc), biểu dương những tấm gương tốt và mong muốn: “Kiều bào ta càng phải đoàn kết nội bộ, khuyên bảo nhau ủng hộ Đảng và Chính phủ, thành thật đoàn kết với anh em Trung Hoa, học tập đạo đức và kinh nghiệm của Trung Quốc để giúp ích cho nước nhà. Mọi người, mọi việc đều cố gắng làm kiểu mẫu”.

Ngày 29-7-1952, viết bài báo “Mỹ giúp Pháp” đăng trên Báo Cứu Quốc, Chủ tịch Hồ Chí Minh chứng minh rằng: “Mỹ giúp Pháp nâng cao địa vị, cũng giống như sợi dây thừng nâng cao địa vị người thắt cổ”.

Ngày 29-7-1959,
 tiếp tục chuyến thăm Liên bang Xô Viết, Chủ tịch Hồ Chí Minh đến Ama Ata, thủ đô nước Cộng hòa Kazhastan.

Ngày 29-7-1961, Báo Nhân Dân đăng bài “Cô học sinh 106 tuổi”, trong đó Bác giới thiệu và biểu dương tấm gương hiếu học của một bà cụ Cuba vốn là nô lệ trong chế độ cũ đã thoát nạn mù chữ. Đây cũng là biểu hiện của những thành tựu diệt giặc dốt của cách mạng Cuba.

Ngày 29-7-1964, tham dự Hội nghị tổng kết công tác kiểm tra của Đảng, Bác Hồ đã phát biểu ý kiến phân tích công tác kiểm tra “góp phần vào việc củng cố Đảng về tư tưởng, về tổ chức” và nhấn mạnh, muốn thực hiện được điều đó, “đặc biệt phải nâng cao ý thức tổ chức và kỷ luật, phải thật thà phê bình và tự phê bình để làm gương mẫu trong việc chấp hành kỷ luật của Đảng. Phải chí công vô tư, không thiên vị, không thành kiến. Như thế thì mới làm tốt được công tác kiểm tra”. 

Ngày 29-7-1966, một ngày sau khi quân và dân Nghệ An bắn rơi chiếc máy bay thứ 900 trên bầu trời miền Bắc, Bác gửi thư khen ngợi “tỉnh nhà” và nhắc nhở không được chủ quan.

D.T.Q. và nhóm cộng sự
sggp.org.vn

Ngày 28 tháng 7: “Phải kiên quyết giành cho được độc lập”

123th Anniversary of Uncle Ho

Thứ ba, 28/07/2009, 01:30 (GMT+7)

Cách đây 87 năm, ngày 28-7-1922, báo cáo của mật thám cho biết Nguyễn Ái Quốc tham dự cuộc họp của Ủy ban Liên hiệp Công đoàn Quận 17 ở Paris.

Ngày 28-7-1939, tờ Notre Voix (Tiếng nói của chúng ta) xuất bản tại Hà Nội đăng bài “Thư từ Trung Quốc – Hoạt động của bọn tơrôtxkit ở Trung Quốc” của PC Lin (bí danh của Nguyễn Ái Quốc) lên án khuynh hướng chính trị này đã khơi dậy chủ nghĩa địa phương trong dân chúng để phá hoại chính sách Mặt trận đoàn kết của cách mạng Trung Hoa.

Cuối tháng 7-1945, hồi ức của Đại tướng Võ Nguyên Giáp thuật lại rằng trong thời gian này, Bác Hồ ốm nặng nằm tại lán Nà Lừa. Một hôm ông ở lại lán ngồi bên, trong cơn sốt cao, Bác căn dặn: “Lúc này thời cơ thuận lợi đã tới, dù hy sinh tới đâu, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập”.

Ngày 28-7-1946, nhận lời mời của ông bà Raymond Aubrac, cựu Ủy viên Cộng hòa thành phố Marseille, nghị sĩ Quốc hội Pháp và cả vợ chồng đều là những chiến sĩ chống phát xít nổi tiếng, Chủ tịch Hồ Chí Minh chuyển từ khách sạn ở trung tâm Paris về ở cùng gia đình Aubrac tại một vùng ngoại vi cách trung tâm thành phố 10km. “Nhật ký hành trình” về Bác viết rằng: “Hai ông bà nghe nói Hồ Chủ tịch muốn về nghỉ mát ở nhà quê, liền viết thơ mời. Lúc cụ Chủ tịch đến, hai vợ chồng ân cần chăm sóc… Về nghỉ ở đây, mọi người thấy khoan khoái dễ chịu lắm…”.

Ngày 28-7-1954, Báo Nhân Dân đăng bài “Hội nghị Genève đã thắng lợi lớn” của Bác (ký bút danh C.B), khẳng định đây là một thắng lợi to lớn nhưng nhắc nhở:“Phải đoàn kết chặt chẽ, tư tưởng thống nhất, hành động nhất trí, ra sức đấu tranh để hoàn thành độc lập, xây dựng dân tộc thực sự. Chúng ta đã thắng lợi trong kháng chiến, chúng ta sẽ thắng lợi trong hòa bình”.

Ngày 28-7-1964, Báo Nhân Dân đăng bài “Ủng hộ cuộc đấu tranh của người Mỹ” của Bác (ký bút danh Chiến Sĩ), trong đó nêu rõ: “Đoàn thể người Mỹ da đen đã từng tham gia phong trào chống Mỹ xâm lược miền Nam nước ta. Cố nhiên nhân dân Việt Nam ta đồng tình và ủng hộ người Mỹ da đen đòi tự do, bình đẳng. Tuy màu da khác nhau, người Việt Nam da vàng hay người Mỹ da đen đều chống lại kẻ thù chung là đế quốc Mỹ hung ác và chắc chắn rằng chính nghĩa nhất định sẽ thắng, nhân dân miền Nam nhất định sẽ thắng, anh em người Mỹ da đen nhất định sẽ thắng”.

Ngày 28-7-1965, Bác viết bài “Phải sẵn sàng phòng chống bão lụt” đăng trên Báo Nhân Dân, nhắc nhở: “Người xưa có câu “thủy, hỏa, đạo tặc”. Nghĩa là phải đề phòng lụt như đề phòng giặc. Chúng ta kịp thời chuẩn bị đầy đủ sẵn sàng thì bão lụt dù to mấy cũng không sợ. Tuyệt đối không nên chờ nước đến chân mới nhảy”.

Cùng ngày, trả lời phỏng vấn của các nhà báo Cuba, Chủ tịch Hồ Chí Minh phân tích những chính sách của Mỹ trong cuộc chiến tranh xâm lược ở Việt Nam và khẳng định: “Đó là cái vòng luẩn quẩn đang tròng vào cổ đế quốc Mỹ làm cho họ cuối cùng sẽ hoàn toàn thất bại ở Việt Nam!”.

Ngày 28-7-1967, phát biểu tại cuộc họp của Bộ Chính trị về vấn đề trao trả tù binh Mỹ, Bác chỉ đạo: “Có thể thả một số vào dịp Noel hoặc 2-9” nhưng không nên nghĩ vì thế mà Mỹ không đánh đê điều.

D.T.Q. và nhóm cộng sự
sggp.org.vn

Ngày 26 tháng 7: “Phải thấm nhuần tinh thần làm chủ nước nhà”

123th Anniversary of Uncle Ho

Chủ nhật, 26/07/2009, 04:24 (GMT+7)

Cách đây 63 năm, ngày 26-7-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đến thăm Fontainebleau, nơi đang diễn ra cuộc đàm phán Việt-Pháp. Cùng ngày, tờ La Liberté (Tự do) đăng bài trả lời phỏng vấn của Chủ tịch, trong đó bày tỏ “lòng mong muốn xây dựng mối quan hệ Việt-Pháp thật thà bình đẳng, vì nước Pháp cần đến chúng tôi. Chúng tôi cũng cần đến nước Pháp. Vấn đề chính là nước Pháp làm thế nào mua được tấm lòng của 20 triệu dân Việt Nam tự do. Muốn như vậy không nên tìm cách “lừa gạt” chúng tôi, không nên sinh chuyện lôi thôi vô ích”.

Ngày 26-7-1947, Bác chủ trì phiên họp của Chính phủ, có sự tham gia của các vị đại diện Quốc hội, thảo luận về chủ trương cải tổ chính phủ do Chủ tịch đề xuất,“nhằm mục đích mở rộng cho nhiều người được tham gia, để tránh sự chia rẽ của Pháp và để lấy ảnh hưởng với quốc tế… Sự thay đổi này có tính cách rộng rãi, các vị thân hào có tiếng tăm được tham gia để tiêu biểu sự đoàn kết của các tầng lớp dân chúng”.

Ngày 26-7-1951, Bác gửi thư cho Bộ trưởng Bộ Thương binh, Cựu binh đặt vấn đề:“Anh em thương binh đã hy sinh một phần xương máu để giữ gìn Tổ quốc, bảo vệ đồng bào, đã tận trung với nước, tận hiếu với dân. Họ đã làm tròn nhiệm vụ, họ không đòi hỏi gì cả. Song đối với những người con trung hiếu ấy, Chính phủ và đồng bào phải báo đáp thế nào cho xứng đáng?”. Và Bác đề xuất “giúp lâu dài chứ không phải chỉ giúp trong thời gian, không phải góp gạo nuôi thương binh” mà bằng phương thức lấy từ quỹ đất công của làng xã, của những người hảo tâm hay khai hoang để cấp cho thương binh và giúp họ sản xuất. “Như thế thì đồng bào mỗi xã được thỏa mãn lòng ước ao báo đáp anh em thương binh mà anh em thương binh thì được yên ổn về vật chất và vui vẻ về tinh thần và vẫn có dịp tham gia hoạt động ích lợi cho xã hội”.

Cùng ngày 26-7-1951, Báo Nhân Dân đăng bài “Phụ nữ kiểu mẫu” của Bác, biểu dương một số tấm gương phụ nữ đã đóng góp cho kháng chiến qua “vài mẩu chuyện rất bình thường, mà rất vĩ đại” và đi đến kết luận: “Phải chăng vì danh, vì lợi, vì địa vị mà họ làm như vậy? Không phải. Đó là vì lòng nồng nàn yêu nước. Đó là lòng chí công vô tư mà chúng ta đều phải học theo”.

Ngày 26-7-1953, Bác gửi điện cho Bộ trưởng Bộ Thương binh, Cựu binh: “Nhân dịp Ngày Thương binh, tôi xin gửi một tháng lương của tôi và 50 khăn tay do đồng bào phụ nữ Thái biếu tôi, nhờ cụ chuyển cho anh em thương binh với lời chào thân ái của tôi”.

Ngày 26-7-1962, đến tỉnh Hải Dương tham gia chống úng cùng dân, Bác căn dặn:“Mọi người công dân già, trẻ, gái trai đều phải thấm nhuần tinh thần làm chủ nước nhà… Đó là công tác tư tưởng cực kỳ quan trọng mà mỗi đảng viên, đoàn viên thanh niên và các cấp ủy Đảng, trước hết là chi bộ phải làm cho tốt”.

Ngày 26-7-1964, kết thúc bài báo “Đế quốc Mỹ rúc xuống hầm” đăng trên Báo Nhân Dân viết về những thất bại trên chiến trường Việt Nam của quân đội Mỹ, Bác bình bằng 2 câu thơ: “Lại thêm chứng cớ rõ ràng/ Đồng bào miền Nam càng đánh càng mạnh và càng thắng to!”.

D.T.Q và nhóm cộng sự
sggp.org.vn

Ngày 25 tháng 7: “Tự hào có người bạn Cuba anh hùng”

123th Anniversary of Uncle Ho

Thứ bảy, 25/07/2009, 01:15 (GMT+7)

Cách đây 87 năm, ngày 25-7-1922, “Bức thư ngỏ” của Nguyễn Ái Quốc gửi Bộ trưởng Bộ Thuộc địa Pháp Albert Sarraut được công bố trên báo “L’Humanité”(Nhân Đạo). Bằng một lối văn hài hước, bức thư đả kích những chính sách của thực dân Pháp cùng sự kiểm soát hà khắc đối với những người Việt Nam sống tại Pháp, chế giễu những biện pháp theo dõi của mật thám Pháp bằng lời thách thức: “Nếu ngài nhất thiết cần biết hằng ngày chúng tôi làm gì thì dễ thôi… Thời khóa biểu của tôi rất đơn giản và hầu như cố định: Sáng từ 8 đến 12 giờ ở xưởng máy. Chiều: ở phòng báo chí (dĩ nhiên, là báo của phái tả) hoặc ở thư viện. Tối: ở nhà riêng, hoặc dự những buổi nói chuyện bổ ích. Chủ nhật: thăm nhà bảo tàng hay những nơi bổ ích khác”.

Ngày 25-7-1945, từ Chiến khu Việt Bắc, thông qua viên chỉ huy đơn vị Tình báo Chiến lược Mỹ OSS A.Thomas, lãnh tụ Hồ Chí Minh đưa ra thông điệp đối với Chính phủ Pháp về nền độc lập của nhân dân Việt Nam sau khi đánh đổ phát xít Nhật ở Đông Dương, gồm 5 điểm: xây dựng một nghị viện hỗn hợp Pháp-Việt trong quá trình hướng đến một nền độc lập hoàn toàn; quá trình đó xác định khoảng 5 năm và tối đa 10 năm; các nguồn lợi thiên nhiên phải được trả lại cho nhân dân; Việt Nam được hưởng mọi quyền tự do mà Liên hiệp quốc đã ban bố; cấm chỉ việc bán thuốc phiện.

Ngày 25-7-1949, kết thúc phiên họp của Chính phủ, khi đề cập đến nhiệm vụ kháng chiến và kiến quốc, Bác nhận định: “Cũng như chim muốn bay cần phải có hai cánh, một cuộc chiến tranh muốn thắng lợi cần phải có hai lực lượng chính: quân sự và chính trị. Ông Tôn Tử là một người thao lược giỏi nhất trong lịch sử và trong thế giới, có nói: Biết địch, biết ta, trăm trận, trăm thắng. Vậy ta cần phải biết Pháp, biết ta… Giặc Pháp mù quáng về chính trị, thoái bộ về quân sự. Cả hai cánh của họ đã yếu và chỉ có thể đưa họ đến thất bại. Bên ta, chính trị rõ ràng, quân sự tiến bộ mãi. Hai cánh của ta rất mạnh, ngày càng mạnh thêm, cho nên ta nhất định thắng lợi. Thêm vào đó, tình hình thế giới rất có lợi cho ta. Cánh ta đã vững, gió lại thuận chiều, quân và dân ta hãy cố gắng lên. Thắng lợi vẻ vang đã gần trước mắt”. 

Ngày 25-7-1956, nói chuyện tại Liên hoan Thanh niên tích cực ngành Đường sắt, Bác khuyên: “Nếu không học văn hóa, không có trình độ văn hóa thì không học tập được kỹ thuật. Không học tập được kỹ thuật thì không theo kịp được nhu cầu kinh tế nước nhà. Nhưng phải chú ý học tập chính trị vì nếu chỉ học văn hóa, kỹ thuật mà không có chính trị thì như người nhắm mắt mà đi”.

Ngày 25-7-1963, kỷ niệm 10 năm ngày Khởi nghĩa Moncada, Bác gửi điện mừng tới các nhà lãnh đạo Cuba, khẳng định: “Nhân dân Việt Nam rất tự hào có người bạn chiến đấu là nhân dân Cuba anh hùng và coi những thắng lợi của nhân dân Cuba cũng như những thắng lợi của bản thân mình”.

D.T.Q và nhóm cộng sự
sggp.org.vn

Ngày 24 tháng 7 – “Xây dựng Đảng là nhiệm vụ cực kỳ quan trọng”

123th Anniversary of Uncle Ho

Thứ sáu, 24/07/2009, 03:07 (GMT+7)

Cách đây 87 năm, ngày 24-7-1922, Nguyễn Ái Quốc họp Chi bộ quận 17 Đảng Cộng sản Pháp tại số nhà 100 phố Cardiné, Paris. Cũng vào thời điểm này, Nguyễn Ái Quốc bắt đầu chuyển về cư ngụ tại số 9 ngõ Compoint.

Ngày 24-7-1946, trong lúc cuộc thảo luận chính thức Pháp-Việt đang diễn ra tại Fontainebleau đi vào bế tắc thì Chủ tịch Hồ Chí Minh càng ráo riết vận động “ngoại giao hành lang”. Trong ngày Bác thăm Bộ trưởng Pierre Cot, Chủ tịch Quốc hội Vincent Auriol, Phó Chủ tịch Quốc hội đồng thời cũng là nhà lãnh đạo Đảng Cộng sản Pháp Jacques Duclos… và dành thời gian làm việc với phái đoàn Việt Nam do đồng chí Phạm Văn Đồng dẫn đầu.

Cùng ngày, trả lời phỏng vấn của các báo Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh bày tỏ quan điểm: “Nước Pháp thừa nhận Việt Nam độc lập và cùng chúng tôi gây mối quan hệ mới trên cái nền tin cậy và tự do, thì nước Pháp sẽ thấy danh dự của mình, tinh thần của mình và áp lực của mình ở Việt Nam thêm nhiều lắm. Mà như thế thì vững vàng, chắc chắn hơn là lấy chiến tranh hoặc sức mạnh hoặc tham mưu, để ép chúng tôi ký điều ước này, điều ước nọ”.

Ngày 24-7-1953, Báo Cứu Quốc đăng bài “Xây dựng Đảng Lao động Việt Nam” của Bác, trong đó nêu rõ: “Xây dựng Đảng là một nhiệm vụ cực kỳ quan trọng… Giáo dục tư tưởng và lãnh đạo tư tưởng là việc quan trọng nhất của Đảng, phải kiên quyết chống thói xem nhẹ tư tưởng… Về đường lối, Đảng chống khuynh hướng “tả” và “hữu””.

Ngày 24-7-1962, nói chuyện tại Hội nghị cán bộ cao cấp của Đảng và Nhà nước về “Cuộc vận động nâng cao ý thức trách nhiệm, tăng cường quản lý kinh tế tài chính, chống tham ô, lãng phí, quan liêu”, Bác nhấn mạnh: “Cuộc vận động này là một cuộc cách mạng nội bộ, một cuộc đấu tranh gay go giữa cái tốt và cái xấu, giữa cái cũ và cái mới, giữa đạo đức cách mạng là cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư và kẻ địch là tệ nạn tham ô, lãng phí, quan liêu… Uy tín của người lãnh đạo là mạnh dạn thực hiện tự phê bình và phê bình, biết học hỏi quần chúng, sửa chữa khuyết điểm, để đưa công việc ngày càng tiến bộ, chứ không phải ở chỗ giấu diếm khuyết điểm và e sợ quần chúng phê bình”.

Ngày 24-7-1967, tại nhà sàn trong Phủ Chủ tịch vào thời điểm máy bay Mỹ đang bắn phá ác liệt, Bác thân mật tiếp ông Raymond Aubrac, một người bạn tốt mà Bác đã từng quen biết và đến ở tại nhà ông trong thời gian qua thăm Pháp năm 1946. Đi cùng ông Aubrac là nhà sinh vật học Herbert Marcovic đến Việt Nam công khai là làm việc với Viện Vệ sinh Dịch tễ nước ta nhưng thực chất cả hai người mang sứ mệnh thiện chí nhằm “hòa giải” mối quan hệ giữa Washington và Hà Nội để chấm dứt chiến tranh.

Tại cuộc gặp, Bác đã phân tích từ lịch sử dân tộc để thấy bản chất cuộc chiến đấu của nhân dân Việt Nam và đưa ra thông điệp là chỉ khi nào Mỹ chấm dứt hoàn toàn việc đánh phá miền Bắc thì mới có thể có đàm phán. Cuối buổi tiếp, Bác không quên thăm hỏi và tặng quà cho con gái của ông Aubrac mà Bác đã nhận lời đỡ đầu cách đó 21 năm (1946).

D.T.Q và nhóm cộng sự
sggp.org.vn

Ngày 23 tháng 7: “Chân lý là cái gì có lợi cho Tổ quốc…”

123th Anniversary of Uncle Ho

Thứ năm, 23/07/2009, 03:50 (GMT+7)

Cách đây 70 năm, cuối tháng 7-1939, trong bản báo cáo gửi Ban chấp hành Quốc tế Cộng sản (ký tên là P.C Lin), Nguyễn Ái Quốc từ Trung Quốc điểm lại tình hình Đông Dương trong thời kỳ 1936-1939, tức thời kỳ diễn ra phong trào Dân chủ trong bối cảnh Chính phủ Bình dân lên cầm quyền ở Pháp. Tuy nhiên, Nguyễn Ái Quốc cũng bộc bạch tâm trạng của mình trước những biến cố đang dồn dập: “Tôi ra đi (rời Liên Xô) đã 9 tháng và đã tới nơi được 7 tháng. Nhưng tôi lấy làm khổ tâm mà báo cáo rằng tôi chưa hoàn thành nhiệm vụ. Đúng là tôi rơi vào cơn lốc đang làm biến đổi số mệnh của hàng trăm triệu con người và trên con đường vận động của nó, nó đã ngẫu nhiên làm đảo lộn tất cả kế hoạch của tôi”. 

Ngày 23-7-1946, tại Paris Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục tiếp xúc với báo chí, các chính khách và đi thăm “Bảo tàng tượng sáp” ở Paris, nơi lưu giữ các tượng bằng sáp các nhân vật nổi tiếng thế giới.

Ngày 23-7-1956, nói chuyện với lớp nghiên cứu chính trị khóa I Trường Đại học Nhân dân Hà Nội, Bác phân tích: “Ngoài công, nông, cách mạng cũng cần có lực lượng của trí thức. Vì lẽ đó, trong sự nghiệp cách mạng, trong sự nghiệp xây dựng xã hội chủ nghĩa, lao động trí óc có một vai trò quan trọng và vẻ vang”.

Nhấn mạnh đến 2 chữ “chính tâm”, Bác diễn giải: “Phải kinh qua cuộc đấu tranh giữa cái cũ và cái mới trong bản thân mình, cuộc đấu tranh gay go, gian khổ và liên tục. Nhưng ta kiên quyết thì cái mới nhất định thắng cái cũ và chính tâm nhất định thành công”.

Về tự do tư tưởng, Bác xác định: “Chế độ ta là chế độ dân chủ, tư tưởng phải được tự do. Tự do là thế nào? Đối với mọi vấn đề, mọi người tự do bày tỏ ý kiến của mình, góp phần tìm ra chân lý. Đó là một quyền lợi mà cũng là một nghĩa vụ của mọi người. Khi mọi người đã phát biểu ý kiến, đã tìm thấy chân lý, lúc đó quyền tự do tư tưởng hóa ra quyền tự do phục tùng chân lý. Chân lý là cái gì có lợi cho Tổ quốc, cho nhân dân. Cái gì trái với lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân tức là không phải chân lý. Ra sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân – tức là phục tùng chân lý… Đảng và Chính phủ ta rất quý trọng những người trí thức của nhân dân, vì nhân dân”. 

Ngày 23-7-1959, tiếp tục chuyến thăm hữu nghị Liên Xô, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đoàn đại biểu Chính phủ Việt Nam rời Erevan, thủ đô Armenia đến thành phố Bacu, thủ đô nước Cộng hòa Azerbaijan và tham quan khu mỏ khai thác dầu nổi tiếng ở phía Bắc thành phố.

Ngày 23-7-1961, Bác tham dự cuộc mít tinh của 25 vạn nhân dân thủ đô Hà Nội tại Quảng trường Ba Đình, nhân kỷ niệm 7 năm ký kết Hiệp định Genève lập lại hòa bình ở Đông Dương. Phát biểu tại đây, Bác căn dặn: “Đoàn kết là sức mạnh. Đồng bào cả nước đoàn kết, chúng ta đoàn kết với nhân dân các nước xã hội chủ nghĩa, với nhân dân châu Á, châu Phi, châu Mỹ la tinh và nhân dân yêu chuộng hòa bình thế giới, nhất định chúng ta sẽ thắng đế quốc Mỹ và bọn tay sai”. Sau đó, Bác bắt nhịp để mọi người hát bài ca “Kết đoàn”.

D.T.Q và nhóm cộng sự
sggp.org.vn

Ngày 22 tháng 7: “Trung Nam Bắc đều là bờ cõi của ta”

123th Anniversary of Uncle Ho

Thứ tư, 22/07/2009, 01:38 (GMT+7)

Cách đây 83 năm, ngày 22-7-1926, từ Quảng Châu (Trung Quốc), Nguyễn Ái Quốc viết thư gửi Ủy ban Trung ương Thiếu nhi – trực thuộc Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Lênin – đặt vấn đề: “Chúng tôi có tại đây một nhóm thiếu nhi An Nam. Các em đều từ 12 đến 15 tuổi. Đó là những thiếu nhi cộng sản đầu tiên của nước An Nam, bị chủ nghĩa đế quốc Pháp áp bức… Nhiều em có cha mẹ bị người Pháp bắt giam vì các em đã bỏ gia đình đi ra nước ngoài, như những người cách mạng…”.

Bức thư đề nghị ủy ban tiếp nhận một số bạn nhỏ An Nam để sau này sẽ trở thành“Những chiến sĩ Lêninnit chân chính nhỏ tuổi”. Ngoài ra, trong bức thư gửi tới Đoàn Thanh niên Cộng sản Pháp tại Quốc tế Thanh niên Cộng sản, Bác cũng đề nghị ủng hộ ý định trên để “các em được tiếp thu một nền giáo dục cộng sản chủ nghĩa tốt đẹp”.

Tháng 7-1929, Nguyễn Ái Quốc xuất hiện tại tỉnh Nakhon Phanom bên bờ sông Mê Kông, giáp giới với Đông Dương. Từ đây, nhà cách mạng Việt Nam đã xây dựng cơ sở trong cộng đồng Việt kiều tại nhiều địa phương trên đất Thái Lan. Sau này, trong báo cáo gửi Quốc tế Cộng sản, Nguyễn Ái Quốc có viết: “Đã hai lần tôi cố gắng về An Nam, nhưng phải quay trở lại. Bọn mật thám và cảnh sát ở biên giới quá cẩn mật, đặc biệt là từ khi xảy ra vụ An Nam Quốc dân Đảng”.

Ngày 22-7-1946, tiếp tục những nỗ lực ngoại giao tại Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp xúc với nhiều tầng lớp xã hội, chính khách và gửi thư tới Bộ trưởng Pháp quốc Hải ngoại Marius Moutet thông báo có thể sẽ về nước vào đầu tháng 8. Bác tỏ ý tiếc nuối: “Nếu nước Pháp không thừa nhận nền độc lập Việt Nam, đó là một sự thiệt hại cho nước Pháp và cho cả Việt Nam nữa. Song đối với nước Pháp, sự thiệt thòi sẽ là vĩnh viễn, còn đối với Việt Nam, thất bại đau đớn của sự hợp tác mà Việt Nam mong muốn sẽ buộc chúng tôi chỉ còn biết trông vào sức của mình mà thôi, để tìm cách thỏa mãn những nguyện vọng của nhân dân mình”.

Ngày 22-7-1954, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi: “Hội nghị Genève đã kết thúc. Ngoại giao ta đã thắng to… Tôi kính cẩn nghiêng mình trước linh hồn các chiến sĩ và đồng bào đã oanh liệt hy sinh cho Tổ quốc và gửi lời an ủi anh em thương binh bệnh binh…”. Lời kêu gọi cũng khẳng định “Trung Nam Bắc đều là bờ cõi của ta, nước ta nhất định sẽ thống nhất, đồng bào cả nước nhất định được giải phóng. Đồng bào miền Nam kháng chiến trước hết, giác ngộ rất cao. Tôi tin rằng đồng bào sẽ đặt lợi ích của cả nước trên lợi ích địa phương, lợi ích lâu dài trên lợi ích trước mắt… Tôi thiết tha kêu gọi tất cả những người thật thà yêu nước không phân biệt tầng lớp nào, tín ngưỡng nào, chính kiến nào và trước đây đã đứng về phe nào, chúng ta hãy thật thà cộng tác, vì dân vì nước mà phấn đấu để thực hiện hòa bình, thống nhất, độc lập và dân chủ trong nước Việt Nam yêu quý của chúng ta”.

Ngày 22-7-1968, Bác gửi thư khen quân và dân Nghệ An đã bắn rơi 400 máy bay Mỹ và biểu dương: “Đồng bào và cán bộ Nghệ An hãy nêu cao truyền thống anh dũng của Xô viết – Nghệ Tĩnh giành nhiều thành tích to lớn hơn nữa”.

D.T.Q và nhóm cộng sự
sggp.org.vn