Tag Archive | Chính trị – Xã hội

Chuyện ngược đời (3-4-1961)

Trung tuần tháng 3 vừa rồi, trong một bức thư nói về nguy cơ của nông nghiệp Mỹ, tổng Ken 1 đã thú nhận rằng: Trong 10 nǎm qua thu nhập của nông dân Mỹ càng ngày càng giảm sút, trong 100 gia đình nông dân Mỹ, thì 10 gia đình phải ǎn đói, đáng lẽ ǎn ba phần mới đủ, thì họ chỉ có ǎn một phần.

Đó là chưa kể tình trạng đói khổ của 5 triệu 70 vạn công nhân thất nghiệp.

Phải chǎng vì mất mùa, vì thiếu lương thực mà người lao động Mỹ phải nhịn đói? Không phải! Chính vì lương thực của tư bản thừa quá nhiều. Thế mới ngược đời chứ!

Lương thực thừa nhiều đến nỗi Chính phủ Mỹ mỗi nǎm phải chi tiêu hơn 500 triệu đôla vào việc bảo quản.

Làm thế nào để giải quyết cái nạn thừa lương thực này? Một vị đại biểu Quốc hội Mỹ đề ra một ý kiến rất giản đơn. Ông ta nói: “Nếu cho mỗi công dân Mỹ ǎn vừa no, thì lương thực sẽ không bị thừa nữa”.

Nhưng đối với chế độ tư bản, đó là một ý kiến ngây thơ, ngược đời.

Tổng Ken đề ra một biện pháp mà ông ta gọi là “Lương thực dùng vào hoà bình”. Tức là đưa số lương thực thừa ứ “giúp” cho các nước chậm tiến.

Ví dụ: Mỹ trích trong số lương thực thừa đó 10.000 tấn gạo để “giúp” Philippin, giá là 100.000 đôla, thêm vào 10.000 đôla phí tổn chuyên chở do công ty vận tải Mỹ bao. Tổng cộng là 110.000 đôla mà Philippin phải ký giấy vay Mỹ.

Thế là Mỹ đã giải quyết được một vạn tấn lương thực thừa, lại được Philippin mắc 11 vạn đôla nợ.

Danh nghĩa là Mỹ “giúp” Philippin, thực tế là Philippin giúp Mỹ đỡ khủng hoảng.

Một vạn tấn gạo Mỹ đưa đến Philippin tất nhiên đèo thêm những điều kiện chính trị và quân sự. Chính tổng Ken đã nói: Bán lương thực thừa cho các nước chậm tiến “là một công cụ rất quan trọng của chính sách đối ngoại của Mỹ”.

Lương thực thừa của Mỹ “giúp” tốt hay là xấu, rẻ hay là đắt?

Sau đây là dư luận của vài nước “bị giúp”:

“Có khi chở đến Pakixtan thì lương thực Mỹ đã hư hỏng, không ǎn được nữa. Nhưng Pakixtan vẫn phải trả 40% đắt hơn giá trên thị trường thế giới” (tạp chí Pakixtan).

“Hiệp định Mỹ bán lương thực thừa cho ấn đã giúp cho tư bản Mỹ trói buộc chặt hơn nữa kinh tế của ấn” (tập san Lực lượng nhân dân, ấn Độ).

“Cách “giúp” của Mỹ, thực tế là: Tay phải xoáy hết những cái gì tay trái đã cho” (tập san Liên hệ, Ấn Độ).

Dựa vào “viện trợ” mà “Mỹ xem Philippin như người ǎn xin, ngoài việc xin ǎn thì không biết gì nữa” (Thời báo Manila, Philippin).

Dùng cách bán lương thực thừa, đế quốc Mỹ vừa giữ gìn lợi ích của bọn tư bản Mỹ vừa xâm lược các nước chậm tiến. Thế là “hai bề vẹn hai”. Nhưng tổng Ken cần phải nhận rằng: “Lương thực thừa là một chứng bệnh nặng, nó làm cho kinh tế nông thôn Mỹ tổn hại nghiêm trọng… Và vấn đề đó không thể giải quyết được trong một ngày, hoặc một nǎm, thậm chí cả mấy nǎm suốt nhiệm kỳ của một tổng thống”.

Mỹ thường khoe khoang cái gì Mỹ cũng “nhất thế giới”. Thì tình trạng khủng hoảng công nghiệp và nông nghiệp, Mỹ cũng nhất thế giới tư bản.

T.L.

————————-

Báo Nhân dân, số 2570, ngày 3-4-1961.
cpv.org.vn

Bài nói chuyện với đồng bào và cán bộ tỉnh Bắc Giang (6-4-1961)

Thưa đồng bào,

Bác và đồng chí Khai, ủy viên Trung ương, thay mặt Đảng và Chính phủ thân ái hỏi thǎm đồng bào và cán bộ các dân tộc, hỏi thǎm các đồng chí bộ đội, công an và dân quân tự vệ, hỏi thǎm các đồng chí công nhân các xí nghiệp, hỏi thǎm các cụ phụ lão, các cháu thanh niên, nhi đồng, các kiều bào mới về nước và cảm ơn các đồng chí chuyên gia Trung Quốc anh em sang giúp tỉnh nhà. Nhân dịp này Bác báo cho đồng bào và cán bộ tỉnh nhà một tin mừng: Trung ương sắp mở một đợt chỉnh huấn cho toàn Đảng và toàn dân.

CHỈNH HUẤN LÀ GÌ? Trong mấy nǎm qua, đồng bào và cán bộ ta có nhiều cố gắng và nhiều thành tích. Một ví dụ: trước đây đồng bào nông dân đều làm ǎn riêng lẻ, “đèn nhà ai, rạng nhà ấy”.

Ngày nay, ở tỉnh ta hơn 90% nông hộ đã đoàn kết nhau lại trong các hợp tác xã giúp đỡ lẫn nhau, làm ǎn vui vẻ. Đó là một thành tích to lớn.

Nhưng trong thành tích đó vẫn cónhược điểm cần phải sửa chữa để tiến bộ hơn nữa. Ví dụ: nhiều hợp tác xã cần được củng cố, việc quản trị cần được tǎng cường, v.v.. Chỉnh huấn nghĩa làhuấn luyện cán bộ và nhân dân nhằm chỉnh đốn lại tư tưởng và tác phong, để sửa chữa những nhược điểm và khuyết điểm, phát triển những ưu điểm, làm cho mọi người, mọi việc đều tiến bộ hơn nữa.

Trong chỉnh huấn, có mấy điều rất quan trọng sau đây:

1. LÀM CHO MỌI NGƯỜI NÂNG CAO TINH THẦN LÀM CHỦ NƯỚC NHÀ

Tất cả nhân dân ta phải hiểu sâu sắc rằng: nước nhà là nước nhà của nhân dân ta, nhân dân ta là người chủ nước nhà. Quyền làm chủ đó là do cách mạng thành công và kháng chiến thắng lợi đưa lại cho nhân dân ta.

Đã làm chủ, thì mọi người, mọi dân tộc phải chung sức làm cho dân giàu nước mạnh, làm cho đời sống của nhân dân được cải thiện không ngừng, làm cho con cháu ta ngày càng sung sướng. Muốn như thế, thì mọi người phải thực hiện khẩu hiệu cần kiệm xây dựng nước nhà. Tức là mọi người phải thi đua tǎng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm. Cần và kiệm phải đi đôi với nhau.

Chúng ta hãy lấy hợp tác xã nông nghiệp làm ví dụ: tổ chức hợp tác xã là một bước tiến lên nhưng đó chỉ mới là một bước đầu. Bây giờ cần phải củng cố và phát triển nó cho tốt. Trước hết phải làm cho xã viên và cán bộ đều phải ra sức thực hiện “cần kiệm xây dựng hợp tác xã”, làm cho tǎng thu nhập riêng của các xã viên và thu nhập chung của hợp tác xã. Muốn được như vậy, thì:

– Cán bộ ban quản trị phải dân chủ, công bằng, minh bạch, chí công vô tư.

– Xã viên phải ra sức chǎm lo công việc xã và quý trọng tài sản của xã.

– Cán bộ và xã viên phải đoàn kết chặt chẽ như anh em một nhà.

Hiện nay, các hợp tác xã tỉnh ta còn những khuyết điểm sau đây, cần phải sửa chữa:

Vềsản xuất – Phân bón quá ít, thuỷ lợi còn kém, nông cụ cải tiến ít, số ngày lao động quá ít, mỗi nǎm bình quân mỗi xã viên chỉ lao động khoảng 100 ngày. Do đó mà mức sản xuất, nhất là sắn, mía, đỗ các loại, v.v. hiện nay chưa đạt một nửa kế hoạch.

Về chǎn nuôi – ở vào trung du có đồng bằng lại có đồi núi, như thế là tỉnh ta có điều kiện rất thuận lợi cho nghề chǎn nuôi. Nhưng số trâu, bò, lợn vốn đã thấp, lại không được sǎn sóc tử tế. Về vỡ hoang phải cố gắng hơn nữa, trồng cây gây rừng đều kém.

Công việc thuỷ lợi đến nay bình quân mỗi người mới đạt 6 mét khối, như thế là quá ít. Việc đắp đê cũng mới đạt 50%.

Lâm thổ sản – Là một nguồn thu nhập khá lớn, nhưng việc khai thác cũng kém, chỉ đạt từ 35% (như củi), đến 57% (như nứa).

Vì những nhược điểm đó mà hợp tác xã bậc thấp thu nhập không cao và nhiều hợp tác xã bậc cao thu nhập vẫn thấp. Một nguyên nhân nữa là quản lý lao động, quản lý tài sản, v.v. đều còn yếu. Cần phải tǎng cường hơn nữa.

Từ nay, mỗi cán bộ, mỗi xã viên phải thấm nhuần tư tưởng làm chủ hợp tác xã, làm chủ nước nhà; phải thực hiện tốt khẩu hiệu “cần kiệm xây dựng hợp tác xã”; làm được như vậy thì hợp tác xã nhất định sẽ phát triển tốt, thu nhập nhất định sẽ tǎng thêm.

*

* *

Bây giờ nói tóm tắt về các vấn đề khác:

Về vǎn hoá – Việc bình dân học vụ tỉnh ta có cố gắng nhưng số người không biết đọc, biết viết vẫn còn khá nhiều (38.000 người), nhất là ở Lục Ngạn, Sơn Động và Lục Nam. Trong nǎm nay, cần phải cố gắng thanh toán xong nạn mù chữ.

Về bổ túc vǎn hoá, nǎm ngoái hơn 9 vạn người theo học, nǎm nay chỉ có độ 4 vạn. Như vậy là phong trào không lên mà lại xuống. Cần phải đẩy phong trào lên mạnh hơn nữa.

Về vệ sinh, phòng bệnh – Tỉnh ta đã có cố gắng nhưng vẫn cần phải gây một phong trào vệ sinh, phòng bệnh rộng khắp và bền bỉ. Làm cho đồng bào hiểu rằng muốn lao động sản xuất tốt thì phải giữ gìn sức khoẻ. Muốn giữ gìn sức khoẻ thì phải ǎn sạch, uống sạch, mặc sạch, ở sạch. Cần phải tìm mọi cách để bảo vệ phụ nữ thai nghén, để chữa các bệnh đau mắt hột và bệnh sốt rét.

Về thương nghiệp – Cán bộ thương nghiệp cần phải nâng cao hơn nữa tinh thần phục vụ nhân dân, phục vụ sản xuất. Mua những thứ đã khuyến khích đồng bào bán, bán những thứ đồng bào cần mua. Giá cả cần đúng mức, thái độ cần khiêm tốn.

Về công nghiệp địa phương – Cũng phải nhằm phục vụ nhân dân, phục vụ sản xuất. Làm những thứ gì mà địa phương sẵn có nguyên liệu để sản xuất, sản xuất rồi có thể tiêu thụ ở địa phương. Phải làm đúng nguyên tắc sản xuất nhiều, nhanh, tốt, rẻ.

Công nhân phải thấm nhuần tinh thần làm chủ xí nghiệp, phải thi đua tǎng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm, phải xứng đáng là giai cấp lãnh đạo.

Về phụ nữ – Hầu hết phụ nữ đều vào hợp tác xã, gần 800 chị em tham gia chính quyền các cấp. Như thế là tốt. Nhưng chị em còn phải cố gắng học tập và đấu tranh hơn nữa để đi đến thật sự nam nữ bình quyền.

Vềthanh niên – Đoàn Thanh niên Lao động có gần 16.700 đoàn viên. Đó là một lực lượng khá lớn. Các cháu thanh niên cần phải xung phong trong lao động và trong học tập, cần thực hiện khẩu hiệu “Đâu Đảng cần thì thanh niên có, việc gì khó thì thanh niên làm”, để xứng đáng là cánh tay đắc lực của Đảng.

Phụ nữ và thanh niên cần phải tuyên truyền rộng khắp để nhân dân chấp hành nghiêm chỉnh Luật hôn nhân và gia đình.

Về nhi đồng – Bác khuyên các cháu nhi đồng thi đua thực hiện 5 tốt, tức là đoàn kết tốt, học tập tốt, kỷ luật tốt, vệ sinh tốt, lao động tốt. Về lao động, ví dụ các cháu nên chǎn trâu bò cho béo khoẻ, tham gia trồng cây và bảo vệ cây cho tốt.

Các đồng chí bộ đội, công anvà dân quân tự vệ đều tích cực bảo vệ trật tự, trị an và tham gia lao động sản xuất. Như thế là tốt. Các đồng chí cần phải luôn luôn nâng cao tinh thần cảnh giác, dựa vào lực lượng nhân dân và phải cố gắng học tập chính trị, vǎn hoá và nghiệp vụ để tiến bộ mãi.

2. TẤT CẢ PHCỤ VỤ SẢN XUẤT

Để xây dựng chủ nghĩa xã hội, để nâng cao đời sống của nhân dân, nhiệm vụ quan trọng nhất của chúng ta hiện nay là phát triển sản xuất.

Tất cả mọi người – công, nông, trí thức và tất cả cán bộ và viên chức mọi cấp, mọi ngành đều phải góp sức làm cho sản xuất phát triển. Chúng ta phải làm cho nông nghiệp phát triển toàn diện, mạnh mẽ và vững chắc, phải bảo đảm cho lương thực được dồi dào.

Chúng ta phải làm cho công nghiệp mau lớn mạnh. Mọi người phải hiểu rằng lao động sản xuất là nghĩa vụ vẻ vang của mình.

Đảng và Chính phủ sẽ lấy thành tích lao động sản xuất và lãnh đạo sản xuất tốt hay là kém mà đánh giá tinh thần yêu nước và đạo đức cách mạng của mỗi người, mỗi cán bộ.

3. VỀ CÁN BỘ ĐẢNG VIÊN

Đảng ta là Đảng lãnh đạo cách mạng. Ngoài lợi ích của nhân dân Đảng ta không có lợi ích nào khác. Vì vậy, cán bộ và đảng viên phải một lòng một dạ phục vụ nhân dân, phải là người đày tớ hết sức trung thành của nhân dân.

Về lãnh đạo, cán bộ phải thật sự đoàn kết, nhất trí, phải đi sâu đi sát, phải lãnh đạo thiết thực và toàn diện. Phải chống tư tưởng bảo thủ, chống bệnh quan liêu, mệnh lệnh, chống lãng phí tham ô.

Cán bộ, đảng viên và đoàn viên thanh niên phải làm gương mẫu trong lao động sản xuất và trong học tập. Tỉnh ta có hơn 198.000 người từ 18 đến 50 tuổi. Trong số đó có gần 29.000 đảng viên và đoàn viên. Nếu mỗi đảng viên, mỗi đoàn viên làm trọn nhiệm vụ của mình, tức là làm đầu tàu trong mọi công việc và giúp 6 anh em ngoài Đảng và ngoài Đoàn cùng tiến bộ, thì công việc gì khó mấy làm cũng nên, kế hoạch to mấy cũng hoàn thành tốt.

Một điểm quan trọng nữa là cần phải củng cố tốt và phát triển tốt các chi bộ Đảng và các chi đoàn thanh niên.

*

* *

Thưa đồng bào,

Tỉnh ta có truyền thống rất anh dũng và vẻ vang. Trong những nǎm kháng chiến, bộ đội và du kích tỉnh ta đã đánh địch hơn 1.700 trận to nhỏ, diệt hơn một vạn tên chết và bị thương, thu hơn 1.500 súng các cỡ. Đồng bào thì cung cấp cho mặt trận hơn 3 triệu ngày công và nhiều lương thực.

Hiện nay, chúng ta kháng chiến chống một thứ giặc khác: giặc lạc hậu và nghèo nàn. Cuộc kháng chiến này chúng ta có một ít khó khǎn tạm thời, nhưng có nhiều thuận lợi to lớn: nhân dân ta cần cù, Đảng ta lãnh đạo sáng suốt, lại có các nước anh em trong phe xã hội chủ nghĩa – nhất là Liên Xô và Trung Quốc – hết lòng giúp đỡ, cho nên chúng ta nhất định thắng lợi.

Tôi tin chắc rằng đồng bào các dân tộc tỉnh ta sẽ phát huy truyền thống vẻ vang sẵn có, đoàn kết nhất trí, hǎng hái thi đua hoàn thành vượt mức kế hoạch sản xuất nǎm nay, làm đà tốt cho cả kế hoạch 5 nǎm. Như thế là đồng bào và cán bộ tỉnh ta góp phần xứng đáng vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh thực hiện hoà bình thống nhất nước nhà.

—————————

Nói ngày 6-4-1961. Báo Nhân dân, số 2575, ngày 8-4-1961.
cpv.org.vn

Điện mừng Hội nghị Hội đồng đoàn kết nhân dân Á – Phi (8-4-1961)

Gửi Hội đồng đoàn kết nhân dân Á- Phi họp ở Bǎngđung,

Nǎm 1955, Hội nghị các đại biểu các Chính phủ các nước Á – Phi họp ở Bǎngđung đã thành công tốt đẹp. Nǎm nay Hội nghị Hội đồng đoàn kết nhân dân Á – Phi cũng họp ở thành phố lịch sử Bǎngđung, chắc rằng Hội đồng cũng sẽ thu được thắng lợi to lớn. Tôi xin gửi Hội nghị lời chào nhiệt liệt nhất.

Chủ nghĩa đế quốc thực dân ngày càng thất bại. Phong trào dân tộc giải phóng ngày càng lên cao.

Là một lực lượng rất to lớn, nhân dân Á – Phi đoàn kết chặt chẽ, kiên quyết đấu tranh thì nhất định sẽ đánh bại mọi âm mưu và hành động của chủ nghĩa đế quốc thực dân, các nước Á – Phi nhất định giành được độc lập hoàn toàn và góp phần đắc lực vào sự nghiệp giữ gìn hoà bình thế giới.

Chúc Hội nghị thành công.

Hà Nội, ngày 8 tháng 4 nǎm 1961
HỒ CHÍ MINH

————————–

Báo Nhân dân, số 2577, ngày 10-4-1961.
cpv.org.vn

Điện chúc mừng Liên Xô thực hiện thành công chuyến bay đầu tiên đưa con người vào vũ trụ (13-4-1961)

Kính gửi đồng chí Nikita Khơrútsốp,
Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương
Đảng Cộng sản Liên Xô,

Đồng chí thân mến,

Toàn thể nhân dân Việt Nam hết sức vui mừng và phấn khởi trước sự thành công rực rỡ của chuyến bay đầu tiên của con người xôviết đi vào vũ trụ.

Xin kính gửi đồng chí những lời chúc mừng nhiệt liệt và nhờ đồng chí chuyển đến đồng chí Gagarin, tất cả các nhà khoa học, kỹ sư, kỹ thuật và công nhân Liên Xô những lời chúc mừng tốt đẹp nhất của chúng tôi.

Xin gửi đồng chí những cái hôn thân ái.

HỒ CHÍ MINH

———————-

Báo Nhân dân, số 2580, ngày 13-4-1961
cpv.org.vn

Thêm một thắng lợi vô cùng vĩ đại của chủ nghĩa cộng sản (14-4-1961)

Sáng 12-4-1961, Quốc hội ta đang họp. Thủ tướng Phạm Vǎn Đồng đang báo cáo về kết quả to lớn của kế hoạch 3 nǎm (1958-1960) và triển vọng tốt đẹp của kế hoạch 5 nǎm lần thứ nhất (1961-1965). Bỗng một tin mừng nữa đến với Quốc hội: Cũng sáng hôm đó, con tàu vũ trụ “Phương Đông” của Liên Xô, người lái tàu là một thanh niên cộng sản 27 tuổi, đồng chí Gagarin, sau khi bay vòng quanh quả đất độ một giờ rưỡi, đã bay trở về Liên Xô bình an vô sự!

Đó là một thắng lợi vô cùng rực rỡ. Song những người cộng sản không ngạc nhiên.

Trước đây độ 100 nǎm, Các Mác đã đoán trước: Giai cấp công nhân sẽ tiến công lên trời.

Trước đây 43 nǎm, dưới sự lãnh đạo của Đảng Lênin, giai cấp công nhân Nga đã thành công trong cuộc cách mạng long trời chuyển đất.

Trước đây gần bốn nǎm (10-1957), Liên Xô là nước đầu tiên trên thế giới đã phóng thành công quả vệ tinh đầu tiên trong lịch sử loài người. Từ đó đến nay, Liên Xô liên tiếp phóng những vệ tinh lượng ngày càng nặng, bay ngày càng cao. Kết quả ngày càng kỳ diệu.

Tên lửa Liên Xô đã đặt Quốc huy búa liềm vào mặt trǎng (9-1959) và chụp ảnh phía sau mặt trǎng (10-1959). Tên lửa hạng to của Liên Xô đã hai lần từ 12.500 cây số bay trúng vào đích ở Thái Bình Dương; các nhà khoa học phương Tây đã kinh ngạc mà nói rằng: thế là như bắn trúng một con ruồi cách xa 12 cây số !

Liên Xô là nước đầu tiên phóng vệ tinh lên sao Kim, cách quả đất hàng mấy chục triệu cây số. Ngày nay Liên Xô lại là nước đầu tiên thành công trong việc cho người bay lên vũ trụ, mở ra kỷ nguyên mới trong sự phát triển vĩ đại của loài người.

Thắng lợi đó là thắng lợi của chủ nghĩa Mác – Lênin, là thắng lợi của chủ nghĩa cộng sản, là thắng lợi chung của phe xã hội chủ nghĩa và của toàn thể loài người.

Khoa học xôviết đã chinh phục được vũ trụ.

Chủ nghĩa cộng sản sẽ thắng lợi khắp thế giới.

Nhân dân Việt Nam rất phấn khởi và biết ơn Liên Xô, vì thắng lợi vĩ đại của Liên Xô anh em càng khuyến khích nhân dân Việt Nam ta ra sức thi đua để giành lấy thắng lợi trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh thực hiện hoà bình thống nhất nước nhà.

T.L

————————————–

Báo Nhân dân, số 2581, ngày 14-4-1961.
cpv.org.vn

Phong trào Đại Phong (15-4-1961)

Từ ngày đồng chí Nguyễn Chí Thanh nêu những ưu điểm và tiến bộ của hợp tác xã Đại Phong, đến nay chưa đầy hai tháng, mà khắp cả miền Bắc đã có ngót 1.000 hợp tác xã nhận thi đua:

Học tập Đại Phong, đuổi kịp Đại Phong, vượt quá Đại Phong.

Đó là một phong trào rất tốt và rất mạnh mẽ, nó chứng tỏ tinh thần hǎng hái, lực lượng to lớn và khả nǎng dồi dào của đồng bào nông dân ta. Tỉnh nào cũng có một số hợp tác xã tiến rất khá. Nhưng vì phong trào mới mẻ, nơi này hoặc nơi kia không tránh khỏi thiếu sót này hoặc thiếu sót khác cần phải sửa chữa để tiến bộ tốt. Vài ví dụ:

– Có hợp tác xã chỉ lo tǎng diện tích, nhưng không lo tǎng nǎng suất; hoặc lo sản xuất lúa, nhưng kém chú ý đến hoa màu và cây công nghiệp; hoặc không ra sức cải tiến nông cụ, thêm nhiều phân bón.

– Có hợp tác xã thì học Đại Phong một cách máy móc như thấy Đại Phong nuôi vịt có lãi, thì hợp tác xã mình dù không có điều kiện cũng muốn nuôi vịt…

– Có hợp tác xã chưa đủ điều kiện, chuẩn bị chưa tốt, mà đã nóng vội muốn mở rộng quy mô quá to.

– Có hợp tác xã sản xuất khá, nhưng xem thường chǎn nuôi, v.v..

Nói tóm lại: thiếu sót ở chỗ chưa toàn diện.

Học Đại Phong phải học một cách sáng tạo và cần phải học những ưu điểm sau đây:

– Củng cố hợp tác xã, chuẩn bị tốt điều kiện, rồi mới mở rộng thành quy mô to.

Giáo dục cho mỗi xã viên thấm nhuần tinh thần làm chủ hợp tác xã; mỗi cán bộ có tinh thần chí công vô tư; chi bộ phải lãnh đạo chặt chẽ; đảng viên và đoàn viên thanh niên phải làm gương mẫu, làm đầu tàu trong mọi công việc.

– Cán bộ và xã viên đoàn kết chặt chẽ, đồng tâm nhất trí, phấn khởi thực hiện: cần kiệm xây dựng hợp tác xã,kế hoạch sản xuất phải toàn diện.

– Các tỉnh uỷ và huyện uỷ cần lãnh đạo các hợp tác xã một cách chặt chẽ và toàn diện thì phong trào sẽ tiến nhanh, tiến mạnh và tiến vững chắc, do đó kế hoạch sản xuất nông nghiệp chắc chắn sẽ hoàn thành và hoàn thành vượt mức.

T.L.

——————–

Báo Nhân dân, số 2582, ngày 15-4-1961.
cpv.org.vn

Nói chuyện với nhà báo Oóclốp (Liên Xô) về kỳ công của khoa học Liên Xô (15-4-1961)

Cũng như những người cộng sản và tiến bộ khắp thế giới, tôi rất vui sướng về sự thành công rực rỡ của con tàu vũ trụ của Liên Xô do đồng chí Gagarin lái đã trở về Tổ quốc Xôviết một cách bình yên. Thành công khoa học của Liên Xô sẽ giúp tǎng thêm hạnh phúc cho loài người và củng cố hoà bình trên thế giới.

————————–

Báo Nhân dân, số 2584, ngày17-4-1961.
cpv.org.vn

Bài nói chuyện tại Đại hội đại biểu Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ II (25-4-1961)

Thưa các vị đại biểu,

Tôi xin thay mặt Trung ương Đảng và Chính phủ, thân ái chào mừng các vị.

Đại hội lần này họp đúng vào lúc Mặt trận chúng ta 20 tuổi. Tuy trẻ tuổi, Mặt trận đã có một quá khứ rất oanh liệt và đang có một tiền đồ rất vẻ vang. Dưới sự lãnh đạo của Đảng ta, Mặt trận đã đoàn kết toàn dân trong cuộc Cách mạng Tháng Tám thành công và trong cuộc kháng chiến cứu nước thắng lợi.

Từ ngày hoà bình lập lại và từ Đại hội lần trước của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (25) (1955) đến nay, ở miền Bắc hoàn toàn giải phóng nhân dân ta đã giành được những thành tích rất to lớn về mọi mặt.

VỀ CÔNG NGHIỆP:

Nǎm 1955 – chúng ta chỉ có 45 xí nghiệp cũ kỹ, với một số máy móc xộc xệch, thiếu trước, hụt sau.

– Nǎm nay – chúng ta có 205 xí nghiệp quốc doanh với những máy móc mới nhất do các nước anh em ta giúp.

VỀ NÔNG NGHIỆP:

– Nǎm 1955 – hầu hết đồng bào nông dân ta còn làm ǎn riêng lẻ, phong trào hợp tác hoá mới bắt đầu với tám hợp tác xã gồm l06 hộ xã viên.

– Nǎm nay- hơn 86% đồng bào nông dân đã đoàn kết lại trong 41.400 hợp tác xã với 2.404.800 hộ xã viên.

VỀ VĂN HOÁ:

– Nǎm 1955 – số trường học cấp I đến cấp III là 4.495 trường với 716.000 học trò.

– Nǎm nay – tǎng đến 6.240 trường với 1.522.000 học trò.

– Nǎm 1955 – chỉ có hai trường đại học với 1.200 sinh viên.

– Nǎm nay – có tám trường với 8.100 sinh viên .

– Nǎm 1955 – chỉ có một trường bổ túc vǎn hoá.

– Nǎm nay có 32 trường bổ túc vǎn hoá và trong công cuộc xoá nạn mù chữ, chúng ta đã đại thắng, v.v..

Khác hẳn với trước kia, hiện nay đại đa số đồng bào thủ công nghiệp và buôn bán nhỏ đều đã tổ chức làm ǎn tập thể. Những đồng bào công thương tư bản cũng tiếp thụ cải tạo xã hội chủ nghĩa, tham gia lao động, cố gắng học tập và tiến bộ để góp phần xây dựng Tổ quốc, xây dựng một xã hội mới.

Hiện nay nền kinh tế của ta phần lớn đã xây dựng trên cơ sở quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa, chế độ bóc lột đã được xoá bỏ. Đó là sự chuyển biến sâu sắc nhất trong đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân ta.

Đó là những thành tích rất to. Nhưng thành tích to hơn nữa có lẽ là sự chuyển biến trong con người của nhân dân ta. Vài ví dụ:

– Công nhân ta chẳng những không còn là người “culi” như dưới chế độ thực dân phong kiến, mà cũng không phải là “vô sản” theo nghĩa đen chữ đó, tức là không có của cải gì. Ngày nay, công nhân ta là người chủ tập thể của các xí nghiệp, là giai cấp lãnh đạo nước nhà.

Nông dân ta không còn là nô lệ của địa chủ, không còn phải mơ ước có một “miếng đất cắm dùi” như thời xưa. Ngày nay nông dân ta là người chủ tập thể của hợp tác xã, của nông thôn. Hơn bao giờ hết, họ là người bạn trung thành nhất của giai cấp công nhân trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Trí thức ta không còn là những người chỉ nằm trong cái tháp ngà và xa rời quần chúng. Ngày nay, trí thức ta là những người lao động trí óc, luôn luôn hoà mình với công nông và cùng công nông ra sức xây dựng xã hội mới.

Sự chuyển biến tốt đẹp đó làm cho lực lượng công nông ngày càng phát triển và liên minh công nông ngày càng mạnh mẽ. Do nền tảng công nông thêm vững mạnh mà Mặt trận của chúng ta càng củng cố và phát triển thêm.

Trên thế giới, thì phe xã hội chủ nghĩa, mặt trận xã hội chủ nghĩa ngày càng hùng mạnh. Một ví dụ rõ rệt: Liên Xô là nước đầu tiên đã thành công rực rỡ trong cuộc phóng tên lửa lên sao Kim và đã cho đồng chí Gagarin lái con tàu vũ trụ bay quanh quả đất rồi lại bay về bình an. Chỉ việc đó cũng đủ làm cho thiên hạ thấy rằng chế độ xã hội chủ nghĩa hơn hẳn chế độ tư bản chủ nghĩa, chủ nghĩa xã hội chẳng những chinh phục vũ trụ mà sẽ cảm hoá tất cả loài người.

Cùng với phe xã hội chủ nghĩa, phong trào giải phóng dân tộc và hoà bình dân chủ ngày càng lan rộng, lên cao. Điều đó càng tǎng thêm lực lượng cho Mặt trận của chúng ta. Và Mặt trận ta mạnh thì lại góp phần làm cho phong trào hoà bình thế giới thêm mạnh.

Bọn đế quốc Mỹ đang hung hǎng xâm phạm miền Nam Việt Nam, Nam Triều Tiên, Đài Loan, nước Lào, Cônggô, Cuba… Cái hung hǎng ấy chỉ là cái hung hǎng giẫy chết trước ngày chủ nghĩa đế quốc tắt thở. Từ ngày Cách mạng Tháng Mười Nga thành công, lịch sử thế giới đã chứng minh rằng chủ nghĩa đế quốc thực dân ngày càng suy sụp và sẽ đi đến bị tiêu diệt, chủ nghĩa xã hội nhất định sẽ thắng lợi khắp nǎm châu.

Những thành tích to lớn trên đây đặt ra cho Mặt trận Tổ quốc những nhiệm vụ rất quan trọng: Đối nội, thì Mặt trận phải ra sức động viên các tầng lớp nhân dân, các đoàn thể, các tôn giáo, các dân tộc, các nhân sĩ tiến bộ – đã đoàn kết phải đoàn kết hơn nữa, cùng nhau đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước, tǎng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm, làm cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc chúng ta tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc, làm nền tảng vững mạnh cho sự nghiệp đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà. Trong Đại hội lần trước, Mặt trận Tổ quốc đã nhất trí thông qua bản cương lĩnh đấu tranh để thực hiện hoà bình thống nhất nước nhà. Cương lĩnh ấy rất đầy đủ và rất hợp tình hợp lý. Đó là một cống hiến to lớn của Mặt trận chúng ta. Đối ngoại, thì tǎng cường đoàn kết với các nước trong phe ta và góp phần giữ gìn hoà bình ở Đông Dương, Đông – Nam á và thế giới.

Một mặt trận của nhân dân đoàn kết chặt chẽ và rộng rãi là một lực lượng tất thắng. Hiện nay, trong cuộc đấu tranh anh dũng chống chế độ tàn bạo của Mỹ – Diệm, đồng bào ta ở miền Nam cũng có “Mặt trận dân tộc giải phóng” (26) với chương trình hoạt động thiết thực và phù hợp với nguyện vọng chính đáng của nhân dân. Do đó, có thể đoán rằng đồng bào miền Nam nhất định sẽ thắng lợi, nước nhà nhất định sẽ thống nhất, Nam Bắc nhất định sẽ sum họp một nhà.

Thưa các vị,

Chúng ta đã giành được nhiều thắng lợi. Nhưng chúng ta cũng đang có nhiều khó khǎn; chúng ta không chủ quan, tự mãn. Song, khó khǎn là tạm thời. Thuận lợi là cǎn bản. Nhân dân ta đoàn kết nhất trí, mọi người hiểu rõ mình là người chủ nước nhà và quyết tâm làm trọn nghĩa vụ người chủ, thì khó khǎn gì chúng ta cũng vượt qua được và chúng ta nhất định sẽ giành được thắng lợi nhiều hơn nữa và to lớn hơn nữa.

Nǎm 1951, cuộc kháng chiến của chúng ta tuy gặp những điều kiện cực kỳ gay go, nhưng trong cuộc Đại hội hợp nhất Việt Minh- Liên Việt (27) tôi có nói:

Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết,
Thành công, thành công, đại thành công.

Những thắng lợi chúng ta giành được trong mấy nǎm qua đã chứng thực điều đó. Ngày nay, đồng bào miền Bắc thì hǎng hái thi đua xây dựng chủ nghĩa xã hội, đồng bào miền Nam ruột thịt thì anh dũng phấn đấu giành dân chủ tự do, vậy để kết luận, tôi xin phép nhắc lại:

Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết,
Thành công, thành công, đại thành công.

—————————————-

Nói ngày 25-4-1961. Báo Nhân dân, số 2593, ngày 26-4-1961.

(25) Mặt trận Tổ quốc Việt Nam: Thành lập tại Đại hội Mặt trận dân tộc thống nhất toàn quốc, họp từ ngày 5-9 đến ngày 10-9-1955 tại Hà Nội. Đây là Mặt trận dân tộc thống nhất kế tục sự nghiệp đoàn kết toàn dân của Mặt trận Liên – Việt.

Tham gia Mặt trận gồm đông đảo các tầng lớp, giai cấp, dân tộc, tôn giáo… nòng cốt là liên minh công nông và do Đảng ta lãnh đạo.

Mặt trận hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ và có cơ cấu tổ chức theo hệ thống dọc từ Trung ương (Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ương) đến địa phương (Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh, huyện, xã).

Quan hệ giữa các tổ chức trong Mặt trận dựa trên nguyên tắc thảo luận dân chủ đi đến thống nhất hành động; thân ái hợp tác, giúp đỡ nhau cùng tiến bộ, tôn trọng tính độc lập của mỗi tổ chức.

Nǎm 1976, Đại hội Mặt trận dân tộc thống nhất toàn quốc đã hợp nhất Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam và Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hoà bình Việt Nam thành Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, lãnh sứ mệnh đoàn kết toàn dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Tr. 346.

(26) Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam: Tổ chức Mặt trận thống nhất của nhân dân miền Nam trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

Mặt trận thành lập ngày 20-12-1960 theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 15 (1959) và do Đảng ta – trực tiếp là Đảng bộ miền Nam lãnh đạo.

Tham gia Mặt trận bao gồm đông đảo các giai cấp, tầng lớp, dân tộc, tôn giáo, đảng phái yêu nước không phân biệt xu hướng chính trị và thống nhất ở mục tiêu đấu tranh đánh đổ ách thống trị thực dân mới của đế quốc Mỹ và tay sai; xây dựng một miền Nam Việt Nam độc lập, dân chủ, trung lập, tiến tới hoà bình thống nhất Tổ quốc. Đó cũng là nội dung cơ bản trong Tuyên ngôn và Chương trình hành động 10 điểm được công bố ngay trong những ngày đầu Mặt trận mới thành lập.

Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam là tổ chức đoàn kết, thống nhất các lực lượng yêu nước miền Nam đấu tranh chống đế quốc Mỹ xâm lược và bè lũ tay sai bán nước trong thời kỳ 1960-1975.

Nǎm 1976, Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam đã hợp nhất với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Tr. 349.

(27) Đại hội thống nhất Việt Minh – Liên Việt: Họp từ ngày 3 đến 7-3-1951 tại Việt Bắc. Đại hội đã thông qua Nghị quyết thống nhất hai tổ chức Việt Nam độc lập đồng minh (Việt Minh) và Hội liên hiệp quốc dân Việt Nam (Liên Việt) thành Mặt trận Liên – Việt nhằm củng cố và mở rộng khối đại đoàn kết toàn dân, đáp ứng yêu cầu mới của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đang bước vào thời kỳ quyết liệt.

Thành viên của Mặt trận gồm có Đảng Lao động Việt Nam, các đoàn thể, tôn giáo và các đảng phái yêu nước, đoàn kết đấu tranh cho mục đích chung là tiêu diệt thực dân Pháp, đánh bại can thiệp Mỹ, đưa sự nghiệp kháng chiến kiến quốc đến thắng lợi.

Đại hội đã thông qua Chính cương, Điều lệ và Tuyên ngôn của Mặt trận dựa trên nguyên tắc bảo đảm đoàn kết rộng rãi, thực hiện dân chủ, tôn trọng tính độc lập của các đoàn thể, dùng phê bình và tự phê bình để giúp đỡ lẫn nhau. Đại hội nhất trí tán thành việc xây dựng và bảo vệ khối đoàn kết 3 dân tộc Việt Nam, Lào, Campuchia để chống kẻ thù chung là thực dân Pháp và can thiệp Mỹ.

Đại hội đã bầu đồng chí Hồ Chí Minh là Chủ tịch danh dự Mặt trận Liên – Việt. Tr.349.

cpv.org.vn

Điện mừng Quốc khánh nước Cộng hoà Tôgô (28-4-1961)

Kính gửi Ngài Xinvanuýt Ôlempiô,
Tổng thống nước Cộng hoà Tôgô,
Lômê

Nhân dịp chúc mừng Quốc khánh lần thứ nhất của nước Cộng hoà Tôgô, thay mặt nhân dân Việt Nam, Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và nhân danh cá nhân, tôi kính gửi Ngài lời chúc mừng nhiệt liệt nhất.

Kính chúc nhân dân và Chính phủ nước Cộng hoà Tôgô thu được nhiều thắng lợi trong công cuộc củng cố nền độc lập dân tộc và xây dựng đất nước phồn vinh.

Chúc tình hữu nghị giữa hai nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Cộng hoà Tôgô ngày càng phát triển.

Chủ tịch
nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà
HỒ CHÍ MINH

————————

Báo Nhân dân, số 2595, ngày 28-4-1961
cpv.org.vn

Guồng máy nông nghiệp (28-4-1961)

Trong một công xưởng, có nhiều loại máy móc hình dạng khác nhau và công dụng khác nhau. Những máy móc khác nhau ấy phải bố trí và kết hợp thật ǎn khớp với nhau, thì sản xuất mới tốt.

Nông nghiệp cũng có “guồng máy” của nó. Từ lúc chọn giống đến ngày đưa thóc vào kho, mọi công việc phải ǎnkhớp, nhịp nhàng với nhau, thì kết quả thu hoạch mới tǎng. Sau đây xin tóm tắt nêu mấy điểm chính, để giúp bà con hợp tác xã nghiên cứu:

– Đủ nước. Nhiều phân. Giống tốt. Cày sâu bừa kỹ. Cấy dày đúng mức. Phòng chuột, trừ sâu. Chǎm nom ruộng đất. Cải tiến nông cụ. Đó là tám bộ phận chính trong guồng máy nông nghiệp, nó quan hệ chặt chẽ với nhau, thúc đẩy lẫn nhau, cho nên thiếu một bộ phận nào cũng không được. Ví dụ:

Muốn tǎng thu hoạch thì nhất định phải tǎng vụ, tǎng diện tích. Muốn tǎng vụ, tǎng diện tích thì nhất định phải cải tiến nông cụ. Một máy cấy thô sơ (kiểu Nam Ninh) có thể cấy gần tám lần cấy bằng tay. Muốn dùng máy cấy thì nhất định phải cày sâu bừa kỹ.

Một ví dụ nữa: Muốn ruộng tốt thì phải bón nhiều phân. Muốn có nhiều phân thì phải đẩy mạnh chǎn nuôi.Muốn phát triển chǎn nuôi thì phải tǎng diện tích trồng thức ǎn cho trâu, bò, lợn…

– Miếng vườn của mỗi gia đình xã viên và các loại nghề phụ là nguồn lợi để tǎng thu nhập. Phải sắp xếp thế nào để xã viên làm tốt công việc chung của hợp tác xã, đồng thời có thể sǎn sóc miếng vườn của họ. Phải bố trí thế nào vừa phát triển được nghề phụ, vừa không để nghề phụ lấn át nông nghiệp.

– Nông nghiệp phải rất coi trọng ba điều:

Thiên thời – Mùa nào thì cần phải làm việc gì, nhất là phải làm kịp thời vụ.

Địa lợi – Đất nào phải trồng thứ gì cho thích hợp.

Nhân hoà – Xã viên có người khoẻ, người yếu; có người thạo nghề, người chưa thạo. Công việc có việc khó việc dễ, việc nặng việc nhẹ. Phải phân phối thế nào cho người đúng với việc, việc đúng với người và ai cũng có công việc, cũng phấn khởi lao động.

– Hợp tác xã từ 100 hộ trở lên là một đại gia đình. Ngoài công việc chính là tǎng gia sản xuất, hợp tác xã phải tổ chức tốt những việc xã hội và vǎn hoá như: Giúp già, dạy trẻ, cưới hỏi, trông nom người ốm đau, giúp đỡ đàn bà khi thai nghén, v.v..

– Muốn cho guồng máy chạy thật đều, thật tốt, chúng ta phải thực hiện ba điều sau đây:

Cán bộ quản trị phải thật sự dân chủ và chí công vô tư.

Đảng viên và đoàn viên thanh niên phải gương mẫu trong mọi công việc.

Tất cả xã viên phải đoàn kết nhất trí, phải làm trọn nghĩa vụ của người chủ, làm đúng khẩu hiệu “Cần kiệm xây dựng hợp tác xã”.

*

* *

Hiện nay khắp nơi có phong trào sôi nổi thi đua với hợp tác xã Đại Phong. Thế là rất tốt. Nhưng cán bộ ta phải nhớ:

1- Phải giữ vững nguyên tắc tự nguyện,

2- Trước khi mở rộng quy mô hợp tác xã phải chuẩn bị thật tốt tư tưởng và vật chất. Tuyệt đối không nên nóng vội.

T.L.

——————-

Báo Nhân dân, số 2595, ngày 28-4-1961.
cpv.org.vn

Bài nói chuyện với nhân dân đảo Cô Tô (Hải Ninh) (9-5-1961)

Để tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội, cần làm tốt mấy việc sau đây:

– Về sản xuất nông nghiệp, cần làm công tác thuỷ lợi tốt, làm phân bón nhiều, chọn giống tốt, cày sâu bừa kỹ, cấy dày đúng mức, v.v..

– Phải ra sức chǎn nuôi, vì chǎn nuôi vừa là một nguồn lợi lớn, lại là một kho phân nhiều.

– Cần đẩy mạnh nghề đánh cá, nghề làm muối, nuôi dưỡng và bảo vệ các thứ hải sâm, trân châu, v.v.. Để làm tốt những nghề đó, thì cần phải cải tiến kỹ thuật, cải tiến lưới, thuyền. Muốn có lưới tốt, thì phải có tơ, muốn có tơ, thì phải chú ý trồng dâu nuôi tằm.

– Cần trồng nhiều cây ǎn quả, cây lấy gỗ, cây ngǎn gió. Trồng cây sẽ đưa lại cho nhân dân một nguồn lợi to, lại làm cho xứ sở ta thêm tươi đẹp.

– Phải ra sức củng cố hợp tác xã, làm đúng khẩu hiệu: cần kiệm xây dựng hợp tác xã.

– Về vǎn hoá, cần cố gắng thanh toán nạn mù chữ và đẩy mạnh phong trào bổ túc vǎn hoá trong cán bộ và nhân dân. Việc vệ sinh phòng bệnh cũng cần tǎng cường. Có sức khoẻ đầy đủ thì sản xuất mới mạnh mẽ.

– Về trật tự, trị an, các đồng chí bộ đội, công an, dân quân cần tiếp tục cố gắng học tập chính trị, nghiệp vụ và vǎn hoá, cần đoàn kết chặt chẽ với nhân dân và giúp đỡ nhân dân. Đồng bào thì cần giúp đỡ các đồng chí ấy làm nhiệm vụ cho thật tốt.

Để làm tốt các việc trên đây, mỗi người phải nhận thật rõ và làm thật đúng nghĩa vụ người làm chủ nước nhà. Cán bộ phải chí công vô tư, phải một lòng một dạ phục vụ nhân dân. Đảng viên và đoàn viên thanh niên lao động phải làm đầu tàu, làm gương mẫu trong mọi công việc. Hiện nay, trong số hơn 4.000 nhân dân, chỉ có 180 đảng viên và đoàn viên, như thế là quá ít. Cần phải phát triển thêm và phát triển tốt Đảng và Đoàn.

Thủ đô Hà Nội tuy cách xa các đảo, nhưng Đảng và Chính phủ luôn luôn quan tâm đến đồng bào các đảo và mong đồng bào đoàn kết cố gắng và tiến bộ.

Cán bộ tỉnh Hải Ninh cần phải hướng dẫn và giúp đỡ đồng bào các đảo, để đồng bào các đảo góp phần vào việc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh thực hiện hoà bình thống nhất nước nhà.

Đồng bào phải đoàn kết chặt chẽ, phải hǎng hái thi đua tǎng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm, phải cố gắng hơn nữa để làm cho đời sống no ấm, vui tươi hơn nữa. Các cháu thiếu nhi phải học hành tốt, lao động tốt, kỷ luật tốt, giữ gìn vệ sinh tốt, đoàn kết tốt.

———————

Nói ngày 9-5-1961. Báo Nhân dân, số 2609, ngày 13-5-1961.
cpv.org.vn

Câu chuyện về tấm gương gương mẫu tôn trọng luật lệ của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Ngay từ thuở còn ấu thơ tôi đã được nghe những lời ru ngọt ngào: “Tháp Mười đẹp nhất bông sen, Việt Nam đẹp nhất có tên Bác Hồ”

Vâng! Chủ tịch Hồ Chí Minh – một con người sinh ra từ chân lí – người Việt Nam đẹp nhất. Người đã đi xa “Phòng lặng rèm buông tắt ánh đèn” nhưng cuộc đời, sự nghiệp và tấm gương đạo đức đã trở thành bất tử. Người là kết tinh và toả sáng những gì ưu tú nhất, tốt đẹp nhất của trí tuệ và đạo đức Việt Nam. Phẩm chất và đạo đức của Người mãi mãi là tấm gương sáng ngời cho dân tộc Việt Nam noi theo.

Trong suốt cuộc đời của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến vấn đề đạo đức và việc tu dưỡng đạo đức của người cách mạng. Tư tưởng đạo đức của Người bắt nguồn từ truyền thống đạo đức của dân tộc đã được hình thành trong suốt chiều dài của lịch sử, kế thừa những tinh hoa đạo đức của nhân loại để lại. Đạo đức cách mạng do Hồ Chí Minh đề xướng và cùng Đảng ta dày công xây dựng bồi đắp đó chính là “Trung, Hiếu, Nhân, Nghĩa, Cần, Kiệm, Liêm, Chính, Chí công vô tư”. Người coi đạo đức là nền tảng của người cách mạng cũng như gốc của cây, ngọn nguồn của sông núi. Bởi lẽ con đường giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước không phải là một đại lộ thẳng tắp, nó đầy chông gai và gian khổ đòi hỏi sự phấn đấu không ngừng của mọi người, mọi thế hệ. Việc chăm lo cái gốc, cái nguồn, cái nền tảng là công việc làm thường xuyên của toàn Đảng, toàn dân, và toàn xã hội.

Ngạn ngữ có câu. “Mọi việc bắt đầu từ lời nói”. Đại thi hào Gớt lại viết: “Khởi thủy là hành động”. Ở Chủ tịch Hồ Chí Minh lời nói luôn đi đôi với hành động, điều đó đã trở thành một nguyên tắc sống. Người không chỉ là nhà giáo dục đạo đức mà còn là biểu tượng cao đẹp của đạo đức. Gần nửa cuộc đời bôn ba tìm đường cứu nước, chịu bao đắng cay gian khổ Người vẫn một lòng tận trung với nước, tận hiếu với dân, sống giản dị, thanh bạch, gần gũi yêu thương con người. Cuộc đời của Người, tấm lòng của Người với quê hương đất nước là câu chuyện sinh động nhất về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.

Trong vô vàn những mẩu chuyện về Người, tôi thực sự tâm đắc và thấm thía trước bài học đạo đức lớn về tấm lòng trung hiếu, nhân nghĩa của Người qua câu chuyện: “Tấm gương gương mẫu tôn trọng luật lệ của chủ tịch Hồ Chí Minh. Câu chuyện được kể theo lời kể của các đồng chí cảnh vệ của Bác gồm Phan Văn Xoàn – Hoàng Hữu Kháng – Hồng Nam in trong cuốn: “Những mẫu chuyện đạo đức của Bác Hồ”

Hàng ngày, Bác thường căn dặn anh em cảnh vệ chúng tôi (Phan Văn Xoàn – Hoàng Hữu Kháng – Hồng Nam) phải luôn có ý thức tổ chức, kỷ luật, triệt để tôn trọng nội quy chung. Bác bảo: “Khi bàn bạc công việc gì, đã quyết định thì phải triệt để thi hành. Nếu đã tự đặt ra cho mình những việc phải làm thì cương quyết thực hiện cho bằng được”.

Một hôm chúng tôi theo Bác đến thăm một ngôi chùa lịch sử. Hôm ấy là ngày lễ, các vị sư, khách nước ngoài và nhân dân đi lễ, tham quan chùa rất đông. Bác vừa vào chùa, vị sư cả liền ra đón Bác và khẩn khoản xin Người đừng cởi dép, nhưng Bác không đồng ý. Đến thềm chùa, Bác dừng lại để dép ở ngoài như mọi người, xong mới bước vào và giữ đúng mọi nghi thức như người dân đến lễ.

Trên đường từ chùa về nhà, xe đang bon bon bỗng đèn đỏ ở một ngã tư bật lên. Đường phố đang lúc đông người. Xe của Bác như các xe khác đều dừng lại cả. Chúng tôi lo lắng nhìn nhau. Nếu nhân dân trông thấy Bác, họ sẽ ùa ra ngã tư này thì chúng tôi không biết làm thế nào được. Nghĩ vậy, chúng tôi bàn cử một đồng chí cảnh vệ chạy đến bục yêu cầu công an giao thông bật đèn xanh mở đường cho xe Bác. Nhưng Bác đã hiểu ý. Người ngăn lại rồi bảo chúng tôi:

– Các chú không được làm như thế. Phải gương mẫu tôn trọng luật lệ giao thông, không nên bắt người khác nhường quyền ưu tiên cho mình.

Chúng tôi vừa ân hận, vừa xúc động, hồi hộp chờ người công an giao thông bật đèn xanh để xe qua.

(Lược trích theo tác phẩm những mẫu chuyện về tấm gương đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí minh – Sưu tầm).

Một câu chuyện nhỏ nhưng lại là một bài học đạo đức lớn đã để lại trong tôi biết bao suy nghĩ và cảm xúc. Tôi chợt nhớ tới câu nói nổi tiếng của một nhà hiền triết phương đông: “Dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh” có nghĩa là Dân là qúy, Nhà nước là thứ yếu, Vua là không đáng kể. Tiếp thu tư tưởng dân là quý, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Trong bầu trời không gì qúy bằng nhân dân”. Có thể nói đó chính là tư tưởng dân chủ của Người, nó đã trở thành sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong cuộc đời và sự nghiệp của Hồ Chí Minh. Dân chủ không chỉ là một phạm trù chính trị mà còn là một phạm trù đạo đức bởi nó gắn với lý tưởng nhân văn, tôn trọng con người, tất cả vì con người và do con người. Cả cuộc đời của Bác là một tấm gương mẫu mực về việc tôn trọng pháp luật. Từ công việc quốc gia đại sự đến những việc làm trong cuộc sống hàng ngày Hồ Chí Minh luôn coi trọng việc tôn trọng luật lệ, tuân thủ nguyên tắc sống và làm việc theo pháp luật. Là Chủ tịch nước, là lãnh tụ cao nhất của Đảng ở cương vị đầy quyền lực nhưng Người không bao giờ nghĩ đến việc dùng quyền lực. Người luôn coi mình là nô bộc của dân và luôn tôn trọng quyền làm chủ của nhân dân, đặc biệt là quyền dân chủ chính trị được thể hiện rõ trong tổng tuyển cử. Không đặt mình ở cương vị là Chủ tịch nước mà hơn tất cả với tư cách là một công dân có quyền bầu cử, ứng cử. Người nói: “Tôi là công dân của một Nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà nên tôi không thể vượt khỏi thể lệ của tổng tuyển cử đã định. Tôi đã ra ứng cử ở Hà Nội nên cũng không thể ra ứng cử ở nơi nào nữa” và Người yêu cầu nhân dân hãy thực hiện quyền công dân của mình để đảm bảo tự do dân chủ thực sự.

Trong tư tưởng dân chủ của mình Bác cho rằng dân chủ phải gắn với quyền hạn. Quyền hạn đi đôi với nghĩa vụ cũng có nghĩa là dân chủ phải nằm trong khuôn khổ của pháp luật. Sống trong một xã hội dân chủ ai cũng phải tuân theo những quy tắc chung. Xã hội dân chủ là một đất nước có trật tự kỷ cương đảm bảo cho mọi người cùng có quyền tự do dân chủ như nhau. Đứng đầu Nhà nước, Người rất nghiêm khắc đòi hỏi mọi tổ chức Đảng cùng tuân thủ pháp luật, không ai được đứng trên hay ngoài pháp luật. Đó chính là tư tưởng “phụng công thủ pháp”. Sự thi hành pháp luật còn quan trọng hơn là tạo ra nó, chính vì thế là một lãnh tụ được dân qúy dân yêu nhưng không bao giờ Người cho phép mình đứng trên nhân dân, không bao giờ Người đòi hỏi cho mình bất cứ một ngoại lệ nào có tính chất đặc quyền đặc lợi. Bước chân vào ngôi chùa cổ Người đã tuân theo đúng quy định với khách thập phương: cởi dép vào lễ chùa. Đó là một cử chỉ giản dị mà vô cùng cao đẹp thể hiện cái tâm trong sáng thành kính của Người trước sự linh thiêng chốn chùa chiền. Đứng trước một ngã tư đèn đỏ, Người đã nghiêm chỉnh chấp hành luật lệ giao thông như bao người dân khác. Chỉ vậy thôi cũng đủ cho ta thấy cái lớn lao vĩ đại của một con người luôn tôn trọng kỷ cương phép nước không nhận bất cứ một ngoại lệ, một đặc quyền nào cho riêng mình.

Không chỉ vậy Người còn luôn tôn trọng và đề cao quyền tự do dân chủ của con người. Trong Tuyên ngôn độc lập năm 1945, Người đã nhắc lại lời tuyên bố trong Tuyên ngôn Nhân quyền – Dân quyền 1791 của Pháp: “Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi và phải luôn luôn được tự do bình đẳng về quyền lợi” và Người khẳng định : “Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được”. Lẽ phải đó đã được Người thực hiện bằng chính cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của mình. Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh không theo một tôn giáo nào, nhưng không vì thế mà Người không coi trọng vấn đề tôn giáo. Người chủ trương thực hiện dân chủ nhân quyền và tự do tôn giáo. Dù theo đạo Phật hay đạo Thiên chúa hay bất cứ một tôn giáo nào đều giáo dục con người ta hướng tới cái thiện cái đẹp. Chính vì thế khi bước chân vào ngôi chùa cổ Người thực sự như một phật tử thành tâm hướng thiện. Trước con mắt của du khách nước ngoài, của các vị tăng ni phật tử và bà con, một vị Chủ tịch nước gần gũi hoà mình với nhân dân, tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng đã khiến họ vô cùng cảm phục.

Đất nước ta đã hội nhập và đang trên đà phát triển. Bên cạnh những thành tựu đã đạt được chúng ta không thể phủ nhận những tồn tại yếu kém cũng như những khó khăn thử thách ở phía trước. Vẫn còn đó một số ít cán bộ chưa thực sự gương mẫu, tham ô tham nhũng tài sản của nhà nước, quan liêu hách dịch, cậy thế ỷ quyền nhũng nhiễu nhân dân, coi thường pháp luật . Mặt khác các thế lực thù địch trong và ngoài nước với những âm mưu “diễn biến hoà bình” nhằm hạ thấp uy tín và vai trò lãnh đạo của Đảng ta đối với sự nghiệp cách mạng, luôn đòi hỏi Đảng và Nhà nước ta thực hiện vấn đề dân chủ, nhân quyền và tự do tôn giáo. Đứng trước các con số khổng lồ về số vụ tai nạn giao thông ở nước ta hiện nay, tôi thiết nghĩ câu chuyện trên sẽ là bài học đạo đức lớn cho chúng ta noi theo. Vào những năm đầu khi đất nước ta mới giành được độc lập, tuy là một nhà nước còn non trẻ nhưng Bác đã rất chú trọng đến các vấn đề thiết thực trong đời sống như dân chủ, nhân quyền, tự do tôn giáo và an toàn giao thông.Việc Bác gương mẫu thực hiện đúng những quy định về bầu cử, về luật lệ giao thông đã thể hiện được cái tâm và cái tầm của một người lãnh đạo hết lòng lo cho dân cho nước.

Những mẩu chuyện không xa vời, huyễn hoặc mà rất gần gũi thiết thực đã trở thành một di sản tinh thần quý báu của dân tộc. Đó chính là nhân cách Hồ Chí Minh mà ngày nay đã trở thành nhân cách dân tộc Việt Nam, con người Việt Nam trong thời đại mới. Vượt qua lửa đạn của chiến tranh, vượt qua quy luật khắc nghiệt của thời gian, những bài học đạo đức của Người đến nay vẫn còn nguyên giá trị. Mọi thế hệ người Việt Nam đã và đang nguyện suốt đời học tập rèn luyện theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Có biết bao con người đã dành trọn cuộc đời cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, nêu gương đạo đức Hồ Chí Minh cho tất cả chúng ta học tập. Trong vô vàn những con người ấy phải kể đến vị trí thức yêu nước ( luôn là thần tượng của Tôi trong những ngày còn ngồi ở giảng đường trường Đại học luật TP.HCM người học trò xuất sắc của Hồ Chí Minh: Luật sư Nguyễn Hữu Thọ .Con người ấy, cuộc đời ấy đã làm xúc động hàng triệu trái tim người Việt Nam nói chung và những người là luật gia, luật sư như chúng tôi nói chung bằng tấm gương đạo đức, bằng sự cống hiến cho sự nghiệp xây dựng nền pháp luật non trẻ của nước CHXHCN Việt Nam .

Tiếp nối truyền thống đạo đức của dân tộc và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh- Người thầy vĩ đại của mọi thời đại – là một người cán bộ pháp chế của Tổng Công ty Điện lực TP.HCM, một luật gia của Chi hội luật gia EVNHCMC, luật sư của Đòan Luật sư TP.HCM tôi luôn tâm niệm và đang không ngừng rèn luyện để có được những phẩm chất đạo đức cách mạng không thể thiếu của một người cán bộ làm công tác pháp luật. Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay khi tôn chỉ sống và làm việc theo hiến pháp và pháp luật được xem là chủ trương quan trọng nhất trong việc xây dựng nhà nước pháp quyền tại Việt Nam, với vai trò vừa là cán bộ pháp chế, vừa là thành viên chi hội luật gia Tổng công ty Điện lực TP.HCM, tôi sẽ luôn đi đầu trong công tác tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật cho cán bộ CNV trong Tổng Công ty Điện lực TP.HCM nói chung và Công ty Điện lực Gia Định nói riêng và sẽ không ngừng trau dồi đạo đức cách mạng, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ để trở thành một tấm gương đạo đức và tự học. Là luật gia chúng tôi không chỉ phổ biến tuyên truyền pháp luật, chính sách của Đảng và nhà nước và người lao động mà còn phải đi đầu trong công tác chống lại mọi hành vi tham nhũng lãng phí, các lọai tội phạm đi ngược lại sự phát triển của đất nước, khai phá mọi rào cản sự phát triển của xã hội hướng tới mục tiêu công bằng, dân chủ, văn minh. Đó là một nhiệm vụ vô cùng cao cả và thiêng liêng, chính vì thế tôi luôn cố gắng rèn mình, sửa mình từ lời nói, cử chỉ, hành động của minh trong công việc hàng ngày, trong họat động của Hội luật gia và trong những vụ việc do Đòan luật sư TP.HCM phân công, tôi nguyện suốt đời sống, chiến đấu, học tập theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, hướng dẫn cho đồng nghiệp, nhân viên dưới quyền có thể kế tục sự nghiệp quang vinh mà Người để lại.

Từ những bài học đạo đức của Người, đặc biệt qua câu chuyện tôi vừa kể trên đây, tôi thực sự xúc động và kính phục trước cuộc đời của một vị lãnh tụ vĩ đại, một tấm gương mẫu mực của mọi thời đại. Tôi luôn thầm hứa và nhắc nhở mình phải sống xứng đáng với nghề nghiệp chân chính của mình : Người luật sư của nhân dân.

Có thể nói cuộc đời và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh đã đi vào lịch sử và đời sống tâm hồn dân tộc Việt Nam. Đó chính là chất người cộng sản toả ánh hào quang soi đường chỉ lối cho mọi thế hệ người Việt, cho bạn, cho tôi và cho tất cả chúng ta. Qua những câu chuyện kể về Người có thể mỗi người sẽ có những cảm nhận khác nhau nhưng bao trùm lên tất cả là tình cảm trân trọng biết ơn.

Luật gia Khương Kim Tuấn – PCGĐ
hcmpc.com.vn