Tag Archive | Chính trị – Xã hội

Những người làm công tổ chức lại, chống bóc lột của chủ nghĩa tư bản (16-3-1923)

Mặc dầu nền công nghiệp lớn và cơ khí lớn chưa được phát triển hoàn toàn ở Trung Quốc, những tập tục gia trưởng chưa mất hẳn, công nhân Trung Quốc bị hai tầng áp bức của tư bản nước ngoài và của bọn quân phiệt bản xứ, đã bắt đầu hoạt động mạnh. Có khoảng một triệu người lao động đã chịu ảnh hưởng (trực tiếp hoặc gián tiếp) của sự tuyên truyền nghiệp đoàn và cách mạng.

Liên hiệp hải viên công hội Hồng Công có 30.000 hội viên. Họ đã phát động một cuộc đình công bốn tháng (từ tháng 12-1921 đến tháng 3-1922). Để tỏ tình đoàn kết, quần chúng ngoài công hội đã tuyên bố tổng đình công. Những người thợ giặt và những người phục vụ cũng hưởng ứng phong trào. Kết quả là công nhân được tǎng lương từ 20 đến 40%.

Liên hiệp hải viên công hội Thượng Hải có 15.000 hội viên. Một cuộc đình công ba tuần đã được tuyên bố tháng 7-1922. Kết quả là công nhân được tǎng lương 20%.

Công nghiệp bông sợi sử dụng 72.300 công nhân, phần lớn là phụ nữ và trẻ em dưới tám tuổi. Ngày làm việc 12 giờ. Nhiều cuộc khởi nghĩa đã nổ ra đòi cải thiện điều kiện làm việc.

93 xí nghiệp dệt tơ lớn sử dụng 130.000 phụ nữ và thiếu niên nữ từ 8 đến 14 tuổi. Họ làm việc 11 giờ mỗi ngày. Do hơi nóng của nước sôi thường xuyên toả ra và mùi khai của kén tằm, nên điều kiện làm việc của những nữ công nhân đó vô cùng khó khǎn. Tháng 6-1922, một nữ công nhân đã chết vì tai nạn lao động do chữa cháy kém. Một cuộc đình công tự phát bùng nổ để phản đối. Cuộc đình công đó được các xí nghiệp dệt ở Thượng Hải hưởng ứng. Kết quả là giờ làm việc hằng ngày giảm xuống hai giờ.

Một cuộc đình công của thợ dệt Nam Kinh đã ngǎn cản được độc quyền tơ sợi của thành phố sợi vào tay một tập đoàn kinh doanh Nhật.

Cuối nǎm 1921, những người làm thuê cho chủ xe kéo nước ngoài, bao gồm 3.000 người tham gia nghiệp đoàn, đã đình công. Vì việc giảm lương được thực hiện do sáng kiến của các chủ người Pháp (900 xe kéo), nên những người đình công đói rách đã tổ chức một đoàn “ǎn xin” tuần hành trong tô giới Pháp. Cảnh sát Pháp giải tán cuộc biểu tình và bắt giam những người lãnh đạo. Cần nhớ rằng: bọn chủ Pháp có toà án và nhà giam riêng để xét xử và giam giữ những người culi xe không thể trả nổi tiền thuế. Những người bị bắt giam bị đối xử tàn tệ và nhiều người đã chết.

Những nǎm gần đây, có khoảng 200 culi xe bị bọn chủ giết hại.

Trong số 20 tờ báo xuất bản ở Hán Khẩu, công nhân có hai tờ báo hằng ngày và một tờ báo hằng tuần. Mặc dầu bọn tư bản nước ngoài và tư bản bản xứ cố hết sức dập tắt hoặc ngǎn cản mọi phong trào giải phóng, nhưng những người công nhân Trung Quốc được sự giúp đỡ mạnh mẽ của những người trí thức tận tụy, đã tổ chức lại một cách nhanh chóng và hành động tốt đẹp.

NGUYỄN ÁI QUỐC

Báo La Vie Ouvrière, ngày 16-3-1923.
cpv.org.vn

Cuộc bạo động ở Đahômây (18-3-1923)

Những nô lệ của Gơbekhandin, hơn 30 năm trước đây, đã thoát khỏi ách nô lệ của Đốtxơ và Lơben, là những anh hùng của những chiến công vang dội một thời, – bây giờ lại được làm quen với nước Pháp “văn minh”. Cần phải nói thẳng ra rằng, vì lý do đó mà những vị quan cai trị thực dân của chúng ta đã nâng người Đahômây lên cái danh hiệu là công dân nước Pháp.

Đây là một số chi tiết về những sự kiện, trong đó, các nhà tư bản thực dân đối xử với những người bãi công ở Poóctô – Nôvô giống như họ đang đối xử với công nhân ở Havrơ và Xarơbuy Ken.

Ngày 12 tháng 2, – ngày hôm sau khi ông Hăngri Misen, đại biểu của Hội đồng thuộc địa tối cao đi khỏi, – một làn sóng kích động đột nhiên bao trùm toàn dân thành phố Poóctô – Nôvô; bắt đầu những cuộc biểu tình kèm theo những cuộc bãi công của công nhân bản xứ làm việc trong các công trường xây dựng của thành phố.

Ngày 18 tháng 2, những người biểu tình tổ chức một cuộc họp toàn thể. Cảnh sát đã giải tán họ và bắt đi 10 công nhân.

Cuộc chiến đấu bắt đầu. Những nhóm công nhân bãi công, có nhiều người dân bản xứ tham gia, đã chiếm các bốt gác ở xung quanh Poóctô – Nôvô và đuổi hết cảnh sát khỏi các bốt gác ấy. Sau đó, đã xảy ra cuộc đụng độ đầu tiên giữa những người bạo động với lính bộ binh do viên quan cai trị – ông Satxeclô, cấp tốc phái đến. Quân đội nổ súng. Nhưng những người đình công cũng đã được vũ trang. Họ đã bắn trả. Trên mặt đất còn lại năm người chết: một viên cai và bốn người dân bản xứ.

Sự kích động tăng lên. Theo lệnh của ông Méclanh, toàn quyền Tây Phi, tình trạng giới nghiêm được ban bố trong tất cả các khu ở Poóctô – Nôvô. Ba trung đoàn lính bộ binh có súng máy và pháo dã chiến được đưa xuống tàu vận tải “TSáT” ở Đaca. Ngoài ra, chiếc tàu tuần tiễu “Cátxiôpê” được đưa ngay lập tức đến Poóctô – Nôvô. Cùng một lúc với việc điều động lực lượng quân đội, người ta tiến hành các cuộc bắt bớ.

“Mười người thủ xướng”, trong đó có Uybeliu và Êchiên Têtê, bị bỏ tù. Những cuộc đàn áp tàn nhẫn diễn ra khắp nơi.

Người ta đã buộc công nhân Poóctô – Nôvô trở lại làm việc bằng lưỡi lê và dùi cui. Nhưng làn sóng kích động vẫn lan rộng ở nông thôn. Các báo thuộc địa, đặc biệt là tờ Dépêche Coloniale đòi thi hành ngay những hình phạt tàn khốc và chuyển vận mệnh của Đahômây sang cho những bàn tay cứng rắn hơn.

Chúng ta phải rút ra những kết luận nghiêm túc từ những sự kiện này, cụ thể là: trong các thuộc địa, công nhân đã bắt đầu hiểu thế nào là đấu tranh giai cấp. Cần phải làm thế nào để cho công nhân da đen và da vàng cũng hiểu rằng: Kẻ thù duy nhất của họ nằm ngay trong bản thân cái chế độ này, chế độ đang dẫn đến một chế độ nô lệ tinh vi hơn, nặng nề hơn, và vô nhân đạo hơn chế độ trước đây. Và chỉ với sự giúp đỡ của những người anh em bị áp bức của mình ở các nước châu Âu, họ mới sẽ có thể tự giải phóng được mình.

NGUYỄN ÁI QUỐC

Báo L’Humanité, ngày 18-3-1923.
In trong sách: Hồ Chí Minh, Những bài viết và nói chọn lọc, tiếng Nga, Nxb, Chính trị quốc gia, Mátxcơva, 1959, tr.56-57.
cpv.org.vn

Khởi nghĩa ở Đahômây (30-3-1923)

Lo lắng vì giai cấp công nhân ở chính quốc đã thức tỉnh, chủ nghĩa tư bản Pháp tìm cách dùng các thuộc địa để củng cố nền thống trị đang lâm nguy của nó. Nó bòn rút ở đó cả nguyên liệu cho các nhà máy của nó, lẫn nhân lực để chống lại cách mạng. Báo chí tư sản ở Pari và các tỉnh thường xuyên dành hàng trang cho mục thuộc địa. Các tướng lĩnh và các nghị sĩ đã đi khắp cả nước để tổ chức các cuộc nói chuyện về thuộc địa. Những cây bút đạo đức ấy và những ông chuyên nghề khoác lác ấy không tìm đâu ra cho đủ lời lẽ để ca ngợi lòng trung thành của người bản xứ và ân huệ của công cuộc khai hoá “của họ”.

Đôi khi, các ngài ấy trơ tráo đến mức đem so sánh sự cướp bóc của người Anh ở thuộc địa với sự cao cả của riêng họ: họ cho chính sách của người Anh là “phương pháp tàn nhẫn” hoặc “thái độ thô bạo” và quả quyết rằng cách làm của người Pháp đầy chính nghĩa và dịu dàng!

Chỉ cần ghé mắt nhìn qua các thuộc địa một chút cũng đủ thấy công cuộc khai hoá đó là “đẹp đẽ và dịu dàng” biết là chừng nào.

Ở Đông Dương, dạo vừa rồi, có một gã thực dân Pháp trẻ tuổi đã trói một người An Nam, đặt nằm sấp xuống đất, chân và đầu buộc vào hai cái cọc đóng xuống đất, rồi giáng cho người đó một trǎm sáu mươi gậy. Nạn nhân, mình mảy nát nhừ, lại bị bỏ vào nhà giam suốt một đêm. Sáng hôm sau, gã trẻ tuổi đi khai hoá đó lại choảng sưng đầu nạn nhân và lấy chuôi súng lục đập vỡ một mắt của người ấy. Tên súc sinh đó đã được toà án Pháp tha bổng.

Ở Đahômây, người ta tǎng thêm thuế má vốn đã quá nặng nề đối với người dân bản xứ. Người ta bắt thanh niên phải bỏ nhà cửa và ruộng nương đi làm “những người bảo vệ vǎn minh”. Người ta cấm dân bản xứ giữ vũ khí để tự vệ chống thú dữ vẫn thường phá hoại hàng xã một. Giáo dục, y tế đều không có. Trái lại, người ta không từ một thủ đoạn nào để bắt người Đahômây “được bảo hộ” phải chịu cái kiếp lầm than của người dân bản xứ, cái chế độ đã hạ con người xuống hàng con vật và làm điếm nhục cho cái gọi là thế giới vǎn minh. Dân bản xứ, không nhịn nhục được nữa, vùng lên. Thế là cuộc đàn áp đẫm máu được tiến hành. Người ta dùng những biện pháp cương quyết. Người ta đưa quân đội, súng liên thanh, súng cối và tàu chiến đến; người ta hạ lệnh giới nghiêm. Người ta bắt bớ và bỏ tù hàng loạt. Đấy, đức nhân từ của công cuộc khai hoá như thế đấy.

NGUYỄN ÁI QUỐC

Báo La Vie Ouvrière, ngày 30-3-1923.
cpv.org.vn

Các vị thống trị của chúng ta (5-1923)

Thế là xong: số phận của 20 triệu dân An Nam mong muốn sắp được trao vào tay ông Mácxian Méclanh.

Anh sẽ hỏi tôi: Cái ông Méclanh ấy là ai ư? Chả gì thì đây cũng là một ông đã là quan cai trị các đảo Gămbiê (1) , rồi Phó toàn quyền Tây Phi, rồi Toàn quyền thuộc địa này. Đó là một vị đã bỏ ra 36 năm cuộc đời mình để nhồi vào các cái sọ dân bản xứ về tất cả cái nền văn minh đầy ân huệ của nước Pháp.

Có lẽ anh sẽ bảo tôi rằng, thực là một tấn trò hề Đông Dương (2) to đùng khi đưa Ngài lên cai trị một đất nước mà Ngài không biết gì về nó cả.

Thì, đúng thế! Nhưng đó là cái mốt mà một bạn đồng nghiệp, hôm nọ cho biết ông đã thấy chễm chệ ngồi ở vụ Tây Phi thuộc Pháp của Bộ Thuộc địa một cựu công sứ ở Đông Dương. Một cựu công sứ khác ở Tây Phi thì lại đảm nhiệm việc châu Phi xích đạo. Một cựu quan chức ở Xuđăng (3)thì lại được chọn để phụ trách các vấn đề về Mađagátxca, trong khi đó, ở Hội chợ thuộc địa, người đại diện cho Camơrun lại là một quan chức chưa hề đặt chân lên nước này bao giờ.

Vả lại, cần quái gì, nếu quyền lợi của nước Pháp có bị Méclanh quản lý tồi thì đã sao, miễn là quyền lợi cá nhân của ông bộ trưởng được phục vụ tốt. Tờ “Petit Bleu” bàn về sự bổ nhiệm tân thái thú đã nói thế này:

“Đừng có mà lầm; không phải lòng tham của ông Méclanh đã lái ông ta mà là lòng tham của ông Xarô đã gây ra mọi tai hại”.

Quả vậy, ông Xarô thì, như chúng tôi đã nói và chán vạn người cũng đã nói, muốn trở lại Đông Dương và chắc chắn ông ta sẽ là người thế chân ngay ông Lông, nếu không có cuộc bầu cử nghị viện sắp diễn ra chừng mươi tháng tới. Thế nhưng, tuy có thèm muốn làm Toàn quyền Đông Dương đấy, ông Xarô lại không muốn vì thế bỏ chức vụ ở nghị viện. Dân gian có câu tục ngữ: “Số phận ai hay sẽ thế nào”. Nghị sĩ hạ viện hay nghị sĩ thượng viện, thì biết đâu một sớm kia tỉnh dậy lại chả thấy mình là bộ trưởng, còn có thể là thủ tướng nữa ấy chứ; còn nếu chỉ là toàn quyền, nghĩa là viên chức, thì không làm bộ trưởng được.

Vậy thì vấn đề là hãy đặt ở Đông Dương một quan chức có thể gọi là tạm quyền, để đến mùa xuân sang năm, sau kỳ bầu cử nghị viện, thì ông Xarô sẽ dễ dàng thế chân. Thế là ông nghĩ ngay đến việc chọn ông Méclanh vào cái vị trí chả thú vị gì ấy, bởi vì ông này sắp mãn hạn làm việc, chả bao lâu nữa ông đã đủ quyền về hưu.

Đó, vì sao ông Méclanh sắp lên đường sang Đông Dương, vì sao bao nhiêu công việc hữu ích mới bắt đầu ở Tây Phi bị ông xếp xó, vì sao ở Viễn Đông, ông sẽ chẳng làm việc gì đáng kể mà chắc sẽ chỉ làm cho xong việc sự vụ vì biết rằng mình cũng chẳng ở bao lâu, và vì sao nữa ở cái “Cộng hoà Cẩm mà lách với nhau” (1) này, tất cả đều bị bỏ qua, tất cả đều tụt dốc, tất cả đều ngày càng tồi tệ, vì quyền lợi cá nhân của ông này hay ông nọ bao giờ cũng đều đặt lên trên quyền lợi chung của đất nước.

N.

Báo Le Paria, số 14, tháng 5-1923.
cpv.org.vn

——————————

(1) Ngay sau khi Nguyễn Ái Quốc gửi bản Yêu sách của nhân dân An Nam tới trưởng đoàn các nước dự Hội nghị Vécxây, bọn bồi bút thực dân lồng lộn. Trên tờ Courrier Colonial ra ngày 27-6 có một bài nhan đề Giờ phút nghiêm trọng chỉ trích bản yêu sách : Làm sao một người dân thuộc địa lại có thể dùng bản yêu sách của nhân dân để công kích Chính phủ Pháp. Thật là quá quắt. Cứ theo đà này thì bọn dân thuộc địa sẽ lên ngang hàng với người Pháp chúng ta và sớm trở thành ông chủ của chúng ta. Không được, phải kìm giữ chúng mãi mãi trong vòng nô lệ. Nguyễn Ái Quốc viết bài này là để trả lời bài báo sặc mùi thực dân trên.

(2) Bản Yêu sách của nhân dân An Nam: Nǎm 1918, Chiến tranh thế giới thứ nhất kết thúc. Ngày 18-1-1919, đại biểu các nước đế quốc tham gia chiến tranh họp hội nghị ở Vécxây (Pháp). Hội nghị này (còn gọi là Hội nghị hoà bình Pari) nhằm xác định sự thất bại của Đức và các nước đồng minh của Đức, chia lại thị trường thế giới cho các nước đế quốc thắng trận, chủ yếu là Mỹ, Anh, Pháp.Nhân danh nhóm người yêu nước Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc đã gửi đến Hội nghị bản Yêu sách của nhân dân An Nam. Nguyễn Ái Quốc còn thuê in thành truyền đơn, đǎng trên các báo, gửi đến các nhà hoạt động chính trị có tên tuổi, phân phát trong các buổi hội họp, mít tinh, gửi cho Việt kiều ở Pháp và gửi về nước.

(3) Báo Le Courrier d’Hai Phong: Báo xuất bản hằng ngày ở Hải Phòng, nǎm 1887, do Toà đốc lý của chính quyền thuộc địa phụ trách.

Không phải chuyện đùa (6-1923)

Có thể bảo các ông nghị là những người thuộc một giống người khác. Từ giống những người được trúng cử, đúng là như vậy. Họ là kẻ dám làm mọi việc, kể cả việc đùa dai.

Kẻ được trúng cử nọ, bị tố cáo là lậu thuế, hay lừa đảo – thì cũng thế – đã không ngần ngại chất vấn ông Bộ trưởng Bộ Tài chính về những biện pháp ông ta định dùng để ngǎn chặn sự bép xép của viên chức ông ta! Kẻ trúng cử kia…. Nhưng thôi, cho qua, và xin nói rằng, những ông nghị ba hoa nhất vẫn là những người trúng cử thuộc địa.

Người ta còn nhớ: các vị đáng kính ấy đã đưa ra một kiến nghị thỉnh cầu Chính phủ Pháp cho niêm yết và đem dạy trong tất cả các trường trung học, tiểu học, đại học, ký túc xá, nhà trẻ, học viện rằng nước Pháp là một nước 100 triệu dân. Không hơn không kém một người.

Và thế là cả giới báo chí dại dột và chẳng nghĩ rằng, cái kiến nghị khôi hài ấy có thể dẫn người Pháp đến những hậu quả nghiêm trọng, cứ hoan hô ầm ĩ cả lên!

Đến nay, nếu kiến nghị ấy được chấp nhận thì sẽ thế này này: Tất cả những ông bà ta ở Bộ Thuộc địa – trước hết là ông Anbe Xarô sẽ chết đói, vì phó mát thuộc địa sẽ tự nhiên bị cắt mất.

Liên đoàn phục hồi dân số sẽ biến mất và Ngài giáo chủ Binđria sẽ không thể giảng cái thuyết đẻ mắn như thỏ ở Viện Hàn lâm Pháp nữa. Vì khi sẽ có 100 triệu người Pháp so với 60 triệu tên “bôsơ” thì người ta sẽ không có quyền, dù là một vị giáo chủ nói đến chuyện hụt dân số nữa.

Tất cả sách của ông Môrítxơ Barét và tất cả những bài báo của ông Phorét (Lui) chỉ đáng đem mà… đốt cả đi vì dù có quyền thế đến đâu, thì các vị cũng không thể cho rằng máu latinh đang chảy trong huyết quản của người An Nam hay người Đahômây.

Và khi mà không còn thuộc địa nữa thì binh sĩ vinh quang của chúng ta sẽ đi đánh chác ở đâu cho đỡ buồn tay? Biết gửi đi đâu những vị thống soái hết thời, những nhà chính trị thất cơ lỡ vận, bọn giết người không may, như ông Bốp và những người khác?

Phải hàng tập sách, hàng tập sách để miêu tả mọi điều bất tiện xảy ra nếu kiến nghị ấy được chấp nhận. Còn chúng tôi nữa, chúng tôi cũng hết sức hoan nghênh nó, nhưng dĩ nhiên với ý nghĩa khác.

Một khi chúng tôi là người Pháp, lập tức chúng tôi sẽ gửi một đoàn khai hoá đến khắp nước Pháp. Chúng tôi sẽ làm cho đất nước người Gôloa ngập lụt rượu và thuốc phiện. ở đây, chúng tôi sẽ đánh thuế muối, thuế nhập thị, sẽ cho bắt giam theo lệnh hành chính, phạt tiền tập thể, sẽ cho mở những toà án đặc biệt để đàn áp, hoạt động thường xuyên, lập kiểm duyệt, v.v. và v.v.. Nói gọn lại, chúng tôi sẽ làm lại ở đây tất cả những gì mà những kẻ nguyên là bề trên của chúng tôi đã làm trên đất nước chúng tôi, cho chúng tôi hoá ra là người Pháp. Chúng tôi sẽ cấm tất cả các báo, cả báo Le Matin và báo Le Petit Parisien. Chúng tôi sẽ bãi quyền tự do đi lại, tự do hội họp. Chúng tôi sẽ đưa những người sinh đẻ ở đây vào chế độ bản xứ, xiết bao êm ái và tốt lành, mà chúng tôi, người An Nam, người Mangát, người Phi châu chúng tôi đã được hưởng từ lâu. Chúng tôi sẽ bắt những thanh niên Pháp phải “tình nguyện” nhập ngũ, không phải 18 tháng, mà là ba, là bốn nǎm. Nếu cần, chúng tôi sẽ gửi họ đi cho người ta giết chết, để bảo vệ Tổ quốc và bảo vệ két sắt của chúng tôi. Chúng tôi sẽ chọn những cô gái Pháp trẻ, đẹp, cho đến Đông Dương, Ǎngtiơ, Mađagátxca, châu Phi, làm con đòi, mỗi tháng 40 phrǎng.

Chúng tôi sẽ là Tổng thống nước Cộng hoà Pháp, Bộ trưởng, thượng nghị sĩ và hạ nghị sĩ. Chúng tôi sẽ là những nhà khai hoá, những nhà bảo hộ, những kẻ bài xích người bản xứ, những kẻ thân người bản xứ. Chúng tôi sẽ cai trị người Pháp, và khi bực mình, có thể gọi người thổ dân – như chúng tôi đã từng bị gọi như thế cho đến nay- là những thằng Nhà quê (1) bẩn thỉu, hay lũ “dê con” bẩn thỉu.

Đúng là sẽ đến lượt chúng tôi, phải không?

NGUYỄN ÁI QUỐC

Báo Le Paria, số 15, tháng 6-1923.
cpv.org.vn

——————————–

(1) Ngay sau khi Nguyễn Ái Quốc gửi bản Yêu sách của nhân dân An Nam tới trưởng đoàn các nước dự Hội nghị Vécxây, bọn bồi bút thực dân lồng lộn. Trên tờ Courrier Colonial ra ngày 27-6 có một bài nhan đề Giờ phút nghiêm trọng chỉ trích bản yêu sách : Làm sao một người dân thuộc địa lại có thể dùng bản yêu sách của nhân dân để công kích Chính phủ Pháp. Thật là quá quắt. Cứ theo đà này thì bọn dân thuộc địa sẽ lên ngang hàng với người Pháp chúng ta và sớm trở thành ông chủ của chúng ta. Không được, phải kìm giữ chúng mãi mãi trong vòng nô lệ. Nguyễn Ái Quốc viết bài này là để trả lời bài báo sặc mùi thực dân trên.

Chủ nghĩa quân phiệt thực dân (13-4-1923)

Chúng tôi đã nói rằng, việc bắt lính ráo riết là một trong những nguyên nhân thúc đẩy người Đahômây đứng lên bạo động.

Trước hết, chúng ta thấy ngay một sự bất bình đẳng nổi bật: người Pháp chỉ phục vụ trong quân đội hai nǎm, còn người bản xứ thì phải phục vụ ba nǎm. Sau khi bỏ ra 36 tháng tuổi thanh xuân tươi đẹp của mình để bảo vệ tự do và công lý (?), người dân bản xứ được giải ngũ lại chịu sự tác động của đạo luật về người bản xứ trong đó không có tự do và công lý! Song sự bất bình đẳng ấy cũng có cái tốt: nó gây ra cho tất cả những người bản xứ cái tâm trạng chống chủ nghĩa quân phiệt.

Sự tàn ác của bọn bắt lính ở các thuộc địa tinh vi tới mức thậm chí người Pháp ở chính quốc cũng không thể hình dung được một cái gì giống như thế. Trong thời gian chiến tranh, những viên chỉ huy mang lính đi hết làng này sang làng khác buộc chính quyền bản xứ cung cấp ngay lập tức số người cần thiết để đưa vào quân đội.

Lẽ nào một sĩ quan Pháp tháo vát lại không biết tra tấn những người cha và những người mẹ của những người Xênêgan trẻ tuổi đang lẩn trốn khi ông ta xuất hiện, để buộc họ phải chui ra khỏi những nơi ẩn nấp của họ và khoác bộ áo lính Duavơ? Lẽ nào hắn lại không bắt các ông già, phụ nữ có mang, thiếu nữ, buộc họ phải cởi trần truồng và đốt quần áo của họ ngay trước mắt họ. Trần truồng, bị trói, những nạn nhân bất hạnh buộc phải chạy khắp làng dưới trận mưa roi để làm “gương”. Một người phụ nữ cõng con đằng sau lưng buộc phải xin phép được cởi trói một tay để đỡ lấy đứa bé cho khỏi ngã. Hai cụ già đã ngã bất tỉnh nhân sự trong cuộc chạy ấy. Những em gái bị hành hạ như thế đã hành kinh trước tuổi, một phụ nữ có mang, đứa con sinh ra đã bị chết, một phụ nữ khác thì đứa con sinh ra đã bị mù.

NGUYỄN ÁI QUỐC

Báo La Vie Ouvrière, ngày 13-4-1923
cpv.org.vn

Tinh hoa của xứ Đông Dương (4-1923)

Trong đám tang toàn quyền Lông, ông Nguyễn Khắc Vệ, tiến sĩ khoa luật học, tiến sĩ khoa chính trị học và kinh tế học, làm việc tại Toà Biện lý Sài Gòn, đã quả quyết rằng, nếu có thể phát biểu thay toàn thể nhân dân Đông Dương, thì ông chắc chắn rằng, tiếng nói đó sẽ đau thương tỏ lòng tri ân toàn quyền về tất cả những gì mà toàn quyền đã ban cho dân tộc An Nam. Và ông Vệ trân trọng lớn tiếng:

“Và những ai, nhờ vào những biện pháp khoan dung của Ngài, ngày nay, đang cùng các vị đại diện của nước bảo hộ góp phần vào công cuộc phồn vinh ngày càng tǎng tiến của xứ Đông Dương, sẽ cất lên từ đáy lòng mình lời tri ân Ngài và lòng sùng kính đối với anh linh Ngài. Vấn đề kinh tế là điều mà Ngài quan tâm hơn hết. Ngài từng mong muốn trang bị cho Đông Dương mọi khí cụ kinh tế sao cho nó trở thành một nước Pháp thứ hai, một nước Pháp Viễn Đông hùng cường, một con đỡ đầu của nước Pháp cộng hoà”.

“Trong sứ mệnh của Ngài, Ngài đã toàn tâm toàn ý khai hoá cho một dân tộc bị ngừng trệ trên con đường tiến bộ vì một tổng hợp điều kiện lịch sử và khí hậu. Ngài là vị quán quân của tiến bộ, là sứ giả của công cuộc khai hoá…”.

Về phần mình, ông Cao Vǎn Sen, kỹ sư, Chủ tịch Hội những người Đông Dương, thì nói rằng, việc ông Lông chết quá sớm là một cái tang cho toàn cõi Đông Dương. Rồi ông kết thúc bài điếu vǎn bằng những lời sau đây:

“Bẩm quan Toàn quyền, chúng tôi thành tâm than khóc Ngài vì đối với tất cả chúng tôi, Ngài là một thủ hiến, một người cha nhân hậu”.

…………………” (1).

Từ sự việc trên, tôi đi đến kết luận rằng: Nếu quả thực tất cả những người An Nam đều cũng luồn cúi sát đất như hai đứa con này của guồng máy cai trị thì quả thực là dân này xứng đáng với cái số phận được cho.

N

Báo Le Paria, số 13, tháng 4-1923.
cpv.org.vn

——————————-

(1) Ngay sau khi Nguyễn Ái Quốc gửi bản Yêu sách của nhân dân An Nam tới trưởng đoàn các nước dự Hội nghị Vécxây, bọn bồi bút thực dân lồng lộn. Trên tờ Courrier Colonial ra ngày 27-6 có một bài nhan đề Giờ phút nghiêm trọng chỉ trích bản yêu sách : Làm sao một người dân thuộc địa lại có thể dùng bản yêu sách của nhân dân để công kích Chính phủ Pháp. Thật là quá quắt. Cứ theo đà này thì bọn dân thuộc địa sẽ lên ngang hàng với người Pháp chúng ta và sớm trở thành ông chủ của chúng ta. Không được, phải kìm giữ chúng mãi mãi trong vòng nô lệ. Nguyễn Ái Quốc viết bài này là để trả lời bài báo sặc mùi thực dân trên.

Báo cáo gửi Ban biên tập về hoạt động của báo Le Paria (1923)

Dự án ban đầu là trước hết thành lập một hợp tác xã xuất bản.

Dự án đó không thực hiện được do các đồng chí chưa hăng hái đóng góp, mặc dù chúng ta đã kêu gọi nhiều lần và việc làm này chúng ta tốn kém 120 phrăng.

Một nhóm nhỏ tám đồng chí cam kết dù sao cũng phải cho xuất bản ngay tờ Le Paria. Đã có những lời hứa như sau: Blôngcua cho 100 phrăng mỗi tháng, Hátgiali: 50, Mônnécvin: 50, Xtêphani: 25, Nguyễn ái Quốc: 25, Ônôriơ: 10, Ralaimônggô: 10, Phuốcnirê: 10. Tổng cộng là 280 phrăng.Le Paria bắt đầu ra mắt ngày 1-4-1922, cho đến ngày 31-12-1922, ngân sách của nó chia ra như sau:

Thu:

A- Tiền quyên góp của các đồng chí nói trên: Ralemônggô: 50 phrăng, Nguyễn ái Quốc: 175, Mônnécvin: 100, Blôngcua: 0, Ônôriơ: 10, Hátgiali: 200, Xtêphani: 50, Phuốcniê: 0. Tổng cộng là 585 phrăng.

B- ủng hộ báo từ 1-4 đến 31-12-1922: 593 phrăng.

C- Tiền bán báo dài hạn 141 x 3 = 423 phrăng.

D- Tiền bán báo lẻ từ số 1 đến số 9 = 170 phrăng 40. Tổng số thu là: 1.771 phrăng 40.

Chi:

– Chi phí ban đầu (kể cả số tiền 120 phrăng nói ở trên): 170 phrăng.

– Đồ dùng: 34,80

– Cước phí bưu điện: 156,80

– Chi phí tiền in: 2.483,80

Tổng số chi là: 2.845,40.

Ngoài số chi nói trên còn ba quý tiền thuê nhà hết 900 phrăng do sự ủng hộ của các đồng chí đài thọ, đặc biệt do số tiền 450 phrăng đồng chí Blôngcua nhận được từ Đahômây.

… Xin nhận xét rằng, trong chín tháng qua, trong số tám đồng chí hứa cho tiền hằng tháng, thì có: 1 đồng chí đi vắng không đóng xu nào, 1 chưa đóng, 1 mới đóng 1 tháng, 2 đóng 2 tháng, 1 đóng bốn tháng, 1 đóng năm tháng, 1 đồng chí đóng đầy đủ (1) .

Để trả được số nợ cũ cho chủ nhà in và tìm một nhà in khác với điều kiện thuận lợi hơn cho báo, thì các đồng chí cần giữ đúng những lời đã hứa góp tiền.

Từ 1-1-1923, quyết định ra báo hai kỳ một tháng và ra bốn trang, trang bốn dành đăng quảng cáo để tờ báo có thể sống được. Nhân dịp này, các đồng chí quyết định nộp tiền trả ngay tiền in số 10 là 535 phrăng.

Từ 1-2, việc cho đăng quảng cáo phải mang lại một số tiền đủ cho việc ra báo. Đồng chí Xtêphani được giao tổ chức việc lấy quảng cáo.

Mặc dù việc quảng cáo mới được đặt ra và do đó chưa được hưởng ứng nhiều, mới đem lại cho các số báo 10, 11 và 12 một số tiền ít ỏi, đồng chí Xtêphani bảo đảm với chúng ta rằng, với các số tới, ngân sách 1923 sẽ được cân đối, do đó Xtêphani hứa rằng, từ số 13 sẽ không yêu cầu các đồng chí đóng góp nữa. Xtêphani tin chắc rằng trong tương lai rất gần, việc nhận đăng quảng cáo không những có thể giúp trang trải tiền thuê in báo mà còn có thể trả công cho một đồng chí chuyên trách gánh mọi công việc của tờ báo như gửi thư đi, kiểm soát, giữ thường trực, v.v., và còn trả được tiền thuê nhà. Trong khi chờ đợi, các đồng chí phải chịu bỏ tiền ra để trả tiền thuê nhà.

Hãy dũng cảm, có nghị lực và bắt tay vào việc.

NGUYỄN ÁI QUỐC

Viết cuối 1922. In trong sách Thời thanh niên của Bác Hồ,
Nxb. Thanh niên, Hà Nội, 1976, tr. 179-181.
Bài in trong sách Thời thanh niên của Bác Hồ.
cpv.org.vn

———————————-

(1) Ngay sau khi Nguyễn Ái Quốc gửi bản Yêu sách của nhân dân An Nam tới trưởng đoàn các nước dự Hội nghị Vécxây, bọn bồi bút thực dân lồng lộn. Trên tờ Courrier Colonial ra ngày 27-6 có một bài nhan đề Giờ phút nghiêm trọng chỉ trích bản yêu sách : Làm sao một người dân thuộc địa lại có thể dùng bản yêu sách của nhân dân để công kích Chính phủ Pháp. Thật là quá quắt. Cứ theo đà này thì bọn dân thuộc địa sẽ lên ngang hàng với người Pháp chúng ta và sớm trở thành ông chủ của chúng ta. Không được, phải kìm giữ chúng mãi mãi trong vòng nô lệ. Nguyễn Ái Quốc viết bài này là để trả lời bài báo sặc mùi thực dân trên.

Hạ viện Mỹ thông qua dự luật sai trái về Việt Nam

Hạ viện Mỹ

Cái gọi là “Dự luật Nhân quyền Việt Nam” với những thông tin sai trái, thiếu khách quan về tình hình thực thi quyền con người ở Việt Nam vừa được Hạ viện Mỹ thông qua.

Theo thông cáo báo chí đăng trên trang web của Hạ nghị sĩ Chris Smith, Hạ viện Mỹ chiều 11/9 đã thông qua Dự luật Nhân quyền Việt Nam năm 2012 số hiệu là H.R.1410.

Theo dự luật này, Mỹ không được viện trợ không có mục đích nhân đạo cho Việt Nam nếu Tổng thống Mỹ không xác nhận được với Quốc hội Mỹ rằng Việt Nam đã cải thiện đáng kể trong lĩnh vực nhân quyền.

Hồi tháng 3 năm nay, khi Ủy ban Đối ngoại Hạ viện Mỹ thông qua dự luật kể trên, Người Phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Lương Thanh Nghị đã khẳng định dự luật đưa ra những thông tin sai trái, thiếu khách quan về tình hình thực thi quyền con người ở Việt Nam.

Ông Nghị nhấn mạnh: “Chúng tôi cho rằng mọi khác biệt về vấn đề quyền con người cần được trao đổi thẳng thắn trên tinh thần xây dựng và tôn trọng lẫn nhau nhằm tăng cường hiểu biết và góp phần thúc đẩy quan hệ giữa các quốc gia. Trên tinh thần đó, Việt Nam đã tiến hành đối thoại với Mỹ về vấn đề quyền con người.”

Theo người phát ngôn, trong những năm qua, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu trong việc bảo đảm quyền con người trên mọi lĩnh vực dân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, và được cộng đồng quốc tế ghi nhận.

[“Dự luật nhân quyền Việt Nam là không công bằng”]

Khi đó, Hạ nghị sỹ Mỹ Eni Faleomavaega cũng cho rằng dự luật nhân quyền Việt Nam 2011 được thông qua tại Ủy ban Đối ngoại Hạ viện Mỹ là không công bằng với cả nhân dân và Chính phủ Việt Nam.

Nghị sĩ Faleomavaega cho rằng với việc thông qua dự luật trên, người ta đã áp dụng một “tiêu chuẩn kép” đối với Việt Nam, tức là áp đặt một tiêu chuẩn cao hơn về nhân quyền đối với Việt Nam so với các nước khác, trong đó có chính nước Mỹ.

Hạ nghị sĩ Chris Smith từng hai lần đề nghị Dự luật Nhân quyền cho Việt Nam và được Hạ viện Mỹ thông qua nhưng đều bị Thượng viện bác bỏ./.

(Vietnam+)
vietnamplus.vn

“Dùng tâm công, dội bão lửa!

QĐND- Điện thoại phòng làm việc của Thiếu tướng Nguyễn Thanh Ngụ liên tục đổ chuông. Nhiều cán bộ, nhân viên ra vào tấp nập xin chữ ký, nộp tờ trình, báo cáo… Định đến phỏng vấn về ngày truyền thống Binh chủng Pháo binh (29-6) nhưng thấy ông bận rộn, chúng tôi đang lưỡng lự thì đúng lúc ông nhìn ra và khoát tay: “Mời các phóng viên vào, tôi đang chờ các đồng chí đấy”. May quá, ông vẫn nhớ lịch hẹn. Câu chuyện của chúng tôi bắt đầu từ sự bận rộn hiện nay của đồng chí Bí thư Đảng ủy, Chính ủy Binh chủng Pháo binh.

Thiếu tướng Nguyễn Thanh Ngụ: Dạo này đơn vị triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) về xây dựng Đảng, rồi đang chuẩn bị hội nghị rút kinh nghiệm công tác tư tưởng trong quản lý bộ đội, công tác xây dựng điển hình tiên tiến, hội nghị tọa đàm sĩ quan trẻ và nhất là tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh nên tôi khá bận. Nhưng dù bận, cũng phải thu xếp để tiếp các nhà báo, sắp đến ngày thành lập Binh chủng Pháo binh, rất mong các đồng chí tuyên truyền về truyền thống của Binh chủng anh hùng, Binh chủng hỏa lực mặt đất chủ yếu của quân đội ta.

Thiếu tướng Nguyễn Thanh Ngụ, Bí thư Đảng ủy, Chính ủy Binh chủng Pháo binh trò chuyện cùng sĩ quan trẻ. Ảnh: Đình Hùng

PV: Thưa đồng chí Chính ủy, nhắc đến pháo binh, chúng tôi nhớ ngay đến lời khen tặng của Bác Hồ dành cho Binh chủng: “Chân đồng, vai sắt, đánh giỏi, bắn trúng”. Lời khen ấy của Bác, chắc hẳn là phương châm để Đảng ủy Binh chủng triển khai việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh hiện nay?

Thiếu tướng Nguyễn Thanh Ngụ: Đúng vậy. Lời khen của Bác là niềm tự hào của các thế hệ bộ đội pháo binh. Đó là ngày 13-4-1967, bộ đội pháo binh xuất sắc bắn cháy nhiều tàu chiến Mỹ và đánh trả pháo binh địch ở Cồn Tiên-Dốc Miếu. Sinh thời, Bác Hồ rất quan tâm, chăm lo phát triển bộ đội pháo binh. 14 lần Bác đến thăm, nói chuyện hoặc gửi thư khen bộ đội pháo binh. Đó là “vốn liếng” rất lớn để chúng tôi triển khai học tập và làm theo tư tưởng, tấm gương đạo đức và phong cách của Người. Việc làm theo, tất nhiên là rất phong phú, đa dạng nhưng chúng tôi cứ khắc ghi lời Bác: “Nắm vững kỹ thuật, chiến thuật, giữ gìn xe tốt, pháo tốt, tiết kiệm đạn dược, đánh giỏi, bắn trúng” là có thể hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị của Binh chủng Pháo binh.

PV: Nhân nói về truyền thống “đánh giỏi, bắn trúng”, là lực lượng kỹ thuật với xe pháo nặng nề nhưng pháo binh luôn nổ phát súng lệnh, khởi đầu cho các chiến dịch lớn trong hai cuộc kháng chiến vệ quốc của nhân dân ta?

Thiếu tướng Nguyễn Thanh Ngụ: Điều nhà báo nói, cũng là điều mà chúng tôi muốn gửi gắm đến các chiến sĩ pháo binh trẻ hôm nay. Trong hai cuộc kháng chiến, chống Pháp và chống Mỹ trước đây, bộ đội pháo binh đã đánh hàng nghìn trận lớn nhỏ, đặc biệt là chuyên đánh mở màn trong các chiến dịch lớn, giành thắng lợi rất huy hoàng.

Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, lúc 20 giờ 3 phút ngày 19-12-1946, tiếng súng từ Pháo đài Láng chính là phát đạn đầu tiên của quân ta báo hiệu sự nghiệp toàn quốc kháng chiến đã bắt đầu. Đến Chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử, pháo binh ta làm bất ngờ hoàn toàn quân địch. Giặc Pháp không ngờ ta có thể điều động nhiều trung đoàn, tiểu đoàn pháo cỡ lớn, vượt qua bao đèo dốc để dội bão lửa lên đầu chúng dữ dội đến thế. Trong chiến dịch giải phóng Quảng Trị năm 1972, liên quân Mỹ-ngụy cũng đã hoàn toàn bất lực trước hỏa lực mạnh mẽ của pháo binh ta. Còn trong Chiến dịch Hồ Chí Minh, hơn 20 trung đoàn, lữ đoàn pháo với gần 800 khẩu pháo, tổ chức thành 30 cụm pháo binh đã tạo ra hệ thống hỏa lực cực mạnh, tập trung áp đảo địch ngay từ đầu, khống chế các sân bay, bến cảng, chi viện đắc lực cho 5 cánh quân tiến vào giải phóng Sài Gòn.

Bây giờ, với nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, việc bảo đảm cho pháo binh luôn “bắn giỏi, đánh trúng” là điều rất quan trọng, tạo ra “thế và lực” để giữ vững chủ quyền đất nước bằng phương pháp hòa bình.

PV: Bộ đội pháo binh, trong lịch sử đã là một trong những lực lượng oai hùng nhất của quân đội. Rất nhiều tác phẩm nghệ thuật hay về đề tài người lính thường nhắc đến bộ đội pháo binh. Thanh niên nhập ngũ cũng rất nhiều người muốn làm pháo thủ. Nhưng chúng tôi được biết, hiện số học sinh giỏi đăng ký thi vào Trường Sĩ quan Pháo binh ngày càng ít, phải chăng “tình yêu pháo binh” đã giảm trong thanh niên hiện nay?

Thiếu tướng Nguyễn Thanh Ngụ: Đó cũng là một vấn đề mà chúng tôi băn khoăn, trăn trở. Đây không chỉ là vấn đề riêng của pháo binh. Thực tế, thời bình, thanh niên có nhiều cơ hội lựa chọn nghề nghiệp, phát triển kinh tế lại là nhiệm vụ trung tâm của thời kỳ quá độ, nên việc nhiều học sinh giỏi không chọn pháo binh là nghề cũng là lẽ dễ hiểu. Điều chúng tôi quan tâm hơn là chăm lo giữ gìn truyền thống của Binh chủng, làm sao để mỗi đơn vị pháo binh là một cơ quan văn hóa. Người dân địa phương đến tham quan, gia đình quân nhân đến chơi đều cảm nhận và đánh giá cao về môi trường văn hóa – nhân văn của đơn vị mới là điều quan trọng. Đó cũng là cách để “hút” người có năng lực về công tác tại các đơn vị pháo binh. Năm ngoái, chúng tôi có làm một cuộc điều tra sơ bộ, cho thấy tuyệt đại đa số sĩ quan trẻ vẫn yên tâm công tác, gắn bó với đơn vị; 70% sĩ quan trẻ hoàn thành tốt nhiệm vụ ngay năm đầu ra trường trong khi có tới 50% tổng số sĩ quan hiện vẫn chưa hợp lý hóa gia đình, nghĩa là vẫn phải chịu cảnh sống xa nhà, đồng lương nhiều khi chỉ đủ rải dọc đường về phép… Đấy là những con số chứng tỏ, bộ đội pháo binh hiện nay vẫn xứng đáng với truyền thống hào hùng mà thế hệ đi trước đã dày công xây đắp.

PV: Giáo dục truyền thống cho sĩ quan pháo binh trẻ quả là một vấn đề hấp dẫn nhưng… hóc búa hiện nay. Chúng tôi vẫn băn khoăn là làm thế nào để sĩ quan trẻ có thể “đánh giỏi, bắn trúng” trong điều kiện giá cả vũ khí đắt đỏ, có khi rất lâu mới được thực hành bắn đạn thật như hiện nay ?

Thiếu tướng Nguyễn Thanh Ngụ: Vấn đề các đồng chí nêu làm tôi nhớ đến kỷ niệm thời trẻ của mình. Năm 1979, tôi là học viên Trường Sĩ quan Pháo binh đi thực tập ở đảo Trần (Quảng Ninh). Cả đảo có hai trận địa pháo nhưng chưa từng sử dụng, cũng không có ai là sĩ quan pháo binh. Nhân dịp tôi ra, cấp trên lệnh cho tôi huấn luyện bộ đội rồi tổ chức diễn tập bắn đạn thật luôn. Là một cán bộ thực tập, cũng chưa từng bắn đạn thật bao giờ, đối với tôi đó là một thử thách rất lớn. Tôi tâm niệm, cứ trung thành với kiến thức cơ bản được học, tổ chức bắn đạn thật đúng quy trình. Kết quả thật bất ngờ. Phát pháo đầu tiên do tôi đích thân bắn mẫu đã trúng mục tiêu trên biển. Kết quả buổi diễn tập được đánh giá cao. Như vậy thì thấy, trong điều kiện thời bình, ít được bắn đạn thật nhưng nếu anh huấn luyện bộ đội thật nghiêm, kỷ luật thật tốt thì không lo gì về chất lượng SSCĐ cả. Mà muốn để bộ đội có kết quả huấn luyện giỏi, người cán bộ không chỉ truyền kiến thức mà phải truyền cả ngọn lửa đam mê, nhiệt huyết nghề nghiệp của mình vào đó. Tôi nói vui, đó là cách “dùng tâm công” trong thời bình để sẵn sàng “dội bão lửa” lên đầu kẻ thù nếu tình huống chiến tranh vệ quốc xảy ra. Chúng tôi tự tin là ở thời kỳ nào, Binh chủng Pháo binh cũng sẵn sàng hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao.

PV: Xin cảm ơn đồng chí !

Lại Nguyên Thắng (thực hiện)
qdnd.vn

“Dự luật nhân quyền Việt Nam là không công bằng”

Hạ nghị sỹ Mỹ Eni Faleomavaega. (Ảnh: Đỗ Thúy/Vietnam+)

Ngày 8/3, Hạ nghị sỹ Mỹ Eni Faleomavaega cho rằng dự luật nhân quyền Việt Nam 2011 vừa được thông qua tại Ủy ban Đối ngoại Hạ viện Mỹ là không công bằng với cả nhân dân và Chính phủ Việt Nam.

Nghị sĩ Faleomavaega cho rằng với việc thông qua dự luật trên, người ta đã áp dụng một “tiêu chuẩn kép” đối với Việt Nam, tức là áp đặt một tiêu chuẩn cao hơn về nhân quyền đối với Việt Nam so với các nước khác, trong đó có chính nước Mỹ.

Ông nói: “Chính phủ Việt Nam đã nỗ lực hết sức để loại bỏ những xâm phạm về nhân quyền, và Chính phủ Mỹ cũng đang có những nỗ lực tương tự. Cái mà tôi muốn chỉ ra là một thứ tiêu chuẩn kép. Tại sao chúng ta lại đặt riêng Việt Nam ra trong khi các nước khác cũng có những vấn đề tương tự.”

Theo Nghị sĩ Faleomavaega, trong các cuộc tham vấn giữa Quốc hội với Bộ Ngoại giao Mỹ, chính bộ này đã thừa nhận rằng phía Việt Nam đã và đang cố gắng để cải thiện quyền con người. Ông cũng cho rằng chính nước Mỹ đang có một vấn đề về đạo đức cần phải khắc phục.

Ông nói: “Nếu đã nói về những việc làm trước kia, thì phải nói đến chuyện hàng triệu galông chất độc da cam/dioxin, loại hóa chất độc hại nhất, mà người Việt Nam phải hứng chịu, chỉ vì sai lầm của chúng ta đã gây ra cho Việt Nam,” rồi đặt câu hỏi: “Tại sao Chính phủ Mỹ không giải quyết vấn đề này?.”

Trước đó, ngày 7/3, phát biểu trong cuộc thảo luận ở Ủy ban Đối ngoại Hạ viện mà ông là thành viên, nghị sỹ Faleomavaega cho rằng dự luật nhân quyền Việt Nam có cách tiếp cận “thiển cận,” đi ngược lại những nỗ lực của các chính quyền từ Tổng thống Bill Clinton, George W. Bush và Barack Obama nhằm củng cố quan hệ đối tác với Việt Nam.

Ông cho rằng cần phải thừa nhận những tiến bộ thực chất và định lượng được mà Việt Nam đã thực hiện trong vấn đề nhân quyền. Trong khi đó, theo ông, dự luật nhân quyền Việt Nam lại chỉ dựa trên những dữ liệu có từ cách đây 10-15 năm và được nhắc đi nhắc lại bởi những người chưa bao giờ đến Việt Nam.

Để giảm bớt những khác biệt giữa hai bên, nghị sỹ Faleomavaega cho rằng Quốc hội Mỹ cần thông qua Bộ Ngoại giao Mỹ tìm hiểu cụ thể các vụ việc có cáo buộc về nhân quyền, và cần có sự phản hồi chính thức từ phía Việt Nam, xác nhận tính chân thực hay không của các sự việc, những gì đã diễn ra, các việc đã và sẽ làm./.

(TTXVN)
vietnamplus.vn

Diễn đàn Đông Dương (6-1923)

Nhờ độ lượng mẫu từ của nước Pháp bảo hộ, Đông Dương thật đã trở thành một chỗ náu thân cho bọn làm bậy.

Ông Bôđoanh mặc dù có bị tố cáo hẳn hoi về tội giả mạo và dùng giấy tờ giả mạo, bây giờ cũng cứ là toàn quyền.

Ông Đáclơ nguyên bán cháo, trước là quan cai trị tỉnh, bị lên án là ǎn hối lộ, là cường hào và đã gây ra cuộc nổi dậy đẫm máu ở Thái Nguyên, đã được chính phủ thuộc địa cử vào Hội đồng thành phố Sài Gòn.

Ông Têa, kỹ sư và giám đốc một hãng buôn lớn, bị tố cáo là có tội nhũng lạm mà không bị rầy rà gì.

Giờ đến lượt Buđinô, viên quan cai trị này bị kiện: đã đút túi số tiền lời một cuộc chợ phiên tổ chức nhân dịp khánh thành tượng đài tử sĩ; đã đòi và nhận một món tiền “bồi thường” lớn trả cho sự có mặt của mình trong buổi chôn cất một mụ nhà giàu bản xứ, đã đòi những món tiền lớn chè lá khi cấp một giấy phép hay giấy lệnh nào đó.

Cuối cùng, đã lợi dụng, trong mọi trường hợp quyền hành quan cai trị (mà nước Pháp có chủ quyền đã uỷ thác cho) để làm đổ mồ hôi sôi nước mắt người bị trị và để cho phình ví tiền của ông ta. Nhưng lời kết tội nặng nhất là thế này: Làng Tân An (Nam Kỳ) có một nhà máy điện. Việc khai thác có lợi và phố xá, nhà cửa trong làng có điện sáng mà không phải trả tiền. Quan cai trị Buđinô buộc làng phải nhượng không nhà máy cho một anh thầu khoán đã có vi thiềng cho ông ta.

Ít lâu sau, làng phải trả tiền điện dùng ngoài phố và trong nhà. Thấy hàng nghìn điều bất lợi, họ mới biết mình tự quản nhà máy thì lợi hơn. Họ phải bỏ ra mấy chục ngàn đồng để chuộc lại cái mà họ đã phải “nhượng không”. Lần thứ hai này, vị quan cai trị đút túi thêm mấy tờ bạc lớn nữa.

Bị kiện vì tội buôn bán người chết, bóc lột người sống, tham ô lộ liễu, quan cai trị Buđinô vừa được công lý Pháp cho trắng án. Ngày mai có thể ông ta còn được huân chương.

Bao giờ người ta cũng vì uy tín chủng tộc, mà xá tội cho lũ “vô lại khả ố”. Bao giờ người ta cũng nhân danh nhân dân Pháp mà bắt công lý làm đĩ bợm.

Vǎn minh là như thế đó.

NGUYỄN ÁI QUỐC

Báo Le Paria, số 15, tháng 6-1923.
cpv.org.vn