Tag Archive | Chính trị – Xã hội

Mùa Xuân đầu tiên Bác Hồ trở về Pác Bó

(PL&XH) – Sau 30 năm xa Tổ quốc, ngày 28-1-1941 (mùng 2 Tết Nguyên đán năm Tân Tỵ), Bác Hồ qua cột mốc 108 biên giới Việt – Trung về Việt Nam. Nơi đây thuộc dãy núi cao được Bác đặt tên là núi Các Mác.

Dưới chân núi có hồ nước lớn trong xanh, nơi bắt đầu dòng suối chảy uốn quanh đổ xuống đồng bằng của bản Khuổi Nậm, Bác đặt tên là suối Lê-nin. Cột mốc 108 nằm trên núi cao cách chân núi chừng nghìn mét thuộc xã Trường Hà, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng. Ngay trong tiết xuân ấm áp của ngày đầu trở về Tổ quốc, Bác đã có cảm hứng với cảnh vật nơi này nên làm bài thơ đầu tiên tựa đề “Pác Bó hùng vĩ”:

Non xa xa, nước xa xa
Nào phải thênh thang mới gọi là
Đây suối Lê-nin, kia núi Mác
Hai tay xây dựng một sơn hà.

Ở lưng chừng núi gần cột mốc 108 là hang Pác Bó, nơi Bác chọn làm chỗ ở  ngay sau khi trở về nước. Dưới chân núi có chiếc bàn đá làm việc của Bác nằm bên cạnh đầu nguồn của suối Lê-nin. Chiếc bàn đá và cửa hang trên sườn núi nhìn xuống hồ nước trong xanh, thấy cá lội và bóng cây rừng, núi đá.

Sự kiện Bác Hồ trở về nước vào đầu năm 1941 là sự kiện lớn của lịch sử đấu tranh cách mạng của đất nước và dân tộc Việt Nam, đã làm thay đổi tình hình cách mạng trong nước. Đây là mốc lịch sử quan trọng dẫn tới cuộc cách mạng tháng Tám 1945 và ngày 2-9-1945, Bác đọc Tuyên ngôn độc lập tuyên bố sự ra đời của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa .

Bác Hồ về thăm lại Pác Bó (Cao Bằng – 1961)

Theo biên niên sử Hồ Chí Minh, từ ngày 11-11-1924, Bác Hồ từ Mát-xcơ-va (Nga) về tới Quảng Châu (Trung Quốc) lần đầu. Khoảng thời gian 1925-1927, Người mở lớp huấn luyện chính trị cho các thanh niên yêu nước từ trong nước tới đây với giáo trình là sách “Đường kách mệnh” và thành lập Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí hội (tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam). Do Sở Mật thám Anh truy lùng, Bác phải trở lại Nga. Ngày 25-4-1928, Người được Quốc tế cộng sản cử trở về Đông Dương theo nguyện vọng. Người tới Thái Lan ở một thời gian rồi về lại Hồng Kông (Trung Quốc) tiến hành thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam 3-2-1930.

Năm 1931, Người trở lại Mát-xcơ-va và năm 1938 về lại Quảng Châu. Trong năm 1939, Người di chuyển tới các thành phố Quế Lâm, Liễu Châu, Nam Ninh, Long Châu, Quý Dương, Côn Minh nằm dọc theo cuộc trường chinh vĩ đại của Đảng và đoàn quân giải phóng Trung Quốc từ Nam lên Bắc.

Đầu năm 1940, Bác Hồ gặp các đồng chí Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp ở Côn Minh từ Việt Nam sang. Sau ngày 20-6-1940, được tin Paris (Thủ đô Pháp) bị quân Đức chiếm, Bác  triệu tập cuộc họp Ban hải ngoại của Đảng, phân tích: “Việc Pháp mất nước là một cơ hội rất thuận lợi cho cách mạng Việt Nam. Ta phải tìm mọi cách về nước ngay để tranh thủ thời cơ. Chậm trễ lúc này là có tội với cách mạng”. Đầu tháng 1-1940, tại Tĩnh Tây (tỉnh Quảng Tây) cách biên giới Trung Quốc – Việt Nam 50km, Bác cùng các đồng chí Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp tổ chức lớp học và trực tiếp huấn luyện chính trị gần một tháng rồi cùng các đồng chí Lê Quảng Ba, Phùng Chí Kiên, Thế An, Đặng Văn Cáp và Hoàng Văn Lộc lên đường về nước.

Lớp huấn luyện cấp tốc này dành cho những cán bộ cách mạng và người yêu nước từ trong nước sang để chuẩn bị cơ sở “nhân hòa” cho “thời cơ” và “địa lợi” cách mạng mới. Đây là thời kỳ sau ngày khởi nghĩa Bắc Sơn và Nam Kỳ, vừa là thời cơ, đồng thời là thách thức vì cuộc nổi dậy của nhân dân đã có sự lãnh đạo của Đảng.

Lúc ấy, Bác còn nói: “Trước tình hình mới, vấn đề đoàn kết dân tộc càng quan trọng, ta phải nghĩ đến việc lập một Mặt trận rộng rãi, có hình thức và tên gọi cho thật thích hợp. Việt Nam giải phóng đồng minh? Hay Việt Nam độc lập đồng minh? Theo ý Bác, nên lấy tên Việt Nam độc lập đồng minh”.  Ý kiến đó của Bác được đem ra thảo luận trong Hội nghị Trung ương mở rộng lần thứ 8 của Đảng ngày 19-5-1941 và tên chính thức của Mặt trận được gọi tắt là Việt Minh.

Đối với Bác, đó là ngày đáng nhớ nhất trong cuộc đời làm cách mạng của mình. Sau đó, Bác đi tìm một chỗ ở kín đáo hơn. Đó chính là hang Pác Bó (Cốc Bó) nằm ở lưng chừng sườn núi Các Mác. Hôm Bác rời về ở trong hang là 8-2-1941, tức đúng 12 ngày sau ngày về nước.

Bước chân đầu tiên về đất mẹ cũng là giây phút Người lắng nghe sự sống của sinh thể đất nước đang phôi thai. Nhà thơ Chế Lan Viên đã diễn tả lại hình ảnh ấy bằng những câu thơ đầy xúc động:

“Kìa! Bóng Bác đang hôn lên hòn đất.
Lắng nghe trong màu hồng hình đất nước phôi thai”.

Bác về nước đúng vào mùa xuân, mùa tươi đẹp nhất của đất trời, mùa của trăm hoa đua nở, mùa của lộc biếc chồi xanh, vạn vật như khoác lên mình sắc áo mới hứa hẹn một tương lai tươi sáng ở phía trước. Người về nước trực tiếp lãnh đạo cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, cả thiên nhiên đất trời như reo vui:

“Ôi sáng xuân nay, xuân bốn mốt.
Trắng rừng biên giới nở hoa mơ.
Bác về… im lặng. Con chim hót.
Thánh thót bờ lau vui ngẩn ngơ”.

                                (Theo chân Bác của Tố Hữu)

Chỉ hơn bốn năm sau, ngày 2-9-1945, sơn hà của Tổ quốc đã được thu về một mối, từ Lạng Sơn đến mũi Cà Mau. Hồ Chí Minh trở thành vị Chủ tịch đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Và mùa Xuân độc lập đầu tiên, Xuân Bính Tuất năm 1946 đã trở về trên toàn cõi đất nước ta.

Sự kiện Bác Hồ về nước mùa Xuân năm 1941 là một mùa xuân đặc biệt trong cuộc đời bảy mươi chín mùa xuân của Người, vì đó là mùa xuân đầu tiên Bác Hồ trở về Tổ quốc, kết thúc chặng đường dài sau ba mươi năm bôn ba tìm đường cứu nước, hoạt động ở nước ngoài, để rồi từ đó trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam và cùng Đảng ta đem lại những mùa xuân cho dân tộc, chấm dứt trăm năm nô lệ tăm tối. Đã bảy mươi hai mùa xuân trôi qua nhưng hình ảnh khi lần đầu tiên Bác trở về với Tổ quốc sau 30 năm xa cách ấy vẫn mãi không phai nhòa trong lòng mỗi người dân Việt Nam.

Mỗi chúng ta đều không khỏi bồi hồi xúc động và thành kính tưởng nhớ đến Bác Hồ kính yêu đã hy sinh trọn đời mình cho dân tộc, đã dành cả cuộc đời chăm lo cho hạnh phúc nhân dân mà không gợn chút riêng tư để đất nước hôm nay trọn niềm vui độc lập tự do và đổi mới phát triển.  Càng nhớ Bác Hồ, mỗi người chúng ta hôm nay càng phải thực hiện tốt Cuộc vận động Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, góp phần đưa tư tưởng Hồ Chí Minh vào cuộc sống, tạo thành nguồn sức mạnh to lớn cổ vũ toàn Đảng, toàn quân, toàn dân cùng thi đua, phấn đấu thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ trong thời kì cách mạng mới, xứng đáng với lòng mong ước của Bác Hồ kính yêu “Xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh”.

Phong Anh (Biên soạn)
phapluatxahoi.vn

Từ “XUÂN” trong thơ Bác Hồ

Chúng ta đều biết từ XUÂN có nghĩa gốc (nghĩa đen) là mùa xuân. Nhưng từ nghĩa gốc đó, từ XUÂN còn được dùng với nghĩa rộng và nghĩa bóng. Hãy đọc thơ văn Bác Hồ để thấy Bác đã sáng tạo, biến hóa tài tình trong cách dùng từ XUÂN.

Trong thơ chúc Tết, từ XUÂN được Bác dùng để chỉ thời gian một năm:

Xuân này kháng chiến đã năm xuân
Nhiều xuân kháng chiến càng gần thành công

          (Thơ chúc Tết Tân Mão – 1951)

Thơ cổ thường dùng thu, đông để chỉ một năm (Ba thu dọn lại một ngày dài ghê – Truyện Kiều). ở đây, Bác lại dùng XUÂN, 5 xuân tức là 5 năm. Thật là mới mẻ, sáng tạo và phù hợp với không khí một bài thơ xuân.

Bác còn dùng XUÂN để chỉ tuổi – tuổi của Nước và của Đảng:

Mừng Nhà nước ta mười lăm xuân xanh!
Đảng chúng ta ba mươi tuổi trẻ!

(Thơ mừng năm mới- Xuân năm 1960)

Từ XUÂN được kết hợp với xanh thành xuân xanh để chỉ tuổi trẻ. Câu trên “mười lăm xuân xanh”, câu dưới “ba mươi tuổi trẻ” làm cho ý thơ khoẻ khoắn, phơi phới niềm tin, cảm hứng thơ xuân in rõ dấu ấn thời đại.

Trong thơ nói về tuổi già, từ XUÂN được Bác dùng như một tính từ đối lập với già là trẻ:

Sáu mươi tuổi hãy còn xuân chán,
So với ông Bành vẫn thiếu niên

(Sáu mươi tuổi – năm 1950)

Người viết câu thơ ấy phải trẻ trung và yêu đời biết bao! “Không gì vui bằng mắt Bác Hồ cười- Quên tuổi già tươi mãi tuổi đôi mươi” (Tố Hữu). Ngay cả khi sắp từ giã cuộc sống thì sự trẻ trung và yêu đời ấy vẫn thấm trong Di chúc, trong một từ XUÂN kỳ diệu: “Khi người ta đã “ngoài 70 xuân…” ( “ngoài 70 tuổi” gợi ý già nhưng “ngoài 70 xuân” thì lại đầy sức trẻ).

Từ XUÂN còn được Bác dùng để nói lên niềm vui và sự chiến thắng. Trong bài thơ cuối cùng trước lúc Bác đi xa, niềm vui ấy vẫn bừng sáng lên một sắc xuân chiến thắng:

Mừng thấy miền Nam luôn thắng lớn
Một năm là cả bốn mùa xuân

(Không đề – Khương Hữu Dụng dịch)

Trong nguyên văn: Một năm cả bốn mùa đều là xuân, có nghĩa là cả bốn mùa đều tràn đầy niềm vui và chiến thắng.

Những từ XUÂN nói trên Bác dùng thật tài tình, biến hoá. Nhưng sáng tạo nhất, hàm chứa nhiều ý nghĩa phong phú nhất, phải nói đến từ XUÂN trong câu thơ về Tết trồng cây Bác viết vào mùa xuân 1965:

Mùa Xuân là Tết trồng cây,
Làm cho đất nước càng ngày càng Xuân.

XUÂN ở đây là tính từ, bao hàm nhiều nghĩa: Xanh tươi, trẻ, đẹp, trù phú, đầy sức sống, đầy sức phát triển… để nói lên đất nước trong mùa xuân vĩnh viễn mở ra một tương lai bát ngát bởi lòng người viết cũng tràn đầy sức XUÂN.

Xuân Nguyên
dostquangtri.gov.vn

Xuân về nhớ Bác nhiều hơn

TP – “Mỗi khi xuân về, chúng ta càng nhớ Bác, càng thấy phải học Bác nhiều lắm…” – Ông Phạm Thế Duyệt – nguyên Ủy viên Thường vụ, Thường trực Bộ Chính trị, nguyên Chủ tịch UBTƯ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trò chuyện với Tiền Phong bên thềm xuân mới.

Bác Hồ với thiếu nhi. Ảnh: Tư liệuBác Hồ với thiếu nhi. Ảnh: Tư liệu.

Ông Phạm Thế Duyệt chia sẻ:

Têt không chỉ là ngày họp mặt gia đình đông vui, mà còn mong như dấu ấn chuyển tiếp thời điểm sang năm mới tốt đẹp hơn. Bây giờ trong nước, thế giới có nhiều vấn đề phức tạp khác trước.

Trong cuộc đua tranh kinh tế, cạnh tranh theo nhiều nghĩa khác nhau. Cái người ta day dứt, suy tư là phân hoá giàu nghèo nhiều hơn, khoảng cách các vùng miền xa nhau hơn, rồi quyền lực cũng bị đua nhau giành giật hơn!

Đời sống vẫn còn nhiều khó khăn, mình mới chỉ thoát nghèo theo nghĩa tính bình quân theo GDP, chưa thoát nghèo theo nghĩa vùng miền, gia đình.

Trong niềm vui chung

Ông Phạm Thế DuyệtÔng Phạm Thế Duyệt.

Trong niềm vui chung của thời khắc chuyển giao đón năm mới, điều mà ông suy tư nhất là gì?

Mừng nhất là đất nước mình ổn định. Nhưng trong cái vui chung, có nhiều điều làm tôi trăn trở. Mục tiêu phấn đấu để dân giàu, nâng độ đồng đều lên chưa làm được nhiều. Người nghèo nhiều nơi vẫn nghèo.

Có lẽ ít năm nào, Đảng tiến hành phê và tự phê như năm nay. Chúng ta có bài học từ thời Cải cách ruộng đất đến Đổi mới, nhưng hiếm khi các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước phải xin lỗi nhân dân về những việc quản lý xã hội còn yếu kém, một bộ phận không nhỏ cán bộ sa sút phẩm chất, đạo đức kéo dài. Đảng rất quyết tâm nhưng vẫn chưa chuyển hoá, khắc phục được tình hình.

Tình hình Biển Đông cũng đang khiến ta lo lắng. Chúng ta khát khao, yêu chuộng hòa bình, phấn đấu xây dựng cuộc sống hạnh phúc cho nhân dân và vì sự tiến bộ của nhân loại trên toàn thế giới. Nhưng ngay cả bạn bè, anh em lân cận cũng có những “ứng xử” không hay; chắc nhân dân sẽ không thể hoàn toàn an vui. Tết đến, không thể không nghĩ đến Trường Sa, Hoàng Sa, nơi biên giới, hải đảo, những chiến sỹ đang phải lăn lộn bảo vệ Tổ quốc.

Chúng ta cũng trăn trở, làm gì đây để vượt qua khó khăn của cuộc khủng hoảng kinh tế hiện nay. Các bộ ngành đều hứa giữ ổn định kinh tế, đẩy mạnh sản xuất, sắp xếp lại doanh nghiệp, chỉnh đốn lại tổ chức. Đấy là hướng tốt, nhưng đừng nghĩ quá đơn giản. Bởi nó đụng đến nhiều người có trách nhiệm ở nhiều cấp, đã đang được hưởng “một đặc ân” nào đó. Ta không bi quan, nhưng không thể không nhìn thẳng vào sự thật, để thấy những khó khăn của hôm nay và ngày mai. Tôi chỉ mong là tôi đã nghĩ quá, nhưng tôi chắc sẽ còn khó khăn lắm…

Năm qua để lại dấu ấn quan trọng về công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng theo Nghị quyết Trung ương 4. Là một đảng viên, từng giữ cương vị cao trong Đảng, ông có tâm sự gì?

Không phải đến Tết tôi mới nghĩ, mà Tết đến thì nghĩ nhiều hơn. Mình không thể không mừng về việc Nghị quyết T.Ư4 vừa triển khai, ai cũng chỉ mong có bước phát triển. Đảng lãnh đạo đang đứng trước nhiều khó khăn, thách thức mới, đe dọa sự tồn vong của cả chế độ. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nói: “Đảng ta luôn luôn nhấn mạnh phải đặc biệt coi trọng công tác xây dựng Đảng, coi đây là nhiệm vụ then chốt, nhiệm vụ có ý nghĩa sống còn đối với Đảng ta, chế độ ta”.

Đất nước ta có truyền thống quý báu: Mỗi lúc khó khăn nhất thì đều đã tìm ra cách tốt nhất để xoay chuyển tình thế. Người lãnh đạo rất cần biết phát huy trí tuệ của toàn Đảng, toàn dân, trước hết là của các đồng chí từng trải, có kinh nghiệm, thì chắc sẽ có nhiều ý kiến quý báu, đóng góp, xây dựng cho Đảng. Bác Hồ căn dặn: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết/Thành công, thành công, đại thành công”. Xuân về, chúng ta càng nhớ Bác, càng thấy phải học Bác nhiều lắm.

Soi tấm gương Bác

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm đến đồng bào nghèo. Tết đến, người dành thời gian thăm hỏi, gửi thư chúc tết đồng bào, chiến sỹ cả nước. Hình ảnh ấy của Bác luôn làm chúng ta xúc động, thưa ông?

Đúng thế! Bác sống rất sâu sắc. Bác là niềm tự hào của cả dân tộc, làm vinh quang cho đất nước ta trong thế kỷ 20. Mỗi việc làm của Bác đều rất thiết thực, tấm lòng của Bác rộng mở, bao la. Cuộc đời của Bác đã chứng minh đầy đủ thực sự nhân nghĩa, đạo lý truyền thống của dân tộc, giá trị tốt đẹp của nhân loại.

Chúng ta học tập Bác, không phải chỉ mang túi quà tết đến biếu người nghèo, người có công, mà phải ra sức học tấm gương “cần kiệm liêm chính chí công vô tư” của Bác. Bác “chỉ có một ham muốn tột bậc” là làm cho nước “được hoàn toàn độc lập”, dân “được hoàn toàn tự do”, “đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”.

Bác mong toàn Đảng phải đoàn kết, xứng đáng là Đảng của nhân dân, giữ được uy tín với nhân dân. “Phải giữ gìn sự đoàn kết trong Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình”. Lời dạy đó của Bác sâu xa lắm, chỉ tiếc là mình làm chưa được bao nhiêu.

Là cán bộ cao cấp về hưu, ngày tết ở gia đình ông có gì đặc biệt không?

Tôi có 6 người con đều đã ở riêng, nhưng bữa cơm nào các cháu đều đến ăn chung, ngày tết bao giờ cũng sum vầy bên nhau. Trong bữa cơm, tôi vẫn thường tâm sự, bảo ban các cháu. Ngày tết tôi cũng vẫn thấy phải tiết kiệm, hiếm khi mua cây đào; cùng lắm các cháu mua một vài cây quất để trước nhà.

Hồi trước làm lãnh đạo ở Hà Nội, nhiều năm cũng được anh em ở quận Tây Hồ cho cây quất… Nghĩ lại thấy đời sống của dân mình so với trước đây cũng đã hạnh phúc hơn nhiều.

Tết gia đình tôi thường tự gói lấy bánh chưng, có năm kéo cả nhà về quê ăn tết với quê hương, thật là đầm ấm.

Chúc ông năm mới tràn đầy sức khỏe và hạnh phúc.

Nguyễn Tuấn thực hiện
tienphong.com.vn

Đảng, Bác Hồ và mùa xuân dân tộc !

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng. Ảnh: Tư liệu

(THO) – Mùa xuân năm 1930, ngày 5 Tết Canh Ngọ, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời!

82 năm đã qua, Đảng vĩ đại, anh hùng đã gắn bó với nhân dân làm nên mùa xuân đất nước.

Biết bao mùa xuân đã trôi qua, nhưng một mùa xuân thực sự, một mùa xuân khởi đầu, đặt nền móng cho hạnh phúc của chúng ta hôm nay lại chính là mùa xuân thành lập Đảng.

Nhớ lại thời dựng Đảng, chúng ta càng thấy Đảng ta thật là vĩ đại.

Cuối năm 1929, nhận được liên lạc của Đảng, Bác Hồ đã từ một vùng quê ở Thái Lan, đáp xe lửa đi Băng Cốc, rồi từ đó đi tàu thủy đến Xinh-ga-po. Tại đây người chuyển sang một con tàu khác đi Hồng Công. Các đồng chí Hồ Tùng Mậu và Lê Hồng Sơn đã ra tận cảng biển đón Bác. Và Bác đã quyết định họp hội nghị thành lập Đảng vào đúng dịp Tết Nguyên đán. Ở Trung Quốc cũng như Việt Nam, Tết Nguyên đán là ngày Tết lớn nhất trong năm và thường kéo dài nhiều ngày liền. Đó chính là dịp để những đại biểu tham gia hội nghị có thể đi khỏi đất nước mà không ai để ý. Còn ở Cửu Long thì một cuộc họp mặt như vậy cũng sẽ có nhiều thuận lợi.

Và thế là ngày 3-2-1930, đúng ngày mùng 5 Tết Canh Ngọ, hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam đã họp tại Cửu Long (Trung Quốc) dưới sự chỉ đạo của đồng chí Nguyễn Ái Quốc. Đảng ra đời đã đánh dấu một bước ngoặt lịch sử vĩ đại của Cách mạng Việt Nam. Ngày 7-2-1930 ngày cuối cùng của hội nghị, một hội nghị có tầm vóc lịch sử như một Đại hội thành lập Đảng, Bác Hồ tổ chức một bữa liên hoan nhỏ ngay tại phòng ở của mình. Khi các đại biểu đã ngồi xung quanh bàn, Người xúc động nói:

“Các đồng chí, hôm nay là ngày lịch sử của chúng ta. Lê-nin vĩ đại đã nói, chỉ có Đảng nào có được một lý luận tiền phong mới có khả năng làm tròn vai trò chiến sĩ tiên phong. Bây giờ, chúng ta đã có một Đảng như thế rồi – Đảng của giai cấp công nhân Việt Nam. Nhân dân ta từ xưa có truyền thống đấu tranh anh dũng, nhưng suốt những năm ấy, nhân dân ta thiếu người cầm lái sáng suốt. Giờ đây Đảng của chúng ta phải gánh lấy vai trò này và tôi tin rằng Đảng ta sẽ dẫn dắt nhân dân ta đến thắng lợi trong cuộc đấu tranh giành độc lập, tự do cho Tổ quốc thân yêu”.

Như vậy là ngay trong những ngày đầu tiên thành lập Đảng, trong lời phát biểu ngắn gọn ấy, Bác đã ba lần nhắc đến nhân dân ta.

Năm 1960, kỷ niệm 30 năm thành lập Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói:

“Với tất cả tinh thần khiêm tốn của người cách mạng, chúng ta vẫn có quyền nói rằng: Đảng ta thật là vĩ đại… Đảng ta vĩ đại, vì ngoài lợi ích của giai cấp, của nhân dân, của dân tộc, Đảng ta không có lợi ích nào khác”.

Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Đảng là trí tuệ, là phẩm chất của cả dân tộc, kế thừa tinh hoa của hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của ông cha ta. Sức mạnh của Đảng chính là sự gắn bó máu thịt với nhân dân, là sức mạnh đại đoàn kết toàn dân. Và Bác Hồ đã nói: “Nhiệm vụ của Đảng ta có thể nói gọn trong 8 chữ: Đoàn kết toàn dân, phụng sự Tổ quốc”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Đảng ta là đạo đức, là văn minh”. Và chính Người là đỉnh cao của đạo đức và văn minh đó. Người là hình ảnh tuyệt đẹp về mối liên hệ thân thiết, gắn bó giữa lãnh tụ với nhân dân và Người luôn nhắc nhở cán bộ, đảng viên ta phải thường xuyên liên hệ chặt chẽ với nhân dân.

Bác nhấn mạnh: “Đảng phải liên hệ với quần chúng như chân tay ruột thịt… Đảng viên thì phải dựa vào nhân dân mà xây dựng Đảng. Tức là hết lòng ra sức phụng sự nhân dân, tin tưởng vào lực lượng của nhân dân, học hỏi nhân dân, liên hệ chặt chẽ với nhân dân và không một phút nào xa rời nhân dân, cùng nhân dân kết thành một khối” (1).

Chưa ở đâu mà tình cảm giữa lãnh tụ với quần chúng lại thân thiết, gần gũi và được kính trọng, tin tưởng như Hồ Chủ tịch với nhân dân ta. Một nhà văn nước ngoài đã viết: “Bác Hồ – cách xưng hô quen thuộc của Việt Nam, chứa đựng cả sự kính trọng sâu sắc và sự ngưỡng mộ của cả một dân tộc đối với một người cha. Không có một từ nào có thể diễn tả được một cách trong sáng và đẹp đẽ như hai tiếng đó!”.

Hồ Chủ tịch nói: Dân là gốc của nước, dân là gốc của cách mạng, do đó dân cũng là người tham gia xây dựng Đảng.

“Gốc có vững cây mới bền
Xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân”.

Người nói thế và suốt đời Người luôn luôn gương mẫu làm đúng, làm hơn cả những điều mình nói. Người luôn luôn đặt đời sống của mình trong đời sống của nhân dân. Trong Di chúc của mình, Người dặn dò:”Đảng cần phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và văn hóa, nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân”.

Trong bản Di chúc ấy, Bác đã 17 lần nhắc đến chữ “Nhân dân”. Và trong Di chúc của Người những chữ “Nhân dân” Bác đều gạch dưới.

Đồng chí Nguyễn Thọ Chân kể lại, hồi còn làm Phó Bí thư Thành ủy Hà Nội, một lần vào làm việc với Bác, đồng chí đã đề nghị Bác cho xây dựng trụ sở của Trung ương Đảng tại Hà Nội cho có bề thế.

Bác im lặng, rồi trả lời: – Trụ sở bề thế của Đảng ta, phải xây dựng ở trong lòng dân ấy, chú ạ ! (2).

Lại nhớ một lần, Bác đến nói chuyện với cán bộ, trong đó có cả cán bộ lãnh đạo. Trong câu chuyện, Bác hỏi: – Bác đố các chú, ai to nhất nước ta?

Tất cả trả lời:

– Thưa Bác, là Bác ạ! Bác cười: – Các chú nhầm rồi, các chú còn phong kiến quá. Bác đọc cho các chú nghe nhé: “Việt Nam dân chủ cộng hòa”. Bác nhấn mạnh hai chữ dân chủ, rồi hỏi lại:

– Ai là chủ ở đây các chú?

– Thưa Bác, dân là chủ ạ. Và Bác kết luận: – Các chú phải luôn nhớ. Dân là người to nhất, nhân dân là lực lượng to lớn nhất! “Gốc có vững, cây mới bền. Xây lầu hạnh phúc trên nền nhân dân”.

Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, sự nghiệp đổi mới của nước ta đã được đẩy mạnh trên mọi lĩnh vực. Việt Nam đã hội nhập với thế giới, trong nước thì chính trị xã hội ổn định, kinh tế phát triển, an sinh xã hội được chăm lo, quốc phòng và an ninh được tăng cường, chủ quyền và lãnh thổ được giữ vững. Mùa xuân này, mỗi người Việt Nam trong cuộc sống mới của mình, ai cũng có thể trực tiếp cảm nhận thấy những gì mà Đảng đã đem lại cho gia đình mình, cho đất nước mình và cho mỗi người chúng ta.

(1) Hồ Chí Minh toàn tập, tập 7, trang 231-235.
(2) Báo Nhân dân ngày 23-9-1996.

Hải Bình
baothanhhoa.vn

Những mùa xuân năm Tỵ của Bác Hồ

Chủ tịch Hồ Chí Minh và các đồng chí lãnh đạo Ðảng quyết định mở chiến dịch Ðiện Biên Phủ. ( Ảnh: Ảnh tư liệu )

Trong suốt 79 mùa xuân của cuộc đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh trải qua bảy lần đón những mùa xuân năm Tỵ với những dấu ấn đặc biệt.

Khi là cậu bé ba tuổi với tên gọi Nguyễn Sinh Cung, Người đã đón Xuân Quý Tỵ (1893) đầu tiên trong vòng tay yêu thương của người mẹ, trong sự ấm áp của quê hương xứ Nghệ. Cũng năm này, chỉ vài tháng sau Tết, Người chịu nỗi đau đầu tiên: Ông ngoại Hoàng Xuân Ðường qua đời (22-5-1893).

12 năm sau, Người đón Xuân Ất Tỵ (1905) trên quê hương Nam Ðàn, Nghệ An. Thời gian này, Người được theo cha đến các vùng trong tỉnh và một số tỉnh khác. Những chuyến đi này giúp Nguyễn Sinh Cung – Nguyễn Tất Thành mở rộng thêm tầm nhìn và tầm nghĩ trước cảnh thống khổ của nhân dân. Ðặc biệt (tháng 9-1905, khi cha cho theo học Trường tiểu học Pháp – bản xứ Vinh) chính trong năm này, lần đầu tiên Người tiếp xúc với khẩu hiệu: Tự do – Bình đẳng – Bác ái của cách mạng Pháp, khẩu hiệu đó đã thôi thúc Người đi tìm hiểu thực chất điều gì ẩn giấu đằng sau những từ ấy, để về cứu giúp đồng bào.

Kể từ khi rời Tổ quốc ra đi tìm đường cứu nước, ngày 5-6-1911, năm Tỵ đầu tiên mà Người đón Xuân trong nỗi nhớ nhà, nhớ quê hương da diết là Tết Ðinh Tỵ -1917. Xuân năm đó, Nguyễn Tất Thành – Hồ Chí Minh đang sống và hoạt động trên xứ sở đảo quốc sương mù, như Người nói “để học tiếng Anh và xem nước tự nhận là “Mặt trời không bao giờ lặn trên đất nước của mình hiện tình ra sao“. Ðể có tiền sống, khảo sát và tìm hiểu, Nguyễn Tất Thành đã phải làm rất nhiều nghề, có nghề rất nặng nhọc: quét tuyết cho một trường học, làm thợ đốt lò ở trung tâm sưởi ấm của Luân Ðôn, rửa bát đĩa, rồi làm bánh tại khách sạn Carlton ở Thủ đô Luân Ðôn… Những năm tháng sống ở nước Anh, Nguyễn Tất Thành đã tích lũy được thêm những hiểu biết về chế độ chính trị của xã hội tư sản, về đấu tranh giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản, giữa chính quốc và thuộc địa của một nước tư bản chủ nghĩa sớm phát triển, nhất là trang bị cho mình một trình độ kiến thức khá vững vàng về tiếng Anh – công cụ giao tiếp rất quan trọng trong sinh hoạt và đấu tranh chính trị.

Xuân Kỷ Tỵ (1929), Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh đang hoạt động ở vùng Ðông Bắc Thái-lan, nơi mà một đêm nghe một bà mẹ hát ru con bằng tiếng Việt, sáng ra Người đã thốt lên “Xa nhà chốc mấy mươi niên/Ðêm qua nghe tiếng mẹ hiền ru con“. Những vần thơ đưa về ký ức tuổi thơ với những tình cảm sâu nặng nơi quê nhà. Ở thời điểm này, với tên gọi Thầu Chín, Nguyễn Ái Quốc tích cực xây dựng cơ sở, lực lượng cách mạng trong Việt kiều yêu nước, để từ đó tuyên truyền yêu nước và phong trào đấu tranh cách mạng về trong nước. Xuân Kỷ Tỵ này cũng khởi đầu cho những khó khăn, nỗi đau riêng: Ngày 11-11-1929, theo lệnh thực dân Pháp, tòa án Nam Triều ở Vinh đã kết án tử hình bảy người Việt Nam yêu nước, trong đó Nguyễn Ái Quốc bị kết án tử hình vắng mặt. Nửa tháng sau đó, ngày 27-11-1929, người cha thân yêu – Cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc đã qua đời (thọ 66 tuổi) tại Cao Lãnh, Ðồng Tháp. Nhưng đây cũng là năm Nguyễn Ái Quốc và những đồng chí tiên phong truyền bá chủ nghĩa Mác – Lê-nin về trong nước, soi đường cho phong trào đấu tranh cách mạng của nhân dân ta phát triển, đòi hỏi sự lãnh đạo của một chính đảng kiểu mới của giai cấp công nhân: cuối năm 1929, ba tổ chức cộng sản Việt Nam được thành lập. Nhận thức được tầm quan trọng nguy cơ chia rẽ phân liệt của phong trào đấu tranh cách mạng, cuối năm 1929, Nguyễn Ái Quốc đã gấp rút từ Thái-lan về Hồng Công (Trung Quốc) gặp gỡ bàn việc hợp nhất các tổ chức cộng sản. Mùa Xuân năm 1930, Ðảng Cộng sản Việt Nam ra đời. Sự kiện này đánh dấu một bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử đấu tranh cách mạng Việt Nam ở thế kỷ 20.

Tròn 30 năm ra đi tìm đường cứu nước, ngày Bác trở về Tổ quốc giữa thời khắc cả nước đón Tết Tân Tỵ (ngày 28-1-1941 là ngày mùng 2 Tết), Người đã đưa về cho cả dân tộc ta mùa xuân mới tràn ngập những niềm vui hạnh phúc.

Sau này, Người kể lại: “Bao nhiêu năm thương nhớ, đợi chờ. Hôm nay mới bước chân về nơi non sông gấm vóc của mình. Khi bước qua cái bia giới tuyến, lòng Bác vô cùng cảm động…” (*). Ngày 8-2-1941, với tên gọi Già Thu, Bác Hồ về sống và làm việc tại hang Cốc Bó (theo tiếng Nùng có nghĩa là đầu nguồn), một hang núi kín đáo ở thôn Pác Bó, xã Trường Hà, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng. Nơi núi rừng hùng vĩ, chan chứa xúc cảm gợi nguồn thi hứng, Người đã làm bài thơ tả cảnh Pác Bó hùng vĩ:

Non xa xa, nước xa xa,/Nào phải thênh thang mới gọi là./Ðây suối Lê nin, kia núi  Mác,/Hai tay xây dựng một sơn hà.

Tháng 5-1945, tại đây Bác Hồ đã chủ trì Hội nghị Trung ương lần thứ 8 để quyết định chuyển hướng chiến lược cách mạng Việt Nam, chuẩn bị lực lượng và phương pháp lãnh đạo toàn dân đấu tranh đi tới thắng lợi của Cách mạng Tháng  Tám – 1945, giành độc lập dân tộc.

Bác Hồ cùng cả dân tộc đón Xuân Quý Tỵ 1953, khi cuộc kháng chiến của chúng ta bước sang năm thứ bảy, với những thắng lợi lớn trên các mặt trận quân sự, ngoại giao, trong phát triển lực lượng. Thơ chúc Tết xuân này, Người viết:

Mừng năm Thìn vừa qua,/Mừng xuân Tỵ đã tới./Mừng phát động nông dân,/Mừng hậu phương phấn khởi./Mừng tiền tuyến toàn quân/ Thi đua chiến thắng mới./Mừng toàn dân kết đoàn,/Mừng kháng chiến thắng lợi./Mừng năm mới, nhiệm vụ mới,/Lực lượng mới, thành công mới/Mừng toàn thể chiến sĩ và đồng bào,/Mừng phe dân chủ hòa bình thế giới.

Những vần thơ Tết của Bác Hồ đã thấm sâu trong tình cảm của người dân nước Việt Nam ta.

Năm 1954, niềm tin vào Bác Hồ và Ðảng đã đưa dân tộc ta đoàn kết đi tới thắng lợi Ðiện Biên Phủ lẫy lừng năm châu, kết thúc chín năm kháng chiến gian khổ để bước vào  cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước lâu dài, khó khăn, gian khổ nhất trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc, khi đế quốc Mỹ ồ ạt đổ quân vào miền nam Việt Nam, đồng thời mở rộng chiến tranh đánh phá miền bắc nước ta bằng không quân và hải quân. Ðã có lúc, không ít bạn bè quốc tế bi quan về thắng lợi của nhân dân ta trong công cuộc chống Mỹ, cứu nước, bởi sự khốc liệt của nó, do sự tàn bạo của đế quốc Mỹ gây ra…

Nhưng toàn dân ta thêm vững lòng tin khi được nghe giọng nói trầm ấm, thiết tha của Bác Hồ đọc thơ chúc Tết mỗi độ Xuân về. Lời thơ chúc Tết của Bác những năm tháng này như tiếng kèn xung trận vang dậy khắp non sông… với những vần thơ hào hùng, tràn ngập niềm tin tất thắng.

Tết Ất Tỵ 1965 là Tết năm Tỵ cuối cùng “Trước khi từ biệt thế giới này”, Bác Hồ làm thơ Xuân tặng đồng bào và chiến sĩ cả nước:

Chào mừng Ất Tỵ xuân năm mới,
Nhà nước ta vừa tuổi hai mươi,
Miền Bắc xây dựng đời sống mới vui tươi,
Miền Nam kháng chiến ngày càng tiến tới,
Ðồng bào hai miền thi đua sôi nổi,
Ðấu tranh anh dũng, cả nước một lòng,
Chủ nghĩa xã hội nhất định thắng lợi!
Hòa bình thống nhất ắt hẳn thành công!

Những vần thơ xuân của Bác luôn thấm đẫm tư tưởng cách mạng, ngôn từ không cao siêu mà giản dị dễ hiểu, bao la tình nhân ái, ấm áp như mùa xuân, lay động lòng người và có sức thuyết phục lớn.

Trong ngày đầu năm 1-1-1965, Báo Nhân Dân số 3928 đã đăng bài báo Bác viết về Tết trồng cây với hai câu thơ mở đầu“Mùa Xuân là Tết trồng cây/Làm cho đất nước càng ngày càng xuân“. Những vần thơ như nỗi lòng Bác lo cho tương lai của đất nước, của dân tộc, khi Người đã bước sang tuổi 75 và đã bắt đầu nghĩ tới việc viết Di chúc để lại cho đời sau. Nhiều xuân Tỵ đã đi qua, nhân dân Việt Nam đã và đang phấn đấu thực hiện trọn vẹn di huấn của Người. Hôm nay, dù còn gặp nhiều khó khăn trở ngại, song ánh sáng tư tưởng, đạo đức của Người đang dẫn dắt chúng ta đi tới đích trong sự nghiệp xây dựng “đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn”, như Người hằng mong ước.

Ðã bốn mùa Xuân của những năm Tỵ không được nghe thơ mới của Bác, nhưng những vần thơ Xuân của Người vẫn sống mãi với dân tộc, sống mãi với thời gian.

(*) T.Lan: Vừa đi đường vừa kể chuyện, Nxb CTQG, Hà Nội, 2009, tr.82.

TS CHU ĐỨC TÍNH, Giám đốc Bảo tàng Hồ Chí Minh.
nhandan.com.vn


Phim tài liệu: Những mùa xuân năm Tỵ của Bác Hồ

Bác Hồ với thế hệ mùa xuân của xã hội

Trong suốt cuộc đời mình, bằng thực tiễn lịch sử và kinh nghiệm hoạt động cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn dành sự quan tâm đặc biệt đến thanh niên, thiếu niên và nhi đồìng. Theo Người, “Tuổi trẻ là mùa xuân của xã hội”.

Sự quan tâm của Chủ tịch Hồ Chí Minh đến thế hệ trẻ được thể hiện ở việc Người luôn đánh giá cao vai trò, vị trí của tầng lớp thanh thiếu niên đối với sự phát triển của quốc gia, dân tộc; đồng thời, còn là người tổ chức, giáo dục và rèn luyện thanh niên xứng tầm với vai trò, vị trí của họ. Ngay từ những năm tháng hoạt động sôi nổi ở nước ngoài để tìm đường cứu nước, giải phóng dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận thức rõ về vai trò của thế hệ trẻ đối với sự phát triển của quốc gia, dân tộc. Trong tác phẩm “Bản án chế độ thực dân Pháp” năm 1925, phần Phụ lục Gửi thanh niên An Nam, Người đã kêu gọi: “Hỡi Đông Dương đáng thương hại! Người sẽ chết mất, nếu đám thanh niên già cỗi của Người không sớm hồi sinh”. Rõ ràng, phải sớm thấy được sức mạnh, vai trò to lớn của thế hệ trẻ, Chủ tịch Hồ Chí Minh mới đặt vấn đề sinh tử, tồn vong của dân tộc vào sự “hồi sinh” của lực lượng thanh niên Đông Dương, lúc bấy giờ đang bị đầu độc bằng rượu cồn và thuốc phiện dưới ách cai trị của thực dân phong kiến.

Chỉ một thời gian ngắn sau khi về hoạt động tại Quảng Châu, Trung Quốc, tháng 6.1925, Người đã tập hợp những thanh niên Việt Nam yêu nước đang sống và hoạt động tại đây lập ra Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên – tổ chức tiền thân của Đảng ta, xuất bản báo Thanh niên, mở các lớp huấn luyện và trực tiếp đào tạo, rèn luyện họ thành lực lượng nòng cốt trong cuộc cách mạng giải phóng dân tộc. Với tầm nhìn chiến lược về tương lai của dân tộc, năm 1926, Người đã viết thư đề nghị Ủy ban Trung ương thiếu nhi Liên Xô và Đại diện Đoàn Thanh niên cộng sản Pháp tại Quốc tế Thanh niên về việc gửi một nhóm thiếu nhi Việt Nam sang Liên Xô học tập. Mong muốn của Người là để các em được tiếp thu một nền giáo dục tốt hơn, và đào tạo các em thành “những chiến sỹ Lêninnít chân chính nhỏ tuổi”, làm hạt nhân cho Đoàn thanh niên Cộng sản sau này.

Nguồn: vietbao.vn

Trở về nước sau hơn 30 năm hoạt động ở nước ngoài, tháng 5.1941 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã triệu tập và chủ trì Hội nghị Trung ương lần thứ 8 tại Pác Bó, Cao Bằng. Tại Hội nghị này, theo sáng kiến của Người, Mặt trận Việt Minh và các hội Cứu quốc được thành lập, trong đó có Đoàn Thanh niên cứu quốc, Đội Thiếu nhi cứu quốc và Đội Nhi đồng cứu quốc… Từ đây, phong trào thanh thiếu niên phát triển nhanh chóng, trở thành lực lượng xung kích trong mọi công tác cách mạng, góp phần cùng với các tổ chức yêu nước khác tiến tới tổng khởi nghĩa, giành chính quyền trong cả nước. Cách mạng tháng Tám thành công, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, thế hệ trẻ Việt Nam thực sự trở thành người chủ tương lai của đất nước. Trong thư gửi thanh niên năm 1947, Người viết: “Thanh niên là người chủ tương lai của nước nhà. Thật vậy, nước nhà thịnh hay suy, yếu hay mạnh một phần lớn là do các thanh niên”; họ là người “tiếp sức cách mạng cho thế hệ thanh niên già, đồng thời là người phụ trách dìu dắt thế hệ thanh niên tương lai – tức là các cháu nhi đồng”.Tin tưởng và đặt niềm tin vào thế hệ trẻ, Bác Hồ luôn đòi hỏi cao sự tự tu dưỡng, rèn luyện và phấn đấu của họ. Thanh niên có vinh dự to lớn thì cũng có trách nhiệm nặng nề, muốn làm người chủ tương lai cho xứng đáng thì ngay hiện tại “phải rèn luyện tinh thần và lực lượng của mình, phải ra làm việc để chuẩn bị cái tương lai đó”. Nhiệm vụ và khẩu hiệu của thanh niên trong mọi thời kỳ cách mạng là: “Tay cầm cờ đỏ sao vàng tiến lên”, có nghĩa “thanh niên phải xung phong làm gương mẫu trong công tác, trong học hỏi, trong tiến bộ, trong đạo đức cách mạng. Thanh niên phải trở thành một lực lượng to lớn và vững chắc trong công cuộc kháng chiến và kiến quốc”. Đặc biệt, trên đường đi kinh lý vùng biên giới năm 1951, khi ghé thăm một đơn vị thanh niên xung phong đang làm đường tại Nà Cù – Bắc Kạn, Người làm bài thơ tặng: Không có việc gì khó/ Chỉ sợ lòng không bền/ Đào núi và lấp biển/ Quyết chí ắt làm nên. Lời dạy trên của Người đã trở thành phương châm sống của lực lượng thanh niên trong thời kỳ cách mạng.

Dưới ánh sáng niềm tin của Bác Hồ, lại được Người trực tiếp rèn luyện, các thế hệ thanh niên Việt Nam tiếp bước nhau, không ngừng phấn đấu vươn lên, dũng cảm đi đầu, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của mình trong các thời kỳ cách mạng. “Từ chỗ chỉ có một Lý Tự Trọng đến ngày nay chúng ta có 78 vạn đoàn viên Đoàn Thanh niên Lao động hăng hái ra sức giúp Đảng xây dựng chủ nghĩa xã hội và đấu tranh thống nhất Tổ quốc” (Phát biểu tại Đại hội lần thứ III của Đoàn thanh niên Lao động Việt Nam năm 1961).

Di chúc của Người một lần nữa đã khẳng định niềm tin tưởng lớn lao dành cho thế hệ trẻ. Người dặn dò: “Đảng cần phải chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng xã hội chủ nghĩa vừa “hồng” lại vừa chuyên”. Cụm từthừa kế ở đây vừa là sự duy trì, tiếp nối vừa là sự phát triển đi lên của dân tộc mà Người tin tưởng, kỳ vọng, đặt niềm tin ở thế hệ đi sau. Người đúc kết: bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết. Đây là chân lý, một lời khẳng định bằng kinh nghiệm hoạt động cách mạng trong suốt cuộc đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh và bằng chính những năm tháng tuổi trẻ của Người.

Kỷ niệm 80 năm thành lập Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, chúng ta càng khắc sâu những lời căn dặn của Bác Hồ về đào tạo, bồi dưỡng thế hệ trẻ. Đó là vấn đề sống còn của dân tộc, hướng tới đích cuối cùng là đưa Việt Nam “bước tới đài vinh quang, sánh vai với các cường quốc năm châu”.

Phạm Thị Thanh Mai
daibieunhandan.vn

Mùa xuân và Tết trồng cây do Bác Hồ khởi xướng

Cách đây 53 năm ngày 6-1-1960 Bác Hồ kêu gọi toàn dân hưởng ứng tháng trồng cây, gọi là: “Tết trồng cây” và Tết xuân Canh Tý năm ấy, Bác Hồ trồng cây đa đầu tiên tại công viên hồ Bảy Mẫu thủ đô Hà Nội (nay là Công viên Thống Nhất).

Mùa xuân và Tết trồng cây do Bác Hồ khởi xướng

Trong ngày xuân nắng đẹp lúc nhân dân Hà Nội đang cuốc, xẻng đào, xúc hố trồng cây thì Bác Hồ đến. Người nhanh nhẹn cầm xẻng xúc đất vun cho cây đa nhỏ, xinh, vừa đặt xuống hố. Trồng cây xong, Bác lại vui vẻ nói chuyện về lợi ích của việc trồng cây với nhân dân Hà Nội. Bác nói: “Ta lao động ở đây là làm cho con cháu ta. Mấy trăm năm trước nơi này còn là bãi rác, trồng cây nay mai lên xanh, ngày nghỉ các cô các chú dẫn con cái ra hóng mát, xem hoa vui chơi. Đây chính là vườn hoa của các cô các chú. Chúng ta phải trông nom, bảo vệ cây cho tốt. Bác sẽ gửi phần thưởng cho đơn vị nào thi đua khá nhất”.

Hơn năm mươi năm kể từ Tết trồng cây năm ấy, những cây đa được Bác trồng vào mỗi độ xuân về, Tết đến đã vươn lá cành sum suê, bóng mát che cho đời, công viên hồ Bảy Mẫu bây giờ được đổi tên là công viên Thống Nhất, nơi này có tượng đài Bác Hồ, Bác Tôn. Những năm qua, lời dạy của Người đã thấm sâu, Tết trồng cây trở thành một mỹ tục của cả nước. Trong lời kêu gọi Tết trồng cây Bác đã viết: “Chúng tôi đề nghị tổ chức một ngày Tết trồng cây, việc này tốn kém ít mà lợi ích rất nhiều”. Đó là một cuộc thi đua dài hạn nhưng nhẹ nhàng mà tất cả mọi người từ các cụ phụ lão đến các cháu nhi đồng đều có thể tham gia. Qua một năm cả nước thực hiện Tết trồng cây, đồng bào đã tích cực hưởng ứng. Bác lại viết: “Tết trồng cây đã thắng lợi bước đầu”. Bác lại viết, Bác nêu nguyên tắc: “Phải nắm đúng nguyên tắc, xem trọng chất lượng, nghĩa là trồng cây nào chắc cây ấy, không nên tham trồng quá nhiều mà không ra sức bảo vệ và trông nom cây. 52 năm qua, thực hiện Tết trồng cây do Bác Hồ khởi xướng, hàng triệu triệu cây xanh đã được trồng lên xanh tốt, hàng triệu héc ta đất trống đã dược phủ xanh:

“Từ bản xa đến làng gần
Đâu đâu cũng mọc bạt ngàn rừng xanh”

Tết Tân Sửu năm 1961, Bác Hồ về thăm lại Pắc Bó. Bên bờ suối Bác đã trồng một khóm trúc làm kỷ niệm. Bác đã dự mít tinh của nhân dân Hà Quảng tổ chức bên bờ suối và xúc động đọc bài thơ:

“Hai mươi năm trước ở nơi này
Đảng vạch con đường đánh Nhật, Tây
Lãnh đạo toàn dân ta chiến đấu
Non sông gấm vóc có ngày nay”

Các Tết trồng cây Quý Thân (1963), Tết trồng cây Giáp Dậu (1964) Bác Hồ lại có những bài viết đăng trên báo Nhân Dân về nhận xét hiệu quả, lợi ích của phong trào Tết trồng cây. Mùa xuân cuối cùng của cuộc dời (xuân Kỷ Dậu) năm 1969, Bác đã về trồng cây tại đồi Vật Lại Ba Vì, tỉnh Hà Tây (nay thuộc thành phố Hà Nội). Buổi trưa nắng xuân vàng lấp lánh, dưới bóng cây đồi Yên Bồ Vật Lại bữa cơm sáng mồng một Tết của Bác Hồ đã diễn ra. Tham dự bữa cơm đầm ấm Tết có đồng chí Nguyễn Lương Bằng và ba đồng chí của tỉnh. Bữa cơm thật gọn nhẹ, tinh tế nhưng rất đủ hương vị Tết. Cũng có bánh chưng xanh, giò lụa, thịt đông, dưa hành, súp nóng đựng trong phích nóng. Sau đó, Bác thân mật nói chuyện và chúc Tết nhân dân địa phương. Bác nói: Các cụ thì biết chuyện cũ, chuyện mới nhưng các cháu ngày nay chỉ biết chế độ dân chủ cộng hoà. Đất nước bây giờ là của ta nên cần phải thi đua sản xuất giỏi, trồng cây giỏi.

Đã 52 mùa xuân trôi qua, kể từ ngày Bác Hồ khởi xướng “Tết trồng cây” và trồng cây đa đầu tiên, những cây do Bác Hồ trồng đã cao to, cành lá sum suê bóng mát cho đời. Trông cây lại nhớ đến Người, những cây đa, khóm trúc Bác trồng còn trường tồn mãi với non sông đất nước: nhắc nhở chúng ta bảo vệ môi trường sinh thái. Đón xuân Nhâm Thìn 2012, chúng ta ghi nhớ lời dạy ân cần của Bác Hồ:

“Mùa xuân là Tết trồng cây
Làm cho đất nước càng ngày càng xuân”.

BÙI VŨ LIÊM

Theo Báo Hải Dương
kienthuc.net

Nhớ Bác những mùa xuân

Ảnh tư liệu

Ảnh tư liệu

Năm 1911, từ bến Nhà Rồng, người thanh niên Nguyễn Tất Thành lên đường “tìm hình của nước” (thơ Chế Lan Viên). Như một sự tình cờ của thời gian và cũng là tất yếu của lịch sử: Mùa xuân 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc sáng lập. Từ đó, Đảng và Bác lãnh đạo dân ta giành lại mùa xuân cho đất nước.

Trong cuộc đời hoạt động cách mạng, Bác đón không dưới ba mươi mùa xuân nơi đất khách quê người, trong đó có cả những mùa xuân phải sống trong cảnh lao tù. Bôn ba khắp bốn biển, năm châu, một ngày xuân 1941, Người đặt chân lên Pắc Bó (Cao Bằng), trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam:

Bác đã về đây, Tổ quốc ơi !
Nhớ thương hòn đất, ấm hơi Người
Ba mươi năm ấy, chân không nghỉ
Mà đến bây giờ mới tới nơi.
     (Tố Hữu)

Cũng từ đó, mỗi khi mùa xuân về, Bác thường có thơ chúc Tết đồng bào chiến sĩ. Thơ chúc Tết của Người đều là những vần thơ giản dị, mà súc tích; thể hiện nhãn quan của một lãnh tụ thiên tài. Thơ xuân của Người còn là nguồn động viên to lớn đối với nhân dân ta. Một tư liệu cho biết trong cuộc đời hoạt động Bác đã viết 19 bài thơ chúc Tết. Về nước năm 1941, năm 1942 Bác đã có thơ xuân:

Chúc đồng bào ta đoàn kết mau
Chúc Việt Minh ngày càng tiến tới!

Năm 1947, Bác đọc thơ chúc Tết trong tiếng súng kháng chiến chống thực dân Pháp đã rền vang từ ngày 19-12-1946. Lời thơ như lời hịch âm vang sông núi:

Cờ đỏ sao vàng tung bay trước gió
Tiếng kèn kháng chiến vang dậy non sông.
(…)

Bác đọc thơ chúc Tết trong phòng ghi âm của Đài Tiếng nói Việt Nam, lúc này sơ tán tại chùa Trầm (Hà Tây). Trong dịp đặc biệt này, nhà sư trụ trì đã phấn khởi xin Người “cho chữ” đầu xuân. Bác đã viết tám chữ Hán lớn:

“Kháng Chiến Tất Thắng
Kiến Quốc Tất Thành”

Trong những ngày xuân, Bác về thăm những bản làng, cơ quan, hợp tác xã, công nông trường xí nghiệp…; dành tình cảm bao la đối với các cháu thiếu niên nhi đồng, người dân lao động… Tết năm 1946, Tết Độc lập đầu tiên, Bác đi thăm một gia đình nghèo ở nội thành Hà Nội. Bác vào nhà không báo trước. Ngày Tết mà gia đình chẳng có gì là mừng xuân. Tối 30 vợ chồng chủ nhà còn đi gánh nước thuê. Chị vợ quá xúc động, đứng sững, làm rơi đôi thùng nước đang gánh trên vai. Chắc nghĩ thân phận mình đâu có được niềm vinh hạnh lớn lao, chị nghẹn ngào thật thà nói trong tiếng nấc: “Không ngờ Bác đến thăm gia đình cháu”. Vị Chủ tịch nước ôm lấy đôi vợ chồng giọng cũng nghẹn lại: “Bác không đến thăm cô chú thì thăm ai?”.

Bác còn dành những ngày xuân ý nghĩa để cảm ơn những người đã cưu mang mình. Năm 1931, Bác bị bắt ở Hồng Kông. Luật sư người Anh Lô- dơ- bai cảm mến trước hoạt động yêu nước của Nguyễn Ái Quốc ra sức bào chữa cho Bác thoát khỏi nhà tù đế quốc. Tết Canh Tý 1960, Bác đã mời gia đình luật sư sang thăm để cảm ơn. Bác ra tận sân bay Gia Lâm đón ân nhân của mình. Hai người ôm hôn nhau thắm thiết, bồi hồi sau 30 năm mới gặp lại. Bác mời gia đình luật sư đi thăm nhiều nơi . Khi đến nơi ở và làm việc của Người, các vị khách rất ngạc nhiên vì sao vị Chủ tịch của một nước lại sống và làm việc ở một nơi bình dị như thế! Khi được người phiên dịch trả lời câu hỏi về gia đình riêng của Bác, bà vợ luật sư đã rưng rưng nước mắt: “Hồ Chủ tịch là con người hiếm có, Người đã hy sinh tất cả cho dân, cho nước”. Còn ông Lô – dơ – bai thì nói: “Tôi tin Việt Nam sẽ có một vị trí đặc biệt trên thế giới với nhà lãnh tụ tài ba Hồ Chí Minh”.

Có lẽ cũng ít người biết đến việc chính Bác Hồ đã cho cử nông dân miền Bắc sang Quảng Đông (Trung Quốc) học làm vụ lúa xuân. Hồi đó, miền Bắc chỉ có 2 vụ lúa “chiêm khê, mùa thối”, nhưng không phải nơi nào cũng làm được 2 vụ. Tháng 7 năm 1962, Bác thăm hợp tác xã Đại Xuân, huyện Ninh Giang (Hải Dương). Năm sau, theo yêu cầu của Bác, 27 nông dân sang Trung Quốc học cách làm ăn; trong đó có 4 nông dân hợp tác xã Đại Xuân, do ông Nguyễn Bít, Chủ nhiệm hợp tác xã Đại Xuân làm nhóm trưởng học sản xuất vụ lúa xuân. Sau 7 tháng “vừa học vừa làm”, nhóm ông Bít về nước và trồng thí nghiệm thành công lúa xuân. Nghe tin, Bác cho mời ông Nguyễn Bít về Hà Nội hỏi thêm tình hình. Bác hỏi:

– Nước ta cấy được lúa xuân không? Cấy lúa xuân cần những điều kiện gì?

Ông Bít tin tưởng:

– Thưa Bác, nước ta hoàn toàn có thể cấy được lúa xuân. Nơi nào chủ động được nước và phân thì cấy được lúa xuân.

Bác đã chỉ đạo nhân rộng sản xuất lúa vụ xuân. Năm 1967 Đại Xuân đạt năng suất 7,6 tấn/ha. Tháng 2-1968, trong lúc bà con xã viên Đại Xuân đang vui đón xuân thì càng vui hơn khi được Bác Hồ gửi thư khen. Nhớ lại chuyện xưa, ông Bít bồi hồi nói: “Bây giờ ở Đại Xuân, bà con vẫn gọi vụ lúa xuân là vụ lúa Bác Hồ”.

Sinh thời, Bác có viết tác phẩm “Mừng Tết Nguyên đán như thế nào?” Người chỉ rõ: “Chúng ta mừng xuân một cách vui vẻ và lành mạnh. Nếu có bao nhiêu tiền bỏ ra mua sắm hết để đánh chén lu bù, thế là mừng xuân một cách lạc hậu, thế là lãng phí, thế là không xuân”. Bác còn căn dặn bằng thơ:

Mừng Xuân mừng cả thế gian
Phải đâu lãng phí cỗ bàn mới Xuân.

Chúng ta hiểu lòng Bác, mùa xuân gắn với những điều tươi đẹp, lớn lao; niềm vui mỗi người phải được hòa vào, nhân lên cùng mọi người; “Mừng cả thế gian”, với cỏ cây sông núi. Ngày 28-11-1959 Bác đã phát động Tết trồng cây; một việc làm đi trước thời đại, có ý nghĩa toàn cầu sâu sắc. Đối với Bác, ngày xuân, mỗi người trồng một cây là một việc làm tự nhiên mà có ý nghĩa:

Mùa Xuân là Tết trồng cây
Để cho đất nước càng ngày  càng Xuân!

Từ năm 1960, Tết trồng cây trở thành nét đẹp đầu xuân của dân tộc ta.

Thật cảm động biết bao, xuân năm 1969, sức khỏe đã giảm sút nhiều, trước lúc đi xa, ngày mồng 1 Tết, Bác vẫn trồng cây ở xã Vật Lại, Ba Vì (Hà Nội), vẫn có thơ chúc Tết:

Tiến lên chiến sĩ, đồng bào
Bắc Nam sum họp, Xuân nào vui hơn!

Đọc lại bài thơ chúc Tết cuối cùng của Người chúng ta như thấy mình có lỗi vì không thể giải phóng miền Nam sớm hơn để có Bác trong mùa xuân đại thắng.

79 mùa xuân đi qua đời Bác. Bác đã dâng trọn đời mình cho Tổ quốc để non sông mãi mãi có MÙA XUÂN.

Cổng TT-GTĐT sưu tầm
vinhphuc.gov.vn

Hồ Chủ tịch nói về “ngày Tết và tiết kiệm”

Đời đời nhớ ơn Hồ Chủ tịchĐón xuân mới, mừng Tết đến là dịp để mỗi chúng ta thắp nén hương nhớ về cội nguồn tổ tiên, ông cha; cầu mong cho ”Quốc thái dân an”. Cũng là dịp thảnh thơi đi lại với nhau để cầu chúc năm mới, mọi người ai cũng dồi dào sức khỏe, đem hết trí lực góp phần xây dựng quê hương. Có lẽ từ cơ quan, gia đình đến cá nhân ai cũng hồ hởi, phấn khởi. Thế nhưng đâu đó cũng có sự lạm dụng đón xuân về để tổ chức vui chơi linh đình, tốn kém, thậm chí còn có nội dung trái với truyền thống, lối sống văn hóa của dân tộc ta.

Sinh thời, Bác Hồ của chúng ta có viết tác phẩm: ”Mừng Tết Nguyên Đán như thế nào?”. Người căn dặn: ”Suốt năm chúng ta thi đua lao động, sản xuất, những ngày Tết Nguyên Đán, chúng ta vui chơi một hôm để chào xuân. Việc đó cũng đúng thôi. Nên chúng ta mừng xuân một cách vui vẻ và lành mạnh. Nếu có bao nhiêu tiền bỏ ra mua sắm hết để đánh chén lu bù, thế là mừng xuân một cách lạc hậu, thế là lãng phí, thế là không xuân”. Với lòng nhân ái bao la, vào những dịp Tết, Bác thường đi chúc Tết không những ở các cơ quan xí nghiệp mà còn đến thăm các gia đình lao động, lam lũ làm ăn. Qua những câu chuyện ghi lại, chúng ta còn nhớ: Bác đến thăm một gia đình mà trong nhà ngày Tết chẳng có gì, đêm giao thừa còn phải đi gánh nước thuê kiếm tiền. Bác đã nói trong xúc động: ”Bác không đến thăm cô chú thì thăm ai?”. Ngày mùng 1 Tết năm 1965, sau khi thăm các cơ quan (đoàn thể ở Hà Nội, Bác đến thăm công trường Việt Trì và phát biểu trước cán bộ, công nhân, chuyên gia các nước bạn đang giúp ta với những lời đầy tình cảm: ”Cán bộ phải chú ý chăm lo sinh hoạt của anh em trong ngày Tết. Đối với các đồng chí công nhân, cán bộ bạn bè giúp ta mà các đồng chí ấy xa nhà trong dịp Tết Nguyên Đán này, ta càng chú ý săn sóc. Các anh em công nhân người Âu, Phi lâu nay sống đã quen với phong vị Tết Việt Nam, nên làm sao cái Tết của xây dựng vui vẻ hơn kháng chiến, song phải tránh những lãng phí không cần thiết”. Chúng ta không khỏi xúc động về những tình cảm ấy mà Người không chỉ dành riêng cho nhân dân mình mà còn cho khắp bè bạn năm châu. Đâu chỉ dừng ở đó, Người còn lo xa, căn dặn chúng ta phải tiết kiệm, chống lãng phí. Việc cần kiệm để xây dựng nước nhà, mà không ai được phép quên nhiệm vụ ấy. Người cũng chỉ ra những việc đáng chê trách khi phát hiện có những nơi làm không đúng. Trong tác phẩm ”Mừng Tết Nguyên Đán như thế nào?” Bác còn viết: “Vừa rồi, vì được mùa to 20 xã ở huyện Yên Thành (Nghệ An) đã liên hoan hết 123 con lợn, 8 con bò, 3 con bê; đó là chưa kể số tiền chi tiêu vào, muối, gạo, rượu, chè. Cũng chưa kể những ngày lao động của bà con 20 xã đã mất toi! Lãng phí tiền của và công sức là như vậy, là lỗi tại ai? Lỗi tại cán bộ huyện, cán bộ xã, lỗi tại đảng viên và chi bộ”.

Từ câu chuyện trên, liên hệ với cuộc sống hôm nay, chúng ta thấy hiện tượng đó vẫn còn xảy ra. Qua các phương tiện thông tin đại chúng được biết: Cứ mỗi lần Tết đến, đâu đó có cơ quan đơn vị với mọi hình thức, từ việc tổ chức liên hoan đến quà biếu, phong bì nhiều khi quyết toán lên đến hàng chục triệu đồng, trong lúc người lao động ở đó còn vất vả lo cho con bộ quần áo mới loại rẻ tiền. Còn có gia đình mang tính khoe khoang, hình thức: Sắm sửa đồ Tết, trang hoàng nhà cửa, phòng ốc toàn những thứ đắt tiền, có loại cây cảnh lên đến hàng chục triệu đồng. Trong khi đó nhà công nhân bên cạnh chưa gọi gì là có Tết, cuộc sống còn rất tạm bợ, phải lo từng bữa ăn. Đành rằng kinh tế xã hội của chúng ta trong những năm đổi mới có phát triển, đời sống cộng đồng dân tộc ta được nâng lên một bước, nhưng không vì thế mà chúng ta xa hoa, phung phí, làm những điều mà mặt bằng xã hội, dân sinh của chúng ta chưa cho phép.

Với việc mừng Tết Nguyên Đán, đã có lần Bác căn dặn:

”Mừng xuân mừng cả thế gian
Phải đâu lãng phí cỗ bàn mới xuân”

Tấm lòng của Bác mới bao dung và nhân hậu làm sao, Người nghĩ đến tất cả thế gian khi mùa xuân về. Bác nghĩ mùa xuân là biểu tượng hòa bình, sinh sôi, nảy nở bao điều tốt đẹp và nó phải đến với tất cả mọi người thì điều đó mới thực sự hạnh phúc. Mùa xuân chẳng phải của riêng ai, và ai cũng có quyền hưởng. Trong bài ”Mừng xuân vĩ đại” Bác viết: ”Xưa kia người ta chỉ mừng xuân hẹp hòi trong khuôn khổ gia đình với những câu chúc tụng nhau ”Ngũ phúc lâm môn, tam dương khai thái”. Ngày nay chúng ta mừng xuân rộn rã, từ gia đình đến cả nước, đến khắp thế giới”. Là con cháu của Bác Hồ, chúng ta sẽ cảm thấy xấu hổ và buồn thay cho những ai còn tư tưởng chi lo vun vén cái tết của riêng mình!

Một lần nữa, đất nước ta đón xuân về, Tết Nguyên Đán đến, dân tộc ta lại nhớ đến Bác Hồ và những lời căn dặn của Bác. Những điều đó còn vang vọng mãi.

Cổng TT-GTĐT sưu tầm
vinhphuc.gov.vn

Đảng – Bác Hồ với mùa xuân dân tộc

Cờ ĐảngDân tộc Việt Nam trong  những bước ngoặt lịch sử thường gắn liền với mùa xuân. Như có sự hẹn hò giữa thời gian và sự kiện, ngày 3-2-1930 Đảng cộng sản Việt Nam ra đời. Từ mùa xuân lịch sử đó đến nay Đảng ta vừa tròn 81 tuổi. Mỗi mùa xuân qua, kể từ ngày có Đảng, dân tộc Việt Nam vững tin trên con đường đấu tranh cách mạng vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội, vì hạnh phúc nhân dân.

Từ ngàn đời nay, trong đời sống tinh thần của mỗi người dân Việt , mùa xuân tượng trưng cho sức mạnh, sự trẻ trung và những gì tốt đẹp nhất. “Một năm bắt đầu từ mùa xuân”, đúng như vậy, từ mùa xuân năm 1930 cách mạng Việt Nam có cương lĩnh đúng đắn do Bác Hồ khởi thảo, được Đảng  không ngừng hoàn thiện, đời sống chính trị, tinh thần, khí thế đấu tranh cách mạng của toàn dân ta đã chuyển qua một giai đoạn mới. Nhớ lại những ngày chưa có Đảng, tình hình cách mạng Việt Nam đen tối như không có đường ra. Chỉ đến lúc Nguyễn Ái Quốc ra đi tìm đường cứu nước, tiếp thu chân lý của chủ nghĩa Mác – Lênin và khi Người trở về Quảng Châu, Trung Quốc mở các lớp huấn luyện cán bộ cách mạng, tổ chức Hội nghị hợp nhất ba tổ chức cộng sản (Đông Dương cộng sản Đảng, An Nam cộng sản Đảng và Đông Dương cộng sản liên đoàn) thành một đảng thống nhất lấy tên là Đảng cộng sản Việt Nam thì con thuyền cách mạng Việt Nam mới có người cầm lái, chỉ lối đưa đường vượt qua giông bão đi tới bến vinh quang.

Mùa xuân năm 1941, sau gần ba mươi năm  bôn ba  tìm đường cứu nước ở nước ngoài, Bác Hồ đã trở về Cao Bằng – mảnh đất địa đầu của Tổ quốc, cùng Trung ương Đảng trực tiếp lãnh đạo cách mạng giải phóng dân tộc với bản nghị quyết lịch sử của Hội nghị Trung ương 8. Những công việc đầu tiên của Người là chỉ đạo Đảng ta thành lập Mặt trận Việt minh, tập hợp lực lượng toàn dân đứng lên để “đem sức ta mà giải phóng cho ta”; tổ chức xây dựng căn cứ địa cách mạng làm nơi đứng chân để xây dựng lực lượng, tích lũy lương thực, súng đạn, chuẩn bị tiền đề vật chất cho tổng khởi nghĩa cách mạng giành chính quyền. Bắt đầu từ căn cứ địa cách mạng Bắc Sơn, Võ Nhai, chỉ sau một thời gian ngắn đã phát triển thành cả một vùng rộng lớn bao gồm 6 tỉnh: Cao Bằng, Bắc Cạn, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Hà Giang, Tuyên Quang. Trong tác phẩm Từ nhân dân mà ra, Đại tướng Võ Nguyên Giáp kể lại: “Đêm hôm ấy, chúng tôi nằm nghe Bác nói chuyện rất khuya… Bác và chúng tôi mỗi người gối đầu trên một khúc gỗ cứng. Bác phác ra những nét chính về Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, từ tổ chức đến phương châm hành động, vấn đề cung cấp lương thực, súng đạn… Bác dặn đi dặn lại nhiều lần: phải dựa vào dân, dựa chắc vào dân thì kẻ địch không thể nào tiêu diệt được. Nguồn cung cấp sẽ dựa vào dân…”. Theo lời Bác dặn, sau cái đêm lịch sử đó không lâu, Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân – tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam ngày nay – ra đời, tạo ra một cục diện mới trên mặt trận đấu tranh vũ trang cách mạng, giành thắng lợi bằng cuộc Cách mạng tháng 8-1945, mở ra một kỷ nguyên mới cho cách mạng Việt Nam: kỷ nguyên giành độc lập, thống nhất Tổ quốc và đi lên chủ nghĩa xã hội.

Cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp của dân tộc ta bước sang  một giai đoạn mới. Chiến dịch Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu” cũng bắt đầu từ những ngày đầu mùa xuân năm 1954. Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ đã mở đầu cho sự sụp đổ hoàn toàn của hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa thực dân trên phạm vi toàn thế giới, chấm dứt gần một trăm năm đô hộ của thực dân Pháp trên đất nước ta. Miền Bắc bước vào thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội, làm hậu phương lớn cho cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước lâu dài và vô cùng gian khổ, dân tộc ta đã có biết bao chiến công hiển hách được ghi dấu ấn lịch sử  từ những mùa xuân. Mở đầu cho những chiến công to lớn trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đó là cuộc Đồng khởi của quân và dân Bến Tre mùa xuân năm 1960, tạo một bước phát triển mới quan trọng của cách mạng miền Nam. Cuộc tổng tiến công và nổi dậy xuân Mậu Thân năm 1968 tạo tiếng vang lớn làm đau đầu cả Lầu Năm Góc, báo hiệu sự sụp đổ không thể nào tránh khỏi của quân xâm lược Mỹ và bè lũ tay sai. Cuộc tiến công chiến lược mùa xuân năm 1972, đặc biệt là chiến dịch “Điện Biên Phủ trên không” cuối năm đó đã làm sụp đổ hoàn toàn uy lực của không lực Hoa Kỳ, buộc chúng phải ký Hiệp định Pa-ri rút quân về nước. Và cuối cùng là cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân 1975 mà đỉnh cao là chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, giải phóng hoàn toàn miền Nam, kết thúc vẻ vang ba mươi năm chiến tranh giải phóng giành độc lập, thống nhất Tổ quốc, cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Chiến thắng vĩ đại của dân tộc ta dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng trong mùa xuân năm 1975 như một điểm hẹn lịch sử, là sự kết tinh của đường lối cách mạng giải phóng dân tộc đúng đắn, theo tư tưởng Hồ Chí Minh “không có gì quý hơn độc lập, tự do”.

Đảng, Bác Hồ kính yêu là mùa xuân của dân tộc ta. Chủ nghĩa xã hội là mùa xuân của nhân loại, dù có phải trải qua những bước thăng trầm của lịch sử song chân lý đó vẫn mãi giữ nguyên giá trị. Đường lối đổi mới do Đại hội toàn quốc lần thứ VI của Đảng đề ra thực sự như một sức xuân mới làm thay đổi một bước cơ bản nền kinh tế đất nước. Nghị quyết Đại hội VII, Đại hội VIII, Đại hội IX, Đại hội X của Đảng tiếp  tục khẳng định con đường đi lên CNXH ở nước ta là sự lựa chọn duy nhất đúng, đã tiếp thêm sức mạnh cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta phấn đấu thực hiện cho kỳ được mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”.

Nhờ có sự nghiệp đổi mới mà đất nước ta đã thoát khỏi khủng hoảng kinh tế – xã hội, tốc độ phát triển kinh tế bình quân hàng năm tăng từ 6-7%, đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân được nâng lên rõ rệt, giữ vững sự ổn định về chính trị, an ninh quốc phòng được tăng cường và củng cố, uy tín của nước Việt Nam ngày càng được đề cao trên trường quốc tế. Những thành tựu thu được hơn 20 năm đổi mới đã chứng minh tính đúng đắn của cương lĩnh xây dựng CNXH trong thời kỳ quá độ của Đảng đồng thời giúp chúng ta nhận thức ngày càng rõ hơn  về con đường đi lên CNXH ở nước ta.

Mừng Đảng, mừng xuân, với niềm tự hào về Đảng quang vinh, Bác Hồ vĩ đại, mỗi cán bộ, đảng viên, mỗi người dân của dân tộc Việt Nam anh hùng nguyện sống, lao động, học tập, chiến đấu theo gương Bác Hồ vĩ đại, phấn đấu thực hiện thành công mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” sánh vai với các cường quốc năm châu như mong ước của Người.

thanhnienduongsat.vn

Những bài báo xuân của Bác

Bác Hồ chúc TếtBài báo Tết đầu tiên của Bác rất ngắn, ký tên Hồ Chí Minh đăng trang nhất Báo Cứu quốc ra ngày 21/01/1946 với nội dung như sau: Tết; Dân tộc Việt Nam là dân tộc rất giàu lòng đồng tình bác ái. Trong lúc này, toàn quốc đồng bào từ giàu đến nghèo, từ già đến trẻ, ai cũng sửa soạn ăn Tết mừng xuân. Tôi kêu gọi đồng bào và các đoàn thể làm thế nào chia sẻ cuộc vui xuân mừng Tết với:

Những chiến sĩ oanh liệt trước mặt trận
Những gia quyến các chiến sĩ
Những đồng bào nghèo nàn

Sao cho mọi người đều được hưởng các thú vui về Tết, xuân đầu tiên của nước Việt Nam độc lập.

Năm 1945, nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời với mục tiêu: Độc lập – Tự do – Hạnh phúc. Nhân dịp Tết – Xuân độc lập đầu tiên, Bác đã làm câu đối đăng Báo Cứu quốc để chúc đồng bào và chiến sĩ như sau:

Rượu cộng hoà, hoa hoà bình mừng xuân độc lập
Bánh tự do, giò bác ái, ăn Tết dân quyền.

Tết năm ấy, nhiều gia đình, cơ quan đoàn thể đã treo câu đối này bằng chữ Nôm, chữ Hán hoặc chữ Quốc ngữ để trang trí nơi trang trọng nhất. Chỉ 20 chữ nhưng lúc ấy tác dụng tuyên truyền của câu đối về chính quyền non trẻ thật mạnh mẽ.

Mùa xuân 1942, xuất hiện thơ chúc Tết – mừng Xuân của Bác:

Mừng xuân 1942
Tháng ngày thấm thoát chóng như thoi
Năm cũ qua rồi chúc năm mới
Chúc phe xâm lược chóng diệt vong
Chúc đồng bào ta đoàn kết mau
Chúc Việt Minh ta cùng tiến tới!…

Bài thơ ra đời trong bối cảnh Việt Nam đang trên cao trào, thắng lợi của cách mạng đòi hỏi mọi người phải làm chủ tình thế, phải “mau tiến tới” chớp thời cơ. Thơ Bác mang tính thời sự chính trị với tầm nhìn bao quát, sáng suốt, nhất quán khoa học. Mỗi lời chúc đều khẩn trương mạnh mẽ và gắn với nhiệm vụ cụ thể. Tư tưởng bài thơ nhất quán, quán triệt đường lối cách mạng – đoàn kết chiến đấu dưới lá cờ đỏ sao vàng, lần đầu tiên xuất hiện ở cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ rồi được Mặt trận Việt Minh phất cao và đã trở thành một biểu tượng thiêng liêng của hồn nước, trong những dịp Tết đến xuân về.

Cổng TT-GTĐT sưu tầm
bqllang.gov.vn

Bác Hồ chọn mẫu hoa chúc Tết

Bác HồVào một ngày cuối năm 1966, Văn phòng Chủ tịch báo cho Nhà xuất bản Mỹ thuật (nay là Nhà xuất bản Mỹ thuật – Âm nhạc), Bác Hồ cần một mẫu hoa đẹp để in thiếp chúc Tết. Đúng lúc đó Nhà xuất bản cũng vừa tuyển chọn được 14 ảnh mẫu hoa đẹp các loại cho kế hoạch in thiếp chúc mừng năm mới để phục vụ nhân dân nhân dịp Tết Nguyên Đán năm Đinh Mùi 1967. Ban lãnh đạo Nhà xuất bản liền đưa  các ảnh mẫu hoa đó tới văn phòng của Bác. Trên cơ sở 14 ảnh mẫu hoa, các đồng chí ở văn phòng đã lựa chọn ra 4 ảnh hoa, trong đó có một ảnh mẫu hoa sen, một ảnh mẫu hoa cúc và hai ảnh mẫu hoa hồng quế đưa lên Bác. Người cầm tấm ảnh mẫu chụp hoa sen đưa cho mọi người xem và cười vui nói:

– Các chú nịnh Bác, chứ Tết ai lại dùng hoa sen.

Bác lại cầm tấm ảnh mẫu hoa cúc lên giải thích:

– Hoa cúc là hoa của Trung Quốc.

Nghe Bác nói thế mọi người đều ớ ra là mình thiếu kiến thức về loài hoa. Tiếp đó Bác cầm hai tấm ảnh có hình mẫu hoa hồng quế lên xem và gật đầu ưng ý:

– Tấm ảnh mẫu hoa này được! Mọi người phấn khởi chờ chỉ thị của Bác. Bác cầm hai tấm ảnh mẫu đưa cho một số đồng chí Trung ương lên họp xem và nói:

– Bác đang chọn mẫu hoa để in làm thiếp chúc Tết. Các chú xem hai mẫu hoa này. Chú nào thích mẫu nào thì ký vào mặt sau cho Bác.

Hoá ra Bác còn muốn lấy thêm ý kiến của nhiều người khác. Kết quả: Một tấm ảnh mẫu hoa 9 chữ ký ở mặt sau và một tấm có 7 chữ ký. Bác xem kỹ lại hai tấm ảnh mẫu hoa và Bác chọn mẫu hoa có 7 chữ ký để in thiếp chúc Tết năm 1967. Tấm ảnh mẫu hoa này chụp có hai bông hồng: bông to nở rực rỡ, bông nhỏ mới nở chúm chím hai cánh trông rất đẹp.

Bác nói:

– Tấm ảnh mẫu hoa này rất hợp với cuộc cách mạng ở nước ta. Bông hồng to tượng trưng cho miền Bắc xây dựng XHCN. Bông hồng nhỏ tượng trưng cho miền Nam, đồng bào đang đánh đế quốc xâm lược.

Nhưng khi chuẩn bị thiếp chúc Tết năm 1968, Bác lại chọn tấm ảnh hoa hồng quế thứ hai – tấm có 9 chữ ký để in. Tấm ảnh mẫu hoa hồng này cũng có hai bông: một bông bên đã nở được ba cánh và chỉ nhỏ hơn bông kia một chút. Trông tấm ảnh mẫu hoa hồng này cũng rất đẹp. Không hiểu có phải dụng ý của Bác là miền Nam sắp đến thời cơ mới cho nên bông hồng bên nở thêm cánh? Vì trùng hợp với đồng bào miền Nam đều đồng loạt ra quân mạnh mẽ giành thắng lợi lớn ở khắp nơi.

Cổng TT-GTĐT sưu tầm
bqllang.gov.vn