Tag Archive | Chính trị – Xã hội

Mậu Thân 1968 – Cuộc tiến công lúc giao thừa

Huế 1968

QĐND – Năm 2004, NXB Schiffer Publishing phát hành cuốn Cửa vào Hoàng cung: Cuộc giải vây Huế Tết 1968 (Palace Gate: Under Siege in Hue City: TET January 1968)[1] của Trung tá phi công hồi hưu Ri-sớc Brao (Richard Brown). Người lái máy bay trinh sát Mỹ này đã chứng kiến những khoảnh khắc hệ trọng, khởi đầu cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân, tạo nên bước ngoặt cho cuộc kháng chiến chống Mỹ tại địa bàn quan trọng thứ hai trên toàn miền Nam: Thành phố Huế.

Tiệc và pháo hoa ngày Tết

Các dịp Lễ tạ ơn, Thiên chúa giáng sinh và Tết Dương lịch ở Huế không có gì khác so với những ngày thường, chỉ có thực đơn nhà ăn sĩ quan là thay đổi. Vào kỳ Giáng sinh 1967, có thấy nói ngừng bắn, nhưng chúng tôi vẫn phải bay tất cả các phi vụ như ngày thường.

Bìa cuốn sách “Cửa vào Hoàng cung: Cuộc giải vây Huế Tết 1968”.

Tiệc tùng ngày Tết đều là các đại tiệc. Tôi đi dự hai trong số đó, trong đó có một đại tiệc do tướng Ngô Quang Trưởng làm chủ tiệc. Một ban nhạc dân tộc Việt mặc áo thụng đỏ và vàng công diễn cạnh một biệt thự của Pháp bên bờ sông Hương, gửi những giai điệu qua tất cả các cửa sổ nào mở. Hầu hết các nhạc công đều đã cao tuổi, khoảng từ 60 đến 70. Nhiều người trong họ để râu dài đến gần thắt lưng. Có lẽ họ đã từng chơi nhạc cho vua nhà Nguyễn.

Một đơn vị VNCH tăng cường cho sư đoàn BB 1 của quân đội Sài Gòn mời tất cả bộ phận giám sát không kích tại tiền duyên của không lực Mỹ tới dự tiệc Tết của họ. Mỗi chúng tôi cũng đóng tiền túi vào hỗ trợ chi phí cho bữa tiệc. Một trong các nghi thức là giết một con bò và xẻ thịt nó thành miếng cho món nướng. Một số thùng phuy loại 55 galon (200 lít) được xẻ dọc làm đôi. Nửa số thùng phuy bổ đôi này được đem đựng hỗn hợp sền sệt của gia vị và các đồ mắm xốt cay nóng để tạo thêm nhiệt từ chính chúng. Một nửa số thùng bổ đôi còn lại đựng than củi đốt cho hồng lên, trên đậy sẵn các vỉ lớn bằng sắt. Cách ăn là dùng một xiên tre nhúng một miếng thịt vào thùng đựng gia vị, tẩm nó cho đến khi thấm đẫm hương liệu, rồi kẹp vào vỉ nướng trên lửa. Khi miếng thịt đã chín, chúng tôi cần đến một quyết tâm cao để ăn hết nó. Bản năng tự đề kháng của cái bụng trước thách thức của món ăn nóng hừng hực này buộc ta phải nốc tất cả những chất lỏng nào trong tầm tay mình. Ấy vậy mà cuối tiệc tôi quay lại bãi nướng (barbecue) để tìm chút thịt nướng được mệnh danh là “cái chết đen”, nhưng chẳng còn một miếng nào. Một vài “con ma” (ý nói lính Mỹ, lính Sài Gòn) liều mạng đang cố thọc tay vào chỗ gia vị còn nóng, tìm một vài miếng thịt tuột khỏi xiên khi ngâm tẩm gia vị. Chỉ uống có dăm ngụm rượu, nhưng tôi cũng thấy ngà ngà say.

Sáng hôm sau, một nhân viên FAC xòe cho tôi cẳng tay cháy trụi hết lông. Không lẽ chúng tôi nhét ngần ấy thức ăn vào bụng. Không lẽ chúng tôi ăn hết một con bò?

Nửa đêm 29 Tết, tựa như mọi cỡ súng ở Nam Việt Nam đều tuôn hết đạn lên trời. Đạn súng máy, đạn vạch đường, pháo sáng, mọi hỏa khí nào có thể tạo tiếng nổ, hoặc soi sáng, đều phát hỏa. Ở Trung Quốc người ta đốt pháo để đuổi tà ma. Còn ở Việt Nam, tà ma bị súng bắn rụng.

Hàng triệu đô-la Mỹ bị bắn lên trời, và gần như mỗi xu đều đến từ người đóng thuế suốt đời tận tâm ở Hoa Kỳ. Nhưng những loạt tiếng nổ mà tôi sẽ được biết sau 24 giờ nữa sẽ chẳng ồn hơn bao nhiêu.

Trước giờ G

Sau khi giải quyết một số trục trặc kỹ thuật, tôi cất cánh theo kế hoạch, lên hướng thung lũng A Sầu vào rạng sáng 30 Tết. Điều kiện khí tượng như sau: Trời u ám, có mây mù. Quan sát không được tốt, do đó tôi hạ độ cao xuống, hướng về một điểm phía trên ngọn núi đầu tiên trên hướng này, tính toán sao cho không dễ bị trúng đạn từ mặt đất.

Một phần của phi vụ trinh sát là phát hiện bất cứ biểu hiện khác lạ nào, bất cứ thay đổi nào của địa hình. Trong thời gian 9 tháng ở đất nước này, tôi chưa hề nhìn thấy một bóng người nào trên mạng đường mòn trải từ mảnh đất dốc thoai thoải từ góc phía nam Huế tới ngọn núi đầu tiên, rồi từ đó tới rừng. Tôi nghĩ những con đường mòn này là do những người thiểu số sống ở đây thành đường. Một khi hàng tháng nay không có ai qua lại, cỏ đã mọc um tùm trên đường mòn.

Tôi không nhìn thấy ai trên đường mòn, nhưng những đám cỏ từng mọc bời bời trên đó cũng biến mất. Những đường mòn trở nên sậm màu và rộng ra; hoàn toàn không còn vết tích của màu xanh. Có nghĩa là đã có nhiều người đi trên con đường này hồi đêm.

Quân Mỹ phản kích tại Huế.

Tôi vẫn bay về hướng ngọn núi, nhưng linh cảm sẽ không có cách nào thật an toàn để bay vượt được tới A Sầu vào sáng hôm đó.

Hơn nữa, những con đường mòn thật đáng chú ý. Tôi vòng lại rồi bay về góc tây của thành Huế.

Tôi hạ cánh rồi đánh xe tới sở chỉ huy sư đoàn BB 1 của quân đội Sài Gòn. Không có ai ngoài một sĩ quan trực nhật không nói được tiếng Anh và vài người thư ký. Đại tá cố vấn A-đam (Adams) có vẻ không mấy quan tâm tới những gì tôi quan sát được. Tôi trình một báo cáo tình báo qua các kênh của không lực Mỹ rồi quay về trại. Đa số các cố vấn Mỹ xem nhẹ báo cáo này, vì các chỉ huy VNCH mà họ cố vấn cho sẽ không làm việc ngày Tết.

Tôi muốn quân lực VNCH báo động nhưng không thể tìm được ai có đủ thẩm quyền. Chiều tối hôm đó tôi lại cất cánh để quan sát những gì xảy ra tại địa bàn phía tây Huế. Trời rất mù, tầm nhìn giảm xuống tới chỉ khoảng 1 dặm (1,6km), trần mây hạ thấp xuống khoảng 500 feet (150m), quá thấp so với thiết bị trinh sát trên máy bay của tôi. Tôi đưa máy bay vào bãi đỗ, rồi đi về phía nhà ăn…

Thời khắc số không

Các pháo thủ của Quân Giải phóng bắn thật chính xác. Quả đạn pháo 122mm đầu tiên rơi trúng nóc sở chỉ huy của viên tỉnh trưởng Thừa Thiên. Phòng ngủ của tôi ở tầng 2 ngôi nhà, chỉ cách sở chỉ huy trên có một con phố hẹp, nên tiếng nổ ghê gớm này bảo với tôi rằng đêm giao thừa âm lịch này sẽ trở thành một thời khắc vô cùng đặc biệt…

Tôi choàng dậy, tìm đường lần về Sở chỉ huy bay (SCH). Một quả rốc-két rơi trúng hàng rào dây thép gai chạy dọc theo con đường giáp dãy nhà ngủ của sĩ quan Mỹ gần nơi tôi ở. May thay, cánh cửa nhà che chắn tôi khỏi trái này. Các mảnh đạn và mảnh dây thép gai từ các phía cày lên các bờ tường và đồ đạc, nhưng chỉ có vài miếng đâm vào má, cánh tay tôi. Đáng kể có một mảnh cứa mạnh vào tay trái.

Một số xe cộ đỗ dọc theo hàng rào bắt lửa, tạo ánh sáng cho tôi bật chiếc máy thu âm cá nhân, rồi băng vết thương trên tay trái và tìm thấy một chiếc áo bay. Tôi khoác khẩu M-16 của tay phi công cùng phòng vào người (khẩu của tôi bị phá hủy ở Khe Sanh) rồi tìm cách lần ra Sở chỉ huy bay. Không ai biết quả rốc-két tiếp theo rơi ở đâu, nên chuyến đi này giống như trò chơi cò quay kiểu Nga (roullette – một quả cầu nhỏ chạy vòng vòng trên bàn sòng bạc có hình nón quay tít, không ai biết khi bàn quay dừng lại quả cầu sẽ rơi vào vị trí nào trên bàn).

Tôi vừa vào đến SCH thì có ai đó, mặt đầy máu, bước vào, gào lên rằng quân Mỹ trong tòa nhà cao cấp (VIP house) đang khốn đốn, cần hỗ trợ. Tôi lao tới đó.

Một quả B-40 bắn trúng vào một máy điều hòa nhiệt độ lắp trong tường, mảnh đạn bắn tung khắp trong phòng. Một số sĩ quan Mỹ bị thương. Một quả khác bắn trúng tháp canh, làm một người Mỹ khác bị thương rất nặng. Có vẻ như quân tấn công định đột nhập vào trại Mỹ theo hướng này. Đại tá Ki-lơ (Keeler) đã đoán đúng.

Trời tối đen như mực, mây đen và sương mù dày đặc. Quân đối phương ào ạt tới. Chúng tôi bắn dữ dội về góc phố đó đến mức tôi nghĩ khó ai có thể sống sót. Chúng tôi phải ghìm đối phương xuống để có thể sơ tán thương binh Mỹ từ tháp canh ra. Cùng lúc, có tiếng ai hỏi đèn pin. Tôi tìm cách đi ra chiếc xe jeep của mình, đỗ gần SCH. Không có cách gì tiếp cận. Chiếc jeep đỗ gần hàng rào, không xa những chiếc xe đang cháy. Sẽ là tự sát nếu cứ cố ra xe, vì lửa cháy chiếu rõ toàn cảnh. Nó đã bị thủng lốp, và bị phá hỏng một số chỗ. Quay trở vào SCH, tôi nghe tiếng chuông điện thoại. Tôi thật ngạc nhiên vì Quân Giải phóng chưa phá hỏng đường dây. Tôi gọi cho trung tâm hỗ trợ trực tiếp đường không ở Đà Nẵng, giải thích rằng chúng tôi cần một máy bay chiếu đèn pha từ trên không. Người ở đầu dây kia khá lịch sự, nhưng không tin vào tình hình chiến sự ở Huế mà tôi mô tả, nhưng cũng hứa sẽ cho máy bay chiếu đèn pha. Chẳng có chiếc nào đến. Nhưng cuối cùng trời cũng hửng sáng.

Không thể có được điều kiện khí tượng nào thuận lợi hơn cho tấn công Huế mà Quân Giải phóng đã có được trong dịp Tết này. Trừ một số khoảng thời gian ngắn vào các buổi tối, khí tượng 4 ngày liền (năm sớm âm lịch), trời luôn bao phủ bởi trần mây thấp với mây mù hoặc sương mù, không có khả năng sử dụng đại bác cỡ nhỏ của máy bay chiến đấu Spu-ky (Spooky) (AC-47). Nhưng chúng tôi được chiếu đèn từ máy bay rất tốt kể từ đêm thứ hai của cuộc tiến công Tết trở đi (từ đêm 1 âm lịch, hoặc ngày 1-2 dương lịch)…

Lính thủy đánh bộ Mỹ đã tới và với một giá khủng khiếp về thương vong, từng bước chiếm lại khu vực phía nam sông Hương. Một bãi đáp được thiết lập ở công viên nhỏ nằm giữa Dinh tỉnh trưởng và bờ nam sông Hương. Ở bên bờ Bắc tình hình cũng không mấy sáng sủa nên tôi đáp trực thăng Hu-uây (Huey) sang phía SCH sư đoàn 1 quân Sài Gòn để xem không quân Mỹ có thể trợ chiến tốt hơn cho tướng Ngô Quang Trưởng và các đơn vị của ông ta…

Lê Đỗ Huy (dịch)
qdnd.vn

[1]http://www.amazon.com/Palace-Gate-Under-Siege- January/dp/0887407455

Đánh chiếm Đài Phát thanh Sài Gòn

Trong Chiến dịch Tổng tấn công và nổi dậy Xuân Mậu Thân, lúc đó tôi là Bí thư Chi bộ, Chính trị viên Đội 4 Biệt động Sài Gòn. Ngày 26 Tết, tôi được lệnh của đồng chí Tư Chu (tức Nguyễn Đức Hùng, nguyên Phó Tư lệnh, Tham mưu trưởng kiêm Chỉ huy lực lượng Biệt động Quân khu Sài Gòn- Gia Định) điều toàn bộ Đội 4 về nhận nhiệm vụ chiến đấu. Đêm 27 Tết, chúng tôi hành quân từ xã Thạnh An, huyện Bến Cát về ấp Lộc Vĩnh, tỉnh Tây Ninh.

Đêm 28 Tết, Bộ Tư lệnh Quân khu SG-GĐ giao nhiệm vụ chiến đấu cho đơn vị tôi là đánh chiếm và giữ cho được Đài Phát thanh Sài Gòn trong vòng 1 tiếng đồng hồ rồi bàn giao cho Tiểu đoàn 4 Thủ Đức, sau đó sẽ nhận nhiệm vụ tiếp theo…

Đại tá Đặng Xuân Tẻo (trái) vui mừng gặp lại đồng đội cũ.

Sáng 29 Tết, chúng tôi hành quân thần tốc về điểm tập kết cuối cùng tại nhà số 65 Nguyễn Bỉnh Khiêm, quận 1, nơi chỉ cách Đài Phát thanh hơn 100m. 11 giờ trưa mùng 1 Tết, toàn đội gồm 11 người đã tập trung đầy đủ tại cơ sở bí mật rồi khui hầm đưa vũ khí lên lau chùi để chuẩn bị chiến đấu. Đến 16 giờ cùng ngày, tôi cùng đồng chí Thảo đi trinh sát mục tiêu lần cuối. Tôi thấy địch đang tăng cường cảnh sát dã chiến, xây dựng công sự bảo vệ đài phát thanh khá kiên cố. Tôi quyết định phải chuẩn bị một trái bộc phá nặng 20kg để phòng khi tình huống xấu xảy ra ta sẽ phá hủy nhà đài. 22 giờ đêm, đồng chí Năm Lộc, Chỉ huy trưởng hạ lệnh chiến đấu và giao nhiệm vụ cụ thể cho từng người.

Đúng 24 giờ đêm mùng 1 tết, đơn vị tôi đồng loạt nổ súng đánh chiếm Đài Phát thanh Sài Gòn chớp nhoáng chỉ trong vòng 10 phút. Thế nhưng, khoảng 30 phút sau thì địch nã pháo phản kích dữ dội cho tới hơn 3 giờ sáng khiến 4 đồng chí hy sinh và 2 đồng chí khác bị thương. Lúc này quân ta gặp khó khăn vì đạn sắp hết, lựu đạn, thủ pháo chỉ còn mấy quả nhưng tất cả quyết chiến đấu cho đến hơn thở cuối cùng.

Do địch pháo kích dữ dội nên Tiểu đoàn 4 không vào được như phương án đã định. Đội chúng tôi tiếp tục chiến đấu một mất một còn với địch. Đến gần 4 giờ sáng, đồng chí Năm Lộc, Chỉ huy trưởng cử tôi và 2 đồng chí nữa (Hai và Hiệp) rời trận địa về số nhà 65 Nguyễn Bỉnh Khiêm để xin chỉ thị của đồng chí Tư Tăng – Cụm trưởng kiêm Chỉ huy trưởng đội 3, 4, 5 đang trực chiến tại sở chỉ huy. Để thoát khỏi vòng vây địch, chúng tôi phải mở “đường máu”. Trong trận chiến không cân sức, cả hai đồng chí Hai, Hiệp đều anh dũng hy sinh, tôi vừa chiến đấu với địch, vừa tìm cách thoát nhanh ra ngoài. Chạy đến nhà số 65 Nguyễn Bỉnh Khiêm, tôi gọi đồng chí Tư Tăng ra mở cửa, sau loạt đạn địch, tôi tấp nhanh vô nhà. Chỉ 10 phút sau, địch ập đến, chúng đập cửa rầm rầm gọi chủ nhà.

Tôi và đồng chí Tư Tăng vội rút xuống hầm bí mật. Ở dưới hầm, tôi nghe rõ địch xông vào nhà đập phá, quát tháo: “Vừa thấy chúng chạy vào đây, giờ đâu rồi? Khai mau không tao sẽ bắn nát đầu ngay tại chỗ…”. Tiếng chị Năm chủ nhà vẫn bình tĩnh: “Các ông nói sao chớ tui có thấy ai vào nhà đâu. Không tin mấy ông cứ lục soát…”. Tìm suốt không thấy gì, chúng bao vây căn nhà suốt 24/24 giờ. Nằm dưới hầm, vào khoảng 7 giờ sáng mùng 2 Tết, tôi nghe tiếng nổ vang trời phát ra từ đài phát thanh. Tôi và anh Tư Tăng nghẹn ngào hiểu rằng những đồng đội thân yêu của chúng tôi đã quyết tử cho nổ bộc phá để phá hủy toàn bộ đài phát thanh và quyết không để bị sa vào tay giặc. Cho đến nay, nỗi đau vẫn đè nặng trái tim những người còn sống chúng tôi…

Suốt 4 ngày trốn dưới hầm bí mật, tôi và đồng chí Tư Tăng phải chia nhau ăn một dĩa cơm nếp, 10 quả cam và 1 gô nước. Đến trưa mùng 5 Tết, lợi dụng lúc địch đổi ca trực, chị Năm gọi tôi và đồng chí Tư Tăng lên khỏi hầm, thay nhanh quần áo rồi theo cửa sau, thoát ra ngoài rút về căn cứ. Đi được một đoạn, tôi bị một nhóm lính địch chặn lại xét giấy tờ. Tôi bình tĩnh đưa giấy tờ (giả) với chức vụ thiếu úy ngụy rồi vờ than: “Mấy bữa rày đánh nhau dữ quá, tôi tranh thủ về thăm nhà một lát…”. Một tên lính tỏ ra thông cảm: “Lại đảo ngũ trốn quân dịch chớ gì, thôi đi đi cha…”. Thế là tôi thoát chết trong gang tấc! Đi đến đâu tôi cũng thấy địch bao vây dày đặc nhưng nhờ người dân che chở, cuối cùng tôi cũng trở về tới căn cứ cách mạng.

Sau chiến thắng đó, Đội 4 Biệt động Sài Gòn được tặng Huân chương Quân công hạng nhì, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Theo Minh Ngọc (SGGPO), ghi theo lời kể Đại tá Đặng Xuân Tẻo
qdnd.vn

Kết hợp tiến công và nổi dậy của quần chúng

QĐND – Dưới sự chỉ đạo của Trung ương Cục và Bộ tư lệnh Miền, quân và dân Đồng bằng sông Cửu Long đã tiến hành cuộc tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt Xuân Mậu Thân 1968 ở các thành phố, thị xã thuộc Khu 9 và Khu 8, trọng điểm là các thành phố Cần Thơ, Mỹ Tho và các thị xã Vĩnh Long, Bến Tre, Trà Vinh, Châu Đốc…

Lực lượng tham gia tổng tiến công và nổi dậy là các đơn vị bộ đội chủ lực Miền, bộ đội đặc công, biệt động, bộ đội địa phương thuộc các tỉnh đội, huyện đội, lực lượng vũ trang địa phương và quần chúng nhân dân. Các khu vực trọng điểm tiến công được xác định là các đơn vị Mỹ, quân đội Sài Gòn, khu hành chính, Đài phát thanh, cơ sở hậu cần-kỹ thuật, sân bay, kho tàng của địch. Ở Khu 9, ta xác định trọng điểm là thành phố Cần Thơ và thị xã Vĩnh Long; ở Khu 8, trọng điểm là thành phố Mỹ Tho, thị xã Bến Tre. Thời gian phát lệnh tổng tiến công đồng loạt vào rạng sáng ngày 1-2-1968. Phương án tác chiến là sử dụng hỏa lực, bộ đội đặc công, biệt động tiến công mở đầu, chủ lực và bộ đội địa phương kết hợp các lực lượng vũ trang phối hợp đánh địch, tạo điều kiện cho quần chúng nổi dậy đấu tranh.

Trong cuộc tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, cùng với toàn miền Nam, quân và dân Đồng bằng sông Cửu Long tiến công đồng loạt vào hầu hết các thành phố, thị xã, chi khu, quận lỵ, đưa chiến tranh vào tận hang ổ và các cơ quan đầu não của địch; đánh chiếm được một số mục tiêu quan trọng, tích cực đánh địch phản kích. Tại các trọng điểm, như ở Cần Thơ, ta đánh trong nội thành, sau đó chiến đấu quyết liệt, tranh chấp với địch ở vùng ven lộ Vòng Cung. Ở Vĩnh Long, ta đánh chiếm và làm chủ thị xã 6 ngày đêm. Các trọng điểm Mỹ Tho, Bến Tre, Trà Vinh, Châu Đốc và ở vùng nông thôn, bộ đội địa phương, dân quân du kích làm nòng cốt cho quần chúng nổi dậy tiến công địch bằng 3 mũi giáp công: Quân sự, chính trị, binh vận; bao vây đồn bốt, giải phóng nông thôn…

Thắng lợi to lớn ở Đồng bằng sông Cửu Long trong Tết Mậu Thân 1968 góp phần cùng toàn miền Nam, giáng cho quân Mỹ và chính quyền Sài Gòn đòn bất ngờ, làm đảo lộn toàn bộ chiến lược chiến tranh của Mỹ.

ĐÀO VĂN ĐỆ
qdnd.vn

Trồng cỏ trên… xe tăng

Ông cha ta đánh giặc

QĐND – Từ khi nhận nhiệm vụ đánh cứ điểm Làng Vây (Hướng Hóa, Quảng Trị), các cán bộ chỉ huy bộ đội xe tăng của Tiểu đoàn 198 và cán bộ tăng cường của trung đoàn, đại diện Bộ tư lệnh Thiết giáp đã đi nghiên cứu địa hình Làng Vây nhiều lần. Ngoài hướng xe tăng tiến công từ phía Tây theo trục Đường 9, các cán bộ chủ yếu nghiên cứu việc lợi dụng sông Sê-pôn, bí mật đưa xe tăng vào tập kết để đánh từ hướng Nam căn cứ.

Sông Sê-pôn nhỏ hẹp, quanh co, lòng sông đầy đá hộc, bờ sông dốc dựng đứng. Địch hoàn toàn không ngờ xe tăng ta có thể vận động được vào hướng này. Theo kế hoạch tác chiến hiệp đồng binh chủng, Đại đội tăng 9 gồm 8 xe tăng lội nước PT-76 (vì phải tháo dồn xích của 11 xe bảo đảm cho 8 xe) cùng Tiểu đoàn 3, Trung đoàn 2, Sư đoàn bộ binh 325, tiến công địch từ hướng Nam căn cứ. Đây là hướng tiến công chủ yếu.

Cán bộ Đại đội tăng 9 hai lần cùng cán bộ công binh dùng mảng nứa bí mật thăm dò lòng sông Sê-pôn, xác định đường, bến, phương án lái trên sông, đề ra các biện pháp khắc phục cụ thể. Các chiến sĩ công binh nhiều lần bơi lặn dưới nước, đánh dấu các khu vực có đá ngầm, đo mực nước nông, sâu và phá những tảng đá to trên đoạn sông nước cạn từ làng Côn đến Pê-sai (khoảng 4km) để mở đường, vì đoạn này xe tăng phải cơ động bằng xích. Những đoạn sông có nhiều đá ngầm, bộ đội công binh phải “gài” quân dọc hai bên, ngâm mình dưới nước giá buốt để làm lộ tiêu sống dẫn đường cho xe tăng.

Ngày 24-1, Đại đội tăng 9 vào tới vị trí tập kết tại Pê-sai bằng đường sông Sê-pôn. Do trận đánh hoãn lại, nên Đại đội tăng 9 phải nằm lại ở khu tập kết chiến đấu trong điều kiện hết sức khó khăn, cách căn cứ Làng Vây khoảng 3km; xe pháo nằm phơi mình trên đồi cây con mọc xen lẻ, cỏ tranh cao chỉ che hết bánh xích, địch thường xuyên cho máy bay trinh sát và tung biệt kích thám báo lùng sục để phát hiện lực lượng ta. Để giữ bí mật, cán bộ, chiến sĩ Đại đội tăng 9 phải đan sọt, đổ đất, đánh những vầng cỏ tranh lớn trồng vào, rồi xếp lên xe tăng, tưới nước hằng ngày để ngụy trang.

Khi thay bánh đỡ nặng và chốt xích, anh em phải dùng dép cao su đệm vào đầu chốt xích để giảm bớt tiếng động khi đóng. Đưa xe tăng vào hướng nam bằng đường sông Sê-pôn là một hành động táo bạo, bất ngờ. Nhờ giữ nghiêm kỷ luật bí mật, nên Đại đội tăng 9 đã nằm ở vị trí tập kết 12 ngày, cho đến tận ngày nổ súng, mà địch vẫn không hề hay biết.

THANH HUYỀN
qdnd.vn

Xe tăng yểm trợ cho xe tăng đột kích

QĐND – Trong trận đánh cứ điểm Tà Mây (Chiến dịch Đường 9-Khe Sanh năm 1968), để chi viện cho bộ binh và các lực lượng chiến đấu của ta vượt qua cửa mở đột kích đánh địch, lực lượng xe tăng lần đầu tiên tham gia chiến đấu.

Khi bộ binh ta áp sát hàng rào cứ điểm Tà Mây thì bị hỏa lực dày đặc của địch chặn lại. Xe tăng 558 được lệnh nhanh chóng vượt lên, vừa hành tiến vừa đánh địch. Các loại hỏa lực trên xe tăng 558, gồm pháo và súng máy 12,7mm bắn sập các lô cốt, tiêu diệt các ổ hỏa lực địch, yểm trợ cho xe tăng 555 xông thẳng vào cổng chính và đánh thẳng vào bên trong cứ điểm. Bộ binh và công binh bám sau xe tăng, vượt qua cửa mở, đánh chiếm đầu cầu và tỏa ra các hướng, dũng cảm tiêu diệt địch.

Đồng chí Chính ủy Binh chủng Tăng thiết giáp (đứng giữa) với các cựu chiến binh tham gia trận đánh Tà Mây- Làng Vây. Ảnh: Anh Quân.

Đang phát triển chiến đấu thì xe tăng 558 bị dây thép gai cuốn vào xích phải dừng lại để khắc phục. Phát hiện xe tăng của ta, địch cho máy bay AD-6 và hỏa lực bắn phá. Kíp xe tăng 558 bình tĩnh dùng súng máy 12,7mm đánh địch, phát huy hỏa lực pháo chi viện cho xe tăng 555 và bộ binh chiến đấu. Được xe tăng dẫn dắt, chi viện hỏa lực, bộ binh ta phát triển nhanh vào tung thâm, chia cắt địch, tiêu diệt sở chỉ huy và các ổ đề kháng ngoan cố. Sáng 24-1-1968, ta hoàn toàn làm chủ cứ điểm Tà Mây.

Tiến công bất ngờ, cách đánh sáng tạo, dũng mãnh thọc sâu táo bạo, linh hoạt trong hiệp đồng chiến đấu cùng bộ binh, trong trận Tà Mây, lực lượng xe tăng ta đã phát huy hỏa lực, nhanh chóng áp đảo địch, tạo điều kiện dứt điểm nhanh trận đánh, tạo niềm tin về sức mạnh đột phá của hỏa lực xe tăng trong chiến đấu hiệp đồng binh chủng, cổ vũ, động viên Bộ đội Tăng thiết giáp tiếp tục giành những thắng lợi mới.

NHẬT QUANG
qdnd.vn

Mùa Xuân, nghĩ về Đảng, về học tập, làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh

Theo từng nhịp bước thời gian, hạ phai, thu úa, đông tàn … Mùa Xuân đến, tiết Xuân tươi khơi dậy sức sống cho muôn loài; vạn vật phô bày toàn diện vẻ đẹp huy hoàng, lộng lẫy, sức sống sung mãn, toàn bích. Nơi nơi nô nức, hân hoan chào đón mùa Xuân. Mùa Xuân của thiên nhiên, đất trời chỉ đến một lần trong  năm; mùa Xuân là thời gian vui tươi hạnh phúc và tràn đầy sức sống mà mọi người được hưởng, ai ai cũng có những mùa Xuân tươi đẹp trong cuộc đời!

 4. 1.mua xuan nghi ve DangVới Đảng ta, nhân kỷ niệm lần thứ 30 Ngày thành lập Đảng (3/02/1930), Chủ tịch Hồ Chí Minh có nói: “Với tất cả tinh thần khiêm tốn của người cách mạng, chúng ta vẫn có quyền nói rằng:“ĐẢNG TA THẬT LÀ VĨ ĐẠI”.

Soi rọi lịch sử hình thành và phát triển của Đảng trong 83 năm qua, chúng ta nhận thức được sự khẳng định của Chủ tịch Hồ Chí Minh là vô cùng sâu sắc! Bởi lẽ, ngoài lợi ích của giai cấp, của nhân dân, của dân tộc, Đảng ta không có lợi ích nào khác. Trải qua các thời kỳ cách mạng, Đảng luôn giáo dục đảng viên phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân; mỗi đảng viên phải thật sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; đặt lợi ích của dân tộc, của Đảng, của nhân dân, của tập thể lên trên lợi ích cá nhân.

Từ đầu năm 2007 đến nay, Đảng ta phát động cán bộ, đảng viên và nhân dân rèn luyện, tu dưỡng, học tập, làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, noi theo tác phong, phong cách làm việc của Người, nâng cao ý thức trách nhiệm, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, thực hành tiết kiệm, chống tham ô, lãng phí, quan liêu; mỗi cán bộ, đảng viên phấn đấu làm người công bộc tận tụy, trung thành của nhân dân, noi theo đời tư trong sáng, cuộc sống riêng giản dị của Người.

Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” đã chỉ ra 3 nội dung trọng tâm: ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên; xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế; xác định rõ thẩm quyền, trách nhiệm cá nhân người đứng đầu cấp ủy, chính quyền và mối quan hệ với tập thể cấp ủy, cơ quan, đơn vị … là những vấn đề, nội dung cơ bản và hệ trọng để xây dựng Đảng thật sự trong sạch, vững mạnh! Qua đợt sinh hoạt chính trị quan trọng và rộng lớn này, các cấp ủy đảng, các ngành, các cấp, nhất là đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý nhận thức đầy đủ và sâu sắc mục đích, ý nghĩa, nội dung những tư tưởng chỉ đạo của Đảng, những công việc phải làm, trên cơ sở đó thống nhất cao về ý chí, quyết tâm, thấy đầy đủ trách nhiệm để gương mẫu thực hiện nghị quyết có hiệu quả trên mỗi cương vị công tác tại địa bàn, lĩnh vực thuộc trách nhiệm lãnh đạo của mình!

Ngày nay, hơn lúc nào hết, Đảng ta kiên định, giữ vững lập trường chủ nghĩa Mác – Lênnin, tư tưởng Hồ Chí Minh, “dĩ bất biến, ứng vạn biến”, thống nhất ý chí, hành động trong toàn Đảng, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, kêu gọi mỗi cán bộ, đảng viên, đoàn viên, hội viên trong hệ thống chính trị trung với nước, hiếu với dân. Chỉ có một Đảng chân chính mới canh cánh nỗi lo chưa xây dựng đất nước giàu mạnh, chưa chăm lo chu đáo cuộc sống và hạnh phúc của nhân dân.

Lãnh tụ của Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nghiêm túc chỉ ra trách nhiệm của Đảng và Nhà nước: Chính sách của Đảng và Chính phủ là phải hết sức chăm nom đến đời sống của nhân dân. Nếu dân đói, Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân rét là Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân dốt là Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân ốm là Đảng và Chính phủ có lỗi. Vì vậy, cán bộ Đảng và chính quyền từ trên xuống dưới, đều phải hết sức quan tâm đến đời sống của nhân dân. Một Đảng mà thấy hết, nhận hết trách nhiệm khuyết điểm về mình và quyết tâm sửa chữa là một đảng cách mạng chân chính, là đạo đức, là văn minh!

Mùa Xuân đến, nghĩ về Đảng, về học tập, làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh thấy lòng mình ấm lại! Chúng ta tin tưởng tuyệt đối sự lãnh đạo của Đảng bằng nhận thức khoa học, với sự hiểu biết sâu sắc về bản chất vì dân, vì nước, vì dân tộc của Đảng! Năm mới Quý Tỵ – 2013, mỗi cán bộ, đảng viên tiếp tục tu dưỡng, rèn luyện, thấm nhuần và làm theo tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Mỗi đảng viên của Đảng phấn đấu mãi mãi là một nhành Xuân của Đảng, xây dựng Đảng thật sự trong sạch, vững mạnh, góp phần làm cho Đảng gắn bó mật thiết, máu thịt với nhân dân, làm cho đạo đức, văn minh của Đảng tỏa sáng.

http://www.ubmttq.hochiminhcity.gov.vn
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Bác Hồ – Người không có tuổi !

Một buổi sáng năm 1960, nhà thơ An-tôn-xki, người dịch “Nhật ký trong tù” vào thăm Bác tại Hà Nội. Nhà thơ viết: “Đúng 6 giờ rưỡi, chúng tôi đến chờ Người. Vừa mới bước qua ngưỡng cửa phòng khách thì từ phía cánh cửa đối diện đã bước ra một người đứng tuổi, vóc người tầm thước, với chiếc áo ka ki màu sáng và chân đi đôi dép. Người niềm nở mỉm cười. Ở đây tôi dùng chữ “đứng tuổi” là vì tôi biết rõ tuổi Hồ Chủ tịch. Đúng hơn cả, nên gọi Bác Hồ là người không có tuổi. Thật vậy, mái tóc Người đã bạc mà dáng dấp vẫn gọn gàng, nhanh nhẹn như tuổi thanh niên”.

7.a1Bác Hồ với một số người cao tuổi tiêu biểu. 

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh của chúng ta lúc đó 55 tuổi. Nhìn dáng người mảnh khảnh, đôi mắt sáng, vầng trán cao và bộ râu hơi dài, cả nước kính trọng và tôn vinh Hồ Chủ tịch là Lãnh tụ dân tộc. Báo chí thì gọi Bác là Cụ Hồ Chí Minh.

Nhà thơ Tố Hữu lúc đó chưa được gặp Bác, trong bài thơ “Hồ Chí Minh” viết ngày 26-8-1945, cũng đã gọi Bác Hồ là một người lính già:

“Hồ Chí Minh
Người lính già
Đã quyết hy sinh
Cho Việt Nam Độc Lập
Cho thế giới hoà bình…”

Một lần, một nhạc sỹ đưa một đoàn các cháu thiếu nhi vào thăm Bác. Các cháu cùng hát vang bài ca: “Ai yêu Bác Hồ Chí Minh hơn thiếu niên nhi đồng”. Khi nghe đến câu hát: “Bác nay tuy đã già rồi, già rồi nhưng vẫn vui tươi…”, Bác Hồ quay sang tươi cười, nói với đồng chí Trần Duy Hưng:

– Này chú, Bác đã già đâu nhỉ?

Có thể nói, Bác Hồ của chúng ta là một con người không chấp nhận tuổi già. Chúng ta hãy tưởng tượng, một con người 21 tuổi, với hai bàn tay trắng đã ra đi tìm đường cứu nước. Sang Pháp, rồi vượt biển lớn đi vòng quanh Châu Phi, rồi sang Mỹ, Anh, Đức, Ý, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Thuỵ Sỹ, Nga, Trung Quốc… Hầu như đi khắp các châu lục, làm nhiều nghề, vừa học vừa hoạt động cách mạng, vừa phải khôn khéo vượt qua mọi sự bắt bớ của bọn đế quốc. Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã viết: “Bây giờ nghĩ lại, tôi thấy thật lạ lùng, là một người Việt Nam trẻ tuổi, vừa đến Thủ đô Paris không bao lâu, đã thâm nhập ngay được vào đời sống chính trị tại đó, làm những việc cực kỳ quan trọng đối với dân tộc mình, đối với các dân tộc thuộc địa và góp phần hình thành chính đảng cách mạng của giai cấp công nhân Pháp”.

Chúng ta cũng biết trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Người, Bác Hồ của chúng ta đã hai lần phải vào tù, và một lần lĩnh án tử hình vắng mặt do Toà án Nam triều ở Vinh, theo lệnh nhà cầm quyền Pháp kết án ngày 11-11-1929. Năm 1931, Bác bị bắt vào nhà tù Hương Cảng, và năm 1942 ở nhà tù Tưởng Giới Thạch ở Tĩnh Tây, Trung Quốc, với bao nỗi đày ải khổ cực. Trong thời gian 1 năm 12 ngày, bị giải đi mấy chục nhà giam, chân bị cùm, răng rụng, đói và rét. Song chính trong tù ngục ấy, Bác đã để lại cho chúng ta tập thơ nổi tiếng “Nhật ký trong tù” mà ngày nay đã được in ra ở 30 nước:  Anh, Pháp, Trung Quốc, Đức, Tiệp, Nga, Tây Ban Nha, Hàn Quốc…

Khi về Pác Bó, Cao Bằng, ở trong hang đá lạnh, ăn uống thì kham khổ “Sáng ra bờ suối, tối vào hang. Cháo bẹ, rau măng, vẫn sẵn sàng…”. Một cuộc đời cách mạng gian khổ như thế, trước Đại hội Tân Trào ở lán Nà Lừa, Bác lại bị một trận ốm rất nặng. Đồng chí Võ Nguyên Giáp kể: Có đêm Bác đã dặn lại như có ý dối dăng… Thế nhưng Cách mạng Tháng Tám thành công, đã 55 tuổi, Bác Hồ vẫn ngày đêm làm việc, lái con thuyền cách mạng Việt Nam vượt qua những ghềnh thác hiểm nghèo, và Người không hề nghĩ đến tuổi già!

Ngày 19 tháng 5 năm 1946.

Lần đầu tiên nhân dân ta mừng Ngày sinh của Bác. Bác nói với Đoàn đại biểu Nam Bộ đến mừng Người: “Tôi xin cảm ơn các anh, các chị Nam Bộ đã đến chúc thọ tôi. Thật ra, các báo ở đây đã làm to cái ngày sinh của tôi, chứ 56 tuổi chưa có gì đáng chúc thọ, hãy cũng còn như thanh niên cả…” (Báo Cứu Quốc ngày 20-5-1946).

Sau này trong những bài thơ viết về tuổi thọ, Bác vẫn không chấp nhận tuổi già. Bài thơ “Không đề”, Bác viết năm 1949 tại chiến khu Việt Bắc:

KHÔNG ĐỀ

Vì nước chưa nên nghĩ đến nhà
Năm mươi chín tuổi vẫn chưa già
Chờ cho kháng chiến thành công đã
Bạn sẽ ăn mừng sinh nhật ta.

Cho đến năm 78 tuổi, trong bài thơ “Không đề” Bác Hồ vẫn viết:

KHÔNG ĐỀ

Bảy mươi tám tuổi vẫn chưa già
Vẫn vững hai vai việc nước nhà
Kháng chiến dân ta đang thắng lớn
Tiến bước ta cùng con em ta!

Anh em ở gần Bác mới thưa với Bác rằng: “Thưa Bác. 78 tuổi là già rồi ạ!”, thế là Bác chữa lại: “Bảy mươi tám tuổi chưa già mấy/ Vẫn vững hai vai việc nước nhà…”.

Sự nghiệp cách mạng vĩ đại của cả một dân tộc. Cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, mà Bác là người chèo lái, nỗi lo toan cho hạnh phúc của nhân dân và lẽ sống cao đẹp vì dân, vì nước, khiến Người đã vượt qua cái tâm lý tuổi già thông thường, để luôn hướng tới một mùa xuân đẹp đẽ của đất nước!

Ngày 19 tháng 5 năm 1946.

Một Đoàn cán bộ của Ban Vận động đời sống mới, do nhà văn Nguyễn Huy Tưởng dẫn đầu, vào chúc thọ Bác. Nhân lúc trò chuyện, nhà văn thưa với Bác:

– Thưa Cụ, nhân hôm nay đến chúc thọ Cụ Chủ tịch, xin Cụ cho Ban Đời sống mới chúng tôi một khẩu hiệu để vận động nhân dân thực hiện.

Bác Hồ vui vẻ hẳn lên, Người nói:

– Khẩu hiệu ư? Thế thì khẩu hiệu đó là: “Cần kiệm liêm chính, chí công vô tư”.

Sau một phút suy nghĩ, nhà văn lão thành đứng dậy thành thật thưa với Bác:

– Thưa Cụ Chủ tịch, khẩu hiệu đó rất hay, nhưng nghe nó cổ cổ thế nào ấy ạ!

Bác Hồ cười:

– Ơ hay! Sao lại cổ? Các cụ ta xưa ăn cơm, bây giờ chúng ta ăn cơm vẫn thấy ngon. Thế thì nó cổ chỗ nào? Cái hay của Tổ tiên thì chúng ta phải học.

Ngày 10 tháng 5 năm 1965.

Năm ấy, Bác Hồ của chúng ta vừa tròn 75 tuổi!

Đúng 9 giờ sáng hôm ấy, Người ngồi vào bàn viết Bản Di chúc “Tuyệt đối bí mật”. Năm ngày sau, ngày 14-5 Người đã viết xong Bản Di chúc lịch sử và tự tay đánh máy. Cuối tài liệu Bác ghi: Hà Nội ngày 15 tháng 5 năm 1965 và ký tên Hồ Chí Minh.

Tối hôm đó, các đồng chí trong Bộ Chính trị vào mừng thọ Bác 75 tuổi. Một bó hoa tươi được đặt trang trọng trên bàn. Đồng chí Trường Chinh thay mặt, nói mấy lời chúc thọ Bác.

Bác xúc động nói:

– Bác cảm ơn các chú đã có lòng, nhưng trong lúc toàn dân ta đang kháng chiến gian khổ, mọi việc hết sức khẩn trương, mà lại đi chúc thọ một cá nhân như thế này là không nên!

Mọi người có mặt trong căn phòng đều lặng yên, suy nghĩ… Bác Hồ của chúng ta là như thế đó! Trong cả cuộc đời mình, Người luôn đặt lợi ích chung lên trên lợi ích riêng,“Nâng niu tất cả, chỉ quên mình!”.

Ngày 19 tháng 5 năm 1969.

Hồi này sức khoẻ của Bác đã yếu! Đúng 9 giờ, Bác lại ngồi vào bàn xem lại Bản Di chúc đã viết. Người đọc lại rất kỹ toàn bộ các bản viết trong 4 năm qua và chữa lại một số chữ. Trong câu “Khi người ta đã ngoài 70 tuổi”, Bác chữa lại là “70 xuân!”.

Buổi sáng, Bác hỏi đồng chí Vũ Kỳ:

– Cháu Trỗi hy sinh cách đây đã gần 5 năm rồi chú nhỉ?

Đồng chí Vũ Kỳ thưa với Bác:

– Thưa Bác, anh Trỗi hy sinh ngày 16 tháng 10 năm 1964, đến nay đã gần 5 năm!

Một thoáng buồn, rồi Bác bảo đồng chí Cẩn nấu món ăn theo kiểu Nam Bộ để Bác mời khách. Trưa hôm ấy, Bác mời đồng chí Phạm Văn Đồng sang cùng tiếp khách. Khách mời của Bác hôm ấy là hai cháu gái miền Nam, chị Phạm Thị Quyên vợ anh Trỗi và chị Nguyễn Thị Châu.

Không ai ngờ, đó là ngày 19 tháng 5 cuối cùng trong cuộc đời 79 mùa xuân của Bác!

Bác Hồ kính yêu của chúng ta là như thế đó. Bằng một nghị lực phi thường, và trí tuệ siêu việt Người đã suốt đời lãnh đạo toàn Đảng, toàn dân ta làm cách mạng. Người nói: “Xưa nay, những người yêu nước không vì tuổi già mà chịu ngồi không!”.

Trước kia, khi chưa gặp Bác, nhà thơ Tố Hữu viết: “Hồ Chí Minh người lính già/ Đã quyết chí hy sinh…”. Nay được ở gần Bác, nhà thơ lại viết: “Hồ Chí Minh – Người trẻ mãi không già”. Và “Không gì vui bằng mắt Bác Hồ cười. Quên tuổi già, tươi mãi tuổi đôi mươi!”.

Bác Phạm Văn Đồng đã nói: “Tưởng nhớ Hồ Chí Minh là biến khẩu hiệu “Hồ Chí Minh sống mãi trong sự nghiệp của chúng ta” thành tư tưởng, tình cảm và hành động của mỗi người cộng sản và mỗi người dân”./.

Bùi Công Bính
Theo baonamdinh.com.vn
Kim Yến
(st)

bqllang.gov.vn

Mùa Xuân Tân Tỵ 1941 Bác Hồ trở về Pác Bó !

6. 1 bh 1941
Bác Hồ về Pác Bó, Cao Bằng (28/1/1941).

Sau 30 năm đi tìm đường cứu nước, mùa Xuân Tân Tỵ năm 1941, Bác Hồ của chúng ta đã trở về Tổ quốc!

Có cái gì đó giống như một câu chuyện cổ tích, kể về một chàng trai từ biệt quê hương. Anh đã ra đi, vượt qua biết bao núi cao, rừng rậm, biển cả… vượt qua biết bao thử thách, đói rét, tai ương… Và sau 30 năm ròng rã anh đã trở về, đem theo một cuốn sách quý thần kỳ…

Trong bài: “Sen của loài người”, nhà thơ Chế Lan Viên đã viết:

“Văn chương thế giới hay dùng chữ thần kỳ khi nói đến Hồ Chí Minh. Chỉ riêng việc “đi” của Người đã lắm nét thần kỳ. Nơi nào là nơi Người chưa đến trên thế giới?”. Ba mươi năm đi khắp các châu lục để tìm đường cứu nước. Một nhà nghiên cứu đã nói: Đó là một cuộc đi dài nhất so với mọi cuộc đi của bất cứ một anh hùng, chí sĩ nào đầu thế kỷ, và cũng có thể nói, đó là một cuộc đi dài nhất so với bất kỳ một lãnh tụ cách mạng nào trên thế giới! (1911-1941).

Mảnh đất Tổ quốc đầu tiên được đón bước chân Bác Hồ, là cái bản nhỏ Pác Bó, xã Trường Hà, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng. Và chính ở nơi đây, trong những ngày đầu trở về Tổ quốc, Bác đã viết bài thơ:

Pác Bó hùng vĩ

Non xa xa, nước xa xa

Nào phải thênh thang mới gọi là

Đây suối Lê-nin, kia núi Mác

Hai tay gây dựng một sơn hà.

Tháng 2-1941

Đại tá Dương Đại Lâm, quê ở Pác Bó kể lại: Sau cái đêm đầu tiên nghỉ lại tại nhà một đồng bào Nùng có cảm tình với cách mạng, hôm sau Máy Lỳ – người chủ nhà – dẫn Bác và mấy đồng chí vừa về nước, theo một con đường nhỏ chạy ngoằn ngoèo qua rừng, lên một ngọn núi đá. Từ bờ suối trèo lên phải qua một đoạn dốc khá dài, cây cối rậm rạp, mới lên tới cửa hang. Hang không rộng lắm, có hai ba ngách nhỏ. Trong một ngách có tảng đá khá to, bằng phẳng, sau này mọi người gác cây rồi rải lá lên làm giường nằm. Gần đấy, một con suối nhỏ chảy quanh các tảng đá, rồi đổ xuống phía dưới, tung những bọt trắng xoá. Bác hỏi, Máy Lỳ bảo: “Ở đây mọi người gọi hang này là Cốc Bó, có nghĩa là đầu nguồn!”.

Vốn là một người yêu thích thiên nhiên, Bác tỏ vẻ thích thú. Khi đi xem cảnh vật chung quanh, nhìn ngắm mãi ngọn núi đá hùng vĩ, Bác bảo với mọi người:

– Chúng ta sẽ đặt tên cho ngọn núi này là Núi Các – Mác, còn dòng suối đẹp kia, nước trong vắt bắt nguồn từ ngọn núi ra, chúng ta sẽ gọi là Suối Lê-nin!

Tất cả mọi người đều tỏ vẻ tán thưởng!

Có người nói, nghĩ đến Bác Hồ là chúng ta nghĩ ngay đến sông núi, đất nước, và chính Bác cũng là người đặt tên cho đất nước, sông núi mình. Ngọn núi Các – Mác và dòng suối Lê-nin không những là biểu tượng cho một con đường cách mạng vĩ đại mà cả dân tộc ta ngay từ đầu đã lựa chọn, mà còn làm cho vùng đất núi non này như xa, rộng hẳn ra, gắn liền Việt Nam với Cách mạng thế giới!

Cũng ở hang Pác Bó này Bác Hồ còn viết bài thơ:

Tức cảnh Pác Bó

Sáng ra bờ suối, tối vào hang
Cháo bẹ, rau măng vẫn sẵn sàng
Bàn đá chông chênh dịch sử Đảng
Cuộc đời cách mạng thật là sang!

                                    Tháng 2-1941

Đồng chí Vũ Kỳ kể lại: “Hành trang theo Bác trở về Pác Bó vẻn vẹn chỉ có một chiếc va ly xách tay bằng mây, trong đựng hai bộ quần áo đã cũ. Và tập tài liệu “Con đường giải phóng” tập hợp những bài giảng trong lớp huấn luyện ở Nậm Quang (Quảng Tây, Trung Quốc) do Bác phụ trách vừa mới kết thúc trước Tết mấy hôm”.

Về Pác Bó, Bác thường mặc bộ quần áo dân tộc Nùng, màu chàm, ống tay rộng. Thức ăn của Bác và anh em chỉ có rau bí, rau rừng, măng đắng, và ốc bắt ở suối. Tháng giáp hạt, nhân dân ăn độn ngô, Bác cũng ăn cháo, ăn ngô. Trời mưa, hang núi ướt lạnh thấu xương, từ các nhũ đá nước nhỏ giọt xuống đều đều không dứt. Để đỡ lạnh, mọi người phải đốt một đống lửa nhỏ. Nhưng thời gian này, Bác đã viết hàng chục bài thơ tuyên truyền cách mạng. Và cũng từ đây, trong hang đá đại bản doanh này, tháng 5 năm 1941, Hội nghị Trung ương lần thứ 8 của Đảng ta đã họp, định ra đường lối đấu tranh giải phóng dân tộc.

Hai mươi năm sau, Bác Hồ lại trở về thăm lại Pác Bó. Người viết bài thơ:

Thăm lại hang Pác Bó

Hai mươi năm trước ở hang này
Đảng vạch con đường đánh Nhật, Tây
Lãnh đạo toàn dân ra chiến đấu
Non sông gấm vóc có ngày nay!

                              Ngày 20-2-1961

Trong bài thơ này, không một chữ nói về mình, Bác chỉ nhắc đến Đảng, đến Dân, đến non sông gấm vóc! Với người khác, khi đi xa trở lại, thường kể về những ngày đầu gian khổ, nhưng Bác thì không! Bác Hồ của chúng ta là thế đó! “Nâng niu tất cả chỉ quên mình” (Tố Hữu).

Trong thời kỳ cách mạng và kháng chiến, trước sau Bác Hồ đã sống với đồng bào các dân tộc Việt Bắc trên 12 năm. Và núi rừng Việt Bắc, Chiến khu của Cách mạng, cũng đã trở thành tình sâu nghĩa nặng với Đảng, với Bác Hồ, trở thành niềm tin yêu, hy vọng của cả nước trong những ngày kháng chiến gian khổ:

“Ở đâu u ám quân thù
Nhìn lên Việt Bắc cụ Hồ sáng soi”

Tố Hữu

Nói đến Việt Bắc, là nói đến “Mái đình Hồng Thái, cây đa Tân Trào”,  nói đến những an toàn khu Định Hoá (Thái Nguyên), Chiêm Hoá (Tuyên Quang) trong kháng chiến, nói đến Pác Bó, đã trở thành thơ, thành Di tích lịch sử Cách mạng cho muôn đời con cháu!

Mùa Xuân này trở lại Pác Bó thăm vùng đất “Đầu nguồn” Cách mạng, lòng chúng ta lại bồi hồi nhớ đến Bác kính yêu!

Năm 1911, một buổi sáng Nguyễn Tất Thành đã nói với một người bạn thân:

– Lê này, mình đã quyết định ra nước ngoài, đến nước Pháp và các nước khác. Mình muốn biết ở đấy họ sống và lao động ra sao, rồi sau đó sẽ trở về nước để giúp đỡ đồng bào mình.

– Cậu lấy tiền đâu để đi? Người bạn ngạc nhiên hỏi.

Nguyễn Tất Thành giơ hai bàn tay ra:

– Đây, tiền đây! Mình sẽ lao động, sẽ làm bất cứ việc gì để sống và hoạt động…

Thế rồi, chuyến đi lịch sử đã diễn ra. Ngày 5 tháng 6 năm 1911, Bến cảng Nhà Rồng tấp nập. Tàu đô đốc La-tút-sơ Trê-vin, một tàu lớn đang đón khách và lấy hàng. Một thanh niên mảnh khảnh, dáng học trò, bước đến trước viên Thuyền trưởng:

– Tôi đến để làm phụ bếp. Tên tôi là Văn Ba (anh là con thứ ba trong gia đình).

Và 30 năm sau, một con người đã mang hàng trăm tên, làm 12 nghề khác nhau, biết hơn 12 thứ tiếng, đã từng đi qua khắp các châu lục trên thế giới lại trở về Tổ quốc thân yêu của mình. Suốt 30 năm trời đằng đẵng, Người chỉ ước mong cái ngày hôm ấy. Đã nhiều lần, Bác tìm cách về nước, nhưng giặc Pháp giăng lưới cảnh sát dày đặc ở dọc biên giới. Trong khi đó Bác đã bị bọn thực dân Pháp và chính phủ Nam Triều kết án tử hình vắng mặt. Còn bây giờ, tình hình thế giới và trong nước có nhiều thuận lợi, phải gấp rút tìm mọi cách trở về lãnh đạo cách mạng.

Và Pác Bó, Cao Bằng, mảnh đất vùng biên giới đã có cơ sở cách mạng từ năm 1937 này, đã được Bác Hồ chọn là nơi về nước. Và thật không ngờ, ngày trở về Tổ quốc của mình lại đúng vào những ngày Tết, những ngày Xuân Việt Nam. Hoa mơ nở trên những cánh rừng biên giới như lặng lẽ chào đón người con thân yêu nhất của mình, trở về với một ước mơ lớn. Nhưng thời điểm đó không phải là ngẫu nhiên, chúng ta nhớ Hội nghị thành lập Đảng ở Cửu Long (Trung Quốc) Bác cũng chọn vào ngày mùng 5 Tết Canh Ngọ. Những ngày Tết dân tộc cổ truyền, là dịp thuận lợi nhất để che mắt địch.

Ngày trở về Pác Bó, Bác Hồ của chúng ta đã 51 tuổi. Và Người lại nhắc lại hình ảnh “Hai bàn tay” trong bài thơ Pác Bó của mình:

“Đây suối Lê-nin, kia núi Mác
Hai tay gây dựng một sơn hà”

Nhưng bây giờ không phải là hai bàn tay trắng lúc ra đi. Hai bàn tay ấy, hôm nay đã có chủ nghĩa Mác – Lê-nin dẫn đường, có đông đảo đồng bào, đồng chí và núi rừng cách mạng chở che.

Trước mắt Người đã là Mùa Xuân Tổ quốc, dù mới chỉ là mùa Xuân trên một cánh rừng biên giới. Song thật là kỳ diệu, lịch sử đã đi những bước đi ngàn dặm. Chỉ bốn năm sau, tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, ngày 2 tháng 9 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dõng dạc tuyên bố với thế giới: Một nước Việt Nam Độc lập, Tự do, Thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ!

Non sông gấm vóc đã mở ra một thời đại mới, một thời đại mang tên Người – Thời đại Hồ Chí Minh!

 Bùi Công Bính
Theo baonamdinh.com.vn
Kim Yến
(st)

bqllang.gov.vn

Bác Hồ với mùa Xuân Hà Giang

Mùa Xuân như có một cái gì đó định mệnh gắn liền với Bác Hồ kính yêu của chúng ta. Có thể bắt đầu từ mùa Xuân năm 1930, khi cách mạng thế giới có những bước phát triển thuận lợi, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc với tư cách là đại biểu của Quốc tế Cộng sản, ngày 3.2.1930, Người đã sáp nhập ba tổ chức Cộng sản, thành lập Đảng Cộng sản Đông Dương (nay là Đảng Cộng sản Việt Nam), tại Hương Cảng, Trung Quốc, đánh dấu một bước ngoặt lịch sử vĩ đại, mở ra một thời kỳ mới của cách mạng vô sản theo học thuyết Mác.

5.a1
Ảnh Tư liệu

Những năm tháng hoạt động cách mạng ở nước ngoài, Bác luôn hướng về Tổ quốc, cùng Đảng tổ chức, lãnh đạo cách mạng Việt Nam đứng lên từng bước đấu tranh giành độc lập tự do cho dân tộc. Để rồi từ Bến Cảng Sài Gòn năm 1911, Bác ra đi tìm đường cứu nước, đúng vào mùa Xuân năm 1941, khi thời cơ cách mạng đã đến, Người từ Trung Quốc trở về Tổ quốc ngày 28.1.1941 tại vùng biên giới tỉnh Cao Bằng, trực tiếp cùng Đảng lãnh đạo cách mạng Việt Nam đứng lên đánh Pháp, đuổi Nhật, làm nên Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa – Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á. Con đường đi làm cách mạng của Người là cả một chặng đường lịch sử gắn với vận mệnh dân tộc. Có một nhà thơ đã viết: Cuối trời Bác đi ngàn sóng tiễn/ Ngày về hoa nở thắm vùng biên/ Ba mươi năm thức tìm chân lý/ Lập nước Việt Nam sáng vạn niên.

Mùa Xuân này Bác đã đi xa 44 năm. Với Hà Giang, kể từ mùa Xuân 1961 Người lên thăm Đảng bộ và đồng bào các dân tộc tỉnh nhà, đến nay đã 52 năm. Vậy là hơn nửa thế kỷ, trong trái tim đồng bào 22 dân tộc Hà Giang, hình ảnh Bác Hồ vẫn in đậm trong trái tim mỗi người dân như cơm ăn nước uống hàng ngày… Nhớ lại những tháng năm ấy, giữa lúc miền Bắc đang đẩy mạnh hàn gắn vết thương chiến tranh,kiến thiết đất nước tiến lên xây dựng XHCN, nửa nước – miền Nam vẫn còn dưới ách cai trị của đế quốc Mỹ xâm lược. Mặc dù bận trăm công ngàn việc, Bác Hồ đã lên thăm Hà Giang – một tỉnh biên cương cực Bắc của Tổ quốc, thể hiện tình cảm, trách nhiệm của Đảng, Chính phủ, của Người với đồng bào các dân tộc. Ngày lên thăm Hà Giang, trước Lễ đài tại sân vận động Người căn dặn: “Đảng bộ và nhân dân các dân tộc trong tỉnh phải đoàn kết, ra sức tăng gia, sản xuất, phát triển chăn nuôi, khai thác lâm thổ sản, giữ gìn vệ sinh và cố gắng xóa mù chữ. Các dân tộc từ huyện đến khu cần phải ra sức giúp đỡ đồng bào rẻo cao…”. Thực hiện lời dạy của Người, những năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, Chính phủ, được sự giúp đỡ trách nhiệm của các bộ, ngành Trung ương, trực tiếp là Đảng bộ Hà Giang, 22 dân tộc anh em trong tỉnh luôn đoàn kết bên nhau, vượt qua nhiều khó khăn gian khổ, thách thức, không cam chịu đói nghèo, lạc hậu, thực hiện công cuộc đổi mới của Đảng… đã từng bước đưa Hà Giang vươn lên xóa đói giảm nghèo, phát triển kinh tế – xã hội, giữ vững quốc phòng – an ninh, xây dựng hệ thống chính trị ngày càng vững mạnh, luôn xứng đáng là một tỉnh phên giậu vững chắc biên cương của Tổ quốc. Từ một tỉnh sau tái lập thuộc diện nghèo nhất nước, sau 21 năm chia tách, Hà Giang đã vươn lên trở thành tỉnh có nền kinh tế tốc độ tăng trưởng luôn cao, năm 2012 đạt 10,78%; thu nhập bình quân đầu người đạt 11, 1 triệu đồng/năm; thu ngân sách trên địa bàn đạt trên 1.200 tỷ đồng, tăng cao so các năm trước. Đặc biệt tỷ lệ huy động trẻ em trong độ tuổi đến trường đạt 98%; tỷ lệ hộ nghèo giảm còn 30,06%; tỷ lệ tăng dân số tự nhiên còn 1,76%; tỷ lệ che phủ rừng đạt 55,6%; tỷ lệ dân cư nông thôn được sử dụng nước sạch 64, 5%v.v… Đến nay 100% các xã có đường ô tô trải nhựa đến trụ sở, nhiều xã có đường ô tô xuống thôn. Chương trình: Điện, đường, trường, trạm của tỉnh từ đại hội Đảng bộ tỉnh khóa XIII đã làm thay đổi diện mạo nông thôn, đặc biệt ở vùng sâu, xa, biên giới nâng lên rõ nét. 100% các xã có trụ sở làm việc của UBND, nhà trạm xá xã, trường học cao tầng, điện về xã, có nhiều nơi đến thôn… Chương trình bể nước, mái nhà, con bò ở 4 huyện vùng cao nguyên đá Đồng Văn đã cơ bản giúp cho gần 20 vạn đồng bào thoát khỏi cảnh thiếu nước trầm trọng vào mùa đông. Kinh tế thị trường đã tỏa sâu vào tận xóm thôn, làng bản, đồng bào các dân tộc thiểu số không còn xa lạ với từ kinh tế hàng hóa. Bà con ở vùng cao phía Bắc hay phía Tây… của tỉnh đã biết trồng cỏ để phát triển chăn nuôi bò hàng hóa, từ đó hình thành chợ bò ở huyện Mèo Vạc, Đồng Văn, Yên Minh… Trong lao động sản xuất, XĐGN đã xuất hiện hàng ngàn hộ đồng bào thiểu số lao động giỏi, XĐGN nhanh… Các chương trình đưa báo chí như: PT-TH đến với bà con đạt từ 92 đến 98%; báo Hà Giang và các loại báo ngành trung ương đã đến tận thôn, bản, trường học… không ngừng nâng cao dân trí cho đồng bào… Đặc biệt chương trình xây dựng nông thôn mới do Đảng ta lãnh đạo, hơn 2 năm qua bộ mặt nông thôn Hà Giang như một công trường xây dựng, được gắn với các chương trình, dự án đã nâng cao hiệu quả đầu tư, cộng sự đóng góp của nông dân bước đầu tạo cho nông thôn ở miền núi, biên giới vùng sâu, xa một nền tảng vững chắc để đồng bào xây dựng cuộc sống mới.

Mùa xuân mới lại về trên quê hương Hà Giang. Thị xã Hà Giang ngày Bác lên thăm nay đã thành thành phố khang trang, xanh, sạch, đẹp… Đồng bào các dân tộc Hà Giang đang phấn khởi đón xuân về, trong những cành đào, mận, lê trắng muốt… rộ nở khắp núi rừng, bà con các dân tộc như thấy Bác đang về thăm Hà Giang cùng mùa xuân. Hà Giang đang từng bước thực hiện rất tốt lời căn dặn của Người.

Theo Báo Hà Giang
Tâm Trang (st)

bqllang.gov.vn

Kỷ vật và kỷ niệm với Bác Hồ

Câu chuyện đã qua tròn nửa thế kỷ nhưng ông vẫn nhớ rành rọt lắm. Nhất là mỗi lần ngắm nhìn chiếc phù hiệu, thẻ ra vào và giấy giới thiệu là ông lại rưng rưng nhớ tới kỷ niệm với Bác Hồ kính yêu…

Vào cuối năm 1961, Bác Hồ về thăm quê hương Nghệ An lần thứ hai từ ngày 8 đến ngày 10-12-1961. Để phục vụ cho chuyến đi của Bác Hồ về Nghệ An và sau đó thăm tỉnh Thanh Hóa bảo đảm an toàn, Cục Không quân đã cử Thiếu úy Hoàng Ngọc Mạnh, lúc ấy đang là Trợ lý Điều phái Chỉ huy Sở – Ban Tác chiến – Cục Không quân đi trước đến hai tỉnh Nghệ An và Thanh Hóa để liên hệ công tác làm nhiệm vụ xác định vị trí, chọn địa điểm để máy bay trực thăng chở Bác có thể cất cánh và hạ cánh an toàn. Trước khi đi công tác, Thiếu úy Hoàng Ngọc Mạnh được Cục Không quân cấp giấy giới thiệu số 845 ngày 6-12-1961 (hạn đến ngày 16-12-1961). Khi đến tỉnh Nghệ An đồng chí được Công an tỉnh Nghệ An cấp phù hiệu ngày 7-12-1961 có dòng chữ “Lam – Trà nổi sóng”. Nghĩa của dòng chữ này xuất phát từ năm 1960, tại Nghệ An có phát động phong trào An – Ngãi quật khởi, “Lam – Trà nổi sóng” vừa là phong trào, vừa thể hiện tấm lòng của Nghệ An đối với miền Nam tiền tuyến lớn anh hùng mà cụ thể là với tỉnh Quảng Ngãi kết nghĩa. Phù hiệu chỉ cấp trong nội bộ và được ra vào bí mật. Ngày 11-12-1961 khi ra tới Thanh Hóa, Hoàng Ngọc Mạnh còn được Công an tỉnh Thanh Hóa cấp tiếp một thẻ ra vào. Ông đã sử dụng giấy giới thiệu, phù hiệu, thẻ để ra vào Tỉnh ủy, Tỉnh đội, Công an tỉnh, Ủy ban Hành chính của hai tỉnh Thanh Hóa – Nghệ An thực hiện nhiệm vụ trong suốt quá trình công tác của mình từ ngày 7 đến ngày 12-12-1961.

3. ky vatGiấy giới thiệu, phù hiệu của CCB Hoàng Ngọc Mạnh.

 Trong chuyến công tác này, có một kỷ niệm sâu sắc với Bác Hồ mà Hoàng Ngọc Mạnh không bao giờ quên. Ông nhớ lại: “Vào lúc 23 giờ đêm 10-12-1961, sau khi liên hoan, xem biểu diễn văn nghệ chia tay quê hương Nghệ An để sáng hôm sau Bác Hồ ra thăm tỉnh Thanh Hóa, Tỉnh ủy Nghệ An đã tổ chức cuộc họp đột xuất thống nhất kế hoạch để sáng hôm sau Bác Hồ ra thăm Thanh Hóa. Cuộc họp có sự tham gia của đồng chí Phạm Kiệt, Thứ trưởng Bộ Công an cùng các cán bộ chủ chốt của tỉnh Nghệ An và đại diện một số ban, ngành liên quan. Đang họp thì Bác trở về, đi qua phòng họp của Tỉnh ủy. Bác vào phòng và hỏi:

– Các đồng chí đang làm gì ở đây?

Đồng chí Phạm Kiệt đứng lên trả lời Bác:

– Thưa Bác, chúng cháu đang họp chuẩn bị kế hoạch để sáng mai Bác ra thăm Thanh Hóa.

– Tình hình máy bay ngày mai thế nào? Xăng dầu có đủ không? Bác hỏi.

Đồng chí Phạm Kiệt bảo tôi trả lời Bác. Tôi nói:

– Thưa Bác! Máy bay tốt, xăng dầu đủ và còn thừa ạ.

– Thế các anh em phi công ăn, ngủ ở đâu?

– Dạ thưa Bác, anh em phi công ăn ngủ ở giao tế ạ (giao tế là nơi đón tiếp, nghỉ ngơi của nhiều Đoàn khách cán bộ cao cấp trong nước và bạn bè quốc tế).

Bác lại hỏi:

– Giao tế ở đâu? Cách đây bao xa? Bác muốn qua thăm anh em.

Vì đã khuya, ngoài trời rất lạnh và muốn Bác về ngủ giữ sức khỏe để mai còn lên đường nên tôi đã trả lời:

– Dạ thưa Bác xa lắm, cách đây khoảng hơn 400m ạ.

Bác cười:

– Cách đây có hơn 400m mà đồng chí bảo xa.

Tôi suy nghĩ rất nhanh rồi trả lời:

– Thưa Bác, bây giờ đã là 11 giờ, để bảo đảm sức khỏe các đồng chí trong tổ bay đã đi ngủ từ lúc 8-9 giờ tối.

Khi nghe xong câu trả lời của tôi, Bác nói:

– Đồng chí nói thế thì mới đúng, chứ cách đây có hơn 400m mà bảo xa thì không xa.

Bác mỉm cười rồi nói tiếp:

– Các đồng chí tiếp tục làm việc đi, Bác về phòng đi ngủ.

Câu chuyện và kỷ niệm gắn với chuyến công tác phục vụ Bác Hồ về thăm hai tỉnh Nghệ An – Thanh Hóa 50 năm trước vẫn còn nguyên vẹn trong ký ức người lính không quân năm xưa. Cựu chiến binh Hoàng Ngọc Mạnh đã cất giữ cẩn thận giấy giới thiệu, phù hiệu và thẻ ra vào như một kỷ vật quý của mình và gia đình. Ngày 8-8-2011 vừa qua, ông đã trao tặng cho Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam…

Theo qdnd.vn
Thúy Hằng (st)

bqllang.gov.vn

Nhất tề xông lên trừng trị quân xâm lược và tay sai bán nước

QĐND Online – Đó là lời kêu gọi đồng bào, cán bộ, chiến sĩ đứng lên tiêu diệt quân Mỹ, ngụy trong cái Tết của 45 năm trước, được thể hiện trong Mệnh lệnh Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968.

Mệnh lệnh quan trọng ấy được đồng chí Nguyễn Hữu Thọ, thay mặt Ủy ban Trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, ký ngày 30-1-1968, hiện đang được trưng bày tại Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam (28A, Điện Biên Phủ, Hà Nội).

Với nội dung được đề cập trong Mệnh lệnh, khách tham quan tại bảo tàng có thể hiểu được bối cảnh lịch sử lúc bấy giờ, khi cuộc đấu tranh cứu nước của nhân dân miền Nam thu được nhiều thắng lợi liên tiếp; quân Mỹ đang bị động, thất bại, sa lầy nghiêm trọng và ngụy quân đang trên đã rệu rã.

Tết Nguyên đán Mậu Thân 1968, thể theo nguyện vọng của toàn thể đồng bào, theo phong tục cổ truyền của dân tộc, Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam ra lệnh cho các lực lượng của ta ngừng tiến công quân sự trong 7 ngày để mọi người được yên ổn, vui vẻ ăn Tết.

Mệnh lệnh Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 của Ủy ban Trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam.

“Để che lấp dã tâm đen tối của bọn chúng, bọn Mỹ và Thiệu, Kỳ cũng phải nói đến ngừng bắn và chúng chỉ nói ngừng bắn trong 48 giờ. Nhưng rồi chúng lại tráo trở rút xuống còn 36 giờ….Cuối cùng, hồi 14 giờ ngày 30-1, chúng đã thủ tiêu hoàn toàn lệnh ngừng bắn gian trá của chúng”, Mệnh lệnh ghi rõ.

Tiếp đó, địch đã sử dụng máy bay, pháo binh bắn phá các nơi dân cư đông đúc; cấm trại 100% nhân viên và binh sĩ ngụy. Và như vậy, địch đã không để cho đồng bào ta và ngay cả ngụy quân, ngụy quyền yên ổn vui Tết.

Mệnh lệnh nêu rõ: “Trước tình hình như vậy, Đoàn chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận hạ lệnh cho tất cả các lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng, các lực lượng đấu tranh chính trị, toàn thể hội viên các hội giải phóng hãy sát cánh cùng các lực lượng yêu nước khác và toàn thể đồng bào nhất tề xông lên quyết trừng trị đích đáng quân Mỹ xâm lược và bọn Thiệu, Kỳ tay sai bán nước”.

Với cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, chúng ta đã giáng cho quân Mỹ, ngụy những đòn bất ngờ và choáng váng, góp phần làm thay đổi tương quan lực lượng và cục diện trên chiến trường. Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy đã góp phần quan trọng vào công cuộc giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất nhất Tổ quốc của dân tộc ta.

Bài, ảnh: PHẠM HOÀNG HÀ
qdnd.vn

Mỏ neo trong “Tết Mậu Thân – 1968”

Bình luận viên W.Cron-kai-tơ:

QĐND – Được đánh giá là chiếc mỏ neo của truyền thông Mỹ, W.Cron-kai-tơ (1916-2009) đã làm việc suốt hai thập kỷ (1962-1981) trên buổi phát tin tối của kênh CBS. Ở thời hoàng kim (1960-1970) của kênh truyền hình này, ông được xem là “người đáng tin cậy nhất nước Mỹ”. Sinh thời, ông đã tường thuật nhiều sự kiện lớn nhất trong thế kỷ 20 của nước Mỹ như Thế chiến II, tòa án Nu-rem-béc (Nuremberg) xử tội phạm phát xít, cuộc chiến tranh Việt Nam, các chương trình chinh phục vũ trụ của Mỹ, vụ ám sát Tổng thống Giôn Ken-nơ-đi (John Kennedy)…

Thả chệch neo tại “Vịnh Bắc Bộ”

Ngày 12-8-2004, nhân kỷ niệm 40 năm sự kiện Vịnh Bắc Bộ, W.Cron-kai-tơ (Walter Cronkite) có bài bình luận trên Đài Phát thanh quốc gia Hoa Kỳ NPR nhan đề Cuộc tiến công của những con ma trên Vịnh Bắc Bộ: Sai sót tình báo góp phần dẫn đến quyết định đánh Việt Cộng (Gulf of Tonkin’s Phantom Attack: Faulty Intelligence Played Role in Decision to Engage Viet Cong). Qua bài này, Cron-kai-tơ muốn tự bào chữa cho truyền thông Mỹ và bản thân ông vào năm 1964 đã bị “nhử” vào dàn đồng ca về “vụ Vịnh Bắc Bộ” của chính quyền Giôn-xơn (Johnson), chỉ vì “đã quá tin vào các báo cáo chính thức”.

Những diễn biến tiếp theo của cuộc chiến tranh cục bộ ở Việt Nam hẳn đã làm con người có lương tri Cron-kai-tơ tìm kiếm cơ hội “phản pháo”, hoàn trả cho mô hình “súng và bơ” bộ mặt thật của nó. Sang Nam Việt Nam về sau khi cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân nổ ra, Cron-kai-tơ đã đăng đàn phát biểu trên CBS News ngày 27-2-1968, khi cao điểm đợt 1 các “làn sóng tiến công của Việt Cộng” dâng tràn trên các kênh truyền thông Mỹ.

Tết 1968: Lời nói đọi máu

Phong trào chống chiến tranh ở Mỹ hôm nay vẫn nhớ những lời bình luận quả cảm của Cron-kai-tơ trong đêm 27-2-1968. Sau khi ông kết bài bình luận bằng câu: “Đây là Cron-kai-tơ. Chúc ngủ ngon”, thì lương tri Mỹ bắt đầu những đêm mất ngủ, sẽ kéo dài suốt 7 năm sau.

Bình luận của Cron-kai-tơ có tựa đề gây chấn động: “Chúng ta đang ngập vào vũng lầy không lối thoát”. Ông bắt đầu như sau:

“Hôm nay, trở lại với không gian quen thuộc quanh Niu Y-oóc, chúng tôi muốn tóm tắt những gì đã tai nghe mắt thấy ở Việt Nam, trong một phân tích có tính suy đoán, riêng biệt, tự cảm nhận. Ai thắng, ai thua trong cuộc tiến công đại quy mô các thành phố? Tôi không biết. Việt Cộng đã không thắng được nhờ một đòn nốc ao, nhưng chúng ta cũng vậy. Lịch sử sẽ phán xét và sẽ rút ra bài học…”.

Một câu trong bình luận, được dẫn rất nhiều trong sách báo phương Tây:

“Chúng ta đã quá thường xuyên phải thất vọng bởi sự lạc quan của các nhà lãnh đạo nước Mỹ, ở cả Việt Nam lẫn Hoa Kỳ, đến mức khó có thể tiếp tục tin vào những an ủi giữa cơn bĩ cực mà họ vẫn tìm thấy trong những đám mây đen tối nhất”.

W.Cron-kai-tơ trầm ngâm giữa đường phố Hà Nội, đầu năm 1973.

Tổng thống Giôn-xơn than thở sau buổi phát hình ngày 29-2-1968 của Cron-kai-tơ: “Mất Cron-kai-tơ, có nghĩa là tôi mất tầng lớp trung gian ủng hộ chính quyền. Ba tuần sau, Giôn-xơn lên truyền hình tuyên bố sẽ không tìm cách tái cử tổng thống một nhiệm kỳ nữa và quyết tìm giải pháp cho chiến tranh qua đàm phán với đối phương.

1968: Năm bạo lực và chia rẽ ở Mỹ

Sau những phát súng của Tết Mậu Thân “như nổ trên đường phố Hoa Kỳ” và tuyên bố “làm thế giới sửng sốt” của Tổng thống Giôn-xơn (31-3) là cuộc ám sát Lu-thơ Kinh (Luther King), lãnh tụ phong trào đòi bình quyền của người da đen (4-4), dẫn đến loạt bạo động trên khắp nước Mỹ, cuộc ám sát ứng cử viên hòa bình Đảng Dân chủ Rô-bớt Ken-nơ-đi (Robert Kennedy) (5-5)… Trong thời gian Hội nghị Đảng Dân chủ đề cử ứng cử viên tổng thống cuối tháng 8-1968, Đảng này chia tách thành hai phái: Ủng hộ và phản đối chiến tranh. Từ 26 đến 29-8 những người biểu tình ủng hộ ứng viên hòa bình Mắc Ca-thi (McCarthy) tuần hành một cách ôn hòa trên các đường phố chính của Chi-ca-gô (Chicago), nơi diễn ra hội nghị Đảng Dân chủ. Nhưng ở cao điểm, chiều 27-8, nhiều người biểu tình “chiếm” ngọn đồi trong Công viên Lớn (Grand Park), phất cờ của Mặt trận giải phóng và “Bắc Việt Nam”. Thống đốc Chi-ca-gô thuộc phe chủ chiến trong Đảng Dân chủ, điều cảnh sát và 6000 vệ binh quốc gia tới đàn áp cuộc biểu tình. Toàn nước Mỹ xem tường thuật trực tiếp cuộc động loạn này, chia sẻ với bình luận của Cron-kai-tơ trên kênh CBS, sự căm phẫn với chính sách thẳng tay đàn áp của nhà cầm quyền…

Sinh viên Mỹ giương cờ Việt Nam dân chủ cộng hòa và cờ Mặt trận dân tộc giải phóng tại Công viên Lớn, Chi-ca-gô, tháng 8-1968. Ảnh tư liệu

Hàng trăm người biểu tình và hơn 100 cảnh sát bị thương. Trong số 700 người bị bắt có những người đấu tranh vì hòa bình nổi tiếng và là khách thường xuyên của Hà Nội như: Đê-vít Đen-linh-gơ (David Dellinger), Tôm Hay-đơn (Tom Hayden)…

Truyền thông Mỹ cũng nhắc nhở rằng, chính lúc này Ních-xơn đã lợi dụng sự chia rẽ của nước Mỹ và cả trong Đảng Dân chủ đối lập, đưa ra những chiêu bài chính trị để “đánh lộn sòng”, theo đuổi đường lối chiến tranh trong gần hai nhiệm kỳ nữa.

Thuật ngữ quân sự mới

Cuối bình luận trên kênh CBS đêm 27-2-1968, Cron-kai-tơ kêu gọi Nhà Trắng hãy đàm phán với Hà Nội và “Việt Cộng” hơn là đánh ra miền Bắc, hay dùng vũ khí hạt nhân, hay đưa thêm 100.000, 200.000 hay 300.000 quân Mỹ nữa sang Việt Nam. Ông đưa ra một khái niệm mới cho nền chính trị của chiến tranh và can thiệp quân sự: “Hiện đã rõ ràng hơn bao giờ hết là sự trải nghiệm bằng máu của Mỹ ở Việt Nam đang mắc kẹt trong tình thế không lối thoát”.

Trước Tết Mậu Thân, người Mỹ chỉ nhìn nhận hoạt động chiến tranh trong hai khái niệm thắng – thua, biểu thị bằng con số: Đếm được nhiều xác “địch” hơn, kiểm soát được nhiều lãnh thổ hơn. Từ sau 27-2-1968, trong từ điển quân sự Mỹ xuất hiện một từ mới: Stalemate, có nghĩa là thế bí, là tiến thoái lưỡng nan, bó tay, lạc nước… Còn một thuật ngữ nữa hình thành trong thời kỳ cuối 1967 – đầu 1968 là “Việt Nam-cuộc chiến trên truyền hình”.

Tháng 6-2011, đã xuất bản cuốn Không có chiến thắng rõ ràng: Đo đếm hiệu lực và tiến bộ của quân đội Mỹ trong chiến tranh Việt Nam. Tác giả G.Đát-đi (G.Daddis) đã dùng thuật ngữ của Cron-kai-tơ, đặt tên cho Chương 6 của sách là Năm của cuộc tiến công Tết: Thắng lợi, Thất bại, hay Bế tắc? Theo G.Đát-đi, Mỹ thất bại ở Việt Nam vì thứ nhất, các nhà chiến lược chỉ chú trọng thu thập dữ liệu mà không tập trung vào phân tích dữ liệu, đồng thời, quân đội Mỹ sản xuất tới 14.000 pound (gần 7 tấn) báo cáo trong một ngày, một số lượng quá lớn để có thể phân tích hiệu quả; thứ hai, do quân Mỹ đã đo lường sai các chỉ tiêu thắng lợi và do nhầm lẫn về… thuật ngữ, chẳng hạn, khái niệm tiến triển (progress) và hiệu quả (effectiveness) là khác nhau.

Quên mình dẫn dắt nhận thức

Một phóng sự truyền hình của Cron-kai-tơ trên kênh CBS được nhiều người Mỹ ghi nhớ là “Danh dự, nghĩa vụ và một cuộc chiến tranh được gọi là Việt Nam”, được ông thực hiện ở Hà Nội năm 1985 về bài học chiến tranh Việt Nam đối với nước Mỹ. Tờ Thời báo Niu Y-oóc có nhận xét rằng, các bức ảnh về “người đáng tin cậy nhất nước Mỹ” ở Hà Nội và TP Hồ Chí Minh 10 năm sau khi chiến tranh kết thúc cho thấy ông thật trầm tư mặc tưởng.

Thời báo Niu Y-oóc nhận thấy, các bài về chiến tranh Việt Nam của CBS, thường do Cron-kai-tơ không hẳn nói về chiến tranh, mà nói đến cảm nhận về nó, rằng các phóng sự Việt Nam của ông thường “nghiêm trang”, thậm chí nhuốm màu “tang tóc”. Và tờ báo cũng nhắc lại rằng, Cron-kai-tơ nhiều lần nói nước Mỹ đã thua, rằng Việt Nam là “thất bại quân sự duy nhất của nước Mỹ”. Bài viết này được xuất bản năm 1985, nhận xét rằng, Cron-kai-tơ luôn mong người Mỹ nuôi hy vọng rằng sẽ không còn một (chiến tranh) Việt Nam nữa, rằng ông muốn Chính phủ Mỹ phải hỏi ý kiến dân trước khi đưa lính Mỹ dấn vào các cuộc viễn chinh.

Nhưng vẫn còn những phái “diều hâu” tới nay vẫn chưa vỡ lẽ tại sao quân đông tướng mạnh mà chính quyền Giôn-xơn phải đề xuất thương lượng để cầu hòa. Vẫn còn những khẳng định Mỹ “thắng về quân sự”, cụ thể về “đếm xác”, về số chiến dịch được tiến hành, số đạn pháo được bắn, số trận phục kích được thực hiện… Vì thế, từ đầu thiên niên kỷ mới, đã xuất hiện những cuộc chiến của Mỹ ở Áp-ga-ni-xtan và I-rắc. Chúng nhanh chóng trở nên không có lời giải và truyền thông Mỹ đã phải “chế” thêm những thuật ngữ mới, như VietIstan, hay AfganisNam, IraqiNam… đồng nghĩa với từ sa lầy, bó tay mà Cron-kai-tơ đã đưa ra từ thời Tết Mậu Thân.

Lê Thành
qdnd.vn