Tag Archive | CAND

Trách nhiệm cá nhân và trách nhiệm tập thể

Phó Giáo Sư, TS, Thiếu Tướng Lê Văn Cương
Theo quy định của Hiếp pháp 1992, những vấn đề quan trọng về quốc kế, dân sinh, về xây dựng và bảo vệ Tổ quốc thuộc trách nhiệm, quyền hạn của tổ chức – Chính phủ, còn trách nhiệm cá nhân – Thủ tướng thì nhẹ tênh, đơn giản. Như vậy, có lẽ sẽ có nhiều người làm được Thủ tướng.

1. Nền hành chính nhà nước trên thế giới đang phát triển theo hướng tiên tiến, hiện đại thông qua việc hoàn thiện hệ thống luật pháp nhằm xác định rõ ràng, chặt chẽ trách nhiệm, quyền hạn của người đứng đầu cơ quan, tổ chức. Nguyên tắc vận hành của bộ máy hành chính nhà nước là: Một việc do một cơ quan (tổ chức) phụ trách và một cơ quan (tổ chức) do một người đứng đầu chịu trách nhiệm.

Tất nhiên, người ta phải giao đủ quyền và các điều kiện cần thiết cho người đứng đầu đưa ra các quyết định quản lý và họ phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về kết quả, hậu quả từ quyết định của mình. Tất cả đều được thể hiện rõ, cụ thể, chặt chẽ trong luật.

Trong luật và các văn bản dưới luật của hầu hết các nước không có cụm từ “các cấp, các ngành” như của nền hành chính Việt Nam.

Ở các nước có nền hành chính tiên tiến, việc từ chức và cách chức cũng là chuyện bình thường.

Mình không bê nguyên xi cách làm của người ta vào Việt Nam vì điều kiện mọi mặt họ khác ta. Nhưng việc làm rõ, quy định chặt chẽ trong luật về quyền hạn, trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức là đúng đắn, tối cần thiết và nằm trong lộ trình phát triển văn minh, hiện đại của nền hành chính nhà nước trên thế giới mà Việt Nam không thể đi ngược xu thế tất yếu đó.

2. Trách nhiệm tập thể, trách nhiệm cá nhân trong Hiến pháp 1992 xét trường hợp Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ.

Nghiên cứu bản dự thảo Chương VII – Chính phủ, tôi có một số ý kiến như sau:

Một là, hầu hết mọi quyền lực quan trọng nhất đều giao cho Chính phủ đảm nhiệm như: Tổ chức thi hành Hiến pháp, luật; thống nhất quản lý nền hành chính quốc gia; bảo vệ tài sản, lợi ích của Nhà nước và xã hội; thống nhất quản lý việc xây dựng, phát triển nền kinh tế quốc dân; thực hiện chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia; quản lý và bảo đảm sử dụng có hiệu quả tài sản thuộc sở hữu toàn dân; phát triển văn hóa, giáo dục, y tế, khoa học, công nghệ và bảo vệ môi trường, thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội và ngân sách Nhà nước, thực hiện chính sách xã hội, chính sách dân tộc, chính sách tôn giáo; thống nhất quản lý về quốc phòng, an ninh; bảo đảm an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội; thống nhất quản lý công tác đối ngoại… (Điều 101 – sửa đổi bổ sung Điều 112).

Như vậy, toàn bộ những vấn đề quan trọng nhất về đối nội, đối ngoại, về phát triển kinh tế, về an ninh, quốc phòng, đối ngoại, về bảo vệ tài nguyên, môi trường sống… theo Hiến pháp 1992, thuộc trách nhiệm, quyền hạn của tổ chức – Chính phủ.

Điều 103 (sửa từ Điều 114) quy định nhiệm vụ và quyền hạn của Thủ tướng thể hiện ở 5 khoản, trong đó chỉ 1 khoản chung chung là “Định hướng, điều hành hoạt động của Chính phủ; lãnh đạo hệ thống hành chính nhà nước từ Trung ương đến địa phương, bảo đảm tính thống nhất, thông suốt của nền hành chính quốc gia”, 4 khoản còn lại chỉ là những việc tổ chức, nhân sự (đề nghị Quốc hội lập tổ chức, bãi bỏ tổ chức, bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức cán bộ, đình chỉ thi hành hoặc bãi bỏ các văn bản của cấp dưới trái với Hiến pháp, pháp luật, ký các điều ước quốc tế)…

Theo quy định của Hiếp pháp 1992, những vấn đề quan trọng về quốc kế, dân sinh, về xây dựng và bảo vệ Tổ quốc thuộc trách nhiệm, quyền hạn của tổ chức – Chính phủ, còn trách nhiệm cá nhân – Thủ tướng thì nhẹ tênh, đơn giản. Như vậy, có lẽ sẽ có nhiều người làm được Thủ tướng.

Nếu nền kinh tế rơi vào suy thoái, khó khăn và bị nước ngoài chi phối, việc sử dụng mọi nguồn lực kém hiệu quả, tài nguyên thiên nhiên bị khai thác bừa bãi, môi trường bị tàn phá, xã hội chất chứa nhiều vấn đề bức xúc…, thì chúng ta cũng không thể quy trách nhiệm cho Thủ tướng được, vì Thủ tướng đã “Định hướng, điều hành hoạt động của Chính phủ” (khoản 1 Điều 103).

Vì thế tôi đề nghị viết lại toàn bộ Chương VII – Chính phủ theo hướng ghép Điều 99 và Điều 102 vào Điều 100 thành một điều nói về chức năng, nhiệm vụ chung của Chính phủ (định nghĩa Chính phủ là gì, Chính phủ có chức năng, nhiệm vụ gì thể hiện trong 3 – 4 khoản).

Những nội dung cơ bản của Điều 101 ghép với Điều 103 nói về quyền hạn, trách nhiệm của Thủ tướng Chính phủ. Như vậy là xác định rõ, đầy đủ, đúng đắn, chặt chẽ quyền hạn, trách nhiệm của cá nhân Thủ tướng.

Hai là, tôi đề nghị thay cụm từ “nhiệm vụ và quyền hạn” của tổ chức, cá nhân bằng cụm từ “quyền hạn và trách nhiệm”.

Ở đây có hai vấn đề: 1. Đặt quyền hạn trước trách nhiệm, về nguyên tắc phải giao cho họ quyền để thực hiện công vụ, sau đó mới nói đến trách nhiệm của họ. 2. Dùng “trách nhiệm” đúng hơn “nhiệm vụ”; trách nhiệm là trách nhiệm trước nhân dân và trước cấp trên, còn nhiệm vụ thì mọi công chức, quan chức đều có việc phải làm – nhiệm vụ. Trách nhiệm là trách nhiệm pháp lý.

Ba là, Điều 99 “Chính phủ là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của nước CHXHCNVN, thực hiện quyền hành pháp, là cơ quan chấp hành của Quốc hội”. Tôi cho như vậy là đủ, không cần đoạn nói về “Chính phủ chịu trách nhiệm trước Quốc hội và báo cáo công tác với Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Chủ tịch nước”. Là “cơ quan chấp hành của Quốc hội” thì mặc nhiên phải báo cáo…

Ở đây còn một vấn đề nữa, Thủ tướng phải báo cáo công tác chứ không phải Chính phủ báo cáo. Trên thế giới này không ai yêu cầu nội các báo cáo cả, mà yêu cầu người đứng đầu nội các báo cáo.

Bốn là, khi đã làm rõ quyền hạn và trách nhiệm của Thủ tướng như đã trình bày ở vấn đề thứ nhất nói trên, bỏ mệnh đề “Chính phủ làm việc theo chế độ tập thể, quyết định theo đa số”.

Khi Thủ tướng có đủ quyền (theo Hiếp pháp), Thủ tướng nghe ý kiến của mọi thành viên Chính phủ và cần nghe thêm nhiều ý kiến ngoài Chính phủ, nhất là ý kiến của các nhà khoa học, nhưng Thủ tướng phải đưa ra quyết định cuối cùng và chịu trách nhiệm về quyết định của mình. Có như vậy mới có thể “xây dựng nền hành chính thống nhất, thông suốt, trong sạch, vững mạnh, có hiệu lực, hiệu quả…” (NQĐHXI – trang 249).

Sửa Hiến pháp 1992 là vấn đề hệ trọng, cần bình tĩnh cân nhắc thận trọng. Nhưng những vấn đề nào rõ là bất cập, trì trệ, cản trở sự phát triển thì kiên quyết phải thay đổi.

Cái đáng phải thay đổi mà không dám sửa đổi là không làm tròn trách nhiệm công vụ, không thực hiện nhiệm vụ của đảng viên là “đặt lợi ích của Tổ quốc, của giai cấp công nhân và nhân dân lao động lên trên lợi ích cá nhân” (Điều lệ Đảng)

L.V.C.
cand.com.vn

Cần phải hiến định sự trung thành của lực lượng vũ trang với Đảng

PGS, TS Nguyễn Mạnh Hưởng (Viện KHXH Nhân Văn Quân Sự – Bộ Quốc Phòng)
Trong Dự thảo sửa đổi Hiến pháp, Điều 70 có ghi: “Lực lượng vũ trang nhân dân phải tuyệt đối trung thành với Đảng Cộng sản Việt Nam, Tổ quốc và nhân dân…”. Điều này là đúng thể hiện sự phát triển mới, phù hợp với tinh thần trong Cương lĩnh xây dựng nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011), và đầy đủ hơn so với Điều 45 trong Hiến pháp năm 1992 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2001): “Các lực lượng vũ trang nhân dân phải tuyệt đối trung thành với Tổ quốc và nhân dân…”.

Sự phát triển mới này là cần thiết, tuy về thực chất không có gì khác, bởi vì các điều 4, 44, 45, 46, 47, 48 trong Hiến pháp năm 1992 cũng đã thể hiện được sự trung thành của các lực lượng vũ trang nhân dân, của Quân đội và Công an với Đảng khi nói đến nhiệm vụ của lực lượng vũ trang nhân dân.

Sự trung thành của lực lượng vũ trang nhân dân với Đảng Cộng sản Việt Nam, Tổ quốc và nhân dân cần phải được hiến định. Hiến pháp – đạo luật cơ bản – cần tiếp tục ghi nhận sự lãnh đạo của Đảng đối với lực lượng vũ trang nhân dân, đồng thời ghi nhận sự trung thành của lực lượng vũ trang nhân dân với Đảng, Tổ quốc và nhân dân.

Đảng Cộng sản Việt Nam là người tổ chức và lãnh đạo lực lượng vũ trang nhân dân; lực lượng vũ trang nhân dân phục tùng sự lãnh đạo của Đảng là hai mệnh đề song hành ngay từ khi các lực lượng vũ trang mới được thành lập đến nay. Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân – tiền thân của Quân đội nhân dân, gánh vác sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, của nhân dân và của dân tộc Việt Nam trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, trong cuộc cách mạng của giai cấp công nhân, do Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh tổ chức, giáo dục, rèn luyện và lãnh đạo. Công an nhân dân Việt Nam là một lực lượng vũ trang trọng yếu của Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước Cộng hòa xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, làm nòng cốt, xung kích trong sự nghiệp bảo vệ an ninh quốc gia và giữ gìn trật tự, an toàn xã hội, được phát triển từ những tổ chức tiền thân là các đội Tự vệ đỏ, Tự vệ công nông, Danh dự trừ gian, Danh dự Việt Minh, do Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh tổ chức, giáo dục, rèn luyện và lãnh đạo.

Lịch sử xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam do Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh tổ chức, lãnh đạo, giáo dục và rèn luyện, đã chứng tỏ lực lượng vũ trang nhân dân luôn là công cụ bạo lực sắc bén của Đảng, Nhà nước và nhân dân. Dân tộc Việt Nam, giai cấp công nhân và nhân dân lao động Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đã sản sinh ra lực lượng vũ trang nhân dân, Quân đội nhân dân và Công an nhân dân Việt Nam; và, các lực lượng vũ trang này đã chiến đấu vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân, vì mục tiêu lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

Ghi nhận sự lãnh đạo của Đảng đối với lực lượng vũ trang nhân dân, sự trung thành của lực lượng vũ trang nhân dân với Đảng là sự ghi nhận, sự khẳng định một thực tế lịch sử, một hiện thực chính trị – xã hội, một tất yếu khách quan trong thực tiễn cách mạng Việt Nam.

Mới đây, trong góp ý vào Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992, một số người đưa ra kiến nghị: lực lượng vũ trang “chỉ để bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ quốc gia và phục vụ nhân dân”; “phải trung thành với Tổ quốc và nhân dân chứ không phải trung thành với bất kỳ tổ chức nào”; phải “bỏ quy định lực lượng vũ trang phải trung thành với Đảng Cộng sản Việt Nam”.

Đó là những luận điệu vô căn cứ, sai lầm về lý luận và không đúng với thực tiễn lịch sử. Không thể lợi dụng việc góp ý sửa đổi Hiến pháp để làm thay đổi bản chất, chức năng, nhiệm vụ của lực lượng vũ trang nhân dân, xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng đối với lực lượng vũ trang nhân dân.

Nếu nói rằng lực lượng vũ trang “chỉ để bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ quốc gia và phục vụ nhân dân” không cần đặt dưới sự lãnh đạo của lực lượng chính trị nào, đảng phái nào, thì lực lượng vũ trang ấy mang bản chất nào, bản chất của ai? Hay là “không có bản chất”, “không có chính trị”! Đây là một kiểu nhằm đánh lừa người khác, chứ bản thân những người đưa ra các quan điểm trên cũng thừa hiểu lực lượng vũ trang phải mang bản chất chính trị và phải phục vụ cho ai. Đúng là nhiệm vụ của lực lượng vũ trang là bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ nhân dân, nhưng chỉ có lực lượng vũ trang của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam mới có thể thực sự làm tròn phận sự trung thành với Tổ quốc Việt Nam, với nhân dân Việt Nam theo đúng nghĩa của nó; và gắn bó chặt chẽ sự trung thành với Đảng, Nhà nước, chế độ, với Tổ quốc và nhân dân trong một chỉnh thể thống nhất, không thể tách rời

Ng.M.H.
cand.com.vn

Cần làm rõ nội dung về xây dựng công nghiệp an ninh và nguyên tắc kết hợp kinh tế với an ninh

Góp ý kiến vào “Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992”

Đại Tá, Tiến Sĩ Phạm Văn Miên
Theo Đại tá, Tiến sĩ Phạm Văn Miên trong dự thảo Sửa đổi Hiến pháp 1992, tại Điều 73, Chương IV phải đưa thêm nội dung về xây dựng Công nghiệp an ninh (CNAN) vào nội dung của điều này. Cùng với đó cần bổ sung nội dung về bảo đảm đời sống vật chất và tinh thần của cán bộ, chiến sĩ, công nhân, nhân viên Công an.

Công nghiệp an ninh (CNAN), một thuật ngữ chưa được nhắc nhiều trong các văn kiện, văn bản của Đảng, Nhà nước và trong thực tiễn đời sống xã hội. Tuy nhiên, đây không phải là vấn đề quá mới với Việt Nam và thế giới. Chúng ta có thể tạm hiểu rằng CNAN là một nền công nghiệp phục vụ các nhiệm vụ bảo vệ An ninh quốc gia (ANQG) giữ gìn trật tự an toàn xã hội (TTATXH) cũng như đảm bảo các hoạt động công tác an ninh, theo nghĩa rộng. Như vậy, CNAN vừa mang tính chiến thuật, vừa có tính kĩ thuật; bao hàm cả lĩnh vực khoa học kĩ thuật và công nghệ. Cũng giống như công nghiệp quốc phòng, CNAN là sự phát triển tổng hợp của nhiều ngành kĩ thuật công nghiệp, như cơ khí, chế tạo máy, viễn thông tin học, vật lý, hóa học…

Ở nhiều nước trên thế giới như Mỹ, Nga, Đức, Trung Quốc, hay một số nước trong khu vực ASEAN như Thái Lan, Malaysia, Singapore… CNAN rất được chú trọng và có những phát triển từ hàng chục, thậm chí hàng trăm năm. Rất nhiều những sản phẩm của CNAN được đưa vào áp dụng cho các lĩnh vực trong đời sống xã hội như: Y tế, giáo dục, giao thông vận tải, công nghiệp, thể thao, hải quan, quản lý đánh bắt hải sản, kiểm lâm và cả hàng không, vũ trụ… Trong số đó, nhiều sản phẩm được xuất đi khắp thế giới và có không ít sản phẩm CNAN trở thành ngành mũi nhọn thu về những số lượng ngoại tệ không nhỏ cho một số quốc gia.

Ở Việt Nam, đã từ lâu, Đảng và Nhà nước, Chính phủ, Bộ Công an đã quan tâm đến vấn đề này. Tuy nhiên, do những khó khăn về nhiều mặt của nền kinh tế, chúng ta mới tập trung đầu tư vào một số lĩnh vực cụ thể nhằm đáp ứng yêu cầu trực tiếp, phục vụ nhiệm vụ của lực lượng Công an cũng như công tác bảo vệ an ninh trật tự (ANTT). Hoạt động về các lĩnh vực CNAN hay nói rộng hơn là nền CNAN chưa được đầu tư nghiên cứu một cách có hệ thống cả về lý luận cũng như hoạt động thực tiễn, vì vậy nó chưa thể hiện rõ vai trò với hoạt động của các lĩnh vực trong nền kinh tế quốc dân. Song trước yêu cầu đòi hỏi ngày càng cao của nhiệm vụ bảo vệ ANQG và giữ gìn TTATXH, những năm gần đây, thực hiện chỉ đạo của Đảng, Nhà nước, Đảng ủy CATW và lãnh đạo Bộ Công an đã có chỉ đạo rất cụ thể về việc nghiên cứu và phát triển CNAN. Mục tiêu trước mắt là phát triển nhanh, hiện đại những lĩnh vực chúng ta đã làm được, vừa phục vụ các hoạt động bảo vệ ANQG, giữ gìn TTATXH, vừa đáp ứng nhu cầu về an ninh của các tổ chức, cá nhân trong xã hội. Hoạt động này vừa hạn chế phải sử dụng ngoại tệ nhập khẩu một số phương tiện, thiết bị, vừa tăng thêm nguồn thu cho ngân sách an ninh. Đây là chủ trương, quyết sách hết sức đúng đắn và cần thiết trong điều kiện về an ninh thế giới và trong nước như hiện nay.

Bên cạnh việc cần thiết phải xây dựng nền công nghiệp an ninh, tôi cho rằng nguyên tắc về kết hợp phát triển kinh tế với đảm bảo an ninh, và bảo vệ an ninh với đẩy mạnh phát triển kinh tế cần phải được đặt ra một cách thường xuyên. Thực tế những năm qua, không ít tập thể, cá nhân chỉ chú ý đến mục tiêu phát triển kinh tế đơn thuần; phiến diện rằng chỉ cần phát triển tốt kinh tế thì tất yếu ANTT sẽ được đảm bảo, vì vậy không tính đến việc tác động qua lại của hoạt động kinh tế với bảo đảm an ninh trật tự. Để từng bước khắc phục hạn chế này, đòi hỏi mỗi cấp, mỗi ngành trước khi chấp nhận một dự án, phê duyệt xây dựng một công trình, một nhà máy, hay tiếp nhận một sự viện trợ, giúp đỡ vật chất nào đó đều phải xem xét những tác động hai mặt tốt và xấu đến công tác ANTT. Hơn nữa việc xây dựng kết cấu các lĩnh vực, công trình, hạng mục… của kinh tế an ninh phải xem xét đến mối quan hệ với việc đảm bảo công tác an ninh trật tự.

Trong dự thảo Sửa đổi Hiến pháp 1992, tại Điều 73, Chương IV đã nêu lên nội dung về xây dựng công nghiệp quốc phòng, bảo đảm trang bị cho lực lượng vũ trang, kết hợp quốc phòng với kinh tế, kinh tế với quốc phòng, bảo đảm đời sống vật chất và tinh thần của cán bộ và chiến sỹ, công nhân, nhân viên quốc phòng… Tôi cho rằng, việc đề cập như vậy là đúng và cần thiết. Tuy nhiên, như phân tích ở trên, tôi đề nghị phải đưa thêm nội dung về xây dựng CNAN vào nội dung của điều này. Cùng với đó cần bổ sung nội dung về bảo đảm đời sống vật chất và tinh thần của cán bộ, chiến sĩ, công nhân, nhân viên Công an. Với tinh thần đó, tôi đề nghị nghiên cứu sửa lại Điều 73 như sau:

Nhà nước phát huy tinh thần yêu nước và chủ nghĩa anh hùng cách mạng của nhân dân, giáo dục quốc phòng và an ninh cho toàn dân; thực hiện nghĩa vụ quân sự, chính sách hậu phương quân đội, công an; xây dựng công nghiệp quốc phòng và công nghiệp an ninh bảo đảm trang bị cho lực lượng vũ trang, kết hợp Quốc phòng – An ninh với kinh tế, kinh tế với Quốc phòng – An ninh, bảo đảm đời sống vật chất và tinh thần của cán bộ, chiến sĩ, công nhân, nhân viên Quốc phòng, Công an…

Việc bổ sung như trên không chỉ phù hợp với nội dung ở Điều 69; phù hợp với việc phát triển Quốc phòng, An ninh trước mắt mà còn phù hợp xu thế phát triển tất yếu trong lĩnh vực Quốc phòng – An ninh nhiều năm tiếp theo, đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới

P.V.M.
cand.com.vn

Quy định cụ thể trách nhiệm của công dân, tổ chức đối với sự nghiệp quốc phòng, an ninh

Góp ý kiến vào “Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992”:

Theo Đại tá, PGS.TS Phí Đức Tuấn, Phó Giám đốc Học viện An ninh nhân dân, Bộ Công an cần quy định cụ thể trong Hiến pháp trách nhiệm, nghĩa vụ của mọi công dân, tổ chức, cơ quan đối với sự nghiệp quốc phòng, an ninh.

Tiếp tục lấy ý kiến đóng góp vào “Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992” về vai trò lãnh đạo của Đảng, sự quản lý tập trung, thống nhất của Nhà nước đối với sự nghiệp quốc phòng và an ninh, phóng viên Báo CAND đã trao đổi với Đại tá, PGS.TS Phí Đức Tuấn, Phó Giám đốc Học viện An ninh nhân dân, Bộ Công an về vấn đề này. Đồng chí Phó Giám đốc Học viện An ninh nhân dân góp ý:

Trước hết phải khẳng định rằng, bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng cầm quyền đối với lĩnh vực quốc phòng, an ninh (nói riêng), đối với đất nước (nói chung) trong Hiến pháp là vấn đề có tính nguyên tắc trong quản lý, điều hành của bất cứ quốc gia nào theo chế độ lập hiến. Đối với nước ta, sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự quản lý tập trung thống nhất của Nhà nước đối với sự nghiệp quốc phòng, an ninh là một tất yếu khách quan.

Sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của sự nghiệp quốc phòng, an ninh. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội được Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng thông qua đã khẳng định quan điểm có tính nguyên tắc: “Tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự quản lý tập trung thống nhất của Nhà nước đối với Quân đội nhân dân, Công an nhân dân và sự nghiệp quốc phòng, an ninh”.

Thực tế chỉ ra rằng, từ khi Đảng ta ra đời cũng như trong suốt quá trình lãnh đạo sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, chưa bao giờ các thế lực thù địch từ bỏ âm mưu, hoạt động nhằm gạt bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, tiến tới lật đổ chính quyền. Quy định vai trò lãnh đạo của Đảng (nói chung) với sự nghiệp quốc phòng, an ninh (nói riêng) trong Hiến pháp là cơ sở pháp lý không chỉ đảm bảo quyền lãnh đạo của Đảng mà còn để trừng trị những cá nhân, tổ chức có âm mưu đòi xóa bỏ Điều 4 Hiến pháp năm 1992, xóa bỏ chế độ Nhà nước của dân, do dân và vì dân. Với thực tế trên, việc quán triệt quan điểm của Đảng về tăng cường vai trò lãnh đạo trực tiếp, tuyệt đối về mọi mặt của Đảng, sự quản lý tập trung thống nhất của Nhà nước đối với sự nghiệp quốc phòng, an ninh trong sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992 cần xác định những nội dung định hướng cơ bản sau:

Một là, kiên định nguyên tắc Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với sự nghiệp quốc phòng, an ninh và đối với lực lượng vũ trang nhân dân. Cần tiếp tục thể chế hóa, hoàn thiện và thực hiện nghiêm túc cơ chế, phương thức lãnh đạo của Đảng đối với sự nghiệp quốc phòng, an ninh cũng như đối với Quân đội nhân dân và Công an nhân dân.

Hai là, để đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng một cách tuyệt đối, trực tiếp và toàn diện đối với sự nghiệp quốc phòng, an ninh, Hiến pháp sửa đổi ngoài giữ Điều 4 Hiến pháp năm 1992 cần khẳng định: “Quân đội nhân dân, Công an nhân dân đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự thống lĩnh của Chủ tịch nước”.

Ba là, cần quy định cụ thể trong Hiến pháp trách nhiệm, nghĩa vụ của mọi công dân, tổ chức, cơ quan đối với sự nghiệp quốc phòng, an ninh. Quan điểm nhất quán của Đảng ta là: “Bảo đảm quốc phòng, an ninh là nhiệm vụ trọng yếu của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân và Nhà nước trên cơ sở phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, khối đại đoàn kết toàn dân tộc”. Chính vì vậy trong Hiến pháp sửa đổi, bổ sung cần xác định trách nhiệm của công dân, tổ chức, cơ quan, doanh nghiệp trong việc tham gia bảo vệ Tổ quốc, góp phần xây dựng tiềm lực quốc phòng, an ninh cũng như thể chế hóa việc xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân kết hợp với thế trận an ninh nhân dân.

Bốn là, cần bổ sung Điều 48 của Hiến pháp năm 1992 nội dung tăng cường sức mạnh quốc phòng, an ninh và tiềm lực; sớm trang bị hiện đại cho các lực lượng Hải quân, Phòng không, An ninh, Tình báo, Cảnh sát cơ động… bảo đảm xây dựng hai lực lượng nòng cốt là Quân đội nhân dân và Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại theo tinh thần Nghị quyết XI của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Năm là, Hiến pháp sửa đổi, bổ sung cần khẳng định nội dung: Nhà nước thống nhất quản lý sự nghiệp quốc phòng, an ninh, bảo đảm gắn kết chặt chẽ hiệu quả giữa tăng cường quản lý của Nhà nước, phát huy đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân. Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Quan điểm này cần được quán triệt trong Hiến pháp sửa đổi nhằm nâng cao hiệu quả quản lý tập trung thống nhất của Nhà nước đối với sự nghiệp quốc phòng, an ninh theo hướng bổ sung vào các chương, điều những nội dung như: tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật về quốc phòng, an ninh; xây dựng hoàn thiện cơ chế, chính sách, phương án, chiến lược về quốc phòng, an ninh; xây dựng tổ chức bộ máy theo hướng tập trung thống nhất và đào tạo nguồn lực cho sự nghiệp quốc phòng, an ninh…

Hưng Nguyễn (ghi)
cand.com.vn

Tạo điều kiện mở rộng hợp tác quốc tế trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh

Góp ý kiến vào “Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992”

Phóng viên Báo CAND đã trao đổi với Thiếu tướng Nguyễn Đình Thuận, Cục trưởng Cục Xây dựng phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc, Bộ Công an về vấn đề xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa với điều kiện kinh tế, xã hội mới và trước yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Trong bối cảnh hội nhập quốc tế, xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa với điều kiện kinh tế, xã hội mới và trước yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới đòi hỏi Hiến pháp sửa đổi vừa phải khắc phục những khó khăn, vướng mắc, vừa phải đón trước, bắt kịp với sự biến đổi của tình hình và thực tiễn bảo vệ Tổ quốc, xứng tầm là một văn bản pháp lý cao nhất, là cơ sở quan trọng cho sự hoàn thiện, phát triển hệ thống pháp luật đúng hướng, bền vững của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Phóng viên Báo CAND đã trao đổi với Thiếu tướng Nguyễn Đình Thuận, Cục trưởng Cục Xây dựng phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc, Bộ Công an để hiểu hơn về vấn đề này. Đồng chí Cục trưởng cho biết:

Việc sửa đổi, bổ sung các quy định của Hiến pháp liên quan đến bảo vệ Tổ quốc cần kế thừa những quy định của Hiến pháp năm 1992, chỉ bổ sung những vấn đề thực sự cần thiết, phù hợp với Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội và các Văn kiện khác của Đảng, đặc biệt phải bám sát, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới nhằm tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho việc xây dựng và hoàn thiện các văn bản pháp luật liên quan đến bảo vệ Tổ quốc.

Trong Hiến pháp sửa đổi, cần bổ sung vấn đề hợp tác quốc tế vào Điều 44 của Hiến pháp năm 1992 bằng cách quy định rõ: “Nhà nước tạo điều kiện cho lực lượng vũ trang mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh”; đồng thời bổ sung quy định về biện pháp mà các lực lượng vũ trang được phép sử dụng vào Điều 45 của Hiến pháp năm 1992 như sau: “Các lực lượng vũ trang nhân dân phải tuyệt đối trung thành với Tổ quốc và nhân dân, được sử dụng các biện pháp do pháp luật quy định để thực hiện nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, giữ gìn an ninh trật tự và những thành quả cách mạng, cùng toàn dân xây dựng đất nước”.

Cần bổ sung những vấn đề công nghiệp an ninh vào Điều 48 thành: “Nhà nước phát huy tinh thần yêu nước và chủ nghĩa anh hùng cách mạng của nhân dân, giáo dục quốc phòng và an ninh cho toàn dân, thực hiện chế độ nghĩa vụ quân sự, chính sách hậu phương quân đội, xây dựng công nghiệp quốc phòng, an ninh với kinh tế, kinh tế với quốc phòng, an ninh đảm bảo đời sống vật chất và tinh thần của cán bộ và chiến sĩ, công nhân, nhân viên quốc phòng, Công an, xây dựng các lực lượng vũ trang nhân dân hùng mạnh, không ngừng tăng cường khả năng bảo vệ đất nước”.

Điều 68 cần sửa đổi, bổ sung như sau: “Công dân có quyền tự do đi lại và cư trú ở trong nước, có quyền ra nước ngoài và từ nước ngoài về nước theo quy định của pháp luật. Việc cấm đi khỏi nơi cư trú phải đúng quy định của pháp luật”.

Điều 71 sửa đổi, bổ sung như sau: “Công dân có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm. Việc bắt giữ, tạm giam, khám người phải do người có thẩm quyền tiến hành theo quy định của pháp luật. Nghiêm cấm mọi hình thức, truy bức, nhục hình, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của công dân”.

Điều 11 đề nghị sửa cụm từ “giữ gìn an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội” thành “bảo vệ an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội” cho thống nhất với các điều khác trong Hiến pháp.

Điều 12 đề nghị sửa cụm từ: “Các cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và mọi công dân” thành “Cơ quan, tổ chức và mọi công dân” để đảm bảo ngắn gọn và mang tính bao quát.

Điều 50 và Điều 51 có cụm từ: “Hiến pháp và luật” đề nghị sửa thành “Hiến pháp và pháp luật” cho thống nhất với các điều luật khác.

Điều 74 có cụm từ “Tài sản xã hội chủ nghĩa”, đề nghị sửa thành “Tài sản của Nhà nước” cho phù hợp với Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.

Đề nghị bỏ cụm từ: “Phản bội Tổ quốc là tội nặng nhất” ở Điều 76 và gộp Điều 76 vào Điều 77 thành “Công dân phải trung thành với Tổ quốc”.

Đề nghị thay thế cụm từ: “Bảo vệ bí mật quốc gia” thành “Bảo vệ bí mật Nhà nước” ở Điều 79. Theo đó, Điều 79 sẽ như sau: “Công dân có nghĩa vụ tuân theo Hiến pháp, pháp luật, tham gia bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, giữ gìn bí mật Nhà nước, chấp hành những quy tắc sinh hoạt công cộng”

Nguyễn Hưng (ghi)
cand.com.vn

Bảo vệ Tổ quốc là trách nhiệm và nghĩa vụ của công dân

Thiếu tướng Trần Anh Dũng (Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Cảnh sát QLHC về TTATXH – Bộ Công an)

Bảo vệ ANTQ là sự nghiệp của cả hệ thống chính trị và của toàn dân. Cơ quan, tổ chức, công dân có trách nhiệm, nghĩa vụ bảo vệ ANTQ theo quy định của pháp luật.

Hiến pháp là đạo luật cơ bản của Nhà nước, điều chỉnh những quan hệ xã hội quan trọng trong tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa, an ninh, quốc phòng, tổ chức bộ máy Nhà nước và quan hệ giữa Nhà nước với công dân. Chúng tôi xin trao đổi, góp ý một số nội dung liên quan đến quy định về bảo vệ Tổ quốc được quy định trong dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992.

Bảo vệ an ninh Tổ quốc (ANTQ) là một vấn đề đặc biệt quan trọng, bao hàm nội dung, ý nghĩa rất rộng lớn trong và ngoài nước. Đây là tổng hợp các hoạt động nhằm bảo đảm sự ổn định và phát triển bền vững của một chế độ xã hội, độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và các lợi ích quan trọng khác của quốc gia; phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn, đấu tranh làm thất bại các âm mưu và hoạt động xâm phạm ANTQ.

Bảo vệ ANTQ là sự nghiệp của cả hệ thống chính trị và của toàn dân. Cơ quan, tổ chức, công dân có trách nhiệm, nghĩa vụ bảo vệ ANTQ theo quy định của pháp luật.

Nhiệm vụ của bảo vệ ANTQ gồm: Bảo vệ chế độ chính trị và Nhà nước CHXHCN Việt Nam, bảo vệ thống nhất, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; Bảo vệ an ninh về tư tưởng và văn hóa, khối đại đoàn kết toàn dân tộc, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân; Bảo vệ an ninh trong các lĩnh vực kinh tế, quốc phòng, đối ngoại và các lợi ích khác của quốc gia; Bảo vệ bí mật của Nhà nước và các mục tiêu quan trọng về ANTQ; Phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn, đấu tranh làm thất bại và loại trừ các hoạt động xâm phạm ANTQ, nguy cơ đe dọa ANTQ. Nguyên tắc hoạt động bảo vệ ANTQ là tuân thủ Hiến pháp, pháp luật, bảo đảm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân; Đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự quản lý thống nhất của Nhà nước: Huy động sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị và toàn dân tộc, lực lượng chuyên trách bảo vệ ANTQ làm nòng cốt; Kết hợp chặt chẽ nhiệm vụ bảo vệ ANTQ với nhiệm vụ xây dựng, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội; Phối hợp có hiệu quả hoạt động an ninh, quốc phòng với hoạt động đối ngoại; Chủ động phòng ngừa, đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hoạt động xâm phạm ANTQ.

Trước hết phải xác định sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc là sự nghiệp lớn lao, vĩ đại không chỉ của riêng ai mà là sự nghiệp cách mạng của toàn dân đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự điều hành, quản lý thống nhất của Nhà nước CHXHCN Việt Nam, trong đó các lực lượng vũ trang gồm Quân đội nhân dân, Công an nhân dân giữ vai trò nòng cốt. Điều này đã được quán triệt trong tư tưởng chỉ đạo xây dựng, sửa đổi Hiến pháp, được thể hiện ở các chương, điều khác nhau. Riêng nội dung quy định về trách nhiệm của mỗi công dân đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc được thể hiện tại Chương II về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân. Trách nhiệm bảo vệ Tổ quốc được nêu rõ tại 3 điều.

Cụ thể: Điều 47 (Sửa đổi bổ sung Điều 76): “Công dân có nghĩa vụ trung thành với Tổ quốc. Phản bội Tổ quốc là tội nặng nhất”; Điều 48 (Sửa đổi bổ sung Điều 77): “Bảo vệ Tổ quốc là nghĩa vụ thiêng liêng và quyền cao quý của công dân. Công dân phải làm nghĩa vụ quân sự và tham gia xây dựng quốc phòng toàn dân; việc thực hiện nghĩa vụ thay thế nghĩa vụ quân sự do luật định”; Điều 49 (Sửa đổi bổ sung Điều 79): “Công dân có nghĩa vụ chấp hành Hiến pháp và pháp luật, tham gia bảo vệ ANQG, trật tự, an toàn xã hội, chấp hành những quy tắc sinh hoạt công cộng”. Như vậy, bản dự thảo sửa đổi Hiến pháp đã quán triệt chỉ đạo của Bộ Chính trị vừa kế thừa Hiến pháp 1992 vừa có tư duy mới phù hợp với thực tiễn cách mạng Việt Nam hiện nay

T. A. D.
cand.com.vn

Làm rõ vai trò, vị trí của Nhà nước trong ba mối quan hệ liên quan đến đất đai

Góp ý sửa đổi luật đất đai năm 1993:

Luật sư Quản Văn Minh-Giám đốc Công ty luật số 5 góp ý: Theo pháp luật hiện hành, Nhà nước vừa là đại diện chủ sở hữu về đất đai, vừa là cơ quan thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về đất đai và vừa là người sử dụng đất. Quy định đó đặt ra vấn đề phải xác định rõ vai trò, vị trí của Nhà nước trong các mối quan hệ liên quan đến đất đai nêu trên, để từ đó mọi đối tượng dễ hiểu và thuận lợi cho quá trình thực hiện luật.

Dự thảo sửa đổi Luật Đất đai lần này tại chương II mới quy định tập trung vào hai vai trò là đại diện chủ sở hữu và trách nhiệm quản lý của Nhà nước đối với đất đai. Nội dung quan trọng này đã thể chế hóa được chủ trương của Đảng yêu cầu phải xác định rõ trách nhiệm của chủ sở hữu về đất đai. Nhưng dự thảo vẫn chưa quy định rõ ràng, cụ thể khi nào Nhà nước giữ vai trò là đại diện chủ sở hữu về đất đai; khi nào giữ vị trí là cơ quan thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về đất đai và khi nào Nhà nước giữ vai trò là người sử dụng đất có các quyền và nghĩa vụ như các đối tượng khác.

Chính vì sự thiếu cụ thể này, dẫn đến quá trình thực thi luật gặp khó khăn, thậm chí bị lợi dụng gây nên các thiệt hại hoặc tranh chấp không đáng có. Bên cạnh đó, một số nội dung thuộc chương II còn trùng lắp với các quy định tại các chương khác của dự thảo sửa đổi luật, như về trách nhiệm lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; trách nhiệm thu hồi đất, trách nhiệm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản khác gắn liền với đất…chẳng hạn như các quy định tại các điều 15, điều 17…

Quy định cụ thể như thế, sẽ đảm bảo quản lý đất đai hiệu quả, giúp cho mọi đối tượng hiểu đúng và thực hiện nghiêm quy định, tránh các hành vi lợi dụng để trục lợi hoặc gây lãng phí đất đai của Nhà nước. Luật sư đề nghị cần nghiên cứu kỹ lại nội dung chương này để làm rõ vai trò, vị trí của Nhà nước trong ba mối quan hệ liên quan đến đất đai như trên. Nội dung các điều từ Điều 13 đến Điều 19 của bản dự thảo như là sự cụ thể hóa các điểm từ b đến h khoản 2 Điều 12, nhưng bản dự thảo lại bỏ qua điểm a khoản 2 Điều 12?!

Một vấn đề nữa, qua tìm hiểu chúng tôi được biết phần không nhỏ ngân sách ở các địa phương bắt nguồn từ đất đai nhằm phục vụ phát triển kinh tế-xã hội tại địa phương đó. Đây là nguồn thu rất lớn từ tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, thuế sử dụng đất được để lại địa phương sử dụng. Thực tế mỗi địa phương lại sử dụng nguồn thu này vào các mục đích khác nhau, và mỗi lĩnh vực lại có quy định sử dụng một phần nguồn thu từ đất đai để hoạt động nên không tập trung được nguồn lực đầu tư, đồng thời cũng không thể dùng quỹ đó tái đầu tư lại cho đất đai hay phát triển hạ tầng…

Do quy định còn thiếu cụ thể đó, dẫn đến cơ quan chức năng không kiểm soát chặt chẽ được nguồn thu từ đất để từ đó sử dụng cho hiệu quả. Điều này cũng phù hợp với yêu cầu đặt ra trong Kết luận số 22-KL/TW của Ban Chấp hành Trung ương, là sửa đổi Luật Đất đai lần này cần có quy định cụ thể việc điều tiết lợi nhuận tăng thêm từ đất mà không do nhà đầu tư của người sử dụng đất mang lại, nhưng dự thảo sửa đổi Luật Đất đai chưa có quy định cụ thể để thể chế hóa chủ trương đó cho phù hợp với yêu cầu hiện nay.

Đây rõ ràng là một nội dung rất mới, cần thiết phải luật hóa để thực hiện nhằm khai thác, sử dụng thật hiệu quả nguồn thu từ đất đai, tránh lãng phí, nhất là trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước rất cần nguồn vốn đầu tư như hiện nay

Thanh Phong
cand.com.vn

Cần cụ thể hơn những điểm mới trong sửa đổi hiến pháp

Góp ý kiến vào “Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992”

Phạm Quốc Anh (Chủ Tịch Hội Luật Gia Việt Nam)
Điểm mới có tính chất bao trùm trong sửa đổi Hiến pháp lần này, là kịp thời thể chế hóa được quan điểm của Đảng đã thể hiện trong nghị quyết Đại hội XI và những thành tựu đổi mới của đất nước trong gần 30 năm qua.

Hiến pháp tiếp tục khẳng định thể chế chính trị ở nước ta, là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Nhưng những điều luật cần thể hiện rõ hơn các quyền của con người, quyền công dân. Dự thảo sửa đổi Hiến pháp lần này đã nói rõ hơn quyền sống, bảo hộ tính mạng, sức khỏe, quyền được hiến mô, tạng, hiến xác. Theo tôi, đây là những điểm mới phù hợp với thông lệ quốc tế. Tuy nhiên, đối với quy định về quyền công dân, ngoài quyền tự do cư trú, đi lại, tự do tín ngưỡng còn có quyền lập hội, quyền biểu tình… những chỗ này cần phải có quy định hết sức cụ thể để vừa không ảnh hưởng tới quyền công dân mà chúng ta lại có cơ sở pháp lý quản lý xã hội tốt hơn. Về điểm này, cần nói thêm khi chúng ta sửa đổi được như vậy không chỉ thể hiện được tinh thần Hiến pháp năm 1946, mà còn bổ sung và phát triển so với bản hiến pháp được coi là mẫu mực đó.

Điểm mới nữa trong sửa đổi hiến pháp lần này, là quy định cơ chế kiểm soát quyền lực. Hiến pháp nêu lên ba cơ chế, đó là: Cơ chế Hội đồng hiến pháp; cơ chế Hội đồng bầu cử quốc gia; và cơ chế kiểm toán. Trong đó, đặc biệt lưu tâm là cơ chế Hội đồng hiến pháp nó “mềm” và hiệu quả hơn so với cơ chế Tòa án hiến pháp. Cơ chế Hội đồng hiến pháp từ trước đến nay nước ta chưa có. Tất cả các vị trong Hội đồng hiến pháp đều nằm trong Quốc hội và do Quốc hội bầu ra. Hội đồng hiến pháp thực hiện chức năng giám sát, kiểm tra hoạt động của Quốc hội, Chính phủ, thiết chế Chủ tịch nước và tất cả các cơ quan Nhà nước (kể cả cán bộ, công chức) xem có việc vi hiến hay không. Đây là vấn đề rất có ý nghĩa, bởi thực tiễn lâu nay dư luận vẫn kêu Bộ này, địa phương nọ ban hành văn bản hoặc có việc làm vi hiến nhưng không có ai thổi còi cả.

Một vấn đề nữa, là hiến pháp cần phải luật hóa một cách cụ thể cơ chế giải quyết khiếu nại tố cáo, bởi tình hình khiếu nại tố cáo diễn ra rất phức tạp và có xu hướng gia tăng. Ghi cụ thể cơ chế giải quyết trong hiến pháp, sẽ góp phần làm cho người dân cũng như các cơ quan chức năng dễ hiểu, dễ giải quyết đúng với chức năng thẩm quyền, tránh chồng chéo kéo dài như hiện nay.

Trước tình hình đô thị hóa nhanh như hiện nay, yêu cầu đặt ra về mặt tổ chức Nhà nước là phải tách bạch giữa chính quyền đô thị và chính quyền nông thôn, vì phương pháp quản lý điều hành ở đô thị khác với địa bàn nông thôn. Đây là vấn đề mà chúng ta chưa đưa ra được cơ chế quản lý hai địa bàn này một cách phù hợp, dẫn đến hiệu quả quản lý kém, nhiều vấn đề xã hội phát sinh khó giải quyết như ùn tắc giao thông, hạ tầng kỹ thuật kém và đầu tư lãng phí… Điều này cần được ghi vào hiến pháp kỳ này đáp ứng xu hướng đô thị hóa nhanh cũng như xây dựng nông thôn mới hiện nay.

Trên cơ sở tổng kết thí điểm bỏ HĐND ở một số phường, quận, huyện thời gian qua, rất cần đưa vào hiến pháp kết luận chính thức của việc thí điểm đó (nên hay không nên để HĐND cấp phường, quận, huyện) để đáp ứng yêu cầu cải cách bộ máy hành chính, đảm bảo năng động hiệu quả

P.Q.A.
cand.com.vn

Đôi điều suy nghĩ về nội dung dòng văn đầu trong Lời nói đầu của Dự thảo Hiến pháp

Nhà Văn Phan Quế
Tôi nghĩ trong đoạn văn mở đầu này nên viết thêm, viết kỹ hơn về nội dung trên để tương xứng với các đoạn văn sau. Có thể thêm Từ thuở Hùng Vương dựng nước tới các triều đại tiếp theo… được chăng vì dân tộc ta luôn coi vua Hùng là Quốc tổ, lập đền thờ Người.

Lời nói đầu của Dự thảo Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 (Sửa đổi năm 2013), theo bản in của Báo Công an nhân dân số ra thứ tư, ngày 2/1/2013, có nguyên văn đoạn mở đầu là:

“Trải qua mấy nghìn năm lịch sử, nhân dân Việt Nam lao động cần cù, sáng tạo, chiến đấu anh dũng để dựng nước và giữ nước, đã hun đúc nên truyền thống đoàn kết, nhân nghĩa, kiên cường, bất khuất của dân tộc và xây dựng nên nền văn hiến Việt Nam”.

Đoạn văn mở đầu trong Lời nói đầu trong bản dự thảo của hiến pháp mang ý nghĩa khái quát về lịch sử xây dựng đất nước của dân tộc. Toàn văn lời mở đầu nêu được khá đầy đủ những việc quan yếu mang tính khẳng định và dẫn dắt cho các nội dung tiếp theo mà hiến pháp sẽ đề cập tới với những điều luật cụ thể ở đất nước ta từ có Đảng lãnh đạo đến nay.

Tuy nhiên, tôi chỉ xin phép được bàn thêm về nội dung đoạn văn mở đầu:

Đoạn mở đầu có những câu chữ: Trải qua mấy nghìn năm lịch sử, nhân dân Việt Nam lao động cần cù, sáng tạo, chiến đấu anh dũng để dựng nước và giữ nước, đã hun đúc nên truyền thống đoàn kết, nhân nghĩa, kiên cường, bất khuất của dân tộc và xây dựng nên nền văn hiến Việt Nam…

Đầu tiên tôi xin được in nghiêng và nhấn mạnh về từ mấy này. Lâu nay ta thường nói và viết về nguồn gốc người Việt Nam, gần với huyền thoại là mẹ Âu Cơ cùng bố Lạc Long Quân sinh ra trăm trứng nở thành trăm con, rồi truyền thuyết dân gian rất gần với lịch sử trong 18 đời vua Hùng dựng nước và cũng quen với câu mở đầu khi nói về thời lượng dân tộc dựng xây đất nước với ấn mức thời gian là 4.000 năm lịch sử.

Có một thực tế là về thời xa xăm ấy ta chưa có văn bản về sử liệu, chữ nghĩa hoặc có nhưng do chiến tranh loạn lạc cùng các cuộc thiên di của con người và sự bất ổn của thiên nhiên… mà đến nay cái mốc 4.000 năm ấy cũng mới chỉ dừng trong mức truyền miệng qua lịch sử dân gian hoặc các bản văn không thuộc dạng nghiên cứu khẳng định một cách tương đối mặc dù các nhà khảo cổ đã tốn không ít công sức khi tìm lại các di vật thời vua Hùng.

Như vậy là năm tháng về thời mở nước và ngày mở nước cho đến tận bây giờ ta chưa xác định được cụ thể âu cũng là lẽ bình thường của hoàn cảnh nước mình và nhiều quốc gia trên thế giới. Nếu ta ngại từ bốn mà dùng từ mấy trước từ nghìn năm nghe chưa ổn lắm. Từ mấy là chỉ thời gian mang tính ước lệ, có giá trị khẩu ngữ trong giao tiếp thông thường nên khi đưa nó vào văn bản sẽ thiếu đi phần trang trọng và chính xác.

Ai cũng biết dân tộc ta mở nước, dựng nước và giữ nước không thể là trăm năm, cũng không chỉ dừng ở mức ngàn năm nhưng gọi là mấy nghìn năm nghe không ổn. Ta nên dùng từ hàng nghìn năm thay cho mấy nghìn năm, cho dù chỉ là thay một chữ thôi nhưng vị trí câu văn khúc chiết và chững chạc hơn.

Sau câu này xin cho thêm câu từ thuở Hùng Vương dựng nước tới các triều đại tiếp theo, qua công sức của nhiều thể chế lãnh đạorồi nối tiếp sang đoạn sau cho hợp với nội dung lập pháp của hiến pháp trong sự tiếp thu có chọn lọc những thành quả hành chính của mỗi triều đại đã qua và để lại của đất nước.

Trong Đại cáo bình Ngô của Nguyễn Trãi khi vâng lệnh vua Lê, triều Lê soạn lời thưa chuyện với bá tính đất nước khi triều đại mới ra đời sau cuộc kháng chiến đuổi giặc cướp nước, ngay đoạn mở đầu Người đã viết:

Như nước Đại Việt ta từ trước/ Vốn xưng nền văn hiến đã lâu/ Núi sông bờ cõi đã chia/ Phong tục Bắc Nam cũng khác/ Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần bao đời gây nền độc lập/ Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên làm Đế một phương…

Nguyễn Trãi đã có hùng văn về thành tựu trong hiến pháp quốc gia về đạo giữ nước, dựng nước khá cụ thể của ông cha mình. Với chúng ta bằng phẩm hạnh uống nước nhớ nguồn của con cháu trước tổ tiên rất nên nhắc đến thành tựu kiến quốc trong các luật lệ của tiền nhân. Những cái còn lại của người xưa cho hôm nay về kinh nghiệm lập pháp và hành pháp luôn là tinh hoa để cho  đời nay tiếp thu và tiếp tục.

Tôi nghĩ trong đoạn văn mở đầu này nên viết thêm, viết kỹ hơn về nội dung trên để tương xứng với các đoạn văn sau. Có thể thêm Từ thuở Hùng Vương dựng nước tới các triều đại tiếp theo… được chăng vì dân tộc ta luôn coi vua Hùng là Quốc tổ, lập đền thờ Người.

Bác Hồ cũng đã nói: Các vua Hùng đã có công dựng nước…! Năm 2012, Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương của dân tộc Việt đã được quốc tế công nhận là di sản văn hóa phi vật thể có tính tiêu biểu của nhân loại. Phải chăng đây là những gợi ý giúp ta vững tin đưa nội dung quan trong trên vào lời mở đầu.

Sau giai đoạn mở nước này, đất nước ta có được như ngày nay là do công lênh của nhiều triều đại khác nhau trong nghiệp dựng nước giữ nước, lời hùng văn đầu tiên nên viết kỹ hơn là để thể hiện đầy đủ đạo hiếu nghĩa của người đi sau với người đi trước, tạo sự hài hòa cân xứng trong nội dung thể hiện mà ta đã viết khá cụ thể ở đoạn sau thời Bác Hồ và Đảng lãnh đạo nhân dân lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Còn câu nhân dân Việt Nam thay bằng nhân dân ta để giữ nguyên từ văn hiến Việt Nam ở đoạn cuối, tránh bị lặp hai từ Việt Namtrong một câu mà vẫn đầy đủ ý nghĩa.

Cũng đoạn cuối của câu có dòng xây dựng nên nền văn hiến Việt Nam tôi xin đề nghị được sửa là bồi đắp vì nền văn hiến là gồm những giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể có được trong quá khứ, hiện tại và tiếp tục có được trong tương lai với quá trình cống hiến của nhiều thế hệ người dân trong dựng xây đất nước cho nên dùng từ bồi đắp sẽ khiến nội dung của đoạn văn này sinh động hơn, hợp cảnh hơn và bớt đi được một từ lặp trong câu là từ dựng.

Theo thiển nghĩ của tôi, đoạn văn trên nên là:

Trải hàng ngàn năm lịch sử, từ thuở Hùng Vương dựng nước tới các triều đại tiếp theo, nhân dân ta lao động cần cù, sáng tạo, chiến đấu anh dũng để dựng nước và giữ nước, đã hun đúc nên truyền thống đoàn kết, nhân nghĩa, kiên cường, bất khuất của dân tộc và bồi đắp nên nền văn hiến Việt Nam

P.Q.
cand.com.vn

Điều 4 Hiến pháp 1992 – một phần của lịch sử lập hiến Việt Nam

Phương Nhi
Cho đến nay Liên hợp quốc có 193 quốc gia thành viên. Trong tổng số thành viên của tổ chức lớn nhất hành tinh này, có 18 quốc gia chỉ lấy tên dân tộc làm tên nước, còn lại 75 quốc gia, tên nước đều gắn với tính ngữ chỉ chế độ xã hội mà dân tộc đó lựa chọn.

Ở các quốc gia này, các dân tộc đều tồn tại trong các chế độ xã hội – thể chế quốc gia khác nhau, như: Cộng hòa dân chủ; Quân chủ; Quân chủ nghị viện; Cộng hòa tổng thống; Cộng hòa đại nghị; Cộng hòa XHCN và Nhà nước tôn giáo (Va-ti-căng).

Ở mỗi quốc gia, việc lựa chọn hệ tư tưởng nào – chủ nghĩa tư bản hay chủ nghĩa xã hội; thể chế chính trị nào – đa đảng hay một đảng lãnh đạo, cầm quyền; mô hình kinh tế nào – chủ nghĩa tự do hay kinh tế thị trường xã hội… đều thuộc quyền của mỗi dân tộc mà không ai có quyền can thiệp, kể cả Liên hợp quốc.

Đương nhiên hiến pháp cũng vậy, cho dù tên nước không có tính ngữ hay có tính ngữ, hiến pháp đều thể hiện ý chí, nguyên vọng của dân tộc về một chế độ xã hội và nhà nước mà họ lựa chọn. Đồng thời nội dung, hình thức kỹ thuật lập hiến cũng khác nhau. Có ghi hay không ghi, ghi như thế nào lực lượng lãnh đạo xã hội trong hiến pháp đều khác nhau, không theo một khuôn mẫu nào được gọi là “chuẩn” cả.

Điều 4, Hiến pháp 1992 về vai trò lãnh đạo của Đảng ta cũng không có gì là đặc biệt cả. Quy định về sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam bắt nguồn từ lịch sử dân tộc Việt Nam, từ đặc điểm của hệ thống chính trị Việt Nam, bao gồm cả Nhà nước Việt Nam. Đặc điểm thứ nhất: đó là tất cả các tổ chức hợp thành của hệ thống chính trị ra đời trước khi có nhà nước và hiến pháp: Công đoàn thành lập ngày 28/7/1929, (do Đông dương Cộng sản đảng – tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức); Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, thành lập Ngày 26-3-1931; Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thành lập ngày 18-11-1930; Hội Liên hiệp Phụ nữ thành lập ngày 20 tháng 10 năm 1931. Tiền thân của Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam là Ủy ban Dân tộc giải phóng Trung ương tức Chính phủ lâm thời do Đại hội Quốc dân họp ở Tân Trào, Thái Nguyên đã bầu ra ngày 16-8-1945. Chủ tịch Hồ Chí Minh, lãnh tụ của Đảng Cộng sản Việt Nam được bầu làm Chủ tịch. Cũng tại Đại hội này, Quốc kỳ, Quốc ca được chính thức thông qua.

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, như mọi người đều biết, Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam cũng do Đảng Cộng sản Việt Nam sáng lập và lãnh đạo. Như vậy là chỉ có Hội Cựu chiến binh Việt Nam được thành lập (ngày 6-12-1989), sau ngày cách mạng thành công. Lý do đơn giản chỉ là trước cách mạng chưa có “cựu chiến binh”.

Đặc điểm thứ hai của hệ thống chính trị Việt Nam: Đó là tất cả các tổ chức hợp thành hệ thống chính trị đều do Đảng Cộng sản Việt Nam sáng lập, rèn luyện và lãnh đạo.

Về mặt pháp lý, Điều 4, Hiến pháp 1992, là chế định do Quốc hội khóa VI (1976-1981) trân trọng thiết lập trong Hiến pháp 1980. Trên thực tế đó chỉ là hợp thức hóa về mặt pháp lý thực tiễn vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trải qua nửa thế kỷ (1930-1980) đối với dân tộc ta mà thôi. Chế định này (Điều 4) đã được 7 khóa Quốc hội – cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nhà nước ta liên tục ghi nhận qua các khóa: VII, VIII, IX, X, XI, XII, XIII.

Lợi dụng quyết định của Đảng và Quốc hội, lấy ý kiến nhân dân góp ý DTHPSĐ, trên nhiều trang mạng hải ngoại và trong nước người ta đang tập trung vào các lập luận, chứng cứ nhằm xóa bỏ Điều 4, Hiến pháp 1992. Ai cũng biết Điều 4, tuy chỉ là 1/124 Điều của “Dự thảo Hiến pháp, 1992 sửa đổi” song đó là bản chất của Nhà nước và của xã hội ta. Xóa bỏ Điều 4 là bước căn bản chuyển hóa chế độ ta sang chế độ “dân chủ đa nguyên, đa đảng đối lập”. Có kẻ còn nói thẳng ra rằng: góp ý kiến không phải nhằm hoàn thiện văn bản mà là “một cơ hội” để tạo ra phong trào đấu tranh nhằm xóa bỏ chế độ “độc tài Đảng trị”. Như có người đã nói: Lợi dụng sự kiện toàn dân đóng góp ý kiến sửa đổi DTHP 1992, người ta đang mơ đến một cuộc “đảo chính mềm” – thay đổi chế độ xã hội XHCN bằng việc xóa bỏ Điều 4 – nội dung và tính chất căn bản của Hiến pháp, của chế độ xã hội XHCN do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo.

Tính đến nay, Điều 4, Hiến pháp 1992 đã được 33 năm tuổi, bằng 1/3 thế kỷ. Như vậy có thể nói, Điều 4, Hiến pháp 1992 đã trở thành một phần không thể xóa bỏ trong lịch sử lập hiến Việt Nam. Trong bối cảnh chính trị hiện nay, khẳng định Điều 4, Hiến pháp 1992 không chỉ là chủ quyền của dân tộc, là bảo vệ thành quả của cách mạng mà còn là tôn trọng lịch sử, tôn trọng phẩm giá của dân tộc

P.N.
cand.com.vn

Làm tốt công tác tư tưởng ở cơ sở, chống diễn biến hòa bình của thế lực thù địch

Th.S Nguyễn Quỳnh Giao
Công tác tư tưởng ở cơ sở là một bộ phận hợp thành trong hoạt động lãnh đạo của tổ chức Đảng, là một nội dung công tác trọng yếu của hệ thống chính trị cơ sở. Nâng cao chất lượng công tác tư tưởng ở cơ sở là khâu cực kỳ quan trọng để phát động phong trào quần chúng bảo vệ an ninh Tổ quốc.

Công tác tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam là một bộ phận cấu thành rất quan trọng trong hoạt động lãnh đạo của Đảng, là hoạt động truyền bá và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước nhằm xây dựng thế giới quan khoa học, nhân sinh quan cộng sản, giá trị đạo đức đúng đắn, xây dựng niềm tin và lối sống lành mạnh, tiến bộ, tạo sự thống nhất cao trong toàn Đảng, sự đồng thuận trong nhân dân, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phát huy tính chủ động và sáng tạo của các tầng lớp nhân dân, thực hiện thắng lợi mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, phấn đấu“dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh”.

Trong những năm qua, các cấp ủy Đảng ở cơ sở đã chủ động triển khai nhiệm vụ công tác tư tưởng, kết quả công tác tư tưởng đã góp phần đưa đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đến với cán bộ, đảng viên và nhân dân, tạo được sự nhất trí trong Đảng, sự đồng thuận của xã hội. Nhiều chủ trương, chính sách lớn của Đảng và Nhà nước, thông qua công tác triển khai của hệ thống chính trị cơ sở, nhất là Ủy ban Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể đã được nhân dân hào hứng, phấn khởi đón nhận và tự giác thực hiện đạt kết quả tốt như chủ trương “xóa đói, giảm nghèo”, phong trào “uống nước nhớ nguồn”, hoạt động “đền ơn, đáp nghĩa”, cuộc vận động “xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư” v.v… Công tác tư tưởng ở cơ sở còn góp phần tích cực trong việc tham mưu, đề xuất và vận động nhân dân đóng góp tài năng, sáng kiến cho các cơ quan lãnh đạo, quản lý để giải quyết những vấn đề bức xúc ở cơ sở như các tệ nạn xã hội, tranh chấp đất đai, xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn v.v…

Tuy nhiên, công tác tư tưởng của Đảng ở cơ sở thời gian qua vẫn bộc lộ những hạn chế, bất cập là: Một số cấp ủy cơ sở còn coi nhẹ, buông lỏng công tác tư tưởng; việc đầu tư xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác tư tưởng, trang thiết bị và cơ chế, chính sách chưa được quan tâm đúng mức. Tình trạng cán bộ làm công tác tư tưởng ở cơ sở không được bồi dưỡng kịp thời về chuyên môn, nghiệp vụ, vừa thiếu, vừa yếu, không yên tâm công tác do chế độ đãi ngộ chưa thỏa đáng; hình thức tiến hành công tác tư tưởng còn đơn điệu, xơ cứng, thiếu hấp dẫn…

Những hạn chế đó đã ảnh hưởng không nhỏ tới chất lượng công tác tư tưởng của Đảng ở cơ sở, làm cản trở động lực cống hiến của cán bộ, đảng viên và nhân dân, nhiều vụ việc sai phạm của cán bộ không được xử lý triệt để gây dư luận bức xúc trong nhân dân, một bộ phận nhân dân giảm sút lòng tin vào sự lãnh đạo của Đảng…

Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư ngày 16 tháng 1 năm 2012 “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI, đã đề ra nhóm giải pháp về công tác tư tưởng của Đảng, là luồng gió mới về công tác tư tưởng.

Một trong những yêu cầu của công tác chính trị tư tưởng trong tình hình mới là bám sát thực tiễn cuộc sống ở cơ sở, kịp thời giải đáp những đòi hỏi của thực tiễn, làm cho công tác tư tưởng có sức sống và hiệu quả cao. Điều này càng đặc biệt quan trọng, khi mà kẻ xấu, các thế lực thù địch đang tiến hành chống phá ta ở cơ sở bằng luận điệu xuyên tạc, vu cáo kiểu “diễn biến hòa bình”. Vì thế, đòi hỏi các cấp ủy, ban tuyên giáo, các tổ chức quần chúng ở cơ sở kết hợp tạo thành “binh chủng tư tưởng” phải thường xuyên bám sát đời sống, sản xuất và mọi mặt hoạt động của cán bộ, đảng viên và nhân dân. Phân công cán bộ, đảng viên, cấp ủy và quần chúng tích cực làm nòng cốt bám sát từng địa bàn, nắm vững tâm tư, tình cảm và nguyện vọng của nhân dân, kịp thời phản ánh cho cấp ủy, chính quyền về tình hình tư tưởng của cán bộ, đảng viên và nhân dân.

Khi có dấu hiệu không bình thường, hoặc có dư luận bức xúc cần giải đáp sự “tấn công” của kẻ xấu, cấp ủy phải nghiên cứu, bàn bạc và thống nhất cách giải quyết, đồng thời phân công cán bộ có uy tín, có kinh nghiệm giải quyết triệt để, không để kéo dài, gây bất bình trong nhân dân. Phát huy nhân tố tích cực trong nhân dân, dựa vào nhân dân để tuyên truyền, giáo dục, vận động nhân dân tạo thành sức mạnh mới ở cơ sở. Muốn vậy, cần đa dạng hóa các hình thức tiến hành công tác tư tưởng ở cơ sở, làm cho công tác tư tưởng luôn phong phú, sinh động, đáp ứng tốt yêu cầu của mọi đối tượng, mọi hoàn cảnh. Khai thác có hiệu quả các thiết chế văn hóa, cơ sở vật chất sẵn có và các tiềm năng, thế mạnh của địa phương, đơn vị trong quá trình triển khai nhiệm vụ công tác tư tưởng của Đảng ở cơ sở như truyền thống quê hương, dòng họ, gia đình, các phương tiện thông tin, truyền thông… tạo dựng môi trường xã hội tích cực trong cộng đồng dân cư. Tổ chức cơ sở đảng trở thành trung tâm tập hợp, đoàn kết, quy tụ các tầng lớp nhân dân hưởng ứng và hăng hái tham gia các phong trào thi đua yêu nước, thiết thực phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội, đẩy lùi tiêu cực, góp phần làm phá sản âm mưu, thủ đoạn xấu của các thế lực thù địch.

Công tác tư tưởng ở cơ sở là một bộ phận hợp thành trong hoạt động lãnh đạo của tổ chức Đảng, là một nội dung công tác trọng yếu của hệ thống chính trị cơ sở. Nâng cao chất lượng công tác tư tưởng ở cơ sở là khâu cực kỳ quan trọng để phát động phong trào quần chúng bảo vệ an ninh Tổ quốc

N.Q.G.
cand.com.vn