Tag Archive | Cách mạng Tháng Tám

GS Hoàng Minh Giám kể về những ngày vận nước “nghìn cân treo sợi tóc” (P 3)

(DVT.vn) – Leclerc, Sainteny muốn hòa hoãn, nhưng D’Argenlieu ngoan cố phá hoại Hiệp định sơ bộ. Thường vụ Trung ương Đảng chủ trương “hòa để tiến”. Hòa hoãn, chứ chưa phải hòa bình.

PHẦN 3

Vì tình hình khẩn trương, lễ ký Hiệp định sơ bộ được tiến hành ngay vào hồi 16 giờ 30 phút hôm 6/3/1946, tại ngôi nhà 38 Lý Thái Tổ, với sự có mặt của các lãnh sự Mỹ, Anh, Trung Quốc và đại diện Đảng SFIO (Đảng Xã hội Pháp) là Caput.

Sau lễ ký, Sainteny nâng cốc chúc mừng Bác. Bác bĩnh tĩnh trả lời: “Cảm ơn ông. Nhưng thật ra, tôi chưa vừa lòng. Ông biết đấy, tôi muốn nhiều hơn, tôi muốn nước tôi độc lập, và chắc chắn nước tôi sẽ độc lập.”

Có thể nói rằng đó chính là nội dung câu trả lời vắn tắt của Bác cho Sainteny. Trong hoàn cảnh phức tạp và nguy hiểm, phải đối phó cùng một lúc với nhiều thù trong giặc ngoài, ta cần một sự hòa hoãn (không phải là hòa bình, mà là hòa hoãn) để tranh thủ thời gian, củng cố và phát triển lực lượng để tiếp tục và đẩy mạnh cuộc chiến đấu lâu dài, gian khổ, nhưng nhất định thắng lợi vẻ vang.

Tối hôm 6/3/1946, Bác Hồ và anh Võ Nguyên Giáp báo cáo với Hội đồng Chính phủ về việc ký Hiệp định sơ bộ, và chiều hôm sau (7/3/1946), ta tổ chức một cuộc mít-tinh tại quảng trường trước Nhà hát Lớn thành phố Hà Nội. Anh Giáp trình bày nội dung, ý nghĩa của bản Hiệp định. Anh nhấn mạnh lý do khiến ta phải ký là Mỹ và Anh ủng hộ Pháp, và Trung Quốc đã ký thỏa thuận cho quân đội Pháp thay thế quân đội Trung Hoa. Hiệp định sơ bộ vừa ký có thể ví như Hiệp định Brest – Litovsk ký kết vào năm 1918 giữa chính quyền Xô-viết với Đức.

Sau đó, Bác Hồ cũng phát biểu: “Mục tiêu cuối cùng của chúng ta là độc lập, thống nhất; cuộc đấu tranh còn lâu dài, gian khổ, ta đã nhận cho 15.000 quân Pháp vào thay quân đội Trung Quốc, sau 5 năm, Pháp sẽ rút hết quân đội về nước. Chúng ta phải tin vào Chính phủ, phải đoàn kết, tiếp tục chiến đấu. Riêng tôi, tôi hứa với đồng bào tiếp tục trung thành với Tổ quốc, với đồng bào, Hồ Chí Minh nhất định không bao giờ bán nước!”

Tất cả vạn người nghe Bác đều vô cùng xúc động, vỗ tay, và tiếng vỗ tay, hoan hô “Hồ Chủ tịch muôn năm! Hồ Chủ tịch muôn năm!” vang lên như sấm.

Chủ tịch Hồ Chí Minh chụp ảnh với các thành viên Chính phủ lâm thời sau buổi họp đầu tiên.
Trong ảnh: GS Hoàng Minh Giám là người đứng thứ hai hàng thứ ba, từ trái sang phải.
(Ảnh do chị Hoàng Vĩnh Hạnh, con gái GS Hoàng Minh Giám cung cấp).

Ba ngày sau, ngày 9/3/1946, Thường vụ Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương ra chỉ thị nhan đề “Hòa để tiến”. Có thể nói rằng đó chính là nội dung câu trả lời lvắn tắt của Bác cho Sainteny. Trong hoàn cảnh phức tạp và nguy hiểm phải đối phó cùng một lúc với nhiều thù trong giặc ngoài, ta cần một sự hòa hoãn để tranh thủ thời gian, củng cố và phát triển lực lượng để tiếp tục và đẩy mạnh cuộc chiến đấu lâu dài, gian khổ, nhưng nhất định thắng lợi vẻ vang.

Theo tôi, do chưa có kinh nghiệm nên khi duyệt Hiệp định Sơ bộ, ta đã để một số chi tiết không chặt chẽ trong nội dung. Thí dụ: Khi có trưng cầu dân ý về vấn đề thống nhất ba kỳ thì nhất định nhân dân Nam kỳ không muốn mất đất đai của mình cho Pháp và cuộc trưng cầu sẽ có lợi cho ta. Nhưng trong Hiệp định không nói tới thời gian cụ thể của việc trưng cầu dân ý là một sơ sót bất lợi cho ta. Nếu thời gian dẫn tới cuộc trưng cầu dân ý càng dài thì thực dân Pháp càng có lợi và tiếp tục cai trị ở Nam kỳ.

Còn việc trưng cầu dân ý sẽ tổ chức chung trong cả nước hay làm riêng từng miền một? Sự không chặt chẽ và rõ ràng trong Hiệp định sẽ giúp Pháp gây cản trở cho ta. Nếu tổ chức trưng cầu dân ý trong cả nước thì có lợi cho ta, bởi vì nếu không may ở Nam Kỳ có ai dại dột ủng hộ Hiệp định Vua An Nam ký nhượng Nam kỳ cho Pháp, thì hai kỳ ngoài này sẽ bù lại số phiếu. Nếu có trưng cầu ý dân thì phải có hòa bình, còn nếu lúc đó nó đánh mình thì mình phải đánh trả. Trong văn bản cũng không nói tới vấn đề hòa bình khi có cuộc trưng cầu dân ý, như vậy là mình mới chỉ ký được với Pháp một hiệp định chưa trọn vẹn. Một hiệp định đúng nghĩa với tên của nó là “Hiệp định sơ bộ”.

Còn phía Pháp, đối với Hiệp định này có những phản ứng gì? Khi D’Argenlieu từ Pháp trở lại Đông Dương, Hiệp định sơ bộ 6/3 đã được ký kết vừa xong. Biết được tin này, D’Argenlieu phê phán gay gắt Leclerc, D’Argenlieu nói: “Lâu nay nước Pháp nổi tiếng dũng cảm, sao các anh lại đầu hàng nhanh thế?” Leclerc trả lời: “Với bản Hiệp định như thế, sao lại gọi là đầu hàng?” Sau chuyện này, hai tên trở thành kẻ thù của nhau. Lúc ký, Leclerc vẫn dưới quyền D’Argenlieu, nhưng y không xin chỉ thị của viên Cao ủy vì biết rằng nếu xin thì không bao giờ D’Argenlieu đồng ý để cho Sainteny ký. Vì vậy Leclerc và Sainteny bàn với nhau là đi đến việc ký Hiệp định 6/3.

Hạ tuần tháng 3/1946, D’Argenlieu ngỏ ý muốn gặp gỡ với Bác để bàn về quan hệ giữa hai nước. Quan hệ Việt – Pháp sau Hiệp định ngày càng xấu đi do D’Argenlieu cố tình phá hoại. Ở Nam bộ, D’Argenlieu ra lệnh cho quân Pháp càn quét, lấn chiếm; ở Bắc bộ, quân Pháp đi lại lung tung và tìm mọi cách phá hoại cuộc sống của nhân dân ta.

Trong Hiệp định sơ bộ có nói tới việc ký kết giữa ta và Pháp chỉ là tạm thời, sau đó, sẽ có một cuộc đàm phán và ký kết chính thức giữa hai chính phủ. D’Argenlieu muốn gặp Bác là để tìm cách cản trở việc đàm phán chính thức tại Paris, vì y muốn bưng bít sự thật ở Đông Dương. Ý định của y là hai bên sẽ đàm phán tại Hà Nội hoặc Sài Gòn, và nếu trường hợp đàm phán tại Paris, thì càng chậm càng tốt để y có thời gian thông báo tình hình cụ thể sang bên đó. Bác biết rất rõ âm mưu của viên Cao ủy này.

Thông qua Sainteny, D’Argenlieu ngỏ lời mời Bác với đại ý: “Tôi chưa gặp Cụ bao giờ. Lần này tôi muốn gặp để chào Cụ”. Bác nhận lời mời của D’Argenlieu và muốn hai bên sẽ gặp nhau tại Hà Nội. D’Argenlieu không muốn ra bắc vì nó sợ bị lép vế, sợ tình hình ở Hà Nội còn đang lộn xộn, Tưởng Giới Thạch chưa rút hết quân; và hơn nữa, chắc là nó sợ ta tổ chức ám sát nó. Còn việc D’Argenlieu muốn gặp Bác tại Sài Gòn tất nhiên là bị Người từ chối.

D’Argenlieu bèn nghĩ ra một kế là bố trí gặp Bác tại vịnh Hạ Long, vì ông ta cho rằng vịnh Hạ Long là địa điểm trung gian, không phải Sài Gòn và cũng không phải Hà Nội. Sau đó, ông ta nhờ Sainteny nói lại với Bác: “Nếu ông D’Argenlieu được gặp Chủ tịch ở một địa điểm nào khác thì thuận tiện hơn. Thí dụ ở vịnh Hạ Long. Ông Đô đốc và Hạm đội Pháp sẽ từ Sài Gòn đến Vịnh đón Chủ tịch, và một thủy phi cơ của Pháp sẽ đưa Chủ tịch đến nơi gặp. Xin Chủ tịch cho biết ý kiến”.

(Còn nữa)
Theo DVT

dvt.vn

GS Hoàng Minh Giám kể về những ngày vận nước “nghìn cân treo sợi tóc” (P 2)

Chủ tịch Hồ Chí Minh năm 1946.

(DVT.vn) – Sainteny trắng trợn định “mua” tôi! Tưởng bắt tay với Pháp. Chủ tịch Hồ Chí Minh và Sainteny nhiều lần tranh cãi đến quá nửa đêm. Hiệp định sơ bộ được ký…

PHẦN 2

Trong thời gian đầu, lúc chưa họp Quốc hội khóa I, Bác là Chủ tịch Chính phủ lâm thời và kiêm luôn chức Bộ trưởng Bộ Ngoại giao. Văn phòng của Bác thiếu một người giúp việc phụ trách về tiếng Pháp, vì thế anh Giáp đề xuất tôi. Tôi được Bác tin dùng, đồng thời, tôi giữ chức Thứ trưởng Bộ Nội vụ trong Chính phủ Liên hiệp.

Theo chỉ thị của Bác, tôi đã nhiều lần lui tới nhà riêng của Sainteny. Y ở một căn nhà hai tầng, nơi góc hai phố Lý Thường Kiệt và Quang Trung (gần Viện Kiểm sát nhân dân tối cao bây giờ). Ngôi nhà này trước đây một người Pháp tên là Sacton ở, sau đã về nước. Trước đó, tôi đã nghe nói là các lãnh tụ Quốc dân đảng cũng hay lui tới nhà riêng Sainteny. Một lần, tôi đến nhà y và thấy trong ngăn kéo, y cố tình để hở một gói tiền to.

Sainteny mời tôi ngồi và hỏi: “Tôi nghe nói các anh làm việc không có lương à?” (Thực tế cũng đúng thôi vì độc lập rồi nhưng tiền không có, tiền ở nhà băng chúng lấy hết rồi). Tôi im lặng, y lại nói tiếp: “Anh cần tiền thì tôi cho vay tạm một ít. Những người của Quốc dân đảng ở nhà tôi vừa mới ra, tôi cũng cho một ít tiền”.

Sainteny trắng trợn đến như vậy đó! Với lòng tự trọng, tôi muốn mắng cho y một trận ngay lúc ấy, nhưng nghĩ đến nhiệm vụ mà Bác đã giao cho nên kiềm chế được. Tôi trả lời: “Một là, người của Quốc dân đảng có lấy tiền của anh hay không, thì tôi không biết. Hai là, chúng tôi không ăn lương nhà nước là đúng. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng không, vì cách mạng mới thành công, đang gặp rất nhiều khó khăn. Anh hãy cất tiền đi, tôi không cần! Nếu anh có nhiều tiền thì anh trực tiếp nói với cụ Hồ Chí Minh với tư cách là Nhà nước Pháp cho Chính phủ Hồ Chí Minh vay, còn nếu anh đưa tôi với tư cách cá nhân thì không ăn thua gì đâu!”

Nghe xong, Sainteny đóng ngăn kéo lại và nói: “Thôi để nói sau!”

Việc mua chuộc tôi đã không thành.

Lúc về, tôi báo cáo lại sự việc trên cho Bác nghe. Bác bảo tôi: “Chú không cáu kỉnh với nó thế là tốt, vì mình còn phải làm việc với nó mà. Trong ngoại giao, nó cư xử thế nào cũng được, còn mình thì phải khéo léo. Vấn đề nó định dùng tiền mua chuộc, chú nói một câu như thế là nó đủ hiểu rồi.”

Chủ tịch  Hồ Chí Minh và Sainteny trên chiếc thủy phi cơ bay ra Vịnh Hạ Long gặp  D’Argenlieu.
(Ảnh do chị Hoàng Vĩnh Hạnh, con gái GS Hoàng Minh Giám cung cấp).

Trước lúc chúng ta chuẩn bị Tổng tuyển cử trong toàn quốc, Bác và Sainteny bắt đầu có những cuộc gặp nhau. Phải gặp nhau một cách bí mật. Chỉ họp buổi tối, sau 20 giờ.

Trong các lần gặp nhau giữa Bác và Sainteny, một số vấn đề có thể thỏa thuận với nhau trên nguyên tắc, nhưng trên hai vấn đề cơ bản thì bế tắc:

1. Ta đòi Pháp công nhận Việt Nam là một nước độc lập, Pháp chỉ công nhận Việt Nam là một nước tự trị.

2. Ta đòi Pháp công nhận Nam kỳ, Trung kỳ, Bắc kỳ là đất nước Việt Nam; Pháp từ chối, với lý lẽ Nam kỳ là thuộc địa của Pháp.

Cuối tháng 2/1946, ta được tin Pháp và chính quyền Tưởng Giới Thạch đã ký một bản thỏa thuận. Pháp bằng lòng trả giá cho việc Tưởng rút quân, để quân Pháp vào thay thế. Cái giá đó là:

Pháp trả lại cho Tưởng những nhượng địa của Pháp trên đất Trung Quốc, nhường cho Tưởng phần con đường xe lửa Việt Nam ở bên kia biên giới Việt – Trung, bằng lòng cho hàng hóa Trung Quốc được miễn thuế vào cảng Hải Phòng, mở rộng quy chế về Hoa kiều sống trên đất nước Việt Nam.

Leclerc ra lệnh cho hạm đội Pháp sẵn sàng lên đường ra miền bắc, đồng thời chỉ thị cho Sainteny phải ký được một thỏa thuận với Chính phủ Hồ Chí Minh, vì nếu Chính phủ Hồ Chí Minh phát động chiến tranh du kích thì sẽ “rối ren lắm!”

Ngày mồng 5/3/1946, có tin hạm đội Pháp đã đến Vịnh Hạ Long, và sáng hôm sau, sẽ đến Hải Phòng. Trong các tướng tá Trung Quốc không có sự nhất trí: có kẻ tán thành rút quân, có kẻ không tán thành. Một tên đến gặp Bác, vẻ hốt hoảng, hỏi: “Sao phía Việt Nam không thỏa thuận với Pháp? Nếu xảy ra chiến tranh thì ai chịu trách nhiệm?”

Tối hôm đó, Bác và Sainteny họp đến quá nửa đêm, mà không có kết quả. Phía Pháp đề nghị giải quyết vấn đề mà Nam kỳ bằng một cuộc trưng cầu dân ý. Phía ta đồng ý. Nhưng về vấn đề công nhận độc lập của Việt Nam thì Sainteny nói phải chờ quyết định của Quốc hội Pháp. Bác nói: “Rất tiếc, chúng tôi không thể đồng ý với các ông!”

Hai bên chia tay lúc 1 giờ sáng. Hai người Pháp tỏ ý rất lo lắng.

Sáng hôm sau, có tin quân Tưởng đã nổ súng khi hạm đội Pháp tiến vào Cửa Cấm, và hai bên đã bắn nhau.Phía ta đề nghị với phía Pháp có cuộc họp lúc 12 giờ trưa.Trong buổi họp, Bác đề nghị thay từ “độc lập” bằng từ “tự do” trong dự thảo hiệp định với một định nghĩa của từ “tự do”. Phía Pháp đồng ý, và hai bên thông qua bản dự thảo Hiệp định sơ bộ.

Sau đây, tóm tắt nội dung một số điểm:

1. Chính phủ Pháp công nhận nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là một quốc gia tự do có Chính phủ, có Quốc hội, có quân đội, có tài chính của mình, là thành viên của Liên hiệp Pháp và của Liên bang Đông Dương.

2. Chính phủ Pháp cam đoan sẽ thừa nhận quyết định của cuộc trưng cầu dân ý về vấn đề thống nhất ba kỳ.

3. Nước Việt Nam thuận cho 15.000 quân Pháp vào miền bắc Việt Nam thay thế quân Trung Quốc giải giáp quân Nhật. Số quân Pháp đó sẽ phải rút hết trong hạn 5 năm, mỗi năm rút 1/5.

4. Hai bên sẽ đình chiến ngay để mở cuộc đàm phán chính thức. Quân hai bên ở đâu vẫn cứ ở đấy.

5. Cuộc đàm phán chính thức sẽ tiến hành ở Hà Nội, Sài Gòn hoặc Paris với nội dung: quan hệ ngoại giao của Việt Nam với nước ngoài, quy chế của Đông Dương, những quyền lợi kinh tế và văn hóa của nước Pháp ở Việt Nam.

Kèm theo bản Hiệp định sơ bộ, có một bản phụ (accord annexe) quy định số quân Pháp vào miền bắc Việt Nam để thay thế quân đội Trung Quốc là 15.000 người, sẽ phải rút hết số quân đội đó khỏi Việt Nam sau thời hạn 5 năm, mỗi năm rút 1/5.

(Còn nữa)
Theo DVT

dvt.vn

GS Hoàng Minh Giám kể về những ngày vận nước “nghìn cân treo sợi tóc” (P 1)

Kỷ niệm 66 năm Cách mạng Tháng Tám, Báo DVT. vn trân trọng giới thiệu lời kể của GS Hoàng Minh Giám về những ngày “trứng nước” của nền cộng hòa.

Chủ tịch Hồ Chí Minh, tướng Leclerc, và Sainteny.

LỜI NÓI ĐẦU

GS Hoàng Minh Giám sinh năm 1904, tại làng Đông Ngạc, ngoại thành Hà Nội; mất năm 1995; cuộc đời trải dài gần trọn thế kỷ XX.

Phụ thân ông là cụ Phó bảng Hoàng Tăng Bí; mẫu thân là cụ bà Cao Nộn Thúy, con gái cụ Cao Xuân Dục, Thượng thư Bộ Học, Hiệp biện Đại học sĩ, Tổng tài Quốc sử quán.

Sinh ra và lớn lên trong một danh gia vọng tộc tầm cỡ lớn nhất đất nước, được xã hội đương thời ưu đãi, song, ngay từ thời trẻ, GS Hoàng Minh Giám đã căm ghét chế độ thực dân Pháp và hướng về Nhà cách mạng Nguyễn Ái Quốc.

Sau Cách mạng Tháng Tám, ông trở thành một cộng sự gần gũi của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Là một gương mặt đại trí thức của thế kỷ XX, ông cũng là một nhân chứng lớn của lịch sử nước ta thời hiện đại.

Với tư cách Phó Tổng Biên tập, rồi Tổng Biên tập tạp chí Tổ Quốc, tôi may mắn được làm việc gần gũi GS Hoàng Minh Giám trong khoảng mười năm (1979 -1989), khi Giáo sư giữ chức Phó Chủ tịch Hội đồng Biên tập tạp chí này (Chủ tịch Hội đồng Biên tập là GS Nguyễn Xiển). Vì thế, tôi được Giáo sư cho phép ghi nháp một số trang hồi ký. Bản ghi nháp ban đầu còn vụng về ấy, sau đó, được đích thân Giáo sư sửa chữa và nhuận sắc kỹ để bảo đảm độ trung thực và chuẩn xác tối đa.

Trân trọng giới thiệu một số trang hồi ký của Giáo sư với bạn đọc Báo DVT.vn.

HÀM CHÂU

PHẦN 1

Ngày 9/3/1945, quân đội Nhật đảo chính Pháp, lật đổ bộ máy cai trị của thực dân Pháp ở Đông Dương.

15 ngày sau (24/3/1945), chính quyền Pháp do De Gaulle cầm đầu, lưu vong ở nước ngoài, ra một tuyên ngôn, nói rằng sau chiến tranh, Pháp vẫn sẽ trở lại Đông Dương.

Tháng 8/1945, Nhật đầu hàng các nước Đồng minh. De Gaulle vội vàng cử tướng Leclerc chỉ huy quân đội viễn chinh đi tái chiếm Đông Dương, và cử thủy sư đô đốc d’Argenlieu làm Cao ủy Cộng hòa Pháp ở Đông Dương (tức là toàn quyền Đông Dương, với một nhãn hiệu mới). Chính phủ De Gaulle cử một “quan cai trị thuộc địa” tên là Cédille làm ủy viên Cộng hòa Pháp tại Nam Kỳ (tức là thống đốc Nam Kỳ), và một “quan cai trị thuộc địa” tên là Messmer làm ủy viên Cộng hòa Pháp ở Bắc Kỳ (tức thống sứ Bắc Kỳ).

Lúc đó, Cách mạng Tháng Tám đã thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã được thành lập. Tên Cédille nhảy dù xuống vùng Tây Ninh. Tướng Gracey chỉ huy quân đội Anh (được các nước Đồng minh ủy nhiệm giải giáp quân đội Nhật) ra sức giúp Leclerc và Cédille bắt đầu cuộc chiến tranh xâm lược miền nam nước ta. Leclerc huênh hoang tuyên bố sẽ “bình định Nam Kỳ” trong vòng bốn tuần lễ.

Tên Messmer nhảy dù xuống vùng Bắc Ninh, bị dân quân địa phương bắt được, nhưng dân quân vì sơ suất, để nó sổng mất.

Trong thời gian đó, một sĩ quan tình báo Pháp tên là Sainteny, chỉ huy một đơn vị tình báo Pháp đóng ở Côn Minh (tỉnh Vân Nam, Trung Quốc), đi nhờ một máy bay Mỹ đến Gia Lâm, bị quân đội Nhật phát hiện, đưa về Hà Nội, giam lỏng ở phủ toàn quyền.

Một ngày trong khoảng giữa tháng 9/1945, tôi đang làm việc tại 12 Ngô Quyền (trụ sở Bộ Nội vụ, đồng thời là nơi làm việc của Chủ tịch Hồ Chí Minh), một đồng chí cảnh vệ gác cổng vào báo cáo có hai người nước ngoài xin gặp một quan chức Việt Nam. Được cho vào, hai người kia nói: “Chúng tôi là hai sĩ quan Pháp, giúp việc ông Sainteny, gặp đại diện của Chính phủ Việt Nam để trao đổi ý kiến về vấn đề quan hệ giữa hai nước”.

Họ nói tiếp: “Ông Sainteny hiện đang ở trong phủ toàn quyền, nhưng quân đội Nhật không cho phép liên lạc với bên ngoài. Hai chúng tôi phải đánh lừa bọn lính Nhật, mới đến được đây. Từ nơi chúng tôi bị giam lỏng, chúng tôi đã theo dõi cuộc mít-tinh ngày 2/9 của các ông, rất đông người dự, nhưng rất trật tự, để lại cho chúng tôi một ấn tượng sâu sắc.”

Tôi ghi tên hai người Pháp, và bảo họ tôi sẽ trả lời sau.

Tôi báo cáo với Bác Hồ và anh Võ Nguyên Giáp (lúc đó là Bộ trưởng Bộ Nội vụ) và nói thêm rằng tôi đã nghe nói về Sainteny: Y là con rể của Albert Sarraut, nguyên toàn quyền Đông Dương; tên thật của y là Jean Roger, và y cũng đã là chủ của một hãng bảo hiểm ở Hải Phòng.

Chủ tịch Hồ Chí Minh và Sainteny cùng các đại diện Đồng minh sau lễ ký kết Hiệp định sơ bộ (6/3/1946). Trong ảnh: Người thứ nhất bên trái là GS Hoàng Minh Giám.
(Ảnh: Gia đình GS Hoàng Minh Giám cung cấp)

Bác nói: “Chú Giáp có thể cho anh ta gặp, xem anh ta nói gì”.

Tôi báo cho Sainteny đến gặp anh Giáp, và sau đó, anh Giáp cho biết: “Thái độ của Sainteny là mềm mỏng, nhưng lập trường của anh ta thì không khác lập trường của tuyên ngôn ngày 24/3 của De Gaulle”.

Lúc đó, tình hình rất phức tạp:

1. Ở miền nam, cuộc kháng chiến của đồng bào ta là vô cùng anh dũng, và gây cho địch nhiều khó khăn, nhưng giặc Pháp được thực dân Anh ủng hộ ra sức đẩy mạnh khủng bố, càn quét, lấn chiếm.

2. Ở miền bắc, 180.000 quân Tưởng nhếch nhác, đói khát, bệnh tật, ăn bám, vừa là một gánh nặng, vừa là mối đe dọa. Bọn Việt Nam quốc dân đảng (thường được gọi là “Việt quốc”) và Việt Nam cách mạng đồng minh hội (thường được gọi là “Việt cách”) luôn luôn quấy rối, yêu sách, chống đối.

3. Giữa Tưởng và Pháp có mâu thuẫn rõ ràng: quân đội Tưởng còn ở đó, thì quân đội Pháp không thể kéo vào. Mâu thuẫn giữa Tưởng và Pháp, trên một khía cạnh nào đó, có lợi cho ta; nhưng Bác và Thường vụ Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương đã thấy trước rằng hai tên kẻ cướp kia, một ngày nào đó, sẽ đi đến dàn xếp với nhau “trên lưng” chúng ta.

Quả nhiên, tháng 1/1946, ta được tin đại diện của Pháp và đại diện của Tưởng đang mặc cả với nhau ở Trùng Khánh.

Thời gian đó, Bác và Sainteny đã bắt đầu có những cuộc gặp nhau. Phải gặp nhau một cách bí mật. Giúp việc Bác, chỉ có tôi. Giúp việc Sainteny, chỉ có Pignon. Chỉ họp buổi tối, sau 20 giờ. Họp trong ngôi nhà hiện nay mang số 38 Lý Thái Tổ, trên một phố vắng người, gần nơi ở của Sainteny và nơi làm việc của Bác. Bảo vệ an toàn và bí mật các buổi họp do phía ta đảm nhiệm.

(Còn nữa)
Theo DVT

dvt.vn

Mùa thu Cách mạng và sự ra đời của một bài hát

Nhiều thế hệ người Việt Nam có lẽ ai cũng thuộc và từng hát “Ai yêu Bác Hồ Chí Minh hơn thiếu niên nhi đồng” và mỗi khi ngân lên âm hưởng đó, trong mỗi người lại nhớ về Mùa thu Cách mạng, mùa thu năm 1945.

Bác Hồ với các cháu thiếu nhi quê nhà Nghệ An (Ảnh: tư liệu)

Nhạc sĩ Phong Nhã, tác giả của bài hát đó có lần kể: Bài hát này được viết cuối năm 1945 và chính không khí sục sôi khí thế cách mạng của Mùa thu Tháng Tám lịch sử và công lao trời biển của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đã tạo nguồn cảm hứng để tác giả viết: “Ai yêu Bác Hồ Chí Minh…” và để tác phẩm sống mãi với thời gian.

Ngày 2/9/1945, một ngày đã đi vào lịch sử của dân tộc. Bác Hồ ra mắt lần đầu tiên ở Thủ đô Hà Nội và đọc Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, long trọng tuyên bố với thế giới rằng: Nước Việt Nam đã độc lập, người Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập ấy. Với nhạc sĩ Phong Nhã đó là một khoảnh khắc lịch sử, một dấu ấn không bao giời phai.

Ngày 5/9/1945, chỉ sau 3 ngày chính quyền về tay nhân dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư cho các cháu thiếu nhi với những lời lẽ thật tâm huyết: “Non sông Việt Nam có trở lên vẻ vang hay không. Dân tộc Việt Nam có vẻ vang sánh vai các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các cháu”…

Tiếp đến Tết Trung thu độc lập đầu tiên – ngày 20/9/1945, Người lại viết thư gửi các cháu và căn dặn: Các cháu vào Hội Nhi đồng cứu quốc để “tập làm quen với đời sống chiến sĩ và giúp đỡ một vài việc nhỏ cho Cách mạng…”. Cũng Tết Trung thu năm ấy, Bác còn bày cỗ để đón một số các cháu vào vui Tết Trung thu cùng Bác và được Bác tặng kẹo!

Sự chăm sóc ân cần của Bác đối với thiếu nhi, nhất là với các cháu thiếu nhi nghèo khổ trong những ngày đầu Cách mạng Tháng Tám đã thấm vào tâm hồn mỗi người Việt Nam, vào tâm hồn nhạc sĩ Phong Nhã. Tất cả những điều đó chính là khởi nguồn ra đời một sáng tác bất hủ, thể hiện tình cảm sâu nặng của thiếu nhi Việt Nam đối với vị Cha già kính yêu của dân tộc.

Thời điểm ấy, mới có ba bài hát về Bác Hồ: “Hồ Chí Minh muôn năm” (Minh Tâm), “Dân Nam ơi nhớ ơn Cụ Hồ” (Lưu Bách Thụ), “Bé yêu già Hồ” (Đỗ Nhuận) và trong suy nghĩ của tác giả, là phải tìm được từ nào đó xưng hô với Chủ tịch Hồ Chí Minh thân mật nhất, kính yêu nhất. Thế là hai tiếng Bác Hồ lần đầu tiên được đưa vào bài hát và được nhấn nhiều lần “Ai yêu Bác Hồ Chí Minh hơn thiếu niên nhi đồng”, đây cũng là dấu ấn tạo nên sự thành công của bài hát.

Ngày 19/5/1946, lễ kỷ niệm ngày sinh nhật Bác lần đầu tiên được tổ chức tại Hà Nội. Các cháu thiếu nhi Thủ đô đến chúc thọ Bác tại Phủ Chủ tịch (Nhà khách Chính phủ bây giờ). Lần đầu tiên các cháu trình diễn tập thể bài hát “Ai yêu Bác Hồ Chí Minh hơn thiếu niên nhi đồng” kính tặng Người. Khi Bác nghe đến câu hát: “Bác nay tuy đã già rồi, già rồi nhưng vẫn vui tươi”, Bác cười và nói: “Bác đã già đâu, Bác mới 56 tuổi”! Mọi người đến dự sinh nhật Bác đều vui với lời nói dí dỏm của Bác.

Bài hát “Ai yêu Bác Hồ Chí Minh hơn thiếu niên nhi đồng” ra đời như vậy. Bài hát đã được chọn là một trong những bài hát hay nhất của thế kỷ XX./.

Minh Hoàng
(website Tổ Quốc)

anninhthudo.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh với Quốc hội đầu tiên của đất nước

(ANTĐ) -Sau thắng lợi vĩ đại của Cách mạng Tháng Tám, giành lại chính quyền về tay nhân dân, việc tổ chức thành công Tổng tuyển cử bầu Quốc hội của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa có ý nghĩa vô cùng trọng đại, khẳng định tính hợp pháp và hợp hiến của Nhà nước trước toàn thế giới. Trong tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”, thù trong giặc ngoài đang câu kết với nhau hòng phá hoại Tổng tuyển cử, lật đổ Chính phủ Hồ Chí Minh, thì cuộc bầu cử Đại biểu Quốc hội càng mang ý nghĩa sâu sắc hơn.

Bác Hồ đi bỏ phiếu bầu cử

Trong những ngày tháng vô cùng gian nan ấy, Chủ tịch Hồ Chí Minh vừa là người đứng đầu sóng ngọn gió, chèo lái con thuyền cách mạng vượt qua mọi thác ghềnh, vừa chỉ đạo các Bộ chuẩn bị tốt mọi mặt cho cuộc Tổng tuyển cử; đồng thời, Người trực tiếp gặp gỡ các tầng lớp nhân đan Thủ đô, kêu gọi toàn dân đoàn kết, không nghe theo luận điệu tuyên truyền phản dân hại nước của bọn Việt quốc, Việt cách, thực hiện nghĩa vụ và quyền lợi thiêng liêng của công dân yêu nước.

15 giờ ngày 5-1-1946, tại Việt Nam học xá (nay là khu Đại học Bách khoa), thay mặt các ứng cử viên của Quốc hội tại Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói chuyện với đồng bào dự mít tinh: “Làm việc nước bây giờ là hy sinh phấn đấu, quên lợi riêng mà nghĩ lợi chung. Những ai muốn làm quan cách mạng thì không nên bầu”(1). Cùng ngày, Người viết “Lời kêu gọi quốc dân đi bỏ phiếu” bầu đại biểu Quốc hội – những người ra gánh vác việc nước, trong đó, Người căn dặn đại biểu Quốc hội: “Những người trúng cử sẽ phải ra sức giữ vững nền độc lập của Tổ quốc, ra sức mưu sự hạnh phúc cho đồng bào.

Phải luôn luôn nhớ và thực hành câu: vì lợi nước, quên lợi nhà; vì lợi chung, quên lợi riêng. Phải làm cho xứng đáng với đồng bào, với Tổ quốc. Người không trúng cử, cũng không nên ngã lòng… ở trong Quốc hội hay ở ngoài Quốc hội, mình cũng cứ ra sức giúp ích nước nhà”(2).

Ngày 6-1-1946, Hà Nội tưng bừng trong ngày hội lớn. Chủ tịch Hồ Chí Minh đến địa điểm hòm phiếu ở số 10 phố Lý Thái Tổ thực hiện nghĩa vụ công dân, sau đó, Người đi thăm hỏi cử tri ở phố Hàng Bạc, Hàng Đào, Lò Đúc, Thụy Khuê, Hồ Khẩu, Yên Thái… Hình ảnh vị Chủ tịch nước giản dị, gần gũi trong ngày bầu cử mãi khắc sâu trong tâm khảm nhân dân. Người đã được  bầu với số phiếu cao nhất.

Ngày12-1-1946, Hà Nội tổ chức mít tinh mừng thắng lợi của Tổng tuyển cử. Thay mặt các đại biểu Quốc hội đã trúng cử, Hồ Chủ tịch cảm ơn nhân dân Hà Nội, biểu dương nhân dân Hà Nội và cả nước, trong hoàn cảnh khó khăn phức tạp đã làm tròn nhiệm vụ của người công dân yêu nước. Người căn dặn đồng bào ra sức củng cố và giữ gìn độc lập. Kết thúc bài phát biểu, Hồ Chủ tịch hứa: “Trước sự khó khăn của nước nhà, chúng tôi xin đi trước. Với việc giữ gìn nên độc lập, chúng tôi xin đi trước”.

Ngày 2-3-1946, kỳ họp thứ nhất của Quốc hội khóa I được tổ chức, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc lời khai mạc, báo cáo trước Quốc hội những việc chính phủ liên hiệp lâm thời đã làm trong 6 tháng: Ra sức kháng chiến; giảm bớt đói kém bằng cách thực hành tiết kiệm, tăng gia sản xuất; tổ chức Tổng tuyển cử; bầu Quốc hội thành công. Quốc hội đã nhất trí thành lập Chính phủ mới – Chính phủ kháng chiến với 10 Bộ do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch, Nguyễn Hải Thần làm Phó chủ tịch.

Thay mặt Chính phủ kháng chiến, Người đọc lời tuyên thệ thiêng liêng trước bàn thờ Tổ quốc, trước Quốc hội: “Cương quyết lãnh đạo nhân dân kháng chiến, thực hiện nền dân chủ cộng hòa Việt Nam, mang lại tự do, hạnh phúc cho dân tộc. Trong công việc giữ gìn nền độc lập, chúng tôi quyết vượt nỗi khó khăn dù phải hi sinh tính mệnh cũng không từ”(3).

Thực hiện lời tuyên thệ, Hồ Chủ tịch đã lãnh đạo chính phủ tiếp tục kháng chiến kiến quốc, củng cố chính quyền, thành lập mặt trận liên Việt mở rộng khối đại đoàn kết toàn dân, chuẩn bị mọi mặt cho cuộc kháng chiến.

Ngày 31-10-1946, tại kỳ họp thứ hai của Quốc hội, Người được giao trọng trách tiếp tục làm Chủ tịch nước. Đọc lời tuyên thệ, Hồ Chủ tịch thẳng thắn bày tỏ: “Hồ Chí Minh không phải là kẻ tham quyền cố vị, mong được thăng quan phát tài(…) Tôi xin tuyên bố trước Qốc hội, trước quốc dân, trước thế giới: Tôi chỉ có một đảng, đảng Việt Nam. Tôi cũng xin tuyên bố trước Quốc hội, trước quốc dân và thế giới, chính phủ sau đây phải là chính phủ liêm khiết”(4). Quốc hội đã nhất trí thông qua Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đặt nền móng cho tổ chức và hoạt động luật pháp của Nhà nước. Đó là một sự kiện  lớn có ý nghĩa quan trọng trong lịch sử Quốc hội nước ta.

Năm 1960, nhìn lại những ngày tháng cam go ấy, trong bài “Quốc hội thật vĩ đại, Hồ Chủ tịch viết: “Hồi đó, có người nói: nhân dân ta trình độ non kém, không nên vội tổ chức Tổng tuyển cử, nhưng Đảng ta kiên quyết nói: đồng bào ta phải được hưởng quyền dân chủ, chúng ta phải tổ chức Tổng tuyển cử.(…) Quốc hội đầu tiên trong lịch sử Việt Nam – Quốc hội khóa I – đã được toàn dân bầu ra(…) Quốc hội khóa I của ta là Quốc hội kháng chiến”(5).

Tự mình làm gương đạo đức cách mạng: Cần, Kiệm, Liêm, Chính, trước toàn đảng toàn dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã là người tổ chức và là linh hồn của Quốc hội, phát huy được sức mạnh đoàn kết của mọi tầng lớp nhân dân để chống thù trong giặc ngoài, xây dựng chính quyền thực sự do dân, vì dân, thực hiện dân chủ và dân quyền của nhân dân. Đó chính là cội nguồn để ngọn cờ độc lập dân tộc được giữ vững trước muôn vàn thử thách của giặc giã, đói nghèo, lạc hậu.

Ths Phạm Kim Thanh

(1), (2),(3),(4): Hồ Chí Minh, toàn tập, tập 4, NXB CTQG,H.1995, tr

(5): Hồ Chí Minh, toàn tập , tập 10, NXB CTQG, H.1996, tr

anninhthudo.vn