Thư viện

Tấm lòng của Bác Hồ thật là mênh mông vĩ đại

Đã 25 năm kể từ khi bài thơ dài Việt Nam – tình yêu của tôi của Vili Xanbao ra đời, được dịch và trân trọng giới thiêu trên báo Nhân dân số ra ngày 6-2-1977. Cho đến bây giờ, nhiều câu trong đó vẫn cứ ngân lên trong lòng tôi:

Chào bạn Việt Nam! Có nghe tôi hát
Có nghe xôn xao nhịp đập tim tôi
Giữa sớm mai nay, tiếng hát bồi hồi
Đưa tôi đến những vùng quê xa tít

Năm 1988, ở tuổi 74, ông lại hoàn thành bài thơ Nhật ký Việt Nam dài đúng 200 câu, thể hiện những tình cảm nồng nàn đối với Bác Hồ và nhân dân ta.

Cách đây gần một năm, trong dịp công tác ở Đức tôi đã đến thăm ông tại nhà riêng ở phố Rathaodơ, trung tâm thủ đô Beclin. Ông đang ốm nặng, nhưng được bà Ria, người bạn đời yêu quý của ông báo tin có khách Việt Nam đến, gương mặt ông tươi tắn hẳn lên. Ông vẫn nằm ở giường, lâu nay ông vẫn nằm như thế – nhưng cổ nghển lên, đưa cả hai tay ôm lấy tôi: “Việt Nam! Việt Nam!”. Tôi để ý: hai khoé mắt ông ngấn lệ. Ông xúc động nói: “Việt Nam và Bác Hồ lúc nào cũng hiển hiện trong tâm hồn tôi”.

Là người quen biết ông từ lâu, lại đã từng hợp tác với nhau trong một số công việc báo chí và văn học, tôi rất hiểu tấm lòng ông. Từng mấy thập kỷ làm Tổng thư ký Uỷ ban Việt Nam, Uỷ viên Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Đoàn kết của Cộng hoà Dân chủ Đức, ông thực hiện trách nhiệm của mình một cách tuyệt vời, không chỉ với cương vị một cán bộ Nhà nước, một “quan chức” mà trước hết, trên hết, tự xác định là một người bạn thực sư của Việt Nam. Con người hiền lành, giàu tình cảm và rất đỗi khiêm nhường ấy đã có sau lưng mình gần tám chục năm hoạt động cách mạng sôi nổi và phong phú – kể từ lúc đứng trong hàng ngũ Đội thiếu niên Chim ưng đỏ ở tuổi lên 9, miệt mài nghiên cứu, viết sách, viết báo. Tập hồi ức Thẳng lưng mà bước của ông vừa xuất bản mà tôi hân hạnh được ông tặng riêng một cuốn, là sản phẩm chủ yếu của quá trình lao động miệt mài ấy. Ngay trong tập hồi ức này, ông dành hẳn một chương viết về Việt Nam và đặc biệt về những dịp ông được tiếp xúc với Bác Hồ. Tình cảm ấy, ở ông, như một sợi chỉ đỏ, xuyên suốt bao nhiêu năm qua. Gần 30 năm trước, trong bài Nghĩ đến Việt Nam, nghĩ đến Bác Hồ, ông đã viết:

“Là một người từng công tác ở Uỷ ban Việt Nam, bao nhiêu năm qua, tôi đã lắng nghe với tất cả tâm hồn mình những bước đi của sự nghiệp cách mạng của nhân dân Việt Nạm dưới sự lãnh đạo của Bác Hồ. Đối với chúng tôi, Việt Nam có nghĩa là Bác Hồ. Trên làn môi cửa trẻ con nước chúng tôi, hai tiếng “Bác Hồ” được gọi với niềm yêu thương, tin cậy, trìu mến. Riêng đối với tôi, bởi vì Việt Nam đã trở thành quê hương thứ hai của mình, tôi xin được phép gọi Bác Hồ là người cha thân thiết của tôi. Tôi bỗng nhớ đến một câu ca dao Việt Nam rat dễ thương:

Tháp Mười đẹp nhất hoa sen
Nước Nam đẹp nhất có tên Bác Hồ

Từng đọc những vần thơ thiết tha về Bác Hồ, về Việt Nam của Vili Xanbao, nhà thơ Lưu Trọng Lư đã có những cảm nghĩ hết sức tốt đẹp và đầy lòng biết ơn đối với người đồng nghiệp ở phía trời Tây.

Trong các tác phẩm của V.Xanbao, theo nhận xét của tôi – người được đọc và dịch gần hết ra tiếng Việt – tình cảm của ông đối với Bác được thể hiện đầy đủ nhất ở hồi ức Tháng giêng năm ấy. Tháng Giêng năm ấy là năm 1969, năm cuối cùng trong đời Bác Hồ vĩ đại, vào ngày 23, tính ra chỉ 7 tháng 9 ngày trước khi Người vĩnh biệt cuộc đời này, ông và các đồng chí của mình đã được đến thăm Bác Hồ tại nhà riêng. Ông cho biết: Hồi này – so với những lần gặp trước – trông Bác đã yếu nhiều. Mọi người trong đoàn đều lo ngại về sức khoẻ của Người. Nhưng Người chỉ mỉm cười đôn hậu: “Các đồng chí đừng lo. Tôi vẫn ăn, ngủ và làm việc bình thường”. Rồi Người âu yếm hỏi: “Các chú thấy co lạnh không?”. Mọi người trả lời: “Thưa Bác, không ạ!” Bác là người già yếu, đáng lo nhất về sức khoẻ thì Người lại quan tâm, hỏi thăm sức khoẻ từng người một. Lúc ấy, trong đoàn, chỉ có Chủ tịch Uỷ ban Việt Nam Mác Dêphrin bi cúm, phải nằm Bệnh viện Hữu Nghị mất mấy ngày. Theo phép lịch sự, Mác Dêphrin cởi áo khoác ngoài và định cởi cả khăn quàng ra thì Bác xua tay: “Không nên cởi khăn quàng, chú ạ!”. Nói xong, Người cởi khăn quàng của Người ra và quàng thêm cho Dêphrin. Thấy Người cũng mệt, Chủ tịch Uỷ ban chúng tôi vội quàng chiếc khăn của ông cho Người.

Trong cuộc gặp này, Bác Hồ đã được báo cáo rất tỉ mỉ về phong trào ủng hộ Việt Nam ở Cộng hoà Dân chủ Đức, từ các hoạt đông: “Điện cho Việt Nam”, “Xe đạp cho Việt Nam”, “Máu cho Việt Nam”… cho đến những buổi hoà nhạc quyên tiền theo yêu cầu thính giả của đài phát thanh, những “quầy hàng đoàn kết do thanh niên và thiếu niên, nhi đồng tổ chức… Đoàn đại biểu Uỷ ban Việt Nam trao tặng Bác những món quà mà nhân dân ở các nơi của Cộng hoà Dân chủ Đức gửi biếu Người. Bác tỏ ý rất vui và xúc động trước tình cảm chân thành của mọi người trên quê hương Các Mác.

Trong món quà kính dâng Bác Hồ, Người rất thích tác phẩm Việt Nam trong giờ phút này – một cuốn sách dày dặn, giấy tốt, khổ to, mới được xuất bản trước đó ít lâu. Đây là công trình của nhiều văn nghệ sĩ tên tuổi ở Đức và trên thế giới như Anna Dêgớc, Phởítxơ Brêmơ, Pao Đếtxao, Xtê Phan Hêmơlin, Gêoóc Maorơ, Ôttô Nagen, Vili Xítê, Cuốc Stécnơ, Bổít Pôlêvôi, Sôlôkhốp, Iven, Êptusenkô, Pêtơ Vaisơ… từ khắp các lục địa cũng gửi bản thảo tới, hưởng ứng hành động chung giàu ý nghĩa. Tiền bán sách được gửi vào quỹ đoàn kết ủng hộ Việt Nam. Đăc bịệt, hơn 30 tác giả ở Mỹ, trong đó có Philíp Bônỗki, Pêthơ Dêgơ… cũng viết bài cho tập sách…

Là người biết tiếng Đức, Bác Hồ lật từng trang sách một tấm lòng trân trọng. Người chú ý từng tên tác giả và cũng dừng lại khá lâu ở bản thống kê phong phú, độc đáo về sự phát triển của Việt Nam trong các thế kỷ qua. Người được giao báo cáo với Bác về mọi việc cụ thể là Vili Xanbao. Riêng về cuốn sách này, Bác Hồ nói với ông: “Đây là hành động chung bao trùm khắp thế giới. ý tưởng của các nhà văn Đức thật đáng ca ngợi. Nhân dân Việt Nam, qua tác phẩm này, thêm một lần đón nhận những tiếng nói đoàn kết chiến đấu cất lên từa nhiều phương trời…”. Bác còn hỏi thăm về từng tác giả, như Brunô Apítxơ, người viết cuốn Trần trụi giữa bầy sói; Cuốc và Gien Stécnơ, những người Bác Hồ từng có lần tiếp tại nhà sàn này, hoặc Erích Noisơ, nhà văn đã viết vở kịch Cuộc chiến tranh bẩn thỉu nói về một làng quê Việt Nam bên sông MêKông và về Hoàng cung của Bảo Đại…

Vili Xanbao vui mừng được giới thiệu với Bác Hồ những bức tranh do thiếu nhi Đức vẽ, những vần thơ do các em viết hoặc những “sản phẩm” do các em làm để bán tại các quầy “đoàn kết” lấy tiền ủng hộ Việt Nam. Nhà thơ kính biếu Bác một quyển anbum Tem về Việt Nam, trong đó có nhiều tem mang hình ảnh Bác Hồ.

Trong bầu không khí hết sức cởi mở ấm áp, Bác sĩ Mác Dephrin nêu một vấn đề khá quan trọng để xin ý kiến Người. Số là, trong thời giàn đó, nhiều thanh niên ở Cộng hoà dân chủ Đức tình nguyện xin được sang Việt Nam trực tiếp cầm súng chống Mỹ. Nghe báo cáo xong, Bác nở một nụ cười trìu mến và chậm rãi nói:

– Tôi rất vui, khi được biết ý định đó của các cháu. Đó là một ý định tốt, rất đáng hoan nghênh. Xin nhờ các đồng chí chuyển lời cảm ơn của tôi tới các cháu. ý định đó, quyết tâm đó của các cháu nói lên rằng, tình đoàn kết quốc tế của thế hệ trẻ nước Cộng hoà Dân chủ Đức đã phát triển ở mức độ cao nhưng vấn đề là cần làm cho các cháu hiểu rằng: chúng ta đừng để nổ ra một cuộc chiến tranh thế giới. Nhân dân Việt Nam rất yêu chuộng hoà bình nên mới tiến hành cuộc đấu tranh đầy gian khổ, hy sinh này. Chúng tôi không những chiến đấu vì bản thân mình mà chính là vì lợi ích của toàn nhân loại. Tôi nghĩ rằng, ở Đức cũng như ở các nước khác trước hết cần tiến hành phong trào đoàn kết ủng hộ Việt Nam ngay trong nước mình, đó là một phong trao ủng hộ rộng khắp về chính trị, tinh thần và vật chất…

Nghe Bác nói, các bạn Đức càng thấm thía về sự quan tâm của Người đối với lợi ích chung của hoà bình thế giới. Vili Xanbao viết: “Tấm lòng của Bác thật là mênh mông, vĩ đại! Trong tầm nhìn của Bác, không những cho thấy Người là nhà quốc tế đáng kính phục mà còn là nhà văn hoá lớn, giàu tình thương yêu nhân loại. Nào ai ngờ rằng chỉ sau đó ít tháng, Bác Hồ đã vĩnh viễn ra đi trong niềm tiếc thương vô hạn của mọi con người lương tri trên trái đất này…”

Tháng 4 năm 2002
T.Đ
cpv.org.vn

Tổng thống Cộng hoà Ác-mê-ni-a đặt hoa tưởng niệm các Anh hùng liệt sỹ và Chủ tịch Hồ Chí Minh

Nhận lời mời của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, Tổng thống nước Cộng hoà Ác-mê-ni-a Serzh Sargsyan đã sang thăm chính thức Việt Nam từ ngày 8/6/2012 đến ngày 9/6/2012.

tong thong 1Ngài Tổng thống và Đoàn đại biểu cấp cao nước Cộng hoà Ác-mê-ni-a
vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh

Trong khuôn khổ chuyến thăm này, Ngài Tổng thống và Đoàn đại biểu cấp cao nước Cộng hoà Ác-mê-ni-a đã đến đặt hoa tưởng niệm các Anh hùng liệt sỹ và Chủ tịch Hồ Chí Minh, vòng hoa của Đoàn mang dòng chữ: “Tổng thống nước Cộng hoà Ác-mê-ni-a kính viếng”.

Chuyến thăm của Ngài Tổng thống diễn ra khi hai nước đang tích cực chuẩn bị kỷ niệm 20 năm thiết lập quan hệ ngoại giao (14/7/1992 – 14/7/2012). Đây là dịp để hai nước bàn bạc, thống nhất các biện pháp tăng cường hợp tác nhiều mặt, đẩy mạnh hơn nữa hợp tác kinh tế thương mại và hợp tác trong các lĩnh vực tiềm năng, trao đổi một số vấn đề quốc tế và khu vực mà hai bên cùng quan tâm. Kế thừa mối quan hệ giữa Việt Nam và Liên Xô trước đây, trong 20 năm qua kể từ khi thiết lập quan hệ ngoại giao (14/7/1992), Việt Nam và Ác-mê-ni-a đã duy trì và củng cố quan hệ chính trị tốt đẹp. Ác-mê-ni-a đã từng dành cho nhân dân Việt Nam sự giúp đỡ quý báu trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước, trong đó có hoạt động hỗ trợ đào tạo cán bộ, sinh viên và phối hợp và ủng hộ nhau trên các diễn đàn quốc tế./.

Lan Hương
bqllang.gov.vn

Cụ Hồ – tướng Giáp trong mắt “người phụ nữ Mỹ duy nhất hiểu VN”

 – Tôi gặp bà  vào một buổi chiều trung tuần tháng 8. Nữ  nhà văn Lady Borton – “người phụ  nữ Mỹ duy nhất hiểu Việt Nam một cách cặn kẽ”.

Bà bận một chiếc áo hoa cũ  cộc tay, choàng một chiếc khăn tơ tằm thô và đón tôi bằng một cử chỉ thân thiện, một câu tiếng Việt “chào em”. Sự mở đầu này làm tôi phấn chấn rất nhiều cho buổi trò chuyện với bà.

Lịch sử  sống trong những hồi ức

Bà  đã viết cuốn “Những người thuyền nhân” (1984) – về những người di tản Việt Nam qua đường biển và “Tiếp sau nỗi buồn” (1995) – về những phụ nữ Việt Nam trong và sau hai cuộc chiến tranh. Bà đã rất nổi tiếng trên diễn đàn văn học thế giới với hai quyển sách này. Phải chăng vì hai cuốn sách đó mà bà được biết đến với tư cách “người phụ nữ Mỹ duy nhất hiểu Việt Nam”?

Cụ Hồ trao quyền cho Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong chiến dịch Điện Biên Phủ. Ảnh tư liệuHồ Chủ tịch giao nhiệm vụ cho Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong chiến dịch Điện Biên Phủ. Ảnh tư liệu

Tôi hoàn toàn không có mơ  ước hay dự định trở thành nhà nghiên cứu lịch sử. Nhưng tôi rất yêu thích lịch sử. Cách mạng Việt Nam rất mới và những nhân vật lịch sử  còn sống vẫn nhiều. Tôi rất quý những người như thế. Không cần đọc sách, chỉ cần nghe họ kể.

Bà  có thể chia sẻ  về hành trình tìm kiếm và  kiểm chứng sự thật qua những hồi  ức bà được nghe?

Tôi đã gắn bó với Việt Nam hơn 40 năm. Đã có những người bạn Việt thân thiết từng chứng kiến và tham gia những sự kiện lịch sử. Như về ngày Cách mạng tháng 8, ngày Quốc khánh 2/9. Chị bạn tôi đã kể cho tôi những ký ức được gặp Cụ Hồ từ năm chị 10 tuổi.

Đó là ngày Quốc Khánh 2/9/1945. Cụ đọc Tuyên ngôn độc lập. Chị kể cho tôi là chị và bố đi dọn dẹp đường phố. Tôi mới băn khoăn hỏi tại sao mẹ đâu mà lại là bố. Chị nói mẹ ở nhà thắp hương.

Thế là tôi biết thêm chi tiết, ngày đó, mỗi gia đình đều có người ở nhà dọn dẹp, lau chùi sạch sẽ, treo đèn và thắp hương cúng ông bà, thông báo nước nhà độc lập.

Những hồi ức sống thật quý và quan trọng, song sự thật lịch sử cần nhiều hơn thế?

Có một câu chuyện khác từ chị bạn tôi kể. Chị được tới dự một hội nghị có Cụ Hồ. Chị ngồi ở  hàng cuối cùng. Cụ đến, đọc diễn văn, rồi bỏ  kính ra nói chuyện. Rồi Cụ đi xuống dưới, gần hàng ghế của chị ấy và ngồi vào một cái ghế trống.

Cụ Hồ luôn muốn gần dân nên việc Cụ xuống ngồi thì chắc chắn không sai rồi. Nhưng tôi cũng nghĩ, một cuộc gặp gỡ với Cụ Chủ tịch thì không thể có một ghế trống. Tôi nói điều ấy với chị ấy và chị ấy công nhận  rằng: đúng, không bao giờ có cuộc gặp Hồ Chí Minh mà lại trống chỗ ngồi cả.

Nhưng việc chuẩn bị ấy chị không biết. Có thể có cán bộ đã lấy ghế cho Cụ mà chị không biết. Qua đó tôi đã biết thêm một phần nữa của lịch sử, một phần về Cụ. Nhờ những tư liệu đó tôi đã viết cuốn:  “Hồ Chí Minh một chặng đường”.

Được biết ngoài viết sách về Việt Nam, bà cũng có dịch một số tác phẩm?

Tôi có dịch “Nhật ký  Đặng Thuỳ Trâm”, “Điện Biên Phủ – Điểm hẹn lịch sử”…, Năm 2004, tôi dịch cuốn sách “Điện Biên Phủ – Điểm hẹn lịch sử”. Có nhiều điểm tôi không hiểu. Để giải đáp những thắc mắc, tôi đã may mắn được gặp ông Hồng Cư – người viết cuốn: “Võ Nguyên Giáp thời trẻ”.

Tôi biết đây là một cuốn sách quan trọng, viết về một nhân vật đặc biệt. Tác giả cuốn sách là một người rất thân thiết với gia đình cũng như với ông Giáp lâu năm và viết rất công phu, tỉ mỉ.

“Tướng Giáp hiểu người Pháp một cách sâu sắc”

Chị cảm nhận như thế nào về  tướng Giáp của chúng tôi?

Với người nước ngoài, người Việt Nam đầu tiên mà họ biết là Hồ Chí Minh sau là đến Võ Nguyên Giáp. Ông Giáp giỏi lắm. Khi còn nhỏ ông Giáp học chữ Nho với bố. Đến giờ ông vẫn nhớ những câu thơ trong bộ sách “Tam tự kinh và “Ấu học tân thư” (xuất bản dưới thời vua Duy Tân)

Nữ  nhà văn Lady Borton. Ảnh: TG

Năm mười hai, mười ba tuổi, ông học trung học ở Quốc học Huế. Khi cụ Phan Bội Châu về nước, học trò thường đến, trong đó có ông Giáp. Nhiều sách nước ngoài viết rất khác về lãnh đạo, về kháng chiến Việt Nam. Họ cho rằng ông Giáp chưa bao giờ bị bắt nhưng họ đã sai. Ông Giáp đã bị bắt ở Huế.

Theo quan sát của bà  vì sao tướng Giáp và  nhân dân Việt Nam chiến thắng Điện Biên, chiến thắng thực dân Pháp?

Nếu không có chiến tranh thì ông Giáp có lẽ trước hết sẽ là nhà báo. Ông có nhiều bài viết và biên tập bài viết in bằng tiếng Pháp khi giữ chuyên mục “Thế giới thời đàm” của tờ báo Tiếng Dân. Ông đọc và nghiên cứu về các vấn đề kinh tế, chính trị khắp thế giới.

Lúc học đại học ở Hà Nội ông học Luật, sau đó là nhà giáo dạy lịch sử. Ông đã đọc rất nhiều lịch sử các nước thuộc địa Đông Dương và thế giới. Nhất là lịch sử Pháp, nhân vật lịch sử Napoleon. Tôi đã sang thư viện Bộ Quốc phòng Pháp và thư viện Bộ Quốc phòng thuộc địa của Pháp một tháng. Đọc nhiều tài liệu và cũng sao chụp được nhiều thông tin hoạt động này của ông Giáp.

Ông Giáp có một quyển sách thống kê giới thiệu tất cả các tướng của Napoleon đấy. Có lẽ người Pháp lúc đó không ngờ một người nước thuộc địa lại có thể hiểu về nước Pháp đến thế. Chính vì thế họ đã thất bại trong trận chiến với ông Giáp, với nhân dân Việt Nam.

Ông ấy hiểu người Pháp, lịch sử, tâm lý, cách quản lý, tổ chức của người Pháp rất sâu sắc. Nên chiến thắng của Việt Nam là chiến thắng của trí tuệ và toàn dân.

Tôi  đang dịch “Vừa đi đường vừa kể chuyện”

Vâng, mặc dù  không trải qua những năm chiến tranh, nhưng từ  trong tâm thức của tôi – một người của thế  hệ trẻ thời bình: Ông Giáp là một thần tượng khả  kính, tôn sùng và mến yêu. Giờ đây mỗi khi nhìn thấy ông trên truyền thông tôi cảm thấy rất xúc động và lo lắng vì ông đang ngày một già đi và gầy hơn. Bà có còn biết thêm điều gì đặc biệt về tướng Giáp của chúng tôi không?

Ông Giáp không phải là không có thất bại đâu nhé. Ai nghĩ đến ông Giáp cũng chỉ nghĩ đến những thắng lợi mà thôi. Nhưng có đấy, năm 12 tuổi ông đã mơ ước học Quốc học Huế và tin rằng việc thi vào đó cũng đơn giản.

Vì ông là học trò đứng đầu lớp, đầu huyện, đầu tỉnh Quảng Bình lúc đó. Nhưng ông đã thất bại năm thi đầu tiên. Ông không biết vì sao. Cụ thân sinh ông chắc là người buồn nhiều nhất. Ông Giáp đã mất một năm để học và thi lại.

Có lẽ ông ấy đã rút ra một bài học là lúc nào cũng nghĩ mình giỏi quá thì thất bại. Chi tiết này nhỏ bé nhưng rất xúc động. Ông Giáp là người như thế, linh động, biến hoá và nhìn vào hoàn cảnh để thay đổi. Chính vì thế trong những trận chiến ông đã thay đổi chiến lược, chiến thuật rất nhanh.

Công việc hiện nay của bà  là gì?

Một tuần một hai buổi tôi tới tạp chí Cửa sổ văn hoá của NXB Thế Giới làm công việc của một người biên tập tiếng Anh chính. Tôi đang dịch cuốn sách “Vừa đi đường vừa kể chuyện” của Chủ tịch Hồ Chí Minh, cuốn “Từ nhân dân mà ra” của Đại tướng Võ Nguyên Giáp; “Tây Nguyên ngày ấy” của bác sĩ Lê Cao Đài, một nhà nghiên cứu chất độc hoá học Dioxin. Đây là những tác phẩm hay và viết rất chi tiết thời điểm lịch sử mà người nước ngoài không biết.

Người ta vẫn thường nói, một người không thể làm tốt  được nhiều việc cùng một lúc. Nhưng nghiệm  điều này vào bà có lẽ không phù  hợp. Trong bà là con người nhà văn, nhà hoạt động xã hội, nghiên cứu lịch sử, văn hoá Việt Nam và dịch giả. Bà làm việc không mệt mỏi và gặt hái nhiều thành công. Chúc bà thật nhiều sức khoẻ để tiếp tục những kế hoạch của mình!

-Xin cảm ơn bà!

Lady Borton sinh năm 1942 tại Washington. Bà  học rất nhiều trường đại học như  Hawaii, Mount Holyoke, Pennylvania, Temple, Ohio, Goddard…

Trước giải phóng Sài Gòn – đầu năm 1975, bà đã đưa phái đoàn giáo dục Mỹ đầu tiên đến Hà Nội. Ngoài những cuốn sách đã viết và dịch về Việt Nam, bà đang hoàn thiện rất nhiều tác phẩm dịch khác từ tiếng Việt sang tiếng Anh.

Minh Anh (thực hiện)
bee.net.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh trong mắt bạn bè quốc tế: Một tấm lòng nhân hậu, một chiến sĩ quốc tế vô song

Ông Raymond Aubrac luôn nói với chúng tôi: Tôi được gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh của các bạn là nhờ cơ may của cuộc kháng chiến của nhân dân Pháp chống lại ách đô hộ của Đức quốc xã mà tôi là một thành viên của tổ chức này.

Ông R.Aubrac say sưa kể về những cuộc gặp gỡ với Chủ tịch Hồ Chí Minh

Quả có vậy, người đàn ông Pháp năm nay đã bước sang tuổi 96, từ lâu đã được biết đến là người bạn Pháp thân thiết của nhân dân Việt Nam và của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ông kể: năm 1944, tôi tham gia vào Ban quản lý trại lao động tại Marseilles. Khi đó, tôi đã tận mắt chứng kiến sự đối xử thô bạo của một số thành viên Ban Quản lý với các lao động Việt Nam và đã góp phần chấn chỉnh thái độ đó. Chính vì lý do này mà năm 1946, khi Chủ tịch Hồ Chí Minh tới Pháp tham dự Hội nghị Fontainebleau tôi đã được mời tới gặp Người. Trong ký ức của ông Aubrac, Bác Hồ là một người giản dị, gần gũi. Thời gian lưu lại Pháp, Bác không muốn ở trong ngôi biệt thự mà chính phủ Pháp dành cho mình; cũng vì lẽ đó ông Raymond Aubrac đã mời Người đến ở ngôi nhà của mình tại vùng ngoại ô Paris. Chủ tịch của một nước, nguyên thủ của một quốc gia chấp nhận đến ở nhà một người Pháp bình thường- một người kháng chiến Pháp. Điều này có lẽ xưa nay hiếm với những bậc vĩ nhân. “Ngay lúc đó, đã có một số người bạn Pháp hỏi tôi: Phải chăng Cụ Hồ đến ở nhà tôi để giải trí,để bắn súng?- Ông Aubrac nở một nụ cười hóm hỉnh và nói. Không phải vậy! Người đến để tìm hiểu về cuộc sống của người dân Pháp.

Trong cuộc trò chuyện giữa ông và chúng tôi, thế hệ hậu sinh, ông Aubrac kể nhiều về những kỷ niệm mà gia đình ông giữ mãi về vị Chủ tịch nước đáng kính của nhân dân Việt Nam trong thời gian 6 tuần Người lưu lại nhà ông. Đó là thời gian Chính phủ hai nước gặp gỡ, bàn bạc để thiết lập mối quan hệ. Cuộc đàm phán này theo chính giới Pháp thời đó là khá khó khăn. Bởi, Chính phủ Pháp khi đó không sẵn sàng chấp nhận nền độc lập của một nước Việt Nam mới. Đó là khoảng thời gian mà gia đình Aubrac được đón tiếp rất nhiều khách là nhà báo, chính trị gia, những người thuộc phe đối lập. Họ đến để trao đổi, mạn đàm với Chủ tịch Hồ Chí Minh về chủ nghĩa thực dân. Đối với một gia đình trí thức như gia đình Aubrac, bản thân họ đã là những người kháng chiến. Họ là những người cực lực lên án và chống lại chủ nghĩa thực dân từ trong ý thức.

Điều đặc biệt là trong những cuộc mạn đàm với các bạn Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh không bao giờ sử dụng những lời lẽ “đao to búa lớn”, không “lên lớp” người nghe bằng những bài thuyết giáo mà bằng những ngôn từ dễ hiểu, Người chỉ ra cho họ thấy: Thế nào là chủ nghĩa thực dân. Những người bạn Pháp trong đó có ông Raymond Aubrac hiểu rằng: Chủ nghĩa thực dân tại các nước thuộc địa cũng giống như những gì người Pháp đã phải chịu đựng trong những năm bị phát xít Đức chiếm đóng. “Trong nhiều trường hợp, cái cách mà những tên thực dân cư xử ở thuộc địa cho thấy đó là những kẻ đã từng cộng tác với Đức quốc xã khi chúng chiếm đóng Pháp. Những điều chúng tôi trao đổi không chỉ là những tình huống của người dân Việt Nam thời thuộc địa mà còn là cảnh ngộ của tất cả các dân tộc phải chịu đựng ách đô hộ của ngoại bang”. Chính từ cuộc gặp gỡ ấy, chính kể từ đó, chàng trai trẻ Raymond Aubrac đã được cảm hóa bởi những câu chuyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh, bởi sự gần gũi và chân tình của Người.

Mai Loan
daidoanket.vn

Nhà văn Mỹ Lady Borton: Vì dân là Tư tưởng lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Mấy chục năm nay, Lady Borton  đã trở thành quen thuộc trong giới nghiên cứu quốc tế về Việt Nam và cũng khá thân quen với nhiều người Việt Nam. Đến Việt Nam lần đầu tiên vào năm 1969, bà dành nhiều năm tháng sống cùng bà con nông dân ở các làng quê Việt Nam, đi đi về về giữa Mỹ và Việt Nam không biết bao nhiêu lần với tư cách là một nhà báo, nhà văn, dịch giả, nhà nghiên cứu và hoạt động từ thiện.

Đã được đọc Tiếp sau nỗi buồn – tác phẩm viết về cuộc sống nông thôn Việt Nam thời kỳ hậu chiến của Lady Borton, nghe nhiều chuyện kể về bà từ lâu, gặp bà, tôi không ngờ bà giản dị như vậy. Trở lại Việt Nam lần này, bà là một trong những đại biểu quốc tế tham dự Hội thảo “Di sản Hồ Chí Minh trong thời đại ngày nay” với tư cách của một nhà khoa học nghiên cứu về Chủ tịch Hồ Chí Minh, đã từng viết sách “Hồ Chí Minh – một hành trình”, đã từng dịch tác phẩm “Vừa đi đường vừa kể chuyện” sang tiếng Anh và nhiều tác phẩm khác về Việt Nam, về Bác Hồ, về Đại tướng Võ Nguyên Giáp…

Bác Hồ với các Anh hùng, dũng sĩ miền Nam

Thưa bà Lady Borton, nhiều người Việt Nam muốn biết vì sao bà  gắn bó với Việt Nam và bỏ nhiều công sức để nghiên cứu về Chủ tịch Hồ Chí Minh như vậy?

Lần đầu tiên tôi nghe nói đến tên Hồ Chí Minh là vào năm 1954, khi đang học lớp 6 tại một ngôi trường ở ngoại ô thủ đô Washington D.C. Bấy giờ người ta bàn tán xôn xao về thất bại của thực dân Pháp ở Điện Biên Phủ. Thầy giáo chỉ định nhóm của tôi viết một bài để đăng trên một tờ báo dành cho học sinh khắp nước Mỹ

Tôi đến Việt Nam lần đầu tiên vào năm 1969, hoạt động thiện nguyện nhân đạo tại Quảng Ngãi. Tại vùng chiến sự ác liệt miền Trung đó tôi đã giúp đỡ nạn nhân chiến tranh ở cả hai phía. Và vào tháng chín năm đó, tôi ngạc nhiên khi thấy người Việt Nam tuy ở hai chiến tuyến nhưng đều tỏ lòng tiếc thương khi được tin Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời. Thú thật bản thân tôi lúc ấy không biết nhiều về Hồ Chí Minh và cũng không hiểu nổi hiện tượng lạ lùng này.

Năm 1975, lần đầu tiên tôi đến Hà Nội và từ đó, tôi có rất nhiều người bạn Việt Nam; trở thành một người bạn của Việt Nam từ khi 2 nước Việt Nam và Mỹ còn chưa bình thường hoá quan hệ. Vậy nên khi mà 2 nước đã bình thường hoá thì tôi càng là bạn bè thân thiết của những người bạn Việt Nam của tôi. Tôi đến Việt Nam như trở lại nhà của mình.

Bà Lady Borton

– Ở Việt Nam cũng như trên thế giới, thậm chí ngay tại Mỹ cũng đã có nhiều tác phẩm về Chủ tịch Hồ Chí Minh, vậy vì sao bà vẫn viết tác phẩm “Hồ Chí Minh – một hành trình”? Tác phẩm này có gì mới và khác so với các tác phẩm xuất bản trước đó về Chủ tịch Hồ Chí Minh?

Khi cuốn sách này được xuất bản (bằng tiếng Anh – nv) tôi đã viết trong lời tựa của cuốn sách là: “Một cuốn sách mà đáng ra bản thân tôi đã phải được đọc vào thời còn rất trẻ, nhiều năm về trước”. Tôi có những người bạn rất thân thiết ở Việt Nam và họ kể cho tôi nghe nhiều chuyện về Bác Hồ. Nhưng khi tôi đọc những cuốn sách xuất bản ở Mỹ thì tôi ngạc nhiên vì có nhiều chi tiết sai quá. Ở đây không bàn đến chuyện quan điểm mà chỉ riêng số liệu, thời điểm, tính xác thực của thông tin đã sai rồi. Vì thế, tôi bỏ rất nhiều công đi khắp thế giới, thu thập các tư liệu về Hồ Chí Minh. Nhất là gần đây khi hồ sơ lưu trữ quốc tế về Việt Nam được công bố tại nhiều nước thì tôi được tiếp cận với nhiều dữ liệu mới. Tôi cũng đến tận những nơi Hồ Chí Minh đã đặt chân đến, đã sống và hoạt động… để tìm hiểu. Đó là lý do tôi viết Hồ Chí Minh – Một hành trình, tác phẩm giản dị nhưng chính xác. Tôi muốn giải mã và trình bày thật đơn giản hiện tượng Hồ Chí Minh cho người đọc phương Tây.

Cuốn sách không dừng lại ở thời điểm Hồ Chí Minh mất năm 1969 mà kết thúc với ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước năm 1975. Cuộc hành trình của Hồ Chí Minh gắn liền với cuộc chiến đấu giành độc lập của dân tộc Việt Nam trong suốt thế kỷ 20.

Là người nghiên cứu về Chủ tịch Hồ Chí Minh, có trong tay những tư liệu quý, tình cảm của cá nhân bà với danh nhân văn hoá thế giới Hồ Chí Minh?
Tôi cho rằng nếu không có Hồ Chí Minh thì Cách mạng tháng Tám ở Việt Nam chắc không thành công. Tôi vô cùng khâm phục Hồ Chí Minh. Đó là một lãnh tụ tài giỏi. Trên thế giới có nhiều người giỏi, nhưng thường mỗi người chỉ giỏi một lĩnh vực còn Hồ Chí Minh giỏi cả về thơ ca, ngoại giao, quân sự… Lãnh tụ giỏi thì có nhiều trên thế giới, nhưng Hồ Chí Minh khác người khác ở chỗ biết tập hợp những người giỏi quanh mình. Chính phủ lâm thời của nước Việt Nam lúc ấy gồm toàn những người giỏi được mời tham gia không phân biệt thành phần, giai cấp… Hơn nữa, ảnh hưởng của Hồ Chí Minh không chỉ ở Việt Nam mà còn phải xét trên bình diện đóng góp với phong trào Cộng sản thế giới.

Chắc bà cũng biết là ở Việt Nam đang có cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Đứng ở góc độ một nhà nghiên cứu, theo bà đạo đức Hồ Chí Minh mà mỗi cán bộ, đảng viên của Đảng Cộng sản Việt Nam phải học tập và làm theo nhất hiện nay là gì?

Tư tưởng Vì dân là tư tưởng lớn của Hồ Chí Minh. Không chỉ ở Việt Nam mà cả một số nước khác trên thế giới, tôi thấy nghiêm trọng nhất bây giờ là nạn tham nhũng. Đúng là nạn tham nhũng thì ở xã hội nào cũng có, ở quốc gia nào cũng tồn tại nhưng nó có mức độ thôi. Phải hạn chế ở mức thấp thôi. Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh thì phải chú trọng nhất vào vấn đề tham nhũng. Hồ Chí Minh đã phấn đấu suốt đời vì dân tộc, vì nhân dân, các thế hệ người Việt Nam phải học tập và làm theo tấm gương đó.

Trân trọng cảm ơn bà!
Cẩm Thúy (thực hiện)
daidoanket.vn

Hồi ức của một nhà ngoại giao về Chủ tịch Hồ Chí Minh

LTS – Ông E.P.Gla-du-nốp (trong ảnh) nguyên là Tham tán Công sứ Ðại sứ quán Liên Xô (cũ) tại Việt Nam,Vụ trưởng Vụ Ðông Dương Ðảng Cộng sản Liên Xô, Chủ tịch Hội Hữu nghị Nga – Việt. Trong thời gian công tác tại Việt Nam, ông đã có vinh dự nhiều lần được gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh, đặc biệt ông còn được trực tiếp dịch trong những cuộc gặp giữa Ðại sứ Liên Xô X.A.Tốp-man-xi-an và Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch. Nhân dịp sang thăm Việt Nam, ông đã đến Bảo tàng Hồ Chí Minh kể lại những kỷ niệm của mình về Chủ tịch Hồ Chí Minh. Chúng tôi xin lược trích hồi ký của ông về những lần gặp và những cảm nghĩ của ông về Người.

Trong một lần khai mạc hội nghị có 54 Ðại sứ quán các nước, đồng chí Hồ Chí Minh đề nghị chọn ra người phiên dịch cho Ðại sứ Liên Xô X.A.Tốp-man-xi-an, và tôi đã được chọn. Thường khi có điện thoại do thư ký của Bác Hồ gọi đến, tôi sẽ lên xe đến Phủ Chủ tịch, có nhân viên ngoại giao ra đón. Theo thông lệ, cuộc gặp gỡ bao giờ cũng ở Phủ Chủ tịch, nhưng có khi chuyển sang ngôi nhà của người làm vườn. Mở đầu là những câu chuyện hội đàm chung, sau đó chuyển sang phòng chiếu phim, chiếu phim tài liệu của Việt Nam, Liên Xô hoặc quốc tế, thông thường có rất nhiều trẻ em cùng xem phim. Hồ Chí Minh khi xem phim thì bình luận những đoạn trong phim, trao đổi với Ðại sứ những cảnh quay trong phim, hoặc là nói với các em thiếu nhi những điều trong phim. Tôi lúc đó làm nhiệm vụ phiên dịch. Sau đó khoảng 15 – 20 phút, phim kết thúc, Bác Hồ đề nghị chuyển sang một phòng khác, hoặc ngôi nhà của người làm vườn, chúng tôi thường chuyển xuống phòng ở tầng 1, tôi thì không nhớ được vì thông thường lúc đó chỉ có Ðại sứ với Bác cùng đồng chí Phạm Văn Ðồng và đồng chí Hoàng Lương. Hồ Chí Minh thông báo cho Ðại sứ các vấn đề của Việt Nam, hoặc nghe Ðại sứ thông báo tình hình Liên Xô. Tôi không thể nhớ nội dung những cuộc đối thoại ấy vì nghề phiên dịch cần phải quên, khi chúng tôi nghe xong và ghi chép lại, sau đó đưa cho lãnh đạo và quên buổi phiên dịch đó. Tôi chỉ nhớ tính chất những buổi phiên dịch đó mang tính anh em thân thiện. Trong những buổi làm việc, mặc dù buổi trao đổi rất nghiêm túc, nhưng Bác thường vui vẻ và thân thiện.

Trong quá trình làm việc, thỉnh thoảng Bác lại hỏi tôi những câu hỏi rất đời thường như: Công việc của anh thế nào, cuộc sống ra sao? Ðại sứ cũng hỏi Hồ Chí Minh về tôi, thí dụ như tôi phiên dịch thế nào? v.v.

Có một lần Bác Hồ hỏi tôi kiến thức văn hóa, văn học, nghệ thuật Việt Nam. Bác hỏi tôi đã đọc những cuốn sách của các nhà văn Việt Nam, thí dụ như nhà thơ Xuân Diệu chưa? Tôi trả lời có quyển tôi đọc rồi, có quyển chưa đọc.

Sau khi cuộc nói chuyện kết thúc, Bác Hồ tự nói với Ðại sứ Tốp-man-xi-an bằng tiếng Nga là có hỏi đồng chí phiên dịch về kiến thức văn hóa, văn học, nghệ thuật Việt Nam.

Tôi muốn kể về lần gặp gỡ của tôi với Bác Hồ trong các buổi tiếp thông thường của Người với các chuyên gia nước ngoài ở Câu lạc bộ Quốc tế. Tháng 8-1962, tại Phủ Chủ tịch diễn ra buổi lễ kỷ niệm Quốc khánh Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh đi dạo với các đồng chí lãnh đạo trong khuôn viên Phủ Chủ tịch, mọi người thông báo với Bác đã đến giờ bắt đầu buổi lễ. Bác Hồ cầm mi-crô nói bằng các thứ tiếng: Việt, Nga, Anh, Pháp, Trung Quốc mời mọi người vào phòng, mọi người vỗ tay đồng ý. Trong buổi lễ đó, Người đã đến và mời tôi nâng cốc chúc mừng ngày Quốc khánh, lúc đó cốc của tôi chưa có rượu. Bác Hồ liền tự tay rót rượu vào cốc của tôi. Tôi rất lo lắng và hồi hộp, vì lần đầu tiên một nhân viên bình thường ở sứ quán được Chủ tịch nước quan tâm như vậy. Bác Hồ hỏi tôi:

– Cháu làm gì ở đây?

Tôi trả lời:

– Tôi là cán bộ Sứ quán.

Bác Hồ nói:

– Còn tôi là Chủ tịch nước, cán bộ bình thường thì phải tuân lệnh Chủ tịch nước.

Thế là Bác Hồ rót rượu mời tôi uống.

Ðó là thí dụ cụ thể về cách mà Bác Hồ tiếp xúc đối với mọi người, từ những người có cương vị cao đến những người có cương vị thấp, Bác đều không phân biệt ai cả, Bác đều chú ý. Người có một trí nhớ tuyệt vời, đã gặp một lần là không bao giờ quên. Ðến lần gặp gỡ sau, Bác coi tôi như một người thân quen, hỏi tôi về gia đình, vợ con, về mọi người trong gia đình tôi, về công việc, v.v.

Lần gặp sau, khoảng tháng 5 năm sau đó, tôi được gặp Bác trong dịp mừng chiến thắng phát-xít, Người cũng đến và phát kẹo cho thiếu nhi, sau đó Người lại đến hỏi tôi:

– Cháu thế nào, cháu có khỏe mạnh không? v.v.

Tôi vô cùng kính trọng Bác Hồ. Người không chỉ là một nhà chính trị kiệt xuất, mà còn là một con người có những phẩm chất rất tuyệt vời. Tôi muốn nói, hiện nay trải qua rất nhiều năm, tên tuổi Hồ Chí Minh vẫn được mọi người nhớ và kính trọng. Hồ Chí Minh đặt nền móng cho mối quan hệ giữa Việt Nam và Liên Xô, tên tuổi Người chắc chắn còn được nhắc đến mãi vì Người đã đưa ra sáng kiến thành lập Hội Hữu nghị Xô – Việt (Hội Hữu nghị Nga – Việt hiện nay). Người không chỉ là “kiến trúc sư” xây đắp tình hữu nghị giữa nhân dân hai nước, Người còn xây dựng mối quan hệ trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa… giữa Việt Nam và Liên Xô. Ðiều đó càng khẳng định tư tưởng Hồ Chí Minh luôn có chỗ đứng vững chắc trong lòng người dân Xô-viết cũng như người Nga hiện nay, mặc dù qua bao biến đổi của thời gian, những cuộc chính biến.

Theo quan điểm của chúng tôi, Liên Xô cũng như nước Nga cần nói lời cảm ơn Chủ tịch Hồ Chí Minh, bởi Người chính là cầu nối quan trọng giữa nhân dân Liên Xô với Việt Nam. Trước Cách mạng Tháng Tám, Việt Nam chưa có tên trên bản đồ chính trị thế giới, mà lúc đó là thuộc địa của Pháp. Bác Hồ đến Liên Xô từ năm 1923, những độc giả Liên Xô đã biết về đất nước Việt Nam qua bài báo, tác phẩm của Bác. Người tham gia Ðại hội Quốc tế Nông dân, tham gia Ðại hội VI, VII Quốc tế Cộng sản và đã làm cho mọi người biết đến đất nước Việt Nam. Người quảng bá cho đất nước Việt Nam trên trường quốc tế. Hồ Chí Minh còn là một nhà mác-xít xuất sắc. Người luôn nói Người là học trò của Lê-nin, bởi vì Người đã vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lê-nin vào thực tiễn Việt Nam. Lịch sử đã cho thấy Hồ Chí Minh còn là một nhà chiến thuật rất tuyệt vời. Năm 1945, khi cách mạng Việt Nam ở thế nghìn cân treo sợi tóc, khi ở Việt Nam có cả quân Nhật, có cả quân Pháp, Hồ Chí Minh đã tìm ra biện pháp và lối thoát ra khỏi tình thế này. Hồ Chí Minh còn rất yêu trẻ em. Người yêu trẻ em vì đó là thế hệ tương lai của đất nước.

Tôi xin nhắc lại lời của Ðô-ra-rét In-ba-ru-rin, đảng viên Ðảng Cộng sản Tây Ban Nha khi nói về Chủ tịch Hồ Chí Minh. Bà gọi Chủ tịch Hồ Chí Minh là một con người huyền thoại, một nhà yêu nước vĩ đại, một nhà mác-xít Lê-nin-nít. Quan điểm của chúng tôi, Hồ Chí Minh đã có những đóng góp quan trọng trong phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới.

HOA ÐÌNH NGHĨA
(Bảo tàng Hồ Chí Minh)
nhandan.com.vn

Người phương Tây cuối cùng được phỏng vấn Bác Hồ

Sinh ngày 17/9/1920, Charles Fourniau đỗ thạc sĩ năm 1949 và tiến sĩ sử học năm 1983 với luận án Cuộc chinh phục Trung Kỳ và Bắc Kỳ 1885-1896 (La conquête de l’Annam et du Tonkin 1885-1896). Phần lớn thời gian được ông dành để nghiên cứu lịch sử Việt Nam thời cận đại. Ông đã viết nhiều sách như: Trung Kỳ – Bắc Kỳ 1885-1896: Sĩ phu và nông dân Việt Nam đối đầu với cuộc chinh phục thực dân (Annam – Tonkin 1885-1896: Lettrés et paysans viêtnamiens face à la conquête coloniale ) (1989); Việt Nam: Sự thống trị thuộc địa và cuộc kháng chiến dân tộc 1858-1914 (Vietnam: domination coloniale et résistance nationale 1858-1914) (2002).

TS. Phan Văn Hoàng (nguyên Tổng thư ký Hội Khoa học lịch sử TP.HCM):

Một đồng nghiệp của báo L’Humanité (cơ quan của Đảng Cộng sản Pháp) báo tin buồn: Giáo sư Charles Fourniau, một người bạn lớn của Việt Nam, qua đời ngày 21/4/2010 ở tuổi 90 tại Paris và được an táng ngày 29/4/2010 tại nghĩa trang La Chaise.

dNhà sử học Charles Fourniau. Nguồn: Internet.

Sinh ngày 17/9/1920, ông đỗ thạc sĩ năm 1949 và tiến sĩ sử học năm 1983 với luận án Cuộc chinh phục Trung Kỳ và Bắc Kỳ 1885-1896 (La conquête de l’Annam et du Tonkin 1885-1896). Phần lớn thời gian được ông dành để nghiên cứu lịch sử Việt Nam thời cận đại. Ông đã viết nhiều sách như: Trung Kỳ – Bắc Kỳ 1885-1896: Sĩ phu và nông dân Việt Nam đối đầu với cuộc chinh phục thực dân (Annam – Tonkin 1885-1896: Lettrés et paysans viêtnamiens face à la conquête coloniale ) (1989); Việt Nam: Sự thống trị thuộc địa và cuộc kháng chiến dân tộc 1858-1914 (Vietnam: domination coloniale et résistance nationale 1858-1914) (2002).

Ông từng chủ trì cuộc hội thảo về lịch sử chế độ thực dân Pháp ở Việt Nam (tổ chức tại Đại học Provence).

Dưới sự hướng dẫn khoa học của ông, nhiều sinh viên đã trở thành những nhà Việt Nam học có uy tín.

Không chỉ là một nhà sử học uyên thâm, ông còn là một chiến sĩ đấu tranh cho hòa bình.

Là đảng viên Đảng cộng sản Pháp, ông phản đối mãnh liệt cuộc “chiến tranh bẩn thỉu” (la sale guerre) mà thực dân Pháp tiến hành ở Việt Nam sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai.

Sau khi Mặt trận dân tộc giải phóng Miền Nam ra đời không bao lâu, ông là một trong những người sáng lập Hội hữu nghị Pháp – Việt (Association d’amitié Franco-Viêtnamienne) (1961), từng làm Tổng thư ký và Chủ tịch của Hội. Năm 1962, Hội xuất bản cuốn Vấn đề Nam Việt Nam (La question du Sud-Vietnam) giúp nhân dân Pháp và thế giới hiểu được cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân Miền Nam.

Từ tháng 10/1963 đến tháng 7/1965, ông được báo L’Humanité cử làm phóng viên thường trú ở Hà Nội. Ông tận mắt chứng kiến những trận ném bom dã man của Mỹ và cuộc chiến đấu ngoan cường của nhân dân Việt Nam. Là một nhà nghiên cứu lịch sử Việt Nam, ông nhận thức được truyền thống đánh giặc giữ nước của dân tộc ta qua hàng nghìn năm, nên trong những bài báo gửi về Paris, ông khẳng định: Nhân dân Việt Nam cuối cùng sẽ thắng.

Vào thời điểm 1965, nhiều người trên thế giới lo ngại cho một nước nhỏ và nghèo như Việt Nam trước sự tàn phá khủng khiếp của Không lực Hoa Kỳ, nên không phải ai cũng nghĩ như ông. Hiệp định Paris 27/1/1973 và chiến thắng 30/4/1975 cho thấy dự đoán của ông hoàn toàn chính xác.

Ông nhiều lần gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đặc biệt, ông là người phương Tây cuối cùng phỏng vấn Bác Hồ hai tuần lễ trước khi Người qua đời (1969). Năm sau, ông cùng Léo Figuères biên tập cuốn Hồ Chí Minh, đồng chí của chúng ta (Hô Chi Minh, notre commarade).

Sau ngày Việt Nam hòa bình và thống nhất, Hội hữu nghị Pháp – Việt tiếp tục hoạt động cho sự hợp tác nhiều mặt giữa hai nước.

Ở tuổi 83, ông cho xuất bản cuốn hồi ký Việt Nam mà tôi đã thấy 1960-2000 (Le Viêtnam que j’ai vu 1960-2000).

dBìa quyển sách Việt Nam mà tôi đã thấy 1960-2000
(Vietnam: domination coloniale et résistance nationale 1858-1914).

Charles Fourniau qua đời, nhân dân Việt Nam mất một người bạn thủy chung, giới sử học Việt Nam mất một đồng nghiệp khả kính.

Xin chúc ông an nghỉ nơi cõi vĩnh hằng.

TS ALAIN RUSCIO (Nhà Việt Nam học của Pháp):

Charles Fourniau là một nhà sử học được nhiều đồng nghiệp biết tên tuổi, nhưng ông còn là một người có niềm tin vững chắc, là nhà sáng lập Hội Hữu nghị Pháp – Việt (AAFV) mà ông từng giữ chức vụ Tổng thư ký trong một thời gian dài. Ông vừa qua đời ở tuổi 89, để lại một khoảng trống mà với thời gian, chúng ta sẽ ngày càng thấm thía.

Trong cuộc chiến tranh của Pháp ở Đông Dương, ông là một chiến sĩ của phong trào Hòa bình, bắt đầu dấn thân vào việc bảo vệ dân tộc Việt Nam dũng cảm. Sau đó, trong cuộc chiến tranh của Mỹ – màn thứ hai của cuộc xâm lược từ phương Tây, ông sang Việt Nam lần đầu tiên. Khi trở về Pháp, ông đã bị dân tộc Việt Nam chinh phục: ông đã có một sự lựa chọn dứt khoát cho cả đời mình.

dBìa quyển sách Trung Kỳ – Bắc Kỳ 1885-1896: Sĩ phu và nông dân Việt Nam đối đầu với cuộc chinh phục thực dân (Annam – Tonkin 1885-1896: Lettrés et paysans viêtnamiens face à la conquête coloniale).

Hai năm sau, ông trở lại đất nước này với tư cách là một nhà báo. Tờ L’ Humanité (cơ quan ngôn luận của Đảng cộng sản Pháp) yêu cầu ông sang đó làm phóng viên thường trú của báo. Ở đó, ông tự hào được gần gũi các nhà lãnh đạo của nước này, được tiếp xúc với Hồ Chí Minh, trở thành một người thân cận của Người và là người nước ngoài cuối cùng được gặp Người (trước khi Người qua đời).

Ông là một trong những người đầu tiên chứng kiến tận mắt việc Mỹ leo thang chiến tranh. Ông thường kể lại bài báo đầu tiên ông gửi về cho báo L’ Humanité năm 1965 sau những trận ném bom ồ ạt của Mỹ. Trong bài báo ấy, ông dự đoán rằng cuối cùng Việt Nam sẽ chiến thắng. Lúc đó, sự chênh lệch về lực lượng (giữa Việt Nam và Mỹ) quá lớn khiến tòa soạn ở Paris phải do dự một lúc trước khi cho đăng. Mười năm sau, Việt Nam thống nhất và độc lập. Chính kiến thức của một nhà sử học đã giúp ông nhìn xa hơn những gì đang diễn ra trước mắt.

Charles Fourniau là một trong những người đầu tiên tự hỏi về nguồn gốc của sức đề kháng độc đáo của dân tộc này (ông rất ghét gọi nước này là một nước “nhỏ”).

Và ông đã tìm thấy câu trả lời từ trong lịch sử Việt Nam, chẳng hạn khái niệm “chiến tranh toàn dân” đã bén rễ từ nhiều thế kỷ qua trong tâm trí người Việt Nam, từ nhà vua đến người làm ruộng, trong vô số những cuộc chiến tranh tự vệ chống lại người Trung Quốc, rồi trong cuộc kháng chiến chống lại sự chinh phục của thực dân Pháp (mà ông lấy làm đề tài cho luận án tiến sĩ của ông). Ông giải thích: Rốt cuộc, ở thế kỷ XX, tướng Giáp chỉ đơn giản sử dụng lại những truyền thống cổ xưa này, đồng thời thêm vào đó nét thiên tài của chính ông.

Ông có một đức tính đặc biệt mà những người ở gần ông đều biết rất rõ: ông là một người truyền đạt kiến thức giỏi, một ông thầy dạy hay. Ông hướng dẫn nhiều thế hệ sinh viên. Họ nghe ông giảng, chia sẻ nhiệt tình của ông và sau đó trở thành những nhà Việt Nam học có tên tuổi.

“Trong nhiều năm, tên tuổi của ông đã gắn liền với cuộc đấu tranh vì tự do của nhân dân Việt Nam”

Marie – George Buffet, Bí thư toàn quốc Đảng cộng sản Pháp

Nhà khoa học này là một người dấn thân. Ông là một nhà thông thái, đồng thời cũng là một nhà tranh đấu. Tất cả ở ông là sự kết hợp hài hòa hai từ này mà ông không muốn tách rời nhau. Ông có thể đọc một bản tham luận xuất sắc tại một cuộc hội thảo quốc tế và ngay trong tuần lễ đó, nhân dân Hội Hữu nghị Pháp – Việt mà ông quý mến, ông đi dự một cuộc họp mặt của làng hay của khu phố.

Là một trí thức cộng sản, ông có những xác tín cơ bản – mà có người cho là quá thẳng – song ông không tìm cách che giấu rằng trong đó có những vấn đề và những hoài nghi mang tính phê phán gay gắt. Có lẽ ông có cả hai nét này nhờ ông hiểu một cách sâu sắc cuộc đời và sự nghiệp của Hồ Chí Minh.

Mong bà Paulette và năm người con của ông – mà trước đây ông đã đưa sang Việt Nam cùng ông – cùng các cháu mà ông yêu quý, hãy nhận những lời phân ưu chân thành của tất cả những người yêu mến Charles của họ mà cũng là một phần của chúng tôi.

(Bài đăng trên website http://www.humanite.fr V.H. dịch)

GS Nguyễn Văn Hoàn
:

Tôi quen Fourniau từ năm 1963, năm ông sang Hà Nội làm việc. Tôi quen toàn bộ gia đình, cả vợ và con Fourniau. Sau này, lần nào qua Ý, tôi cũng ghé ở nhà ông ấy. Khi Fourniau về hưu, có một hội nghị khoa học về ông, tôi có viết bài.

dĐại tướng Võ Nguyên Giáp tiếp Nhà sử học Charles Fourniau (người ngồi bên phải) tại nhà riêng. Ảnh: Nguyễn Văn Kự.

Đó là một con người làm việc nghiêm túc, đến nơi đến chốn, một người Pháp thân tình thực sự với Việt Nam. Một lần, ông đến Vân Kiều, một vùng dân tộc thiểu số ở Vĩnh Linh, họ rất ngạc nhiên thấy một “ông Tây” hiền và tốt đến như vậy. Tôi nói với ông điều đó, và ông, với vẻ mặt buồn buồn, nói: “Nếu tôi có thể gây một ấn tượng tốt cho người Việt Nam (khác với những người Pháp thực dân) thì tôi rất hạnh phúc”.

Tại đại hội Đảng bộ Vĩnh Linh, một đại biểu người Vân Kiều nói: “Ngày xưa, gặp một người Kinh ở trong rừng thôi, tôi đã bỏ chạy. Nay ngồi cạnh một ông Tây mà tôi rất an tâm, tự hào, vì tôi tin tưởng ở Bác Hồ”. Cả hội trường vỗ tay như sấm. Fourniau sung sướng khi nghe dịch lại.

Từ thời sinh viên cho đến lúc mất, Fourniau là một người bạn chí tình của Việt Nam. Từ Hồ Chí Minh, Phạm Văn Đồng… đều có “biệt nhỡn” đối với ông. Giới học giả như Trần Huy Liệu, Nguyễn Khánh Toàn, Đặng Thai Mai, Cao Xuân Huy, Phạm Thiều… đều gặp và nói chuyện trực tiếp với ông bằng tiếng Pháp. Ông cũng thân thiết với Võ Nguyên Giáp. Ông thường đến thăm Võ Nguyên Giáp, nói chuyện bằng tiếng Pháp với Võ Nguyên Giáp.

Những tác phẩm sử học của ông rất nghiêm túc về công tác tư liệu. Khi làm phóng viên tại Hà Nội, ông đã tìm các tư liệu về lịch sử cận đại Việt Nam và tôi đã giúp ông tìm các tư liệu lịch sử chưa in như Gia phả Nguyễn Quang Bích và Ngọ Phong thi tập. Sau đó, ông nhờ Cao Xuân Huy, Phạm Thiều giảng lại từng câu. Ông vào thăm chiến khu Ba Đình – Thanh Hóa và ghi âm bài vè Ba Đình rồi dịch toàn văn ra tiếng Pháp. Trung tâm lưu trữ ở Aix en Provence coi ông như người nhà, và ông đã giới thiệu tôi đến đó đọc tư liệu và photocoppy miễn phí.

aBìa quyển sách Việt Nam: Sự thống trị thuộc địa và cuộc kháng chiến dân tộc 1858-1914 (Vietnam: domination coloniale et résistance nationale 1858-1914)

Suốt đời ông gắn bó với Hội hữu nghị Việt – Pháp, từ cương vị Tổng thư kí đến cương vị Chủ tịch đại diện lúc cuối đời. Ông thuộc diện người Pháp hết lòng với Việt Nam. Như Henry Martin, Raymon Dienne, Madelain Rifaud…, những người bị bọn xấu cho là cuồng tín. Ông sống suốt đời vì Việt Nam với trái tim chân thành, công khai chống lại cuộc “chiến tranh bẩn thỉu” ở Việt Nam.

Ông là một trong nhóm phóng viên nước ngoài chịu đựng cuộc ném bom của Mỹ xuống Đồng Hới ngày 11/2/1965. Ông đã ở đó cùng với đứa con trai lớn nhất của mình 11 tuổi.

Nhóm phóng viên đó, trong đó có phóng viên Liên Xô, gửi về sứ quán Liên Xô rồi từ đó gửi về Mạc Tư Khoa rồi gửi về Pháp một bức điện: “Chúng tôi đã chứng kiến cảnh Mỹ ném bom Đồng Hới tại Việt Nam, một máy bay Mỹ bị bắn hạ và một phi công Mỹ đã bị bắt”. Vợ ông ở Paris đọc tin ấy phát hoảng: “Ông muốn làm gì thì làm, nhưng ông hãy trả con về cho tôi”. Và ông đã gửi con về Paris qua ngã Praha. Đó là một người “dấn thân” vào cuộc chiến tranh chính nghĩa của Việt Nam.

Một hôm, Thủ tướng Phạm Văn Đồng mời cả nhà ông đến ăn cơm, một lát thì Bác Hồ xuất hiện. Cô con gái lớn của ông xúc động, xin phép hôn Bác Hồ. “Khi Hồ Chí Minh vào phòng, con có cảm tưởng cả phòng sáng rực lên”. Từ đó, cả nhà gọi Bác Hồ là L’oncle Hồ. Ông cũng là người vinh dự được Bác Hồ tiếp trước khi Bác mất một tuần. Đó là điều vừa tự hào vừa đau buồn sâu sắc đối với ông.

Theo Tạp chí Hồn Việt
bee.net.vn

Hình ảnh Bác Hồ dưới con mắt sinh viên Nhật

Hinh anh Bac Ho duoi con mat sinh vien Nhat

Bác Hồ ôm hôn cháu bé tại Việt Bắc năm 1950.

Có lần, tôi hỏi em Simizu, sinh viên sắp tốt nghiệp của Khoa tiếng Việt, trường ĐH Ngoại ngữ Tokyo, nơi tôi đang giảng dạy, là “vì sao em học tiếng Việt?”. Simizu trả lời rất nghiêm túc, bằng tiếng Việt rất chuẩn: “Vì em muốn tìm hiểu tại sao Bác Hồ được đông đảo nhân dân Việt Nam kính trọng, còn ở Nhật, thì chưa có vị lãnh tụ nào được như thế”.

Bác không dạy cái tục xấu đó

Tôi thực sự kinh ngạc trước câu trả lời của em Simizu, một sinh viên Nhật giỏi của Khoa tiếng Việt. Các sinh viên người Nhật học tiếng Việt ở trường Đại học ngoại ngữ Tokyo phần đông học tiếng Việt vì yêu thích Việt Nam, vì có thiện cảm với Việt Nam, và với nhiều em, vì hình ảnh đáng kính của Bác Hồ.

Đề tài luận văn tốt nghiệp của em Simizu là về Bác Hồ. Simizu nói với tôi rằng em đã tự hài lòng được phần nào về câu trả lời cho câu hỏi trên của em. “Theo em, sở dĩ phần lớn nhân dân Việt Nam kính trọng, yêu thích Bác Hồ, là vì Bác Hồ có đạo đức rất trong sáng, và có phong cách rất dản dị, dễ gần với nhân dân. Và điều dĩ nhiên nữa, là Bác Hồ đã lãnh đạo thành công cuộc kháng chiến giành độc lập cho nhân dân Việt Nam, mà nhiều nhà kháng chiến khác không làm được”.

– Thế cá nhân em thì sao? Em có yêu thích Bác Hồ không? tôi hỏi.

– Vâng, tất nhiên. Em nghĩ người nước ngoài biết đến nhân dân Việt Nam, cũng một phần nhờ hình ảnh của Bác Hồ. Nhưng tiếc rằng, giờ đây ở Việt Nam, có nhiều điều Bác Hồ dạy, người ta không thực hiện đâu. Em rất buồn.

Sau khi tốt nghiệp, Simizu làm việc cho một văn phòng đại diện của một cơ quan Việt Nam ở Tokyo. Nhưng sau đó em nhanh chóng bỏ việc, vì thấy ở đấy làm việc thiếu trong sáng. Hiện nay, Simizu đã thi đỗ, trở thành phóng viên hãng truyền hình NHK, hãng truyền hình lớn nhất Nhật Bản.

Kimura, một sinh viên khác cũng đã tốt nhiệp Khoa tiếng Việt, và đang làm việc cho một công ty Nhật có đầu tư ở Việt Nam. Kimura học tiếng Việt vì có thiện cảm với Việt Nam. Nhưng em đã bị một ấn tượng xấu về lớp cán bộ Việt Nam hiện nay. Có một đại diện cơ quan Việt Nam sang Tokyo liên hệ việc mua hàng của công ty Nhật, nơi Kimura làm việc. Người này đã gợi ý là muốn bán được hàng cho phía Việt Nam, thì công ty Nhật phải biết “nhập gia tùy tục”.

Kimura nói với tôi: “Em biết văn hóa người Việt Nam, là “nhập gia phải tùy tục”, khách đến nhà thì phải theo phong tục, tập quán của chủ nhà. Nhưng cái văn hóa đó không phải theo cái “tục xấu” mà người kia gợi ý. Em đã mời người đó về. Mời anh đi mua hàng ở công ty khác. Bác Hồ không dạy cái “tục xấu” đó cho các anh”.

Những lỗi lầm chính của quan chức

Hinh anh Bac Ho duoi con mat sinh vien Nhat

Cô Suzuki Kotona đang nghiên cứu về văn hoá ở Việt Nam: “Em chỉ mong người dân Việt Nam được thực sự hạnh phúc như Bác Hồ mong muốn”.

Có một em tên là Suzuki, tuy không học tiếng Việt tại Khoa tiếng Việt, trường Đại học ngoại ngữ Tokyo, nhưng rất giỏi tiếng Việt. Gần đây, Suzuki đưa cho tôi một cuốn sách đầu đề “Văn kiện Đảng 1945-1975”, do Ban nghiên cứu lịch sử đảng trung ương xuất bản năm 1978. Ngoài bìa thấy đề “lưu hành nội bộ”. Giở cuốn sách Văn kiện ra, tôi thấy các tài liệu về hoạt động của Đảng cộng sản Việt Nam rất tốt, nhiều bài viết rất hay của Chủ tịch Hồ Chí Minh, rất đáng lưu hành rộng rãi cho nhân dân được biết, chẳng có gì đáng phải ghi là “lưu hành nội bộ” cả. (Bây giờ – năm 2005, đã gần 30 năm trôi qua, kể từ khi xuất bản cuốn sách Văn kiện này, có lẽ tình hình đã thay đổi, không cần phải “lưu hành nội bộ” nữa).

Suzuki muốn tôi giải thích giúp em về một bài viết của Bác Hồ in trong tập sách này. Trang 16 có bài viết nhan đề “Gửi các ủy ban nhân dân, các Bộ, Tỉnh, Huyện và các Làng”, tháng 10/1945, ký tên Hồ Chí Minh. Nội dung đại khái như sau (xin trích):

“Hỡi các bạn. Nước ta bị Tây áp bức hơn 80 năm, bốn, năm năm bị Nhật áp bức. Dân ta đói rét khổ sở không thể nói hết… Ngày nay chúng ta đã xây dựng nên nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Nhưng nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng không có nghĩa lí gì. Chính phủ ta đã hứa với dân sẽ gắng sức làm cho ai nấy đều có phần hạnh phúc…

Việc gì có lợi cho dân, ta phải hết sức làm.
Việc gì có hại cho dân, ta phải hết sức tránh.
Chúng ta phải yêu dân, thì dân mới yêu ta, kính ta.

Tôi vẫn biết rằng trong các bạn có nhiều người làm theo đúng chương trình của chính phủ và rất được lòng nhân dân. Song cũng có nhiều người phạm những lầm lỗi rất nặng nề.
Những lầm lỗi chính là:

1. Trái phép – Những tên Việt gian phản quốc chứng cớ rõ ràng thì phải trừng trị đã đành, không ai trách được. Nhưng cũng có lúc vì tư thù tư oán mà bắt bớ và tịch thu gia sản, làm dân oán thán.

2. Cậy thế – Cậy mình ở trong ban này ban nọ, rồi ngang tàng phóng túng muốn sao làm vậy, coi khinh dư luận, không nghĩ đến dân, quên rằng dân bầu mình ra để làm việc cho dân, chứ không phải để cậy thế với dân.

3. Hủ hóa – Ăn uống cho ngon, mặc muốn cho đẹp, càng ngày càng xa xỉ, càng ngày càng lãng mạn, thử hỏi tiền bạc ở đâu mà ra? Thậm chí lấy của công làm việc tư, quên cả thanh liêm đạo đức. Ông ủy viên đi xe hơi, rồi bà ủy viên, đến các cô, các cậu ủy viên cũng dùng xe hơi của công. Thử hỏi những hao phí đó ai chịu?…”

Trong thư này Bác Hồ còn liệt kê thêm lỗi lầm tư túng, kéo bè kéo cánh để bổ nhiệm chức vụ cho nhau. Chia rẽ, bênh vực lớp này, chống lớp khác. Kiêu ngạo, tự coi mình là thần thánh, coi khinh nhân dân. Để kết luận, Bác Hồ viết: “Chúng ta không sợ sai lầm, nhưng đã nhận biết sai lầm thì phải ra sức sửa chữa…Vì hạnh phúc của dân tộc, vì lợi ích của nước nhà mà tôi phải nói. Chúng ta phải ghi sâu những chữ công bình, chính trực vào lòng”.

Sau khi tôi giải thích xong các khái niệm khó trong bức thư này của Bác Hồ – bức thư Bác viết sau khi Bác đọc Bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa chưa đầy một tháng – Suzuki vô cùng thích thú. Em nói: “Giá như bây giờ người ta thực hiện tốt các lời Bác Hồ nói nhỉ”. Suzuki nói là bà chủ nhà ở Hà Nội, nơi em thuê nhà khi học ở Hà Nội, thường phàn nàn về tệ hách dịch, cửa quyền, xếch mé với dân ở chính quyền phường, khi dân có việc đến phường.

Đừng để tiếng ta thán nhiều thêm

Đọc lại lời Bác Hồ dạy từ 60 năm trước, ngay sau khi chính quyền cách mạng mới thành lập, người ta thấy vẫn còn nguyên giá trị. Ở Việt Nam giờ đây, nhiều người viện dẫn lời Bác Hồ rất nhuần nhuyễn, nhất là trên các diễn đàn hội nghị, nhưng trong thực tế không hề làm theo lời Bác Hồ dạy. Chính vì thế mà giờ đây, tiếng ta thán của người dân mới tăng lên, tệ tham nhũng tràn lan, người bất tài, đạo đức giả được trọng dụng, người tài bị khinh rẻ.

Tôi thường cố gắng nói đến những thành quả của công cuộc đổi mới ở Việt Nam cho sinh viên Nhật nghe. Nhưng nhiều sự thật không thể dấu được, nhất là với các sinh viên đã đi Việt Nam học, như chuyện thủ tục hành chính, chuyện tham nhũng, chuyện hành dân, chuyện oan sai. “Em chỉ mong người dân Việt Nam được thực sự hạnh phúc như Bác Hồ mong muốn” – Suzuki nói…

Minh Tuấn (từ Tokyo)
vietbao.vn

Gặp người Séc dịch “Nhật ký trong tù” của Bác Hồ

GS.TS Ngôn ngữ học và Quốc tế học Ivo Vasiljev là người Séc đầu tiên và đến nay là người duy nhất dịch trọn tập thơ “Nhật ký trong tù” của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Ông kể rằng từ năm 1953 ông bắt đầu nghiên cứu về Việt Nam. Ivo Vasiljev và vợ cùng học một trường đại học ở Praha (Tiệp Khắc ngày đó). Sau khi tốt nghiệp đại học, ông chọn ngành nghiên cứu Việt Nam học, còn vợ ông nghiên cứu về Nhật Bản.

Ivo Vasiljev chỉ học tiếng Việt ở Praha song ông nói không khác là mấy so với người Hà Nội. Lúc đầu là học từ thầy người Tiệp Khắc, sau được học 2 thầy giáo người Việt Nam là Dương Khắc Từ hiện là Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam và ông Trần Xuân Đài, Đại học Sư phạm Hà Nội.

Ông Dương Khắc Từ đã dịch nhiều tác phẩm văn học Tiệp Khắc sang tiếng Việt Nam. Ông Từ đã dạy tiếng Việt cho Ivo Vasiljev một thời gian ngắn khi sang Tiệp Khắc học đại học.

Sau đó, Ivo Vasiljev tiếp tục học tiếng Việt từ ông Đài khi đó được Chính phủ Việt Nam cử sang Tiệp Khắc dạy tiếng Việt. Thời gian này, Ivo Vasiljev và thầy Đài làm việc theo kiểu một thầy, một trò mỗi tuần 18 giờ.

Ít lâu sau ông Ivo Vasiljev đủ trình độ cùng với thầy Đài đứng lớp dạy tiếng Việt cho học sinh Tiệp Khắc.

Năm 1966, lần đầu tiên Ivo Vasiljev được gặp Bác Hồ tại Hà Nội. Đó là lần ông làm phiên dịch cho đoàn đại biểu Chính phủ Tiệp Khắc sang thăm Việt Nam. Lần ấy ông có ấn tượng rất sâu sắc về Bác Hồ, đặc biệt là sự ân cần thăm hỏi của Người đối với người phiên dịch Ivo Vasiljev.

Từ ấn tượng sâu sắc được gặp Bác Hồ lần ấy, khoảng năm 1982 ông Ivo Vasiljev tìm hiểu và quyết định bắt đầu dịch Nhật ký trong tù.

Ivo Vasiljev cho biết ông không có năng khiếu thơ nên chỉ dịch ý từ nguyên bản, sau đó một nhà thơ Tiệp Khắc đã dịch sang thơ bằng tiếng Séc, một năm thì việc dịch xong xuôi. Trong cả tập thơ Nhật ký trong tù, ông Ivo Vasiljev thích nhất 2 bài thơ Nghe tiếng giã gạo và bài Học đánh cờ.

Giáo sư cho rằng cả tập thơ Nhật ký trong tù toát lên sự khao khát tự do cháy bỏng không chỉ của tác giả bị cầm tù mà còn của cả dân tộc của Người đang phải sống dưới ách đô hộ của ngoại bang. Ivo Vasiljev cho rằng Bác Hồ không chỉ là một nhà chính trị tài ba, một lãnh tụ vĩ đại mà còn là một người có sự hiểu biết rất sâu sắc về con người.

Theo Nguyễn Đại Phượng
Tiền phong
dantri.com.vn

Gặp gỡ tác giả cuốn sách “Hồ Chí Minh – Một biên niên sử”

Bảo tàng Hồ Chí Minh tặng quà lưu niệm cho ông Hellmut Kapfenberger – tác giả cuốn sách “Hồ Chí Minh – Một biên niên sử”

(HNMO)- Chiều 14/4, Cục Xuất bản (Bộ TT&TT) và Bảo tàng Hồ Chí Minh tổ chức cuộc gặp gỡ ông Hellmut Kapfenberger – tác giả cuốn gách “Hồ Chí Minh – Một biên niên sử” và tặng Bảo tàng Hồ Chí Minh phù điêu Bác Hồ. Đây là một sự kiện chào mừng ngày Giải phóng miền Nam, Thống nhất đất nước và mừng 100 năm ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước.

Ông Hellmut Kapfenberger, 77 tuổi, một nhà văn, nhà báo nổi tiếng của làng báo chí Đức. Ông là một trong những người xuống đường những năm 1965-1970 để phản đối cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ ở Việt Nam. Ông có thời gian công tác ở Việt Nam với tư cách là phóng viên Hãng thông tấn CHDC Đức và một số báo khác. Ông cùng vợ và những người Đức đầu tiên bước qua sông Bến Hải vào năm 1973. Ông đã có dịp tiếp xúc với nhiều tướng lĩnh Việt Nam để viết về cuộc chiến.

Kỷ niệm và tình yêu đất nước con người Việt Nam là động lực thôi thúc ông tiếp tục nghiên cứu, viết về Việt Nam cho đến nay. Cuốn sách Hồ Chí Minh – Một biên niên sử là một trong những công trình đó. Với nguồn tư liệu tham khảo phong phú, gồm 25 chương và một biên niên sử tóm tắt về Chủ tịch Hồ Chí Minh, tác giả đã tái tạo lại tiểu sử của một nhân vật phi thường và rất đỗi giản dị, bằng những tư liệu, trích dẫn phong phú cụ thể và cách viết sinh động.

Với lối viết đậm chất trí tuệ, hiểu biết sâu sắc về lịch sử hiện đại của Việt Nam và thế giới, tình cảm yêu mến và kính trọng Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng như tình cảm hữu nghị dành cho đất nước và con người Việt Nam. Ngòi bút tác giả hấp dẫn bạn đọc bằng cách trình bày khéo léo, đan xen giữa lối viết nghiên cứu và kể chuyện lịch sử, vừa nhẹ nhàng thi vị đầy xúc cảm mà vẫn không mất đi tính khách quan, xác thực cần có của một cuốn tiểu thuyết về một nhân vật vĩ đại có thực. Tác giả cho thấy hoạt động của Hồ Chí Minh trải dài khắp các châu lục và cho đến cuối đời, Bác chưa khi nào quên vai trò của một chiến sỹ cộng sản thấm nhuần sâu sắc tinh thần Chủ nghĩa Quốc tế vô sản cao cả.

Tại buổi gặp gỡ, ông Hellmut Kapfenberger đã thể hiện lòng yêu mến và ngưỡng mộ đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Tôi khẳng định, sẽ không có một Hồ Chí Minh thứ 2 trong khối các nước XHCN. Ông là một nhân cách lớn. Việt Nam rất may mắn và hạnh phúc khi có một con người như vậy”. Ông Hellmut Kapfenberger cũng cho biết thêm, trước đây Việt Nam là câu chuyện hàng ngày ở Đức, nhưng ngày nay dường như không có tờ báo nào ở Đức nhắc tới điều này và ông lấy đó là điều đáng tiếc, nên với tư cách là một người đã gắn bó với Việt Nam nhiều năm, ông đã cố gắng góp phần vào việc nhắc lại cho người dân Đức nói riêng và người dân thế giới nói chung nhớ đến Việt Nam.

Tác giả Hellmut Kapfenberger ký tặng sách cho độc giả Việt Nam.

Cuốn sách không chỉ đơn thuần là một cuốn tiểu sử, mà là một cuốn Biên niên sử về cuộc đời một con người cao cả, một nhân cách lớn – Chủ tịch Hồ Chí Minh. Để thực hiện cuốn sách, ông Hellmut Kapfenberger đã rất kỳ công sưu tầm các tư liệu về Chủ tịch Hồ Chí Minh từ nhiều nguồn, nguồn sách tài liệu ông sưu tầm được trong thời gian ông sống và làm việc tại Việt Nam, từ rất nhiều tài liệu về Việt Nam ở Berlin, từ chính những nhân vật lịch sử, các tướng lĩnh của Việt Nam ông đã từng gặp mặt như tướng Võ Bổng, tướng Đổng Sỹ Nguyên…

Ông Hellmut Kapfenberger cũng rất vui và tự hào khi cuốn sách đến tay những độc giả Việt Nam đúng vào dịp kỷ niệm 100 năm ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước.

Tuyết Minh
hanoimoi.com.vn

“Việt Nam! Tôi thở tâm hồn Người đây”

(DVT.vn) – Về làng Sen quê Bác vào mùa sen nở, Nữ thi sĩ Blaga Dimitrova coi hương sen thơm ngát mà bà đang hít thở là biểu tượng của tâm hồn Việt Nam.

HÀM CHÂU

Tôi trở về làng Sen quê Bác. Nói “trở về” bởi vì thuở nhỏ đi học, tôi vẫn thường cuốc bộ qua đây, khi ông Cả Khiêm và cô Thanh vẫn còn sống. Quê tôi cũng ở Nam Đàn, Nghệ An. Làng tôi cách làng Sen chẳng bao xa.

Làm báo ở Hà Nội đã hơn nửa thể kỷ, nhưng năm nào tôi cũng sắp xếp thời gian để trở về thăm quê hương bản quán một đôi lần, khi nửa tháng, lúc chỉ vài giờ.

Đi xe lửa vào Vinh, xuống ga, ngồi xe buýt theo con đường hàng tỉnh số 49, qua huyện Hưng Nguyên, lên huyện Nam Đàn. Đến cây số 13, rẽ sang trái một quãng, là đến làng Sen hay còn gọi là làng Kim Liên.

Con đường làng gồ ghề sống trâu thuở trước – khi tôi là một cậu bé học sinh trung học trường huyện – nay đã được mở rộng, trải nhựa phẳng phiu. Hai bên đường, bạch đàn cao vút, tiếng lá reo vi vu trong nắng sớm.

Chiều chiều ra đứng Cồn Sen
Bạch liên trắng bạch, hồng liên đỏ hồng…
Vui nhất là cảnh xã mình
Kim Liên sen tốt, Ngọc Đình chuông kêu…

Người dân khắp nước đổ về thăm ngôi nhà tranh của cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc ở làng Sen.

Kim Liên, tên chữ của làng Sen, có nghĩa là sen vàng. Nhưng ở làng Sen này không chỉ có sen vàng, mà còn có sen trắng (bạch liên), sen đỏ (hồng liên) nữa. Sen nở khắp mặt đầm. Hương sen thơm dịu lan xa…

Về làng Sen, ta sẽ hiểu vì sao cô Thanh, người chị gái của Bác Hồ, còn được gọi là Nữ sĩ Bạch Liên.

Ngôi nhà Bác Hồ ở trong thời niên thiếu đơn sơ, thanh bạch như bao nhiêu ngôi nhà khác ở chốn làng quê. Bờ tre xanh. Cánh cổng liếp tre sơ sài. Hoa râm bụt nở hiền hoà bên hai bờ giậu thấp. Dăm ba bụi chuối. Mấy gốc mít, gốc chanh. Vài hàng cau. Một ngôi nhà dọc năm gian. Một ngôi nhà ngang nho nhỏ. Cả hai đều nền đất, mái tranh, phên tre, giại nứa. Trong nhà vẻn vẹn chỉ có mấy thứ: cái sập gỗ, chiếc chõng tre, cái án thư, chiếc võng gai, chum nước, vại cà và vài ba cái nồi đất…

Thời trẻ, cụ Nguyễn Sinh Sắc (còn có tên là Nguyễn Sinh Huy) ở gửi rể bên làng Chùa. Năm 1894 cụ thi đỗ Cử nhân, năm 1901 đỗ Phó bảng (đồng khoa với các cụ Ngô Đức kế, Phan Châu Trinh).

Đây là lần đầu tiên, không những trong làng Kim Liên, mà cả trong toàn xã Chung Cự và toàn tổng Lâm Thịnh, mới có được một người đỗ đại khoa. Thế mà cụ Phó bảng lại chưa hề có nhà ở bên quê nội!

Dân làng bèn bỏ tiền ra mua một ngôi nhà ở dưới xã Xuân La, khiêng về dựng lên trên một thửa đất công rộng non năm sào. Từ đấy gia đình cụ Nguyễn Sinh Sắc dọn về làng Sen. Nhưng rồi, trong những năm gia đình cụ phiêu cư bạt quán, ngôi nhà ấy cũng “trôi giạt” nhiều nơi, bị mua đi bán lại nhiều lần.

Năm 1956, hoà bình trở lại trên miền bắc, dân làng Sen mới tìm chuộc được cột, kèo của ngôi nhà ngày trước, nhặt nhạnh mỗi nơi một thứ, đem về dựng lại trên thửa vườn xưa.

Đường về quê nội Bác Hồ – (Ảnh: Internet)

Và một năm sau, ngày 9/6/1957, Bác Hồ trở về thăm quê hương sau 52 năm xa cách. Lúc bấy giờ ngôi nhà, thửa vườn, lối cổng nhà chưa được khôi phục đúng như ngày trước. Cái ngõ đáng lẽ ở giữa bờ rào, thì lại để một bên. Nhà cũ đằng sau thưng phê nứa, nhà lúc này thưng gỗ ván. Bàn thờ ngày trước chỉ giản đơn là một tấm liếp tre đan mau phía trên trải chiếu, bàn thờ lúc này lát ván phẳng phiu…

Bác Hồ hầu như không quên một tí gì trong ngôi nhà và thửa vườn xưa. Bác chỉ tay vào từng chỗ đất nơi xưa kia có gốc mít, gốc bưởi, cây chanh, cây cau. Bác hỏi xem mấy ngôi mộ trong vườn giờ bốc đi đâu…

Vui chân đi vào lối xóm, Bác tìm xem cái giếng Cốc thuở nào, cái giếng đất nơi cậu bé Nguyễn Sinh Cung vẫn ngồi câu cá. Giếng Cốc vẫn còn, bờ giếng vẫn um tùm cây cỏ, mặt nước vẫn lăn tăn gợn sóng do sự chuyển động của các sinh vật phù du. Bác rẽ sang phía lò rèn cố Điền. Cố Điền đã mất, và anh Điền trai trẻ ngày nào giờ là một cụ già râu tóc bạc phơ.

Rời làng Sen từ tuổi mười lăm, vào Huế, vào Phan Thiết, Sài Gòn; rồi xuống cảng Nhà Rồng đi sang Pháp, sang Anh, sang Đức, Hà Lan; rồi lênh đênh trên tàu thuỷ vòng quanh châu Phi, sang Mỹ và quay trở lại châu Âu; rồi đi qua Liên Xô, Trung Quốc, Xiêm …
Mấy mươi năm phiêu bạt nơi chân trời góc biển, khắp xứ lạ quê người, ấy vậy mà Bác Hồ vẫn không hề quên con người, cảnh vật quê hương, không hề quên một điệu ru hời, một bát canh rau muống, quả cà dầm tương….
Cái “gốc” truyền thống Việt Nam trong lòng Bác sâu bền, vững chãi biết bao, không thể nào bị lung lay, bật rễ trước bão tố bốn phương. Chung đúc tinh hoa của các nền văn hoá đông, tây, kim, cổ, nhưng, ở con người ấy, đố ai tìm thấy một nét lai căng, một cái gì còn sượng. Bởi vì, ngay từ thuở lọt lòng, cậu bé Cung đã được hít thở không khí trong lành của đất trời, sông núi quê hương, cùng ăn, cùng ở với nhân dân thuần hậu, cần cù, và uống nước từ mạch nguồn sâu thẳm của các tầng văn hoá Việt Nam.

Về làng Sen vào mùa sen nở, tôi chợt nhớ đến bài thơ của Nữ thi sĩ Blaga Dimitrova, người Bulgaria, viết về hoa sen, về tâm hồn Việt Nam thanh khiết. Bà đã đến nước ta vào năm 1966, về thăm làng Sen quê Bác Hồ, khi cuộc chiến tranh phá hoại của Mỹ đang diễn ra ác liệt. Bài thơ của bà chỉ có sáu câu, đã được nhà thơ Xuân Diệu dịch ra tiếng Việt:

Hoa sen trắng dịu trên ao
Diệt hơi bùn độc, ngạt ngào trổ hoa
Biến ao thành một vườn thơ
Để tôi đứng lại bên bờ uống hương
Hương thanh ẩn, sức lạ thường!
Việt Nam! Tôi thở tâm hồn người đây.

Nữ thi sĩ nổi tiếng thế giới Blaga Dimitrova, người Bulgaria.

Blaga Dimitrova về sau được bầu làm Phó Tổng thống nước Cộng hòa Bulgaria. Bài thơ của bà cho ta thêm một “luận cứ” để tin rằng việc chọn hoa sen làm quốc hoa là đúng.

Về làng Sen, nhớ đến Bác Hồ, nghĩ tới điều triết lý về biểu tượng hoa sen, ta càng muốn giữ cho tâm hồn mình được luôn luôn trong sạch ngát hương, không bao giờ “hôi tanh mùi bùn”.

H. C.

dvt.vn

Hình ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn in đậm nét trong trí nhớ của tôi

Nguyễn Tử Nên

Vào dịp kỷ niệm lần thứ 113 Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, Bộ Thông tin – Văn hoá CHDCND Lào đã phát hành cuốn sách quí “Chủ tịch Hồ Chí Minh, đời sống và hoạt động” được dịch từ nguyên bản cuốn “Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch” của Trần Dân Tiên và dịch giả là nhạc sĩ Đuôngmixay Lycayđa. Cuốn sách dày trên 170 trang (khổ 13 x 19cm) được in bằng giấy tốt và do họa sĩ Xútchay Đuôngmixay Lycayđa (con trai Nhạc sĩ Đuôngmixay) vẽ bìa; trong đó nổi bật chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh trên nền màu tím của cánh sen và bao quanh là hoa sen, lá sen và hai sợi chỉ trắng và đỏ đan vào nhau thể hiện tình hữu nghị Lào – Việt mãi mãi xanh tươi và đời đời bền vững. Việc Bộ Thông tin – Văn hoá Lào cho dịch, xuất bản và phát hành cuốn “Chủ tịch Hồ Chí Minh, đời sống và hoạt động” đúng vào dịp kỷ niệm lần thứ 113 Ngày sinh của Bác là một sự kiện có ý nghĩa trong quan hệ hữu nghị, đoàn kết đặc biệt và hợp tác toàn diện Việt Nam – Lào.

Chúng tôi đã gặp và trò chuyện với dịch giả – nhạc sỹ Đuôngmixay Lycayđa về công trình dịch thuật của anh. Nhạc sĩ Đuôngmixay Lycayđa vui vẻ kể: Tôi có may mắn được tiếp xúc với quân tình nguyện Việt Nam từ những năm còn rất nhỏ và hình ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh qua các bản nhạc, câu chuyện do các anh bộ đội Việt Nam kể đã in đậm trong trí nhớ của tôi. Năm 11 tuổi tôi được sang Việt Nam học văn hoá và sau đó lại được học tiếp khoa sáng tác (hệ trung cấp) Nhạc viện Hà Nội. Với gần 10 năm sống và học tập tại Việt Nam, tôi có điều kiện hiểu sâu sắc về đất nước, nhân dân Việt Nam và về Bác Hồ kính yêu cùng những tình cảm và sự giúp đỡ to lớn mà nhân dân Việt Nam đã dành cho cách mạng Lào. Gần 20 năm trở lại đây, do công tác trong ngành TT – VH (nhạc sỹ hiện là Phó Cục trưởng Cục Nghệ thuật) mà tôi nhận ra rằng sách viết về Bác Hồ, người đặt nền móng cho quan hệ hữu nghị đòan kết đặc biệt Lào – Việt, dịch ra tiếng Lào còn quá ít. Từ đó, tôi nảy ra ý định tìm dịch một cuốn sách về Bác với mong muốn là góp phần nhỏ bé của mình vào việc giáo dục lý tưởng, đạo đức các mạng, giáo dục truyền thống đoàn kết thủy chung son sắt giữa hai dân tộc Lào – Việt qua tấm gương về nhà cách mạng vĩ đại Hồ Chí Minh. Và cuốn “Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch” đã được dịch ra tiếng Lào trong trường hợp đó.

Chúng tôi hỏi nhạc sỹ Đuôngmixay Lycayđa về những khó khăn khi dịch cuốn sách này và nhạc sĩ đã thổ lộ: Là một cán bộ quản lý nên quỹ thời gian dành cho các lĩnh vực khác không nhiều. Do đó, tôi phải tranh thủ mọi lúc rảnh rỗi và phải mất hơn 2 năm trời gần như dành toàn bộ tâm trí sức lực, quỹ thời gian, vốn từ ngữ và cả kiến thức xã hội về Việt Nam mà mình có để dịch mới hoàn thành được tác phẩm. Cái khó nhất đối với tôi là có nhiều danh từ riêng chỉ các địa phương, mà chủ yếu là ở nước ngoài hoặc những đoạn người viết tả bối cảnh xã hội của Việt Nam và các nước Bác đến, phải dịch thế nào để người Lào đọc và hiểu được trong khi vẫn giữ được những bản sắc vừa giàu hình ảnh, vừa đậm nét dân tộc của Việt Nam và các nước. Trong trường hợp đó, tôi phải tìm các sách như: “Hồ Chí Minh – về đạo đức cách mạng”, “Hồ Chí Minh – tiểu sử và sự nghiệp”, “Chuyện kể về Bác Hồ, những năm đầu trường kỷ kháng chiến” bằng tiếng Việt và cuốn “Hồ Chí Minh” bằng tiếng Lào để tham khảo hoặc tìm các đồng chí Việt Nam để hỏi. Những cuốn sách mà tôi đã đọc cùng với những cuộc trao đổi thân tình với các đồng chí Việt Nam đã giúp tôi rất nhiều trong cách diễn đạt ngữ pháp Việt Nam, trong việc sử dụng câu từ để làm sinh động thêm những đoạn tả cảnh mà người viết đã có dụng ý nhấn mạnh để phục vụ cho nội dung chủ yếu của cuốn sách.

Kết thúc câu chuyện, nhạc sĩ Đuôngmixay Lycayđa tâm sự: Tôi coi việc dịch cuốn sách quý này là vinh dự, là hạnh phúc lớn lao trong đời hoạt động cách mạng của mình. Đối với nhân dân các bộ tộc Lào cũng có thể coi đây là món quà kính dâng lên Bác Hồ muôn vàn kính yêu nhân dịp kỷ niệm lần thứ 113 Ngày sinh của Người.

cpv.org.vn