Thư viện

Người thanh niên Chilê viết ca khúc về Bác Hồ

Anh Victore Hara và 5 người bạn (Victore đứng ngoài cùng bên phải) đang hát bài hát về Chủ tịch Hồ Chí Minh tại buổi mít tinh ngày 23/9/1969 tại Quảng trường Hakaniemi.

Dù chưa một lần được gặp Bác, nhưng Victore Hara – một thanh niên hoạt động trong Phong trào Cánh tả ở Chilê đã viết ca khúc về Người.

Ở một nơi cách xa đất Việt hàng vạn dặm, người thanh niên Chilê ấy đã đặt hình ảnh Bác Hồ vào tim mình và hô vang tên Người cho đến khi trút hơi thở cuối cùng dưới bàn tay đẫm máu của chế độ độc tài Pinochet…

… 2giờ 30 phút đêm của một ngày trung tuần tháng 8/1969, ngay khi vừa đặt chân tới sân bay Helsinki (Phần Lan), trong Đoàn đại biểu thanh niên Việt Nam tham dự “Gặp gỡ thanh niên – sinh viên thế giới”, Nhà nghiên cứu lịch sử Văn Tùng được đưa thẳng đến một khu ký túc xá đã cũ.

Không gian về đêm im ắng lạ thường, chỉ còn một căn phòng sáng đèn. Một thanh niên chừng 30 tuổi dáng to béo lao ra bắt tay ông Văn Tùng và như reo lên: “Tôi rất mong gặp anh!” Người thanh niên ấy là nhạc sỹ Victore Hara – làm việc tại Viện Âm nhạc Chilê.

Nói đoạn Victore kéo ông Văn Tùng lại chiếc bàn làm việc đang bày la liệt tài liệu.

Ông Văn Tùng vô cùng ngạc nhiên bởi trên bàn có nhiều tấm ảnh của Chủ tịch Hồ Chí Minh như ảnh Bác cưỡi ngựa trên đường đi công tác tại Việt Bắc, ảnh Bác đang chỉ huy Chiến dịch Biên giới, ảnh Bác câu cá, ảnh Bác bên nhà sàn tại Hà Nội… Cạnh đó là mấy trang giấy đang dang dở nhiều nốt nhạc.

Victore Hara hỏi: “Ở Việt Nam, người dân thường gọi Hồ Chí Minh là gì?”. Ông Văn Tùng cho biết, người dân Việt Nam gọi Bác bằng nhiều cái tên khác nhau như Cụ Hồ, Ông Ké, Chủ tịch Hồ Chí Minh, Bác Hồ…Trước tình cảm nồng nhiệt của Victore Hara, ông Văn Tùng đã đưa cho Victore xem bức thư Bác Hồ viết bằng tiếng Pháp gửi các đại biểu thanh niên quốc tế.

Victore xúc động đọc và cầm lá thư đặt vào tim mình. Khi đó Victore mới cho ông Văn Tùng biết là đang viết một ca khúc về Chủ tịch Hồ Chí Minh và đó cũng là bài hát chính thức của cuộc gặp mặt thanh niên lần này. Và đã từ lâu Victore quan tâm tìm hiểu về cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Bài hát về Bác Hồ đã được Victore viết trong sự dâng trào cảm xúc và được hơn 5.000 đại biểu thanh niên – sinh viên trên khắp thế giới và hàng vạn bạn trẻ Helsinki nồng nhiệt đón nhận. Ngay trong lễ khai mạc cuộc gặp gỡ vào 9 giờ sáng ngày 23/8/1969, cả Quảng trường Hakaniemi rộng lớn giữa Thủ đô Helsinki vang lên lời bài hát mà người lĩnh xướng trên đài cao chính giữa Quảng trường là Victore cao lớn và nhóm bạn của mình.

Quốc kỳ Việt Nam, hàng trăm khẩu hiệu về Việt Nam, về Hồ Chí Minh tung bay hòa nhịp cùng lời bài hát. Bài hát được viết và hát bằng tiếng Tây Ban Nha trên nhiều đường phố của Helsinki. Lời bài hát tạm dịch là: “Hồ Chí Minh là của chúng ta/ Hồ Chí Minh là nguồn sáng cho chúng ta/Hồ Chí Minh sẽ đưa chúng ta đến chiến thắng/Hô…Hồ Chí Minh/Hô…Hồ Chí Minh/Hồ Chí Minh muôn năm! (Viva Hồ Chí Minh)…!”.

Lễ mít tinh tại Quảng trường Haka.

Sau khi Việt Nam thống nhất, năm 1983, trong một lần đi công tác tại Ba Lan, ông Văn Tùng may mắn gặp lại bà Helen – một đại biểu nữ người Thụy Điển mà ông từng quen biết trong cuộc gặp năm 1969 tại Phần Lan.
Bà Helen kể lại cho ông Văn Tùng về việc Victore đã bị sát hại dã man dưới bàn tay đẫm máu của chính quyền độc tài Pinochet. Bản thân bà Helen đã từng gặp nhiều chiến hữu của Victore chạy từ Chilê sang Thụy Điển lánh nạn.

Ngay sau khi Tổng thống Cánh tả Chilê Salvador Allende bị đảo chính và hy sinh, lực lượng của Pinochet đã lập ra chính quyền mới và quay ra đàn áp những người cánh tả, bắt giam, tàn sát và cầm tù những người yêu nước chân chính.

Hàng vạn người đã bị chế độ độc tài Pinochet lùa vào các nhà tù khiến cho nhà tù quá tải. Victore và hàng ngàn người khác đã bị giam ngay tại một sân vận động. Trước họng súng của lực lượng Pinochet, Victore vẫn hát vang những bài ca về tổ quốc, về Tổng thống Allende và Chủ tịch Hồ Chí Minh khiến lính canh giữ như điên lên vì tức giận.

Một tên lính thúc họng súng vào ngực Victore thét lên “mày còn hát nữa không?”, Victore không thèm trả lời mà còn hô vang “Hồ Chí Minh muôn năm!”. Tên lính rút dao găm chặt đứt một cánh tay Victore. Ngay cả khi không còn tay, Victore vẫn hát cho đến khi gục xuống…

Theo ông Văn Tùng, những thông tin về sự hy sinh cao đẹp của Victore đã được báo chí trong và ngoài nước khi đó xác nhận.

bqllang.gov.vn

Bức tranh thêu và tình bạn thủy chung

Nguyễn Ái Quốc lúc ở Hồng Kông với tên gọi Tống Văn Sơ và luật sư Frank Loseby năm 1931 ở Hồng Kông

Hơn 40 năm đã qua nhưng bức tranh thêu “Chùa Một Cột” Bác Hồ tặng ông bà Frank Loseby tháng 12/1959 ở Hồng Kông nay được lưu giữ ở Bảo tàng Hồ Chí Minh vẫn được giữ nguyên vẻ đẹp ban đầu. Đó là một minh chứng cho tình bạn cao đẹp và thủy chung giữa Bác Hồ và luật sư F.Loseby, ân nhân đã giúp Bác tìm lại được tự do sau vụ án “Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông” kéo dài từ tháng 6/1931 đến đầu năm 1933.

Theo ông Paul Tagg (mẹ ông gọi luật sư F.Loseby bằng chú ruột) thì bức tranh đã được trang trí ở nhiều ngôi nhà, từ Hồng Kông đến London và được nhiều người chiêm ngưỡng vẻ đẹp cổ kính trước khi yên vị ở Bảo tàng Hồ Chí Minh từ năm 2005.

Tháng 6/2001, tôi có dịp gặp ông Paul Tagg lần đầu tiên trong chuyến đi cùng bà Lady Borton sang London và Paris thu thập thêm tư liệu lưu trữ ở Bộ Ngoại giao Anh và Pháp về vụ án của “Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông” mà bà Lady đã cất công sưu tầm từ mấy năm trước ở các cơ quan lưu trữ của Anh và Hồng Kông. Chúng tôi đã trò chuyện với ông Paul trong một hiệu ăn Ấn Độ ở trung tâm London.

Ông Paul tâm sự: “Tôi được biết bức tranh này khi tôi chuyển đến làm việc ở Hồng Kông năm 1987 và có dịp thân thiết với cô Patricia là luật sư ở đó. Cô là con gái duy nhất của ông bà Loseby sống độc thân, không có con. Họ Loseby có truyền thống làm luật sư đã 4 đời. Chính vợ tôi là người đầu tiên trong gia đình phát hiện ra vẻ đẹp duyên dáng và tinh tế từ đường kim mũi chỉ đến các gam màu từ vàng đến nâu rất trang nhã của bức tranh đặc biệt này. Nay tôi rất vinh hạnh được cô tôi ủy thác việc trao lại bức tranh cho Bảo tàng Hồ Chí Minh lưu giữ vì cô đã suy nghĩ là không đâu có thể làm tốt hơn nơi này sau khi cô mất. Nhưng đây cũng là một trách nhiệm rất lớn lao. Tôi đã phải tìm đến hãng bảo hiểm cho việc chuyên chở thật an toàn và nguyên vẹn đến đích. Tôi cũng đã sang Hà Nội làm việc sơ bộ với Bảo tàng Hồ Chí Minh để xem các thể thức bảo quản và sử dụng sao cho nhiều người được chiêm ngưỡng và biết rõ tình bạn cao quý giữa Chủ tịch Hồ Chí Minh và luật sư F.Loseby khi đến thăm bảo tàng mang tên Người”.

Trong buổi gặp gỡ này, ông Paul có nhã ý cho tôi xem tập kỷ vật về chuyến đi của luật sư Patricia cùng cha mẹ sang thăm Hà Nội Tết Nguyên đán 1960, bao gồm những bức ảnh cùng tập nhật ký của cô và các bài báo ở Hà Nội nói về chuyến thăm đó. Những kỷ vật này đã được cô Patricia gìn giữ cẩn thận và trao lại cho ông trước khi cô mất vào đầu năm 2001 ở London.

Trong khi ông Paul trao đổi với bà Lady, người bạn thân thiết của Bảo tàng Hồ Chí Minh để đưa bức tranh thêu “Chùa Một Cột” từ London về Hà Nội thật an toàn thì ngoài trời mưa rất to. Tôi mừng là “vũ vô kiềm tỏa năng lưu khách” khiến tôi có thể yên tâm ngồi đọc những câu chuyện cảm động về cuộc tái ngộ kỳ diệu sau 27 năm không tin tức của những người bạn thủy chung. Và nếu theo tâm linh, nay họ đều đã lại trùng phùng ở thế giới của những người hiền.

Năm 1960, báo chí Việt Nam tập trung nhiều vào nhân vật trung tâm là luật sư Loseby còn những kỷ vật lại cho tôi biết rõ cảm tưởng của cô Patricia và bà Rosa về chuyến đi này. Tập nhật ký ghi lại rất sinh động những ngày giá lạnh ở Hà Nội tại một biệt thự ngay trước mặt hồ Thiền Quang có những căn phòng cao rộng thênh thang mà chiếc lò sưởi điện không đủ ấm khiến mọi người khi ngủ vẫn phải mặc áo len và đi tất. Tuy nhiên không khí đón tiếp gia đình Loseby thật nồng ấm, chân tình.

Những ngày giáp tết, nhân dân Hà Nội hồ hởi đi sắm tết, đặc biệt hoa tươi nhiều vô kể và ai nấy đều vui mừng khi mang một cành đào thắm về nhà. Cô Patricia đặc biệt xúc động trước sự quan tâm chu đáo hết sức tế nhị của Bác Hồ. Lúc Bác đến nhà cô ở Hồng Kông, cô còn quá nhỏ không có ký ức gì. Giờ gặp ở sân bay cô hết sức ngạc nhiên về tiếng Anh rất chuẩn của Người. Hết ngạc nhiên này lại đến ngạc nhiên khác qua mỗi ngày.

Sáng mồng Một Tết, Bác Hồ đã gửi đến tặng gia đình cô một lẵng hoa đẹp rực rỡ và ấn tượng đầm ấm ngày tết của gia đình cô chính là cảnh sum vầy thân mật giữa Bác Hồ với các cháu thiếu nhi xinh tươi như các đóa hoa đến Phủ Chủ tịch múa hát và liên hoan bánh kẹo với Bác Hồ và gia đình cô. Bác Hồ đã cùng gia đình cô đi thăm Nhà máy Cơ khí trung quy mô ngày đầu năm, cô lại được thấy giữa người lãnh đạo đất nước và các công nhân có sự chan hòa đồng cảm như người thân trong gia đình. Và đến ngày chia tay ở sân bay thật bịn rịn.

Tình thân ái không chỉ được nối lại giữa Bác Hồ và gia đình cô, bên cạnh đó nhân dân Việt Nam và những người gần gũi đã phục vụ tận tụy cho chuyến đi của gia đình được tốt đẹp đã tạo ra sự quyến luyến không dứt. Hoa tặng quá nhiều, gia đình cô chỉ biết cảm ơn và xin chuyển đến quân y viện tặng các thương bệnh binh. Trong chuyến đi này cô cảm nhận thấy dường như Chủ tịch Hồ Chí Minh thật hạnh phúc khi Người ở bên nhân dân lao động, những chiến sỹ và nhất là các cháu thiếu nhi.

Chùa Một Cột được dùng làm hình ảnh trong bức tranh thêu Bác Hồ tặng luật sư Loseby

Về phía bà Rosa, phu nhân của luật sư Loseby, những kỷ niệm của bà đối với Bác Hồ được phóng viên Hãng Reuters ghi lại trong buổi phỏng vấn bà khi Bác Hồ mất năm 1969. Lúc đó luật sư Loseby đã mất từ năm 1967. Bà Rosa nhớ rất chi tiết các sự kiện xảy ra từ năm 1931 đến đầu năm 1933 khi Bác Hồ bị giam ở nhà tù Hồng Kông, tính mạng bị đe dọa như ngàn cân treo trên sợi tóc, còn chồng bà phải đấu tranh rất căng thẳng về pháp lý với quyết tâm đem lại công lý cho thân chủ của mình bất chấp mọi sức ép ghê gớm của các lực lượng thù địch bên ngoài.

Bà nhớ như in buổi tiếp xúc đầu tiên với người tù mà chồng bà kể lại là theo những cáo buộc của nhà cầm quyền Pháp và Lãnh sự Pháp ở Hồng Kông trình bày với nhà đương cục Hồng Kông, thì “tên phiến loạn” vô cùng nguy hiểm đến an ninh thuộc địa của Pháp và cả của Anh quốc này cần được dẫn độ về Việt Nam để thực hiện bản án tử hình đã chờ sẵn từ vài năm trước.

Cùng chung nhận định với chồng và bạn thân của bà là vợ ông Phó thống đốc Hồng Kông – một nữ văn sỹ Anh – người đã theo bà đến nhà tù gặp người tù đặc biệt yêu hoa này, bà chỉ thấy đó là một con người lịch lãm, yêu văn học và thơ ca, yêu thiên nhiên và nhất là yêu đất nước mình. Họ đã đồng lòng phải làm mọi cách để giúp đỡ người tù này vượt qua những khổ ải của thân phận tù mà những người thống trị Anh và Pháp câu kết với nhau chỉ muốn trừ khử bằng mọi cách. Và lần cuối cùng khi Nguyễn Ái Quốc bị cảnh sát ở Singapore (thuộc địa của Anh lúc đó) bắt phải quay lại Hồng Kông trong khi phán quyết của Tòa án tối cao ở Anh đã buộc Bác phải khẩn trương rời Hồng Kông. Một lần nữa vợ chồng bà lại giúp bạn tìm con đường về với tự do.

Trong hoàn cảnh gian nan trăm bề khi đó, vợ chồng luật sư Loseby, lúc này không phải với tư cách luật sư mà là những người bạn, đã giúp nhà cách mạng Nguyễn Ái Quốc cải trang thành một thương gia Trung Hoa giàu sang đi vé tàu hạng nhất cùng một tùy tùng (là thư ký văn phòng của Luật sư) đi Thượng Hải. Họ đã rời Hồng Kông ra neo đậu tàu bằng chính xuồng lớn của Thống đốc Hồng Kông do bà vợ Phó thống đốc giúp đỡ vào bữa giáp tết cổ truyền năm 1933.

Bà Rosa chỉ bức tranh thêu Chùa Một Cột ở Hà Nội được treo ở vị trí trang trọng trong ngôi nhà ông bà ở Hồng Kông cho ông phóng viên xem và kể tiếp: “Thật xiết bao vui mừng và cảm động, sau 27 năm xa cách không hề có tin tức của nhau, một ngày gần lễ Giáng sinh năm 1959 vợ chồng tôi nhận được món quà quý giá này của người tù năm xưa nay là Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa gửi tặng do ông lãnh sự Việt Nam ở Hồng Kông đem lại sau khi ông báo cáo với Chủ tịch Hồ Chí Minh là đã tìm được địa chỉ của luật sư Loseby. Cùng với quà tặng, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn gửi thư mời gia đình ông bà sang thăm Hà Nội nhân dịp Tết Nguyên đán 1960. Sau cuộc tái ngộ với bao ân tình giữa hai người bạn tóc đều bạc, chồng tôi đã viết thư cảm ơn Chủ tịch Hồ Chí Minh và nói rằng nếu như trong đời ông làm được việc có ích nhất, đó chính là giúp được người bạn mình tìm lại được tự do”.

Ông Paul kể thêm với chúng tôi là luật sư F. Loseby là một người chồng và người cha tốt bụng, sống giản dị khiêm nhường, sẵn sàng tư vấn về pháp luật cho bất kỳ ai dù giàu hay nghèo tìm đến ông, trung thành với nguyên tắc là mọi người phải được đối xử bình đẳng theo pháp luật, công lý phải được bảo vệ. Ông còn tâm sự với tôi là sau khi đi thăm Việt Nam lần thứ nhất, được thăm nhà sàn và khung cảnh sống của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ông vô cùng xúc động và ngưỡng mộ nhân cách thanh cao của Người. Ông đã từng sống nhiều năm ở Nam Phi trước khi làm việc ở Hồng Kông rồi chuyển về London, từng đi nhiều nước, ông càng khâm phục Chủ tịch Hồ Chí Minh, Người luôn dấn thân trong gian khổ, cả đời mình đấu tranh cho độc lập tự do và thống nhất đất nước, sống bình dị, hết lòng vì nước vì dân, không có tài sản cá nhân, không một tấm huân chương.

Ngày 22/5/2005, trong buổi lễ trang trọng tại Bảo tàng Hồ Chí Minh, ông Paul Tagg đại diện cho gia đình luật sư Loseby đã trao tặng lại cho Bảo tàng kỷ vật quý báu của gia đình với niềm tin tưởng tình bạn thủy chung giữa luật sư Loseby và Chủ tịch Hồ Chí Minh tượng trưng cho những giá trị nhân văn cao đẹp, mặc dù có khác biệt về chính trị và văn hóa, vẫn sống mãi với thời gian.

Đạm Thư
Theo antg.cand.com.vn
Phương Thúy (st)

bqllang.gov.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh trong tình cảm của bè bạn quốc tế khi đến viếng Ng­ười

Tại diễn đàn Hội thảo quốc tế kỷ niệm 100 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (Hà Nội – 1990), Tiến sĩ A.Atmet, Giám đốc Unesco khu vực Châu Á – Thái Bình Dương – đại diện đặc biệt của Tổng Giám đốc Unesco đã khẳng định: “Chỉ có ít nhân vật trong lịch sử trở thành một bộ phận của huyền thoại ngay khi còn sống và rõ ràng Hồ Chí Minh là một trong số đó. Người sẽ được ghi nhớ không chỉ là người giải phóng cho tổ quốc và nhân dân bị áp bức mà còn là một nhà hiền triết hiện đại đã mang lại một tương lai hy vọng mới cho những người đang đấu tranh không khoan nhượng để loại bỏ bất công, bất bình đẳng khỏi trái đất này”.

Trọn cuộc đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã hy sinh cho hạnh phúc của cả dân tộc. Người quan tâm đến cuộc sống của mỗi con người nhưng không đòi hỏi gì cho riêng mình, không muốn nói về mình, không muốn nghe mọi người ca ngợi mình. Tất cả những phẩm chất cao quý, những nét đặc sắc thanh cao ấy đã kết thành sự vĩ đại của Người – Anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hóa lớn. Chính vì vậy, ngay cả khi Người còn sống và sau khi Người qua đời đã có hàng ngàn, hàng vạn bài viết, những lời phát biểu đánh giá cao về sự nghiệp cách mạng, tư tưởng và đạo đức của Người.

Quảng trường Ba Đình vẫn vẹn nguyên như khi Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập của cả dân tộc trước sự chứng kiến của nửa triệu người Hà Nội ngày 2-9-1945, chỉ khác biệt ở chỗ là sự hiển diện của Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh trang ngiêm đứng ở phía Tây của Quảng trường. Lòng tin và sự kính trọng đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh có thể nhìn thấy trên gương mặt của từng người khách tham quan đến từ mọi miền đất nước Việt Nam và khắp nơi trên thế giới, những người đã xếp hàng dài vài trăm mét để chờ đợi đến lượt mình bày tỏ lòng kính trọng đối với Người. Những dòng người vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh ngày một thêm dài bất tận. Theo số liệu thống kê của Ban Quản lý Lăng, từ ngày mở cửa Lăng 29-8-1975 đến nay đã có hơn 40 triệu lượt người vào Lăng viếng Bác, trong đó có hơn 7 triệu lượt người nước ngoài đến từ 160 quốc gia, vùng lãnh thổ và các tổ chức quốc tế. Không phân biệt quốc tịch, màu da, không phân biệt tôn giáo, đảng phái chính trị, mọi người đến viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh đều với một tình cảm kính trọng và yêu mến. Hầu hết các Đoàn nguyên thủ quốc gia, các đoàn đại biểu cấp cao các nước, khách du lịch khi đến thăm chính thức Việt Nam, đến làm việc hoặc tham quan Thủ đô Hà Nội đều dành thời gian đến Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh để viếng Người.

Có nhiều cách bạn bè quốc tế thể hiện tình cảm đối với Người: Có những dân tộc theo phong tục không được gặp mặt người đã mất, nhưng với lòng kính yêu Bác Hồ, họ vẫn đến trước Lăng để đặt vòng hoa tưởng niệm Người; có những đất nước như nước Cộng hoà U-krai-na, với mỗi đoàn đến viếng Bác, họ đều đặt vòng hoa viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh theo đúng màu cờ của nước mình. Nhưng nhiều nhất vẫn là những dòng cảm tưởng khi đến viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh của khách tham quan, của bè bạn quốc tế ngày một thêm trang phần nào nói lên tình cảm của bè bạn quốc tế đối với Người.

Ngày 2-9-1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vĩnh biệt chúng ta. Nhân dân Việt Nam và cả thế giới tiếc thương Người:

Ngài Hu-a-ri Bu-mê-điêng – Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Cộng hòa An-giê-ri dân chủ, đã ghi vào trang đầu sổ tang ngày 4-9-1969: “Chủ tịch Hồ Chí Minh là một trong những nhà cách mạng đầu tiên đã chiến đấu chống những hình thức khác nhau của chủ nghĩa thực dân và chủ nghĩa đế quốc và là một trong những người mà bằng lời nói và hành động của mình, đã đập tan cơ cấu của sự tàn bạo và góp phần vào sự nghiệp chính nghĩa của các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới, đã giành lại nhân cách của mình trên lĩnh vực tinh thần, ngôn ngữ và kinh tế để làm cho các dân tộc đoàn kết lại với nhau, tiến tới một nền hòa bình mà đặc điểm của nó là tự do và đoàn kết, thống nhất.

Người mất đi là thế giới thứ ba mất một người dũng cảm vì cuộc chiến đấu của Người cũng là cuộc chiến đấu của tất cả các dân tộc bị áp bức của châu Phi, của Pa-le-xtin, của Việt Nam, của Châu Á và của thế giới thứ ba, để giành lại phẩm cách và danh dự cho mình. Cuộc đấu tranh đó sẽ còn tiếp tục cho đến thắng lợi hoàn toàn và Người sẽ vẫn là tượng trưng cao cả nhất cho cuộc đấu tranh này.

Mong rằng tấm gương của Người và cuộc chiến đấu của Người sẽ là kim chỉ nam hành động cho tất cả các dân tộc đang đấu tranh, cho thanh niên và cho các nhà lãnh đạo trên thế giới”.

Ngài Ap-đen Rát-man Ê-li-ri-a-li – Chủ tịch nước Cộng hòa Y-ê-men đã gửi điện chia buồn ngày 5-9-1969: “Chủ tịch Chủ Hồ Chí Minh là vị lãnh tụ và người chiến sỹ vĩ đại đã dâng hiến cả cuộc đời cho tự do và công lý. Chúng tôi cảm thấy Châu Á đã mất đi một vị tư lệnh kiên cường, nhưng chúng tôi tin tưởng rằng sự nghiệp vĩ đại của Người mà nhân dân Việt Nam anh hùng cùng nhân dân các nước đang tiếp tục phấn đấu để thực hiện nhất định sẽ giành được thắng lợi to lớn”.

Thủ tướng Ấn Độ, P.J.Nê-ru đã viết trên Báo “Người yêu nước” của Ấn Độ, ngày 14-9-1969: “Người không chỉ là một con người yêu hòa bình mà còn là một nhân vật đặc biệt đáng yêu và hữu nghị, một con người không nghĩ gì đến mình, giản dị và khiêm tốn. Là Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, Người không chỉ giam mình trong tháp ngà. Về cơ bản, Người là một con người quần chúng, một lãnh tụ có sự kết hợp hiếm có giữa lòng khoan dung tột độ và ý chí kiên quyết. Nhận xét theo bất cứ tiêu chuẩn nào Người cũng là một nhân vật nổi bật nhất trong thời đại chúng ta”.

Chủ tịch Hội đồng Hoà bình thế giới Rô-met Chan-dra đã phát biểu nhân kỷ niệm 90 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh:

“ Bất cứ nơi nào chiến đấu cho độc lập tự do
Ở đó có Hồ Chí Minh và ngọn cờ Hồ Chí Minh bay cao.
Bất cứ nơi nào chiến đấu cho hoà bình và công lý
Ở đó có Hồ Chí Minh và ngọn cờ Hồ Chí Minh bay cao.
Ở bất cứ đâu, nhân dân chiến đấu cho một thế giới mới, chống đói nghèo
Ở đó có Hồ Chí Minh và ngọn cờ Hồ Chí Minh bay cao…”.

Sau khi Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh được khánh thành, số lượng khách quốc tế đến viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh năm này luôn cao hơn năm trước. Dưới đây là những dòng cảm tưởng khi bè bạn quốc tế đến viếng Người:

Đoàn đại biểu Uỷ ban Văn hoá Đảng Cộng sản Mỹ, ngày 5-3-1983 đã ghi vào sổ cảm tưởng: “Chúng tôi có vinh dự lớn được thay mặt cho Uỷ ban Văn hoá Đảng Cộng sản Mỹ, cùng với nhân dân Việt Nam anh hùng đến viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh bất tử. Người luôn là nguồn cổ vũ lớn đối với nhân dân yêu chuộng hoà bình, với tất cả những người đấu tranh vì tự do và độc lập dân tộc và với tất cả nhân dân tiến bộ Mỹ. Hôm nay là một ngày xúc động nhất và tôi chia sẻ điều đó với Đảng và nhân dân nước tôi.

Tư tưởng Hồ Chí Minh vẫn sống mãi trong lòng nhân dân Việt Nam anh dũng và để tưởng nhớ Người, chúng tôi luôn mong muốn cho sự đoàn kết bền chặt giữa hai dân tộc Mỹ – Việt”.

Đoàn đại biểu Đảng Cộng sản Ấn Độ, ngày 19-12-1989: “Được vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh là một niềm vinh dự to lớn của chúng tôi. Xin được bày tỏ lòng kính trọng của mình tới một nhân cách vĩ đại – Người đã cổ vũ và lãnh đạo nhân dân đất nước mình giành độc lập tự do cho dân tộc. Người đã đóng góp công lớn cho hoà bình và đoàn kết giữa các nước trên thế giới”.

Đại sứ Trung Quốc tại Việt Nam Trương Đức Duy, ngày 30-12-1990 đã viết: “Cuộc đời Chủ tịch Hồ Chí Minh là cuộc đời cách mạng, cuộc đời vĩ đại, cuộc đời vẻ vang. Thật đáng khâm phục và đáng kính trọng biết bao nhiêu! Sau khi viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh, chúng tôi thật vô cùng xúc động. Xin viết mấy dòng tỏ lòng tưởng nhớ:

Lãnh tụ vĩ đại
Công bộc nhân dân
Anh hùng dân tộc
Chiến sỹ quốc tế
Cả đời cách mạng
Cống hiến hết mình
Đức cao vọng trọng
Sáng như nhật nguyệt
Quý tình trọng nghĩa
Hữu nghị Trung – Việt
Bạn thân Hoa Hạ
Muôn đời truyền mãi”.

Đoàn đại biểu Cơ quan Giám sát hành chính Ai Cập, ngày 10-3-1998: “Thay mặt cho Cơ quan Giám sát hành chính Ai Cập, xin cảm ơn đất nước Việt Nam đã đón tiếp chúng tôi nồng nhiệt. Đây là nơi ghi lại cuộc đấu tranh chống đế quốc và đây là biểu tượng của các dân tộc thế giới thứ ba, biểu tượng đó chính là Hồ Chí Minh vĩ đại – là biểu tượng tình đoàn kết giữa hai nước để đạt được những tiến bộ không ngừng vì lợi ích của nhân dân hai dân tộc Ai Cập – Việt Nam”.

Ngài Mohamad Ismail Mahshoor – Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Ap-ga-ni-xtan tại Việt Nam: “Ở nước tôi, nhân dân biết tới Bác Hồ như một người chiến sỹ đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân và sự tàn bạo. Bác Hồ là tấm gương sáng cho thanh niên Ap-ga-ni-xtan vì lòng yêu nước và sự cống hiến vô hạn cho nhân dân. Trẻ em Ap-ga-ni-xtan biết về Người như biểu tượng của lòng tốt, một người ông yêu trẻ. Trong sách báo chúng tôi có in rất nhiều hình ảnh Bác Hồ gặp thanh, thiếu niên với tình cảm rất mực yêu thương. Sự nghiệp đấu tranh chống ngoại xâm, cứu nước của Bác Hồ là chủ đề nghiên cứu của những người yêu nước chúng tôi. Bác Hồ sẽ sống mãi trong trái tim của nhân loại”.

Gặp gỡ những vị khách nước ngoài đến thăm Cụm Di tích Lịch sử – Văn hóa Ba Đình trong những ngày tháng Tư này, chúng tôi đều thấy sự ngưỡng mộ và lòng kính trọng sâu sắc đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt nam.

Anh Giôn Hatđinh, người Ô-xtrây-lia, đang làm việc tại tờ Thời báo kinh tế Việt Nam nói: “Ông là một người có ảnh hưởng rất lớn không những đối với nhân dân Việt Nam mà còn đối với nhân dân của rất nhiều nước trên thế giới, không chỉ khi ông còn sống mà ngày nay cũng vậy. Mặc dù mỗi nước có một ngôn ngữ riêng nhưng khi bạn hỏi người nước ngoài về Việt Nam thì chắc chắn rằng họ sẽ nhắc đến Hồ Chí Minh trong câu trả lời”.

Anh Hatđinh đã gọi Chủ tịch Hồ Chí Minh là “Charisma”, từ chỉ những vị lãnh tụ có uy tín, có sức hút đối với quần chúng nhân dân. Theo anh, nhiều dân tộc trên thế giới có các anh hùng dân tộc nhưng không phải nước nào cũng có “Charisma”.

Anh Lơgêrốt, người Pháp, đang làm việc cho một dự án tại Hà Nội, khoe rằng anh rất ngưỡng mộ Chủ tịch Hồ Chí Minh nên mỗi lần đến Hà Nội anh đều dành thời gian đi thăm quần thể Lăng, Bảo tàng và Khu Di tích của Người. Anh nói: “Hồ Chí Minh là biểu tượng cách mạng không chỉ của nhân dân Việt Nam mà còn của cả nhân loại. Vai trò của ông đối với đất nước Việt Nam là hết sức to lớn. Thật ấn tượng khi ông đã hiến dâng cả đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, vì hòa bình, vì hạnh phúc cho người dân trong khi không mảy may nghĩ đến lợi ích riêng tư”.

Một vài dòng trên đây cũng không nói được nhiều, chỉ mong rằng qua đây mọi người thấy rõ thêm phần nào về tình cảm và sự kính trọng của bè bạn thế giới đối với Bác kính yêu.

Nguyễn Thị Lan Hương
Văn phòng Ban Quản lý Lăng
Chủ tịch Hồ Chí Minh

bqllang.gov.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh với gia đình Raymond Aubrac

Một trong những gia đình người Pháp có kỷ niệm sâu sắc với Chủ tịch Hồ Chí Minh là gia đình Raymond Aubrac.

Năm 1946 sau cuộc đàm phán với Pháp không kết quả, nhận lời mời của Chính phủ Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sang thăm Pháp với danh nghĩa Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà từ giữa tháng 6 đến giữa tháng 9-1946.

Thời gian Bác thăm Pháp lâu, vì ở Pháp lúc đó có cuộc bầu cử Quốc hội và phải thay đổi Chính phủ. Cũng trong khoảng thời gian này, ở Pháp có Hội nghị Fontainebleau giữa Pháp và Việt Nam. Đoàn Việt Nam do đồng chí Phạm Văn Đồng làm Trưởng đoàn. Chủ tịch Hồ Chí Minh lúc đó cũng ở Pari nhưng không tham gia đoàn việt Nam ở Hội nghị. Sau khi Hội nghị Fontainebleau kết thúc, Đoàn đại biểu Việt Nam về nước, còn Bác ở lại để cùng với Marius Moutet, Bộ trưởng Bộ Hải ngoại, đại diện Chính phủ Pháp ký bản Tạm ước với hy vọng cứu vãn hoà bình. Ngày 19-9-1946, Bác lên tầu ở cảng Toulon, trở về nước.

Ngày 27-7-1946, Việt kiều ở Pháp đã tổ chức một cuộc chiêu đãi tại Vườn Hồng Bagatelle ở Paris để chào mừng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ông Raymond Aubrac có mặt trong buổi chiêu đãi. Sau đó, ông mời Bác về ở nhà mình, ở ngoại ô Paris.

Bác đến ở nhà ông Raymond Aubrac 6 tuần, từ đầu tháng 8 đến giữa tháng 9-1946. Nhà ở Soissy-sous-Monmorency, phía Bắc Paris, đi khoảng 20 phút xe hơi. Nhà được xây dựng từ thế kỷ 18, để làm nhà nghỉ cho một gia đình quý tộc. Xung quanh nhà có vườn rộng, cách đường cái một bức tường có hàng cây dẻ và một vài cây anh đào. Trong vườn có mấy cụm hoa lớn, còn lại là thảm cỏ. Nhà có ba tầng với một tầng hầm và một tầng sát mái. Lúc đó gia đình ông Aubrac có hai vợ chồng, hai con nhỏ, bà mẹ vợ và một người giúp việc. Trong thời gian ở cùng gia đình, lúc đầu bà Aubrac và mẹ bà nấu cho Bác ăn. Nhưng sau này thấy bận và Bác có nhiều khách, nên anh em đã cử ông Ty, một Việt kiều yêu nước đến nấu ăn cho Bác. Ông Ty có một cửa hàng ăn ở khu sinh viên Quartier latin, nhưng ông đã đóng cửa, đến phục vụ Bác.

Mỗi buổi sáng người nhà ông Aubrac mang đến cho Bác sách báo tiếng Pháp và báo chí tiếng Anh, Đức, Nga… Bác thường đọc báo ngay trên thảm cỏ. Hàng ngày Bác cũng tiếp khách ở ngoài vườn. Chính phủ Pháp dành cho Bác một tầng trong một ngôi nhà lớn ở gần Khải hoàn môn, nhưng Bác thường không vào Paris tiếp khách, mà mời về nhà ông Aubrac. Đoàn đại biểu của ta tại Hội nghị Fontainebleau ngày nào cũng đến làm việc với Bác. Ở đây Bác tiếp và chiêu đãi nhiều nhân vật thuộc các khuynh hướng chính trị khác nhau, các nhà văn, nhà báo.

Ông Aubrac kể lại rằng cuối tháng 7, nhân ngày sinh của ông, Bác đã tặng ông một bức tranh của họa sĩ Vũ Cao Đàm, một trí thức Việt kiều yêu nước. Bức tranh tả một bà mẹ mới sinh con, đang vươn cánh tay dài với những ngón tay mảnh dẻ vuốt đầu cháu bé. Ít lâu sau, bà Aubrac sinh cháu Elisabeth. Bác đã đến Nhà hộ sinh Port – Royal ở Paris thăm, tặng hoa và nhận là người đỡ đầu. Từ đó trở đi, năm nào đến ngày sinh của cháu, Bác cũng đều gửi quà mừng.

Ông bà Aubrac tuy không phải là đảng viên cộng sản nhưng là những người tiến bộ, yêu nước, tích cực tham gia cuộc kháng chiến của nhân dân Pháp chống phát xít. Ông bà chịu ảnh hưởng của những người cộng sản, thời đó gọi là những người “bạn đồng hành” của những đảng viên cộng sản, là những người luôn đứng về phái công lý. Hai ông bà là những chiến sĩ kiên cường trong kháng chiến chống phát xít Đức, bí mật tham gia kháng chiến ở Lyon. Ông góp phần thành lập bộ tham mưu quân đội bí mật. Bố mẹ ông Aubrac cũng bị phát xít Đức giết chết. Ông bị phát xít Đức bắt, ngày 15-6-1943 được lực lượng kháng chiến cứu thoát. Ngày 21-6-1943, ông bị Gestapo bắt và đưa đi xử bắn. Bà Lucie đã tổ chức một cuộc tập kích giải thoát cho chồng. Bị lộ, hai vợ chồng theo tướng De Gaulle sang Anh.

Ông Aubrac kể khi ông làm đại diện Chính phủ Pháp tại Marseille năm 1944-1945, ở đó có rất nhiều lính thợ Việt Nam được Chính phủ Pháp tuyển mộ sang Pháp từ năm 1939 để thay thế cho thanh niên Pháp nhập ngũ. Phát hiện ra tại các trại này anh em bị bọn côn đồ đàn áp, ông đã giải tán Ban chỉ huy, thay bằng những người tốt và cho anh em tự bầu ra một Ban tư vấn bên cạnh Ban chỉ huy. Từ đó anh em biết ơn ông và năm nào đến dịp lễ Tết đều mời ông dự. Ông cho rằng cũng vì vậy mà ông được mời dự cuộc chiêu đãi ở Bagatelle và được giới thiệu với Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Sau chiến tranh ông trở thành anh hùng kháng chiến, được cử làm đại diện Chính phủ Pháp tại Marseille, rồi về làm việc ở Bộ Xây dựng. Ông là kỹ sư công chính. Còn bà Aubrac được cử làm đại biểu Hội đồng tư vấn, một nhân chứng lịch sử đấu tranh giải phóng. Sau đó, bà làm giáo viên của Trường Trung học Enghien.

Hai ông bà đều có quan hệ gắn bó với Bác Hồ và Việt Nam trong nhiều thập kỷ. Ông thường nói ngày được gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh 27-7-1946 đã đánh dấu một bước ngoặt trong cuộc đời ông, cho tận đến bây giờ, một giai đoạn gắn bó với đất nước Việt Nam.

Sau năm 1946 ông Aubrac đã gặp Bác hai lần. Một lần vào năm 1955, ở Bắc Kinh, khi Bác đang thăm Trung Quốc. Bác đã mời ông ăn sáng và mời sang Hà Nội, gặp Thủ tướng Phạm Văn Đồng, để giúp giải quyết vấn đề buôn bán giữa Việt Nam và Pháp. Ông đi xe lửa từ Bắc Kinh đến Lạng Sơn, sau đó đi xe Jeep đến Hà Nội. Ông ở Việt Nam khoảng nửa tháng, đi thăm Hà Nội và vịnh Hạ Long.

Lần thứ hai, năm 1967, ông cùng Viện trưởng Viện Pasteur Herbrt Marcovitch sang để trao đổi về tình hình Việt Nam. Bác cùng Thủ tướng Phạm Văn Đồng tiếp ông tại Nhà sàn, Hà Nội. Sau 12 năm xa cách, ông được gặp Bác. Đây cũng là lần cuối cùng.

Ông viết cuốn sách “Où s attarde la mémoire” (Những gì để nhớ), xuất bản năm 1946, trong đó kể lại những kỷ niệm gắn bó với cuộc đời của ông. Bác Hồ và Việt Nam đã để lại những ấn tượng sâu sắc trong lòng vợ chồng Raymond Aubrac. Ông bà đã trở thành những người bạn thân thiết của Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhân dân Việt Nam.

Ngày 14-3-2007, bà Aubrac qua đời, tại Paris, thọ 95 tuổi. Lễ truy điệu bà được tổ chức trọng thể tại Cung Invalides với sự có mặt của Tổng thống Pháp Jacques Chirac. Đài Truyền hình Pháp đã dành hai buổi chiếu cuốn phim về đời hoạt động của bà. Chủ tịch nước ta Nguyễn Minh Triết đã gửi điện chia buồn.

Ông Aubrac năm nay đã 94 tuổi, nhưng vẫn tích cực hoạt động vì tình hữu nghị với Việt Nam.

Năm 2006, ông tặng tôi cuốn sách của ông, với lời đề tặng “Thân tặng ông Trịnh Ngọc Thái cuốn Những gì để nhớ, với những kỷ niệm viết trong cuốn sách này của một kỹ sư công chính, Đại sứ sẽ thấy dấu ấn của sự gắn bó bền vững của tôi với đất nước của ông – Ký tên Raymond Aubrac”./.

Trịnh Ngọc Thái
Theo Phuly.edu.vn
Tâm Trang (st)

bqllang.gov.vn

“Người bạn Pháp của Việt Nam” kể chuyện Hồ Chí Minh

Chủ tịch Hồ Chí Minh bế con gái đỡ đầu Elizabeth. Bên cạnh là bà Lucie Aubrac. Ảnh tư liệu

“Khi Người lưu lại gia đình tôi, nhiều người bạn hỏi phải chăng Hồ Chí Minh đến ở nhà tôi để giải trí? Không phải vậy, Người ở đó để tranh thủ thời gian tìm hiểu về đời sống người dân Pháp”, ông Raymond Aubrac nhớ lại.

Nhân dịp 120 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, tháng 5/2010, ông Aubrac đã cùng con gái Elisabeth trở lại thăm Việt Nam. Đã 96 tuổi, nhưng hễ nhắc đến Chủ tịch Hồ Chí Minh, ông Raymond Aubrac lại trở nên phấn chấn lạ thường. “Tôi có cơ may được gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh là nhờ vào cuộc kháng chiến chống phát xít Đức của nhân dân Pháp”, ông chậm rãi mở đầu câu chuyện.

Ông kể, giữa năm 1946, sau cuộc đàm phán với Pháp không có kết quả, nhận lời mời của Chính phủ Pháp, Hồ Chí Minh đã sang thăm Pháp với danh nghĩa Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Cũng thời gian này ở Pháp có Hội nghị Fontainebleau. Đoàn Việt Nam tham dự do Thủ tướng Phạm Văn Đồng làm Trưởng đoàn. Chủ tịch Hồ Chí Minh lúc đó cũng ở Paris, nhưng không tham gia Hội nghị. Sau khi hội nghị kết thúc, Đoàn Việt Nam về nước, còn Người ở lại để cùng với Marius Moutet, Bộ trưởng Bộ Hải ngoại, đại diện Chính phủ Pháp ký bản Tạm ước với hy vọng cứu vãn hoà bình.

Ngày 27/7/1946, Việt kiều ở Pháp tổ chức tiệc chiêu đãi tại Vườn Hồng Bagatelle ở Paris để chào mừng Chủ tịch. Ông Raymond Aubrac cũng có mặt trong buổi chiêu đãi. Trò chuyện trong buổi gặp gỡ đầu tiên, “người bạn Pháp” cảm nhận và chia sẻ sự gắn kết gần gũi về lý tưởng đấu tranh cách mạng với Hồ Chí Minh.

“Đó là mối quan hệ giữa cuộc kháng chiến của lực lượng yêu nước Pháp và sự nghiệp cách mạng của nhân dân Việt Nam”, ông Raymond Aubrac kể lại. Ngay khi đó, ông đã nảy ý định mời Chủ tịch Hồ Chí Minh đến ở nhà riêng của mình ở Soisy-sous-Montmorency, ngoại ô Paris, dù Chính phủ Pháp dành cho Người một tầng trong ngôi nhà lớn ở gần Khải hoàn môn.

Ông Aubrac kể, khi ông làm đại diện Chính phủ Pháp tại Marseille năm 1944-1945, ở đó có rất nhiều lính thợ Việt Nam được Chính phủ Pháp tuyển mộ sang Pháp từ năm 1939 để thay thế cho thanh niên Pháp nhập ngũ. Phát hiện tại các trại này anh em bị côn đồ đàn áp, ông đã giải tán Ban chỉ huy, thay bằng những người tốt và cho anh em tự bầu ra một Ban tư vấn bên cạnh Ban chỉ huy. Từ đó anh em biết ơn ông và năm nào đến dịp lễ Tết đều mời ông dự. “Có lẽ vì thế mà tôi được mời dự cuộc chiêu đãi ở Bagatelle và được giới thiệu với Chủ tịch Hồ Chí Minh. Và ngày hôm đó đã đánh dấu một bước ngoặt trong cuộc đời tôi”, ông Aubrac nói. 6 tuần Chủ tịch Hồ Chí Minh ở nhà ông là khoảng thời gian đáng nhớ nhất với gia đình ông Aubrac. Lúc đó gia đình ông Aubrac có hai vợ chồng, hai con nhỏ, mẹ vợ và một người giúp việc.

“Khi Người lưu lại gia đình tôi, nhiều người bạn Pháp hỏi phải chăng Hồ Chí Minh đến ở nhà tôi để giải trí. Không phải vậy, Người ở đó để tranh thủ thời gian tìm hiểu về đời sống của người dân Pháp, hoàn cảnh nước Pháp… Chủ tịch nói chuyện với mẹ tôi, qua đó so sánh với điều kiện sống của dân Việt Nam”, ông Aubrac nhớ lại.

Mỗi buổi sáng, người nhà ông Aubrac mang đến cho Bác sách báo tiếng Pháp, tiếng Anh, Đức, Nga… Bác thường đọc báo ngay trên thảm cỏ hàng giờ liền. Chính phủ Pháp dành cho Bác một tầng trong một ngôi nhà lớn ở gần Khải hoàn môn, nhưng Bác thường không vào Paris tiếp khách, mà mời về nhà ông Aubrac. Ở đây Bác tiếp và chiêu đãi nhiều nhân vật thuộc các khuynh hướng chính trị khác nhau, các nhà văn, nhà báo…Ông kể lại rằng, ngày 31/7/1946, nhân ngày sinh của ông, Bác đã tặng ông một bức tranh của họa sĩ Vũ Cao Đàm, một trí thức Việt kiều yêu nước. Bức tranh tả một bà mẹ mới sinh con, đang vươn cánh tay dài với những ngón tay mảnh dẻ vuốt đầu cháu bé. Ít lâu sau, vợ ông sinh người con gái thứ ba, Elizabeth, Người đã đến nhà hộ sinh thăm, tặng hoa và nhận là người đỡ đầu. “Đó là ngày 15/8/1946. Từ đó trở đi, cả trong thời gian chiến tranh, chúng tôi luôn nhận được một món quà hay một cử chỉ nào đó của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi cho con gái tôi”, ông Aubrac bồi hồi.

9 năm sau kể từ năm 1946, ông Aubrac mới có cơ hội gặp lại Chủ tịch Hồ Chí Minh. Năm 1955 khi công tác tại Bắc Kinh, ông Aubrac vô tình đọc được trên tờ báo Bắc Kinh bằng tiếng Anh dòng chữ rất to “Chào đón Chủ tịch Hồ Chí Minh đến thăm nước CHND Trung Hoa”. Ngay lập tức, ông gọi điện đến Đại sứ quán Việt Nam tại Trung Quốc nhờ gửi đến Chủ tịch Hồ Chí Minh lời chào của người bạn sau 9 năm chưa gặp lại. 15 phút sau, điện thoại đổ chuông, một người nói với ông “Chủ tịch Hồ Chí Minh mời ông 6 giờ sáng mai đến ăn sáng”.

Ông Raymond Aubrac (phải) nhận được tình cảm nồng nhiệt từ những người bạn Việt Nam. Trong ảnh, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng thân mật bắt tay và trò chuyện với ông bên lề Hội thảo quốc tế Di sản Hồ Chí Minh giữa tháng 5. Ảnh: Nguyễn Hưng.

Sáng hôm sau, lái xe đón ông đến gặp Bác Hồ. Vừa gặp, Chủ tịch Hồ Chí Minh ôm hôn ông và hỏi thăm tình hình gia đình, các con của ông Aubrac. Khi biết ông Aubrac đến Bắc Kinh để đàm phán về một hiệp định thương mại Pháp – Trung, Chủ tịch Hồ Chí Minh đề nghị ông giúp đỡ trong việc đàm phán hiệp định thương mại đầu tiên giữa Pháp và Việt Nam.

“Hồ Chủ tịch nói nếu như tôi ở Hà Nội thì có thể giúp Việt Nam được việc này vì hai phái đoàn Pháp – Việt đều biết tôi. Tôi đã trả lời rất vui nếu được giúp nối lại cuộc đàm phán này. Ngay sau đó tôi sang Hà Nội”, ông Aubrac kể.

Ông Aubrac đã vượt quãng đường dài 5 ngày 4 đêm từ Bắc Kinh qua cửa khẩu Lạng Sơn bằng tàu hỏa đến Việt Nam lần đầu tiên. Đến Hà Nội, ông Aubrac đã gặp ông Phạm Văn Đồng và đại diện đoàn Pháp. Trong vòng 5 phút sau khi ông Aubrac đưa ra ý kiến trọng tài về cuộc đàm phán này, hai bên đã ký Hiệp định thương mại đầu tiên. Sau đó, ông lại bắt tàu hỏa từ Lạng Sơn về Bắc Kinh. “Thế là tôi đi mất 10 ngày, 8 đêm chỉ để làm việc 5 phút”, ông nói vui khi nhớ lại. Năm 1967 cuộc chiến tranh chống Mỹ của Việt Nam đang ở giai đoạn khốc liệt. Dư luận thế giới bày tỏ sự lo lắng, trong số đó có Pugwash, Tổ chức chống chiến tranh hạt nhân gồm nhiều nhà khoa học nổi tiếng thế giới trong lĩnh vực chế tạo bom nguyên tử. Hội nghị ở Paris năm đó có bàn về vấn đề Việt Nam và nhất trí cử hai nhà khoa học Pháp làm “sứ giả” giữa Washington và Hà Nội. Mục tiêu là tiến tới sự gặp gỡ giữa người đại diện có thẩm quyền của hai Chính phủ để bàn về việc ngừng leo thang chiến tranh. Khi đó, ông Aubrac đang làm việc cho Tổ chức Nông lương của Liên hợp quốc (FAO) ở Rome (Italy). Ông nhận được yêu cầu trở về Pháp và cùng giáo sư người Pháp Herbert Marcovich thực hiện nhiệm vụ này. Hai ông phải dừng chân tại Phnom Penh (Campuchia) để xin visa vào Hà Nội vì khi đó Việt Nam chưa có đại diện ngoại giao ở châu Âu.

Sau khi tới Hà Nội, ông đã tới nhà sàn gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh. Vừa gặp, Chủ tịch Hồ Chí Minh hỏi thăm bà Lucie Aubrac và các cháu, nhất là Elisabeth. Sau câu chuyện hàn huyên, ông Aubrac nói về cuộc họp của Pugwash ở Paris và nói ông có nhiệm vụ chuyển tới Chủ tịch một “bức thông điệp miệng” của Tổ chức này nhằm tìm một giải pháp cho vấn đề chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam. Chủ tịch nói: “Không thể chấp nhận được, trừ khi Mỹ phải chấm dứt không điều kiện việc ném bom bắn phá Việt Nam”. Trước khi về nhà sàn nghỉ, Bác Hồ chuyển cho ông một tấm lụa và nói: “Đây là quà tôi gửi cho Elisabeth” rồi ôm hôn ông thắm thiết.

Sau đó, trong vai trò sứ giả ông Aubrac nhiều lần tiếp xúc với đại diện Mỹ và Việt Nam ở Paris. Tháng 8/1967, Nhà Trắng gửi cho Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa công hàm bày tỏ sẵn sàng ngừng ném bom miền Bắc với điều kiện “việc làm này không bị lợi dụng và đưa đến những cuộc thảo luận có kết quả”.

Lần gặp năm 1967 là lần cuối cùng ông gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tuy nhiên đó không phải lần cuối cùng ông đến Việt Nam. Đến nay ông đã sang Việt Nam 16 lần. Vào ngày 30/4/1975, ông cũng có mặt tại Hà Nội để chứng kiến thời khắc lịch sử giải phóng hoàn toàn miền Nam thống nhất đất nước.

Gắn bó với Việt Nam từ năm 1946, khi gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Paris, Raymond Aubrac là người đã giúp đỡ ký kết Bản thỏa thuận thương mại đầu tiên giữa Việt Nam và Pháp (năm 1955); trao đổi thông điệp giữa Hà Nội và Washington để xác định chấm dứt vô điều kiện việc Mỹ ném bom xuống Việt Nam (năm 1967); kêu gọi và góp phần làm chấm dứt ném bom xuống các đê sông Hồng (năm 1972).

Theo vnexpress
Tâm Trang (st)

bqllang.gov.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh – người vun đắp tình hữu nghị Việt Nam với thế giới

Bác Hồ với thiếu nhi quốc tế tại Mát-xcơ-va năm 1955. Ảnh tư liệu

QĐND – Ngay từ những ngày đầu giành lại độc lập cho dân tộc và đến mãi sau này, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nêu tấm gương sáng trong việc vun đắp tình hữu nghị của Việt Nam với chính phủ, nhân dân các nước trên thế giới. Dưới đây là những câu chuyện về tình hữu nghị ấy.

Bức tranh thêu tặng Đại tá Xtê-phen L.Noóc-ling-giơ

Nhân dịp kỷ niệm lần thứ 116 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngày 13-5-2006, bà Giên Coi-lơ, cháu dâu của Đại tá Xtê-phen L.Noóc-ling-giơ, đã trao tặng Bảo tàng Hồ Chí Minh bức tranh thêu tùng hạc, một kỷ vật quý của Chủ tịch Hồ Chí Minh tặng Đại tá Xtê-phen L.Noóc-ling-giơ tháng 10-1945.

66 năm trước, Chiến tranh Thế giới thứ hai kết thúc, cũng là lúc nước ta chớp thời cơ, giành được độc lập. Đội quân G5, đơn vị cứu tế xã hội của Hoa Kỳ đối với quân Đồng minh do Đại tá L.Noóc-ling-giơ đứng đầu đến Hà Nội, với sứ mệnh nhân đạo là giải phóng tù binh đang bị Nhật giam giữ, đồng thời chăm sóc, hỗ trợ thuốc men, lương thực cho những số phận bất hạnh đến từ các nước khác nhau. Đoàn cứu tế xã hội Hoa Kỳ đến Hà Nội đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chính phủ Việt Nam quan tâm, giúp đỡ.

Đầu tháng 10 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh gặp Đại tá L.Noóc-ling-giơ để bàn việc giúp đỡ, vận chuyển lương thực từ Nam ra Bắc. Sự kiện này đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh thông báo trong phiên họp Hội đồng Chính phủ, ngày 9-10-1945.

Bức tranh dưới bàn tay tài hoa của nghệ nhân, trên nền vải thô màu vàng nhạt, những đường thêu đã làm hình ảnh chim hạc đậu trên cây tùng hiện lên sinh động, cùng lời chúc tốt đẹp nhất của Hồ Chí Minh: “Best greetings from Ho Chi Minh, Oct. 1945” (Những lời chúc tốt đẹp nhất của Hồ Chí Minh, tháng 10 năm 1945). Đường bo bằng vải xa-tanh màu đỏ nâu càng tôn thêm vẻ đẹp tinh tế của tặng vật.

Sinh thời, Đại tá L.Noóc-ling-giơ treo bức tranh này ở nơi trang trọng nhất trong nhà riêng của ông, tại Niu Y-oóc. Trải qua hơn 60 năm, bức tranh được gia đình Đại tá L.Noóc-ling-giơ gìn giữ, rồi vượt hàng nghìn cây số, từ nước Mỹ bên kia bán cầu, trở về Việt Nam, với một thông điệp hòa bình hữu nghị giữa các dân tộc mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xây dựng.

Chủ tịch Hồ Chí Minh với gia đình Rây-mông Ô-brắc

Năm 1946, sau cuộc đàm phán với Pháp không kết quả, nhận lời mời của Chính phủ Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sang thăm Pháp với danh nghĩa Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa từ giữa tháng 6 đến giữa tháng 9-1946.

Ngày 27-7-1946, Việt kiều ở Pháp đã tổ chức một cuộc chiêu đãi tại Vườn Hồng Ba-ga-ten ở Pa-ri để chào mừng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ông Rây-mông Ô-brắc có mặt trong buổi chiêu đãi. Sau đó, ông mời Bác về ở nhà mình, ở ngoại ô Pa-ri.

Bác đến ở nhà ông Rây-mông Ô-brắc 6 tuần, từ đầu tháng 8 đến giữa tháng 9-1946. Trong thời gian ở cùng gia đình, lúc đầu bà Ô-brắc và mẹ bà nấu cho Bác ăn. Sau này, thấy bận và Bác có nhiều khách, nên anh em đã cử ông Ty, một Việt kiều yêu nước đến nấu ăn cho Bác. Ông Ty có một cửa hàng ăn nhưng ông đã đóng cửa, đến phục vụ Bác. Mỗi buổi sáng, người nhà ông Ô-brắc mang đến cho Bác sách báo tiếng Pháp và báo chí tiếng Anh, Đức, Nga… Bác thường đọc báo ngay trên thảm cỏ. Hằng ngày Bác cũng tiếp khách ở ngoài vườn. Chính phủ Pháp dành cho Bác một tầng trong một ngôi nhà lớn ở gần Khải hoàn môn, nhưng Bác thường không vào Pa-ri tiếp khách, mà mời về nhà ông Ô-brắc.

Ông Ô-brắc kể lại rằng, cuối tháng 7, nhân ngày sinh của ông, Bác đã tặng ông một bức tranh của họa sĩ Vũ Cao Đàm, một trí thức Việt kiều yêu nước. Bức tranh tả một bà mẹ mới sinh con, đang vươn cánh tay dài với những ngón tay mảnh dẻ vuốt đầu cháu bé. Ít lâu sau, bà Ô-brắc sinh cháu Ê-li-da-bét. Bác đã đến nhà hộ sinh thăm, tặng hoa và nhận là người đỡ đầu. Người gọi Ê-li-da-bét là Ba-bét. Gia đình ông Ô-brắc vô cùng vui sướng và hạnh phúc. Vào những dịp sinh nhật Ba-bét, Người thường gửi thư và quà tới ông bà Ô-brắc và con gái đỡ đầu của mình. Quà của Bác là quả cầu nhỏ hay một con trâu bằng ngà, có khi là một bức ảnh chân dung của Người, hoặc một đồng tiền vàng có mang hình Bác và đặc biệt là tấm lụa vàng để Ba-bét may áo cưới.

Ba-bét sau này là giáo viên và có ba người con. Những món quà của Bác Hồ tặng, Ba-bét vẫn giữ gìn như những kỷ vật. Ba-bét đã nói với chồng và các con: “Chúng ta đang sống lại một kỷ niệm đẹp đẽ nhất trong đời mà Bác Hồ đã dành cho chúng ta”.

Sau năm 1946, ông Ô-brắc đã gặp Bác hai lần. Một lần vào năm 1955, ở Bắc Kinh, khi Bác đang thăm Trung Quốc. Bác đã mời ông ăn sáng và mời sang Hà Nội, gặp Thủ tướng Phạm Văn Đồng, để giúp giải quyết vấn đề buôn bán giữa Việt Nam và Pháp. Ông đi xe lửa từ Bắc Kinh đến Lạng Sơn, sau đó đi xe Jeep đến Hà Nội. Ông ở Việt Nam khoảng nửa tháng, đi thăm Hà Nội và Vịnh Hạ Long. Lần thứ hai, năm 1967, ông cùng Viện trưởng Viện Pa-xtơ H.Ma-cô-vích sang để trao đổi về tình hình Việt Nam. Bác cùng Thủ tướng Phạm Văn Đồng tiếp ông tại Nhà sàn, Hà Nội. Sau 12 năm xa cách, ông được gặp Bác. Đây cũng là lần cuối cùng.

Ông Ô-brắc đã viết cuốn sách “Où s attarde la mémoire” (Những gì để nhớ), xuất bản năm 1946, trong đó kể lại những kỷ niệm gắn bó với cuộc đời của ông. Bác Hồ và Việt Nam đã để lại những ấn tượng sâu sắc trong lòng vợ chồng Rây-mông Ô-brắc. Ông bà đã trở thành những người bạn thân thiết của Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhân dân Việt Nam.

Bác Hồ với Thủ tướng Ấn Độ Nê-ru

Năm 1958, Chủ tịch Hồ Chí Minh sang thăm Ấn Độ lần thứ hai. Trong cuộc mít-tinh có hàng vạn người dự tại Thủ đô Niu Đê-li, các bạn Ấn Độ làm sẵn một cái ghế cho Bác Hồ ngồi trên bục danh dự. Chiếc ghế trông như một cái ngai vàng, rất lớn. Trong khi đó, Thủ tướng Ấn Độ ngày ấy là J.Nê-ru thì chỉ ngồi một chiếc ghế bình thường như mọi người khác. Khi Thủ tướng Nê-ru mời Bác Hồ ngồi vào chiếc ghế đó, Bác dứt khoát từ chối. Thấy vậy, Thủ tướng Nê-ru nói: “Ngài là khách danh dự của chúng tôi, việc ngài ngồi lên chiếc ghế này chính là niềm vinh dự của chúng tôi”. Chứng kiến điều này, hàng vạn người dự mít-tinh phía dưới quảng trường đứng cả lên xem. Hai vị lãnh tụ của hai nước cứ nhường nhau, chẳng ai chịu ngồi lên chiếc ghế lớn ấy. Cuối cùng, Thủ tướng Nê-ru đành gọi người cho chuyển chiếc ghế đi, thay bằng một chiếc ghế khác giản dị hơn. Thấy vậy, hàng vạn người dân Ấn Độ dưới quảng trường rất cảm kích vỗ tay vang dội và hô rất to: “Hồ Chí Minh muôn năm! Hồ Chí Minh muôn năm!”. Chuyện này được người Ấn Độ sau đó kể lại rất nhiều, trở thành một huyền thoại của họ về Bác Hồ.

Trong chuyến thăm này, tại một bữa tiệc do Thủ tướng Nê-ru chiêu đãi Bác Hồ có món thịt gà địa phương rất nổi tiếng. Người Ấn Độ khi ăn cơm không dùng thìa, dĩa mà dùng 5 ngón tay để bốc thức ăn. Cả Bộ trưởng Ngoại giao Ấn Độ cũng muốn dùng tay bốc thức ăn. Nhưng tại bữa tiệc quốc tế người ta phải dùng dao, thìa, dĩa cho lịch sự. Khi món thịt gà được đưa ra, các quan khách Ấn Độ có vẻ không quen dùng dao, dĩa. Bác Hồ rất tinh ý, Người nói với Thủ tướng Nê-ru: “Thịt gà phải ăn bằng tay thì mới ngon chứ còn ăn bằng thìa dĩa thì khác nào nói chuyện với người yêu lại phải qua ông phiên dịch”. Nghe Bác Hồ nói vậy, cả bàn tiệc cười vang làm cho không khí bữa tiệc hôm đó rất vui vẻ và thân mật.

Bác Hồ với ba người con đỡ đầu

Sinh thời, Bác Hồ luôn luôn dành sự quan tâm và tình cảm yêu thương nhất cho các cháu thiếu nhi trong và ngoài nước, bởi đó là những chủ nhân tương lai của nước nhà và nhân loại. Tình cảm và sự quan tâm chăm sóc của Bác dành cho thiếu nhi trong nước và quốc tế thể hiện ở nhiều khía cạnh và góc độ khác nhau, trong đó có cả tình cảm mà Bác Hồ đã dành cho những người con đỡ đầu của mình.

Ngoài Ba-bét, người con đỡ đầu đầu tiên, Bác Hồ còn có hai người con khác, một là người Đức, người thứ hai là người Nga. Kơ-nớt Vôn-gang Oan-thơ Hát-man ở miền Nam nước Đức có ngày sinh trùng với ngày sinh của Người: 19- 5-1951. Chính vì sự trùng hợp ngẫu nhiên này mà ông bà Oan-thơ Hát-man, cha mẹ của Kơ-nớt, đã gửi thư tới Chủ tịch Hồ Chí Minh bày tỏ cảm tình ủng hộ cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp xâm lược, giành độc lập dân tộc của nhân dân Việt Nam và xin Người nhận Kơ-nớt Vôn-gang Oan-thơ Hát-man làm con đỡ đầu.

Tại Việt Bắc, mặc dù bộn bề công việc để lãnh đạo nhân dân ta kháng chiến chống Pháp và kiến thiết đất nước, nhưng Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn dành thời gian viết thư trả lời ông bà Hát-man. 5 tháng sau ngày gửi thư, ông bà Hát-man đã nhận được thư trả lời của Người. Bức thư được đánh máy trên giấy với nội dung: “Tôi thân ái mừng bà và ông vừa có cháu trai là Kơ-nớt Vôn-gang Oan-thơ Hát-man. Tôi cảm ơn bà và ông đã gửi thư và ảnh cho tôi. Và tôi rất vui lòng nhận cháu làm con đỡ đầu. Tôi gửi biếu cháu một bức ảnh nhỏ và một đồng Việt Nam để làm kỷ niệm. Tôi chắc rằng ở trong nước Đức dân chủ nhân dân và dưới sự chăm sóc của Chủ tịch W.Pi-ếch và của Đảng, bà và ông sẽ nuôi dạy cháu mau lớn, vui vẻ, mạnh khỏe, mai sau cháu sẽ thành một chiến sĩ tốt trong sự nghiệp phát triển nước Đức xã hội chủ nghĩa, gắn chặt tình thân thiện giữa hai dân tộc Đức – Việt và giữ gìn dân chủ cùng hòa bình thế giới. Tôi gửi bà và ông lời chào thân ái, và gửi cháu nhiều cái hôn. Việt Nam 15-9-1951, Hồ Chí Minh”.

Nhận được thư của Bác, gia đình ông Hát-man vô cùng xúc động, bởi tình cảm và sự quan tâm mà Người đã dành cho gia đình ông. Vào dịp Kơ-nớt Vôn-gang Oan-thơ Hát-man tròn 3 tuổi, Bác gửi tặng gia đình ông Hát-man một bức ảnh Người. Bức ảnh Người chụp chung với một bé gái, phía sau Bác viết: “Thân ái gửi con đỡ đầu yêu quý Kơ-nớt Vôn-gang W.Hát-man. Việt Nam, 19-5-1954 – Hồ Chí Minh”.

Gia đình ông Hát-man rất trân trọng những tình cảm của Bác Hồ dành cho họ. Các bức ảnh chụp chung trong dịp Người sang thăm Cộng hòa dân chủ Đức được lưu giữ như những kỷ vật, dù thời gian trôi qua đã nhiều năm. Còn với người con đỡ đầu của Bác, dù lúc còn học ở trường, khi tham gia quân đội hay là cán bộ kỹ thuật làm việc tại một xí nghiệp lai bò giống, Kơ-nớt đều mang theo bên mình một trong những tấm ảnh chụp chung với Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Còn cô bé người Nga, I-ri-na Đi-mi-tơ-ri-ép-na Đê-ni-a, được Bác Hồ nhận làm con đỡ đầu trong trường hợp khác.

I-ri-na Đi-mi-tơ-ri-ép-na Đê-ni-a sinh vào mùa xuân năm 1958, là con của nhà báo Đi-mi-tơ-ri Gơ-ri-gô-rê-vích và vợ là bác sĩ An-na Xta-xi-a Va-xi-lép-na, ở thành phố Giu-cốp-xki, ngoại ô Mát-xcơ-va. Mặc dù chưa một lần được gặp hay nói chuyện với Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhưng với tấm lòng kính yêu Bác, nên khi sinh con gái, họ đã viết thư gửi Người. Bức thư viết: “Chúng cháu được biết, tình yêu của Người đối với trẻ em và của trẻ em đối với Người vô cùng sâu sắc. Theo phong tục Nga cổ truyền, một phong tục tốt đẹp ở nước Nga, chúng cháu chân thành đề nghị Người làm cha đỡ đầu của đứa con nhỏ của chúng cháu – con gái tên là I-ri-sơ-ca”.

Không lâu sau ngày gửi thư, gia đình đã nhận được thư trả lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Bác viết: “Cô An-na Xta-xi-a Va-xi-lép-na và chú Đi-mi-tơ-ri Gơ-ri-gô-rê-vích thân mến! Tôi đã nhận được thư của cô chú và chân thành cảm ơn cô chú đã mời tôi làm cha đỡ đầu cho con gái của cô chú. Tôi mong rằng, sự nhận lời của tôi sẽ thắt chặt hơn nữa tình đoàn kết anh em giữa hai dân tộc Việt Nam và Liên Xô. Hôn con gái đỡ đầu bé nhỏ của tôi và chúc cháu được mạnh khỏe, hạnh phúc. Chúc cô chú đạt nhiều thành tích trong công tác, trong cuộc sống. Chào thân ái, Hồ Chí Minh”.

Cùng với lá thư, còn có một bức ảnh chân dung của Người, trên đó viết dòng chữ Nga: “Hôn con I-ri-sơ-ca, chúc con mạnh khoẻ và hạnh phúc! Cha nuôi Hồ”./.

Theo qdnd.vn
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Càng thêm tự hào được sống trong thời đại Chủ tịch Hồ Chí Minh

Năm 1990, Nhà xuất bản Thông tấn xã Novosti, thuộc Liên Xô trước đây đã cho ra mắt bạn đọc cuốn sách: Người yêu nước, chiến sĩ, nhà nhân đạo Hồ Chí Minh do tác giả Ép-ghê-ni Cô-Bê-Lép biên soạn.

Tác giả đã viết: “Hồ Chí Minh là một trong những lãnh tụ cách mạng khi còn sống tên tuổi đã thật sự trở thành thần thoại. Một trong những đặc điểm nổi bật nhất trong tính cách Hồ Chí Minh là vô cùng yêu quý thiếu nhi. Bản thân Người vốn không được hưởng hạnh phúc gia đình nên Người đã dành tất cả tấm lòng yêu thương cho đồng bào, nhất là trẻ em Việt Nam. Với nghị lực phi thường, ý chí sắt đá, lòng dũng cảm vô song, cuộc sống thanh đạm, giản dị và lòng nhân đạo của Người đã làm cho nhân dân Việt Nam cũng như những người tiến bộ trên thế giới kính trọng và yêu mến sâu sắc.

Hồ Chí Minh được nhiều người khâm phục nhắc tới và mỗi người đều nêu bật một khía cạnh nào đó đặc biệt nổi bật của người anh hùng dân tộc Việt Nam như Chủ tịch Cuba Fidel Castro nói: Hồ Chí Minh là nhà Mác xít Lê nin nít giản dị và triệt để nhất của thời đại chúng ta, còn Thủ tướng Ấn Độ In đi ra Gan đi lại gọi Người là “Hiệp sĩ” của cách mạng.

Lời hát “Việt Nam-Hồ Chí Minh” cũng luôn được mọi người nhắc tới ở khắp năm châu bốn biển. Hồ Chí Minh là một con người có tài sáng tạo phong phú, là một nhà báo, nhà chính luận, nhà viết văn và nhà thơ.

Hồ Chí Minh là biểu tượng của tình đoàn kết dân tộc, nhiều trí thức, tư sản dân tộc đã tham gia cách mạng vì Người là niềm tin tất thắng. Tên tuổi của Người đã được ghi vào sử sách thế giới không chỉ là người lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam mà là nhà hoạt động của phong trào Cộng sản và công nhân quốc tế, là một trong những “thủ lĩnh” lỗi lạc của phong trào giải phóng dân tộc trên toàn thế giới.

Những người sáng lập Phong trào không liên kết năm 1961 như Gia-oa-hác-lan Nê-ru, A khơ mát Xu các nô cũng là bạn thân thiết của Người. Hồ Chí Minh có một uy tín lớn, thật là vô giới hạn chứ không phải tệ sùng bái cá nhân như một số nước khác. Tất cả những ai hạnh phúc được gặp Người đều sửng sốt bởi đức tính giản dị, lòng nhân đạo và lòng dũng cảm vô song.

Nhiều người gặp Hồ Chí Minh nhận xét rằng Người cực kỳ nhạy cảm với tất cả những gì liên quan đến đời sống, đến những đau khổ và hy sinh của nhân dân Việt Nam. Cho đến cuối đời, Người còn nói “không nên tổ chức mừng kỷ niệm ngày sinh của tôi một cách rộng rãi như vậy”. Có thể mạnh dạn khẳng định rằng chính tính cách đặc sắc, những phẩm chất tuyệt vời của Hồ Chí Minh đã đóng vai trò quan trọng trong cuộc đấu tranh thắng lợi vì giải phóng dân tộc và xã hội, vì độc lập, dân chủ và chủ nghĩa xã hội của nhân dân Việt Nam”.

Đọc sách của người nước ngoài viết về Bác Hồ chúng ta càng thêm tự hào được sống trong thời đại Chủ tịch Hồ Chí Minh

Bùi Hiển

ubmttq.hochiminhcity.gov.vn

Vị Chủ tịch với người bạn cũ

Đồng chí Nguyễn Ái Quốc (hàng ngồi - bìa trái) và một số đại biểu Đại hội đại biểu lần V Quốc tế cộng sản - Ảnh tư liệu

Lise London là một nữ chiến sĩ cộng sản, đã từng hoạt động chung với Bác Hồ. Trong hồi ký về cuộc đời thăng trầm của mình, bà kể lại những cuộc gặp gỡ đặc biệt với Bác Hồ, câu chuyện cảm động về tình bạn, tình đồng chí thủy chung dẫu cho vật đổi sao dời…

Dưới đây là trích dịch những đoạn bà viết về mối quan hệ của bà với Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh.

Nụ cười Nguyễn Ái Quốc

Trong đơn vị ở Pháp của chúng tôi có thêm một thành viên người Việt Nam. Tôi không còn nhớ tên anh lúc anh ở Mátxcơva. Tôi vẫn gọi tên anh khi biết lúc ở Pháp: Nguyễn Ái Quốc. Nhỏ nhắn và mảnh dẻ, đôi mắt sinh động và thông minh, biểu lộ nhã nhặn và tươi cười, bộ mặt anh nhẵn, tóc rậm và đen lánh. Anh tham gia những buổi dã ngoại, những buổi tối của chúng tôi. Những lúc đó, anh gần gũi với Gérard (sau này Gérard là chồng của tác giả). Tôi là con cưng của nhóm và anh tỏ ra thích thú với sự líu lo của tôi. Chúng tôi biết anh ở Pháp đã lâu, rất thông thạo tiếng Pháp. Anh biết Paris hơn chúng tôi rất nhiều và thường kể về những khám phá của anh trong các buổi dạo chơi, đi thăm các di tích lịch sử, những hẻm mà người ta đã thấy viết trong các tiểu thuyết của Balzac, Dumas và Victor Hugo. Mãi lâu sau này, tôi ngạc nhiên khi biết anh gia nhập Đảng Cộng sản Pháp từ năm 1920.

Năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đến Pháp họp ở Fontainebleau. Với tư cách Giám đốc tuần báo Femmes Fran5caises (Phụ nữ Pháp), tôi tham dự buổi chiêu đãi danh dự những người kháng chiến Pháp, do Hồ Chí Minh tổ chức tại khách sạn Crillon. Tôi ngồi đối diện với Chủ tịch Hồ Chí Minh, ở đầu bên kia chiếc bàn rất lớn trang trí hoa hồng. Sau một lúc bỡ ngỡ, nhưng rồi tôi cũng nhận ra người bạn cũ bởi nụ cười dù đã hàng chục năm trôi qua. Tôi mỉm cười và kín đáo chào anh. Lát sau, một thành viên trong đoàn theo anh lại gần tôi và khẽ nói bên tai:

– Đồng chí Chủ tịch mong gặp bà, xin bà vui lòng đi theo tôi.

Một mình tôi ngồi trong phòng khách trải thảm tơ màu vàng. Một lát sau, Hồ Chí Minh bước vào. Anh ôm hôn tôi: “Tôi nhận ra chị ngay tức khắc. Tôi rất sung sướng gặp lại chị sau nhiều năm xa cách. Tôi biết cả chồng chị và chị đều bị tù đày. Tôi muốn nghe nhiều chuyện tỉ mỉ, nhưng tôi còn nhiều khách. Sáng mai chị có thể đến khách sạn ăn điểm tâm với tôi được không? Xin hãy đưa cả Gérard cùng đến”.

Tôi vui vẻ nhận lời, nhưng Gérard không thể đến được vì đang ở Thụy Sĩ chữa bệnh ho lao. Cuộc hẹn vào… lúc 6 giờ sáng.

Ngày hôm sau, đúng giờ đã hẹn, Hồ Chí Minh đón tôi ở phòng ăn và mời tôi ngồi đối diện trước chiếc bàn tròn nhỏ. Chúng tôi thân mật nói chuyện với nhau không ngại nghi thức lễ tân.

Vào tháng 5-1950, cùng với gia đình, chúng tôi sống ở Prague (Tiệp Khắc), từ trước đó hơn một năm, Hồ Chí Minh gửi cho tôi một bức ảnh và những lời thăm hỏi ân cần.

Vào tháng 1-1951, Gérard của tôi bị bắt, sau đó được tha và được khôi phục về hình thức vào tháng 2-1956.

Bất ngờ từ vị Chủ tịch

Vào buổi sáng của tháng 11-1957, Gérard bất ngờ nhận thiệp mời của cá nhân Chủ tịch Hồ Chí Minh. Thiệp mời ghi rõ kính mời Artur London và Lise Ricol dự một buổi chiêu đãi tại lâu đài Hoàng gia ở Prague. Chúng tôi đến dự và tìm cách hòa vào đám đông khách khứa.

Vài phút sau, một thành viên của phái đoàn Việt Nam lại gần và nói với tôi:

– Đồng chí Chủ tịch của chúng tôi đề nghị ông bà đứng ở chỗ nhất định, mong ông bà chỉ cho tôi được biết. Chủ tịch nhất thiết muốn gặp ông bà.

– Tốt lắm, chúng tôi đứng đây không xê dịch đi đâu nữa…

Sau những bài diễn văn chính thức, Hồ Chí Minh đứng lên cùng với Chủ tịch Tiệp Khắc Zapotocky và Thủ tướng Slôvác Siroky, bắt đầu đi chào từng cá nhân quan khách mời, có Trưởng ban lễ tân đi theo giới thiệu với Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Đang đi nửa chừng, trông thấy tôi phía bên kia gian phòng rộng lớn, quên cả nghi thức lễ tân, Người lao tới và rảo bước qua khoảng không. Tất cả vội bước theo, không hiểu Người đi đâu.

Khi tới gần tôi, Người giơ hai tay và ôm hôn tôi; rồi quay lại phía Zapotocky và Siroky đang sững sờ ngạc nhiên trong khoảnh khắc, chưa hiểu Hồ Chí Minh làm gì.

Người nói với họ:

– Đây là Lise thân yêu của tôi. Cô ấy không thay đổi gì…

Quay lại phía tôi, Người hỏi:

– Gérard của chúng ta đâu, anh ốm à, sao anh không có mặt ở đây?

– Có chứ, đang đứng sau chúng ta!

Người dang hai tay về phía Gérard. Người thì thầm:

– Anh đã phải chịu đựng đau khổ biết bao!

Tất cả gian phòng ngạc nhiên theo dõi cảnh tượng bất ngờ.

Chủ tịch Zapotocky bảo người Trưởng ban lễ tân:

– Cần phải biểu dương những cuộc tái ngộ hiếm có như thế này. Hãy mang rượu sâmbanh lại đây!

Cầm lấy tay tôi, Hồ Chí Minh nói nhỏ với tôi:

– Tôi rất muốn gặp riêng Gérard và Lise. Chiều nay thì không thể được rồi. Ngày mai tôi đã phải rời Prague đi Varsovie, vậy Gérard và Lise hãy đến dùng điểm tâm với tôi… vào lúc 5g sáng.

Nói xong mấy lời, Người bước theo đoàn tiếp tục công việc chào các quan khách.

Ngày hôm sau, từ sáng sớm chúng tôi đã có mặt tại nơi ở của Hồ Chí Minh. Người ở trong phòng ăn cùng với Phạm Văn Đồng và giới thiệu Phạm Văn Đồng với chúng tôi. Tất cả chúng tôi ngồi quanh chiếc bàn tròn, dự một buổi điểm tâm thịnh soạn.

Với sự đối xử tế nhị thường lệ, Hồ Chí Minh bắt đầu hỏi thăm gia đình, sức khỏe của Gérard.

Phần tôi, tôi kể cho anh nghe gia đình chúng tôi sống như thế nào…

Hồ Chí Minh không đặt câu hỏi để làm ngưng câu chuyện, gương mặt biểu lộ sự đớn đau.

Những dòng nước mắt chảy trên gò má gầy của anh. Chúng tôi xúc động không nói nên lời.

Lise London gốc Tây Ban Nha, tham gia hoạt động ở Đảng Cộng sản Liên Xô, trong cơ quan của Quốc tế cộng sản, ở đó bà đã gặp Artur London, cán bộ của Đảng Cộng sản Tiệp Khắc. Cả hai lần lượt được cử về Tây Ban Nha, chiến đấu trong đội xung kích quốc tế và trở thành vợ chồng.

Cả hai vợ chồng đã tham gia chiến đấu, đã bị bắt đưa đi đày. Bà đã viết hai cuốn hồi ký. Trong cuốn thứ hai có một số đoạn nói về việc bà quen và gặp Hồ Chủ tịch ở Mátxcơva (Nga) năm 1935, ở Paris (Pháp) năm 1946 và ở Tiệp Khắc năm 1957.

Cuốn hồi ký của bà do Nhà xuất bản Seuil, Paris xuất bản tháng 10-1996.

Theo Việt Báo
Trần Giang dịch
Thúy Hằng (st)

bqllang.gov.vn

Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông và tình bạn thủy chung Hồ Chí Minh – Loseby

Mùa xuân năm 1930, sau khi triệu tập và chủ trì thành công Hội nghị hợp thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc – Tống Văn Sơ tiếp tục ở lại Hồng Kông, hoạt động cách mạng. Người ở tại ngôi nhà 186 phố Tam Kung, Cửu Long – Hương Cảng, và nơi đó trở thành trụ sở liên lạc bí mật giữa Nguyễn Ái Quốc và một số đồng chí khác.

1. Nguyễn Ái Quốc những năm 1931-1933

Kể từ khi thay mặt Hội những người Việt Nam yêu nước tại Pháp ký tên vào bản Yêu sách của nhân dân An Nam gửi hội nghị Vecxay – Pháp, cho đến khi sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc đã trở thành một nhân vật quan trọng trong kế hoạch lùng bắt của thực dân Pháp. Vì vậy, hoạt động giữa vòng vây của nhiều kẻ thù, kèm theo một án tử hình vắng mặt của toà Đại hình Vinh theo phán quyết số 115 (10-10-1929), cùng lệnh truy nã ráo riết của thực dân Pháp luôn là những khó khăn, là những hiểm nguy cận kề đối với Nguyễn Ái Quốc. Trong khi những bản tin hàng ngày của cảnh sát hình sự Bắc Kỳ luôn cập nhật những thông tin hoạt động và ảnh của Nguyễn Ái Quốc: “Tin tình báo: Đã ở lâu năm tại Mỹ, Anh, Pháp và Nga, hiện nay có lẽ đang ở Viễn Đông, có thể là Đông Dương”([1]), thì dù đã rất cẩn trọng nhưng thật không may, địa chỉ Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông đã vô tình rơi vào tay mật thám Anh (khi cảnh sát Xingapo bắt dược Sécgiơ Lơphơrăng – Serge Lefranc). Cuộc mặc cả giữa mật thám Pháp ở Đông Dương và mật thám Anh ở Hồng Kông, kèm theo những điều kiện có lợi cho cả hai bên đã dẫn đến cuộc vây ráp, bắt lén Nguyễn Ái Quốc – Tống Văn Sơ ở số nhà 186 Tam Kung – Hương Cảng (6-6-1931).

Thực dân Pháp rất mừng trước việc Nguyễn Ái Quốc bị bắt. Toàn quyền Rôbanh (Robin) đã điện từ Hà Nội vào báo tin cho Bộ trưởng Bộ Thuộc địa Pháp, Bộ Ngoại giao Pháp và Tổng Lãnh sự Pháp tại Hồng Kông về “niềm vui bất ngờ này” và đồng thời mở cuộc vận động chính quyền Hồng Kông giao Nguyễn Ái Quốc cho chính quyền Pháp bằng cách dẫn độ về Đông Dương hoặc giam giữ ở một nơi xa xôi nào đó của Anh trên nguyên tắc “có đi có lại”, chứ tuyệt nhiên không được “trả tự do” cho Người, vì “trả tự do cho con người vô cùng năng động và nguy hiểm này là khả năng cần phải tránh bằng mọi giá”([2]). Không chỉ có vậy, nhấn mạnh việc “trả tự do cho Nguyễn Ái Quốc chỉ có thể làm trầm trọng thêm những hoạt động có hại của phong trào Đông Dương”, chính quyền Pháp còn vận động chính quyền Anh ở Luân Đôn giao Nguyễn Ái Quốc cho chúng, v.v..

Trong khi đó, biết tin Nguyễn Ái Quốc bị bắt, Hồ Tùng Mậu, qua Liên đoàn Quốc tế cứu tế đỏ đã đến gặp luật sư Lôdơbi (Francis Henry Loseby) – một luật sư tiến bộ người Anh ở Hồng Kông nhờ giúp đỡ. Việc bắt lén người trái pháp luật đã bị bại lộ khi báo chí đồng loạt đưa tin sự kiện Nguyễn Ái Quốc bị bắt. Và để hợp pháp hóa việc bắt giữ, Thống đốc Hồng Kông đã phải ra lệnh bắt giam Người nhiều lần và Sở cảnh sát Hồng Kông buộc phải đồng ý để luật sư vào gặp Tống Văn Sơ (24-6-1931).

Luật sư đã tìm cách bào chữa và ngăn cản âm mưu của chính quyền Hồng Kông giao nộp Nguyễn Ái Quốc cho chính quyền thực dân Pháp ở Đông Dương. Gặp gỡ và hỏi chuyện Tống Văn Sơ ở nhà lao, sau khi tiếp xúc và trả lời những câu hỏi liên quan đến vụ án mà luật sư nêu ra, người tù Tống Văn Sơ cảm ơn sự quan tâm của luật sư đối với mình, và tỏ ý băn khoăn vì không có tiền để trả công cho ông. Trước một người thanh niên Việt Nam gầy, xanh, song vẻ cương nghị, sự thông minh trong từng câu nói bằng tiếng Anh và đôi mắt sáng đã làm luật sư xúc động. Luật sư chân tình nói: Tôi nhận giúp vì danh dự chứ không phải vì tiền. Luật sư nói sẽ ra sức cứu giúp, mong người tù hãy tin tưởng và hãy cung cấp cho luật sư những điều gì có thể giúp trong việc bênh vực…Và rằng, biết được mỗi người cách mạng đều có bí mật riêng của họ, nên ông đã không muốn hỏi thêm nhiều nữa…

Thời gian Tống Văn Sơ bị giam giữ cũng đồng thời là khoảng thời gian nước rút của cuộc đua giữa một bên là gia đình luật sư và những người bảo vệ Tống Văn Sơ, một bên khác là sự cấu kết, có điều kiện của mật thám Anh và mật thám Pháp muốn hãm hại Tống Văn Sơ. Dưới sức ép của dư luận và những phương tiện thông tin báo chí như: Báo Nhân Đạo của Đảng Cộng sản Pháp ngày 19-6-1931 đăng bài “Bọn đế quốc câu kết với nhau. Người Anh đã bắt nhà cách mạng An Nam ở Thượng Hải” – thực chất Người bị bắt ở Hồng Kông và khẳng định: “Vụ bắt Nguyễn Ái Quốc không dập tắt được làn sóng cách mạng của nhân dân Đông Dương”. Báo Điện tín Hồng Kông ngày 22-6-1931 thì đưa tin “Một vụ bắt giữ quan trọng ở Hồng Kông. Thành công của Chính phủ Pháp. Nhà lãnh đạo An Nam bị bắt”, còn báo Bưu điện Hoa Nam buổi sáng ngày 20-7-1931 khi đang bài “Vụ án Nguyễn- Người yêu nước” đã đưa ra câu hỏi đặt ra trong Phủ Toàn quyền Đông Dương là” hiện Nguyễn Ái Quốc có bị trục xuất hay không”, v.v.. luật sư Lodơbi đã đưa vụ án Tống Văn Sơ ra xử trước Tòa tối cao.

Lần đầu tiên trong lịch sử thuộc địa, Toà án tối cao phải xét xử một bản án chính trị. Tính chất đặc biệt của vụ án, sự giúp đỡ cùng tài trí của luật sư và người cộng sự, sự thông minh và nhất quán trong từng câu trả lời của Tống Văn Sơ đã buộc toà án phải xét xử một cách công khai. Tống Văn Sơ phải trải qua ba cuộc thẩm vấn của Thư ký Trung Hoa vụ Hồng Kông và 9 phiên toà xét xử tại Hồng Kông (ngày 31-7-1931 là phiên thứ nhất, diễn ra trong không khí căng thẳng, quyết liệt và phiên cuối cùng kết thúc vào ngày 12-9-1931).

Luật sư Gien Kin (F.C. JenKin), người cộng sự thay mặt luật sư Lôdơbi bào chữa trước toà cho Tống Văn Sơ suốt chín phiên đã vạch ra những điểm sai trái, vi phạm luật của chính quyền Hồng Kông. Ngay phiên thứ nhất (31-7-1931), luật sư đã cho rằng: “Những bị can đã bị cảnh sát bắt ngày 6 tháng 6 mà không có lệnh bắt giữ là một việc làm bất hợp pháp”([3]). Ở phiên thứ hai (14-8-1931) thì ông nhấn mạnh: “Chỉ có chính quyền mới là người có quyền trục xuất ngay tức khắc và ban hành bất cứ một lệnh nào. Yêu cầu Tòa đề nghị công tố bảo đảm không thực hiện lệnh trục xuất chừng nào tính pháp lý của lệnh đó chưa được khẳng định”([4]). Cũng tại phiên thứ hai, luật sư cho rằng: lời khai có tuyên thệ của Tống Văn Sơ tố cáo nội dung thẩm vấn của ban Thư ký Trung Hoa vụ do Công tố Alabaxtơ đọc không đúng luật, trong đó nêu rõ ý kiến của nguyên đơn là nếu bị “trục xuất đến Đông Dương, tôi (Tống Văn Sơ) sẽ bị giết, dù có xét xử hay không xét xử”. Phiên tòa thứ ba (15-8-1931) là một cuộc tranh cãi về trục xuất, và phản đối việc giao nộp Tống Văn Sơ cho người Pháp trong đó Tống Văn Sơ nói rằng” Tôi không muốn bị trục xuất. Tôi muốn được tự do tôi muốn được sang Anh quốc”([5]). Tiếp theo, trong phiên thứ tư (20-8-1931), Tòa tuyên bố lệnh trục xuất thứ nhất là sai do nội dung thẩm vấn sai, và Công tố tuyên bố lệnh trục xuất thứ hai vừa được ban hành vào chiều ngày thứ 7 (15-8). Luật sư cho rằng việc ban hành một lệnh mới giữa hai phiên tòa là sai trái… Tại phiên tòa thứ năm (24-8-1931), luật sư đề nghị Tòa áp dụng Luật Bảo thân (Habeas Corpus) cho Tống Văn Sơ. Điểm đặc biệt của phiên này là những lời chỉ trích mạnh mẽ Hội đồng hành pháp về “sự lừa dối và bịp bợm”. Theo luật sư cả hai lệnh trục xuất (lệnh trục xuất và lệnh buộc phải lên một tàu biển) cũng đều bất hợp pháp… Ông cho rằng “lệnh trục xuất Nguyễn Ái Quốc về Đông Dương thực chất là sự dẫn độ trá hình nhằm đưa Nguyễn Ái Quốc vào chỗ chết”. Và lệnh trục xuất có điều kiện này chính là nhằm pháp hóa nội dung bức thư ngày 31-7-1931 của Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Pháp gửi Bộ trưởng Bộ Thuộc địa Pháp nói Bộ Thuộc địa Anh hứa sẽ làm mọi cách để ngăn chặn Nguyễn Ái Quốc trên tinh thần “sẽ yêu cầu Bộ Thuộc địa làm mọi cách để kẻ phiến loạn Đông Dương này không thể tiếp tục hoạt động được nữa”.

Trong phiên thứ sáu (25-8-1931), luật sư yêu cầu Công tố tuyên bố tài liệu đánh máy câu hỏi và câu trả lời của Tống Văn Sơ do Trung Hoa Thư ký vụ đưa ra, trong đó nêu Tống Văn Sơ cung khai bí danh thứ ba Nguyễn Ái Quốc “là tài liệu giả” để ép cung. Trước tòa, công tố viên đã đọc lời khai của Tống Văn Sơ trong các phiên thẩm vấn, nhưng Người đã không công nhận những điều xuyên tạc trong biên bản, đồng thời, sự thông minh, nhất quán và thận trọng trong từng câu trả lời, đã khiến Tòa không thể khép Người vào bất cứ tội danh nào để đưa về Đông Dương. Đến phiên thứ bảy (2-9-1931), những tình tiết cụ thể cho thấy: sự thừa nhận Tống Văn Sơ bị bắt, bị giam giữ bất hợp pháp cho thấy chính quyền Hoàng gia có hai đuối lý theo điều khoản trong sắc lệnh của Hồng Kông, vì vậy: trục xuất Tống Văn Sơ nghĩa là “không thể làm cho việc giam giữ bất hợp pháp trở thành hợp pháp bằng việc ban hành một lệnh hợp lệ”([6]). Vấn đề đòi trả tự do cho Tống Văn Sơ không được giải quyết dứt điểm tại Tòa Hồng Kông, bởi rằng: dù biết Nguyễn Ái Quốc vô tội, biết chính quyền thực dân Pháp muốn đưa Người về Đông Dương để in án tử hình, song để “không làm mất lòng nhau”, chính quyền Luân Đôn vẫn chỉ thị Thống đốc Hồng Kông ra lệnh trục xuất Nguyễn Ái Quốc về Đông Dương. Trong phiên thứ tám (11-9-1931), mặc dù đã thừa nhận những điều sai trái trong quá trình bắt Người, song Tòa vẫn quyết định thực hiện lệnh trục xuất Nguyễn Ái Quốc. Luật sư GienKin đã kịch liệt phản đối về tính hợp pháp lệnh trục xuất của Thống đốc, và thông báo sẽ kháng án lên Hội đồng Cơ mật. Và phiên cuối cùng – phiên thứ chín (12-9-1931), Tòa đã cho phép kháng án lên Hội đồng Cơ mật và chỉ thị rằng: hồ sơ phải được chuẩn bị và gửi đi trong vòng ba tháng.

Tiền án phí và những thủ tục bắt buộc đã được luật sư lo liệu đầy đủ và hai người bạn của luật sư là luật sư Đơnít Nôen Pơrít (Denis Noel Pritt) và Risớt Xtaphớt Cơríp (Stafford Cripps) đã nhận lời giúp đỡ Tống Văn Sơ. Theo luật sư Risớt Xtaphớt Cơríp, vụ án này là một biểu hiện rất xấu cho chính quyền Hồng Kông và Bộ Thuộc địa, và nếu xét xử, thì chắc chắn Nguyễn Ái Quốc thắng lợi, vì lệnh trục xuất của Thống đốc Hồng Kông đã vượt quá giới hạn. Trên cơ sở đó, để không làm mất uy tín của chính quyền Hồng Kông, luật sư đại diện Bộ Thuộc địa Anh đã tìm cách thoả thuận với luật sư của Tống Văn Sơ. Kết quả của cuộc thoả thuận (vẫn thực hiện lệnh trục xuất của Thống đốc Hồng Kông, nhưng hủy bỏ lệnh phải đi trên một con tàu của Pháp, đến một địa điểm thuộc lãnh thổ của Pháp, mà được tự do lựa chọn nơi mình đến) đã được trình lên nhà Vua, được nhà Vua đồng ý. Toà án Viện Cơ mật Hoàng Gia Anh đã đồng ý trả tự do cho Tống Văn Sơ, và ngày 28-12-1932, Tống Văn Sơ định đi đến nước Anh, song khi đi đến Xinhgapo, Tống Văn Sơ lại bị chính quyền sở tại buộc quay trở lại Hồng Kông và ngày 19-1-1933, Người lại bị bắt giam.

Ngay khi ấy, Người đã kịp thời viết thư báo tin cho luật sư Lôdơbi và nhờ ông giúp đỡ. Luật sư đã đề nghị Thống đốc Hồng Kông can thiệp, và Thống đốc đã buộc phải ra lệnh thả Tống Văn Sơ và hạn trong ba ngày Tống Văn Sơ phải rời khỏi Hồng Kông. Một lần nữa gia đình luật sư Lodơbi lại bênh vực và cứu Tống Văn Sơ ra khỏi nhà tù. Kế hoạch di chuyển và bí mật tổ chức cho Tống Văn Sơ trốn đã được vạch ra. Khi ở tạm thời trong Ký túc xá Hội Thanh niên Thiên chúa giáo Trung Hoa (YMCA), khi thì ở ngay trong nhà của luật sư Lodơbi, cuối cùng ngày 22-1-1933, Nguyễn Ái Quốc – Tống Văn Sơ đã cải trang thành một thương gia Trung Quốc giàu có, và với một viên thư ký tháp tùng (thư ký của luật sư, tên Lung Ting Chang), Người đi xuồng ra khơi, rồi lên tàu Anhui đi Hạ Môn (Amoy). Bí mật rời Hồng Kông, tàu cập bến Hạ Môn vào ngày 25-1-1933, vừa đúng 30 Tết âm lịch.

Ở Hạ Môn một thời gian, Người lên Thượng Hải, và sau khi nhờ bà Tống Khánh Linh giúp đỡ, Nguyễn Ái Quốc bắt liên lạc được với Quốc tế Cộng sản và trở về Liên Xô an toàn sau đó.

2. Tình bạn thủy chung Hồ Chí Minh – Lôdơbi

Sau khi rời khỏi Hồng Kông, Nguyễn Ái Quốc đã hai lần viết thư cho luật sư Lôdơbi, nhưng vì sợ nhà cầm quyền tìm ra địa chỉ của Người nên luật sư đã không trả lời. Trong thời gian đó, Tống Văn Sơ tiếp tục hành trình tìm đường giải phóng dân tộc. Mùa xuân năm 1941, Người trở về Tổ quốc, trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng cả nước. Và giương cao ngọn cờ độc lập, tự do, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản do Hồ Chí Minh đứng đầu, cuộc cách mạng giải phóng dân tộc mùa thu năm 1945 đã thành công. Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, và người Thanh niên Việt Nam -Tống Văn Sơ được gia đình luật sư cứu giúp năm nào ở Hồng Kông, giờ đây trở thành Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Vẫn tiếp tục đấu tranh cho hoà bình, độc lập, tự do và thống nhất Tổ quốc, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân Việt Nam đã giành được thắng lợi sau 9 năm kháng chiến gian khổ. Tuy nhiên, để có một nền hoà bình trọn vẹn ở cả hai miền Nam, Bắc, nhân dân Việt Nam vẫn phải tiếp tục vừa xây dựng CNXH ở miền Bắc, vừa tiến hành cuộc đấu tranh giải phóng ở miền Nam.

Là lãnh tụ, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn bộn bề công việc, song dù bận, Người vẫn không quên gửi thư, thiếp và quà đến gia đình luật sư Lodơbi mỗi dịp Nôen, khi Xuân về, Tết đến. Năm 1956, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư và ảnh của Người đến gia đình luật sư và gia đình luật sư cũng đã gửi thư và ảnh cho Chủ tịch Hồ Chí Minh. Mùa xuân năm 1960, nhận lời mời của Chủ tịch Hồ Chí Minh, hai vợ chồng luật sư cùng người con gái đã sang ăn Tết cổ truyền với nhân dân Việt Nam (26-1 đến 3-2-1960), thăm đất nước mà họ đã từng được nghe qua lời kể của người tù từ năm 1931. Trong chuyến đi thăm Vịnh Hạ Long, mỏ than Cẩm phả, thăm Bảo tàng cách mạng Việt Nam, nhà máy Cơ khí Hà Nội, Trại nhi đồng miền Nam tại Hà Nội,.. câu chuyện kể về “cành đào Lôdơbi”, tấm thịnh tình của người dân Việt Nam tri ân gia đình luật sư Lôdơbi – những người đã có công cứu thoát người con ưu tú nhất của dân tộc Việt Nam trong bối cảnh hiểm nghèo, đã không chỉ làm đẹp thêm những phẩm cách thủy chung, cao quý của người dân đất Việt, mà còn làm ấm lòng những vị khách quý của Bác Hồ.

Trở về Hồng Kông, luật sư đã viết thư cho Chủ tịch Hồ Chí Minh (19-2-1960), bày tỏ lòng cảm ơn Người và sự hiếu khách của nhân dân Việt Nam đối với gia đình ông trong những ngày thăm Việt Nam. Không chỉ có vậy, ông viết: “Chúng tôi không thể quên đất nước Việt Nam tươi đẹp, những khuôn mặt rạng rỡ nụ cười của con người Việt Nam, và con đường mà tất cả các bạn đã trải qua để dẹp bỏ mọi dấu vết đau thương của quá khứ… và Ngài nói rằng tôi “đã cứu sống ngài”, điều đó có thể đúng, nếu vậy thì đó chính là việc làm tốt nhất mà tôi đã từng làm, và đó mãi mãi là một việc làm sáng suốt; về phần tôi thì tôi thấy mình đã được đền đáp hơn nhiều với những ký ức về những ngày ở Việt Nam, và những món quà mà tôi được tặng sẽ luôn là vật kỷ niệm về những ngày tuyệt vời đó”[7].

7 năm sau đó, luật sư Lôdơbi qua đời. Báo Hoa Nam buổi sáng ở Hồng Kông (1967) đưa tin luật sư mất, cùng những dòng chữ thân yêu của gia đình với nội dung: Xin đừng mang hoa đến viếng, hãy dùng số tiền phúng viếng đó để giúp đỡ người nghèo. Nhận được tin vị ân nhân đã cứu sống mình qua đời, không với tư cách Chủ tịch nước, không ở cương vị Quốc gia, giữa nồng hậu thân tình gia đình, vòng hoa gửi Kính viếng Luật sư của vị Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa giản dị với dòng chữ: “Hồ Chí Minh kính viếng“. Hai năm sau đó, khi Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu của chúng ta qua đời, Điện chia buồn của gia đình luật sư gửi Lãnh sự quán Việt Nam tại Quảng Châu – Trung Quốc in đậm dòng chữ: “Được tin Chủ tịch qua đời, xin bày tỏ tình cảm sâu sắc nhất“, có kèm chữ ký của Bà luật sư cùng người con gái.

Cùng với thời gian, tình nghĩa trọn vẹn thuỷ chung của Hồ Chí Minh với luật sư Lôdơbi, tấm lòng trước sau như một của Đảng, Nhà nước, Chính phủ và Nhân dân Việt Nam đối với gia đình luật sư Lôdơbi, cũng như gia đình luật sư Lôdơbi đối với Việt Nam sẽ vẫn còn lưu truyền mãi. Đâu đó trong bức tranh thêu Chùa Một Cột Chủ tịch Hồ Chí Minh tặng luật sư, trong bộ quần áo, mũ, giày, kính gia đình luật sư tặng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dùng năm nào, trong những bức ảnh của gia đình Luật sư Lôdơbi, trong những kỷ vật, những sưu tập tài liệu liên quan đến vụ án Hồng Kông những năm 1931-1933.., đang lưu giữ tại bảo tàng Hồ Chí Minh, bảo tàng cách mạng Việt Nam, Khu di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch và ở những nơi khác nữa trên mảng đất Việt Nam, tại gia đình luật sư, vẫn thấy hiển hiện một tình bạn cao cả, một ân tình sâu nặng Hồ Chí Minh – Lôdơbi mà muôn đời các thế hệ con cháu mai sau ngưỡng mộ và chiêm nghiệm.

TS. Văn Thị Thanh Mai
Ban Tuyên giáo Trung ương

[1] Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông, Nxb. CTQG, H, 2004, tr.50
[2] Robin, Điện khẩn mật mã, Hà Nội ngày 8/6/1931 trong cuốn Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông, Nxb. CTQG, H, 2004, tr.72
[3] Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông, Nxb. CTQG, H, 2004, tr.118
[4] Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông, Nxb. CTQG, H, 2004, tr.130
[5] Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông, Nxb. CTQG, H, 2004, tr.135-136
[6] Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông, Nxb. CTQG, H, 2004, tr.151
[7] Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông, Nxb. CTQG, H, 2004, tr.250

ditichhochiminhphuchutich.gov.vn

Hồ Chủ tịch trong mắt người Nga

Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp đoàn đại biểu Viện Công tố Liên Xô do Viện trưởng P.A.Rudenko dẫn đầu. Người thứ hai bên phải Bác là tác giả E.P.Glazunov.

Những hồi ức của các nhà ngoại giao, chuyên gia, tướng lĩnh, sĩ quan Liên Xô từng gặp gỡ, làm việc với Bác, đã được in trong cuốn “Người Nga nói về Hồ Chí Minh” xuất bản tại Nga năm 2010.

Những cuộc gặp ở Hà Nội

Ông Evgeny Glazunov có hơn 50 năm gắn bó với Việt Nam. Ông từng công tác ở Đại sứ quán Liên Xô tại Hà Nội, rồi phụ trách Khu vực Đông Dương trong Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xôvà sau đó nhiều năm liền làm Chủ tịch Hội Hữu nghị Nga-Việt. Hiện ông là Chủ tịch danh dự của Hội Hữu nghị Nga-Việt. Dưới đây là hồi ức của ông về Bác.

Chủ tịch chưa muốn đi ngủ

Tôi được gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh lần đầu tiên vào một ngày Tháng Tám năm 1962 – năm đầu tiên tôi đến Việt Nam, trong một cuộc gặp gỡ quốc tế với các chuyên gia nước ngoài làm việc ở nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nhân kỷ niệm 17 năm Cách mạng Tháng Tám và Tuyên ngôn độc lập của nước Việt Nam. Đại diện các đoàn chuyên gia nước ngoài phát biểu chào mừng, khi kết thúc, một số người nói vài câu bằng tiếng Việt và được cả hội trường vỗ tay nhiệt liệt.

Một chuyên gia Xô Viết khi kết thúc bài phát biểu đã quyết định “tỏa sáng” khả năng ngoại ngữ của mình bằng lời chúc Hồ Chí Minh bằng tiếng Việt, nhưng lại phát âm sai thanh điệu (là điều rất quan trọng trong ngôn ngữ Việt). Những người nước ngoài không biết tiếng nhưng đoán rằng nhà hùng biện kia đã muốn nói gì đó nên vỗ tay, còn hầu hết người Việt có mặt ở hội trường thì cười.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng dậy, hướng về phía vị chuyên gia còn đứng trên diễn đàn kia và vui vẻ nói bằng tiếng Nga: “Chủ tịch Hồ Chí Minh còn chưa muốn ngủ đâu!”. Nhiều người nước ngoài ngồi trong hội trường biết tiếng Nga đã cười to vui vẻ, vỗ tay nồng nhiệt. Vị chuyên gia của chúng ta, do không biết tiếng, phát âm không đúng câu chúc đã học thuộc sẵn nên lẽ ra nói “muôn năm” lại thành “muốn nằm”, nên đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh dí dỏm bình luận.

Vậy là lần đầu tiên tự tôi đã khẳng định được điều mà trước đây tôi đọc được hay nghe được từ các bạn Việt Nam: Hồ Chí Minh thật sự là một con người dễ mến, có sức lôi cuốn, thích vui đùa dí dỏm, giản dị trong giao tiếp với mọi người, đồng thời cũng rất tôn trọng người đối thoại.
Cần nghe lời Chủ tịch

Vào năm 1962 hay 1963 (tôi không thể nhớ rõ, vì trong sổ tay chỉ ghi ngày 2 tháng 9 mà không ghi năm!) tại vườn Phủ Chủ tịch đã tổ chức cuộc tiếp khách Nhà nước nhân Ngày Quốc lễ của Việt Nam.

Hồ Chí Minh mời khách ngồi vào bàn. Người nói với họ bằng tiếng Việt, tiếng Nga, tiếng Anh và tiếng Pháp, ngay lập tức tạo nên bầu không khí hữu nghị và thoải mái.

Sau lời chúc chính thức, các vị lãnh đạo của Việt Nam theo truyền thống cầm ly trên tay đi mời khách và trao đổi những câu chuyện nhỏ với khách.

Chúng tôi – các nhân viên của Sứ quán đứng ở cuối dãy bàn. Trong buổi tối mát mẻ, bữa tiệc diễn ra vui vẻ và gần đến hồi kết thúc. Những chiếc ly rỗng của chúng tôi để trên bàn. Chúng tôi đang đợi tín hiệu kết thúc buổi tiệc thì bất chợt thấy Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng nhóm các trợ lý đi tới gần.

Chúng tôi nói thực lòng là hơi lúng túng, nhưng cũng cầm lấy ly để chúc. Chủ tịch Hồ Chí Minh cầm cốc to rượu vang tiến tới gần chúng tôi chúc sức khỏe, hỏi thăm về công việc và nâng cốc vì thắng lợi Cách mạng Tháng Tám, vì tình hữu nghị Việt-Xô. Tôi bị rơi vào tình trạng khó xử vì li của tôi đã rỗng không. Thấy vậy, Chủ tịch nói đùa là lớp trẻ bao giờ cũng nóng vội, rồi san cho tôi một ít rượu vang từ cốc mình. Tôi từ chối. Chủ tịch hỏi tôi:

– Anh làm gì ở Sứ quán?

– Là nhân viên ạ, – tôi trả lời.

– Còn tôi, – Người nói – là Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Thế thì cần phải nghe lời Chủ tịch (lưu ý rằng toàn bộ lời thoại đều bằng tiếng Nga).

Tôi hơi ngượng, nâng ly trong tiếng cười của những người tháp tùng Chủ tịch và các đồng nghiệp mình. Chủ tịch Hồ Chí Minh rót cho chúng tôi một ít rượu vang trong cốc của mình và chúng tôi cùng nâng cốc.

Ngày hôm sau, câu chuyện này đã lan trong Sứ quán và Đại sứ của chúng tôi mấy ngày sau vẫn trêu đùa tôi. Còn Hồ Chí Minh cũng vậy, trong những cuộc gặp gỡ sau này, khi tôi cùng Đại sứ tới tiếp kiến Người, thỉnh thoảng Người vẫn trêu vui tôi về chuyện đó.

Cuộc sát hạch đặc biệt

Lần đó, cuộc gặp làm việc giữa Đại sứ Liên Xô và Chủ tịch Hồ Chí Minh không diễn ra ở Phủ Chủ tịch – nơi thường tổ chức các cuộc tiếp chính thức các vị khách cao cấp nước ngoài, mà tại ngôi nhà nhỏ trong vườn – nơi trước đây là chỗ ở của người giữ vườn và nay là nơi ở của Chủ tịch.

Khi cuộc đàm luận chính đã kết thúc, sau bữa ăn trưa đã diễn ra cuộc trò chuyện thân mật. Hai bên cùng trao đổi nhận xét về tình hình ở nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và miền Nam Việt Nam – nơi lúc đó đang nóng bỏng những vụ bê bối chính trị lớn kéo theo sự lật đổ Ngô Đình Diệm…

Trong một phút ngắt giọng hiếm hoi, khi mọi người ngồi quanh bàn bắt đầu dùng bữa, Hồ Chí Minh quay về phía tôi và hỏi bằng tiếng Việt là tôi đã học tiếng Việt ở đâu.

Tôi như cái máy bắt đầu dịch cho Đại sứ Xuren Tovmasian câu hỏi đó. Nhưng Chủ tịch ngăn tôi lại và nói rằng, Người dành câu hỏi đó cho tôi và sau đó chính Người sẽ tự phiên dịch cuộc đối thoại này cho Đại sứ.

Tôi trả lời rằng tôi đã học tiếng Việt ở Học viện Quan hệ quốc tế Moskva thuộc Bộ Ngoại giao Liên Xô. Chủ tịch hỏi câu tiếp theo. Tôi trả lời rồi cảm thấy lo lắng vì thấy Đại sứ không hiểu gì, ngạc nhiên nhìn tôi và Chủ tịch, còn các đồng chí Việt thì vui cười khi nghe chúng tôi nóichuyện. Hồ Chí Minh còn hỏi tôi những gì đó nữa, tôi trả lời Người và thầm nghĩ rằng chắc Đại sứ hôm nay sẽ xạc cho tôi một trận ra trò vì cuộc đối thoại này với vị đứng đầu Nhà nước.

Chủ tịch còn vui đùa hỏi tôi mấy câu nữa, sau đó quay sang nói với Đại sứ bằng tiếng Nga:

– Đồng chí Đại sứ đừng giận nhé, tôi chỉ muốn làm một cuộc sát hạch nhỏ với người phiên dịch của đồng chí.

– Ra vậy! – Xuren Tovmasian trả lời với sự nhẹ nhõm, sảng khoái. Vậy theo đồng chí thì tiếng Việt của anh ta thế nào ạ?

– Không tồi, không tồi. Nhưng tôi chưa thể cho anh ta điểm năm được đâu. Còn ít đọc sách báo Việt Nam. Cách phát âm trong ngôn ngữ của chúng tôi rất quan trọng mà người Châu Âu khó bắt chước theo được. Nhưng người phiên dịch thì phải tự trau dồi và hoàn thiện. – Hồ Chí Minh quay sang phía tôi và kết luận.

Trên đường về nhà, ngồi trong xe, Đại sứ nói với tôi những nhận xét của mình để tôi biết – như người ta thường nói là để phòng bệnh, nhưng cũng ngạc nhiên nhận thấy là với các phiên dịch Xô Viết khác, Hồ Chí Minh đã không sát hạch như vậy. Chắc là hôm nay tâm trạng của Người rất phấn chấn. Rồi Đại sứ kết luận: Vậy là cuộc hội đàm hôm nay đã thành công. Chúng ta sẽ viết như vậy gửi về Moskva.

Ông E.P.Glazunov giới thiệu một số cuốn sách tiếng Nga viết về Bác Hồ - Ảnh: Mekong.net.

Kẹo cho trẻ em

Tôi từng nói nhiều lần rằng, Hồ Chí Minh rất yêu trẻ em. Người cũng có tình cảm như vậy với con em của các cán bộ Đại sứ quán Liên Xô.

Về điều này, tôi nhớ lại một buổi tiệc mà Đại sứ quán tổ chức vào đầu tháng 11 năm 1964 nhân kỷ niệm 47 năm Cách mạng Tháng Mười. Buổi tiệc diễn ra tại Câu lạc bộ quốc tế.

Sau những nghi lễ chính thức, các vị chủ – khách tự do lui tới nâng cốc chúc tụng nhau. Hồ Chí Minh chọn đúng thời điểm không ai nhìn theo mình, nhẹ nhàng kéo tay tôi cùng đi ra ngoài vườn cạnh đó.

Tại đây, dưới ánh sáng mờ và không khí mát mẻ, trên bãi cỏ xanh, các cháu bé con của nhân viên Đại sứ quán Liên Xô chơi đùa vui vẻ. Đứng giữa đám trẻ, Hồ Chí Minh lấy từ túi áo ra những chiếc kẹo đã được chuẩn bị sẵn và tặng cho các cháu, trò chuyện với chúng bằng tiếng Nga, thỉnh thoảng hỏi lại tôi bằng tiếng Việt.

Một phút sau xuất hiện các nhân viên bảo vệ chạy tới than phiền rằng lại một lần nữa đã “thả lỏng” Chủ tịch. Chủ tịch Hồ Chí Minh cười rất hài lòng: “Thế nào, lại cằn nhằn rồi, thôi, ta đi, ta đi nhé”. Người tạm biệt đám trẻ rồi quay lại phòng tiếp khách.

Cũng đã xảy ra việc tương tự khi Hồ Chí Minh tới Đại sứ quán dự bữa tiệc chào mừng 20 năm chiến thắng của Liên Xô trong cuộc Chiến tranh vệ quốc vĩ đại chống phát xít Đức xâm lược do Đại sứ Serbakov tổ chức. Tới Đại sứ quán, sau khi trò chuyện ngắn với Đại sứ, Hồ Chí Minh hỏi tôi về kẹo. Kẹo đã được chuẩn bị sẵn.

Sau phần chính thức của buổi tiếp trọng thể, Chủ tịch vẫy tôi cùng đi với Người theo cửa phụ ra sân sau của sứ quán. Ở đây có một bể cá đẹp, cá vàng đang tung tăng bơi lội. Trẻ em con các nhân viên, cán bộ sứ quán chơi đùa xung quanh (trong đó có con gái tôi lúc này học ở trường của sứ quán và đến giờ thỉnh thoảng nó vẫn nhắc tới cuộc gặp gỡ này).

Cười vui vẻ, Hồ Chí Minh mở cả hai túi áo đầy kẹo của mình mời bọn trẻ ăn kẹo, nói chuyện với chúng về việc học hành và những mối quan tâm của chúng. Tôi thỉnh thoảng cũng tham gia vào cuộc đối thoại thân mật này, giúp Chủ tịch dùng những từ tiếng Nga thích hợp với ngôn ngữ trẻ em.

EvgenyGlazunov
Nguyễn Hữu Dy dịch từ nguyên bản tiếng Nga
Theo Tiền phong
Thúy Hằng (st)

bqllang.gov.vn

Tổ quốc và Bác Hồ trong lòng bà con Việt kiều

Những năm đầu của thập kỷ 1960 thế kỷ trước, ở Thái Lan, Việt kiều không được treo cờ Việt Nam một cách công khai như trước nữa. Bà con đã họp nhau lại và cùng nhất trí: Tuy ở xa đất mẹ, nhưng mỗi gia đình phải có một bàn thờ, có cờ hai màu đỏ và vàng để thờ Tổ quốc, thờ Bác Hồ và cúng tổ tiên. Được biết, có gia đình khá giả đã thuê thợ đóng bàn thờ tới hai ba ngàn bạt (đơn vị tiền tệ của Thái Lan), nhà tầm tầm thì vài ba trăm bạt, còn gia đình nào nghèo thì tự đóng lấy chẳng tốn là bao, miễn là có bàn thờ để thắp hương hướng về đất mẹ.

Thế là kiều bào ta ở Thái Lan nhà nào cũng có bàn thờ Tổ quốc, ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh được treo ở nơi cao nhất, tôn kính nhất. Hình ảnh Bác Hồ luôn khắc sâu trong lòng mọi người dân Việt kiều. Bởi, “Chẳng thà thiếu mặc thiếu ăn. Quyết không thiếu được chân dung cụ Hồ”. Cứ mỗi năm sắp đến sinh nhật Người là kiều bào lại nhộn nhịp sửa soạn, nhắc nhau: “Dù ai buôn đâu bán đâu. Tháng 5, mười chín rủ nhau thì về…”.

Chiếc bàn thờ hiện đang lưu giữ ở Bảo tàng Cách mạng Việt Nam là một trong những bàn thờ do kiều bào ta ở Thái Lan mang về khi hồi hương (tháng 11 năm 1963). Nó cũng giống như rất nhiều bàn thờ của các gia đình Việt Nam thường dùng theo phong tục thờ cúng tổ tiên. Một gia đình Việt kiều sinh sống nhiều năm ở Thái Lan, quê ở Quảng Bình mang chiếc bàn thờ về nước đã kể lại: “Chúng tôi sang Thái Lan từ năm 1925. Khi nghe trong nước đánh đổ giặc Nhật, giặc Pháp, giành chính quyền vào tháng 8-1945 thì ở bên này, gia đình tôi đã may cờ treo trong nhà và tự lập bàn thờ này để thờ tổ tiên, thờ Tổ quốc, thờ Bác Hồ, tưởng nhớ về quê hương. Lúc đầu chỉ thờ ảnh Bác Hồ, không treo cờ vì sợ bị bắt bớ. Nhưng sau thì chúng tôi treo cả cờ. Chính phủ mới nắm chính quyền được mấy tháng thì bắt đầu khủng bố, bắt Việt kiều phải di tản đi ba tỉnh miền núi, bắt dỡ bỏ bàn thờ. Việt kiều ta đấu tranh kịch liệt, đòi được thờ cúng tổ tiên theo phong tục người Việt Nam… Về sau, chính quyền phải nhượng bộ nhưng lại cấm treo cờ Tổ quốc. Vì vậy kiều bào ta đã phải treo cờ bên trong và để ảnh Bác Hồ bên ngoài để che mắt chính quyền… ”.

Thật cảm động khi được ngắm nhìn chiếc bàn thờ đơn sơ nhưng rất thiêng liêng, gồm hai lọ hoa bằng nhựa, một bình hương bằng gốm sứ tráng men có trang trí “Lưỡng long chầu nguyệt”, một bát đồng bạch có đế, một đĩa đồng bạch có đế, một lá quốc kỳ bằng vải đỏ có ngôi sao vàng ở giữa nay đã bạc màu, hai cành hoa nhiều màu bằng giấy. Bàn thờ còn có các khẩu hiệu: “Tổ quốc trên hết”, “Việt Thái thân thiện muôn năm”, “Việt kiều đoàn kết muôn năm”, “Hồ Chủ tịch muôn năm”. Đồng bào ta tuy xa quê hương nhưng vẫn nhớ về đất tổ, nhớ đồng bào, nhớ về Chủ tịch Hồ Chí Minh với bao niềm hy vọng lớn! Do đó, khi được trở về Tổ quốc họ cũng vẫn không quên mang theo chiếc bàn thờ nhỏ, kỷ vật thiêng liêng.

Bàn thờ bằng gỗ không lớn lắm, có kích thước (63 x 48 x 83,5) cm. Hiện chiếc bàn thờ đã cũ, sơn bị bong tróc đôi chỗ, hai lọ hoa giấy cũng đã ngả màu bởi thời gian. Nhưng nó vẫn là hiện vật quý chứng minh cho lòng yêu nước nồng nàn của Việt kiều ta ở Thái Lan. Tuy ở xa Tổ quốc, thiếu tin tức ở quê nhà, lại bị bọn phản động dùng đủ mọi mưu mô chia rẽ, nhưng họ vẫn vững lòng tin tưởng ở Chính phủ, ở Chủ tịch Hồ Chí Minh, luôn luôn làm trọn nghĩa vụ với Tổ quốc.

Thờ Tổ quốc, thờ Bác Hồ – việc làm mang tính tâm linh này của các gia đình Việt kiều tại Thái Lan cho thấy, dù ở đâu, làm gì, tấm lòng người con đất Việt luôn hướng về Đất Mẹ với tình yêu tha thiết và niềm nhớ thương khôn nguôi. Bởi vậy, sau khi đất nước giành được độc lập, tự do và xây dựng trong hòa bình còn bao khó khăn gian khổ, kiều bào ta ở Thái Lan vẫn mong muốn trở về để được góp sức xây dựng quê hương, đất nước, thực hiện lời dạy của Bác Hồ muôn vàn kính yêu.

Lê Minh Độ

bqllang.gov.vn

Tình bạn giữa Chu Ân Lai và Hồ Chí Minh

Đại Công báo”, một tờ báo Trung Quốc có hơn một trăm năm lịch sử, là một trong ba tờ báo Hoa văn có uy tín trên thế giới do Liên hợp quốc bình chọn, số ra ngày 6-4-2011 đã đăng bài “Vài mẩu chuyện về tình bạn giữa Hồ Chí Minh với Chu Ân Lai” của tác giả Lý Gia Trung, nguyên Đại sứ Trung Quốc tại Việt Nam từ tháng 12-1995 đến tháng 7-2000. Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc tham khảo.

Hai vị vĩ nhân xưng hô với nhau là anh em

Tháng 11-1956, Thủ tướng Chu Ân Lai sang thăm Việt Nam. Trong lời chào mừng các vị khách quý dự tiệc chiêu đãi cấp nhà nước, với tư cách là Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã không đọc bài viết sẵn, mà nói vo một đoạn: “Với tôi, đồng chí Chu Ân Lai là người anh em của tôi. Chúng tôi đã từng cùng nhau đồng cam cộng khổ, cùng nhau làm công tác cách mạng. Anh ấy là người bạn chiến đấu thân mật của tôi trên ba mươi năm qua!”

Tiếp lời, Thủ tướng Chu Ân Lai cũng nói: “Hồ Chủ tịch vừa nhắc đến cá nhân tôi trên ba mươi năm trước đã quen thân anh, đúng thế! Ba mươi tư năm trước, tại Pa-ri, tôi đã quen thân Hồ Chủ tịch. Anh là người dẫn đường của tôi. Khi ấy, anh đã là một người Mác-xít thành thục, mà tôi khi ấy mới vừa tham gia Đảng Cộng sản. Anh ấy là lão đại ca của tôi!”

Lúc ấy, Chủ tịch Hồ Chí Minh lại đứng lên nói với mọi người có mặt: “Câu nói vừa rồi của đồng chí Chu Ân Lai, các đồng chí nghe biết là được rồi, không nên nói lại với những người khác. Mọi người đều biết, đồng chí Chu Ân Lai là nhà lãnh đạo của một Đảng lớn và một nước lớn dân số nhiều nhất trên thế giới!”.

Vì thế, báo chí Việt Nam không đưa tin viết bài kỹ câu chuyện này. Mãi cho đến ngày 14-5-1960, Nhân dân nhật báo Trung Quốc mới tiết lộ tình tiết này.

Từ năm 1965 về sau, tình hình sức khỏe của Chủ tịch Hồ Chí Minh không được tốt. Thủ tướng Chu Ân Lai rất quan tâm đến bệnh tình của Người, trực tiếp lựa chọn những chuyên gia y tế có trình độ cao nhất Trung Quốc thành lập Tổ điều trị, đến Hà Nội chữa bệnh cho Hồ Chủ tịch.

Tháng 5-1969, bệnh tình của Hồ Chủ tịch tương đối ổn định, phía Việt Nam bèn đề nghị các chuyên gia của Tổ điều trị Trung Quốc về nước nghỉ ngơi củng cố một chút, một tháng sau thì trở lại. Trước khi lên đường, các chuyên gia hỏi Hồ Chủ tịch yêu cầu từ Bắc Kinh mang về những gì. Hồ Chủ tịch nói luôn: “Cái gì cũng không cần, chỉ mang về một con vịt quay Bắc Kinh là được rồi!”.

Sau khi về nước, trong khi nghe báo cáo tình hình, Thủ tướng Chu Ân Lai biết Hồ Chủ tịch thích ăn vịt quay, nói ngay: “Một con không được! Phải mang hai con, đồng thời phải là vịt to, sườn mỏng và tưới ma-gi thơm ngọt và đầy đủ gia vị”. Thủ tướng Chu Ân Lai còn suy nghĩ, nhắc nhở: Việt Nam đang mùa hè, Hồ Chủ tịch lại là người cao tuổi, cơ thể yếu, nên giải quyết đông lạnh bảo quản thực phẩm tươi ngon là vấn đề quan trọng hàng đầu.

Thủ tướng Chu Ân Lai gửi vịt quay tặng Hồ Chủ tịch

Vì chuyện này, Thủ tướng Chu Ân Lai mời đồng chí Lý Cường, Bộ trưởng Bộ Ngoại thương đến bàn bạc, song đồng chí Lý Cường cũng không am hiểu những tri thức về mặt đông lạnh. Cuối cùng, thông qua Công ty Xuất nhập khẩu Lương thực thực phẩm, một đơn vị trực thuộc Bộ Ngoại thương, tìm đến Nhà máy Rượu Bắc Kinh, ở đây sản xuất được một loại băng khô có thể làm lạnh, sau khi đưa vịt quay và các gia vị vào thùng lót xốp, chung quanh rắc băng khô lên, có thể khống chế nhiệt độ ở độ âm, bảo đảm chắc chắn vịt quay không thể biến chất. Đến khi ấy, Thủ tướng Chu Ân Lai mới yên tâm.
Hạ tuần tháng 6, chuyên gia trong Tổ điều trị trở lại Hà Nội.

Tháng 5-1960, Thủ tướng Chu Ân Lai thăm Việt Nam. Hồ Chủ tịch và Chu Thủ tướng
vui với các cháu thiếu nhi Việt Nam. Ảnh do Vũ Phong Tạo cung cấp.

Hồ Chủ tịch quyết định đem một con vịt quay tặng Tổ điều trị, còn một con nữa, Người yêu cầu cùng thưởng thức với Đại sứ Trung Quốc Vương Ấu Bình.

Ngày 30-6, Phủ Chủ tịch Việt Nam gọi điện thoại đến Đại sứ quán Trung Quốc, thông báo: Ngày mai là Kỷ niệm 48 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Trung Quốc, Hồ Chủ tịch quyết định mời cơm Đại sứ Vương Ấu Bình tại Phủ Chủ tịch, vào 12 giờ trưa.

Ngày hôm sau, tôi là phiên dịch tháp tùng Đại sứ Vương Ấu Bình đúng giờ đến Phủ Chủ tịch. Đồng chí Vũ Kỳ, Thư ký của Hồ Chủ tịch dẫn chúng tôi vào phòng ăn. Trước khi Hồ Chủ tịch đi vào phòng ăn, đồng chí Vũ Kỳ kể với chúng tôi câu chuyện: Sau khi nghe Tổ điều trị phản ánh, Thủ tướng Chu Ân Lai đã gửi vịt quay sang.

Sau 30 năm, năm 1999, tôi đã gặp đồng chí Vũ Kỳ, năm ấy đã 78 tuổi. Khi nhắc đến chuyện Thủ tướng Chu Ân Lai gửi vịt quay tặng Hồ Chủ tịch, đồng chí ấy vô cùng xúc động. Đồng chí nói với tôi: Đến nay đồng chí ấy vẫn giữ gìn cẩn thận chiếc lọ sứ đựng ma-gi ngọt hồi ấy, coi như một hiện vật văn hóa quý báu có ý nghĩa lịch sử.

Thủ tướng Chu Ân Lai trực tiếp đến Hà Nội viếng Hồ Chủ tịch

Ngày 2-9-1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời, hưởng thọ 79 tuổi.

Sau khi nghe tin, Thủ tướng Chu Ân Lai vô cùng đau thương.

Ngoài việc gửi điện chia buồn đến Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam, Trung Quốc cử Phó thủ tướng Lý Tiên Niệm dẫn đầu Đoàn Đại biểu Đảng và Chính phủ Trung Quốc sang dự Lễ tang Hồ Chủ tịch, tổ chức vào ngày 9 tháng 9.

Thủ tướng Chu Ân Lai còn quyết định trước đó vào ngày 4-9, ông và Diệp Kiếm Anh, Vi Quốc Thanh cùng đến Hà Nội, viếng Hồ Chủ tịch.

Các nhà lãnh đạo cao cấp: Thủ tướng Phạm Văn Đồng, Phó thủ tướng Võ Nguyên Giáp… trực tiếp ra tận sân bay đón tiếp. Thủ tướng Chu Ân Lai rơm rớm nước mắt, nói: “Tôi đến muộn rồi!”.

Trong khi hội đàm với những nhà lãnh đạo Việt Nam, Thủ tướng Chu Ân Lai đều nói rõ các thành viên của Đoàn đại biểu đều là những đồng chí quan hệ mật thiết với Hồ Chủ tịch. Bản thân đồng chí thay mặt cho Mao Chủ tịch đến. Trong thời kỳ chiến tranh kháng Nhật, Diệp Kiếm Anh đã từng cùng Hồ Chủ tịch công tác tại Văn phòng Bát Lộ Quân tại Trùng Khánh. Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, Vi Quốc Thanh làm Đoàn trưởng Đoàn Cố vấn quân sự Trung Quốc sang Việt Nam công tác.

Thủ tướng Chu Ân Lai nói:

“Hồ Chủ tịch suốt đời phấn đấu, chẳng những lập công bất hủ vì nhân dân Việt Nam, mà còn có cống hiến rất lớn vì giai cấp vô sản quốc tế. Hồ Chủ tịch có quan hệ đặc biệt mật thiết đối với cách mạng Trung Quốc, với Đảng Cộng sản Trung Quốc. Đồng chí mấy lần đến Trung Quốc, tham gia cách mạng Trung Quốc, cùng chung hoạn nạn, kề vai sát cánh chiến đấu với nhân dân Trung Quốc, dày công vun đắp tình cảm sâu đậm với nhân dân Trung Quốc, với Đảng Cộng sản Trung Quốc. Phẩm chất cộng sản của Hồ Chủ tịch, sự quan tâm đến nhân dân lao động, ý chí cách mạng, tinh thần đấu tranh triệt để với kẻ thù, tác phong công tác gian khổ chất phác của Chủ tịch, trước sau như một, xứng đáng được mọi Đảng viên cộng sản học tập.”

Thủ tướng Chu Ân Lai nhiều lần nói: “Tôi đến muộn rồi, không thể gặp mặt lần cuối cùng với Hồ Chủ tịch!”.

Khi ấy, thi hài của Hồ Chủ tịch đã được giao cho chuyên gia Liên Xô để tiến hành xử lý y học, không cho người không có phận sự tiếp xúc, nên đáng lẽ Đoàn không thể đến với Người.

Nhưng, vì tình hữu nghị chiến đấu sâu đậm của Thủ tướng Chu Ân Lai với Hồ Chủ tịch, trước khi Đoàn đại biểu lên đường về nước, phía Việt Nam đã phá lệ, bố trí cho Thủ tướng Chu Ân Lai và các đại biểu trong Đoàn đến bái biệt Hồ Chủ tịch.

Theo http://www.qdnd.vn
Anh Tú (st)

bqllang.gov.vn