Thư viện

Báo Pháp viết về sự kiện Bác Hồ đến Marseille

Báo tin tức – Nhân kỷ niệm 100 năm Chủ tịch Hồ Chí Minh đến Pháp, báo La Marseillaise, nhật báo của vùng Provence ở miền nam nước Pháp, đã dành trọn một trang khổ A3 và dòng tiêu đề chữ lớn ngay trang nhất của báo để giới thiệu sự kiện này, qua bài viết “Cách đây 100 năm, Hồ Chí Minh khám phá Marseille”.

Con tàu Đô đốc Latouche Tréville đã đưa người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành đến Pháp.

Báo đăng toàn văn bài phỏng vấn ông Nguyễn Văn Bổn, Phó Chủ tịch Hội người Việt Nam tại Pháp về những hoạt động của Bác khi tới thành phố Marseille của Pháp trên hành trình tìm đường cứu nước và sử dụng bức tranh minh họa vẽ Bác Hồ trên con tàu Đô đốc Latouche Tréville trên đường tới Pháp.

Trả lời các câu hỏi của phóng viên Leo Purguette, ông Nguyễn Văn Bổn đã giới thiệu với độc giả thành phố biển Marseille về sự kiện người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành – Hồ Chí Minh đặt chân tới thành phố này cách đây 1 thế kỷ, cũng như những nhận thức của Bác về các vấn đề “giai cấp,” “thuộc địa,” “chủ nghĩa xã hội”… trước khi Bác đi tìm đường cứu nước. Ông đã giúp độc giả Pháp tìm hiểu vì sao Bác Hồ lại tìm đường tới nước Pháp, thấy được ý nghĩa của những chuyến khám phá đầu tiên này đối với cả sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng như tình cảm của kiều bào Việt Nam tại Pháp đối với Bác Hồ.

Báo La Marseillaise đăng bài viết đúng dịp triển lãm “Bác Hồ với nước Pháp” diễn ra tại thành phố Marseille.

Bà Hélène Luc, Chủ tịch Hội hữu nghị Pháp – Việt, nhấn mạnh, cuộc triển lãm về cuộc đời hoạt động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh giúp tăng cường và phát triển những giá trị của tình đoàn kết Pháp – Việt.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nỗ lực phát triển tình đoàn kết giữa hai nước Việt Nam và Pháp. Những người cộng sản Pháp đầu tiên đã đón nhận người thanh niên yêu nước Nguyễn Ái Quốc vào hàng ngũ của mình tại Đại hội Tours năm 1920. Sau đó, những nhà cách mạng Pháp như Henri Barbusse, Romain Roland đã hết lòng ủng hộ Chủ tịch Hồ Chí Minh và Việt Nam trong cuộc kháng chiến 9 năm chống thực dân Pháp và vận động công luận Pháp phản đối Hoa Kỳ xâm lược Việt Nam. Ngày nay, Hội hữu nghị Pháp – Việt sẽ tiếp tục ủng hộ Việt Nam trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước, đưa ra nhiều sáng kiến ủng hộ cuộc đấu tranh đòi công lý cho các nạn nhân chất độc da cam Việt Nam.

Lê Hà (P/v TTXVN tại Pháp)

baotintuc.vn

Những kỷ niệm của nhà báo nước ngoài cuối cùng phỏng vấn Bác Hồ

Báo tin tức – Chắc rất nhiều người khi nghĩ đến những người bạn Cuba thân thiết của nhân dân Việt Nam, đều nói đến nữ nhà báo Marta Rojas. Bà đã từng nhiều năm lặn lội trên đất nước Việt Nam trong thời gian chiến tranh, từ các tỉnh đồng bằng Bắc bộ cho tới những khu rừng bạt ngàn ở chiến trường miền Nam, và những bài báo của bà đã giúp cho nhân dân Cuba và Mỹ Latinh hiểu rõ thêm về cuộc đấu tranh chính nghĩa vì độc lập dân tộc của Việt Nam. Nhưng kỷ niệm không thể nào quên trong cuộc đời làm báo của bà Marta Rojas chính là cuộc phỏng vấn Chủ tịch Hồ Chí Minh vào tháng 7/1969, chỉ hai tháng trước khi Người mãi mãi đi xa. Đó cũng chính là cuộc phỏng vấn cuối cùng của một nhà báo nước ngoài với vị lãnh tụ vô vàn kính yêu của dân tộc Việt Nam.

Nhà báo Marta Rojas và bức ảnh mà Bác Hồ ký tặng bà sau cuộc phỏng vấn vào tháng 7/1969. Ảnh: Hoài Nam

Chúng tôi đến gặp nhà báo Marta Rojas tại nhà riêng vào một ngày giữa tháng 8 với mong muốn được bà thuật lại kỷ niệm về những chuyến đi thực tế ở chiến trường Việt Nam, và đặc biệt là cuộc phỏng vấn lịch sử với Bác Hồ. Khi biết được ý định của chúng tôi, cảm xúc của bà Marta Rojas dường như dâng trào. Những hoài niệm về một thời tuổi trẻ đầy nhiệt huyết ngay lập tức trở lại trong tâm trí của Marta Rojas. Với một trí nhớ tuyệt vời, một giọng kể ấm áp và đầy cuốn hút, câu chuyện của bà khiến chúng tôi cảm tưởng như tất cả vừa mới diễn ra hôm qua…

Marta Rojas và chị Phan Thị Quyên, vợ của anh hùng liệt sỹ Nguyễn Văn Trỗi trong rừng Tây Ninh. Ảnh: tư liệu của bà Marta Rojas

Đó là vào năm 1965. Marta Rojas, một phóng viên trẻ của báo Revolucion (Cách mạng), nhận được chỉ thị trực tiếp của Tổng tư lệnh Fidel Castro với yêu cầu phải sớm sang Việt Nam để tìm hiểu và thông tin một cách sống động và chân thực nhất về cuộc chiến đấu anh dũng, quả cảm của nhân dân Việt Nam vì độc lập dân tộc. Ngay khi chuẩn bị lên đường, bà Marta Rojas đã ấp ủ ý định phải bằng mọi cách phỏng vấn được Chủ tịch Hồ Chí Minh, lãnh tụ thiên tài của Cách mạng Việt Nam. Tuy nhiên, do điều kiện lúc bấy giờ không cho phép nên bà đành phải gác lại “ước muốn cháy bỏng” đó với niềm tin sẽ có một ngày được gặp Bác Hồ. Năm đó bà Marta Rojas được đưa tới Campuchia và từ đó vượt rừng vào căn cứ địa của cách mạng miền Nam Việt Nam ở Tây Ninh. Trong thời gian ở cùng với các chiến sỹ cách mạng Việt Nam, bà đã viết hàng loạt bài báo để gửi về nước và nhờ đó nhân dân Cuba ở bên kia địa cầu càng hiểu thêm về cuộc kháng chiến trường kỳ đầy vất vả gian lao nhưng cũng vô cùng vẻ vang của nhân dân Việt Nam.

Nhà báo Marta Rojas (thứ tư từ phải sang) đang được các chiến sỹ quân giải phóng hướng dẫn cách lắp súng trong rừng Tây Ninh. Ảnh: tư liệu của bà Marta Rojas

Liên tiếp những năm sau đó bà Marta Rojas đều dành thời gian để đến với đất nước Việt Nam. Cũng vì tình yêu với đất nước hình chữ S mà bà đã tham gia tích cực vào các phong trào đoàn kết với Việt Nam và từng có mặt tại một số diễn đàn quốc tế với tư cách là một nhân chứng sống để tố cáo tội ác của đế quốc Mỹ chống lại nhân dân Việt Nam. Và rồi tới năm 1969, trong một chuyến đi như bao chuyến đi khác mà bà thực hiện tới Việt Nam, Marta Rojas tiếp tục bày tỏ nguyện vọng được phỏng vấn Bác Hồ với các đồng chí lãnh đạo Việt Nam. Một ngày giữa tháng 7/1969 khi đang trọ tại khách sạn Thống Nhất, bà Marta Rojas bất ngờ nhận được một cuộc điện thoại của Tổng Biên tập báo Nhân Dân Hoàng Tùng với lời nhắn: “Sáng mai đúng 6 giờ 30 tôi sẽ đón đồng chí vào gặp Bác Hồ”.

Bà Marta Rojas bồi hồi nhớ lại: “Sáng hôm đó khi cùng với đồng chí Hoàng Tùng và một đồng chí phiên dịch vừa bước vào khuôn viên Phủ Chủ tịch thì tôi đã thấy từ xa một cụ già tươi cười tiến lại gần và chủ động chào tôi bằng tiếng Tây Ban Nha “Buenos días, Marta” (Chào buổi sáng đồng chí Marta). Sau một thoáng bất ngờ tôi nhận ra đó là Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu mà tôi luôn ước ao được gặp mặt. Đã được đọc và nghe nhiều về Bác Hồ nhưng được gặp trực tiếp tôi mới cảm nhận hết được sự giản dị, gần gũi và lịch thiệp trong con người vĩ đại đó. Lúc đó Bác cũng hỏi thăm tôi về sức khỏe của đồng chí Fidel Castro và nói rằng bác rất thích đọc các bài diễn thuyết của vị Tổng tư lệnh đáng kính của nhân dân Cuba”.

Bà Marta Rojas (đội khăn rằn), nhà báo Raul Valdez Vivo (ngồi bên cạnh) đang được các chiến sỹ Quân giải phóng đưa qua sông. Ảnh: tư liệu của bà Marta Rojas.

Bà Marta Rojas kể rằng trong gần 30 phút đầu tiên của cuộc gặp gỡ đó, dường như bà trở thành người “bị phỏng vấn” khi Bác hỏi thăm về chuyến đi vào miền Nam đầu tiên của bà năm 1965. Bác cũng muốn biết về những cảm nhận của một nhà báo nước ngoài khi được tận mắt chứng kiến cuộc sống và tinh thần chiến đấu của các chiến sỹ ở miền Nam. Bà Marta Rojas vô cùng xúc động khi nhắc lại câu nói của Bác Hồ sau khi nghe bà tường thuật lại những trải nghiệm của mình rằng: “Nỗi đau và sự chịu đựng của nhân dân miền Nam cũng chính là nỗi khổ tâm của tôi. Tình yêu tôi dành cho nhân dân ở miền Nam cũng giống như nhân dân ở miền Bắc. Tôi luôn dành cả cuộc đời vì hạnh phúc của nhân dân mình”.

Bác Hồ cũng đề nghị bà Marta Rojas kể lại chuyến đi mà bà vừa thực hiện trước đó ít ngày vào khu vực vĩ tuyến 17 và hỏi thăm về lá cờ của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ở phía Bắc sông Bến Hải. “Bác nói rằng ngay ở những thời điểm khốc liệt nhất, hứng chịu nhiều nhất các đợt ném bom của kẻ thù thì lá cờ đó cũng không bao giờ ngừng tung bay. Quân và dân Việt Nam ở vùng đất lửa đó đã làm tất cả để bảo vệ lá cờ. Đó là biểu tượng của một nước Việt Nam thống nhất. Những tấm gương đó đã tiếp thêm sức mạnh cho chúng tôi trong cuộc chiến đấu trường kỳ”, nhà báo Marta Rojas hồi tưởng lại và cho biết thêm lúc đó bà nhận thấy trong ánh mắt của Bác Hồ một niềm tin mãnh liệt vào thắng lợi cuối cùng của nhân dân Việt Nam.

Bà Marta Rojas cũng chia sẻ với Bác về tình hình của Cuba, cũng như tình cảm mà lãnh đạo và nhân dân Cuba anh em dành cho đất nước Việt Nam anh hùng. Bác Hồ đã gửi lời thăm hỏi tới các đồng chí lãnh đạo và nhân dân Cuba và kết luận bằng câu nói ví von: “Việt Nam và Cuba là hai người anh em ở hai nửa địa cầu. Khi Cuba ngủ thì Việt Nam thức để canh gác và khi Việt Nam ngủ thì Cuba thức để bảo vệ”.

Nhà báo Marta Rojas cũng nhớ lại một chi tiết vô cùng thú vị trước khi chia tay với Bác: “Với ước ao được phỏng vấn Bác Hồ nên trước mỗi chuyến đi tôi đều chuẩn bị một món quà để nếu có dịp gặp Người tôi sẽ tặng làm kỷ niệm. Trước chuyến đi năm 1969 đó, khi tôi đang còn đang loay hoay suy nghĩ xem chuẩn bị đồ lưu niệm gì thì đồng chí Celia Sanchez (thư ký của Tổng tư lệnh Fidel Castro) nói với tôi rằng nên mang một chiếc gạt tàn vì Bác Hồ có thói quen hút thuốc. Và đó là món quà tôi đã mang sang Việt Nam. Khi kết thúc cuộc phỏng vấn tôi đã đưa chiếc gạt tàn tặng Người. Bác Hồ rất vui vẻ nhận món quà của tôi và nói rằng Người đã bỏ thuốc rồi tuy nhiên chiếc gạt tàn đó vẫn rất có tác dụng. Vừa nói Bác vừa với tay lên bàn làm việc lấy những chiếc ghim giấy đặt vào chiếc gạt tàn”.

Bà Marta Rojas thổ lộ, điều đọng lại lớn nhất trong tâm trí của bà sau cuộc gặp gỡ đó chính là sự giản dị, chân thành và gần gũi trong con người vĩ đại của Bác Hồ. Sau này bà cũng đã có nhiều dịp thăm lại Việt Nam và mỗi lần trở lại bà đều nhận thấy những sự “thay da đổi thịt” của mảnh đất Việt Nam anh hùng đúng với mong muốn “xây dựng đất nước mười lần tươi đẹp hơn” của Bác.

Hoài Nam (P/v TTXVN tại Cuba)

baotintuc.vn

Những năm tháng Bác Hồ ở Luân Đôn

Báo tin tức –Một chiều tháng 5 đầy nắng, chúng tôi có mặt tại nơi trước đây là khách sạn danh tiếng của thủ đô Luân Đôn, nước Anh, khách sạn Carlton, nơi Bác Hồ đã từng làm việc, để kỷ niệm ngày sinh nhật Bác và một thế kỷ Bác dời bến Nhà Rồng ra đi tìm đường cứu nước.

Theo bài viết “Hồ Chí Minh ở Luân Đôn” của Tiến sĩ John Callow, Giám đốc Thư viện tưởng nhớ Mác (Karl Marx), Bác Hồ của chúng ta đã làm rất nhiều việc trong thời gian ở Anh, từ cào tuyết trong trường học đến điều khiển hệ thống nước nóng rồi phụ bếp trong một khách sạn nhỏ là Drayton Court ở khu vực West Ealing, gần Quảng trường Soho, Luân Đôn.

Tòa nhà ngày nay được xây dựng trên nền của khách sạn Carlton cũ. Ảnh: Internet

Sau này, nhờ có kinh nghiệm làm việc bếp, Người được nhận vào làm việc rửa bát đĩa ở khách sạn danh tiếng Carlton ở Luân Đôn. Nhờ chăm chỉ và thông minh, một người đầu bếp đã nhận Người vào làm việc ở bộ phận của mình là nấu ăn phục vụ cho những bữa tiệc lớn. Cũng tại đây, Người đã chứng kiến sự xa hoa lãng phí thức ăn của những người giàu có. Những người đồng nghiệp thường thấy Người gói gọn lại những thức ăn thừa, có khi là cả một phần tư con gà và miếng bít tết to tướng, đưa cho nhà bếp để mang cho người nghèo. Người làm việc từ 5 giờ sáng đến trưa và từ 5 giờ chiều đến 10 giờ tối. Nhờ vậy Người có thời gian tìm hiểu về Luân Đôn và học tiếng Anh. Người thường ngồi trong Công viên Hype Park với một cuốn sách và một cái bút chì. Người làm việc không chỉ đơn giản để kiếm sống mà để tìm hiểu rõ bản chất điều gì ràng buộc dân tộc mình và các nước thuộc địa với các nước thực dân.

Tấm bảng tưởng niệm treo trên tòa nhà mới. Ảnh: Internet

Theo ông John Callow, chính trong thời gian ở nước Anh từ 1913-1917, Người đã lần đầu tiên đọc các tác phẩm của Mác và Ănghen (F. Engels). Những năm Người sống ở Anh đã góp phần định hình tư tưởng chính trị của Người. Hồ Chí Minh đã tìm ra và đến với chủ nghĩa Mác, không phải như là một học thuyết mà là lời kêu gọi giải phóng và hành động sáng tạo. Đây là một bước ngoặt trên con đường Người tìm hiểu thế giới và đem về đất nước mình những gì đã thấy được để giải phóng nhân dân mình.

Ông Len Aldis, Chủ tịch Hội Hữu nghị Anh-Việt, người đã dành nhiều công sức để giúp xây dựng bảng tưởng niệm tại nơi Bác Hồ đã từng làm việc, cho biết: Cách khách sạn Carlton trước đây không xa (bây giờ là địa điểm của Đại sứ quán Niu Dilân), là nơi Các Mác ở, còn xa hơn một chút ở ngôi nhà số 37A phố Clerkenwell Green, sau này được xây dựng là Thư viện tưởng nhớ Các Mác năm 1933, có một phòng nhỏ nơi Lê Nin (V.I. Lenin) đã viết 17 số báo Tia sáng.

Đến thăm Luân Đôn khi đi qua công viên Hype Park, quảng trường Soho hay Thư viện Các Mác, vẫn thấy đâu đây hình ảnh Bác Hồ đang đọc sách hay làm việc cần mẫn và suy nghĩ về con đường giải phóng nước nhà.

Ngân Bình (P/v TTXVN tại Anh)

baotintuc.vn

Tình cảm của một người bạn Nga lần đầu tiên đến thăm Việt Nam

Viện sĩ V.V, Banin (người ngồi viết) ghi lại những tình cảm của mình tại Khu Di tích K9

Trong dịp tu bổ định kỳ Công trình Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh năm 2011, chúng tôi đã được đón Viện sĩ thông tấn Y học Liên bang Nga, Giáo sư, Tiến sĩ khoa học Victor Vasilievich Banin, trên cương vị Phó Giám đốc Trung tâm nghiên cứu y sinh Matxcơva sang thăm và làm việc tại Việt Nam. Đây là lần đầu tiên ông đến Việt Nam. Ngay khi đến Hà Nội, ông đã dành thời gian vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh, thăm nơi ở và làm việc của Người. Trên đường sang thăm Khu Di tích Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch, ông đã tâm sự: “Trung tâm nghiên cứu y sinh Matxcơva đã trực tiếp giúp Việt Nam giữ gìn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh hơn 40 năm qua, nhưng hôm nay tôi mới có dịp sang Việt Nam để cùng với các bạn thực hiện nhiệm vụ quan trọng này. Đối với mỗi người công dân Nga như chúng tôi, tên của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đi vào trong tâm khảm của mỗi người. Cuộc đời của Người thực sự là tấm gương sống động để chúng ta học tập”.

Trong thời gian công tác tại Việt Nam, những ngày nghỉ, giờ nghỉ, chúng tôi trông thủ mời ông đi thăm một số di tích, danh lam thắng cảnh tại Thủ đô Hà Nội. Đi đến đâu, ông cũng xem xét cụ thể tỉ mỉ, hỏi rõ từng chi tiết lịch sử và chụp rất nhiều hình ảnh về Việt Nam. Khi đến thăm Khu Di tích K9, nơi các nhà khoa học y tế Liên Xô đã cùng với các bác sĩ Việt Nam giữ gìn tuyệt đối an toàn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh trong 6 năm chiến tranh (1969 – 1975), ông đã thực sự xúc động khi được nghe kể về lịch sử hình thành Khu Di tích K9 – nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trực tiếp quyết định vị trí để Trung ương và Người làm việc trong những năm kháng chiến chống Mỹ; cũng là nơi Bộ Chính trị Trung ương Đảng và Quân uỷ Trung ương quyết định giữ gìn thi hài của Người trong chiến tranh ác liệt. Ông và các đồng nghiệp đi cùng đã dâng hương tưởng nhớ Chủ tịch Hồ Chí Minh tại ngôi nhà trước đây Người đã làm việc.

Thăm từng kỷ vật đã gắn bó với hoạt động của Người tại K9; thăm những chiếc xe chuyên dụng đã nhiều lần tham gia di chuyển thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh trong chiến tranh và thăm những nơi các chuyên gia Liên Xô trước đây đã từng đồng cam, cộng khổ, chia ngọt xẻ bùi với các đồng nghiệp Việt Nam trong những ngày đầu giữ gìn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh. Kết thúc buổi tham quan, chúng tôi đã mời ông ghi lại đôi dòng cảm tưởng khi đến K9. Cầm cây bút trên tay, ông lặng người đi trong giây lát và như đã suy nghĩ từ trước, ông viết nắn nót từng dòng, từng dòng, cho đến khi kín cả trang giấy… rồi ông đọc to để chúng tôi và các bạn Nga đi cùng nghe, sau đó ông mới thận trọng ký tên và ghi rõ cả họ tên của mình vào trang cảm tưởng. Nắm chặt tay tôi khi trao cuốn sổ ghi cảm tưởng, ông vẫn còn nghẹn ngào xúc động: “Các bạn đã làm được một điều kỳ diệu là chiến thắng được kẻ thù hung hãn nhất thế giới và ngày nay đang xây dựng được một xã hội có nền kinh tế phát triển. Việt Nam là một đất nước có nhiều di tích, danh lam lịch sử và rất mến khách. Tôi sẽ ghi nhớ mãi chuyến công tác này…”.

Hai mươi ngày làm việc với Viện sĩ V.V. Banin tại Việt Nam, ông đã để lại cho mỗi chúng tôi một tình cảm đặc biệt về trí tuệ trong chuyên môn, về phương pháp tư duy khoa học và nhất là tình yêu đất nước con người Việt Nam. Phải chăng đó cũng là tình cảm thiêng liêng của những người con của quê hương Lênin vĩ đại đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh, Người Anh hùng giải phóng dân tộc, Danh nhân văn hoá kiệt xuất và cũng là tình cảm của mỗi người Nga đối với con người và đất nước Việt Nam chúng ta.

Tháng 10, năm 2011
Đặng Nam Điền

bqllang.gov.vn

Hồ Chí Minh trong lòng bạn bè thế giới

Cảm phục trước vị lãnh tụ kiệt xuất của dân tộc Việt Nam, nhiều chuyên gia và phóng viên nước ngoài viết về Chủ tịch Hồ Chí Minh với tất cả lòng kính trọng.

>> Olympiakos viếng Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh

Giáo sư Sử học William J.Duiker viết trong công trình vĩ đại về cuộc đời và sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Min: “Hồ Chí Minh là một vị lãnh tụ thiên tài nhưng vô cùng giản dị, rất gần gũi với cuộc sống của người lao động và đặc biệt hơn, Người là một chính khách lỗi lạc, biết kết hợp tài tình nghệ thuật lãnh đạo để đưa con thuyền cách mạng Việt Nam mau chóng tới đích”.

Trong bài viết “Hồ Chí Minh – Chiến thắng một tầm nhìn” trên tạp chí In Asien của Đức, tác giả Dierk Szekielda cũng cho rằng, sự ngưỡng mộ của ông với Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhân dân Việt Nam đã thôi thúc ông viết bài báo này. Ông ca ngợi Chủ tịch Hồ Chí Minh là một nhà yêu nước và là người soi sáng con đường đấu tranh cách mạng của nhân dân Việt Nam, một người có phẩm chất phi thường.

Tổng thống Venezuela trân trọng đón nhận bức chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Còn trên tờ Time (Mỹ), nhà báo, tác giả cuốn “Việt Nam – một thiên sử” Stanley Karnow viết về Chủ tịch Hồ Chí Minh như sau: “Một thân hình gầy gò, chòm râu dài, chiếc áo khoác cũ và đôi dép cao su đã mòn, Hồ Chí Minh đã tạo ra một hình ảnh hiền lành, giản dị. Nhưng Người là nhà cách mạng dày dạn kinh nghiệm và một nhà dân tộc chủ nghĩa nồng nhiệt, suốt đời đấu tranh cho một mục đích duy nhất: mang lại độc lập tự do cho dân tộc mình. Không có sự dao động trong niềm tin của Hồ Chí Minh, không thể lay chuyển ý chí của Người, ngay cả khi cuộc chiến tranh của Mỹ leo thang, tàn phá đất nước, người vẫn giữ niềm tin đối với nền độc lập của Việt Nam. Dưới con mắt phương Tây, điều dường như không thể tưởng tượng được là Hồ Chí Minh có thể cống hiến sự hy sinh to lớn như ông đã làm”. Và Time bình chọn Bác Hồ là một trong 100 nhân vật có ảnh hưởng lớn nhất trong thế kỷ 20.

Giáo sư Nhật Bản Singo Sibata khẳng định, Hồ Chí Minh là nhà lý luận tài giỏi trên mọi lĩnh vực chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa, tư tưởng … Lý luận của Người được xây dựng trên cơ sở chủ nghĩa Mác- Lênin, song là sự phát triển chủ nghĩa Mác- Lênin trong thời đại ngày nay. 

Bích Diệp (Tổng hợp)

baodatviet.vn

Hai bức chân dung Bác Hồ đầu tiên được vẽ cách đây 85 năm

Chân dung Nguyễn Ái Quốc do Eric Johanson vẽ ngày 19/9/1924, dòng chữ Việt và chữ Hán là do Người tự ghi (là bức vợ ông Johanson gửi tặng qua Đại sứ quán Việt Nam ở Thụy Điển).

Cho tới nay, nhiều nhà văn, nhà thơ, nhiều nhạc sĩ, họa sĩ, điêu khắc gia đã viết, vẽ và tạc tượng vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc Việt Nam. Tuy nhiên, hai bức chân dung đầu tiên của Người lại do một họa sĩ nước ngoài vẽ cách đây gần… 85 năm!

Cho tới nay, nhiều nhà văn, nhà thơ, nhiều nhạc sĩ, họa sĩ, điêu khắc gia đã viết, vẽ và tạc tượng vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc Việt Nam. Tuy nhiên, hai bức chân dung đầu tiên của Người lại do một họa sĩ nước ngoài vẽ cách đây gần… 85 năm!

Cuối năm 1923, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã từ Pháp sang Moskva (Liên Xô) để hoạt động cách mạng trong phong trào Quốc tế cộng sản. Người đã ở đây khá lâu để học tập và nghiên cứu chủ nghĩa Mác – Lênin, tìm con đường cứu dân cứu nước. Hoạt động của Người rất đa dạng và khẩn trương.
Ngoài giờ học tập ở Trường Cộng sản Phương Đông, Người còn tranh thủ tìm hiểu cuộc sống và lao động của nhân dân Xô Viết, tham gia các hoạt động về văn hóa – giáo dục, văn học – nghệ thuật. Và Bác đã tham dự cuộc triển lãm nghệ thuật tạo hình của Đức tại Bảo tàng Nghệ thuật quốc gia Moskva mùa Thu – 1924.

126 họa sĩ và điêu khắc gia tiến bộ của Đức đã trưng bày hơn 500 tác phẩm nghệ thuật của họ tại triển lãm này, được người xem đánh giá cao. Bác đã xem kỹ và đánh giá đúng mức những tác phẩm đó. Kỹ sư kiêm họa sĩ Đức người gốc Thụy Điển Eric Johanson cũng đã sang đây cùng những tác phẩm của mình.

Thấy nhà cách mạng phương Đông chăm chú xem các tác phẩm của mình, Johanson liền đến làm quen và thăm dò trao đổi ý kiến. Qua cuộc trò chuyện cởi mở về nội dung và nghệ thuật hội họa, Nguyễn Ái Quốc và Eric Johanson có những quan điểm hòa hợp. Rồi chẳng bao lâu họ đã thành đôi bạn tâm đắc về văn hóa nghệ thuật cũng như những quan điểm về chính trị, xã hội.

Thế là, họ đã tranh thủ giờ rỗi cùng nhau đi dạo phố, tìm hiểu đời sống người dân Xô Viết trong những năm đầu dưới chế độ mới. Đây cũng là dịp tốt để Nguyễn Ái Quốc hiểu biết thêm không những người Đức mà còn một dân tộc ở Bắc Âu nữa là Thụy Điển. Một ý nghĩ nảy ra trong đầu nhà cách mạng trẻ: Tranh thủ học thêm một ngoại ngữ nữa – tiếng Thụy Điển.

Trong hoàn cảnh đó, không tìm đâu ra được sách giáo khoa về ngôn ngữ nước này, Nguyễn Ái Quốc đã học ở người bạn tâm đồng ý hợp của mình. Và kết quả thật bất ngờ: Chỉ sau một thời gian ngắn, khi họa sĩ Johanson còn làm việc ở Moskva, Người đã trò chuyện với vị này bằng tiếng mẹ đẻ của ông.

Chân dung Nguyễn Ái Quốc đăng ở Báo Phụ nữ Xô Viết số 10 năm 1979. Nguyễn Ái Quốc ghi tên mình bằng chữ Việt và chữ Hán ở phía dưới, chữ ký của chính họa sĩ thì ở sát ve áo của Người.

Johanson đã không tiếc lời khen ngợi và khâm phục nhà cách mạng trẻ phương Đông là người thông minh, nhạy bén và uyên thâm nhiều lĩnh vực, trong đó có văn hóa, ngôn ngữ và cả hội họa của nhiều dân tộc. Ông đã linh cảm được về vị lãnh tụ tương lai của một dân tộc đang bị áp bức ở phương Đông mà lúc ấy chưa ai biết tới.

Trước khi rời đất nước Xô Viết về nước, Eric Johanson đã đề nghị người bạn quốc tế đồng cảm cho vẽ bức chân dung làm kỷ niệm. Trước yêu cầu chân thành đó, Nguyễn Ái Quốc đã đồng ý.

Đó là hai bức chân dung đầu tiên về vị lãnh tụ tương lai của một dân tộc bị áp bức ở phương Đông mà lúc đó chưa ai biết và nghĩ tới. Bằng chữ Việt và chữ Hán, Người đã tự tay ghi vào góc dưới bức chân dung: “Nguyễn Ái Quốc – 19/9/1924”

Hình ảnh và phong thái của Nguyễn Ái Quốc đã để lại những ấn tượng tốt đẹp và sâu sắc trong Johanson.

44 năm sau – năm 1968, khi Nguyễn Ái Quốc đã là vị Chủ tịch nước, là Bác Hồ kính yêu của dân tộc Việt Nam, khi Việt Nam đã trở thành biểu tượng của ý chí độc lập tự do đối với các dân tộc bị áp bức đang đấu tranh, người bạn năm xưa ấy của Bác Hồ đã ghi lại trong hồi ký của mình: “Cử chỉ văn hóa và thái độ thân mật chân tình của Người gây một ấn tượng là Người có uy tín lớn. Người có thể trở thành lãnh tụ nhưng không phải bằng một cái gì bề ngoài mà bằng học thức, bằng trí tuệ của mình…”.

Sau khi Johanson qua đời, tới cuối năm 1981, vợ ông kiểm kê lại tất cả những tác phẩm của chồng, đã phát hiện ra 1 trong 2 bức chân dung đó. Bà đã tới Đại sứ quán Việt Nam ở Thụy Điển để tặng lại kỷ vật quý báu này cho nhân dân ta.

Về cuộc đời họa sĩ Eric Johanson xin tóm lược mấy nét chính sau: Ông sinh năm 1895, làm nghề kỹ sư xây dựng và họa sĩ. Ông cùng vợ sang Đức làm ăn rồi gia nhập Đảng Cộng sản Đức, một trong những người sáng lập ra “Nhóm Đổ” – Hội các họa sĩ tiến bộ của Đức hoạt động vì người nghèo.

Là người khiêm tốn, ít nói, hay bẽn lẽn nhưng có cái nhìn nhận xét sâu sắc, nhạy bén, ông nhiệt tình tham gia cách mạng trong phong trào công nhân Đức. Những tác phẩm hội họa của ông thể hiện “nghệ thuật vị nhân sinh”, luôn đấu tranh bênh vực người lao động nghèo khổ. Sau cuộc triển lãm và làm việc ở Moskva, ông trở về Đức và tiếp tục hoạt động chống cuộc chiến tranh thế giới mới mà bọn phát xít Đức đang tích cực chuẩn bị.

Đến khi Hitler công khai phát động cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ hai, thẳng tay đàn áp những người cộng sản và phong trào cách mạng, ông cùng vợ con tìm cách bí mật hồi hương. Từ năm 1938, ông đã thoát khỏi nanh vuốt bọn Đức Quốc xã khi đã an toàn trở về Thụy Điển.

Tại quê hương mình ông lại bị chính quyền tình nghi nên không thể liên hệ được với phong trào cách mạng bên ngoài, nhất là với Đảng Cộng sản Đức. Thế là ông cùng gia đình phải “ẩn dật” và kiếm sống bằng nghề vẽ của mình. Nhưng nhiều bức tranh tiến bộ mang đậm tính cách mạng ông không công bố. Một trong số đó là 2 bức tranh vẽ chân dung Bác Hồ của chúng ta.

Một bức (vẽ nghiêng) ông đã gửi cho báo Phụ nữ Xô Viết và báo này đã đăng trên số 10 năm 1979, nhân kỷ niệm 10 năm ngày mất của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Còn bức chính (vẽ trực diện), về sau (1981) vợ con ông mới phát hiện ra. Người bạn quốc tế thân thiết của Bác Hồ đã qua đời tháng 4/1979 tại ngoại ô Thủ đô Stockholm.

Triệu Hải
Theo antg.com.vn
Phương Thúy (st)

bqllang.gov.vn

Những chuyện cảm động về Bác Hồ qua lời kể của thành viên nhóm tình báo Con Nai (Mỹ)

Henry Prunier năm nay đã 86 tuổi, là một trong bảy thành viên của nhóm tình báo Con Nai (Deer Team) thuộc OSS. Theo lời kêu gọi của Bác Hồ, nhóm Con Nai nhảy dù xuống Tân Trào tháng 7 năm 1945 để giúp đỡ trong việc huấn luyện các chiến sĩ Việt Minh đánh Nhật.

Chúng tôi đến thăm hai ông bà Henry Albert Prunier và Maria Prunier vào một buổi sáng mưa lạnh ở vùng New England. Ông Henry Prunier rất vui khi biết chúng tôi có ý định tìm hiểu, tham vấn ông để làm một cuốn sách liên quan đến thời kì đó.

Theo ông, lịch sử sẽ dần trôi vào quên lãng nếu không có những người nhắc lại giai đoạn đặc biệt này của quan hệ giữa hai nước – Một giai đoạn rất ngắn khi Việt Nam và Hoa Kỳ đã từng là bạn.

Những thành viên của The Office of Strategic Services (OSS), đã giúp đỡ Việt Minh sử dụng vũ khí và cũng chính những thành viên ấy đã hết sức nhiệt tình chuyển giúp thư của Bác Hồ đến chính phủ Mỹ, đề nghị Tổng thống Truman công nhận độc lập của Việt Nam.

Chỉ tiếc rằng lịch sử đã đi theo hướng hai nước trở thành đối thủ trong cuộc chiến 20 năm.

Có lẽ ông là một trong rất ít người còn sống và đã cùng ông Allison K. Thomas (trưởng nhóm Con Nai), trở lại Hà Nội năm 1995 gặp gỡ các chiến sĩ Việt Minh mà ông đã có dịp sống và làm việc. Cuộc gặp mặt sau 50 năm được tổ chức theo sáng kiến của Hội Hữu nghị Việt – Mỹ và do Quỹ Ford tài trợ.

Khi đến Tân Trào, ông mới 24 tuổi, làm thông dịch viên cho nhóm. Chỉ có chưa đầy một tháng được tiếp xúc với Bác Hồ, đại tướng Võ Nguyên Giáp và các chiến sĩ Việt Minh, nhưng đã để lại trong ông những kí ức và kỷ niệm khó quên mà ông mang theo bên mình trong hành trình hơn nửa thế kỷ.

Ông nhớ rõ từng chi tiết khi nhảy dù xuống Tân Trào. Nhóm Con Nai ở cách Tân Trào 3 km, trước đó đây là nơi dành cho các lớp bồi dưỡng chính trị, nay thành thao trường huấn luyện của Việt Minh.

Nhóm Con Nai mỗi người mỗi việc, trong đó có bác sĩ đã từng chữa bệnh cho Bác Hồ khi Người bị ốm. Vũ khí, thuốc men, thực phẩm của họ đều được tiếp tế bằng máy bay trực thăng. Tuy nhiên, cả nhóm vẫn dùng thực phẩm của địa phương như cơm, ngô, măng rừng, rau và thịt gà. Ông nhớ nhất là bữa ăn rất thiếu rau, còn thịt gà là món ông nhớ nhất vì nó… không ngon một chút nào.

Tiếp đó là những ngày hành quân về Hà Nội cùng tướng Đàm Quang Trung, qua Thái Nguyên còn phải đánh nhau với tàn quân Nhật. Các ông về đến Hà Nội vào ngày 9/ 9/1945.

Ông được gặp lại Bác Hồ, bây giờ là Chủ tịch nước Việt Nam độc lập, với cảm giác ngỡ ngàng vì trước đó một tháng ông chỉ biết đó là “Mr. Hồ”. Con người giản dị đó giờ đây đã trở thành người đứng đầu một đất nước thoát khỏi ách thuộc địa.

Ông ở Hà Nội một thời gian ngắn, rồi sang Côn Minh và về Mỹ tháng 1/1946.Ông học đại học, rồi làm việc ở công ty gia đình J.S, Prunier and Sons.

Năm 1997, ông tham dự cuộc gặp mặt những thành viên OSS và các chiến sĩ Việt Minh tại New York. Hiện ông đang sống tại thành phố Webster nằm phía đông của bang Massachusetts, Hoa Kỳ.

Bước vào nhà, vật đầu tiên ông chỉ cho chúng tôi là bức tranh thêu trên lụa khổ 1,5 m x 0,6 m, về một nhân vật trong lịch sử Trung Quốc, được lồng trong khung kính, treo trang trọng trong phòng khách.

Đó là món quà của Bác Hồ tặng ông từ năm 1945, và ông đã giữ cho đến tận bây giờ. Mặc dù đã 62 năm đã trôi qua, nhưng bức tranh không hề phai màu, được bảo quản gần như mới…

Ông đưa chúng tôi vào nơi trước đây là Văn phòng giao dịch của công ty J.S. Prunier and Sons. Bây giờ, đây là nơi ông lưu giữ những cuốn sách về Bác Hồ, về Việt Nam, về đội Con Nai, OSS trong những ngày ở Đông Dương.

Những cuốn sách của các tác giả là thành viên của đội OSS như Charlse Fenn, Archimedes Patti, và các nhà nghiên cứu về Việt Nam sau này như William Duiker, Dixee R. Bartholomew-Feis. Ông gìn giữ cẩn thận từng băng ghi âm các cuộc phỏng vấn của các cơ quan truyền thông trong những năm 1960, cả những băng cối, sử dụng rộng rãi vào thời kỳ đó.

Ông cho chúng tôi xem những băng ghi hình về Bác Hồ của nhiều đài truyền hình, các hãng thông tấn khác nhau như Đài BBC, kênh truyền hình “Lịch sử” của Mỹ (History Channel) và các cuộc phỏng vấn ông khi làm phim về Bác.

Từng tập hồ sơ, nhật ký của đội OSS ông còn giữ từ năm 1945, rồi ông đem những bức hình của các chiến sĩ Việt Minh năm xưa so sánh với những bức ảnh ông chụp với họ khi gặp lại nhau năm 1995 ở Hà Nội và năm 1997 tại New York.

Đặc biệt nhất là những bức ảnh đen trắng ông được chụp chung với Bác Hồ, đại tướng Võ Nguyên Giáp và các chiến sĩ Việt Minh. Những bức ảnh gốc đã hơn 60 năm tuổi, chúng có mặt trên các tạp chí nổi tiếng như Life Magazine của Hoa Kỳ (1978), Paris Match của Pháp (1968) và trong nhiều phim tài liệu về lịch sử ngắn ngủi trong quan hệ Việt-Mỹ.

Ông tháo trên tường một khung kính nhỏ hơn khổ giấy A4 một chút, đó là chứng chỉ do Đại học Berkeley cấp ngày 2/9/1944, công nhận ông đã học qua khóa tiếng Việt trong 9 tháng (chứng chỉ ghi là tiếng Annam).

Hóa ra có trường đại học Mỹ đã dạy tiếng Việt từ thời kỳ đó. Ông trân trọng cho chúng tôi xem từng bài viết về Bác Hồ, được cắt ra từ báo hoặc tạp chí. Đã nhiều năm trôi qua, nhiều chỗ đã hoen ố, nhưng dường như chúng vẫn mang hơi thở của thời kỳ ra đời. Và với chúng tôi, những người tìm hiểu về lịch sử thì đó là kho tài liệu vô giá.

Đề tài ông thích nhất có lẽ là nói về Bác Hồ. Ông có thể ngồi hàng giờ nói chuyện về những kỷ niệm không bao giờ quên trong thời gian hơn ba tuần được tiếp xúc với Bác.

Mặc dù là phiên dịch tiếng Việt, nhưng ông bảo Bác Hồ nói tiếng Pháp và tiếng Anh rất thạo, đương nhiên là hơn hẳn tiếng Việt của ông nên Bác thường trao đổi trực tiếp bằng tiếng Anh, khiến ông gần như… thất nghiệp.

Biết ông là người Massachusetts, Bác nhắc lại kỷ niệm về những ngày Bác sống và làm việc ở Boston và New York. Ông nhắc đi nhắc lại ấn tượng về Bác Hồ: Một con người rất đời, giản dị nhưng có chí khí mãnh liệt, một con người rất Việt, nhưng mang trong mình mọi tính cách của thành viên thuộc cộng đồng thế giới.

Ông mỉm cười khi nói đến hình ảnh ông nhớ nhất về Bác Hồ là Bác mặc áo cánh và quần sooc khi ở Tân Trào và cả khi về Hà Nội, trên cương vị Chủ tịch nước, Bác vẫn ăn mặc giản dị như thế khi tiếp đón các thành viên OSS tại Phủ Chủ tịch. Bác chiêu đãi, tặng quà và cám ơn các thành viên trong nhóm. Bác không hề tỏ ra mình là nhân vật quan trọng, khi mà trên thực tế lúc đó Bác là người vô cùng quan trọng.

Ông buồn rầu kể: “Hồ Chí Minh đã nhờ chúng tôi viết thư về Mỹ đề nghị Tổng thống Truman công nhận quyền độc lập của Việt Nam. Chúng tôi là những người lính chứ không phải các chính trị gia, nên mặc dù đã làm hết sức mình, nhưng không giúp được gì nhiều. Chỉ tiếc là những bức thư đó sau này nằm trong kho lưu trữ quốc gia. Thời điểm ấy, nước Mỹ chỉ tập trung vào châu Âu, bỏ qua khu vực Đông Nam Á.

Tổng thống Truman đã để Charlse de Gaulle quyết định vấn đề Đông Dương. Phải chăng đây cũng là một phần nguyên nhân của cuộc chiến kéo dài 30 năm? Hồ Chí Minh mời chúng tôi trở lại Việt Nam bất cứ lúc nào, thế mà phải 50 năm sau tôi mới có dịp trở lại”.

Năm 1968, khi tổng thống Johnson leo thang chiến tranh, ném bom miền Bắc, tại Mỹ phong trào chống chiến tranh trong mọi tầng lớp nhân dân, sinh viên, thanh niên đã phân đất nước thành hai cực.

Nước Mỹ tìm hiểu về cuộc chiến, một tờ báo địa phương của thành phố Worcester, tiểu bang Massachusetts nơi ông sinh sống đã đăng bài về Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị lãnh tụ của phía bên kia qua lời kể của Henry Prunier.

Bài báo ông cho chúng tôi xem không khác những điều ông trân trọng kể về Bác hôm nay. Trong cuộc phỏng vấn do đài phát thanh thành phố thực hiện, Henry Prunier đã khẳng định: “Chúng ta không bao giờ giành chiến thắng tại Việt Nam bởi vì chúng ta chiến đấu không có mục đích. Trong khi đó, người Việt chiến đấu vì mục đích, vì niềm khao khát độc lập tự do”.

Chúng tôi hỏi ông vì sao chỉ với thời gian rất ngắn ở Việt Nam mà ông đã có kết luận như vậy? Ông trả lời: “Đơn giản lắm, người Việt có chung niềm khao khát độc lập như chúng tôi đã có ở thế kỉ 18. Khi đó chúng tôi phải giành độc lập bằng mọi giá do chính sách thuế má nặng nề của nước Anh áp đặt lên chúng tôi, vì có mục đích chúng tôi mới chiến thắng trong cách mạng Mỹ”.

Ngay sau khi ông phát biểu trên đài phát thanh, con gái ông còn đang đi học đã bị một số bạn bè và cả thầy cô quy kết là “con của cộng sản”. Ông bảo họ muốn nói gì cũng mặc, với ông, cái gì ông cho là đúng thì ông làm. Và điều ông nói đã thành sự thật. Năm năm sau, những người lính Mỹ cuối cùng đã rút khỏi Việt Nam và năm 1975, đất nước ta đã hoàn toàn thống nhất. Với người viết bài này, đây là một cuộc gặp mặt thật cảm động và khó quên. Người đang làm cuốn sách liên quan đến thời kỳ lịch sử này là ông David Thomas, một cựu binh đã tham chiến tại Playku năm 1968, người đã trân trọng quý mến Bác Hồ và vẽ trên 50 bức tranh về Bác.

Henry Prunier, cựu binh của thế chiến II, người đã tham gia giúp Việt Minh kháng chiến chống Nhật. Còn David Thomas, cựu binh của Chiến tranh Việt Nam, người đã tham chiến chống lại quân đội nhân dân Việt Nam.

Hơn 30 năm sau, tại nước Mỹ, hai thế hệ cựu binh đều gật đầu đồng tình với ý kiến của ông Prunier: “Đúng, chúng ta (người Mỹ) đã thất bại bởi vì chúng ta chiến đấu không có mục đích”.

Theo: Minh Phương
(Bài viết đăng trên Tạp chí Sự kiện nhân chứng)

bqllang.gov.vn

Chuyện ít biết về chàng thanh niên Văn Ba ở Mỹ

Bài viết tiếp của Laura Lam về thời gian Bác Hồ ở Mỹ, nơi Người ấn tượng với Tuyên ngôn độc lập, nơi sự thật về người da đen khiến Người sửng sốt, nơi Người phát hiện có những dân tộc đồng nỗi khổ với dân tộc mình ở Đông Dương.

Chàng thanh niên bắt đầu dùng cái tên “Văn Ba” cho chuyến hành trình trên biển của mình. Trên tàu Đô đốc Latouche-Tréville, công việc của anh là lau rửa nhà bếp, bốc than, đun nước và khuân những thùng thịt, cá, rau và đá từ phòng ướp lạnh đến cho các nhân viên làm bếp. Có 800 người trên tàu. Trong bộ quần áo thủy thủ màu xanh, mỗi ngày, Văn Ba làm việc cần cù từ sáng sớm đến tối mịt. Quần áo và da anh phủ đầy bụi, khói và đẫm mồ hôi. Mỗi đêm về, Ba chỉ có thời gian rất ít để nghỉ ngơi, sau đó anh đọc và viết, cho đến đêm.

Mùa Thu năm 1911, sau một thời gian ngắn làm vườn tại thành phố Le Havre, Tây Bắc nước Pháp, Ba trở lại biển với hãng vận tải đường biển của Pháp Messageries để đi New York. Thời tiết ở Le Havre ngày càng lạnh và anh không đủ sức khỏe để làm công việc ngoài trời. Vẫn chưa rõ anh đã làm công việc gì trong chuyến đi biển lần này.

Ba luôn luôn thận trọng, khéo léo và luôn tìm được cách thông minh để né tránh cơ quan chức năng nước ngoài. Anh dùng tên gì và khai báo thông tin gì cho cơ quan nhập cư Mỹ khi đến nước này vẫn là câu hỏi chưa có câu trả lời cho các sử gia quan tâm.

Ba từng một thời gian ngắn làm người giúp việc cho gia đình một người giàu có ở Brooklyn. Anh bị thành phố Boston cuốn hút và chẳng bao lâu sau đã tìm được công việc là người phụ giúp người làm bánh tại khách sạn Parker House. Chẳng bao lâu sau, anh đã trở thành người làm bánh chuyên nghiệp.

Boston là một thành phố lịch sử và người dân ở đây tự hào về truyền thống văn chương nổi tiếng của thành phố. Parker House được xây dựng năm 1855 và trở thành nơi hội họp thường xuyên của các cây bút xuất sắc của nước Mỹ, trong số này có Emerson, Thoreau, Hawthorne và Longfellow. Thời kỳ này được xem là Thời đại Hoàng kim đối với nền văn học Mỹ.

Bếp trưởng Văn Ba

Tác giả người Anh Charles Dickens thường đến thăm Parker House và trầm trồ trước vẻ tráng lệ của khách sạn rực rỡ nhất Boston này cũng như hương vị các món ăn được phục vụ ở đây. Parker House còn là nơi các thế hệ chính trị gia quốc gia và địa phương, trong đó có Ulysses Grant, Franklin Roosevelt, John F. Kennedy và Bill Clinton, họp các cuộc thảo luận riêng hay họp báo. Do Parker House gần khu vực nhà hát của Boston, nhiều nghệ sĩ nổi tiếng của thế kỷ thứ 19 đã coi đây như nhà của mình. Trong số này có Charlotte Cushman, Sarah Bernhardt, Edwin Booth, và anh trai của ông là John Wilkes Booth. Người ta đã nhìn thấy John Wilkes, nam diễn viên nổi tiếng, đang thực hành với khẩu súng lục gần khách sạn này ngay trước khi anh ta ám sát Tổng thống Abraham Lincoln.

Trong thế kỷ thứ 20, một loạt ngôi sao màn bạc và sân khấu kịch lẫy lừng – từ Joan Crawford, Judy Garland, và William Boyd, đến Adam ‘Batman’ West, Kelsey Grammer, và David Shiner, cũng coi đây như ngôi nhà thứ hai của mình.

Bếp ăn của Parker House nổi tiếng với phong cách nấu ăn Mỹ. Khi Văn Ba là người làm bánh chính, anh sẽ làm loại bánh kinh điển của Parker House. Parker House cũng được tín nhiệm với món bánh kem Boston và bánh trứng đường với chanh tuyệt vời. Ba rất giỏi làm những món bánh này.

Khi sống ở Boston, Ba thường đi tàu đến Harlem, một khu dân cư chính của người Mỹ gốc Phi ở New York. Anh đã tham dự những cuộc họp do Marcus Garvey, người Mỹ gốc Phi đầu tiên lãnh đạo phong trào chính trị chống chủ nghĩa phân biệt chủng tộc, tổ chức. Ba đã quan sát thái độ của đảng Ku Klux Klan (3K) và lấy làm kinh khiếp trước lòng căm thù và thái độ ngược đãi của người Mỹ đối với những người da đen. Đã nhìn thấy tượng Nữ thần Tự do ở bến cảng New York, nên sự thật này khiến Văn Ba sửng sốt và ấn tượng mãi về sau này. Anh đã viết về tình trạng phân biệt chủng tộc với tư cách là người chứng kiến bằng những chi tiết sâu sắc.

Ba cũng gặp một số người Triều Tiên theo chủ nghĩa dân tộc ở Boston và anh cảm thấy thông cảm nhất đối với họ. “Hiệp ước sát nhập Nhật – Triều” vẫn có hiệu lực ở Triều Tiên. Người Triều Tiên đang trải qua những đau khổ cùng cực. Với mưu toan triệt tiêu văn hóa Triều Tiên, nhà cầm quyền Nhật Bản khi đó đã buộc các gia đình ở vùng lãnh thổ bị chiếm đóng này dùng tên họ Nhật Bản, ngôn ngữ Triều Tiên bị bài trừ khử một cách tàn nhẫn. Làn sóng kháng cự lan rộng dẫn đến phong trào chủ nghĩa dân tộc tháng 3/1919. Ba so sánh tình hình ở Triều Tiên với tình hình ở Đông Dương. Bài báo được đăng đầu tiên của anh về tình trạng này là “Indochine et Corée”, trên Le Populaire tháng 9/1919.

Từ Boston, Ba gửi bưu thiếp cho cụ Phan Chu Trinh, người đang sống lưu vong ở Paris. Ba cũng viết thư cho cha. Anh lo ngại sức khỏe của cha ngày càng kém đi. Khi Ba gặp lại một vị thuyền trưởng tại bến cảng New York, vị thuyền trưởng này đã đề nghị chuyển thư cho Ba, đến Khâm sứ ở Huế. Ba đã xin ông này cho lập một đường dây gửi tiền cho ngân hàng ở Đông Dương để gửi tiền cho cha. Ba không biết rằng chị gái mình đã bị bắt và cha anh không còn ở Huế. Cả hai hiện đang bị theo dõi vì tình nghi có những hoạt động bí mật chống lại chế độ thực dân Pháp.

Khách sạn Parker House ở Boston, nơi Văn Ba từng làm việc

Rất thích đọc sách, Ba đã dành nhiều thời gian tại phòng đọc của thư viện công cộng Boston gần khu phố Tàu Chinatown. Ba đọc về cuộc Cách mạnh Mỹ năm 1776 và ấn tượng sâu sắc với Tuyên ngôn độc lập của nước Mỹ. Khả năng tiếng Anh của Ba còn hạn chế, nhưng anh thông thạo tiếng Tàu và có thể hiểu các văn bản tiếng Anh với sự giúp đỡ của những người bạn Trung Quốc. Anh nghĩ người Mỹ đã tự giải phóng mình từ sự cai trị của Anh, vì vậy, sẽ thông cảm đối với người Việt Nam. Anh hy vọng Mỹ sẽ giúp Việt Nam trong cuộc chiến giành độc lập từ Pháp.

Văn Ba là người Việt Nam duy nhất ở Boston (khi đó). Anh hòa hợp với những người Trung Quốc, sống với họ và nói ngôn ngữ của họ. Anh cũng thích đến rạp chiếu phim với những người bạn Trung Quốc. Một số bộ phim câm mới được chiếu trong năm 1911 và 1912, một trong số này nói về cuộc Cách mạng Mỹ với tựa đề “Hand Across the Sea”.

Khách sạn Parker House được nâng cấp toàn diện vào những năm cuối thập niên 1920. Mặc dù thế hệ các nhân viên hiện nay không biết chi tiết về chàng thanh niên Văn Ba làm việc trong khu bếp của khách sạn gần một thế kỷ trước đây, nhưng họ cảm thấy tự hào là anh đã ở đây. Tất cả những khách thuê phòng ở đây cũng biết rằng Hồ Chí Minh đã là một phần trong lịch sử của khách sạn từ năm 1911 đến 1913.

Laura Lam

Theo dantri.com.vn
(Việt Hà dịch)
Phương Thúy (st)

bqllang.gov.vn

Một người bạn quốc tế thân thiết của Bác Hồ

Kỷ niệm lần thứ 135 ngày sinh Wilhelm Pieck:

Chủ tịch Wilhelm Pieck tại nhà riêng ở Berlin.

Có lẽ không nhiều người được biết: Hồ Chí Minh và Chủ tịch CHDC Đức Wilhelm Pieck, kể từ khi hoạt động chung ở Quốc tế cộng sản, đã là hai người bạn chiến đấu thân thiết của nhau. Chính tình bạn, tình anh em sâu sắc giữa Bác Hồ và lãnh tụ Wilhelm Pieck đã làm cho hai dân tộc Việt – Đức dù cách xa nhau hàng vạn dặm đã sớm hiểu biết nhau, đoàn kết gắn bó cùng nhau trong cuộc chiến đấu lâu dài vì lý tưởng chung.

Trong cuộc đời mình, ngay từ thuở thiếu thời, tôi luôn luôn nghĩ về Chủ tịch Wilhelm Pieck với niềm kính yêu và lòng biết ơn đặc biệt. Nói một cách khác: Chủ tịch là người có công lớn trong việc xây đắp tình hữu nghị đoàn kết giữa hai dân tộc Việt – Đức và trong quá trình ấy, người đã tạo một bước ngoặt quan trọng cho tuổi thơ tôi và nói cho cùng, cũng là cho cả đời tôi…

Nếu ông còn sống, năm nay ông bước vào tuổi 135. Nhưng Người đã vĩnh biệt cuộc đời này tháng 9/1960, đó là năm nhân dân lao động Đức chịu một cái tang lớn; cũng như năm 1969, khi Bác Hồ qua đời, dân tộc ta đã trải qua một tổn thất không gì bù đắp nổi. Có lẽ không nhiều người được biết: Hồ Chí Minh và Wilhelm Pieck, kể từ khi hoạt động chung ở Quốc tế cộng sản, đã là hai người bạn chiến đấu thân thiết của nhau. Sinh thời, Bác Hồ trìu mến gọi Wilhelm Pieck là “người anh yêu quý của tôi”.

Chính tình bạn, tình anh em sâu sắc giữa Bác Hồ và lãnh tụ Wilhelm Pieck đã làm cho hai dân tộc Việt – Đức dù cách xa nhau hàng vạn dặm đã sớm hiểu biết nhau, đoàn kết gắn bó cùng nhau trong cuộc chiến đấu lâu dài vì lý tưởng chung. Trải qua những năm tháng hoạt động sôi nổi đầy gian khổ, hai nhà cách mạng này đều trở thành chủ tịch đầu tiên của nhà nước công – nông. Cộng hòa Dân chủ Đức là một trong những nước đầu tiên công nhận nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Wilhelm Pieck, một phong trào đoàn kết ủng hộ Việt Nam đã được phát động và phát triển ngày càng sâu rộng từ những năm đầu nhân dân ta tiến hành cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Phong trào đó đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến cả những thanh niên Đức hồi đó đang cầm súng trong hàng ngũ lê dương của Pháp, họ đã chạy sang hàng ngũ những người yêu nước Việt Nam, không ít người trở thành cán bộ tin cậy của quân đội ta. Thực hiện chỉ thị của Chủ tịch Wilhelm Pieck, nhiều cán bộ y tế, văn hóa, báo chí của Cộng hòa Dân chủ Đức đã sang giúp đỡ Việt Nam ngay sau ngày toàn thắng ở Điện Biên Phủ.

Cũng chính thời điểm đó, Chủ tịch Wilhelm Pieck gửi thư cho Chủ tịch Hồ Chí Minh với nhã ý sẵn sàng đón nhận một số thanh niên và thiếu niên Việt Nam sang Đức học tập để sau này trở về góp phần xây dựng đất nước. Bản thân tôi đã may mắn được là một trong những thiếu niên đó, được đến Đức từ mùa thu năm 1955, khi nước Cộng hòa Dân chủ Đức chưa đầy 6 tuổi! Được học tập, được sống, rồi sau này lại công tác ở Đức, tôi và một số bạn tôi đã gần như suốt đời gắn bó với ngôn ngữ, văn hóa và khoa học, kỹ thuật của Đức. Rõ ràng là chuyến đi năm ấy đã tạo thành bước ngoặt lớn của cuộc đời chúng tôi. Cho nên từ trong sâu thẳm của lòng mình, chúng tôi vô cùng biết ơn Chủ tịch Wilhelm Pieck và nhân dân Đức.

Sang tới nước bạn, chúng tôi tiếp tục được Chủ tịch Wilhelm Pieck ân cần quan tâm, chăm sóc – thể hiện qua những bức thư trìu mến và những món quà quý mà ông gửi cho. Ông cho biết: Có dịp thuận lợi, ông sẽ đón chúng tôi về Berlin thăm ông, như đã từng đón các bạn học sinh Triều Tiên.

Nhưng đáng tiếc, từ năm 1956, sức khỏe của ông giảm sút nhiều, cho nên nguyện vọng đi thăm đã không được thực hiện. Có một vinh dự mà ông dành cho chúng tôi là đã cho phép liên đội thiếu niên tiền phong trong nhà trường được mang tên “Wilhelm Pieck”. Trong những bức thư mà Bác Hồ gửi cho thầy và trò chúng tôi cũng như khi ông đến thăm trường ở thị trấn Moritzburg, ông luôn căn dặn chúng tôi phải cố gắng học tập, tu dưỡng đạo đức để xứng đáng với công lao của Chủ tịch Wilhelm Pieck, của Đảng và nhân dân lao động Đức. Trong tâm tưởng và tình cảm của chúng tôi, hai vị lãnh tụ tối cao là hình ảnh song đôi vô cùng kính yêu và gần gũi.

Bác Hồ với Chủ tịch Wilhelm Pieck (người thứ nhất từ trái sang) và Thủ tướng Otto Grotewohl. Ảnh: W.Herbig

Và thật kỳ diệu, Wilhelm Pieck và Hồ Chí Minh – về mặt con người và đời sống riêng cũng có nhiều nét giống nhau: Hai vị đều mồ côi mẹ sớm, đều trải qua biết bao công việc nặng nhọc trong tuổi thanh xuân, đều yêu thích văn học – nghệ thuật và nhất là đều đầy lòng nhân hậu, đã được nhân dân nước mình sau này gọi là “Cha” với tất cả lòng thành kính.

Nghiên cứu, tìm hiểu mối quan hệ giữa hai vị Chủ tịch chính là góp phần nghiên cứu, tìm hiểu quan hệ hữu nghị đoàn kết lâu dài giữa hai dân tộc Việt Nam và Đức. Lý tưởng chung và những thắng lợi của hai Đảng, hai dân tộc càng làm cho mối quan hệ giữa hai vị lãnh tụ thêm gắn bó.

Năm 1949, từ núi rừng Việt Bắc, Bác Hồ đã gửi điện chúc mừng sự ra đời của nhà nước công – nông đầu tiên trên đất Đức. Từ đó, hằng năm, cứ đến dịp kỷ niệm quốc khánh và sinh nhật hoặc nhân một sự kiện trọng đại nào đó, hai vị lãnh tụ lại gửi điện mừng cho nhau. Một trong những bức thư đầy xúc động mà Chủ tịch Wilhelm Pieck đã gửi cho Bác Hồ là nhân dịp kỷ niệm lần thứ 70 ngày sinh của người. Bức thư có đoạn viết:

“Người bạn và người đồng chí thân yêu Hồ Chí Minh của tôi! Trong ngày vẻ vang hôm nay, những ý nghĩ của tôi đều hướng về đồng chí, nhà lãnh đạo trung thành, đầy hy sinh, bất khuất của tất cả những người lao động Việt Nam… Tôi vẫn lấy làm thích thú mỗi lần nhớ lại các cuộc tiếp xúc trước đây của chúng ta, những cuộc tiếp xúc bao giờ cũng được đánh dấu bằng tình hữu nghị sâu sắc của nhân dân hai nước chúng ta, bằng cuộc đấu tranh nhằm gìn giữ và củng cố hòa bình và bằng việc cải thiện sinh hoạt của nhân dân lao động hai nước chúng ta”.

Mùa hè năm 1957, Bác Hồ đã đi thăm hữu nghị chính thức các nước anh em, riêng ở Cộng hòa Dân chủ Đức là từ 25/7 đến 1/8. Ở thời điểm đó, Chủ tịch Wilhelm Pieck mệt nặng, nên Bác Hồ rất lo lắng cho sức khỏe của Chủ tịch. Cho nên, việc đầu tiên sau khi đặt chân tới Berlin là Người đến tận nhà riêng ở Pankow để thăm “người anh yêu quý” của mình.

Chúng tôi, qua đài truyền hình, đã xúc động theo dõi cuộc viếng thăm cảm động này. Trên phim ảnh, Chủ tịch trông đã yếu nhiều. Nhưng, được tin Bác Hồ đến, Chủ tịch rất vui, một niềm vui mà quả thật những người gần gũi ít thấy hiện lên trên gương mặt Chủ tịch trong những ngày ấy. Đó là một buổi chiều mùa hè, nắng rất đẹp. Trong khu vườn nhỏ cạnh nhà, cỏ lên xanh mướt. Chủ tịch Wilhelm Pieck mặc bộ lễ phục màu sáng, trên ngực gắn những cuống huân chương. Đó là biểu thị thầm kín của Chủ tịch trong những dịp thật trọng thể và đáng ghi nhớ.

Năm 1976, để viết bài cho Báo Nhân dân, nhân kỷ niệm lần thứ 100 Ngày sinh Chủ tịch Wilhelm Pieck, tôi đã đến thăm bà Elly – Winter Pieck, người con gái đầu lòng và cũng là thư ký riêng của Chủ tịch trong 15 năm cuối đời. Trong bầu không khí thân tình, bà đã kể tôi nghe về buổi chiều 25/7/1957 đáng ghi nhớ ấy:

“Bác Hồ xuất hiện ở cửa vườn và đi rất nhanh tới chỗ cha tôi. Cha tôi sung sướng đứng dậy, một tay chống gậy, một tay siết chặt bàn tay của người đồng chí rất thân yêu. Bác Hồ đưa tay phải ôm lấy cổ cha tôi và hai người ôm hôn nhau thân thiết. Bác Hồ hỏi cha tôi bằng tiếng Đức và gọi tên riêng một cách trìu mến:

– Wilhelm, sức khỏe của anh thế nào?

– Tôi không được khỏe lắm. Anh sang thăm đất nước chúng tôi, tiếc rằng tôi không thể đi cùng anh được.

Qua ánh mắt của Bác Hồ, những người có mặt đều thấy Người không được vui, vì có lẽ Người thấy cha tôi không được khỏe. Giọng của Bác Hồ đôi khi trầm hẳn xuống. Lúc này cha tôi đã 81 tuổi, 81 năm của một cuộc đời đầy những gian nan, vất vả.

Trong suốt buổi nói chuyện cùng nhau, hầu như lúc nào Bác Hồ cũng nắm lấy một bàn tay của cha tôi. Hai người nói chuyện với nhau bằng tiếng Đức, cũng có khi bằng tiếng Nga…

Tôi cũng xin nói thêm rằng, Bác Hồ không quên hỏi thăm từng người trong số anh chị em phục vụ chúng tôi. Biết tôi là con gái của bạn mình, Bác Hồ tỏ ra rất vui…”.

Dự buổi nói chuyện đó có Thủ tướng Chính phủ Otto Grotewohl, Bí thư Thứ nhất Trung ương Đảng Walter Ulbricht và một vài cán bộ cao cấp nữa. Cuộc gặp gỡ thân tình này chỉ kéo dài độ 30 phút và cũng không ngờ là cuộc gặp gỡ cuối cùng của hai vị lãnh tụ.

Tháng 9/1960, giữa lúc Đảng ta đang tiến hành Đại hội III, Bác Hồ được tin Chủ tịch Wilhelm Pieck qua đời. Người rất đau buồn, đã đến viếng Chủ tịch tại Đại sứ quán CHDC Đức ở Hà Nội và nhờ Giáo sư Kurt Hager, Trưởng đoàn đại biểu Đảng xã hội chủ nghĩa thống nhất Đức (SED) sang dự Đại hội Đảng ta, chuyển lời chia buồn sâu sắc tới toàn Đảng, toàn dân CHDC Đức và gia quyến Chủ tịch Wilhelm Pieck 

Trần Đương

cand.com.vn

Bác Hồ ở Mexico City

Bác tài xế taxi tuổi trạc 50, tóc xoăn đen nhức, khuôn mặt đặc chất Mexico thấy chúng tôi đã yên vị trong xe liền cất tiếng lễ phép “Các ông đi đâu?”. “Chúng tôi đến Vườn hoa Việt Nam”. Lập tức bác tài tươi nét mặt, nói như reo “Hồ Chí Minh! Việt Nam!” khiến tôi ngỡ ngàng.

Khoảng 20 phút, hòa vào dòng xe đang cuồn cuộn trên 16 làn đường của Đại lộ 20 tháng 11 (Ngày Cách mạng Mexico) – đại lộ sầm uất loại bậc nhất Mexico City dẫn đến Quảng trường Hiến pháp Zocalo, khi chỉ còn cách Zocalo vài ngã tư, trước mắt tôi hiện ra Vườn hoa Việt Nam. Và kìa, Bác Hồ ta đó!

Thật khó diễn tả nỗi xúc động dâng lên trong lòng tôi những phút đầu tiên được gặp Bác giữa Mexico City – thành phố đậm chất Mỹ La tinh trên độ cao 2.400 mét, quần tụ đến 22 triệu người, nườm nượp ngày đêm trên mặt đất 5 triệu xe ô tô con, 120 nghìn xe taxi, 80 nghìn xe buýt và dưới mặt đất 7 triệu người chui vào chui ra các toa tàu điện ngầm xuôi ngược hàng ngày từ 5 giờ sáng đến 12 giờ đêm.

Sở dĩ phải biên ra đây vài con số ấy để bạn đọc thấy rằng có một khoảng không gian yên bình bao trùm khuôn viên 1.500 mét vuông thuộc Trung tâm Lịch sử giữa lòng Mexico City gọi tên là Vườn hoa Việt Nam thì quả là quý hiếm đến nhường nào!

Cũng nói thêm với bạn đọc rằng Mexico City được mệnh danh là một thành phố tượng đài khổng lồ, đi bất cứ đâu đều bắt gặp tượng đài đủ kiểu, đủ dáng. Ngay trên Đại lộ Cải cách, 12 làn đường xe dài hơn 20 cây số vắt ngang thành phố, nơi có khách sạn tôi ở, mở mắt ra đã nhìn thấy tượng, cứ 100 mét là một pho tượng đứng hai bên đường.

Lại càng thấy quý chính quyền thủ đô đã cấp phép dựng tượng Bác Hồ ở Trung tâm Lịch sử hoành tráng nhất thủ đô (theo tôi biết thì các nhà quy hoạch và quản lý Mexico City đã chia thủ đô thành các Trung tâm Chính trị – Hành chính; Lịch sử; Văn hóa – Nghệ thuật; Giáo dục; Thương mại.v.v.. rất rõ ràng từ cách đây gần một thế kỷ rồi!).

Có 3 lối vào Vườn hoa Việt Nam. Lối vào chính liền kề Đại lộ 20 tháng 11, thấy sừng sững 6 cột đá trắng uy nghiêm mà thanh nhã đứng hai bên con đường nhỏ dẫn vào tượng Bác đang ngồi trên ghế mây, đọc báo.

Sau lưng Bác là một bức tường bằng đá hoa cương, hình vòng cung, cao gần 4 mét, gắn nổi dòng chữ (Tây Ban Nha) mạ vàng Không có gì quý hơn Độc lập Tự do. Và tràn ngập quanh Bác Hồ là cây xanh trùm bóng mát, là các loài hoa rực rỡ sắc màu.

Thật kinh ngạc, không biết bằng cách nào mà các bạn Mexico và các anh các chị ở Đại sứ quán tại Mexico trồng và chăm được những bụi tre xanh, tre ngà, khóm trúc rồi những cây bưởi, cây mít, rồi hoa lan, hoa râm bụt…

Anh Khắc Hòa, Bí thư thứ nhất Đại sứ quán Việt Nam tại Mexico là người rất tỏ tường việc làm Vườn hoa Việt Nam và dựng tượng Bác Hồ. Anh cho biết: “Chính những người bạn Mexico ở Viện Hữu nghị và Hợp tác Việt Nam – Mexico là những người đầu tiên có sáng kiến chọn bức ảnh Bác Hồ đọc báo trong Vườn Phủ Chủ tịch để dựng tượng Người trong Vườn hoa Việt Nam”.

Anh dẫn lời tâm sự của ông Virgilio Caballeezo, Giám đốc Viện: “Chủ tịch Hồ Chí Minh là một vĩ nhân, một nhà văn hóa kiệt xuất của nhân loại. Một trong những phẩm chất cao quý của Người là sự giản dị… Bằng sự giản dị của mình, Người đã nâng những người dân bình thường lên một tầm cao mới xứng đáng với vị trí là chủ thể xã hội. Vì vậy, chúng tôi muốn có một pho tượng Người gần gũi với đời thường ở giữa thủ đô Mexico. Và chính bức ảnh chụp Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc báo ở Vườn Phủ Chủ tịch đã thể hiện được điều đó”.

Anh Khắc Hòa cũng cho biết: “Người được chọn dựng tượng Bác Hồ đọc báo trong vườn Phủ Chủ tịch là Pedzo Remizes Ponzanilli, nghệ sĩ điêu khắc nổi danh xứ Mexico. Ponzanilli gốc Italia, sinh năm 1973 tại Mexico City, là hậu duệ của gia đình nghệ sĩ Ponzanilli danh tiếng, từng có nhiều người dựng tượng thánh cho nhà thờ Cazzaza ở Italia vào những năm 20 của thế kỷ trước, dựng tượng trên đại lộ La Reforma và Cung điện nghệ thuật ở thủ đô Mexico.

14 tuổi, Ponzanilli đã đoạt giải thưởng Hội họa quốc gia trong cuộc thi dành cho thiếu nhi cả nước. 35 tuổi, Ponzanilli đã sở hữu nhiều tác phẩm sáng giá, trong đó có tượng các danh nhân nổi tiếng Mỹ Latinh như Benito, Anh hùng dân tộc Mexico, José Macti – Anh hùng dân tộc Cuba, Tướng quân Emiliano Zapate – Nhà Cách mạng Mexico lừng danh…

Để có được tượng Bác Hồ ngồi trên ghế mây đọc báo, Ponzanilli đã dày công tìm hiểu về Bác Hồ qua hàng trăm trang sách viết về Bác, hàng trăm bức ảnh, từ Nguyễn Ái Quốc ở Đại hội Tua (Pháp), Tống Văn Sơ ở Hương Cảng đến Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, rồi hình ảnh Bác Hồ trong 9 năm kháng chiến chống Pháp, trong những ngày xây dựng CNXH ở miền Bắc chống Mỹ cứu nước giải phóng miền Nam cho đến tấm ảnh cuối cùng Bác Hồ giơ tay vẫy chào đồng bào…

Ponzanilli cũng dành thời gian công sức gặp gỡ các bạn Việt Nam để tìm hiểu thêm về Bác Hồ, đặc biệt là tấm ảnh chụp Bác ngồi đọc báo, quan tâm đến từng chi tiết rất nhỏ về bộ bàn ghế mây, hộp thuốc lá đặt trên thảm cỏ, tập tài liệu đặt trên bàn…

Ponzanilli đã gửi gắm vào tác phẩm sự ngưỡng mộ và kính trọng đối với Bác Hồ và cả tình yêu của mình dành cho Việt Nam… Ông bảo được dựng tượng Bác Hồ là một cơ may hiếm có không phải nghệ sĩ Mexico nào cũng gặp được trong đời!

Tiến sĩ khoa học Hồ Quang Minh, một viên chức ngoại giao sống ở Mexico liên tục 14 năm nay vốn là một kiến trúc sư được đào tạo và làm việc ở Cuba suốt 11 năm là người Việt duy nhất đã cùng 4 kiến trúc sư Mexico tham gia thiết kế Vườn hoa Việt Nam đã bảo tôi: Nghệ sĩ tài hoa Ponzanilli không chỉ chuyển thể một cách tài tình tấm ảnh lịch sử về Bác mà còn thể hiện được tư tưởng và nhân cách Hồ Chí Minh.

Ông đã dựng tượng Bác ngồi giữa lòng người dân chứ không phải ngồi trên bệ cao của quyền lực. Đã vậy, ông còn đặt thêm một chiếc ghế mây để trống ở bên Bác. Thế đấy! Bác luôn sẵn lòng tiếp đón khách quý từ vị nguyên thủ quốc gia đến người dân thường, từ cụ già đến cháu nhỏ.

Như để minh họa cho lời TSKH Hồ Quang Minh, tôi được tận mắt thấy hơn chục người dân Mexico đang đứng ngồi trong Vườn hoa Việt Nam, đang mải mê ngắm nhìn Bác Hồ. Và tôi đã “chụp” được cảnh một người đàn ông thoạt đầu còn rụt rè sau đó rất tự tin ngồi vào chiếc ghế mây để trống với vẻ mặt thành kính hướng tới Bác Hồ kính yêu.

Hỏi chuyện thì được biết đó là Rene Castro, 29 tuổi, sống và làm việc ngay ở Mexico City. Rene khoe đã nhiều lần đến Vườn hoa Việt Nam, có lần còn rủ cả bạn gái đến cùng.

Biết tôi là nhà báo vừa từ Việt Nam sang, Rene thổ lộ: Mặc dù sự hiểu biết về Chủ tịch Hồ Chí Minh, về Việt Nam còn ít ỏi, nhưng Rene rất khâm phục Việt Nam vì Việt Nam nhỏ bé mà đã đánh thắng Mỹ. Chủ tịch Hồ Chí Minh lại là lãnh tụ của nhân dân Việt Nam càng khiến anh khâm phục và kính trọng!

Lúc chia tay tôi, Rene Castro cứ trầm trồ mãi: Việt Nam có Bác Hồ, thật là hạnh phúc tuyệt vời!

Cảm ơn Rene đã nói hộ lòng tôi trong một sáng hanh hanh nắng vàng Mexico!

Mexico City – Ngõ Chùa 2010
Theo Tienphong.vn
Thúy Hằng (st)

bqllang.gov.vn

“Người con Nga” 40 năm đi tìm hiện vật về Bác Hồ

Ngài Gladunov, người đã 40 năm đi sưu tầm tài liệu về Chủ tịch Hồ Chí Minh, phát biểu tại buổi trao hiện vật về Bác

(Nguoiduatin.vn) – Chúng tôi tình cờ gặp ông Gladunov, Chủ tịch danh dự Hội Hữu nghị Nga – Việt trong buổi trao tặng hơn 100 hiện vật về Bác Hồ tại Bảo tàng Hồ Chí Minh. Người đàn ông năm nay đã hơn 80 tuổi, mái tóc bạc trắng khư khư ôm trên tay những bức ảnh, tài liệu về Bác.

Tâm sự với chúng tôi, ông Gla-du-nov cho biết: Ông đã từng bảy lần làm việc cùng Bác Hồ. Mặc dù đã cách những ngày tháng đặc biệt ấy gần nửa thế kỷ nhưng kí ức về Người vẫn còn theo ông mãi mãi.

Khóc khi lần đầu được gặp Bác Hồ

Trước mặt tôi là người đàn ông có dáng người to lớn, vạm vỡ, một người con của nước Nga nặng lòng với đất nước Việt Nam. Mặc dù đã ở cái tuổi “xưa nay hiếm” nhưng ông Gladunov vẫn còn minh mẫn đến lạ thường. Vì tình yêu, sự kính trọng với Bác, với nhân dân Việt Nam, từ nước Nga xa xôi, ông lặn lội đến đây để tận tay trao những kỷ vật của Hồ Chí Minh cho Bảo tàng Hồ Chí Minh lưu giữ.

Khi trao hơn 100 tài liệu về Bác cho lãnh đạo Bảo tàng, tay run run, giọng nghẹn ngào, ông Gladunov cho biết: “Tôi có vinh dự đặc biệt là đã nhiều lần được làm phiên dịch cho Hồ Chủ tịch và các vị lãnh đạo cấp cao khác của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Ngày ấy, tôi đảm trách cương vị là Vụ trưởng Vụ Đông Dương của Ban Đối ngoại Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô và từng có thời gian làm Tham tán tại Đại sứ quán Liên Xô tại Việt Nam. Tôi nhớ, lần đầu tiên được gặp Bác tôi đã khóc. Trước mặt tôi là Chủ tịch Hồ Chí Minh, một con người kiệt xuất, tôi không ngờ mình lại được gặp, phiên dịch cho một con người vĩ đại đến vậy”. Nói đến đây, giọng ông như lạc đi. Ánh mắt của vị phiên dịch viên này bỗng nhiên sáng rực. Tôi cảm tưởng, ông đang được trở lại những ngày hạnh phúc đó.

Ông Gladunov kể lại về những ngày tháng lặn lội đi tìm những hiện vật về Chủ tịch Hồ Chí Minh. Bằng chất giọng trầm ấm, ông cho biết, do đã có quá nhiều kỷ niệm với đất nước Việt Nam, nặng lòng với những tài năng và đức độ của Bác Hồ, về nước, ông đã quyết tâm đi tìm bằng được những tài liệu về Hồ Chủ tịch. Được biết, những tấm ảnh và những bài báo, hiện vật trong bộ sưu tập của ông được tiến hành thu thập trải dài theo năm tháng từ những năm 60 của thế kỷ 20.

Suốt 40 năm ròng, ông đi khắp nước Nga để tìm lại những tác phẩm, tài liệu, lưu dấu của con người tài ba đất Việt. Vẫn biết rằng, để tìm được những cuốn tài liệu này là việc rất khó, nhiều khi ông đã nản chí nhưng nghĩ về những ngày tháng được gặp, làm việc cùng với Bác khiến ông lại tăng thêm quyết tâm. 40 năm, hơn 100 tài liệu về Người đó là phần thưởng xứng đáng dành cho một người con Xô viết nặng lòng với đất Việt.

Được biết, để nhanh chóng có được những tư liệu quý giá trên, ông Gladunov đã viết rất nhiều bài báo về những kỷ niệm với Bác Hồ để tham gia cuộc vận động sáng tác, quảng bá các tác phẩm văn học, nghệ thuật, báo chí về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh và sưu tầm tư liệu, hiện vật về cuộc đời hoạt động cách mạng của Bác ở nước ngoài. Chính những bài báo này đã được anh Nguyễn Quốc Hùng, Đặc phái viên của Báo Đời sống và Pháp luật, thuộc Hội Luật gia Việt Nam tại Liên bang Nga dịch sang tiếng Việt và được đăng tải trên Báo Đất nước của Đại sứ quán Việt Nam tại Liên bang Nga cũng như đăng một phần trên chuyên trang Hồ sơ sự kiện của Tạp chí Cộng sản.

“Một nửa trong tôi là dòng máu Việt”

Anh Nguyễn Quốc Hùng, Đặc phái viên Báo Đời sống & Pháp luật tại Liên bang Nga.

Lần đầu sang Việt Nam, Gladunov là một cậu sinh viên chưa tốt nghiệp Đại học Ngoại giao Nga (Khoa tiếng Việt). Vì nhiệm vụ đất nước giao phó, chàng trai trẻ này đã lên đường sang Việt Nam. Mặc dù trước đó, anh chỉ biết đất nước, con người Việt Nam qua những trang báo. Năm 1962, Gla-du-nov sang đất nước hình chữ S làm việc tại Đại sứ quán Nga. Chính từ đây, sự nồng hậu của con người Việt đã khiến Gladunov cảm thấy như đang được sống tại quê nhà.

Sau khi sang Việt Nam không lâu, biết mình sẽ được phiên dịch cho Chủ tịch Hồ Chí Minh, chàng sinh viên mừng lắm, cả đêm chăm chú nhìn kim đồng hồ để đến sáng hôm sau được gặp vị lãnh tụ Việt Nam vĩ đại. Trước đó, anh chỉ biết đến Hồ Chủ tịch qua những “truyền thuyết” mà những thế hệ trước kể lại. Gần 40 năm trở lại đất nước này, trong ông vẫn giữ trọn những kỷ niệm. Ông vẫn nhắc lại hình ảnh chiếc áo dài, nón lá của những thiếu nữ Việt Nam. Những con phố thân quen mà ngày xưa ông thường đi lại.

Cầm trên tay những bức ảnh có chữ ký của Bác Hồ, Chủ tịch danh dự Hội Hữu nghị Nga – Việt xúc động cho biết: “Bộ sưu tập này thể hiện tình cảm sâu sắc không chỉ cá nhân tôi mà còn của những thế hệ nhân dân Liên bang Nga dành cho Bác Hồ vĩ đại cũng như dân tộc Việt Nam anh hùng. Tôi muốn trao bộ sưu tập này cho Bảo tàng Hồ Chí Minh để không phải chỉ có chúng tôi mà toàn thể nhân dân Việt Nam, cũng như những thế hệ thanh niên Việt Nam sau này có thể hiểu được và tự hào về những chặng đường lịch sử của dân tộc của họ. Để càng khâm phục và kính trọng Bác Hồ vĩ đại, tình hữu nghị lâu đời và thủy chung của hai dân tộc Nga-Việt”.

Lúc nhận tấm Giấy khen của Đảng uỷ Ngoài nước, khuôn mặt người mà tự nhận mình là “một nửa trong tôi là người Việt” này rạng rỡ. Đây là phần thưởng xứng đáng cho 40 năm miệt mài đi tìm “dấu chân” Bác. Anh Nguyễn Quốc Hùng cho chúng tôi biết: “Trong những năm trợ giúp ông Gladunov đi sưu tầm tài liệu về Chủ tịch Hồ Chí Minh, ông có tâm sự với tôi rằng, đây là những “báu vật” đã gắn bó với ông nửa cuộc đời.

Ông muốn tặng cho Bảo tàng Hồ Chí Minh lưu giữ để thế hệ trẻ Việt Nam hiểu thêm về những việc làm của Bác ở nước ngoài. Việt Nam là đất nước chuộng hoà bình, luôn sản sinh ra những nhân tài kiệt xuất. Thế hệ trẻ hãy phấn đấu học tập theo tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh”.

Văn Chương
Nguồn: Báo điện tử của Báo Đời sống và Pháp luật.
Phương Thúy (st).

bqllang.gov.vn

Gặp Người là kỷ niệm đẹp nhất đời tôi

Tướng G.Belov (giữa) ở tuổi 91. Ảnh: Nhat-nam.ru

TP – Vào những năm 1965 – 1967, Thiếu tướng Grigory Belov là Trưởng nhóm chuyên gia quân sự Liên Xô ở Việt Nam. Nhiều lần gặp gỡ Chủ tịch Hồ Chí Minh, ông lưu lại trong kí ức những tình cảm tốt đẹp về Người qua bài viết in trong cuốn sách “Người Nga nói về Hồ Chí Minh”, xuất bản ở Moskva năm 2010.

Trong đời người có những cuộc gặp gỡ trở thành sự kiện sâu sắc. Giữa những năm 1960, tôi có một số cuộc gặp gỡ không quên như vậy.

Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vào thời đó trải qua những năm tháng khó khăn trên bước đường trở thành quốc gia độc lập có chủ quyền ở Đông Nam Á.

Ngày 14-8-1964, tôi được gọi về Moskva theo lệnh của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Liên Xô, Nguyên soái Liên Xô Rodion Yakovlevich Malinovsky. Trong cuộc trao đổi mật ngắn gọn, Rodion Yakovlevich nói rằng, tôi – Thiếu tướng Belov Grigory Andreyevich được trao trọng trách của Chính phủ thực hiện nhiệm vụ ngoài lãnh thổ Liên Xô.

Ông nhấn mạnh: “Đồng chí được trao nhiệm vụ chỉ huy một đơn vị hạn chế của quân đội Xô Viết gửi đến Việt Nam để giúp đỡ họ trong cuộc chiến đấu chống sự xâm lược của Mỹ. Quyết định của Chính phủ về giúp đỡ Việt Nam đã được phê chuẩn; sau vài ngày đồng chí sẽ bay sang Hà Nội”.

Vậy là tôi đã ở Việt Nam với vai trò Trưởng nhóm chuyên gia quân sự Liên Xô (tên gọi chính thức của các nhân viên quân sự của Quân đội Liên Xô ở nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa).

Bắt đầu những công việc bận rộn để giúp các bạn Việt Nam xây dựng mặt trận phòng không ở các thành phố Hà Nội, Hải Phòng; huấn luyện các chiến sĩ phòng không và không quân của Quân đội nhân dân Việt Nam kỹ năng tác chiến ở các binh chủng pháo cao xạ – tên lửa chống máy bay Mỹ.
Những việc đó đã được viết cụ thể trong cuốn sách Chiến tranh ở Việt Nam. Điều đó đã xảy ra như thế nào (1965-1973)?, xuất bản ở Moskva năm 2005.

Là một người tham gia cuộc Chiến tranh Vệ quốc vĩ đại, tôi đã chứng kiến nhiều sự kiện quan trọng và lý thú, từng nhận những Huân chương – Huy chương từ tay các vị chỉ huy và lãnh đạo cao cấp của quân đội. Nhưng ở đây, tại Việt Nam, hơn lúc nào hết, tôi cảm thấy thật sự có trách nhiệm cao cả vì công việc được Tổ quốc giao phó.

Trong vai trò Trưởng nhóm chuyên gia quân sự, tôi thường phải giải quyết các vấn đề bảo đảm chiến đấu, đến gặp và trao đổi với lãnh đạo Bộ Tổng Tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam, ở cấp cao hơn nữa là gặp Thủ tướng nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và cả với chính Chủ tịch nước – đồng chí Hồ Chí Minh.

Các cựu chuyên gia quân sự Xô Viết tham dự kỷ niệm ngày 22-12 với sứ quán Việt Nam tại LB Nga.

Mùa xuân 1966, tôi nhận được lệnh của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Liên Xô trình bày cho lãnh đạo Quân đội nhân dân Việt Nam môn xạ kích từ các thiết bị phản lực di chuyển. Để hoàn thành nhiệm vụ cụ thể đó, một nhóm sĩ quan pháo binh do đại tá Azarov chỉ huy đã tới Việt Nam.
Từ bản báo cáo của ông, tôi được biết rõ rằng: Đã có ý định qua miền Bắc Việt Nam cung cấp cho các đơn vị của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam các thiết bị tên lửa cỡ nhỏ (Cachiusa thu nhỏ dã chiến) được lắp đặt trên giá ba chân. Sau khi thống nhất các vấn đề liên quan tới việc trình diễn xạ kích, tôi cùng Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam – tướng Trần Sâm, chuẩn bị việc bắn thử trên thao trường. Sau bảy ngày thì mọi việc chuẩn bị xong.

Đúng giờ, các vị lãnh đạo Bộ Quốc phòng Việt Nam đã tới. Tôi báo cáo với Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Đại tướng Võ Nguyên Giáp về việc đã sẵn sàng bắn theo mục tiêu trong một địa điểm hình vuông đã định. Ở đó được lắp đặt hào giao thông, công sự, hầm tránh, mô hình máy bay lên thẳng, xe vận tải, xe thiết giáp, công sự bê tông cốt thép nhẹ. Cự ly bắn là 8 km.

Bộ trưởng Quốc phòng nói với tôi: “Chúng ta hãy đợi thêm tí chút nhé”. Sau 15 phút, một chiếc ô tô con hiệu Pobeda đến địa điểm, Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Hồ Chí Minh từ xe bước ra. Sau khi tôi báo cáo về việc chuẩn bị bắn và trình bày thực chất của việc bắn này, đồng chí Hồ Chí Minh yêu cầu được xem các thiết bị phản lực “Cachiusa”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh tiến lại gần tôi và nói: “Đồng chí Belov, xin cảm ơn vì tất cả. Đề nghị đồng chí chuyển tới lãnh đạo của Bộ Quốc phòng Liên Xô lời cảm ơn của chúng tôi và lòng mong muốn được bố trí ngay các thiết bị này cho anh em chúng tôi ở Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam – Việt Nam”.

Tôi chăm chú lắng nghe và quan sát, cách nói của đồng chí Hồ Chí Minh. Lời đối thoại đơn giản, quần áo khiêm tốn giản dị, không một chút vội vàng, không có gì thừa trong vẻ ngoài của vị lãnh tụ của nhân dân Việt Nam – đó là những gì đã gây ấn tượng mạnh hơn cả với tôi trong những giây phút tôi đứng gần Người.

Ngay cả cái bắt tay của Người cũng thật ấm áp, chân tình và thiện chí. Rồi sau đó, tại khách sạn, khi trao đổi ý kiến với các chuyên gia Liên Xô khác (mà họ cũng ghi nhớ về Người như vậy), tôi hiểu rằng vì sao nhân dân Việt Nam vừa kính trọng vừa yêu quý Hồ Chí Minh đến thế.

Cũng với hình ảnh ấy, chúng tôi nhiều lần thấy đồng chí Hồ Chí Minh gặp gỡ các chiến sĩ và cán bộ của Quân đội nhân dân Việt Nam tại các trận địa khói lửa, gặp gỡ các chuyên gia quân sự Xô Viết ở tiểu đoàn pháo cao xạ – tên lửa của thiếu tá Prôxcurnhin.

Nhiều lần có mặt tại các lễ kỷ niệm, ngày hội của nhân dân Việt Nam, tại các buổi tiếp khách quan trọng, các hoạt động do Chính phủ và Chủ tịch tổ chức – nơi đồng chí Hồ Chí Minh có mặt, tôi luôn luôn nhìn thấy ở Người hình ảnh của một nhà hoạt động chính trị và nhà nước kiệt xuất, con người giải quyết những nhiệm vụ lớn lao tầm cỡ quốc gia, đồng thời lại là một con người rất giản dị và gần gũi – một CON NGƯỜI viết hoa.

Tôi đã được gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh tất cả bảy lần. Một lần tôi còn được mời ăn tối tại nhà của Người.

Bữa tối diễn ra trong ngôi nhà gỗ ở sân của Phủ Chủ tịch. Chúng tôi cùng Chủ tịch trò chuyện với nhau bằng tiếng Nga. Đồng chí Hồ Chí Minh nhớ lại những lần gặp đầu tiên của mình với những người dân Xô Viết vào năm 1923, khi Người làm việc ở Quốc tế Cộng sản. Tìm hiểu cuộc sống ở Liên Xô, Người nhìn thấy ở đây tương lai của Tổ quốc mình dù lúc đó còn nằm dưới ách thống trị của thực dân Pháp.

Đồng chí Hồ Chí Minh đã quan tâm từng chi tiết đến gia đình tôi. Bữa tối kéo dài gần hai tiếng đồng hồ, nhưng tôi thấy như thời gian trôi chỉ một thoáng qua.

Qua nhiều năm tháng, tôi khó nhớ lại tất cả cuộc trò chuyện thoải mái giữa hai chúng tôi. Nhưng còn đọng lại rõ ràng trong kí ức tôi điều quan trọng nhất. Đó là tình cảm và lòng biết ơn khi Người nói về Liên Xô, về nhân dân Xô Viết, về chiến thắng vĩ đại của nhân dân Liên Xô trước quân phát xít Đức xâm lược. Nhân dân Nga, Người nói, là một dân tộc vĩ đại. Dân tộc đó vốn có tình cảm anh em và sự giúp đỡ các dân tộc khác.

“Và ngày hôm nay, chúng tôi, những người Việt Nam – Người nói – luôn cảm thấy bên mình tình cảm giúp đỡ anh em đó. Kinh nghiệm vô giá của các chiến sĩ tiền tuyến của cuộc Chiến tranh Vệ quốc vĩ đại luôn được chúng tôi giữ gìn, vận dụng cho các chiến sĩ của Quân đội nhân dân Việt Nam. Nhân dân Việt Nam biết đánh giá những việc làm tốt, và chúng tôi luôn ghi nhớ những gì Liên Xô đã làm cho nhân dân Việt Nam”.

Sau khi tôi kết thúc kỳ hạn nghĩa vụ quốc tế ở Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh tặng tôi phần thưởng cao quý của Việt Nam – Huân chương Lao động hạng Nhất và khẩu súng lục có khắc chữ “Smit-vesson”.

Tôi lại rất cảm động vì những lời của đồng chí Hồ Chí Minh nói theo một duyên cớ khác: “Đồng chí Belov, tôi muốn được cảm ơn vợ của đồng chí. Chị ấy đã đợi đồng chí hai năm đằng đẵng khi đồng chí làm việc với chúng tôi ở Việt Nam. Hãy chuyển lời cảm ơn của tôi và để thể hiện lòng tri ân và kính trọng, tôi xin tặng chị ấy một bộ nữ trang bằng bạc có nạm ngọc lam”.

…Hồ Chí Minh không còn nữa, nhưng hôm nay Người vẫn hiện lên trước mắt tôi như tôi đã thấy Người hơn bốn mươi năm về trước.

Con người ở lứa tuổi tôi (91 tuổi) thường hay nhớ lại thời gian mình đã sống. Những sự kiện ở Việt Nam, nơi tôi góp một phần nhỏ công sức, luôn đọng mãi trong tâm trí tôi. Những cuộc gặp riêng với lãnh tụ của Việt Nam – Chủ tịch Hồ Chí Minh là trang tươi sáng và đẹp nhất đời tôi.

(Dịch từ nguyên bản tiếng Nga của Grigory belov)
* Do khuôn khổ trang báo, Tòa soạn có lược bớt một số đoạn và đổi tít của hồi ức (Tiền Phong)

Theo Tiến Cường (tienphong.vn)
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn