Thư viện

Hồ Chí Minh trong hồi ức đẹp của nhà báo Pháp

Chủ tịch Hồ Chí Minh và Léo Figuèrre (Ảnh tư liệu - Nguồn ảnh: VTV4)

Bộ phim tài liệu Hồ Chí Minh – Ước vọng hòa bình (thời lượng 47 phút 50 giây) do bà Dominique de Miscault, một nhà báo, họa sỹ, nhiếp ảnh đồng thời là một nhà hoạt động xã hội thuộc dòng dõi quý tộc Pháp sản xuất vừa được bà đích thân trao tặng cho kênh Truyền hình Đối ngoại VTV4 của Đài Truyền hình Việt Nam.

Dành trọn vẹn một năm để tổ chức sản xuất sau khi đã có một thời gian dài dụng công nghiên cứu và tích lũy vốn hiểu biết về con người vĩ đại Hồ Chủ tịch, nay “đứa con tinh thần” được nuôi dưỡng bằng tất cả niềm say mê, tâm huyết và sự nghiệp của Dominique đã được bà trao về với quê mẹ.

Gian nan một chặng đường…

Bà Dominique cho biết, bộ phim tài liệu này có nội dung dựa theo cuốn sách Je reviens au Vietnam libre (Tôi trở lại đất nước Việt Nam tự do) cùng những ghi chép về chuyến đi trên 20.000km để đến Việt Bắc trong chiến tranh và những cảm nhận của cố nhà báo Léo Figuèrre – nguyên Ủy viên Trung ương Đảng Cộng sản Pháp, Phó Chủ tịch Liên đoàn Thanh niên dân chủ thế giới, Tổng biên tập báo Tiền Phong Pháp đã vừa mất hồi tháng 8/2011 về Chủ tịch Hồ Chí Minh tại chiến khu Việt Bắc năm 1950.

Bộ phim đã tập trung khắc hoạ sự tài tình trong lãnh đạo, tinh tế trong văn hóa ứng xử và tinh thần yêu chuộng hòa bình, lòng yêu thương con người của Bác.

Hình ảnh ông Léo Figuèrre những năm cuối đời và bà Dominique – Nguồn ảnh: VTV4

Bộ phim được tổ chức theo hình thức phỏng vấn, lồng ghép những cảnh chiến khu Việt Bắc trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp nhằm thể hiện những ấn tượng tốt đẹp cũng như những suy nghĩ, trải nghiệm của ông Léo Figuèrre về đất nước, con người Việt Nam ngày nay yêu chuộng tự do và độc lập.

Với thời lượng chưa đầy 50 phút, bộ phim đã thể hiện được những giá trị tình cảm lớn lao và khát vọng hòa bình của Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng như những tiên đoán tài tình của Người trong quá trình lãnh đạo cuộc kháng chiến và tình cảm yêu mến, kính trọng của bạn bè quốc tế nói chung và nhân dân Pháp nói riêng đối với vị Cha già của dân tộc Việt Nam.

Một năm làm phim cũng làm quãng thời gian đầy những gian khó. Bà Dominique đã phải tiến hành thu thập tư liệu hình ảnh về Bác Hồ và Việt Nam tại Trung tâm lưu trữ vùng Aix Provence, Sucy, Montmorency, Paris và một số địa điểm khác ở Pháp.

Ngoài ra, bà còn gặp gỡ và tác động nhà báo Léo Figuèrre để ông đồng ý tham gia làm phim và trả lời phỏng vấn, sau đó phối hợp với phóng viên Hãng Truyền hình Arte của Pháp và tiến hành quay phim tại Pari và nhiều địa phương khác.

Một cảnh trong phim – Nguồn ảnh: VTV4

Và đương nhiên, để xây dựng được một tác phẩm trọn vẹn, bà Dominique cũng đã phối hợp với các cơ quan hữu quan Việt Nam tiến hành thu thập và thẩm định các thông tin, tài liệu, cứ liệu về Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Việt Nam.

… Nghệ sĩ làm phim tài liệu chính trị, lịch sử

Nhà làm phim chuyên nghiệp cũng không dễ dàng nếu muốn sản xuất phim tài liệu, chưa nói đó lại là một bộ phim chính trị, lịch sử. Trong khi Dominique de Miscault lại là một nghệ sĩ vốn chỉ quen cầm cọ vẽ, bút viết, chụp ảnh, quen ghi lại cuộc sống bằng tâm hồn lãng mạn với những gam màu đậm tính thẩm mỹ về cái đẹp chưa chưa làm phim bao giờ.

Có lẽ phải bằng một tình yêu mãnh liệt với Hồ Chí Minh Dominique mới có đủ can đảm và niềm tin để xây dựng nên một Hồ Chí Minh – Ước vọng hòa bình dung dị và giàu cảm xúc đến thế.

“Thật khó khăn với tôi bởi tôi là một nghệ sĩ nên đối tượng tôi hướng tới và thường thích là những gì mang vẻ đẹp thẩm mỹ, còn đây lại là danh nhân chính trị, lịch sử. Nhưng dù vậy tôi vẫn muốn cố gắng mang đến một cách nhìn hết sức nhân văn và đậm tính thẩm mỹ về nhân vật Hồ Chí Minh. Vì với tôi, Chủ tịch Hồ Chí Minh trước hết là một Con Người,” bà Dominique nói.

Bà Dominique cũng cho biết thêm, bộ phim này được làm dựa trên sáng kiến của người bạn Việt Nam. Người bạn này đã “thắp lửa” cho tình yêu Hồ Chí Minh của bà. Khi thực sự bắt tay vào làm mới thấy nhiều khó khăn chồng chất do“độ vênh về văn hóa giữa Việt Nam và Pháp.”

Một cảnh trong phim – Nguồn ảnh: VTV4

Rồi yếu tố tài chính khó khăn đôi khi cũng khiến Dominique mệt mỏi. Bởi phim đã được khởi động trong 10 năm trời trước khi chính thức sản xuất trong vòng một năm, từ tháng 10/2010 và vừa mới hoàn thành tháng 10/2011.

“Nhưng điều quan trọng là chúng ta đã được làm cùng nhau,” bà Dominique khẳng định.

Tiếp nhận Hồ Chí Minh – Ước vọng hòa bình, Trưởng ban Truyền hình Đối ngoại, kênh Truyền hình VTV4 Bạch Ngọc Chiến cho biết, phim chưa trình chiếu ở đâu và sẽ được Ban biên tập VTV4 phát sóng vào thời điểm phù hợp như dịp Quốc khánh 2/9, sinh nhật Bác hay dịp Tết…

“Có thể chúng tôi sẽ sử dụng bản tiếng Pháp với phụ đề tiếng Việt hoặc lồng tiếng Việt,” ông Chiến nói.

VTV4 là đơn vị truyền hình đầu tiên tiếp nhận bản quyền phát sóng bộ phim này. Đây cũng chính là cơ hội giúp khán giả cả nước tìm hiểu xem cách nhìn nhận, đánh giá của người nước ngoài về vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam anh hùng./.

ChiLê (Vietnam+)

vietnamplus.vn

Báo chí thế giới viết về Chủ tịch Hồ Chí Minh

Bao chi the gioi viet ve Chu tich Ho Chi Minh

Bức ảnh "Bác Hồ với cháu Minh Thu" được nghệ sĩ nhiếp ảnh Võ Năng An chụp trước ngày Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ hai ở Việt Bắc.

“Việt Nam có thể có những bước thăng trầm, nhưng ký ức về vị lãnh tụ cộng sản được sinh ra cách đây 122 năm sẽ tồn tại mãi mãi”, phóng viên Denis Gray của hãng tin AP khẳng định.

Không riêng Gray, nhiều phóng viên nước ngoài khác cũng cảm nhận rất rõ tình cảm của người dân Việt Nam dành cho vị lãnh tụ của dân tộc, và đã viết về Hồ Chủ tịch với sự kính phục.

Trong bài viết “Hồ Chí Minh – Chiến thắng một tầm nhìn” trên tạp chí In Asien của Đức, tác giả Dierk Szekielda nói rằng sự ngưỡng mộ của ông với Chủ tịch Hồ Chí Minh và với nhân dân Việt Nam đầy sức sống đã thôi thúc ông viết bài báo này. Ông ca ngợi Chủ tịch Hồ Chí Minh là một nhà yêu nước và là người soi sáng con đường đấu tranh cách mạng của nhân dân Việt Nam, một người có phẩm chất phi thường.

Nhà báo Canađa George Fogarasi kể lại trong bài “Con phượng Hoàng của Bác Hồ đứng dậy từ tro tàn của cuộc chiến tranh” trên tờ The Straits Times của Singapore: “Tôi hỏi một người đạp xích lô về Bác Hồ, người này đã có thời kỳ đi học tập cải tạo vì từng đứng trong hàng ngũ của chế độ Sài Gòn cũ. Nhưng anh vẫn kính trọng đạo đức của Bác Hồ, và gọi bác là một người Việt Nam chân chính”.

Trên tờ Time (Mỹ), nhà báo, tác giả cuốn “Việt Nam – Một lịch sử” Stanley Karnow đã viết về Chủ tịch Hồ Chí Minh như sau: “Một thân hình gầy gò, chòm râu dài, chiếc áo khoác cũ và đôi dép cao su đã mòn, Hồ Chí Minh đã tạo ra một hình ảnh Bác Hồ hiền lành giản dị. Nhưng người là nhà cách mạng dày dạn kinh nghiệm và một nhà dân tộc chủ nghĩa nồng nhiệt, suốt đời đấu tranh cho một mục đích duy nhất: mang lại độc lập tự do cho dân tộc mình. Không có sự dao động trong niềm tin của Hồ Chí Minh, không thể lay chuyển ý chí của Người, ngay cả khi cuộc chiến tranh của Mỹ leo thang, tàn phá đất nước, người vẫn giữ niềm tin đối với nền độc lập của Việt Nam. Dưới con mắt phương Tây, điều dường như không thể tưởng tượng được là Hồ Chí Minh có thể cống hiến sự hy sinh to lớn như ông đã làm”. Và Time đã bình chọn Bác Hồ là một trong 100 nhân vật có ảnh hưởng lớn nhất trong thế kỷ XX.

Xã luận trên tuần báo Bằng chứng Thiên Chúa giáo viết “Cụ Hồ Chí Minh là một trong những chiến sĩ đầu tiên của thế giới thứ 3, của các dân tộc nghèo đói và khát khao cuộc sống cho ra con người”.

Tờ Manila Times thì viết: “Cụ Hồ là là một biểu tượng của châu Á. Không những cụ đã thành công trong sự lãnh đạo một cách mẫu mực, toàn tâm, toàn ý phục vụ quyền lợi của nhân dân mà còn nêu một chân lý chưa từng thấy: Một dân tộc dù nhỏ bé nếu có quyết tâm thì có thể chống lại cả những cường quốc quân sự mạnh nhất”.

Tờ Tiến lên của Xri Lanca nhận định: “Người (Hồ Chủ Tịch) đã làm nên lịch sử hiện đại, là một trong những nhân vật cao quý nhất, đáng kính nhất của thời đại chúng ta. Sự lãnh đạo lâu dài và vẻ vang của người trong cuộc đấu tranh giành tự do ở Việt Nam có ảnh hưởng không chỉ đối với Việt Nam mà còn ảnh hưởng với quá trình phát triển các sự kiện toàn thế giới”.

Theo TTXVN

vietbao.vn

Cuốn sách: Vừa đi đường vừa kể chuyện

LADY BORTON

Vừa đi đường vừa kể chuyện của T. Lan là một cuốn tự truyện được Hồ Chí Minh – người sáng lập ra Nhà nước Việt Nam hiện đại, viết. Quyển tiểu sử Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, xuất bản năm 1948 với bút danh Trần Dân Tiên. Trần Dân Tiên không phải là Hồ Chí Minh. Hồ Chí Minh chưa bao giờ dùng bút danh Trần Dân Tiên.

Trong quyển Vừa đi đường vừa kể chuyện, Hồ Chí Minh đã kể lại rất rõ những câu chuyện trong hành trình vất vả của mình nhằm thực hiện Chiến dịch giải phóng Biên giới Việt-Trung vào tháng 9/1950, trong cuộc Kháng chiến chống thực dân Pháp của Việt Nam (1945-1954). Hồ Chủ tịch đã lấy bút danh T. Lan, một cán bộ tháp tùng Chủ tịch, và kể lại những câu chuyện về Hồ Chí Minh. Hồ Chủ tịch xuất hiện trong quyển sách như một người “Bác”, danh xưng mà người Việt Nam lần đầu tiên đã dùng thay cho tên gọi Hồ Chí Minh kể từ năm 1945 và đến nay vẫn còn sử dụng.

Hồ Chí Minh viết Vừa đi đường vừa kể chuyện cho những cán bộ và những người Việt Nam bình thường. Lối viết của Người rất giản dị, dễ hiểu. Ở đây, T. Lan đã nêu ra cho các cán bộ thấy được tấm gương về cách lãnh đạo của Hồ Chí Minh. Chúng ta thấy cảnh Hồ Chủ tịch đã vào cửa sau của các trại quân đội để kiểm tra bếp núc và các nhà vệ sinh.


Bìa cuốn sách Vừa đi đường vừa kể chuyện.

Chúng ta cũng thấy được Người đã đi thăm các gia đình và nói chuyện với các tù binh chiến tranh người Pháp. Chúng ta thấy được những tấm gương của Người về cách tiến hành “cuộc huy động thực hành” giữa quần chúng nhân dân. Chúng ta còn thấy được lời chỉ dạy của Người về việc giữ bí mật cách mạng cũng như những lời khuyên trong trường hợp bị bắt giữ.

T. Lan đã trình bày rất chi tiết những mẩu chuyện về cuộc hành trình của Hồ Chí Minh là một nhà hoạt động cách mạng Việt Nam trong bối cảnh của phong trào cách mạng Việt Nam và phong trào cách mạng thế giới. Người cũng nêu ra phản kháng của nhân dân Liên Xô chống lại cuộc vây hãm Moskva của quân Đức trong Thế chiến thứ hai và cách người Trung Quốc tổ chức cuộc Cách mạng Trung Quốc năm 1949.

Ngoại trừ Lenin và Bành Phái (Peng Pai), Hồ Chí Minh chỉ đề cập lướt qua các nhà lãnh đạo Liên Xô và Trung Quốc. Thay vào đó, Người nhấn mạnh sự đóng góp của quần chúng nhân dân và tầm quan trọng của lòng yêu nước cũng như sự đoàn kết trong cuộc kháng chiến.


Chủ tịch Hồ Chí Minh ngồi làm việc ở phía trước túp lều,
nơi ông ở lại quan sát trong Chiến dịch Biên giới năm 1950.

Năm 1961, khi Hồ Chí Minh viết Vừa đi đường vừa kể chuyện, thì John F. Kenedy đã là Tổng thống Mỹ. Các cố vấn Mỹ đã can thiệp rất sâu vào Miền Nam Việt Nam. Hồ Chủ tịch lúc đó đã ngoài bảy mươi. Cuốn sách này ghi lại cuộc hành trình của Hồ Chủ tịch trước đó một thập kỷ và nhấn mạnh đến sự đóng góp của nhân dân vào Chiến dịch Biên giới, giúp Việt Nam đánh đuổi thực dân Pháp, giành được thắng lợi năm 1954.

Dù gì đi nữa, Vừa đi đường vừa kể chuyện là một nỗ lực nhằm kêu gọi từng người Việt Nam tham gia vào phong trào yêu nước thông qua mỗi đề tài của nó – đó là sự kiên trì và nhẫn nại của tập thể cũng như cá nhân nhằm giành được độc lập và thống nhất đất nước.


Bản thảo đầu tiên Bác Hồ viết tay trên một tờ bản tin.

T. Lan không miêu tả thời thơ ấu của Hồ Chủ tịch là con trai của một nhà Nho ở miền Trung Việt Nam, nhưng lại mô tả chuyến đi của Người từ khi là một phụ bếp trên chuyến tàu từ Sài Gòn đến Mác-xây (Marseille) (1911), những kinh nghiệm đầu tiên của Bác ở Pháp (1912), một năm ở Mỹ (1913), hay thời gian ở Anh (1914-1917).

Tác giả không miêu tả những hoạt động chính trị của Hồ Chủ tịch ở Pháp. (Vào năm 1919, Hồ Chí Minh đã gửi một bản yêu sách đến các vị lãnh đạo thế giới, tham dự Hội nghị Paris ở Véc-xây (Versailles); năm 1920, Người là một đồng sáng lập của Đảng Cộng sản Pháp).


Bác Hồ đánh máy bản thảo thứ hai và nhân viên văn phòng
đánh bản thảo thứ ba, Bác Hồ sửa chữa lại bằng tay.

Tuy nhiên, tác giả T. Lan cũng miêu tả việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1930 và tổ chức Việt Minh (Việt Nam Độc lập Đồng minh) năm 1941. Việt Minh mở rộng phong trào cách mạng bao gồm cả những nhà yêu nước khác mà họ không phải là đảng viên. Cuốn sách hoàn thành trước cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945 của Việt Nam và ngày khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay được gọi là nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.

Ấn bản này – là ấn bản bằng tiếng nước ngoài đầu tiên – giữ nguyên bản so với một loạt tờ báo đăng năm 1961 và bản in chính đầu tiên ấn hành năm 1963, khi Hồ Chí Minh còn sống. Ngoài ra, bản dịch cũng sử dụng các tên gọi theo cách viết chính tả hiện đại của Trung Quốc và Việt Nam. Bản in đầu tiên chỉ có một chú thích ở cuối trang được đánh dấu bằng số “1”, nhưng ở đây được chú thích là dấu “*”. Ghi chú cuối sách có bổ sung thêm thông tin.


Bút tích của Bác Hồ.

Bản dịch cũng tuân theo cách ngắt đoạn văn, dấu ngoặc đơn, dấu ngoặc kép, dấu chấm câu, chữ viết hoa, cũng như các từ, cụm từ, và các dòng thơ in nghiêng. Dấu ngoặc đơn được dùng để chỉ ra vài cụm từ giải thích thêm cho rõ nghĩa.

(Tháng 9 năm 2009)

TRUNG HIẾU 
(dịch từ bản tiếng Anh)

honvietquochoc.com.vn

Hồ Chí Minh – đại sứ của Việt Nam trên toàn cầu

Kỷ niệm 121 năm ngày sinh và 100 năm ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước (5-6-1911/5-6-2011)

QĐND – Năm 1990, vào dịp kỷ niệm 100 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, khi UNESCO – Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (LHQ) công bố nghị quyết biểu thị lòng tôn kính đối với một nhân vật vĩ đại đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp tự do độc lập, “anh hùng giải phóng dân tộc của Việt Nam… và “là một trong những lãnh tụ có ảnh hưởng nhiều nhất của các dân tộc ở thế kỷ XX”… thì những người nghiên cứu về Hồ Chí Minh đã tự thấy phải điều chỉnh tầm quan sát của mình để không chỉ thấy công lao của Người đối với dân tộc Việt Nam mà còn phải thấy “Người đã góp phần thay đổi diện mạo hành tinh chúng ta” (tuần báo Time-2000-Hoa Kỳ).

Do nhu cầu tạo ra một phương thức hành động mới để bảo vệ sự hòa hợp xã hội và gìn giữ hòa bình trong một thế giới mà sự phụ thuộc lẫn nhau ngày càng gia tăng trong mọi khía cạnh cuộc sống con người, Đại hội đồng LHQ đã chọn năm 2010 là năm “Thúc đẩy các nền văn hóa xích lại gần nhau” và chỉ định UNESCO là cơ quan tổ chức hoạt động này. Và người được UNESCO đánh giá có tầm ảnh hưởng lớn nhất đến thúc đẩy các nền văn hóa xích lại gần nhau chính là Hồ Chí Minh. Tối ngày 14-5-2010, Đại sứ quán Việt Nam tại Pháp, tổ chức Lễ kỷ niệm 120 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, ông Hans d’Orville, Phó tổng giám đốc UNESCO đọc bản tham luận ca ngợi công lao, sự nghiệp Hồ Chí Minh đã khẳng định “Hồ Chí Minh là người tiêu biểu cho tinh thần hòa giải giữa các nền văn hóa của LHQ… Cả cuộc hành trình trong cuộc đời đã khiến Hồ Chí Minh trở thành công dân của thế giới, đồng thời là đại sứ của Việt Nam trên khắp toàn cầu… Cuộc đời hoạt động chính trị của Người trước hết là nhằm đấu tranh cho quyền lợi con người và quyền của các dân tộc…”. Nhắc lại câu nói nổi tiếng: “Không có gì quý hơn độc lập tự do” của Hồ Chí Minh và lời tuyên bố: “Việc thống trị, áp bức và bóc lột các dân tộc thuộc địa chính là sự chối bỏ các quyền cơ bản của con người và đi ngược lại với Hiến chương của LHQ” , bản tham luận cho rằng, công lao to lớn của Hồ Chí Minh là đã “góp phần vào cuộc đấu tranh chung của các dân tộc trên thế giới vì hòa bình, độc lập, tự do, dân chủ và tiến bộ xã hội”.

Nguyễn Ái Quốc phát biểu tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 18 Đảng Xã hội Pháp, ủng hộ Luận cương của Lê-nin về vấn đề dân tộc và thuộc địa. Ảnh: TL.

Rời Tổ quốc qua nước Pháp để tìm đường cứu nước từ ngày 5-6-1911, Nguyễn Tất Thành không phải là một người mất nước đơn độc mà đã thực sự đại diện cho một khuynh hướng chính trị tiến bộ nhất trong phong trào đòi giải phóng của nhân dân thuộc địa – xây dựng trên một nền tảng văn hóa rất đa diện: Một nền nho học đủ tiếp nhận mọi giáo lý phương Đông; một vốn ngoại ngữ đủ sức giao tiếp với người Pháp; một khuynh hướng chính trị đã bỏ lại sau hàng loạt cuộc khởi nghĩa mang tính dân tộc của các bậc cha anh do mọi đẳng cấp cầm đầu, từ vua quan tới các sĩ phu yêu nước, thủ lĩnh nông dân, các trào lưu chính trị từ “bất bạo động” kiểu Phan Chu Trinh đến “Đông Du cầu viện” của Phan Bội Châu… (với Nguyễn Tất Thành, tất cả các trào lưu chính trị ấy tuy không thiếu lòng yêu nước và tinh thần dũng cảm, nhưng vẫn chưa hội đủ các yếu tố khả dĩ đương đầu với nền thống trị vừa tinh vi toàn diện vừa rất chuyên nghiệp của thực dân, đế quốc). Theo Người, muốn đánh bại kẻ thù, tất phải nắm trong tay một bí quyết gì lớn mạnh hơn chúng. Đó là cái Nguyễn Tất Thành đã tìm thấy từ Lê-nin.

Cuộc xuất trình “Bản yêu sách của nhân dân An Nam” trước hội nghị Véc-xây đối với Nguyễn Ái Quốc đã trở thành một cuộc trinh sát thực địa để thăm dò phản ứng của đối phương và sau khi biết rõ phải tiến hành một cuộc đấu tranh không khoan nhượng thì anh Nguyễn đã tiến hành một cách có hệ thống quá trình vừa sáng tạo lực lượng, vừa tiến công vạch mặt chúng từ nhiều hướng, nhất là thông qua những bài chính luận trên Báo Nhân đạo.

Được những tin tức về cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga cổ vũ, qua việc gia nhập đảng Xã hội Pháp vào năm 1919, anh Nguyễn đã tận dụng mọi diễn đàn và mọi mối quan hệ để tranh thủ làm rõ tình hình thuộc địa còn rất xa lạ với mọi người Pháp ở chính quốc; tham gia thành lập “Hội những người Việt Nam yêu nước” và chuẩn bị cẩn thận mọi tư liệu để biên soạn “Bản án chế độ thực dân Pháp”, chủ động tham gia “Ủy ban đấu tranh gia nhập Đệ tam quốc của Đảng Xã hội Pháp”, trở thành đảng viên sáng lập Đảng Cộng sản Pháp tại đại hội Tua ngày 30-12-1920, rồi chủ trì ra Báo Người cùng khổ vào tháng 4-1922, làm diễn đàn của cư dân thuộc địa ngay trên đất Pháp…

Nhân dịp đại biểu cánh tả của nông dân hơn 20 nước châu Âu và châu Á tới dự triển lãm nông nghiệp toàn Nga và tiến hành Đại hội Quốc tế Nông dân tại Mát-xcơ-va (tháng 10-1923), tại buổi họp thứ hai của Đại hội, anh Nguyễn thay mặt Đông Dương thuộc Pháp chỉ rõ “hai tầng áp bức” mà nông dân các thuộc địa phải chịu: Tầng thứ nhất với tư cách nông dân, tầng thứ hai với tư cách nông dân một nước thuộc địa và ra lời kêu gọi: “Quốc tế của các đồng chí chỉ thực sự trở thành Quốc tế khi mà không những nông dân phương Tây mà cả nông dân phương Đông, nhất là nông dân ở các nước thuộc địa là những người bị bóc lột và áp bức nhiều hơn các đồng chí đều tham gia Quốc tế”. Tại Đại hội này Nguyễn Ái Quốc thay mặt các nước châu Á được bầu vào Chủ tịch đoàn của Quốc tế Nông dân. Phóng viên Tạp chí Ngọn lửa nhỏ đã phỏng vấn Nguyễn Ái Quốc – với tư cách “thành viên Quốc tế Cộng sản đầu tiên người Đông Dương”. Và người phóng viên đã có nhận xét nổi tiếng trong bài phỏng vấn Người: “Dáng dấp của con người đang ngồi trước mặt tôi đây, Nguyễn Ái Quốc, cũng đang tỏa ra một cái gì thật lịch thiệp và tế nhị… Từ Nguyễn Ái Quốc tỏa ra một thứ văn hóa, không phải văn hóa Âu châu, mà có lẽ là một nền văn hóa tương lai”…

Cuộc trường chinh 30 năm của người thanh niên Nguyễn Tất Thành đi tìm đường cứu nước trải qua bao thăng trầm để đến khi trở về Tổ quốc đã “quá tuổi lên lão”. Nhưng đổi lại, con đường giải phóng dân tộc Việt Nam đã mở, tổ chức lãnh đạo đã thực sự hình thành, lực lượng từ trong nước và ngoài nước đang được động viên rộng rãi, người tìm đường đã thực sự trở thành lãnh tụ dẫn đường không chỉ được trong nước suy tôn mà nhiều nhà cách mạng thế giới đều biết tiếng…

Về đến Cao Bằng ngày 28-1-1941, Nguyễn Ái Quốc đã chỉ đạo cuộc chuyển hướng chiến lược từ cách mạng giai cấp sang giải phóng dân tộc, thành lập Việt Nam Độc lập Đồng minh, phát triển các đoàn thể cứu quốc, xây dựng các đội vũ trang cách mạng làm nhiệm vụ đội quân công tác… Cuối tháng 8-1942 tìm đường sang Trung Quốc bắt liên lạc với các lực lượng cách mạng, bị bắt và tới tháng 7-1944, Hồ Chí Minh đã kịp trở về uốn nắn cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn, phát triển căn cứ địa Việt Bắc thành khu giải phóng, xóa bỏ chính quyền cũ, xây dựng chính quyền dân chủ, thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, quyết định Tổng khởi nghĩa…

Với nhãn quan chiến lược của nhà cách mạng lão thành, có sự cộng tác của một Bộ tham mưu được đào tạo bài bản, cuộc Cách mạng Tháng Tám đã nổ ra vào lúc kẻ thù cũ (thực dân Pháp) đã bị phát xít hạ gục, kẻ thù mới (Nhật) bị bẻ gãy tới những lực lượng cuối cùng, sự diễn biến khởi nghĩa toàn dân đã đạt tới trình độ nghệ thuật so với các cuộc cách mạng trong thời hiện đại: Chính quyền cả nước trong 58 tỉnh đã giành được trong vòng 10 ngày (từ 19-8 tới 28-8) hầu như không gặp sự phản kháng nào đáng kể của các thế lực đối lập, trong khi quân Nhật ở Đông Dương vẫn còn hơn 10 vạn, chưa được lệnh hạ vũ khí.

Tính chất nhân dân của cuộc Tổng khởi nghĩa đã được nhà nghiên cứu Stein Tonnesson tường thuật tỉ mỉ trong một tác phẩm xuất bản năm 1991 tại Luân Đôn về “Cuộc cách mạng Việt Nam 1945” có đoạn viết: “Trong 58 tỉnh của Việt Nam, không dưới 28 tỉnh chủ yếu ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ, ở đây người dân nổi dậy đầu tiên trong phạm vi các làng, huyện rồi sau đó là thị xã, ở 7 tỉnh khác, cuộc nổi dậy bắt đầu từ thị xã rồi sau đó mới lan tới các làng, huyện” (1).

So với những cuộc cách mạng trong thời hiện đại ở thế giới, hiếm có cuộc cách mạng nào diễn ra thuận lợi, ít đổ máu như Cách mạng Tháng Tám. Ở đó, tiếng tăm về cuộc đời hoạt động của lãnh tụ đã có sức quy tụ lực lượng, cho đến nhà vua cũng sẵn sàng thoái vị. Cũng do sự chèo chống đầy kinh nghiệm của Hồ Chí Minh mà tất cả các âm mưu xâm lược và tái chiếm Việt Nam của mọi thế lực đế quốc, phản động đều lần lượt thất bại, hoặc bằng ngoại giao mềm dẻo, hoặc bằng kháng chiến kiên cường để nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đứng vững và phát triển.

Và cũng như lời khẳng định của Stein Tonnesson: “… Nước Việt Nam tuyên bố độc lập vào năm 1945 là giai đoạn đầu tiên mở đầu cho làn sóng xóa bỏ chế độ thuộc địa ở Á châu, tiếp theo là Phi châu” (2), do kích thích dây chuyền của Cách mạng Tháng Tám Việt Nam và In-đô-nê-xi-a (17-8), Nê-pan giành độc lập cuối 1945, Phi-líp-pin vào năm 1946, Mi-an-ma và Ấn Độ vào năm 1947, Triều Tiên, Xri Lan-ca vào năm 1948. Sau khi thực dân Pháp bị thất bại phải rút khỏi Việt Nam vào năm 1954 thì ở châu Á, Pa-ki-xtan giành độc lập năm 1956, Ma-lai-xi-a năm 1957. Ở châu Phi, An-giê-ri tuyên bố độc lập cuối năm 1954, kháng chiến chống Pháp thắng lợi năm 1962, Ma-rốc giành độc lập năm 1956, Tuy-ni-di 1957, Ghi-nê 1958, Gha-na 1959, các nước Ma-li, Ga-bông, Mô-ri-ta-ni, Xê-nê-gan, Ma-đa-ga-xca đều vào năm 1960, U-gan-đa 1962, Kê-ni-a 1963. Các nước còn lại lần lượt đứng dậy cho đến những năm 90 của thế kỷ XX chỉ còn 3 nước chậm nhất là Na-mi-bi-a (1990), Ê-ti-ô-pi-a (1991), Ê-ti-tơ-ri-a (1993).

Kỷ niệm 121 năm ngày sinh (19-5-1890/19-5-2011) và 100 năm ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước (5-6-1911/5-6-2011), chúng ta càng tự hào về sự đóng góp to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ với cách mạng Việt Nam mà cả với cách mạng thế giới vì sự bình đẳng và tiến bộ của con người.

———————————-

(1) Stein Tonnesson. Cuộc cách mạng Việt Nam 1945. Ru-dơ-ven, Hồ Chí Minh và Đờ Gôn trong thế giới có chiến tranh. Viện Nghiên cứu Hòa Bình Thế giới Oslo, NXB Sage Luân Đôn 1991, Bản dịch của Viện Lịch sử Đảng, tr 100.

(2) Sđd Tr 113-114.

Thiếu tướng, GS BÙI PHAN KỲ

qdnd.vn

Người giúp Việt Nam tìm lại niềm tự hào dân tộc

Kỷ niệm 40 ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh đi xa, Dominique Bari, phóng viên tờ L’Humanité (Nhân Đạo), cơ quan ngôn luận của Đảng Cộng sản Pháp, phỏng vấn sử gia Alain Ruscio, tác giả của nhiều tác phẩm và công trình nghiên cứu liên quan đến cuộc đời, sự nghiệp của Người.

– Ngày 2/9/1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh trút hơi thở cuối cùng. Ông có thể cho biết về vai trò lịch sử của Người đối với nền độc lập của Việt Nam?

– Hồ Chí Minh đã cống hiến cả cuộc đời cho cách mạng Việt Nam, Người tìm ra con đường đưa dân tộc Việt Nam thoát khỏi chế độ thực dân Pháp. Công lao của Hồ Chí Minh trong việc đưa Việt Nam thoát khỏi ách đô hộ của thực dân Pháp vẫn còn nguyên giá trị cho đến hôm nay và mai sau. Người là người cha của nền độc lập của Việt Nam, là người đã giúp dân tộc Việt Nam tìm lại niềm tự hào được là người Việt Nam.

Bác Hồ trong một chuyến đi công tác. (Ảnh tư liệu)

Chính vì những điều mà Người mang lại cho dân tộc Việt Nam mà người Việt Nam ngày nay vẫn vô cùng yêu mến vị lãnh tụ đáng kính mà họ thường gọi là Bác Hồ. Không dừng tại đó, hình ảnh Hồ Chí Minh đã vượt qua biên giới, lãnh thổ Việt Nam, đến nhiều quốc gia trên thế giới. Hồ Chí Minh là người đầu tiên chống lại chế độ thực dân và tuyên bố nền độc lập của Việt Nam vào ngày 2/9/1945. Điều này đã tạo nên một tiếng vang, một ý nghĩa to lớn đối với các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới. Hồ Chí Minh được ví ngang với các lãnh tụ kiệt xuất như Gandhi, Nehru,… và nhiều lãnh tụ giải phóng dân tộc khác.

– Ông suy nghĩ gì về tư tưởng Hồ Chí Minh?

– Hồ Chí Minh là một nhà tư tưởng, nhưng Người không bao giờ tỏ ý muốn công bố những tài liệu lý luận của mình. Người cũng chưa từng có ý định lý luận hóa những tư tưởng của mình. Người rất thực tế, không ngần ngại bàn đến tất cả các khía cạnh của cuộc sống, chẳng hạn như: trong những thời kỳ lương thực thiếu thốn, Người khuyên bảo dân không nên để đất hoang, kêu gọi cán bộ phải gần gũi với nhân dân và không thể là những “ông quan cách mạng”. Từ những khái niệm rất cụ thể, Người phát triển thành một tư tưởng lớn về mối quan hệ giữa đảng cầm quyền với quần chúng nhân dân.

– Hồ Chí Minh là người theo chủ nghĩa Lenin hay là người theo tư tưởng dân tộc?

– Hồ Chí Minh quan niệm chủ nghĩa Lenin là một lý luận dẫn đường sự nghiệp giải phóng dân tộc của Đảng.

Alain Ruscio là sử gia người Pháp. Ông là tác giả của hơn chục bộ sách nghiên cứu về lịch sử Việt Nam, là Giám đốc Trung tâm Thông tin tư liệu VN tại Pháp, và từng là phóng viên thường trú duy nhất của tờ L’Humanité tại Việt Nam, từ năm 1978 đến năm 1980.

Alain Ruscio rất ngưỡng mộ Chủ tịch Hồ Chí Minh và đã viết nhiều cuốn sách về Người. Từ nhiều năm nay, ông luôn gắn bó với đất nước, con người Việt Nam thông qua nghiên cứu lịch sử Việt Nam, cuộc đời và sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Ông đã có nhiều công trình nghiên cứu, tác phẩm viết về lịch sử Việt Nam và Hồ Chủ tịch, trong đó, có các tác phẩm đã xuất bản như “Hồ Chí Minh”, “Nguyễn Ái Quốc/Hồ Chí Minh”, “Sống ở Việt Nam”, “Việt Nam, lịch sử, trái đất, loài người”…

Hồ Chí Minh là một người thuộc hai đảng cộng sản trên thế giới – ĐCS Pháp và ĐCS Việt Nam. Năm 1930, Người đã thành lập một đảng hoạt động trong những điều kiện vô cùng khó khăn do Pháp đàn áp mạnh các lực lượng tiến bộ, chống lại chế độ thuộc địa. Hoạt động của Đảng tại thời điểm đó gần giống như một tổ chức quân sự. Đối với Người, Đảng phải có kỷ luật và đoàn kết. Trong thời kỳ đó, Người cũng thể hiện tinh thần bác ái với các phong trào chống thực dân trong nước.

– Vào năm 1954, Việt Nam giành độc lập nhưng đất nước bị chia cắt, vai trò của Hồ Chí Minh trong công cuộc thống nhất đất nước như thế nào?
– Năm 1954, người dân Việt Nam đau đớn vì đất nước bị chia cắt. Mỹ nhảy vào thay thế Pháp ở Đông Dương. Dưới sự lãnh đạo của Hồ Chí Minh, người Việt Nam hiểu rằng, nếu muốn thống nhất đất nước, họ buộc phải tiến hành vào một cuộc chiến đấu mới. Điều này dẫn tới sự ra đời của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam vào năm 1960 và thắng lợi năm 1975.

– Vai trò của Hồ Chí Minh trong cuộc chiến chống lại sự chiếm đóng của Mỹ là gì?

– Hồ Chí Minh vẫn mãi là một người của sự đoàn kết và hài hòa. Người luôn coi sự đoàn kết trong ĐCS Việt Nam và sự đoàn kết của phong trào cộng sản và công nhân thế giới là điều vô cùng quý báu. Lịch sử dân tộc Việt Nam đã chứng minh rằng, người Việt Nam không cho phép để xảy ra sự chia rẽ dân tộc.

Thời khắc quan trọng đã đến trong quan hệ giữa Việt Nam và phong trào cộng sản thế giới. Một đất nước đang có chiến tranh sẽ cần sự hỗ trợ từ nhiều phía. Sau chuyến thăm của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô Kosygin đến Hà Nội vào tháng 2/1965, Liên Xô nhận thức được quy mô, tầm quan trọng của cuộc kháng chiến ở Việt Nam khi Mỹ bắt đẩu rải chất độc da cam, bom napalm, bom bi xuống miền Nam. Liên Xô đã quyết định giúp đỡ Việt Nam trên quy mô lớn, thông qua việc cung cấp các loại vũ khí, tên lửa đất đối không và nhiều trang thiết bị quân sự hiện đại khác. Trung Quốc cũng viện trợ cho Việt Nam những loại vũ khí hạng nhẹ, hỗ trợ hậu cần, quân tư trang và lương thực.

– Tình hình Việt Nam sau khi Hồ Chí Minh qua đời như thế nào?

– Toàn thể dân tộc Việt Nam đứng sau vị lãnh tụ của họ. Người Việt Nam vừa trải qua cuộc tấn công Tết Mậu Thân 1968. Cuộc tấn công này có ý nghĩa chính trị to lớn đối với dư luận quốc tế. Việt Nam đã giành được thắng lợi về ngoại giao khi đưa vấn đề Việt Nam trở thành một vấn đề quốc tế. Dư luận công chúng Mỹ đã mất thăng bằng. Johnson đã không tham gia tranh cử nhiệm kỳ hai. Nước Mỹ đã hiểu rằng, họ không thể chiến thắng trong cuộc chiến tại Việt Nam.

Nguồn: Đất Việt (theo L’Humanité).

dalat.gov.vn

Cựu PV chiến tranh TASS viết về 3 lần gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh

Tiến Hội
“Chúng tôi đã nghe những hồi tưởng của Bác Hồ, chăm chú nhìn khuôn mặt bộc trực của Người. Xuyên qua cặp mắt kính lão, đôi mắt tinh anh, cho dù đã có phần mệt mỏi, của Người đang nhìn chúng tôi. Người ngồi đó đầu đội mũ lưỡi trai, cổ quàng khăn ấm (trời hôm ấy rất lạnh)”.

Sergei Afonin là cựu phóng viên chiến tranh của Thông tấn xã Liên Xô (TASS) tại Việt Nam. Ông đã công bố cuốn sách “Những năm tháng nóng bỏng” nói về những trải nghiệm của mình cùng với nhân dân Việt Nam trong những năm chiến tranh chống Mỹ.

Hiện nay cựu phóng viên chiến tranh của TASS đang sống cùng với vợ và đứa con trai út trong một căn hộ nhỏ ở ngoại ô phía Nam Moskva. Trong căn hộ của họ không có những đồ vật đắt tiền, nhưng nó lại rất giàu những vật kỷ niệm được đưa từ Việt Nam về: Hội họa sơn mài, những bức tranh đại chúng từ làng Đông Hồ, những hộp khảm xà cừ, những búp bê, những tấm bưu thiếp… Vợ ông, Ludmila Afonina không nói bằng tiếng Việt, nhưng cũng yêu Việt Nam với tình yêu nồng nhiệt như chồng bà. Những năm tháng tuổi trẻ hạnh phúc của họ đã diễn ra ở Hà Nội. Dưới đây là lời kể của ông về ba lần được gặp Bác Hồ.

***

Tôi vô cùng may mắn và hạnh phúc đã ba lần được gặp và được nói chuyện với Chủ tịch Hồ Chí Minh. Kỷ niệm về niềm hạnh phúc này tôi sẽ giữ mãi cho đến trọn đời.

Cuộc gặp gỡ đầu tiên

Đó là vào năm 1961, tôi đến thực tập tại Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội. Tôi là sinh viên làm luận văn tốt nghiệp và là người phiên dịch ngoài biên chế trong Đại sứ quán Liên Xô và cơ quan đại diện thương mại. Thỉnh thoảng Chủ tịch Hồ Chí Minh đi trên chiếc xe hơi “Chiến thắng” đến cơ quan đại diện thương mại của Liên Xô để xem những bộ phim Xôviết mới trong phòng chiếu phim đầy đủ tiện nghi. Vì Bác Hồ thông thạo tiếng Nga nên ở đó không cần phiên dịch.

Vào một trong những buổi chiều như thế, khi ở cửa ra của phòng chiếu phim, Bác Hồ đã trông thấy tôi, trong chốc lát Người dừng lại và hỏi tôi bằng tiếng Nga:

– Cháu nói được tiếng Việt không?

Quả thật, tôi đã đứng ngây người ra, chính vì đấy là lần đầu tiên tôi được trông thấy con người huyền thoại ấy gần đến như thế. Tôi vô cùng hồi hộp và xúc động, và sau giây lát im lặng, tôi đã trả lời:

– Dạ, cháu nói không được nhiều lắm ạ…

– Vậy cháu có thích ở đây không?

– Cháu rất thích, cháu yêu Việt Nam.

Hồ Chủ tịch mỉm cười và khi chia tay, Người đã nói bằng tiếng Việt:

– Này cháu, cháu cần phải học thật tốt tiếng Việt đấy nhé. Chúc cháu nhiều thành công…

Cuộc gặp gỡ thứ hai

Vào tháng 12/1964, trong thành phần của Đoàn đại biểu thanh niên Xôviết, tôi đã đến thăm Việt Nam. Dẫn đầu đoàn đại biểu là Bí thư Ban chấp hành Trung ương Đoàn thanh niên Cộng sản Lênin Iuri Torxuev, tôi là chuyên viên Ban quốc tế của Ban chấp hành Trung ương Đoàn. Trước ngày cuối cùng của cuộc đi thăm, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiếp chúng tôi. Người đã nồng nhiệt ôm hôn các vị khách, mời khách uống trà. Chủ tịch Hồ Chí Minh rất khỏe mạnh và tràn đầy nghị lực. Người hơi gầy, đôi mắt hiền từ tinh anh, chòm râu bạc, giọng nói dịu dàng, bộ quần áo giản dị, đôi dép xăng-đan…

Bác Hồ tiếp lãnh đạo Đoàn TNCS Lênin tại Việt Nam (tháng 12/1964).

Chủ tịch hỏi chúng tôi đã có những ấn tượng gì về cuộc đi thăm. Tôi đã dịch những lời phát biểu trả lời của đồng chí Trưởng đoàn đại biểu ra tiếng Việt, đương nhiên tôi nhớ đến lời khuyên của Hồ Chủ tịch đã dành cho tôi ba năm trước trong lần gặp đầu tiên. Sau đó Bác Hồ đã kể cho chúng tôi nghe về những năm tháng Người đã sống ở Liên Xô. Người đã hết sức khâm phục nghị lực và chí hướng vươn tới mục tiêu, mà nhờ đó nhân dân Xôviết đã dốc lòng xây dựng một xã hội mới trong những năm hai mươi và ba mươi. Về tình hình ở Việt Nam, nơi những tên xâm lược Mỹ đã gây chiến tranh ở miền Nam và bắt đầu ném bom miền Bắc, Chủ tịch đã nói ngắn gọn: “Một khi chúng đã xâm phạm đến đất nước chúng tôi, nhân dân chúng tôi nhất định sẽ đánh đuổi được kẻ thù”. Trong đó Người nhấn mạnh đến vai trò quan trọng của tình đoàn kết quốc tế với sự nghiệp chính nghĩa của Việt Nam. Trong thời kỳ đó, trong phong trào Cộng sản quốc tế đã có những sự bất đồng nghiêm trọng, và Hồ Chí Minh đã không đề cập đến chủ đề ấy. Đơn giản Người chỉ nhấn mạnh niềm tin của mình vào quê hương của Cách Mạng Tháng Mười.

Cuộc gặp gỡ thứ ba

Vào tháng Hai năm 1969, Đoàn đại biểu thanh niên Xôviết do đồng chí Bí thư thứ nhất Ủy ban Trung ương Đoàn thanh niên Cộng sản Lênin Evghenie Chiajenikov dẫn đầu đã sang thăm nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Khi đó, với cương vị là phóng viên thường trú của Thông tấn xã Liên Xô (TASS) và của Báo “Sự thật Đoàn thanh niên Cômxômôn”, và đã làm việc ở Hà Nội được mấy năm, tôi được đưa vào thành phần của đoàn đại biểu này.

Chúng tôi đã đi thăm những khu vực khác nhau của miền Bắc Việt Nam, đã gặp gỡ với thanh niên trong các nhà máy, ở các vùng nông thôn, trong các trường học, trên các trận địa trực chiến và chúng tôi đã cảm nhận được hoàn toàn ý chí hướng tới chiến thắng không gì lay chuyển được của nhân dân Việt Nam, bất chấp những tội ác khủng khiếp nhất của giới quân phiệt Mỹ. Nhân dân Việt Nam Anh hùng tuân theo lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Không có gì quý hơn độc lập và tự do”, đã giáng trả bọn xâm lược những đòn chí mạng và đã làm tất cả vì giải phóng miền Nam và thống nhất Tổ quốc.

Ngày đáng nhớ 25/2/1969 ấy sẽ không bao giờ quên được. Đoàn đại biểu của chúng tôi đã có vinh dự gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh và Thủ tướng Phạm Văn Đồng. Cuộc trò chuyện thân tình đã diễn ra trong ngôi nhà nhỏ một tầng, được xây dựng trong những năm chiến tranh trong khuôn viên Phủ Chủ tịch. Chủ và khách trao nhau những vòng tay ôm, những nụ hôn bè bạn, những cái bắt tay nồng ấm. Khi mọi người đã ngồi vào bàn, Bác Hồ lấy ra chiếc bót thuốc lá và mời hút thuốc lá. Tôi không biết vì sao nữa – chúng tôi đã từ chối, và rồi sau đó mới hiểu ra rằng, đương nhiên là như vậy, cần phải đón nhận từ tay Người những điếu thuốc lá này như là món quà tinh thần. Bác Hồ đã không châm thuốc hút và bắt đầu cuộc trò chuyện:

– Chúng tôi rất rất vui mừng chào đón các bạn đã đến Việt Nam. Chắc các bạn đã thấy rõ là người dân chúng tôi có một tình yêu chân thành và nồng ấm như thế nào đối với nhân dân Xôviết. Khi có đất nước các bạn cùng với chúng tôi, chúng tôi tin tưởng vào tương lai hạnh phúc của mình. Hồ Chí Minh đã nói rất mặn nồng về Liên Xô, Người đã nhớ lại những sự kiện khác nhau trong cuộc sống ở Moskva.

– Hồi ấy, là thời kỳ khó khăn của những năm hai mươi và ba mươi, cũng giống như bây giờ ở đất nước chúng tôi, – Người nhấn mạnh.

– Nhưng hồi ấy, Thủ tướng Phạm Văn Đồng nói thêm, các bạn chỉ có một mình, còn bây giờ nhân dân chúng tôi không đơn độc…

– Sau đó những người Xôviết đã sống tốt hơn – Hồ Chủ tịch nói tiếp – Có một lần tôi đã hỏi một cô gái (Hồ Chí Minh nói bằng tiếng Nga: hỏi cô Phifa), tại sao cô ấy mặc chiếc áo choàng lụa sáng tươi, tô điểm đôi mắt và đi giày cao gót. Cô ấy đã tự hào trả lời ngay: “Chính vì tôi chịu khó làm việc và đây là do tôi làm ra”. Sau đó ở Moskva đã xuất hiện tàu điện ngầm, có thêm nhiều xe hơi…

Chúng tôi đã nghe những hồi tưởng của Bác Hồ, chăm chú nhìn khuôn mặt bộc trực của Người. Xuyên qua cặp mắt kính lão, đôi mắt tinh anh, cho dù đã có phần mệt mỏi, của Người đang nhìn chúng tôi. Người ngồi đó đầu đội mũ lưỡi trai, cổ quàng khăn ấm (trời hôm ấy rất lạnh).

Hồ Chí Minh châm thuốc hút rồi bắt đầu kể về việc năm 1925 Người đã làm việc ở Quốc tế Cộng sản như thế nào, đã thành lập Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội và mấy năm sau thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam…

Vâng, tầm vóc của con người Hồ Chí Minh, tôi thiết nghĩ, hãy còn chưa được thấy rõ đến tận cùng. Phía sau Người là một cuộc đời đầy những thử thách cam go của Nhà cách mạng, của Người yêu nước và của Người chiến sĩ quốc tế vĩ đại. Người đã bị những tên thực dân Pháp kết án tử hình, đã trải qua suốt hàng chục nhà tù ở Hongkong và Trung Quốc. Từ năm 1941 Người còn tiên đoán rằng Liên Xô sẽ đánh tan nước Đức phát xít vào năm 1945, và rằng cũng vào năm đó Việt Nam sẽ giành được độc lập. Điều tiên đoán đó đã xảy ra đúng như thế. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dẫn dắt cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam trong các cuộc chiến tranh Vệ quốc chống lại những tên thực dân Pháp và những tên xâm lược Mỹ. Hồ Chí Minh đã cho chúng tôi xem một số bức ảnh ghi lại những cuộc gặp gỡ của Người với thanh niên miền Bắc Việt Nam, và với các chiến sĩ lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam.

– Thanh niên chúng tôi – Người nhấn mạnh, thật anh hùng, đó là lực lượng xung kích của chúng tôi.

Trên một trong những bức ảnh là hình một cô gái Việt Nam mảnh dẻ đang áp giải tên phi công Mỹ to béo.

– Rất nhiều người đến đất nước chúng tôi và họ rất ngạc nhiên, tại sao một đất nước nhỏ và kém phát triển như thế, lại đương đầu thành công cuộc xâm lược của Hoa Kỳ, Hồ Chí Minh nói – Nhưng khi đưa bức ảnh này ra, mọi chuyện đã trở nên rõ ràng. (Về sau chúng tôi được biết rằng bức ảnh nổi tiếng này do phóng viên Phan Thoan chụp ngày 20/9/1965 tại tỉnh Hà Tĩnh. Nữ du kích trẻ Nguyễn Thị Kim Lai đã áp giải viên phi công Mỹ William Robinson).

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kết thúc buổi gặp mặt bằng những lời biết ơn Lênin và Cách Mạng Tháng Mười:

– Tất cả những thắng lợi của chúng tôi đều gắn liền với tên tuổi của Lênin, tất cả chúng tôi đều biết ơn quê hương của Cách Mạng Tháng Mười

(Theo Nhat-Nam.ru)

cand.com.vn

Cuốn sách “Trong chiến khu Việt cộng” của nhà báo Madeleine Riffaud

Trên giá sách ở phòng làm việc tầng 2 Nhà sàn của Bác Hồ trong Khu di tích Phủ Chủ tịch có một cuốn sách viết bằng tiếng Pháp: Dans lé maquis “Viet Cong”, tạm dịch là: “Trong chiến khu Việt Cộng”.

Cuốn sách dày 267 trang, khổ 20x14cm, do Nhà xuất bản René Julliard Paris xuất bản năm 1965. Cuốn sách đã được kiểm kê và có số BTHCM 881/G-695, và cũng đã được nghiên cứu, xác định, xây dựng hồ sơ khoa học. Hồ sơ khoa học của cuốn sách đang được lưu tại kho tư liệu phòng Sưu tầm – Kiểm kê – Tư liệu của Khu di tích Phủ Chủ tịch.

Theo như Hồ sơ khoa học, tác giả cuốn sách này là chị Madeleine Riffaud, một đảng viên của Đảng Cộng sản Pháp, là phóng viên của báo “Nhân đạo”- cơ quan Trung ương của Đảng Cộng sản Pháp, đã từng đến việt Nam nhiều lần. Những lần đến Việt Nam chị đều được gặp gỡ và “phỏng vấn” Bác Hồ. Nhưng như chị đã từng viết về Người:… “Cứ mỗi buổi sáng, tôi hy vọng làm một cuộc phỏng vấn, nhưng không sao làm được. Tôi là nhà báo mà lại bị phỏng vấn, tôi phải trả lời hàng loạt, liên tiếp những câu hỏi về miền Nam Việt Nam mà từ lâu Bác Hồ không được đặt chân đến đấy; về Đảng Cộng sản Pháp… Tôi phải cung cấp cho Người tin tức về những bạn bè cũ của Người ở Pháp và ở châu Âu…”.

Ngày 5-10-1987, trong đợt công tác tại Việt Nam, chị đã đến Khu Di tích Phủ Chủ tịch và đã giúp cán bộ của Khu Di tích xác minh cuốn sách của chị. Hôm ấy chị kể: Chị được gặp Bác Hồ lần đầu tiên ở Hội nghị Fontainebleau – Pháp năm 1946. Lúc đó chị đang tập sự nghề báo tại toà báo “Chiều nay” (Ce soir) và được bà André Viollis – tác giả cuốn sách nổi tiếng “Đông Dương kêu cứu” giới thiệu chị với Bác Hồ. Lúc đó Bác Hồ bảo chị “làm nghề báo là nghề chân chính” và động viên chị: “Bây giờ cháu hãy học làm việc, học tập khi nào trở thành nhà báo, cháu hãy đến Việt Nam, Bác sẽ đón tiếp cháu như con gái của Bác”.

Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, năm 1955, lần đầu tiên chị Madeleine Riffaud đến Việt Nam để làm phóng sự về Việt Nam. Năm ấy chị cũng được gặp Bác Hồ và được Bác tiếp tại nơi ở của Người.

Cuối năm 1964, chị có dịp trở lại Hà Nội, được gặp Bác Hồ và sau đó vào miền Nam Việt Nam để trực tiếp tìm hiểu cuộc chiến đấu của nhân dân miền Nam Việt Nam. Chị là nữ phóng viên nước ngoài đầu tiên được đi theo cuộc chiến đấu của các chiến sĩ quân giải phóng trong các bưng biền “Việt Cộng”. Chị cho chuyến đi ấy là món quà quý, là niềm vinh dự mà Bác Hồ tặng cho chị và là sự tỏ lòng quý trọng nước Pháp, nhân dân Pháp mà Bác Hồ rất hiểu và rất yêu mến.

Không phụ lòng Bác, kết quả của chuyến đi trong các các bưng biền Việt Công của chị, khi trở về Pháp chị đã cho ra đời tác phẩm “Trong chiến khu “Việt Cộng”. Cuốn sách của chị đã được tổ chức Quốc tế các nhà báo tặng giải thưởng năm 1966.

Vào năm 1966, khi giặc Mỹ ngày càng leo thang và mở rộng chiến tranh ra miền Bắc, dùng máy bay đánh phá Hà Nội, Hải phòng và nhiều thành phố khác, những con đê hiền lành cũng trở thành mục tiêu bắn phá của chúng. Trong hoàn cảnh đó chị lại đến Việt Nam, suốt hai tháng 7 và 8 năm 1966 chị đã đến khắp những nơi bị máy bay Mỹ bắn phá: Từ Hà Nội, Hải Phòng đến Sơn La, Lai Châu, Thanh Hóa, Quảng Bình… Sau chuyến đi đó chị lại có một tác phẩm nữa là “Au nord Việt Nam. Ecriet sous les bombes” tạm dịch là “Ở miền Bắc Việt Nam viết dưới bom đạn”. Cuốn sách cũng được xuất bản tại Paris năm 1967. Tên tuổi của chị được độc giả khắp năm châu biết đến.

Với lòng biết ơn sâu sắc và tất cả tấm lòng yêu mến đất nước Việt Nam, kính yêu Bác Hồ, chị đã gửi tặng Bác Hồ những cuốn sách viết về Việt Nam của mình.

Cuốn sách “Trong chiến khu “Việt Cộng” chị gửi kính biếu Bác Hồ tháng 9/1965 với lời đề tặng, tạm dịch là: “Kính tặng Chủ tịch Hồ Chí Minh – với sự biết ơn sâu sắc và tất cả tấm lòng yêu mến của tôi đối với Người, với Đảng và nhân dân của Người đang chiến thắng chống những tên phát xít mới.

Ký tên: M. Riffaud
Paris, tháng 9/1965”

Cũng theo lời kể của chị, cuốn sách này chị đã gửi qua đoàn Đại biểu của Đảng Lao động Việt Nam lúc đó, nay là Đảng Cộng sản Việt Nam do đồng chí Lê Đức Thọ dẫn đầu sang thăm Pháp. Chiều 8-9-1965 đoàn đã đến thăm toà soạn báo Nhân Đạo, cơ quan Trung ương của Đảng Cộng sản Pháp. Trong buổi tiếp đoàn, chị Madeleine Riffaud cung có mặt. Đoàn ta đã trao quà cho tòa soạn, và nhân dịp này chị Madeleine Riffaud đã gửi cuốn sách của mình kính biếu Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đoàn của đồng chí Lê Đức Thọ. Sau ngày đoàn về nước 23-9-1965, cuốn sách đã được gửi đến tay Chủ tịch Hồ Chí Minh. Người đã đọc và để lại bút tích ở các trang 15,16, 229 đến 232 của cuốn sách với các dấu (/) bằng bút bi mực màu đỏ. Cách đánh dấu này của Bác, theo các nhân chứng lịch sử như đồng chí Vũ Kỳ, đồng chí Cù Văn Chước… có nghĩa là “chú ý”. Riêng từ trang 229 đến trang 232 còn gấp mép sách một cách chủ ý là để giở dễ dàng khi cần xem lại. Qua nội dung cuốn sách và những bút tích của Chủ tịch Hồ Chí Minh lưu lại trên sách cho thấy tình cảm chứa chan giữa tác giả cuốn sách và nhân dân miền Nam Việt Nam. Thời gian tác giả đi và viết tác phẩm này (cuối 1964, đầu 1965) là thời kỳ bắt đầu kết thúc chiến tranh cục bộ, trong 2 tháng chị đã theo chân các chiến sĩ liên lạc luồn lách qua đồn bốt địch, thâm nhập khu giải phóng, theo sát các cuộc chiến đấu của bộ đội đến tận cửa ngõ Sài Gòn, chứng kiến những thắng lợi giòn giã của quân dân miền Nam đánh trận Bình Giã, diệt và làm tê liệt những đòn phản kích của quân Mỹ, nguỵ. Chị yêu mến mọi người và được mọi người yêu mến. Những trang có bút tích bằng bút bi mực màu đỏ của Bác Hồ, những trang Người đánh dấu là những trang nói đến kế hoạch Xtalay Taylo (kế hoạch Mỹ giúp Diệm bình định miền Nam trong 18 tháng) đã bị thất bại, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Mácnamanra vạch kế hoạch nhằm bình định lấy 2 tỉnh không nổi, cuộc chiến càng nóng bỏng hơn đến sát cửa ngõ Sài Gòn. Rồi phong trào đào ngũ, trốn bắt lính của binh lính nguỵ và thanh niên miền Nam Việt Nam. Nhiều lính nguỵ và thanh niên miền Nam trốn lính lại chạy ra vùng giải phóng và nhập vào quân giải phóng…

Cuốn sách của chị Madeleine Riffaud được đài báo các nước tư bản lúc đó ca ngợi là viết giản dị, không thiếu những ghi chép nên thơ, đã làm sống lại trước mắt mọi người một bức tranh thực tế mà mọi người ít biết đến và duy nhất riêng chị đã tạo ra một loại hình văn học và cuối cùng chị đã thành công hoàn toàn.

Sách của chị Madeleine Riffaud là những cuốn sách của một tác giả có tình cảm nồng nàn và chân thành với cách mạng Việt Nam, với nhân dân Việt Nam, với Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại. Chúng đã góp phần xứng đáng và việc giới thiệu rộng rãi trong dư luận Pháp và thế giới về cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, thức tỉnh được sự ủng hộ của nhân dân thế giới đối với cách mạng Việt Nam. Năm 1969, chị sang Việt Nam và lần đó chị lại được gặp Bác Hồ. Bác đã nói chuyện về hai cuốn sách của chị, Người đã tỏ ra hài lòng với những sách báo do chị viết vì nó đã tập hợp được nhiều tin tức, các nước tư bản đã phải in sách của chị. Lần gặp ấy, Bác đã không phê bình chị nữa vì lúc này chị đã nắm được nghề làm báo và Bác đã coi chị như là một chiến sĩ của đội quân tóc dài Việt Nam.

Lần được gặp Bác 1954, chị được Bác tặng 2 tấm lụa Hà Đông. Chị đã cắt thành áo theo kiếu các cô gái Việt Nam vẫn mặc. Và mỗi lần sang thăm Việt Nam chị vẫn mặc những chiếc áo lụa Bác đã tặng chị. Ngày 5-10-1987, chị bảo chiếc áo chị đang mặc là mảnh vải cuối cùng trong 2 tấm lụa Hà Đông ấy. Lần gặp ấy tuy Bác mệt nhưng rất vui, Bác bảo năm 1969 là năm kỷ niệm ca sỹ Môrixơ Sơvaliê 80 tuổi, Bác muốn chị gửi cho Bác một đĩa hát thu những bài hát về thành phố Pari của ca sĩ này. Về nước chị đã tìm và gửi đãi hát cho Bác. Sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời, chị nhận được một lá thư từ một phóng viên thường trực tại Việt Nam báo tin “Bác Hồ đã nhận được các đĩa hát, Bác đã nghe lại các bài hát đó một cách thích thú, Bác rất vui lòng”. Những câu chuyện này đã được chị viết trong bài báo “Bác Hồ ra đi giữa mùa thu” đăng trên báo trước ngày tổ chức Lễ tang của Chủ tịch Hồ Chí Minh (9- 9-1969).

Sự tồn tại của cuốn sách “Trong chiến khu Việt Cộng” ở vị trí vốn có của nó đã góp phần không nhỏ cho việc nghiên cứu về Bác Hồ, về Khu Di tích Phủ Chủ tịch. Qua Hồ sơ khoa học của cuốn sách có thể biết thêm những tình cảm của nhân dân thế giới, nhân dân Pháp, của nhà báo tài ba M. Riffaud đối với Bác Hồ và ngược lại. Cuốn sách của chị cũng góp phần cho việc nghiên cứu lịch sử cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước hào hùng của nhân dân Việt Nam, về sự ủng hộ của nhân dân thế giới đối với cuộc chiến tranh chính nghĩa của nhân dân Việt Nam. Nhân dân Việt Nam sẽ không bao giờ quên “chị Tám” cái tên thân thương đồng bào miền Nam gọi chị dịp chị sống cùng họ “trong bưng biền Việt Cộng”. Chị sống mãi trong trái tim những người Pháp và những người Việt Nam yêu nước. Được biết năm 2008, tổng thống Pháp Nicolas Sarcozy đã quyết định tặng Huân chương quốc công hạng nhất đế cho chị. Nước Pháp tôn vinh chị và đang gấp rút hoàn thành một bộ phim tư liệu về chị – nữ nhà báo anh hùng của nhân dân Pháp./.

ditichhochiminhphuchutich.gov.vn

Đồng chí Hồ Chí Minh

Có những cuộc gặp đã ghi lại trong ký ức suốt một đời người những dấu ấn không gì sánh nổi. Đó là cuộc gặp gỡ của chúng tôi với đồng chí Hồ Chí Minh.

PhimKMen-02LL.jpgHồ Chí Minh  với  Rôman Cácmen ở  chiến khu Việt  Bắc

Chúng tôi đi men theo một con đường mòn hẹp, men theo một vực thẳm, bên dưới có tiếng thác lũ vang lên. Rồi chúng tôi đi sâu vào trong một rừng tre, rừng cọ và chuối dại… bỗng nhiên chúng tôi nhìn thấy một cái lều tre. Trên bậc thềm, một người trong bộ quần áo nông dân tiến về phía chúng tôi.

Nếu như mấy ngày trước đó chúng tôi gặp vị Chủ tịch trên đường đi, trên cánh đồng, hẳn chúng tôi nghĩ đó là một người nông dân bình thường. Chúng tôi chỉ được làm quen với khuôn mặt gầy gò, chòm râu bạc và nụ cười đôn hậu thân quen của Người qua các bức ảnh chân dung.

– Chào các đồng chí! Các đồng chí có khỏe không? – Người hồ hởi đưa cả hai tay ra đón và mời chúng tôi vào mái lều tre của mình.

Và chúng tôi ngồi xuống bên chiếc bàn ghép bằng các ván gỗ, phe phẩy chiếc quạt làm bằng lá cọ, ngay từ những lời đầu tiên của buổi nói chuyện đã xua tan cảm giác căng thẳng và hồi hộp mà khi tới đây chúng tôi nghĩ sẽ là một cuộc gặp mặt quan trọng với một chiến sĩ cách mạng huyền thoại của Đông Dương – Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Ở đây, trong thung lũng Chiến khu Việt Bắc, Hồ Chí Minh đã trải qua tám năm của cuộc chiến tranh khốc liệt, trong những cuộc hành quân, trong những ngày làm việc căng thẳng. Nhưng không một khó khăn gian khổ nào, không một hiểm nguy, thiếu thốn nào có thể làm nản lòng một con người nguyện cống hiến cả cuộc đời cho cuộc đấu tranh vì tự do, hạnh phúc cho nhân dân mình. Vào năm thứ tám của cuộc kháng chiến, Người đã 64 tuổi, nhưng trước mắt chúng tôi là một con người vẫn tràn đầy sinh lực. Trên gương mặt gầy gò, sạm nắng và vầng trán thanh cao chưa hề có những nếp nhăn. Người luôn nhìn chúng tôi với ánh mắt rạng ngời, tinh anh. Đôi lúc, trên đôi mắt hiền hậu đó thoáng một nét ưu tư. Đó là khi Người nhắc đến những nỗi thống khổ , về những hy sinh, mất mát của nhân dân và về sự tàn bạo của kẻ thù. Suốt cuộc đời mình Hồ Chí Minh luôn có một ước ao cháy bỏng là Việt Nam sẽ giành được tự do và độc lập trong cuộc kháng chiến chống thực dân. Hồ Chí Minh đã cống hiến trọn đời cho mục tiêu của cuộc đấu tranh này.

THƯ CỦA GIENEVIEVA GALLARD

Mái nhà tre của Hồ Chí Minh trông không khác gì hàng ngàn ngôi nhà của những người nông dân Việt Nam. Có khác chăng chỉ là trong ngôi nhà đó – ngôi nhà mà lúc tới thăm được gọi là “Phủ Chủ tịch” – có hai tầng. Tầng dưới bậc thềm là phòng làm việc, tầng phía trên là phòng nghỉ. Trên bàn làm việc có một chồng báo mới, chiếc máy chữ nhỏ xách tay Người thường dùng để viết báo, tài liệu, những lời kêu gọi nhân dân và quân đội, rất nhiều sách… Trên tầng hai trải một chiếc chiếu, có một số vật dụng đơn sơ và một chiếc vali mây đã cũ. Trong góc phòng có con mèo vàng cuộn tròn với ba con mèo con. Bao bọc xung quanh khu nhà tre của Chủ tịch là những khóm tre, cây cọ, một không gian thanh bình với những tiếng chim hót và tiếng suối chảy róc rách.

Chúng tôi không thể tả xiết sự ngạc nhiên của mình khi nhìn thấy ngôi nhà lá đơn sơ và cuộc sống bình dị của Người.

– Tôi đã quen sống như thế này rồi – Người nói, – Các đồng chí thấy đấy, bất cứ lúc nào tôi cũng có thể lên đường ngay được. Những năm tháng đấu tranh cách mạng và hoạt động bí mật đã tập cho tôi thói quen như thế. Nhanh nhẹn hệt như một du kích. Chỉ 5 phút đã chuẩn bị xong và có thể hành quân ngay được.

Người ân cần hỏi han về chặng đường chúng tôi đã đi qua:

– Chúng tôi đã rất quan tâm – Người nói – đến chuyến bay đặc biệt để nhanh chóng đưa các đồng chí đến Việt Nam. Nếu không các đồng chí đã phải trải qua một chặng đường dài – qua Thượng Hải, Quảng Châu. Các đồng chí ở lại Bắc Kinh có lâu không? Đây chắc không phải lần đầu tiên các đồng chí đến Bắc Kinh? Các đồng chí đã ở đó nhiều năm dưới thời Tưởng Giới Thạch. Các đồng chí có nhận thấy những thay đổi đang diễn ra không? Chắc các đồng chí đã nhìn thấy một Trung Quốc mới.

Tôi đã kể cho Người nghe về những ấn tượng của mình.

– Các đồng chí có quen được với khí hậu ở đây không? Ở đây rất nóng nực.

– Chúng tôi đã quen rồi, thưa đồng chí Hồ Chí Minh! – Giênia Mukhina nói và phe phẩy chiếc quạt lá cọ, lau những giọt mồ hôi trên trán và đang lăn dài xuống cổ áo.

Câu chuyện chuyển sang những vấn đề liên quan đến công việc.

– Theo tôi chúng ta nên lập kế hoạch quay phim, ghi hình – Hồ Chí Minh nói – Việc này có một đồng chí từ Trung ương sẽ giúp các đồng chí. Các đồng chí chưa gặp đồng chí Trường Chinh phải không? Nhất thiết là phải gặp và nói chuyện với đồng chí ấy. Hãy làm quen cả với một số người làm công tác văn hóa, nghệ thuật của chúng tôi. Rất tiếc là các nhà văn của chúng tôi viết còn ít. Chúng tôi đã được đọc những mẩu chuyện của Bôrit Pôlêvôi viết về những con người bình dị. Không hiểu sao các nhà văn của chúng tôi chưa bắt tay vào đề tài này. Thực tế chúng tôi có rất nhiều anh hùng là những chiến sĩ nông dân thầm lặng, chỉ cần chỉ ra tầm vóc của họ mà thôi. Tất nhiên đó sẽ là việc của các đồng chí trong quá trình làm phim. Nhân thể tôi muốn mời các đồng chí gặp gỡ những chiến sĩ anh hùng trong chiến dịch Điện Biên Phủ mà chúng tôi sẽ trao phần thưởng.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kể cho chúng tôi về chiến dịch vừa kết thúc ở Điện Biên Phủ – đó là một chiến dịch lịch sử mà Quân đội và nhân dân Việt Nam đã giành được thắng lợi to lớn. Đã bắt được 17 ngàn binh sĩ và sĩ quan quân đội Pháp làm tù binh. “Đội quân viễn chinh Pháp đã bị tiêu diệt” – Báo chí Pháp thời gian này đã viết như vậy.

Hồ Chí Minh cho chúng tôi xem bức thư của nữ y tá Gienevieva Gallard – là người phụ nữ duy nhất có mặt tại căn cứ địa Điện Biên Phủ và bị bắt làm tù binh. Trong thư cô đã xin Chủ tịch thả cô khỏi trại giam. Cô ta hứa nếu Chính phủ Cộng hòa khoan dung thì hãy thả cô ấy – người phụ nữ duy nhất – cô ấy sẽ hiến dâng toàn bộ sức lực của mình cho cuộc đấu tranh vì hòa bình ở Việt Nam.

– Tôi đã viết cho cô ấy – Hồ Chí Minh nói với nụ cười đôn hậu – rằng thư của cô ta đã đến muộn hơn 2 ngày khi tôi đã ký quyết định trả tự do cho cô ta. Hội Phụ nữ Việt Nam đã đưa ra đề nghị này. Các bạn thấy đấy! Chúng tôi giữ cô ấy trong tù làm gì? Một người phụ nữ yếu đuối, ở trong tù chắc sẽ rất nặng nề. Người ta đã thả cô ấy cách đây không lâu.
Người cho chúng tôi xem tờ báo mới của Pháp – cuộc phỏng vấn đầu tiên của cô ta ở Hà Nội. Cô ấy đã kể rất chân thực về thái độ nhân đạo của Quân đội nhân dân Việt Nam với các tù binh Pháp, về sự quan tâm của các chiến sĩ, sĩ quan và bác sĩ của chúng tôi với các binh sĩ và sĩ quan Pháp bị thương. Ở Pháp cô ấy được nhân dân vinh danh là Anh hùng dân tộc và được ghi vào bảng vàng danh dự. Tôi hoàn toàn tin tưởng rằng cô ấy trở thành một chiến sĩ tích cực đấu tranh vì hòa bình ở Việt Nam. Cô ấy đã tận mắt chứng kiến những nỗi kinh hoàng và tàn khốc của cuộc chiến tranh thực dân.

CHÚNG TA KHÔNG ĐƠN ĐỘC

Chủ tịch Hồ Chí Minh nói về tướng Đờ Cáxtri bị bắt sống cùng với toàn bộ tập đoàn cứ điểm tại Điện Biên Phủ.

– Đờ Cáxtri lớn tiếng nói về hòa bình. Đó là khi mà ông đã bị bắt làm tù binh. Trước đây ông ta không hề nói đến hòa bình.

Hồ Chí Minh rất bình tĩnh khi nói đến tên tướng xâm lược hiện đang nằm trong trại tù binh. Trong lời nói của vị Chủ tịch già không tỏ ra hả hê với chiến thắng. Người chỉ lắc đầu khi nói đến sự tàn bạo của tên tướng Đờ Cáxtri. Cuốn tạp chí Pháp “Paris Match” trên bàn Chủ tịch có in in ảnh của một người gầy gò, chiếc mũi khoằm giống như mỏ con chim ác điểu.

– Đó là một con người tàn bạo – Hồ Chí Minh nói và lắc đầu. Những người dân Hà Đông, những người mẹ đã khóc cạn nước mắt vì mất những đứa con trai ngoài chiến trận, vì những đứa con gái bị lính lê dương hành hạ, làm nhục. Đó chính là ông ta, tướng Đờ Cáxtri – người đã chỉ huy chiến dịch càn quét ở vùng châu thổ sông Hồng vào tháng 6 năm 1951. Theo lệnh của ông ta, hàng ngàn tấn gạo của nông dân vừa mới thu hoạch được đã bị tẩm xăng thiêu hủy, hoặc bị đổ xuống ruộng lầy, ao chuôm hay vung vãi trên đường. Cũng theo lệnh của ông ta, xe tăng đã ủi sạch cả những cánh đồng lúa đang trổ bông, thiêu trụi 3 ngàn ngôi nhà của nông dân và hàng trăm con người bị tình nghi có tham gia hoạt động du kích đã bị bắn chết. Giờ đây, trong tù, Đờ Cáxtri đã phủ nhận tất cả những hành động dã man đó. Ông ta phủ nhận tất cả, chỉ nói đôi câu:

– Tôi là một người lính, tôi chỉ thực thi mệnh lệnh.

Những từ đó đã quá quen thuộc! Chúng tôi những người dân Xôviết trong suốt 4 năm ở Xmônlen, ở Xtalingrát, ở những vùng quê Ucraina thấm đẫm máu, ở vùng Vôlôcôlamxki, đã từng nghe những từ đó “Tôi là một người lính…”. “Tôi là người lính…”- tên tướng Keitel đã nói khi hắn bị dồn ép đến chân tường tại Tòa án quân sự Nuirembéc.
Đại tá Đờ Cáxtri được hứa sẽ phong hàm cấp tướng ở Việt Nam. Vì chiếc cầu vai cấp tướng mà ông ta đã bị ném vào cuộc nhảy dù xuống Điện Biên Phủ. Và ông ta đã phải đầu hàng khi chưa kịp nhìn thấy chiếc cầu vai đó. Bây giờ trong trại tù binh ông ta nói: “Tôi là người lính…”.

Hồ Chí Minh nói đến Hiệp định Giơnevơ. Lúc đó khó có thể đoán trước được kết quả tại vòng đàm phán tại Giơnevơ. Nhưng không thể không thắng lợi trên bàn đàm phán. Bởi lẽ, lực lượng yêu chuộng hòa bình đang dấy lên mạnh mẽ trên toàn thế giới. Người cho chúng tôi xem một bức thư:

– Các đồng chí hãy xem đây, đó là thư đến từ Giơnevơ. Một trong số thành viên của phái đoàn chúng tôi viết cho người bạn của mình: “Chúng tôi rất thoải mái. Chúng tôi không đơn độc. Bên cạnh chúng tôi có đồng chí Chu Ân Lai, Môlôtốp. Chúng tôi đã đi qua Trung Hoa đại lục. Ngày 1-5, chúng tôi đã có mặt ở Quảng trường Đỏ. Ở đó chúng tôi đã được biết đến thắng lợi vang dội ở Điện Biên Phủ. Chúng ta đã có nhiều thuận lợi hơn và chúng ta dũng cảm hướng tới tương lai…”.

Tôi đã nhận được hàng ngàn bức thư – đến từ mọi miền của đất nước: từ những người lính, những người nông dân, có nhiều thư đến từ vùng địch tạm chiếm. Tất cả những bức thư đó đã được nhân dân Việt Nam gửi đến cho phái đoàn Việt Nam ở Giơnevơ. Những bức thư này là niềm tin vào sức mạnh của mình, niềm tin vào thắng lợi của lực lượng yêu chuộng hòa bình. Ngay cả những người mà trước đây chúng tôi gọi là những “người ngủ trong chăn” cũng đã bắt đầu quan tâm đến tình hình chiến sự. Ở Hà Nội, họ đã ký vào quyết tâm thư bày tỏ sự ủng hộ bài phát biểu mới nhất của đồng chí Phạm Văn Đồng tại Hội nghị Giơnevơ. Một người nông dân đã viết: “Chúng tôi tăng gia sản xuất, những đứa con trai của chúng tôi đang chiến đấu ở Điện Biên Phủ, các đồng chí hãy chiến đấu ở Giơnevơ. Chúng ta cùng trên một trận chiến vì hòa bình”.

Hồ Chí Minh là người rất giản dị và khiêm nhường. Từ chối không cần có thư ký riêng, Người tự đọc qua tất cả các thư tín gửi đến, tự phúc đáp, tự đánh máy các bài viết của mình. Người thường có những buổi đi bộ dài ngày, xuống núi, đơn giản chỉ để gặp gỡ, trò chuyện với những người nông dân trong các bản làng, trên cánh đồng lúa. Người cười vui khi kể cho chúng tôi nghe câu chuyện gặp hổ trong đêm. Hoảng sợ bởi ánh đèn pha ôtô, con hổ đã bỏ chạy. Hồ Chủ tịch nói:

– Con thú đáng sợ nhất – đó là những tên đế quốc thực dân. Vì con hổ chỉ tấn công người khi nó đói, còn chúng thì giết người, cướp của. Những con thú này từ lâu đã biết rằng nô dịch và tiêu diệt một dân tộc đang chiến đấu vì tự do là không thể và phi nghĩa. Đó là sự ngu xuẩn của những kẻ lao đầu vào chỗ chết.

– Chúng ta sẽ phải làm việc khá vất vả đó – Người nói – Chúng tôi sẽ cố gắng bằng tất cả những gì có thể để tạo điều kiện cho các đồng chí, rất tiếc là trong lúc này, khó khăn đang chồng chất khó khăn.

Hồ Chí Minh rất nồng nhiệt khi nói đến những tình cảm của người Việt Nam với Liên Xô.

– Các đồng chí, những người Xôviết đầu tiên đã đến đất nước chúng tôi, các đồng chí sẽ cảm nhận thấy những tình cảm đó trong từng bước đi.

Người xúc động vân vê điếu thuốc bằng những ngón tay gầy guộc, đôi mắt Người rưng rưng xúc động khi chúng tôi kể về những hoạt động thể hiện tình hữu nghị, cảm thông chia sẻ và đoàn kết chiến đấu với nhân dân Việt Nam. Chúng tôi còn kể cho Người nghe về Liên hoan thanh niên và sinh viên toàn thế giới lần thứ tư diễn ra tại Bucarét, mọi người đã công kênh những anh hùng trẻ tuổi của Việt Nam quanh sân vận động như thế nào.
Hồ Chí Minh nói chuyện với chúng tôi bằng tiếng Nga. Chúng tôi hỏi Người:

– Chủ tịch học tiếng Nga có vất vả lắm không?

Người trả lời:

– Người cách mạng cần phải biết tiếng nói của Lênin.

– Chủ tịch làm việc mấy giờ một ngày?

– Chim rừng đánh thức tôi dậy – Người nói – tôi đi nằm lúc trên trời xuất hiện những vì sao.

Sau này chúng tôi mới biết không hoàn toàn là như vậy. Nhiều đêm chúng tôi thấy Chủ tịch Hồ Chí Minh chống gậy tre, tay áo xắn cao đi theo ánh đuốc của đồng chí cảnh vệ trên con đường hẻm trong rừng, đến một bản xa nào đó trong núi hoặc đi họp Hội đồng Chính phủ về muộn.

Chúng tôi đã làm việc cùng với Chủ tịch Hồ Chí Minh gần trọn một ngày. Đôi lúc, Người xin lỗi chúng tôi trở về bàn làm việc của mình để xem thư hỏa tốc, nói chuyện điện thoại. Những lúc như vậy, Người lại đưa một tập báo mới và họa báo Pháp cho chúng tôi xem hoặc bảo chúng tôi đi tham quan quanh khu “Phủ Chủ tịch” của mình.

Trong buổi gặp của chúng tôi còn có nhà thơ Tố Hữu và đồng chí Hoàng Tùng. Đó là những người bạn mà chúng tôi đã được gặp lần đầu tiên ở Ban Chấp hành Trung ương.

Tiễn chúng tôi, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói:

– Chúng tôi sẽ gặp các đồng chí thường xuyên hơn. Cứ mạnh dạn yêu cầu tất cả những gì cần thiết cho công việc của các đồng chí.

– Chúng tôi có một thỉnh cầu, thưa Chủ tịch – tôi nói – Đầu tiên và chính yếu nhất đó là chúng tôi muốn được quay cảnh đất nước vào ban ngày. Những cuộc di chuyển vào ban đêm không thể làm được điều đó. Rất mong đồng chí cho phép chúng tôi được đi ôtô vào ban ngày. Đồng chí hãy yên tâm, cả ba chúng tôi đều có đủ kinh nghiệm trong chiến đấu nên sẽ kịp thời tránh được những trận công kích bằng máy bay.

Hồ Chí Minh im lặng một lát rồi nói:

– Không thể được! Chúng tôi đã mất rất nhiều những người con ưu tú của Đảng vì đã bị trúng bom, bị máy bay tập kích. Tôi rất hiểu những khó khăn của các đồng chí, nhưng để các đồng chí gặp nguy hiểm thì tôi không thể. – Nếu các đồng chí muốn đi vào ban ngày, thì các đồng chí nên đi bộ, bằng ngựa hoặc xe đạp. Dứt khoát không được đi bằng ôtô – đó là mệnh lệnh của chúng tôi.

Nhìn nét mặt thất vọng của chúng tôi, Người mỉm cười bắt tay chúng tôi và nói:

– Thế nhé! Đồng ý cả chứ, tất cả đã rõ!…


Rôman Cácmen[1]
Theo Văn hóa Nghệ An

[1]: Đạo diễn phim tài liệu nổi tiếng của Liên Xô. Là một trong những người đầu tiên làm phim tài liệu về Hồ Chí Minh trong vùng giải phóng Việt Bắc năm 1954.

hochiminhhoc.com

Góc nhìn khác của một học giả Nhật về tư tưởng Hồ Chí Minh

Tác giả: GS. TSUBOI YOSHIHARU (ĐẠI HỌC WASEDA)

Con người Hồ Chí Minh được phản ảnh sắc nét trong Hiến pháp là một người theo chủ nghĩa cộng hòa và chủ nghĩa hòa bình hơn là một người theo chủ nghĩa cộng sản – Góc nhìn riêng của GS Nhật Bản Tsuboi Yoshiharu.

LTS: Có thể nói, Hồ Chí Minh là một nhân vật lịch sử, một lãnh tụ đặc biệt của đất nước. Đã có biết bao nhiêu công trình, đề tài nghiên cứu về Người của các học giả trong nước, nước ngoài với các góc nhìn khác nhau.

Bài viết dưới đây của GS Tsuboi Yoshiharu (ĐH Waseda-Nhật Bản) đã được ông trình bày tại Hội thảo Quốc tế về Việt Nam học lần thứ 3 tổ chức tại Hà Nội tháng 12/2008. Khảo cứu này của ông Tsuboi Yoshiharu đã gây được sự chú ý của dư luận vì góc nhìn khác lạ.

Để rộng đường dư luận, tôn trọng tính thông tin đa chiếu, Tuần Việt Nam xin đăng tải toàn văn nghiên cứu này của  ông Tsuboi, một nhà Việt nam học nổi tiếng như một góc nhìn cần tham khảo. Mời bạn đọc cùng tranh luận.

Một góc nhìn khác

Trong bài viết này, chúng ta thử thoát khỏi những quan niệm về “Tư tưởng Hồ Chí Minh” cũng như cách đánh giá Ông Hồ như một người cộng sản Max – Lenin, lần theo những nẻo đường trong cuộc đời Hồ Chí Minh để khảo cứu lại tư tưởng của Ông trên một lập trường giá trị tự do hơn.

Từ khi bắt đầu nghiên cứu VN năm 1973, mỗi lần có cơ hội, tôi lại cố gắng lần theo những dấu vết cuộc hành trình của Hồ Chí Minh. Bắt đầu từ xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An – quê hương của Hồ Chí Minh, tôi lần theo dấu chân Ông ở Nhà kỉ niệm Hồ Chí Minh ở Vinh – thủ phủ của tỉnh Nghệ An, phòng làm việc, Bảo tàng và Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh ở trung tâm của Thủ đô Hà Nội, Bảo tàng Hồ Chí Minh ở TP Hồ Chí Minh, trường Quốc học Huế, v.v…

Ở Trung Quốc, tôi đã đến thăm Hồng Kông, Quảng Đông, Thượng Hải, Diên An, v.v… Tôi cũng tìm đến ngôi nhà Hồ Chí Minh từng sống ở Moscow. Tôi đã đứng trong ngôi nhà ở phố Compoint, được coi là nơi hoạt động của Hồ Chí Minh ở Paris. Tại London, tôi đã tới thăm khách sạn nơi Ông từng làm đầu bếp dưới sự hướng dẫn của Escoffier. Ở New York, tôi đã thử hình dung Hồ Chí Minh đã ngắm nhìn bức tượng Nữ thần Tự Do từ góc độ nào.

Tôi cũng có dịp thảo luận với các nhà nghiên cứu Hồ Chí Minh người Pháp như Brocheux, G. Boudarel… Đương nhiên, tôi cũng có dịp trao đổi ý kiến với những nhà trí thức, học giả người Việt như Trần Văn Giàu, Trần Bạch Đằng, Nguyễn Đình Đầu, Phan Huy Lê, Vũ Minh Giang, Nguyên Ngọc, v.v… Trong quá trình tìm hiểu, khám phá và trao đổi, tôi luôn cảm thấy dường như chưa ai đoán đúng được tư tưởng “bè trầm liên tục” (basso continuo) của Hồ Chí Minh.

Cho đến gần đây, tôi nhận ra rằng có lẽ giá trị mà Hồ Chí Minh coi trọng nhất trong suốt cuộc đời của mình là những giá trị của nền cộng hòa. Tôi cho rằng nếu nhận thức Hồ Chí Minh như một người theo chủ nghĩa cộng hòa, chúng ta có thể đánh giá được một cách đầy đủ và đúng đắn nhất những tư tưởng và hành động của Ông.

Không ai phủ nhận việc Hồ Chí Minh là một nhà ái quốc. Mục tiêu tối thượng của Ông là giải phóng dân tộc và giành lại nền độc lập cho Tổ quốc từ tay thực dân Pháp. Để thực hiện công cuộc đó, cơ sở lý luận của Ông là “Tự do, Bình đẳng, Bác ái” – những biểu tượng của nền cộng hòa.

Làng Sen quê Bác

Khi đặt chân đến nước Pháp, đất nước đã biến VN thành thuộc địa, Ông phát hiện ra rằng tầng lớp lao động nghèo khổ ở Pháp cũng ở trong tình cảnh bi thảm như các dân tộc bị áp bức ở thuộc địa. Đồng thời, Ông cũng ngạc nhiên trước tinh thần cộng hòa đối xử bình đẳng với con người bất kể sự khác biệt màu da, ngôn ngữ, văn hóa.Có một câu chuyện nổi tiếng liên quan đến vấn đề này. Sau chuyến hải hành dài bắt đầu từ Sài Gòn, cuối cùng Hồ Chí Minh cũng đến được Maseille. Đây là lần đầu tiên Ông Hồ đặt chân lên nước Pháp. Ông vào một quán cà phê và gọi một tách cà phê. Người hầu bàn đáp lại: ” Vâng, thưa Ông” (Oui, Mousieur). Khi còn ở Việt Nam dưới ách thống trị của thực dân, Hồ Chí Minh chưa bao giờ được gọi bằng từ “Mousieur”.

Đối với chàng thanh niên Hồ Chí Minh khi đó mới 21 tuổi, được một người Pháp gọi là “Mousieur” là một sự ngạc nhiên thú vị. Có lẽ khi đó người hầu bàn cũng không nghĩ rằng vị khách của mình là một người VN đến từ xứ thuộc địa, hoặc cũng có thể do anh ta không quan tâm tới quốc tịch của vị khách. Câu nói của người hầu bàn chỉ là một câu nói “đương nhiên” thường dùng để xác nhận với khách hàng. Thế nhưng, đối với Hồ Chí Minh, một người vốn đã quen chứng kiến cảnh phân biệt đối xử ở xứ thuộc địa, câu trả lời “đương nhiên” đó lại là một hiện tượng thật ngạc nhiên và mới mẻ.

Tinh thần nền cộng hòa Pháp

Tinh thần nền cộng hòa Pháp mang tính lý tưởng cao. Qua Cách mạng Pháp, một quan điểm mới về giá trị con người khác hẳn với giai đoạn trước đã được xác lập. Như đã thể hiện trong câu nói của bản Tuyên ngôn Nhân quyền: “Người ta sinh ra tự do và bình đẳng“. Sự khác biệt căn bản nhất của thời cận đại so với các thời đại khác là sự thay đổi 180 độ quan điểm về giá trị con người. Tinh thần nền cộng hòa chính là cuộc vận động nhằm tạo nên và lý tưởng hóa hình tượng con người mới, thúc đẩy mỗi cá nhân tiếp cận với hình tượng lý tưởng đó.

Đó là cách nhận thức con người bằng việc bài trừ những thuộc tính cá nhân. Lấy ví dụ, nó không quan tâm tới người đó là người Nhật hay người VN, sinh ra ở tỉnh nào, xuất thân trong gia đình hay dòng họ nào, bao nhiêu tuổi, là nam hay nữ. Vấn đề quan trọng là con người đó với tư cách là một “cá nhân” có đủ khả năng suy nghĩ một cách lý tính hay không.

Nền cộng hòa được xây dựng bởi những cá nhân là nhân dân Pháp, bất kể giai cấp, màu da hay người đó có sinh ra ở Pháp hay không. Do vậy, nhiệm vụ quan trọng nhất của nền cộng hòa là phải giáo dục ra được những “cá nhân” có đủ khả năng suy nghĩ một cách lý tính.

Tuy nhiên, không dễ dàng hiện thực hóa được những lý tưởng đó của tinh thần cộng hòa. Đã có rất nhiều hành động nhằm kéo xã hội quay về với tư tưởng cũ. Để xác lập được tinh thần cộng hòa, nước Pháp cần phải đợi đến thời kì nền Đệ tam Cộng hòa, khoảng 100 năm sau Cách mạng Pháp.

Ở nước Pháp khi đó cũng như ngày nay, nông dân luôn đóng vai trò trung tâm. Họ có tư tưởng cực kì bảo thủ. Ở người nông dân, tình cảm thích nhà vua, coi trọng gia đình, truyền thống và dòng dõi là hết sức mạnh mẽ. Trong số họ có rất nhiều người vừa hiếu kì đối với những người khác, đồng thời lại có những suy nghĩ mang tính phân biệt chủng tộc, cho rằng người da trắng ưu việt hơn so với các chủng tộc khác.

Cách mạng Pháp đã thay đổi tư tưởng bảo thủ của nông dân thành những “cá nhân” theo giá trị con người kiểu cận đại, quá trình biến đổi đó kéo dài 100 năm. Ngay trong thời đại hiện nay, dù có quá nửa người Pháp tán thành tinh thần cộng hòa, nhưng rõ ràng cũng có không ít người vẫn duy trì thể trạng cũ của nông dân.

Nguyễn Ái Quốc tại ĐH lần XVIII của Đảng Xã hội Pháp ở Tua – Ảnh: cuocsongviet.com.vn

Nói một cách chính xác hơn, vẫn còn rất nhiều người vẫn mang trong mình mâu thuẫn giữa một bên là con người được giáo dục để mang tinh thần cộng hòa một cách tự giác, với một bên là quan điểm bảo thủ về giá trị con người vốn được nuôi dưỡng trong môi trường gia đình thủ cựu.

Trong khi đó, người VN lại hoàn toàn ngược lại. Người VN trước tiên coi trọng thuộc tính. Mỗi khi đến VN, tôi thường rất lúng túng khi bị người VN đặt những câu hỏi liên quan đến cá nhân như bao nhiêu tuổi, làm việc cho công ty nào, ở vị trí gì, xuất thân từ trường đại học nào, vùng nào, tầng lớp nào, gia đình như thế nào. Hay những câu hỏi đại loại như “Đã kết hôn chưa, nếu có con thì được mấy con rồi?”, “Con mấy tuổi”, v.v…

Tại sao người VN lại chấp nhặt những thông tin cá nhân và hoàn cảnh gia đình như vậy. Đó là vì thông qua những câu hỏi đó, người VN muốn làm rõ vị trí của đối phương, dựa vào đó xác định rõ ràng mối quan hệ xã hội trên dưới giữa mình và đối phương.

Từ đó, quan hệ đó sẽ được phản ánh qua cách dùng từ và động tác ứng xử, qua việc sử dụng cách nói kính trọng hay khiêm tốn, có nên chào hỏi và bắt tay như đối với người lớn hơn hay không. Để xây dựng được quan hệ tốt đẹp cho hai bên và ứng xử đúng với những quy tắc xã hội vô hình, trước tiên người Việt phải tìm hiểu những thuộc tính của đối phương.

Đây không chỉ là truyền thống của riêng VN mà là truyền thống của cả khu vực theo văn hóa Nho giáo, tương ứng với thế giới Đông Á bao gồm cả Trung Quốc, Hàn Quốc và Nhật Bản, những nơi cũng lấy “quan hệ” giữa con người với con người làm quy tắc chuẩn cho hành động.

Ở Đông Á, nơi thuộc tính cá nhân và quan hệ con người đóng vai trò chủ đạo, người ta đã không lý giải được hết được tinh thần nền cộng hòa. Người ta thường viện dẫn những ví dụ của nước Pháp và nước Mỹ để đưa ra những định nghĩa mang tính mô phỏng về nền cộng hòa, kiểu như nền cộng hòa là việc chặt đầu nhà vua, phế bỏ chế độ quân chủ, xây dựng thể chế chính trị “của dân, do dân và vì dân”. Nền cộng hòa là thể chế chính trị mà nhân dân đóng vai trò chính, v.v… Người ta đã không đạt tới được nhận thức rằng, điều kiện tiền đề của nền cộng hòa là những “cá nhân” theo quan điểm giá trị mới về con người.

Tinh thần nền cộng hòa của Hồ Chí Minh

Người viết cho rằng có lẽ Hồ Chí Minh là lãnh đạo chính trị duy nhất ở Đông Á nhận thức được một cách đúng đắn nhất tinh thần nền cộng hòa và Ông đã cố gắng đưa nó vào Việt Nam. Tôi muốn lần theo những hành động của Hồ Chí Minh trong quãng thời gian 10 năm Ông phát huy được năng lực lãnh đạo của mình nhất, tức là quãng thời gian từ lúc về nước từ năm 1941 sau 30 năm bôn ba ở hải ngoại đến năm 50, để chứng minh cho giả thuyết nêu trên.

Trước tiên, tôi cho rằng cần phải khảo cứu lại vấn đề tại sao Hồ Chí Minh lại “phát hiện” ra Lenin và trở thành một người CS. Để định nghĩa lại Hồ Chí Minh từ một người CS Max- Lenin trở thành một người theo chủ nghĩa cộng hòa, cần phải làm rõ mối quan hệ này.

Hồ Chí Minh biết đến Lenin nhờ đọc bài viết được công bố của Lenin về vấn đề thuộc địa. Ông đã bị thu hút mạnh mẽ bởi mối quan tâm sâu sắc cũng như cách đưa ra những phương pháp giải quyết cụ thể đối với vấn đề thuộc địa của Lenin. Ông Hồ cho rằng để giải phóng dân tộc thuộc địa, chỉ có con đường duy nhất là Đảng CS, do vậy Ông đã từ bỏ Đảng Xã hội và trở thành một trong những thành viên sáng lập Đảng CS Pháp.

Sau đó, Ông sang Moscow, trở thành một thành viên của Quốc tế CS và hoạt động năng nổ. Kể từ lúc đó, trong quá trình hoạt động của mình, Ông học được rằng, để giành được độc lập cho VN từ tay nhà nước cận đại Pháp, một trong những liệt cường của Tây Âu có lực lượng quân sự và chính trị khổng lồ, cần phải có một tổ chức đoàn kết chặt chẽ đóng vai trò trung tâm cho công cuộc giải phóng, cũng như cần hoạt động liên kết quốc tế nhằm nhận được sự đồng cảm rộng rãi từ quốc tế.

Ông đồng tình với đề xướng của Lenin về Bôn-sê-vích, Đảng CS- một đảng tiên phong có kỉ luật sắt. Về điểm này, đúng là Hồ Chí Minh là một người theo chủ nghĩa Lenin. Tuy nhiên, ngoài mặt tổ chức, Hồ Chí Minh cho rằng vấn đề cần ưu tiên nhất là đấu tranh giải phóng dân tộc giành lại độc lập cho VN chứ không phải là vấn đề giai cấp. Về mặt này, Hồ Chí Minh không phải là một người CS “chính thống” theo chủ nghĩa Marx – Lenin.

Đối với những người CS “chính thống”, việc Hồ Chí Minh coi trọng giải phóng dân tộc, coi nhẹ đấu tranh giai cấp là hành động xa rời chủ nghĩa cộng sản, do đó, Ông Hồ đã bị phê phán một cách gay gắt và công khai. Furuta Motoo, tham khảo nghiên cứu của Kurihara Hirohide đã trích dẫn một phần lá thư của Ủy ban hải ngoại Đảng CS Đông Dương gửi cho Quốc tế CS như sau:

Ở Đông Dương, các tổ chức CS đã triển khai một cuộc đấu tranh công khai với đường lối của đồng chí Nguyễn Ái Quốc và VN Thanh niên Cách mạng đồng chí hội – đường lối là tàn dư kết hợp giữa chủ nghĩa dân tộc với chủ nghĩa cải lương duy tâm. Tàn dư này hết sức nặng nề và đang trở thành một chướng ngại cho sự phát triển của chủ nghĩa CS. Cần thiết phải đấu tranh không thương tiếc với chủ nghĩa cơ hội và lý luận kiểu cũ của Quốc và Việt Nam Thanh niên Cách mạng đồng chí hội. Chúng tôi đề xuất đồng chí Lin (Bút danh lúc đó của Nguyễn Ái Quốc – Tsuboi) phải viết bản tự kiểm điểm bản thân”.

Trước những phê phán này, Ông Hồ đã phải thay đổi đôi chút lập trường của mình và phải rất vất vả để giữ được vị trí của mình trong Quốc tế CS. Tuy nhiên, ông đã bị gạt ra ngoài hoạt động lãnh đạo của Đảng CS Đông Dưong và bị buộc phải sang Moscow học tập. Nhưng cũng nhờ đó mà Ông Hồ đã thoát chết.

Dưới sự đàn áp khốc liệt của nhà nước đương cục thực dân, những người CS đã phê phán Ông Hồ hoặc bị chết hoặc bị xử tử. Lê Hồng Phong bị bắt tháng 6 năm 1938 và sau đó qua đời trong tù vào khoảng tháng 9 năm 1942. Hà Huy Tập bị bắt tháng 7 năm 1938, sau đó được thả ra một thời gian rồi bị bắt lại năm 1940 và bị xử tử vào tháng 8 năm 1941.

Khi Ông Hồ trở về nước vào năm 1941, ở VN hầu như không còn một người CS “chính thống” nào. Nhờ vậy, trong quãng thời gian 10 năm tính từ khi trở về nước năm 1941, Ông Hồ, dựa vào sự ủng hộ của Quốc tế CS cũng như tiếng tăm của mình, đã có thể hành động một cách tự do hơn theo những suy nghĩ của mình.

Có một giai thoại thể hiện rất rõ hình ảnh Hồ Chí Minh là một người theo chủ nghĩa cộng hòa. Năm 1941, Hồ Chí Minh về nước sau 30 năm bôn ba ở hải ngoại, chủ trì Hội nghị lần thứ 8 Ban CHTƯ Đảng CS Đông Dương, xác định cách mạng là cách mạng giải phóng dân tộc, công bố ý tưởng thành lập nhà nước VN Dân chủ Cộng hòa, đồng thời thành lập VN Độc lập Đồng minh (tên thường gọi là “Việt Minh”). Tên gọi Việt Minh cho thấy mục tiêu của cách mạng VN lúc bấy giờ là đánh đổ ách thống trị của Nhật và Pháp, giành lại độc lập, tập trung toàn lực vào cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc.

Hồ Chí Minh nêu lên chủ trương của VN Độc lập Đồng minh là “liên hiệp hết thảy các tầng lớp nhân dân không phân biệt tôn giáo, xu hướng, đảng phái chính trị nào, giai cấp nào, đoàn kết chiến đấu để đánh đuổi Pháp, Nhật. Sẽ thành lập một chính phủ nhân dân của VN Dân chủ Cộng hòa. Ngôi sao vàng năm cánh làm lá cờ toàn quốc”.

Tuyên ngôn Độc lập

Tên nước VN Dân chủ Cộng hòa được cho là do Hồ Chí Minh đặt. Nội dung của nó được thể hiện trong Tuyên ngôn Độc lập tháng 9 năm 1945 và Hiến pháp năm 1946. Câu đầu tiên của bản Tuyên ngôn Độc lập có đề cập đến Hiến pháp Mỹ và bản Tuyên ngôn Nhân quyền Pháp.

Tất cả mọi người sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”

Lời bất hủ ấy ở trong bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mỹ. Suy rộng ra, câu ấy có nghĩa là: “Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”.

Tuyên ngôn Nhân quyền được viết trong Cách mạng Pháp năm 1791 đã trình bày nội dung tương tự như sau: “Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi; và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi. Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được. Thế mà hơn 80 năm nay, bọn thực dân Pháp lợi dụng lá cờ tự do, bình đẳng, bác ái, đến cướp đất nước ta, áp bức đồng bào ta. Hành động của chúng trái hẳn với nhân đạo và chính nghĩa. Về chính trị, chúng tuyệt đối không cho nhân dân ta một chút tự do dân chủ nào. Chúng thi hành những luật pháp dã man. Chúng lập ba chế độ khác nhau ở Trung, Nam, Bắc để ngăn cản việc thống nhất nước nhà của ta, để ngăn cản dân tộc ta đoàn kết. Chúng lập ra nhà tù nhiều hơn trường học. Chúng thẳng tay chém giết những người yêu nước thương nòi của ta. Chúng tắm các cuộc khởi nghĩa của ta trong những bể máu. Chúng ràng buộc dư luận, thi hành chính sách ngu dân. Chúng dùng thuốc phiện, rượu cồn để làm cho nòi giống ta suy nhược. Về kinh tế, chúng bóc lột dân ta đến xương tủy, khiến cho dân ta nghèo nàn, thiếu thốn, nước ta xơ xác, tiêu điều. Chúng cướp không ruộng đất, hầm mỏ, nguyên liệu. Chúng giữ độc quyền in giấy bạc, xuất cảng và nhập cảng. Chúng đặt ra hàng trăm thứ thuế vô lý, làm cho dân ta, nhất là dân cày và dân buôn trở nên bần cùng. Chúng không cho các nhà tư sản ta ngóc đầu lên. Chúng bóc lột công nhân ta một cách vô cùng tàn nhẫn“… (Lược một đoạn – Tsuboi).

“Bởi thế cho nên, chúng tôi, lâm thời Chính phủ của nước VN mới, đại biểu cho toàn dân VN, tuyên bố thoát ly hẳn quan hệ với Pháp, xóa bỏ hết những hiệp ước mà Pháp đã ký về nước VN, xóa bỏ tất cả mọi đặc quyền của Pháp trên đất nước VN. Toàn dân VN, trên dưới một lòng kiên quyết chống lại âm mưu của bọn thực dân Pháp”. (Trích “Tuyên ngôn Độc lập ngày 2 tháng 9 năm 1945”).

Bác Hồ đọc tuyên ngôn độc lập 2-9-1945

Còn có một câu chuyện nữa về Hồ Chí Minh ít được biết đến. Sau khi thành lập Việt Minh năm 1941, để kêu gọi sự ủng hộ của các nước Đồng minh trong đó có cả Trung Quốc, Ông Hồ đã quay trở lại Trung Quốc. Tuy nhiên, do Việt Minh nằm dưới cái bóng của chủ nghĩa CS nên Ông Hồ đã bị Quốc dân đảng nghi ngờ.

Ông bị chính quyền địa phương của Quốc dân đảng bắt và bị giam từ tháng 8 năm 1942 đến tháng 9 năm 1943. Sau cùng, Quốc dân đảng nhận định rằng Việt Minh là thế lực chính trị chống Nhật trong phạm vi VN nên Ông Hồ đã được thả. Tháng 8 năm 1944, khi được tự do và chuẩn bị về nước, Hồ Chí Minh đã nói với tướng Trương Phát Khuê của Quốc dân đảng như sau: “Tuy tôi là một người CS nhưng bây giờ vấn đề mà tôi quan tâm không phải là chủ nghĩa CS mà là độc lập tự do của VN. Tôi xin hứa với anh một lời hứa đặc biệt: Trong vòng 50 năm tới sẽ không thực hiện chủ nghĩa CS ở VN”. (trích theo Furuta Motoo).

Cách mạng Tháng 8

Tuy nhiên, không thể có được Con người mới gánh vác được độc lập tự do chỉ bằng đấu tranh giải phóng đơn thuần. Hồ Chí Minh biết rõ rằng, để đạt được điều đó cần một cuộc cách mạng làm đòn bẩy. Cuộc cách mạng đó ở VN là “Cách mạng Tháng 8”.

Ngày 15 tháng 8 năm 1945, Nhật Bản đầu hàng vô điều kiện quân Đồng minh, nước Pháp bảo hộ thì chưa khôi phục được thế lực của mình. Cách mạng Tháng 8 là cuộc khởi nghĩa trên toàn quốc do Việt Minh tổ chức nhân cơ hội đó nhằm giành quyền tự chủ thực sự cho VN.

Nhận được tin Nhật đầu hàng, từ ngày 13 đến ngày 15 tháng 8 năm 1945, Đảng CS đã tổ chức Hội nghị toàn quốc ở Tân Trào, ra quyết định khởi nghĩa. Ngày 16-17/8, Việt Minh tổ chức Đại hội Quốc dân, quyết định thành lập Chính phủ lâm thời nước VN Dân chủ Cộng hòa. Sau đó, bắt đầu từ việc giành chính quyền ở Hà Nội ngày 19 tháng 8, Việt Minh đã lãnh đạo thành công khởi nghĩa ở các thành thị khác, xác lập được quyền làm chủ đất nước. Kết quả của quá trình này là sự ra đời của bản Tuyên ngôn Độc lập.

Có nhà nghiên cứu cho rằng Cách mạng Tháng 8 không đơn thuần là một cuộc đảo chính bằng vũ lực. Đúng là khi cách mạng nổ ra, quân Nhật, lúc đó đã đầu hàng Đồng minh, đã không tiến hành đàn áp cuộc khởi nghĩa của Việt Minh. Đồng thời ở VN cũng không có mặt quân Pháp và quân Đồng minh. Nhờ vậy, cuộc khởi nghĩa đã diễn ra một cách tương đối dễ dàng và không phải đổ nhiều máu. Đối với Hồ Chí Minh, cuộc cách mạng này chính là quá trình giành lại quyền lực của nhân dân dựa trên khát khao mạnh mẽ về tự do của họ, nó chính là quá trình xây dựng nên Con người mới.

Ý nghĩa của Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Ước mơ “Độc lập” từ lâu của Hồ Chí Minh là VN được giải phóng khỏi tay thực dân Pháp và trở thành một nước độc lập. Nhưng độc lập của Hồ Chí Minh không phải là khái niệm “độc lập” theo nghĩa cũ, vốn thường được lặp đi lặp lại trong sách giáo khoa- là quá trình VN giữ vững được độc lập và bản sắc (identity) của mình trước sự uy hiếp của Trung Quốc.

VN có lịch sử khởi nghĩa, đánh bại, đánh đuổi sự xâm lược của các triều đại Tống, Nguyên, Minh, Thanh của Trung Quốc, nhưng sau mỗi lần đánh đuổi quân xâm lược Trung Quốc, VN lại chỉ xây dựng một thể chế chính trị mô phỏng Trung Quốc. Nhưng độc lập mà Hồ Chí Minh muốn xây dựng là một nước độc lập, một nhà nước chủ quyền theo kiểu cận đại.

Từ độc lập của Ông bao hàm ý nghĩa xây dựng một quốc gia chủ quyền có lực lượng sánh vai được với các cường quốc trên thế giới. Ý tưởng của Ông là không chỉ xây dựng một chế độ Dân chủ cộng hòa mà còn xây dựng nên hình ảnh những Con người mới đóng vai trò gánh vác quốc gia độc lập.

“Tự do” của Hồ Chí Minh rõ ràng chịu ảnh hưởng từ chữ “tự do” trong khẩu hiệu “Tự do, Bình đẳng, Bác ái” của Cách mạng Pháp và quyền mưu cầu Tự do của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ. Tự do của Hồ Chí Minh không chỉ đơn thuần là đất nước được độc lập, nhà nước có chủ quyền và có quyền tự do phát ngôn, hoạt động trên trường quốc tế, mà phải là thứ tự do được từng người dân ca ngợi.

Nó cũng yêu cầu mỗi người dân ca ngợi quyền tự do đó phải trở thành chủ thể xây dựng từ dưới lên trật tự của nền cộng hòa, yêu cầu từng cá nhân phải có khả năng suy nghĩ, quyết định với tinh thần trách nhiệm cao. Nhà nước kiểu cận đại chính là nhà nước được hệ thống giáo dục đào tạo ra được những con người như vậy. Đồng thời có những thiết chế chính trị đi kèm đảm bảo cho việc giáo dục đó. Nước Cộng hòa của Hồ Chí Minh là Chủ nghĩa dân chủ kết hợp với Tự do.

Cuối cùng, như được đề cập trong bản Tuyên ngôn Độc lập, hạnh phúc theo quan niệm của Hồ Chí Minh, chịu ảnh hưởng của “quyền mưu cầu hạnh phúc” trong Hiến pháp của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ. Hiến pháp Hợp chủng quốc Hoa Kỳ chính là bản Hiến pháp đầu tiên viết rõ ràng về “quyền mưu cầu hạnh phúc”. Hạnh phúc là một từ có tính đa nghĩa, nhưng ý nghĩa từng cá nhân có quyền mưu cầu Hạnh phúc là một khái niệm hết sức mới mẻ của thời kì cận đại.

Lịch sử VN là lịch sử tranh sáng tranh tối của những cuộc đấu tranh chống lại sự xâm lược của Trung Quốc, đấu tranh chống lại những thảm họa thiên nhiên như lũ lụt, hạn hán. Con người VN coi những nguy cơ đó là “bất hạnh”. Đặc điểm của VN là có lịch sử chiến đấu và chiến thắng những “bất hạnh” đó. Nếu coi những “bất hạnh” mà dân tộc VN phải chịu đựng là những thách thức của Ông Trời mang lại để dân tộc VN phải vượt qua thì quả thực, dân tộc VN là một dân tộc anh hùng và quả cảm.

Thế nhưng, quá trình đó bản chất là một quá trình mang tính thụ động. Thông điệp về Hạnh phúc của Hồ Chí Minh là thông điệp mỗi người đều có quyền mưu cầu hạnh phúc và phải chủ động, tích cực tranh đấu để giành được hạnh phúc đó. Thông điệp đó của Hồ Chí Minh đã được đông đảo nhân dân VN đón nhận.

Chủ tịch Hồ Chí Minh với các đại biểu Đại hội toàn quốc thống nhất Việt Minh – Liên Việt (3/1951). Ảnh: TL

Trong bản Hiến pháp làm cơ sở cho nhà nước, Hồ Chí Minh đã tham khảo nước Cộng hòa Pháp và Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, và nêu lên ý tưởng về nước VN Dân chủ Cộng hòa. Con người Hồ Chí Minh được phản ảnh sắc nét trong Hiến pháp là một người theo chủ nghĩa cộng hòa và chủ nghĩa hòa bình hơn là một người theo chủ nghĩa cộng sản.

Hồ Chí Minh đã đọc Tuyên ngôn Độc lập cho nước VN Dân chủ Cộng hòa vào ngày 2 tháng 9 năm 1945. Trong vòng xoáy tương quan lực lượng quốc tế mà VN bị lôi vào, Liên Hiệp Quốc đóng vai trò vô cùng quan trọng. Để các nước công nhận nhà nước VN Dân chủ Cộng hòa, Hồ Chí Minh đã có một hành động mạo hiểm là xóa đi hình ảnh người cộng sản của mình.

Tháng 11 năm 1945, Ông Hồ đã ra quyết định dứt khoát giải tán Đảng CS. Đương nhiên, trên thực tế, tổ chức của Đảng vẫn được giữ nguyên, do đó cũng có thể coi nó như một hành động “ngụy trang”. Thế nhưng, để được các nước công nhận nhà nước VN Dân chủ Cộng hòa, Ông Hồ đã lựa chọn con đường ưu tiên “quyền lợi dân tộc” lên trên “quyền lợi đảng phái”. Về điểm này, chúng ta có thể nhìn thấy một phần cách suy nghĩ theo chủ nghĩa cộng hòa của Hồ Chí Minh.

Người VN có hiểu Hồ Chí Minh không?

Ở đây có một vấn đề là những người VN khác có hiểu được nguyên lý về nước VN Dân chủ Cộng hòa mà Hồ Chí Minh đã trình bày cũng như tinh thần nền cộng hòa được đúc kết trong khẩu hiệu “Độc lập – Tự do – Hạnh phúc” của Ông hay không? Thật tiếc phải nói rằng thông điệp của Hồ Chí Minh hầu như không được truyền bá và lý giải một cách đầy đủ và đúng đắn.

Người ta đã coi Ông như một người lãnh đạo của phong trào CS quốc tế, một người theo chủ nghĩa Marx- Lenin. Đó là vì sau Chiến tranh Thế giới II, thế giới rơi vào cục diện Chiến tranh Lạnh, VN đã bị đặt vào tiền tuyến xung đột của chiến tranh Lạnh Đông – Tây. Trong bối cảnh quốc tế đó, Hồ Chí Minh sau khi thành lập nước đã phải nhận sự hỗ trợ của Trung Quốc và Liên Xô, trở thành lãnh tụ lãnh đạo một cuộc chiến tranh lâu dài chống Pháp và Mỹ.

Ai cũng lấy ý thức hệ làm chủ thể để lý giải Ông Hồ, và ngay bản thân Ông Hồ, để nhận được viện trợ, tiếp tục công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc mình, không có một sự lựa chọn nào khác ngoài việc phát ngôn và hành động như một thành viên của liên minh những người CS.

Thế hệ kém Ông Hồ 10 tuổi như Đại tướng Võ Nguyên Giáp hay Ông Trần Văn Giàu, do chịu sự giám thị gay gắt của nhà đương cục thực dân, đã phải hoạt động tại nước ngoài một thời gian. Chính vì vậy, họ đã hiểu được tình hình bên ngoài và lý giải được một phần tinh thần nền cộng hòa của Hồ Chí Minh. Sự lý giải của họ là nhờ vào những kinh nghiệm sống ở các nước Âu Mỹ, chủ yếu là nước Pháp.

Tuy nhiên, đối với những thế thệ trẻ hơn, do phải tiến hành cách mạng và chiến tranh trên đất VN, hầu như không có mấy người có kinh nghiệm sống ở nước ngoài. Do đó, họ thiếu đi nền tảng tư tưởng để có thể lý giải được đầy đủ “Tinh thần nền cộng hòa” mà Hồ Chí Minh đã đúc kết được sau 30 năm bôn ba ở hải ngoại.

Càng đến những thế hệ trẻ hơn, người ta càng có xu hướng lý giải Hồ Chí Minh chỉ theo góc độ là nhà lãnh đạo Đảng CS. Cùng với việc thần tượng hóa Hồ Chí Minh, người ta đang đánh mất đi khả năng lý giải nội tại Hồ Chí Minh với tư cách là một CON NGƯỜI bình thường.

————————-

Tài liệu tham khảo

Furuta Motoo, Hồ Chí Minh – Giải phóng dân tộc và Đổi mới (Ho-Si-Min Minzoku kaiho to Doi Moi), NXB Iwanami, 1996.

tuanvietnam.vietnamnet.vn

Thế giới nói về Người

“… Chúng ta được tiếp xúc với một người. Người ấy là một phần lịch sử của châu Á. Ngoài phần gặp gỡ một con người vĩ đại, chúng ta không chỉ được tăng thêm về sự hiểu biết mà chúng ta còn lớn lên về tầm vóc. Được gặp Người ấy, một con người từng trải khiến chúng ta trở nên tốt hơn.

… Thật là một điều hân hạnh được gặp con người vĩ đại và có sức hút mãnh liệt đối với chúng ta. Mặc dầu trong thế giới ngày nay còn có khác biệt và xung đột, nhưng được gặp Bác Hồ, chúng ta thật sung sướng được thấy lòng tốt của con người… tình bạn, lòng nhân ái sẽ vượt qua tất cả”.

P.J.Nêru, Thủ tướng Ấn Độ. Trích lời phát biểu trong tiệc chiêu đãi Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngày 7-2-1958

“Người không phải chỉ là một người yêu hoà bình mà còn là một nhân vật đặc biệt đáng yêu và hữu nghị, một con người không nghĩ gì đến mình, giản dị và khiêm tốn. Là Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, Người không tự giam mình trong tháp ngà. Về cơ bản, Người là một con người của quần chúng, một lãnh tụ có sự kết hợp hiếm có giữa lòng khoan dung tột độ và ý chí kiên quyết nhất. Xét theo bất cứ tiêu chuẩn nào, Người cũng là một nhân vật nổi bật nhất trong thời đại chúng ta”.

P.J.Nêru, Thủ tướng Ấn Độ. Bài đăng trên Báo Người yêu nước của Ấn Độ, số ra ngày 14-9-1969

“Đức độ lượng, tính giản dị, tình yêu nhân loại, sự tận tụy hy sinh và lòng dũng cảm của Người sẽ cổ vũ các thế hệ mai sau”.

Inđira Ganđi, Thủ tướng Ấn Độ. Điện chia buồn, ngày 4-9-1969

“… Được gặp gỡ và nói chuyện với Đồng chí Hồ Chí Minh là một ấn tượng không thể nào quên được. Đây là một con người vĩ đại nhưng không bao giờ Người tỏ ra mình là một con người vĩ đại.

Mặc dầu những trọng trách phải gánh vác, Người vẫn thân ái, nhiệt tình và sôi nổi làm cho bạn cảm thấy thoải mái ngay”.

Giôn Gôlan, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Anh. Báo Quân đội Nhân dân, số ra ngày 15-11-1969

“… Tôi chưa có dịp được hân hạnh gặp Người, nhưng qua nhiều tài liệu mà tôi đã được đọc, qua những hoạt động của Người, sự thật Người là một nhà cách mạng vĩ đại, một người vĩ đại của thời đại…”.

T.Étlandô, Thủ tướng Thụy Điển. Báo Nhân Dân, số ra ngày 9-9-1969

“Trước hết phải nói một ý nghĩa rất riêng: chúng tôi thấy và cảm thấy rằng ở Việt Nam mọi người yêu Chủ tịch Hồ Chí Minh như thể yêu mẹ hoặc yêu con của mình. Mọi người yêu Người, song không phải như yêu một ông Trời, mà yêu như thể yêu mẹ hoặc yêu con. Bởi thế, tình yêu đối với Người sâu xa, vô tận. Có thể cảm thấy điều đó ở từng người Việt Nam. Đây không phải là tình yêu huyền bí, mà là một tình yêu thực tế. Nhưng cũng có cái thực tế tuyệt đẹp tới mức có thể biến thành một bông hoa. Và tình yêu đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng như tình yêu đối với hoa hoặc đối với súng, cũng như tình yêu đối với mẹ hoặc đối với con. Đó là điều mà chúng tôi cảm thấy ở Việt Nam.

… Trong con người Chủ tịch Hồ Chí Minh có một sức mạnh khiến người ta vững tin rằng có Người ở Việt Nam thì không thể có chuyện gì xảy ra, rằng không bao giờ vắng Người ở Việt Nam, rằng Người mãi mãi ở Việt Nam, và vì thế Việt Nam mãi mãi có Người, Việt Nam mãi mãi là của Người”.

Ađê Xantamaria, Uỷ viên Trung ương Đảng Cộng sản Cuba: Việt Nam mãi mãi có Người.
Tuần báo Cuba Bôhêmiêng, số ra ngày 12-9-1969

“Tôi đã thấy được một con người đôn hậu, vui tính, giản dị, hết sức nhạy bén đối với những người xung quanh. Đồng thời tôi cũng thường xuyên cảm nhận được tầm vóc lớn lao và siêu phàm trong nhân cách – sức mạnh trí tuệ, sự sáng suốt và ý chí của Người.

Mối liên hệ giữa Đồng chí Hồ Chí Minh với đất nước và đồng bào mình là mối liên hệ thường xuyên và vững chắc. Trong nhiều năm, Người sống xa Việt Nam, nhưng không bao giờ mối liên hệ đó suy giảm đi, đó là nguồn sức mạnh và là chỗ dựa vững chắc của Người trong những năm khó khăn nhất.

Làm cách mạng, tìm kiếm con đường đi đến tự do, đó là tính chất chủ yếu trong nhân cách của Đồng chí Hồ Chí Minh”.

Ecatêrina Vecnisêva, Đạo diễn phim Tên Người là Hồ Chí Minh. Tạp chí Tổ quốc, số 9-1985

“”Bác Hồ của chúng tôi”! Biết bao lần trong thời gian ở Việt Nam, tôi đã nghe mấy tiếng đó! Trong giọng nói trẻ trung của các em bé, trong giọng nói ngọt ngào của các cô gái, trong tiếng nói có vẻ mệt mỏi của những người già, nhưng luôn luôn những tiếng ấy vang lên một cách trìu mến, kèm theo một nụ cười rạng rỡ trên những khuôn mặt.

“Bác Hồ!” hai tiếng ấy là cả tình yêu của hơn ba mươi triệu người Việt Nam đối với vị Chủ tịch nước”.

Phêlich Pita Rôđrighết, Chủ tịch Hội Nhà văn Cu ba

“Ở con người Hồ Chí Minh, mỗi người đều thấy biểu hiện của nhân vật cao quý nhất, bình dị nhất và được kính yêu nhất trong gia đình mình…

Nếu so sánh với vũ khí thì điều đó quan trọng không kém tất cả vũ khí của hạm đội 7… Hình ảnh của Hồ Chí Minh đã hoàn chỉnh với sự kết hợp đức khôn ngoan của Phật, lòng bác ái của Chúa, triết học Mác, thiên tài cách mạng của Lênin và tình cảm của một người chủ gia tộc, tất cả bao bọc trong một dáng dấp rất tự nhiên…”.

Êlen Tuốcmerơ: Trở thành người Bác như thế nào? Sách vàng về Việt Nam, Nhà sách Viện Hàn lâm, Béclin, 1966

“Vào thăm ngôi nhà của Người, tôi càng cảm thấy Đồng chí Hồ Chí Minh vẫn sống. Từng chi tiết nhỏ cũng như toàn bộ ngôi nhà đều ánh lên sự thông thái của Người và còn nguyên dấu vết cuộc đời của một con người đầy tình yêu nhân dân, đầy yêu thương con trẻ, dào dạt tình yêu Tổ quốc, yêu những người lao động, yêu Đảng, yêu chủ nghĩa xã hội và lý tưởng cộng sản chủ nghĩa.

Ngôi nhà nhỏ bé giản dị của Bác Hồ chứa đựng một bài học hùng hồn và rõ ràng về đức tính khiêm tốn cách mạng, trí thông minh, bình tĩnh, phục vụ nhân dân và sự nghiệp giải phóng, kiên quyết lên án mọi biểu hiện sùng bái cá nhân…”.

Xaphích Horêhơ Hađen, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản En Xanvađo. Sổ ghi cảm tưởng Khu di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh, Hà Nội, ngày 1-6-1980

“Thái độ của Người giản dị không thể tưởng tượng được. Trong cách đối xử với chúng tôi, Người thân ái một cách đặc biệt nổi bật khi Người nói với chúng tôi bằng tiếng Tây Ban Nha: “Companeros, gracias!” (cảm ơn các đồng chí!) và bao giờ cũng vậy, Người nói thêm: “Que lejos estado su pais!” (đất nước của đồng chí xa quá!). Tôi ngạc nhiên hỏi Người học tiếng Tây Ban Nha ở đâu. Người kể ra trước đây, Người đã từng đi dọc bờ biển khu vực Mỹ Latinh, làm phụ bếp trên những chiếc tàu buôn. Con người từng bôn ba ở nước ngoài, từng kiếm sống bằng nghề nấu bếp bình thường ấy đứng trước chúng tôi giản dị như thế, mặc dầu có sức hút khổng lồ trên thế giới”.

Xanvado Agienđê, Tổng thống Cộng hoà Chilê. Trích bài nói chuyện với nhà báo Pháp Rêgi Đơbray, đăng trên Báo Pruntô Phinan (Chilê). Báo Cứu quốc, số ra ngày 16-5-1971

“Đến thăm ngôi nhà của Đồng chí Hồ Chí Minh đã giúp chúng tôi hiểu biết hơn nữa và khắc sâu thêm lòng kính yêu Người. Chúng tôi biết nói gì bây giờ? Một tấm gương tuyệt đẹp mà Đồng chí Hồ Chí Minh đã nêu lên trong cuộc đời khiêm tốn, giản dị của mình…”.

Đanien Naamê, Uỷ viên Bộ Chính trị Uỷ ban Trung ương Đảng Cộng sản Xiri. Sổ ghi cảm tưởng Khu di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh, Hà Nội, ngày 30-3-1982

“Có biết bao nhiêu tấm gương cổ vũ lớp người trẻ đứng vào hàng ngũ của phong trào cộng sản. Hồ Chí Minh đã và đang là những tấm gương như vậy.

Bởi vậy, Đồng chí Hồ Chí Minh đã dựng nên một đài kỷ niệm sống vĩ đại ở nước Cộng hoà Liên bang Đức”.

Hơbớt Misơ, Chủ tịch Đảng Cộng sản Cộng hoà Liên bang Đức. Sổ ghi cảm tưởng Khu di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh, Hà Nội, ngày 16-12-1976

“Trong những năm công tác ở Việt Nam, tôi đã nhiều lần nhìn thấy và được nghe Đồng chí Hồ Chí Minh nói… Chỉ riêng vóc dáng bên ngoài của Người cũng khiến những người xung quanh có ấn tượng không sao quên được. Những “nét đặc biệt” trên khuôn mặt Người là chòm râu bạc điển hình của các cụ già Việt Nam, và đôi mắt kỳ lạ có một không hai: luôn luôn tươi trẻ, linh hoạt, rực sáng, pha chút hóm hỉnh, cái nhìn chăm chú, tinh anh nhưng hiền hậu, dễ mến. Ai cũng ngạc nhiên thấy dáng đi của Người lúc nào cũng nhẹ nhàng, cử chỉ, động tác lúc nào cũng gọn gàng, dứt khoát và giọng nói, tiếng cười lúc nào cũng nhiệt tình, tươi trẻ. Sự quan tâm chân thành của Người đối với những ai được tiếp chuyện, thái độ ân cần, niềm nở đặc biệt của Người đã tạo nên bầu không khí thoải mái, thân ái ngay từ những phút đầu gặp gỡ. Cũng như tất cả những ai mong muốn được gặp Người, tôi sửng sốt thấy Người kết hợp được một cách tự nhiên, nhuần nhuyễn tính giản dị và lòng nhân đạo hiếm có với ý chí sắt đá và lòng dũng cảm vô song của một chiến sĩ cách mạng.

Hồ Chí Minh thuộc đội ngũ chiến sĩ cách mạng chân chính, xuất sắc của chủ nghĩa Lênin. Những chiến sĩ thuộc đội ngũ này chẳng những tiếp thu và thực hiện học thuyết Lênin vĩ đại trong thực tế mà còn bằng phẩm chất cá nhân của mình, bằng tấm gương của đời mình thể hiện sức hấp dẫn mạnh mẽ của tư tưởng cộng sản. Một nhà báo đã hỏi Xanvađo Agienđê, người con quang vinh của nhân dân Chilê: “Ba đức tính nào của những nhà hoạt động chính trị mà Ngài muốn có và Ngài sẽ lấy ai làm gương?” Agienđê trả lời: “Liêm khiết, nhân đạo và vô cùng khiêm tốn của Chủ tịch Hồ Chí Minh”.

Người là tấm gương sáng cho tất cả những người cộng sản Việt Nam, cho toàn thể nhân dân Việt Nam về việc phải chăm lo lợi ích xã hội, phải lôi cuốn quần chúng theo mình, phải tổ chức phong trào thi đua, phải ủng hộ tất cả những gì tiên tiến, tích cực, phải mở rộng phê bình, và tự phê bình, phải đấu tranh cho kỷ luật sắt, phải nâng cao nhiệt tình của quần chúng, phải động viên các tầng lớp nhân dân rộng rãi đứng lên đấu tranh quyết liệt chống kẻ thù, lập chiến công và xả thân cho tự do, độc lập của Tổ quốc.

Một trong những đặc điểm nổi bật nhất trong tính cách của Chủ tịch Hồ Chí Minh là vô cùng yêu quý thiếu nhi. Bản thân Người vốn không được hưởng hạnh phúc gia đình, nên Người đã dành tất cả tấm lòng yêu thương của người cha cho hàng triệu trẻ em ở Việt Nam mà Người đã gọi trìu mến là các cháu.

Cho đến những ngày cuối đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn trung thành với những nguyên tắc cao cả của chủ nghĩa quốc tế vô sản, thể hiện mối quan hệ qua lại khăng khít và biện chứng giữa tính dân tộc và tính quốc tế. Bằng toàn bộ cuộc đời và hoạt động của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng như các chiến sĩ xuất sắc khác đấu tranh cho sự nghiệp của chủ nghĩa cộng sản, đã chứng minh cho chân lý bất di bất dịch sau đây: người nào yêu Tổ quốc mình tha thiết thì cũng không khi nào phản bội lại các lý tưởng của tình đoàn kết quốc tế và ngược lại, chỉ những người theo chủ nghĩa quốc tế một cách kiên định thì mới là người yêu nước chân chính, mới đem lại lợi ích to lớn cho Tổ quốc mình, nhân dân mình”.

Épghênhi Cabêlép (Liên Xô): Đồng chí Hồ Chí Minh, Nxb. Thanh niên, Hà Nội, 1985

“Phải nói Bác Hồ cực kỳ nhã nhặn, vô cùng lịch thiệp và thoạt nhìn thấy Người thật hấp dẫn…

Tôi còn nhớ có lần từ ngoại ô về, Người có một quả táo to lắm. Ông để dành mãi để làm quà cho con gái tôi mà Người đã coi như cháu mình. Ông là Bác Hồ thì mọi việc đều trở nên hết sức đơn giản.

Người tỏ ra có quyền lực lãnh đạo đối với mọi người bằng tấm lòng nhân hậu, chí công vô tư, bằng tuổi tác, bằng trí thông minh và trình độ học thức, nói chung bằng tất cả vốn văn hoá cách mạng đã tích tụ được ở Pháp, ở Nga và có thể ở nhiều nơi khác. Đó là một nhân vật trung tâm điều hành công việc… hoàn toàn xả thân vì nhiệm vụ, không một chút lợi riêng tư. Trong ánh mắt những người xung quanh, và người đối thoại, Hồ Chí Minh là một người vô cùng đức độ” .

Tướng P.Valuy (Pháp): Trả lời phỏng vấn Tạp chí Hành tinh Hành động, Pari, tháng 3-1970

“… Hồ Chí Minh là một trong những nhân vật kỳ lạ của thời đại này – hơi giống Ganđi, hơi giống Lênin, hoàn toàn Việt Nam. Có lẽ hơn bất kỳ một người nào khác của thế kỷ này, đối với dân tộc của ông, và đối với cả thế giới ông là hiện thân của một cuộc cách mạng. Ông là một người bônsêvích kỳ cựu và là một thành viên sáng lập của Đảng Cộng sản Pháp (có điều gì xa lạ hơn đối với một nông dân bình thường?). Thế nhưng đối với hầu hết nông dân Việt Nam, ông là biểu tượng của đời sống, hy vọng, đấu tranh, hy sinh, và thắng lợi của họ… Ông là một thành viên của thế giới cộng sản lâu năm hơn Mao và ông đã tập hợp quanh mình một số rất đông những thanh niên ưu tú. Ông đã trải qua cách mạng, chiến tranh, phát triển sau chiến tranh và một cuộc chiến tranh nữa mà không hề thanh lọc người nào. Đảng Cộng sản Việt Nam là một Đảng độc nhất không có xáo trộn (theo những người nghiên cứu lịch sử của Đảng này) chủ yếu là nhờ đức tính quán xuyến của vị lãnh tụ của họ, vị lãnh tụ này đã phối hợp được hoàn toàn nghệ thuật chính trị lâu dài và trước mắt.

Nhưng đối với nhân dân, ông luôn luôn là biểu tượng mà họ cần có: ông cũng là một người Việt Nam lịch sự, khiêm tốn, nói năng hoà nhã, không màng địa vị, luôn luôn mặc bộ quần áo đơn giản nhất, cách mặc của ông không khác người nông dân nghèo nhất – một phong cách mà người phương Tây đã chế giễu trong nhiều năm, cười ông thiếu nghi thức quyền lực, không có đồng phục, không theo thời trang. Cho đến một ngày họ mới tỉnh ngộ và nhận thấy chính cái tính giản dị ấy, cái sùng bái sự giản dị ấy, cái khả năng hoà mình vào nhân dân ấy là cơ sở cho sự thành công của ông.

Trong một nước mà dân chúng đã thấy những người cầm đầu đạt tới một địa vị nào đó rồi trở thành người Tây hơn là người Việt Nam, bị quyền lực, tiền bạc và lối sống phương Tây làm thối nát, trong một nước mà khi những người đó đã ngoi lên khá cao thì không làm gì cho dân chúng cả, lập tức bị bán mình cho người ngoài, tính giản dị của ông Hồ là một điều có sức mạnh. Địa vị càng cao, ông càng giản dị và trong sạch hơn. Hình như ông luôn luôn giữ được những giá trị vĩnh viễn của người Việt Nam: kính già, yêu trẻ, ghét tiền của. Năm 1952, giữa cuộc chiến tranh, ông có thể kết thúc một cuộc họp của Đảng Cộng sản Việt Nam bằng cách nói với Hội nghị: Về một người cách mạng và một Đảng cách mạng, nhà văn lớn của Trung Quốc, Lỗ Tấn, đã có câu thơ:

Trợn mắt xem khinh nghìn lực sĩ
Cúi đầu làm ngựa các nhi đồng.

“Nghìn lực sĩ”, ông giải thích, “là kẻ địch mạnh như thực dân Pháp và can thiệp Mỹ hoặc là những khó khăn gian khổ”. “Các nhi đồng” có nghĩa “là quần chúng nhân dân yêu chuộng hoà bình hoặc là những việc làm có lợi cho nước nhà, cho Đảng”.

Bằng tư cách lãnh đạo xuất sắc như vậy, ông Hồ đã góp sức cải tạo một thời đại. Trong những thập niên 20 và 30, ông đã là một trong những người chỉ trích mạnh bằng lời nói đối với chế độ thực dân, một tiếng nói đơn độc và thường bị làm ngơ. Trong thập niên 50, ông là người đã lập ra một bộ máy chính trị và quân sự, lãnh đạo một nước nông nghiệp lạc hậu trong một cuộc cách mạng thành công chống lại một sức mạnh phương Tây – một cuộc chiến tranh không những đã chấm dứt nền đô hộ của Pháp ở Việt Nam mà còn chấm dứt cái thần thoại về quyền bá chủ của người da trắng và địa vị thấp kém của những người có màu da khác ở khắp thế giới thực dân. Nó còn làm lung lay lòng tin của một thế hệ da trắng vào các tư tưởng và chế định của họ, làm cho họ không nghĩ rằng cái tư tưởng của chế định đó là hay nhất, và chỉ có vấn đề là các tư tưởng và chế định đó từ Âu, Mỹ, nơi mà chúng phát triển tới áp đặt ở châu Á và châu Phi một cách cần mẫn. Cái mà ông Hồ đã đề ra trong cuộc chiến tranh cách mạng thành công chống Pháp và trong cuộc chiến tranh chống Mỹ đã có một tác động lớn lao đối với phương Tây và thế giới kém phát triển. Và ở đây, thế hệ trẻ đặc biệt hiểu và có cảm tình với một ông Hồ đã làm hơn cha anh họ nhiều. Thật vậy, thậm chí nước Mỹ đang đánh nhau với quân đội của ông Hồ, cuốn sách xuất bản ở Mỹ nói về những tác phẩm của ông, Hồ Chí Minh nói về cách mạng lại khoe: “Được viết từ trong thời gian biệt xứ và trong chiến đấu đây là kinh thánh chính trị được một nửa thế giới noi theo”.

Khắp thế giới kém phát triển, sau Điện Biên Phủ, người Bắc Việt Nam đã được đối xử với một niềm kính trọng đặc biệt. Họ đã tự tiến hành lấy cuộc chiến tranh của họ và họ đã chiến thắng, không còn nghi ngờ gì nữa về điều đó. Việt Nam, một nước nhỏ, đã chứng minh cho người châu Á, châu Phi thấy rõ là có thể đánh bại được người phương Tây, dù là về mặt đạo lý, thể chất hay tinh thần. Nhưng người Bắc Việt Nam đã đánh bại một nước lớn phương Tây. Họ đã chiến thắng vì họ anh dũng hơn, tinh khôn hơn và trung thành hơn đối với sự nghiệp của họ. Thế nhưng, đối với tầm quan trọng phi thường của ông Hồ, đối với cuộc đời phong phú của ông và đối với vị trí của ông như là biểu tượng của cuộc nổi dậy của những người da màu nghèo khổ chống lại người da trắng giàu có, điều đáng lấy làm lạ là ở phương Tây người ta biết ít về ông.

Nhưng ông Hồ không cố ý tìm kiếm những cái trang sức cho quyền lực, vì ông tự tin ở mình và ở mối quan hệ của ông với nhân dân và với lịch sử đến nỗi không cần những pho tượng, những cái cầu, những pho sách và những tấm ảnh để chứng tỏ điều đó cho mình và cho thiên hạ thấy. Người ta cảm thấy ở ông Hồ một niềm tự tin: mình là ai, cái mình đã làm, một niềm tin sâu sắc đến nỗi không khó khăn gì mà không làm cho nhân dân thấy được điều đó. Việc ông từ chối sự sùng bái cá nhân là đặc biệt đáng chú ý trong cái xã hội kém phát triển, nơi mà trong một thời gian ngắn từ một nông dân nghèo lên địa vị một người đứng đầu nhà nước, thường làm đề tài cho người ta bàn tán xôn xao và gây ảnh hưởng nhiều hơn là những vật kỷ niệm tự mình xây dựng nên”.

Đâyvit Hênbớcxtơn: Hồ, Nxb. Răngđôm Haosơ, Niu Oóc, 1971

“Đặc điểm nổi bật của Đồng chí Hồ Chí Minh là đức tính nhân hậu toát ra từ con người của Đồng chí. Thái độ ân cần, niềm nở của Đồng chí với bất kỳ ai: gái, trai, trẻ, già, do đó Đồng chí đã gây được thiện cảm của họ ngay từ lúc ban đầu gặp gỡ. Người ta thấy ở Đồng chí vốn sống dồi dào, một sự hiểu biết rộng lớn, với trình độ văn hoá của một người mà không ai quên rằng người đó đã là nhà báo, một nhà văn và một nhà thơ trong số những nhà báo, nhà văn, nhà thơ ưu tú nhất ở Việt Nam.

Từ con người Đồng chí còn toả ra ánh sáng của người chiến sĩ cách mạng đã hoạt động tích cực ngay từ những ngày còn nhỏ tuổi, của nhà yêu nước, yêu dân tộc yêu xứ sở mình và suốt đời chỉ có một mục đích là làm sao cho dân tộc mình được tự do.

Đồng chí Hồ Chí Minh không muốn ai sùng bái mình, nhưng hiếm có một lãnh tụ lại được người ta tôn kính như Người. Đó là lòng yêu mến tuyệt đối của cả một dân tộc đối với Người, khi cả dân tộc đó đều thấy có mình trong con người đó và con người đó đã hy sinh tất cả cho dân tộc mình”.

Lêô Phighe. Bài đăng Báo Nhân đạo. G.Lacutuya trích đăng trong: Hồ Chí Minh, Nxb. Sơi, Pari, 1967

sites.google.com

Ông đã chiến đấu vì một sự nghiệp rất vẻ vang

Khi nhà báo Wilfred Burchett qua đời (2-10-1983) ở Bulgaria – quê hương vợ ông – các đồng nghiệp và nhân dân Việt Nam vô cùng thương tiếc ông. Thép Mới đưa tiễn ông với bài báo xúc động mang tít “Người bạn chiến đấu của Việt Nam”. Sau đó nhiều năm, một đồng nghiệp khác lại viết về ông, gọi ông là “người bạn tận tụy của Việt Nam”…

Tại triển lãm ảnh “Wilfred Burchett và Việt Nam” được tổ chức ở Bảo tàng Hồ Chí Minh (Hà Nội) nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh của nhà báo ưu tú này, đồng chí Chủ tịch nước đã bày tỏ cùng con trai ông – George Burchett – lòng biết ơn sâu sắc của chúng ta đối với những cống hiến của ông dành cho sự nghiệp chính nghĩa của Việt Nam và gọi ông là “một ân nhân, một người bạn lớn của nhân dân Việt Nam”.

Không phải ngẫu nhiên mà ông đã được Chính phủ ta trao tặng huân chương cao quý: Huân chương Kháng chiến hạng nhất. Đó là sự đánh giá rất cao những hoạt động của ông dành riêng cho Việt Nam.

Thật xúc động khi đọc bức thư của ông gửi ba đứa con yêu quý được viết tại chiến trường miền Nam Việt Nam, trong đó ông tâm sự cùng các con: “Cha đang làm việc vì một sự nghiệp rất vẻ vang. Giúp đỡ nhân dân miền Nam Việt Nam bảo vệ đất nước của họ và đánh tan bọn đế quốc Mỹ, những kẻ đang cố chiếm lấy miền Nam rồi xâm lăng miền Bắc Việt Nam”.

Với tấm lòng của nhà báo tiến bộ, thiết tha yêu chính nghĩa, ông nói với các con: “Nhân dân Việt Nam là những người bạn rất thân thiết của chúng ta”. Nhà báo người Australia này là một trong số ít những người cầm bút quốc tế đầu tiên đến với Việt Nam và liên tiếp trong rất nhiều năm viết báo, viết sách bày tỏ sự gắn bó sâu sắc với cuộc chiến đấu vì chính nghĩa của nhân dân ta. Những bài báo và các tập sách như: “Bắc vĩ tuyến 17” (1955), “Việt Nam: Câu chuyện bên trong cuộc chiến tranh du kích” (1965), “Bắc Việt Nam” (1966), “Việt Nam sẽ thắng” (1967)… thuộc vào những tác phẩm ưu tú, nóng hổi, đầy sức mạnh chiến đấu của ông.

Chủ tịch Hồ Chí Minh và Thủ tướng Phạm Văn Đồng cùng vợ chồng nhà báo Wilfred Burchett tại Hà Nội.

Cũng cần nói ngay rằng, trong các tập sách ấy, ông cho in cả hàng trăm bức ảnh do chính ông chụp, vừa có giá trị thời sự vừa có giá trị lịch sử. Nếu chỉ nhìn riêng về khía cạnh nhiếp ảnh, ông xứng đáng được thừa nhận là một nhà nhiếp ảnh tài năng. Những bức ảnh được giới thiệu ở Bảo tàng Hồ Chí Minh đã cuốn hút đông đảo khán giả Việt Nam và quốc tế trong suốt thời gian mở cửa.

Thật ra, “kho ảnh” của ông – như con trai ông cho biết có tới hàng ngàn tác phẩm đã chụp ở cả hai miền Nam, Bắc Việt Nam trong những thời kỳ khác nhau. Riêng ở triển lãm nói trên, ngoài một loạt chân dung Bác Hồ và các nhà lãnh đạo khác như Thủ tướng Phạm Văn Đồng, Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp, Chủ tịch Nguyễn Hữu Thọ, có thể chia làm hai phần: Những hình ảnh của miền Bắc sau chiến thắng Điện Biên Phủ, trong công cuộc chống chiến tranh phá hoại và của miền Nam trong kháng chiến chống Mỹ.

Thời gian đã lùi xa, những bức ảnh ông chụp cùng những bài báo, trang sách ông viết giúp chúng ta sống lại các giai đoạn lịch sử nói trên, đó là không khí hối hả ở miền Bắc những năm đầu xây dựng lại sau chiến tranh, từ các công trường xây dựng thủy lợi, đắp đập, những người thợ cưa gỗ làm tà vẹt đường sắt đến những người nông dân làm cỏ lúa, các bè nứa chở tà vẹt xây dựng tuyến đường sắt Hà Nội – Lào Cai, những phiên chợ ở Điện Biên Phủ, những bản làng người Thái ở Tây Bắc, những người thợ điển hình. Đó là không khí nóng bỏng trong những ngày chống chiến tranh phá hoại do giặc Mỹ gây ra, được phản ánh bằng ảnh và lời như một bản anh hùng ca đầy khí thế chiến thắng.

Một lớp học thời chiến giữa rừng dành cho con em người M’Nông ở Tây Nguyên giữa thập niên 1960. Ảnh: Wilfred Burchett

Chúng ta, những độc giả và khán giả của hôm nay, được gặp lại hình ảnh các chị em phụ nữ trong lao động sản xuất và chiến đấu, các em nhỏ đi học dưới làn bom đạn và các cụ già rất đỗi lạc quan. Chúng ta càng nhớ đến các nữ tự vệ trong các nhà máy ở Hà Nội (như Nhà máy Dệt 8-3), trong bệnh viện dã chiến sơ tán trong một ngôi chùa ở Gia Lâm, cả những em nhỏ bên hồ Hoàn Kiếm và những lứa đôi trong phút yên tĩnh tại Công viên Thống Nhất…

Đáng nói nhất là hai năm liền (1962 – 1964), Wilfred Burchett đã hoạt động ở miền Nam nước ta như một chiến sĩ giải phóng thực thụ, cũng bộ quần áo bà ba, quàng khăn rằn, đội nón hoặc mũ tai bèo, chân đi dép lốp với chiếc xe đạp cũ. ông có mặt và chiến đấu cùng các chiến sĩ du kích ở Tây Nguyên, đồng bằng sông Cửu Long, trong những đêm lửa trại, tại phòng xét nghiệm dã chiến trong rừng, sản xuất lựu đạn. ông không quên nói đến những cuộc văn nghệ trên núi rừng, các chiến sĩ đã ca hát trong những ngày gian khổ…

Tất cả những bài viết và hình ảnh do ông viết ra, ghi lại đều đã được báo chí quốc tế phản ánh đầy đủ, trung thực, góp phần không nhỏ vào việc làm cho bè bạn khắp năm châu hiểu sâu hơn về cuộc chiến đấu của nhân dân ta, để rồi như được tiếp thêm lửa, càng khẳng định mạnh mẽ tình đoàn kết keo sơn với cuộc chiến đấu đó. Trong đời mình, tôi chưa bao giờ được gặp ông, nhưng qua sách báo và hình ảnh của ông, tôi thấy Wilfred Burchett thật gần gũi.

Bệnh viện dã chiến giữa rừng xanh của quân đội Giải phóng. Ảnh: Wilfred Burchett

Một người bạn của ông, nhà báo Đức Franz Faber đã kể tôi nghe về ông, về nhà báo Pháp Madelene Riffaud khi ông cùng họ được Bác Hồ tiếp tại Phủ Chủ tịch ngay sau ngày Người từ Việt Bắc về Hà Nội. Và tôi được biết Burchett đã từng hoạt động báo chí trong những năm 30 của thế kỷ trước ở Berlin. Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, ông lại viết và phát đi những thiên phóng sự từ Berlin cho Daily Express. Riêng ở Đức, tôi đã đọc khá nhiều cuốn sách hấp dẫn, đầy sức cuốn hút của ông.

Cho đến nay, tôi còn nhớ các tác phẩm: “Bình minh ở châu á” (1948), “Cuộc chiến tranh lạnh ở Đức” (1950), “Trung Hoa biến đổi” (1952), “Bên bờ sông Mekong” (1959), “Đất nước nóng bỏng” (tập phóng sự về Liên Xô, 1962), “Những người du kích chống các tướng lĩnh” (1965). Ấn tượng sâu sắc của tôi về tác phẩm của ông là: ông không chỉ thể hiện những sự kiện diễn ra trước mắt ông, mà ông còn tìm mọi cách đi sâu vào thế giới nội tâm của các nhân vật mà ông phản ánh.

Chính chiều sâu tâm hồn, những niềm vui, nỗi buồn, những khát vọng của con người về cuộc sống, niềm tin sắt đá vào ngày mai tốt đẹp làm cho những trang văn của ông càng thấm đượm chất nhân văn, chất trữ tình. ấn tượng của tôi càng được khẳng định khi tôi nghe câu chuyện của nhà thơ Giang Nam kể lại sau ngày gặp Burchett. Đó là năm 1964, đang ở chiến trường miền Nam, Burchett hỏi Giang Nam: “Nghe nói bạn đã có gia đình và hai vợ chồng vẫn sống xa nhau, điều đó có ảnh hưởng gì đến công việc và hạnh phúc gia đình không?”. Nhà thơ của chúng ta trả lời: “Tất nhiên là có rồi, nhưng chúng tôi đã quen dần. Chúng tôi vì công việc và vì bom đạn Mỹ nên có lúc 5, 7 năm, thậm chí 10 năm phải sống xa nhau trong nỗi nhớ thương da diết”.

Nhà báo Australia nắm lấy tay nhà thơ và nói: “Xin cảm ơn bạn đã tâm sự chuyện riêng tư ấy với tôi. Thật khó tưởng tượng các bạn đã sống như thế. Tôi càng hiểu vì sao Việt Nam chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược”. Từ các bài viết và hình ảnh của ông nói về Việt Nam, người con trai ông đã dựng nên hai bộ phim tài liệu: “Trong bưng biền Việt Cộng” và “ở miền Bắc Việt Nam dưới bom đạn”.

Không phải ngẫu nhiên mà con trai ông, họa sĩ George Burchett, đã nói về cha mình rằng: “Cha tôi đến với Việt Nam từ tiếng gọi của chính trái tim mình. Việt Nam là phần quan trọng nhất trong đời làm báo của cha tôi. Đọc sách và xem ảnh của ông, càng khám phá ông, tôi càng ngưỡng mộ ông. Ông là một nhà nhân văn thực sự. Ông đã giúp tôi hiểu hơn về thế giới. Thế giới này thật khó khăn và cần những người như Wilfred Burchett dũng cảm đương đầu với hiểm nguy, đến tận nơi để giải thích cho mọi người về thế giới. Ông giúp tôi biết rằng không nên hoài nghi, cần tin vào chính mình, tin vào loài người, cần hiểu người khác, cần tin vào người khác”.

Tầm vóc lớn lao về sự nghiệp của Burchett mãi mãi được tôn vinh – một sự nghiệp vì chính nghĩa. Vì lẽ đó, Mick Shimmin, trong lời nói đầu tác phẩm “Nhà báo nổi loạn” của Burchett, khẳng định ông là “nhà báo lớn nhất của Australia, là một trong những nhà báo đối ngoại ưu tú nhất trên thế giới”.

Còn Denis Warner thì ca ngợi: “Một trong những tính cách kiệt xuất của ông là lòng quả cảm vĩ đại”. Chủ tịch Hồ Chí Minh và Thủ tướng Phạm Văn Đồng cùng vợ chồng nhà báo Wilfred Burchett tại Hà Nội.

Trần Đương

cand.com.vn

Bài thơ chữ Hán viếng Hồ Chủ tịch của nhà sư Nhật Bản…

Cố Hòa thượng Onishi Ryokei (1875-1983) trụ trì chùa Thanh Thủy ở phía đông thành phố Kyoto là một vị cao tăng rất có uy tín trong giới phật tử và nhân dân Nhật Bản. Cụ rất kính trọng và cảm phục Hồ Chí Minh. Trong một lần tiếp đoàn đại biểu Việt Nam đến thăm, cụ bày tỏ nguyện vọng: Đến ngày Việt Nam chiến thắng, nhân dân Nhật Bản sẽ được đón tiếp Hồ Chủ tịch sang thăm, và cụ sẽ được gặp Người.

Năm 1969, cố Hòa thượng Onishi Ryokei đã 96 tuổi, nghe tin Hồ Chủ tịch từ trần, cụ rất đau xót, bỏ ăn mấy ngày và tự tay viết bài thơ bằng chữ Hán kính viếng.

Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời, không chỉ là tổn thất không thể bù đắp đối với dân tộc Việt Nam ta mà còn để lại niềm tiếc thương vô hạn trong lòng bè bạn quốc tế.

Cố Hòa thượng Onishi Ryokei (1875-1983) trụ trì chùa Thanh Thủy ở phía đông thành phố Kyoto là một vị cao tăng rất có uy tín trong giới phật tử và nhân dân Nhật Bản. Cụ rất kính trọng và cảm phục Hồ Chí Minh. Trong một lần tiếp đoàn đại biểu Việt Nam đến thăm, cụ bày tỏ nguyện vọng: Đến ngày Việt Nam chiến thắng, nhân dân Nhật Bản sẽ được đón tiếp Hồ Chủ tịch sang thăm, và cụ sẽ được gặp Người.


Một góc chùa Thanh Thủy. Ảnh từ Internet.

Năm 1969, cố Hòa thượng Onishi Ryokei đã 96 tuổi, nghe tin Hồ Chủ tịch từ trần, cụ rất đau xót, bỏ ăn mấy ngày và tự tay viết bài thơ bằng chữ Hán kính viếng. Nguyên văn bài thơ của cố Hòa thượng Onishi Ryokei:

救國眞人昇碧空
迷途民衆哭悲衷
古今稀見老英傑
一葉飜風秋色濛

Cứu quốc chân nhân thăng bích không
Mê đồ dân chúng khốc bi trung
Cổ kim hi kiến lão anh kiệt
Nhất diệp phiên phong thu sắc mông.


Bút tích cố Hòa thượng Onishi Ryokei

Vì nhiều lý do, một thời gian sau, bài thơ mới được chuyển đến Viện Hán-Nôm. Bài thơ được nhận định là khó đọc và khó dịch. Sau khi cân nhắc, lãnh đạo Viện quyết định giao cho Trần Duy Vôn dịch. Và ông đã dịch thành công:

Trời xanh đón người cứu nước về
Đau lòng chúng sinh trên đường mê
Xưa nay hiếm bậc lão anh kiệt
Chiếc lá thu bay trời ủ ê.

Bài thơ của cố Hòa thượng Onishi Ryokei và bản dịch của Trần Duy Vôn mãi đến ngày 19/5/1973 mới được công bố trên báo Thống Nhất.

Trần Duy Vôn (1906-1979) hiệu là Nhàn Vân Đình với các bút danh: Hải Âu, Mạc Như… người xã Hải Anh, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định.

Thuở nhỏ, ông rất thông minh, hiếu học. Mười chín tuổi, ông đã thông hiểu kinh điển Hán học. Tiếc vì triều đình đã bãi bỏ thi chữ Hán, nên ông không có cơ hội ứng thí để ra làm quan, phò vua giúp nước – giấc mộng và cũng là con đường tiến thân của hầu hết nho sĩ thời phong kiến.

Toàn bộ sở học, Trần Duy Vôn dành trọn cho việc làm thơ, viết báo và trước thuật. Dưới chế độ cũ, từ năm hai mươi mốt tuổi (1927), ông đã viết bài cho rất nhiều báo khắp ba miền Bắc Trung Nam. Đáng chú ý là trong 8 năm (1927-1934), ông là trợ bút, phụ trách mục Hán văn của báo Nam Phong. Năm 1932, do có nhiều công tích viết báo, ông đã được triều đình ban phẩm hàm “Cửu phẩm Văn giai”. Năm 1941, do dâng hai cuốn Đế vương Bảo Giám và Thiên hạ Mẫu nghi, ông được triều đình sắc phong “Hàn lâm viện cung phụng”.

Do vậy, người quê quen gọi Trần Duy Vôn là Hàn Vôn. Cuộc đời ông có nhiều năm cơ cực, oan uổng, nhưng ông vẫn lạc quan, vẫn làm thơ và miệt mài nghiên cứu, viết sách. Cuộc đời 74 năm, Trần Duy Vôn đã để lại một khối lượng sáng tác đồ sộ gồm hơn 40 tác phẩm, 523 bài thơ chữ Hán, 799 bài thơ Quốc ngữ và hàng trăm bài phú, văn tế…

Năm 1972, sau nhiều lần gửi thư mời, Viện Hán-Nôm đã cử người đón ông lên công tác tại Viện. Được coi là “bậc cố vấn”, “tự điển sống” của Viện. Trần Duy Vôn đã đóng góp nhiều công sức vào việc nghiên cứu, dịch thuật Hán – Nôm và đào tạo cán bộ chuyên ngành. Dịch thành công bài thơ chữ Hán của nhà sư Nhật Bản, là một minh chứng cho trình độ Hán – Nôm uyên thâm của ông.

honvietquochoc.com.vn