Thư viện

Chúng tôi đánh chiếm sân bay Tân Sơn Nhất

QĐND – Trong Chiến dịch Hồ Chí Minh, Sư đoàn 10 (Quân đoàn 3) làm nhiệm vụ thọc sâu trên hướng chủ yếu, tiến công theo trục lộ số 1 vào sân bay Tân Sơn Nhất và Bộ Tổng tham mưu quân đội Sài Gòn.

Sau một ngày hành tiến đánh địch, 6 giờ 30 phút ngày 30-4-1975, Trung đoàn 24 của Sư đoàn tiêu diệt địch chốt giữ ở ngã tư Bảy Hiền, tiến công vào Bộ Tổng tham mưu và sân bay Tân Sơn Nhất. Lực lượng đi đầu, Tiểu đoàn 5 bị quân địch có xe tăng và pháo binh chống trả quyết liệt, bộ đội ta tổ chức nhiều đợt tiến công nhưng vẫn không tiến lên được. Cùng lúc đó, không quân địch lại tập trung đánh phá vào đội hình Tiểu đoàn 4 đang cơ động lên, lực lượng và phương tiện bị tổn thất lớn, sức mạnh và khả năng chiến đấu của trung đoàn đã bị suy giảm.

Trước tình hình đó, chỉ huy Trung đoàn 24 quyết định sử dụng Tiểu đoàn 6 do tôi làm Tiểu đoàn trưởng mở hướng tiến công mới theo trục đường Hoàng Hoa Thám, đánh thẳng vào sở chỉ huy của sư đoàn dù, phát triển bắt liên lạc và bảo vệ phái đoàn quân sự ta ở trại Đa-vít, đánh chiếm Bộ Tư lệnh không quân và sân bay Tân Sơn Nhất. Tôi được Trung đoàn trưởng Vũ Văn Tài giao nhiệm vụ qua máy 2W: Khẩn trương chuẩn bị cho đơn vị chuyển sang đánh địch ở hướng tiến công mới. Nhiệm vụ chiến đấu cụ thể sẽ do anh Chu Minh Thực, tham mưu phó xuống giao trực tiếp.

Thiếu tướng Bùi Thanh Sơn. Ảnh: Trung Nguyên.

Nhận nhiệm vụ chiến đấu, Ban chỉ huy tiểu đoàn chỉ biết được mục tiêu đánh địch qua bản đồ hành chính của thành phố Sài Gòn lúc đó. Khó khăn lớn nhất với đơn vị lúc này là lực lượng địch ở từng mục tiêu có bao nhiêu, chúng tổ chức bố phòng thế nào, sức mạnh chiến đấu ra sao… ta chưa nắm được. Địa hình lại mới lạ, lực lượng biệt động dẫn đường không còn. Cán bộ và chiến sĩ trong đơn vị vừa trải qua thời gian dài chiến đấu, liên tục đánh địch từ Buôn Ma Thuột, trên trục đường 21, đến Nông Trại, quận lỵ Phước An, đèo Phượng Hoàng xuống thành phố Nha Trang và quân cảng Cam Ranh. Sau đó lại hành quân thần tốc vào tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh, cùng các đơn vị bạn đánh địch trong quá trình thọc sâu ở quận lỵ Củ Chi, trung tâm huấn luyện Quang Trung, ngã ba Bà Quẹo… Mặc dù có nhiều khó khăn, tôi cùng với anh Hòa, anh Bùi Văn Đảo và Nguyễn Văn Việt trong Ban chỉ huy tiểu đoàn nhanh chóng trao đổi và hạ quyết tâm: Đại đội 9 tiến công ở hướng chủ yếu, đánh theo đường Hoàng Hoa Thám vào sở chỉ huy của Sư đoàn dù, phát triển sang bắt liên lạc và bảo vệ phái đoàn quân sự ta ở trại Đa-vít. Đại đội 11 tiến công trên hướng quan trọng, đánh chiếm Bộ Tư lệnh không quân ngụy. Đại đội 10 là lực lượng dự bị sẵn sàng bước vào chiến đấu trên cả hai hướng, sau đó phát triển tiến công đánh chiếm sở chỉ huy Sư đoàn 5 không quân và sân bay Tân Sơn Nhất. Để tạo thuận lợi cho các hướng tiến công khi gặp địch, tiểu đoàn tổ chức đợt hỏa lực mạnh, bắn phá sở chỉ huy Sư đoàn dù và Bộ Tư lệnh không quân ngụy, các đơn vị nhanh chóng vận động tiếp cận, tổ chức hỏa lực bắn gối, đồng loạt xung phong đánh chiếm mục tiêu theo quy định.

Ảnh chụp ở Trại Đa-vít năm 1976. Thứ ba từ trái sang: Tác giả, Trung đoàn trưởng Vũ Văn Tài, Chính trị viên Nguyễn Văn Việt cùng đồng đội. Ảnh do tác giả cung cấp.

Trước quyết tâm và sức mạnh đánh địch của bộ đội ta, quân địch lúc đầu tuy có bị bất ngờ, nhưng Sư đoàn dù là lực lượng tổng dự bị chiến lược của địch vẫn ngoan cố dựa vào công sự và trận địa để chống trả quyết liệt. Do có kinh nghiệm tác chiến, nhất là sự vận dụng sáng tạo cách đánh của bộ đội ta: Khi tiến công vào các mục tiêu, các hướng đều tập trung lực lượng đánh vào hai bên sườn quân địch là chính. Bằng sức mạnh và cách đánh hiểm đó, quân địch đã lần lượt bị tiêu diệt, lực lượng còn lại buộc phải rút lui từng bước, các đơn vị nhanh chóng chuyển sang hành tiến. 10 giờ, Đại đội 9 đánh chiếm được sở chỉ huy Sư đoàn dù, phát triển sang trại Đa-vít bắt liên lạc với phái đoàn quân sự ta. Giây phút mừng vui đã đến, gặp lại chiến sĩ ta, tuy trên khuôn mặt và quần áo còn lấm đầy bụi khói chiến trường, những cái ôm hôn thắm thiết, những giọt nước mắt xúc động sau bao ngày xa cách. Các đồng chí trong phái đoàn quân sự phải trải qua thời gian dài sống trong sự o ép, vây hãm và đe dọa của kẻ thù, nay được tự do gặp lại đồng chí và đồng đội của mình, lại được đón mừng ngày đại thắng của toàn dân tộc sắp đến, ai nấy đều rất vui mừng và phấn khởi. Đoàn trưởng Hoàng Anh Tuấn, Đoàn phó Võ Đông Giang đều căn dặn chỉ huy và chiến sĩ trong đơn vị: Kẻ thù còn đó, chúng vừa bị đánh, buộc phải rút lui, súng còn đang nổ rất dữ dội ở khắp mọi nơi. Tuy vậy, giờ chiến thắng sắp đến, các đồng chí phải tìm ra cách đánh thắng quân địch, hạn chế không để cán bộ và chiến sĩ ta bị thương vong nhiều…

11 giờ 10 phút ngày 30-4-1975, Tiểu đoàn 6 của chúng tôi đã làm chủ hoàn toàn sân bay, cắm cờ ở sở chỉ huy Sư đoàn dù, Bộ Tư lệnh không quân, đài chỉ huy và cụm cảng hàng không ở sân bay Tân Sơn Nhất… Sau đó, một mũi tiến công của tiểu đoàn đã nhanh chóng phát triển sang, phối hợp với đơn vị bạn đánh địch ở lục quân công xưởng, hoàn thành nhiệm vụ chiến đấu được giao.

Thiếu tướng, PGS. TS. Bùi Thanh Sơn
qdnd.vn

Chiến sĩ Điện Biên “dấn thân” vào trận tuyến mới

Tới thăm nhà riêng của ông tại khu C7 – Nghĩa Tân (Cầu Giấy, Hà Nội), tôi ngạc nhiên khi thấy ông khá rành vi tính, internet và cả… chuyện thương trường. Ông bảo, từ ngày về hưu, rồi cùng cô con gái mở công ty riêng, người ta vẫn hay gọi ông là doanh nhân, nhưng với ông, hai chữ “doanh nhân” vẫn cần phải bàn thảo nhiều. Gặp và trò chuyện với ông, ít ai nghĩ rằng Đại tá, Cựu chiến binh Phạm Xuân Phương đã ở tuổi 81 và từng là cán bộ tiền khởi nghĩa…

Cuộc đối thoại thú vị với tướng Pháp Bi-gia

Ông Phạm Xuân Phương là người được sinh ra trong một gia đình viên chức có nghề thợ nhuộm ở phố Hàng Đào (Hà Nội). Khi mới 16 tuổi và đang học trường Tây, cậu học sinh Phạm Xuân Phương được bạn bè rủ tham gia hoạt động cách mạng trong phong trào học sinh cứu quốc của Hà Nội. Có tên trong số hai chục thanh niên được chọn lên Chiến khu hoạt động, Phạm Xuân Phương đã bí mật bỏ nhà đi theo cách mạng. Được biên chế vào trung đội Giải phóng quân, ông là người ít tuổi nhất. Ông tâm sự: “Ngày ấy, chúng tôi hiểu rất rõ điều gì đã thôi thúc các cô, cậu học trò sớm trở thành những chiến sĩ Việt Minh, đó là vì dân ta chết đói quá nhiều, vì dân ta đang phải chịu ách áp bức “một cổ hai tròng” của Pháp, Nhật,… Cảnh tượng ấy đã thôi thúc chúng tôi đi theo cách mạng và nhiều người đã trở thành những “ngòi nổ” mạnh mẽ trong các cuộc kháng chiến”.

Tấm ảnh ông Phương chụp với tướng Bi-gia tại Hà Nội được  đăng trên tạp chí truyền hình “Telé 7 ngày” của Pháp (số ra ngày 1-7-1994).

Sau Cách mạng Tháng Tám, ông được cử đi học tại Trường Quân chính kháng Nhật rồi trưởng thành từ một cán bộ tiểu đội ở địa bàn Chiến khu 3. Là người lính trải qua hai thời kỳ chống Pháp, chống Mỹ, làm nhiệm vụ quốc tế ở Lào, Cam-pu-chia và bảo vệ biên giới phía Bắc, ông vinh dự có mặt ở nhiều chiến dịch lớn. Ông kể với tôi kỷ niệm trong lần trở lại Điện Biên Phủ năm 1994, khi ông được Trung ương Hội Cựu chiến binh giới thiệu đi cùng đoàn khách du lịch Pháp tới thăm lại chiến trường xưa, trong đoàn có tướng Mác-xen Bi-gia (Marcel Bigeard) – nguyên Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn dù 6 – người từng bày tỏ nguyện vọng sau khi chết được rải tàn tro xác mình xuống chiến trường Điện Biên Phủ. Khi đi cùng, ông mới biết mục đích chuyến đi của họ là làm bộ phim tài liệu về tướng Bi-gia. Sau khi được phép của các cơ quan chức năng, đoàn làm phim đã mời ông Phương cùng cộng tác với vai trò người đối thoại với tướng Bi-gia. Ông Phương là người sành tiếng Pháp, qua những cuộc trò chuyện với đoàn làm phim, ông đã làm họ ngạc nhiên bởi thứ tiếng Pháp ông  đang dùng là một thứ ngôn ngữ cổ điển, giàu hình ảnh, phong phú về từ vựng, đôi lúc ông còn dùng cả tiếng lóng của quân đội Pháp. Họ hỏi ông học tiếng Pháp ở đâu, ông bảo: “Tôi học ở Việt Nam, chính người Pháp các anh dạy tôi đấy!”. Hôm tới cứ điểm Hồng Cúm, tướng Bi-gia hỏi ông Phương:

– Ông có nhớ sự kiện ngày 16-3-1954?

– Đó là ngày ba tiểu đoàn dù của các ông đổ bộ xuống Điện Biên Phủ và có một tiểu đoàn đổ bộ ở đây, không biết đó có phải tiểu đoàn của ông?

– Chính tôi là người chỉ huy tiểu đoàn đó.

– Ông nhớ nhất điều gì?

– Khi tôi lơ lửng trên trời, thấy những làn đạn của các ông bắn lên và lúc đáp xuống bãi đổ bộ là những loạt đại bác…

– Tôi chính là người có mặt trong Trung đoàn đang bao vây Hồng Cúm. Hồi đó, may mà chúng tôi… bắn trượt ông đấy.

Câu nói dí dỏm của ông Phương và cuộc đối thoại sau 40 năm của hai người lính từng ở hai chiến tuyến sau đó đã được phát trên truyền hình Pháp. Rất nhiều người thân, bạn bè ở Pháp đã nhận ra ông Phương – người chiến sĩ tham gia Chiến dịch Điện Biên khi ở tuổi 25…

“Dấn thân” vào chốn thương trường

Sau 48 năm quân ngũ, năm 1992, ông Phương về nghỉ hưu với quân hàm đại tá. Khi biết bố mình tuy nghỉ hưu nhưng vẫn còn trăn trở với cuộc chiến chống đói nghèo, lạc hậu, cô con gái cả Phạm Thị Lan Anh đã khởi xướng ý tưởng lập công ty riêng và mời ông Phương đảm đương vai trò quản lý. Ông nhớ lại: “Vào những năm đầu thập kỷ 90, cả hai cha con tôi còn mang nặng tư duy và lối sống bao cấp, hiểu biết về chủ trương, chính sách pháp luật liên quan đến doanh nghiệp cũng còn giản đơn, nhưng tôi coi đây là một sự “dấn thân” trên trận tuyến mới”. Sau những khó khăn ban đầu, Công ty TNHH Anh Phương do ông làm Chủ tịch Hội đồng quản trị, con gái ông là Giám đốc đã dần đứng vững với thương hiệu bê tông thương phẩm và dịch vụ công nghiệp. Giờ đây, sau hơn 10 năm, công ty do cha con ông gây dựng đã trở thành Công ty cổ phần Bê tông và xây dựng A&P với tốc độ tăng trưởng bình quân đạt mức 20-25%, lương bình quân của người lao động đạt 3,4 triệu người/tháng. Ông bảo: “Một công ty do hai cha con cùng khởi nghiệp, nhưng chính con gái tôi là người táo bạo khởi xướng, khác hẳn với công ty gia đình kiểu phương Tây trong đó người cha gây dựng, quản lý và điều hành rồi chuyển giao cho con cái”.

Ở tuổi 81 nhưng hằng ngày ông Phương vẫn miệt mài làm việc bên máy vi tính.

Không muốn là người đóng vai trò “danh dự” trong công ty, ông đã dành nhiều thời gian nghiên cứu, giúp con gái định hướng, tổng kết hoạt động. Thông qua các mối quan hệ cũ, mới ở trong và ngoài nước, ông trực tiếp phụ trách các hoạt động xã hội, từ thiện và mảng chấp hành chính sách với người lao động. Doanh nghiệp của ông đã tham gia nhiều hoạt động từ thiện như: viện trợ xây dựng Bệnh viện Bình Gia (Lạng Sơn); hỗ trợ nuôi dạy trẻ em đường phố Đà Nẵng; đóng góp, tôn tạo di tích làng cổ Đường Lâm và chùa Mía (Sơn Tây, Hà Nội). Như ông tự nhận: “Tôi chỉ làm chỗ dựa tinh thần cho con gái và đảm đương vai trò “người cầm trịch” trong công ty”, nhưng với ý thức trách nhiệm của một đảng viên làm kinh tế tư nhân, ông còn đóng góp ý kiến, tham luận tại một số diễn đàn, hội thảo.

Năm 1998, tại cuộc gặp gỡ 800 doanh nghiệp tiêu biểu do Văn phòng Chính phủ phối hợp với Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam tổ chức tại Thành phố Hồ Chí Minh, ông Phương đã có bài phát biểu được nhiều người đánh giá cao. Ý kiến của ông khi đó có nhiều điểm khá mới bởi ông đã mạnh dạn đề cập tới chuyện đảng viên làm kinh tế tư nhân. Theo ông, mặt trận chống đói nghèo đòi hỏi đảng viên phải là người tiên phong bởi mình là đảng viên mà nghèo, lại không biết làm ăn thì khó có thể vận động được người khác. Bởi vậy, người đảng viên không những phải tự mày mò, tìm bước đi để thành công trong việc làm kinh tế mà còn phải tự đổi mới tư duy để chiến thắng cái cũ kỹ, lạc hậu. Ông nêu lên những trăn trở của mình về hai chữ “doanh nhân”, khi mà những người từ tầng lớp “con buôn” trước đây đã trở thành lớp người được trọng thị và có nhiều đóng góp trong xã hội. Theo ông, các cấp, ngành cần dày công nghiên cứu, tìm hiểu kỹ hơn về họ, phải nhận diện doanh nhân thuộc nhiều thành phần kinh tế khác nhau và đi sâu tìm hiểu những nét khác biệt của từng thành phần kinh tế trong một cộng đồng doanh nhân đa dạng về quy mô, tính chất, từ đó mới có thể đưa ra được nhiều đường lối, chính sách “đúng và trúng” về đội ngũ này.

Như lời ông tâm sự, cả đời ông trước sau vẫn chỉ là một người lính, một đảng viên bình thường với niềm tự hào nho nhỏ là đã đem hết sức mình để hoàn thành nhiệm vụ ở mỗi “trận tuyến”. Những năm tháng thử sức trong cơ chế thị trường đã đem lại cho ông nhiều niềm vui, nhưng đó cũng là quãng thời gian ông da diết nhớ tới đồng chí, đồng đội, những người đã cùng ông chia ngọt sẻ bùi và mãi mãi nằm xuống để ông, gia đình ông và tất cả chúng ta có được ngày hôm nay…

Bài và ảnh: Minh Tuệ
qdnd.vn

Hỏi cung Đại tá tù binh Nguyễn Văn Thọ

Cựu chiến binh Phan Thiện Quốc – người tham gia hỏi cung Nguyễn Văn Thọ trong Chiến dịch Đường 9 – Nam Lào. Ảnh: Hùng Khoa.

QĐND – Năm 1971, ông Phan Thiện Quốc đang là trợ lý ở Cục Nghiên cứu – Tổng cục Chính trị (nay là Cục Dân vận-Tổng cục Chính trị) thì được cử làm phái viên Chiến dịch Đường 9 – Nam Lào với nhiệm vụ theo dõi công tác binh địch vận kết hợp với tác chiến của các đơn vị. Ông nhớ lại kỷ niệm trong lần tham gia hỏi cung viên Đại tá tù binh Nguyễn Văn Thọ, Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn dù 3 ngụy…

“Đầu tháng 3-1971, chúng tôi nhận được điện chỉ đạo từ Hà Nội là phải kiểm tra thông tin và tranh thủ khai thác viên Đại tá tù binh Nguyễn Văn Thọ – Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn dù 3 – bị Quân Giải phóng bắt sống ngày 25-2-1971 để kịp thời đáp trả những tin tức bịa đặt mà báo chí của chính quyền Sài Gòn đang rêu rao là: “Đại tá Thọ đã thoát về hậu cứ an toàn”. Thật dễ hiểu bởi trước thất bại đau đớn, địch đành cố lấy lại tinh thần của quân lính và vớt vát hư danh của một binh chủng từng được coi là “Thiên thần mũ đỏ”, “con át chủ bài tin cậy của nền Cộng hòa”, kẻ địch lo sợ binh chủng dù mà thua trận thì khác nào “gươm kề tận cổ”.

Nhận chỉ thị của cấp trên, trong một gian nhà lá đơn sơ tại Mặt trận Đường 9 – Nam Lào, tôi, anh Mặc Lâm cùng Cục phó Nguyễn Văn Thường và một số phóng viên mặt trận đã có mặt để chuẩn bị cho buổi khai thác viên Đại tá tù binh. Chúng tôi đang chăm chú ngồi theo dõi tấm bản đồ chiến dịch thì một Chiến sĩ giải phóng dẫn một tù binh mang sắc phục binh chủng dù ngụy có thân hình béo mập, mặt ỉu xìu đi tới. Anh Thường cho phép tên tù binh được ngồi. Viên tù binh rón rén ngồi xuống sau khi được cởi trói. Vẫn động tác rất nhà binh, anh ta ngồi nghiêm, mắt nhìn phía trước. Có lẽ trong đầu viên sĩ quan này đang hình dung những ngón đòn từ roi điện, dùi cui… như đã từng thấy trong các cuộc tra hỏi của Mỹ ngụy. Thật bất ngờ với kẻ có tội vừa mới bị bắt, đồng chí Thường dùng từ “anh” và xưng “tôi” để hỏi cung: “Anh khai họ tên, chức vụ, ngày và nơi bị bắt?”. “Dạ thưa ông, tôi tên là Nguyễn Văn Thọ, Đại tá, Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn dù 3, bị bắt ngày 25-2-1971 tại đồi 31, khu vực cao điểm 456 Đường 9 – Nam Lào…”.

Từ lời khai của Thọ và theo thông tin do các cán bộ địch vận của ta nắm được, viên Lữ trưởng Nguyễn Văn Thọ quê ở Vũng Tàu và được sinh ra trong một gia đình có 11 người con. Năm 1969, Thọ về nắm Lữ đoàn dù 3 từ tay Nguyễn Khoa Nam, sau đó Thọ tham gia các trận đánh tại Cuộc hành quân Chen-la 1 ở chiến trường Cam-pu-chia và bị thương ở chân. Với cái chân cà nhắc, nhưng Thọ vẫn tuân lệnh cấp trên lao vào chiến dịch “Lam Sơn 719” theo cách gọi của quan thầy Mỹ. Thọ có kể lại rằng anh ta đã từng rất hy vọng sau chiến dịch sẽ được cấp trên “quan tâm” cất nhắc cho cái lon tướng để sớm được “bằng anh bằng em”… Nhưng sự thất bại của Lữ đoàn dù 3 tại Chiến dịch Đường 9 – Nam Lào đã làm cho giấc mộng “đeo lon tướng” của Thọ bị tiêu tan.

Nguyễn Văn Thọ (ngồi thứ hai từ phải sang) trình diện trước các nhà báo sau khi bị bắt. Ảnh tư liệu

Tại buổi hỏi cung, Thọ kể quân lính Việt Nam Cộng hòa khá bất ngờ với sự xuất hiện của xe tăng Quân Giải phóng, vì thế quân ngụy đã hốt hoảng nằm rạp xuống công sự, súng chống tăng M72 cũng không phát huy tác dụng. Viên đại tá tù binh còn kể khá chi tiết tại thời điểm bị bắt: “Quân lính chúng tôi khi bị các ông tấn công mạnh thì ai nấy tìm đường tháo chạy. Còn tôi, tứ phía đang bị vây hãm, không biết tính sao, tôi đành giả chết để lẩn trốn. Tôi vẫn nghe bên ngoài tiếng la thét xung phong, tiếng xe tăng gầm rú, biết binh lính của các ông đã đánh chiếm sở chỉ huy, xộc vào các chiến hào. Tôi thoáng nghe tiếng loa: “Không thoát được đâu, hàng thì sống, chống thì chết!”. Tôi chỉ kịp đứng dậy, giơ hai tay lên và bị bắt”. Khi được hỏi: “Anh nghĩ sao về cuộc hành quân Lam Sơn 719?”, Thọ khai báo rõ ràng, trôi chảy những vấn đề như đã được cân nhắc, suy nghĩ kỹ: “Ngay sau cuộc họp của các sĩ quan cao cấp trong Quân lực Việt Nam cộng hòa để tổ chức hợp đồng giữa các quân binh chủng trong chiến dịch, chúng tôi đã nói nhỏ với nhau rằng cuộc hành quân sẽ thất bại vì năm 1968 quân Mỹ ở Đường 9 – Khe Sanh trong một hệ thống công sự kiên cố lại được chi viện phi pháo tối đa mà còn thất bại. Đến Đường 9 – Nam Lào, chúng tôi không có bộ binh Mỹ tham gia, chỉ có yểm trợ bằng phi pháo, lại đụng độ với các ông, một đội quân chủ động trên một chiến trường đã được “lót ổ” thì thất bại là một điều đã được báo trước”. Khi trả lời câu hỏi cuối: “Anh có nguyện vọng gì?”, Nguyễn Văn Thọ đứng bật dậy, quên rằng mình đang là một tù binh, anh ta nói như muốn khóc: “Dạ thưa, cho tôi được nhắn về gia đình, vợ con rằng tôi vẫn mạnh khỏe và được đối xử khoan hồng”.

Phan Thiện Quốc (kể) – Bùi Vũ Minh (ghi)
qdnd.vn

Kẻ cầm đầu Chính phủ Việt gian đầu tiên ở Nam Bộ bị bắt như thế nào?

QĐND – Ngay sau khi Ủy ban Kháng chiến Nam Bộ ra tuyên cáo kháng chiến vào ngày 23-9-1945, lực lượng Việt Minh ở Sài Gòn đã lập một chiến công lớn, bắt sống tên cầm đầu Chính phủ Việt gian và xóa sổ tổ chức bán nước này từ trong trứng nước. Người chỉ huy thực hiện cuộc “bắt cọp giữa ban ngày” này là cán bộ Việt Minh Huỳnh Văn Nghệ.

Theo cọp về hang

Tại Sài Gòn lúc bấy giờ, trước khí thế kháng chiến mạnh mẽ của quân dân ta, thực dân Pháp đã gấp rút điều quân tiếp viện từ Pháp sang. Sau khi được bổ sung thêm 1 trung đoàn bộ binh, 1 tiểu đoàn cơ giới, 1 đại đội thủy quân, đầu tháng 10-1945, quân Pháp nổ súng trở lại phá vòng vây. Lợi dụng tình hình hỗn loạn ở giai đoạn này, một số phần tử cơ hội bán nước được sự bảo trợ, tiếp tay của quân Pháp đã đứng ra tập hợp lực lượng phản động thân Pháp để chống lại Việt Minh. Tiêu biểu nhất trong đám Việt gian ở Sài Gòn là Dương Văn Giáo, còn gọi là Trạng sư Dương Văn Giáo. Tên này vừa từ Xiêm về Việt Nam, bám gót Tây thành lập Chính phủ Việt gian bán nước, với tên gọi “Nam Kỳ Cộng hòa quốc”.

Trong hồ sơ của Huỳnh Văn Nghệ được lưu tại Bộ Tổng tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam, có bản báo cáo thành tích do chính ông viết. Ở mục “Những thành tích kháng chiến” giai đoạn 1945, Huỳnh Văn Nghệ viết như sau (trích nguyên văn): “Bắt được tên Dương Văn Giáo, Thủ tướng Chính phủ Việt gian đầu tiên ở Nam Bộ: Một mình với một khẩu súng lục, dùng lý lẽ thuyết phục được một đại đội sắp ra đầu hàng địch, kéo đại đội này trở về với ta và dùng ngay lực lượng ấy xông vào bắt tên Dương Văn Giáo và Lê Quang Kim nạp cho chánh phủ xử tội, kết quả giải tán ngay trong trứng chính phủ bù nhìn đầu tiên của địch ở Nam Bộ làm địch rất lúng túng trong việc tìm người để thành lập chính phủ bù nhìn khác”.

Huỳnh Văn Nghệ, người trực tiếp bắt Dương Văn Giáo (ảnh do gia đình cung cấp).

Tài liệu không ghi rõ ngày xảy ra sự kiện cũng như diễn biến của sự kiện ấy. Chúng tôi đã tìm gặp ông Huỳnh Văn Nam, nguyên Tổng giám đốc Đài Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh, là con trai của “Thi tướng” Huỳnh Văn Nghệ. May mắn cho chúng tôi là trong gia phả tộc họ Huỳnh Văn có khá nhiều tư liệu liên quan đến giai đoạn này của Huỳnh Văn Nghệ, trong đó có bút tích, lưu bút của nhiều người từng sống và làm việc với ông. Nhờ đó, chúng tôi có được tư liệu khá đầy đủ về một trong những chiến công xuất sắc của “Thi tướng” nói riêng và lực lượng Việt Minh nói chung trong giai đoạn Nam Bộ kháng chiến.

Trước ngày nổ ra Nam Bộ kháng chiến, Huỳnh Văn Nghệ được Bí thư Xứ ủy Nam Kỳ Trần Văn Giàu giao nhiệm vụ làm Ủy viên hành chính phụ trách miền Đông. Nhiệm vụ tối quan trọng đầu tiên Huỳnh Văn Nghệ thực thi là đem hơn 70 vạn tiền Đông Dương sang Cam-pu-chia mua vũ khí phục vụ kháng chiến. Do chưa có kinh nghiệm nên Tám Nghệ (tên thường gọi của Huỳnh Văn Nghệ) đã bị những kẻ lái súng lừa gạt, lấy mất tiền. Trên đường trở về Sài Gòn, Tám Nghệ lòng nặng trĩu, tự dằn vặt mình vì không hoàn thành nhiệm vụ cách mạng giao. Khi về đến phà Mỹ Thuận, Tám Nghệ biết tin Trạng sư Dương Văn Giáo theo giặc đứng ra thành lập Chính phủ Việt gian thông qua nguồn tin của Báo Cứu quốc. Ai chứ tay Trạng sư ma mãnh và trụy lạc này thì Tám Nghệ đâu có lạ. Hắn đã từng có “duyên nợ” với Tám Nghệ. Giai đoạn ở Xiêm trước đó, Dương Văn Giáo từng là nhân vật cốt cán của tổ chức “Việt Nam Phục quốc đồng minh hội”, làm mật thám cho Nhật, lừa gạt, giết hại nhiều đồng chí là kiều bào của ta. Tám Nghệ đã hai lần tìm cách trừ khử tên chó săn này nhưng không có kết quả vì hắn rất ranh ma. Giờ đây, khi quân Pháp tăng chi viện cho Sài Gòn hòng đánh bật Việt Minh, tên Việt gian họ Dương này lại bám gót Pháp, trở về Việt Nam để thành lập Chính phủ Việt gian.

Bao lo âu, phiền muộn về vụ mua súng bị lừa gạt bỗng chốc tan biến trong lòng Tám Nghệ. Phải tìm mọi cách bắt ngay Dương Văn Giáo. Để chậm trễ ngày nào sẽ là tai họa cho cách mạng ngày đó. Tám Nghệ giục người lái xe mở hết tốc độ chạy như bay về Sài Gòn để tổ chức lực lượng truy bắt gấp tên Việt gian này. Sáng ngày hôm sau, trên đường đi gặp người của Ủy ban kháng chiến, Tám Nghệ mừng như bắt được vàng khi phát hiện ra Dương Văn Giáo đang ngồi trên chiếc xe mui trần có cắm cờ của Đồng minh Quốc dân đảng Trung Quốc. Người đi cùng Tám Nghệ là Nguyễn Văn Giỏi, cán bộ Công đoàn Sài Gòn – Chợ Lớn– Gia Định. Sự kiện này được ông Giỏi kể lại:

– Trong lúc Tám Nghệ và tôi chờ xe đến đón ở gần nhà thương (bệnh viện) Chợ Rẫy thì Tám Nghệ thấy một chiếc xe chạy ngược chiều, trong xe có tên Dương Văn Giáo. Tôi đưa cho Tám Nghệ xem danh sách chính phủ Việt gian bắt tay với Pháp. Tám Nghệ tức tốc cho xe rượt theo để bắt chúng. Tôi liền mở cặp táp đưa cho Tám Nghệ khẩu súng Vitkar Đức, còn tôi thì sử dụng khẩu mô-de.

Tám Nghệ bí mật cho xe bám theo và vạch ngay trong đầu các phương án bắt sống Dương Văn Giáo sao cho êm gọn nhất. Trong trường hợp xe của tên Việt gian này chạy về hướng Trường đua (nay là Trường đua Phú Thọ), sẽ sử dụng lực lượng bộ đội Bình Xuyên đón bắt. Bằng không, sẽ phải bám đến cùng xem nó đi đến đâu để có phương án “vào hang bắt cọp”. Phương án thứ nhất không xảy ra. Xe chở Dương Văn Giáo chạy lòng vòng rồi rẽ vào một xóm ở Bà Chiểu, sau đó cả đám xuống xe. Tám Nghệ dừng xe, phân công đồng chí Giỏi chạy thẳng về Gò Vấp xin lực lượng đến vây bắt Dương Văn Giáo, còn mình thì bám theo mấy bóng người đang khuất dần sau khóm tre. Dương Văn Giáo và đám tay chân bước vào một ngôi nhà ngói nằm giữa vườn cây xanh.

Cuộc tập kích không tiếng súng

Tám Nghệ hết sức ngạc nhiên khi phát hiện ra, trong ngôi nhà ấy có một đơn vị quân đội đang đóng trú nhưng không biết là quân của lực lượng nào? Đang lúc đầu óc căng như dây đàn thì bất ngờ từ trong nhà có hai người đeo súng lục bên hông bước nhanh ra cổng. Tám Nghệ kéo sụp chiếc mũ xuống che mặt định bước đi thì một trong hai người đó đã nhận ra ông. Hóa ra đó là một người bạn cùng học với ông từ thời ở Trường Petrus Ký, tên là Hồng Tảo. Cuộc tương ngộ quá bất ngờ. Qua mấy câu thăm hỏi chóng vánh, Tám Nghệ biết, đây là đại bản doanh của nhóm Lê Kim Lễ, Lê Kim Tỵ, là đám Việt gian theo Pháp. Dương Văn Giáo đã lôi kéo bọn này theo mình và cuộc gặp gỡ của bọn chúng hôm nay sẽ rất quan trọng đối với kế hoạch, âm mưu thành lập Chính phủ Việt gian của Dương Văn Giáo. Còn Hồng Tảo là người chỉ huy một đại đội Cộng hòa vệ binh đóng ở đây để bảo vệ. Hồng Tảo cho Tám Nghệ biết, Lê Kim Tỵ là người bỏ tiền ra nuôi lực lượng bảo vệ này.

Tám Nghệ suy tính nhanh, nếu đợi đến lúc bộ đội của ta đến không khéo kế hoạch đã bị bại lộ, bọn Việt gian sẽ thừa cơ trốn thoát. Mặt khác, khó có thể tránh khỏi đụng độ căng thẳng giữa hai bên. Thuyết phục Hồng Tảo đứng về phía chính nghĩa và sử dụng lực lượng này bắt ngay Dương Văn Giáo là thượng sách. Tám Nghệ cho Hồng Tảo biết, vị khách đang đối ẩm với chủ nhà ở trong kia chính là kẻ phản quốc hại dân Dương Văn Giáo. Bằng tài cảm hóa của mình, Tám Nghệ đã thuyết phục Hồng Tảo hợp tác với mình. Hồng Tảo là người yêu thơ, rất mực phục tài thi phú của Tám Nghệ và từ lâu đã coi Tám Nghệ như một bậc đàn anh đáng kính. Sau mấy phút lưỡng lự, Hồng Tảo nói với Tám Nghệ: – “Anh Tám chờ tui ít phút” rồi đi nhanh vào nhà. Nhận thấy có sự xâm nhập của người lạ, những người ở trong nhà tỏ ra lo lắng. Lê Kim Lễ và Lê Kim Tỵ liền đứng dậy trấn an: “Trong tay chúng tôi có hẳn một đại đội bảo vệ. Không có chuyện gì khiến các anh phải lo lắng”. Chừng dăm phút sau, Hồng Tảo bước ra sân lấy khăn tay vẫy vẫy làm ám hiệu cho Tám Nghệ đi vào nhà. Tám Nghệ đường hoàng bước vào, một tay đút vào túi áo nắm chắc khẩu súng lục đã lên đạn. Thấy Tám Nghệ xuất hiện như trên trời rơi xuống, Dương Văn Giáo quát: “Thằng Nghệ, mày đến đây làm gì”? Rồi giục Lê Kim Tỵ lệnh cho quân “xử” Tám Nghệ. Lê Kim Tỵ lập tức ra lệnh cho Hồng Tảo bắt Tám Nghệ. Hồng Tảo từ nhà dưới đi lên dẫn theo chục tay súng. Nhưng thay vì bắt Tám Nghệ, Hồng Tảo lại chĩa nòng súng về phía Dương Văn Giáo, Lê Kim Tỵ và đám tay chân rồi hô lớn: “Tất cả đứng im, giơ tay lên!”. Tám Nghệ bấy giờ mới lên tiếng: “Mời anh Dương Văn Giáo về Ủy ban Nhân dân Nam Bộ để trả lời về tội thành lập Chính phủ Việt gian bán nước”. Tám Nghệ ra lệnh trói cả bọn. Một lúc sau bộ đội của ta đến đưa Dương Văn Giáo và đồng bọn về Gò Vấp giao cho người của Ủy ban quản thúc. Tám Nghệ nhờ người báo tin cho đồng chí Trần Văn Giàu biết vụ việc để có hướng xử lý tiếp theo. Mọi người ôm chầm lấy Tám Nghệ chúc mừng chiến thắng. Tên cầm đầu bị bắt, Chính phủ Việt gian đầu tiên ở Nam Bộ bị xóa sổ mà không tốn một viên đạn nào.

Minh Thiên
qdnd.vn

Độc lập, tự do… đường lên phía trước…

Không khí linh thiêng ngay từ những giây đầu tiên, khi tất cả khán giả cùng đứng lên chào lá quốc kỳ, cất cao lời “Quốc ca” và “Lãnh tụ ca”, để cùng tự hào là con dân nước Việt, cùng đồng lòng đi theo con đường mà Bác đã vạch ra cho dân tộc như lời một bài hát: Độc lập, tự do…đường lên phía trước…

Đúng 20h đêm 29/8/2009, đêm nhạc “Hồ Chí Minh – cả cuộc đời vì nước vì dân” đã được truyền hình trực tiếp từ Quảng trường Ba Đình đến với đồng bào cả nước và kiều bào ta ở nước ngoài. Đêm mùa thu, không gian quảng trường lắng lại, khi vài ngàn con người đủ mọi lứa tuổi, từ những cụ già tóc bạc phơ đến những em nhỏ đôi ba tuổi, tụ họp tại đây để cùng nhớ, cùng tri ân, cùng bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc vị lãnh tụ vĩ đại nhất của dân tộc Việt Nam. Thêm rất nhiều ghế phụ, và hàng ngàn đồng bào xem chương trình dọc đường Độc Lập, nơi ban tổ chức đặt 3 màn hình lớn.

Đêm nhạc hoành tráng cạnh lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ảnh VietNamNetĐêm nhạc hoành tráng cạnh lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ảnh VietNamNet

Không khí linh thiêng ngay từ những giây đầu tiên, khi tất cả khán giả cùng đứng lên chào lá quốc kỳ, cất cao lời “Quốc ca”“Lãnh tụ ca”, để cùng tự hào là con dân nước Việt, cùng đồng lòng đi theo con đường mà chủ tịch Hồ Chí Minh đã vạch ra cho dân tộc như lời một bài hát: Độc lập, tự do…đường lên phía trước…

Con đường của dân tộc Việt Nam mà Bác vạch ra là con đường mở, con đường phát triển đến tương lai mà cơ sở nền móng của nó là Độc lập, tự do.

anh 1.jpgCả dân tộc đồng lòng vì “Độc lập tự do… đường lên phía trước”. Ảnh VietNamNet

Ngay sau đó, ca sĩ Đăng Dương “Ca ngợi Hồ Chủ tịch” (Nhạc sĩ Văn Cao) với những lời ca tha thiết, hào hùng: “Người về mang tới ngày vui. Mùa thu nắng tỏa Ba Đình, với tiếng Người còn dịu dàng như tiếng đất trời…” mở đầu cho những ca khúc thể hiện tình cảm yêu kính của những người con Việt Nam với người cha chung của dân tộc. Từ những khúc ca hùng tráng Tiếng hát từ thành phố mang tên Bác (Cao Việt Bách), Hồ Chí Minh đẹp nhất tên người (Trần Kiết Tường) đến Người là niềm tin tất thắng (Chu Minh)…, đến những lời ca da diết của “Lời Bác dặn trước lúc đi xa”, “Viếng lăng Bác”, “Giữa Mạc Tư Khoa nghe câu hò Nghệ Tĩnh”…

Các nghệ sĩ thuộc nhiều thế hệ, từ những người kỳ cựu như NSND Thu Hiền, NSND Quang Thọ, đến thế hệ trung niên như Thái Bảo (Hà Nội), Tạ Minh Tâm (TPHCM), cả các sĩ trẻ như Hồ Quỳnh Hương, Phương Anh, Thanh Thúy…, mỗi người đều góp lời ca như những bông hoa đẹp trong vườn hoa dâng Bác. Nhiều khán giả hát cùng các ca sĩ những lời ca tha thiết, nhiều tiếng vỗ tay theo nhạc điệu.

Đa số các ca khúc về Bác được chọn hát trong chương trình không mới, bởi những người yêu nhạc “cách mạng” Việt Nam đã quen thuộc với những lời ca được cất lên mỗi dịp kỷ niệm ngày sinh của Bác, hay tưởng nhớ ngày Bác đi xa. Nhưng khi những lời ca sâu lắng ấy vang lên giữa không gian quảng trường Ba Đình lịch sử, nơi Bác đọc những lời Tuyên ngôn độc lập khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hòa 64 mùa thu trước, nơi đồng bào cả nước hòa chung dòng lệ tiễn đưa Bác 40 năm trước, nơi Bác đang yên giấc, dường như tinh thần của Bác, tấm lòng của Bác đã truyền tình cảm cho cả người hát lẫn người nghe; tạo nên mối cộng cảm, gắn bó, liên kết cả dân tộc thành một khối sức mạnh: Độc lập, tự do…đường lên phía trước…

Chương trình cũng dành những phút tri ân các chuyên gia Liên Xô trước đây, các chuyên gia Nga hiện nay nối tiếp nhau dành trọn tâm sức, tình cảm để giữ gìn hình hài Bác suốt 40 năm qua, để mỗi ngày hàng ngàn người nối tiếp nhau vào lăng để được thấy Bác. Nhiều chuyên gia có mặt trong đêm diễn, cùng nhớ Bác với đồng bào Việt Nam.

Cùng với những lời ca dâng Bác, những thước phim tư liệu hình ảnh Bác Hồ với đồng bào – chiến sĩ cả nước, với bạn bè quốc tế gây xúc động mạnh mẽ không chỉ bởi hình ảnh Người giản dị, gần gũi, thân thương, mà còn bởi những người tiếp xúc với Bác đều thể hiện rõ niềm hạnh phúc khi được gặp Bác, được Bác ôm hôn hay bắt tay thân mật… Cảm giác như Bác vĩ đại đang ở đâu đó thật gần.

Trong không khí ấy, những lời cuối cùng trong di chúc Bác để lại cho toàn dân từ 40 năm trước sẽ khiến mỗi người phải suy ngẫm: “Điều mong muốn cuối cùng của tôi là: Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”.

  • Theo Khánh Linh (VietNamNet)

bee.net.vn

Người con của đất Kẻ Chợ

Tôi xin phép được gọi anh Nguyễn Siêu Hải là người con đất Kẻ Chợ vì gia tộc anh, chỉ kể đến anh, đã có 13 đời sinh cơ lập nghiệp tại đây. Hà Nội xưa vốn gọi là Kẻ Chợ. Với thuận lợi trên và thừa hưởng một gia tài văn bản học quý của ông cha để lại, anh am hiểu nhiều chuyện xưa tích cũ của quê hương cách đây nhiều thế kỷ.

Anh sinh năm 1924, đỗ tú tài thì gặp Cách mạng Tháng Tám, vậy là trở thành anh Giải phóng quân lên Sơn La tiễu phỉ, rồi anh Vệ quốc đoàn khiêng pháo hành quân đánh giặc. Vừa đánh giặc vừa ký họa bằng bút sắt, vừa viết văn. Truyện ký Voi đi của Siêu Hải in trong Tạp chí Văn nghệ năm 1949 gây được tiếng vang lớn vì miêu tả hiện thực rất sống động và chân thực, được đưa vào sách giáo khoa dùng trong trường học, được các nhà xuất bản tái bản 19 lần.

Mùa xuân năm 1990, Siêu Hải đến chúc Tết Đại tướng Võ Nguyên Giáp tại nhà riêng. Đại tướng ân cần hỏi: “Vẫn viết đấy chứ?”. Ảnh do nhân vật cung cấp

Thu – Đông 1947, giặc Pháp mở cuộc hành quân quy mô lớn đánh lên Việt Bắc với tham vọng tiêu diệt cơ quan đầu não kháng chiến của ta. Siêu Hải là người có sáng kiến đề nghị cấp trên cho chuyển pháo đến sát mép nước, thực hiện đặt gần bắn thẳng. Sau đó tại khúc Đoan Hùng của sông Lô, anh chỉ huy trung đội sơn pháo của ta bắn chìm 3 tàu chiến, bắn trọng thương một chiếc khác, góp phần cùng các đơn vị bạn bẻ gãy trận càn của giặc Pháp do tên quan năm Com-muy-nan chỉ huy.

Nhạc sĩ Văn Cao có Trường ca sông Lô nổi tiếng. Siêu Hải là người trong cuộc nên có một trường ca bằng văn xuôi để tạo nên đôi bạn song hành. Vậy là Siêu Hải viết, viết rồi sửa chữa đến bốn lần. Tiểu thuyết Sông Lô ra đời cũng được dư luận hoan nghênh. Một thời gian sau, khi tái bản mang tên mới Sông Lô xanh (theo tác giả tâm sự, cái tên mới ít nhiều gợi cho bạn đọc âm hưởng bản nhạc Đa-nuýp xanh!).

Bị cuốn hút bởi nhiều công việc khác nhau như viết sử binh chủng, làm phim giáo khoa, rồi chỉ huy một trung đoàn trọng pháo 130mm ở giới tuyến quân sự, Siêu Hải vẫn ấp ủ một ước mơ cháy bỏng là được viết một bộ tiểu thuyết dài hơi về Thăng Long-Hà Nội. Vậy mà cho đến năm 1984, bước vào tuổi lục tuần, anh mới thực hiện được. Đó là khi anh được về hưu với quân hàm đại tá, gia đình tương đối ổn định. Đề cương bộ tiểu thuyết anh đã làm xong từ lâu, nay hoàn chỉnh không tốn quá nhiều thời gian, chia thành ba tập.

Nửa chừng, di chứng sốt rét, bệnh chảy máu dạ dạy và cơ thể suy nhược buộc anh phải đi cấp cứu. Khi được ra viện, bác sĩ yêu cầu phải nghỉ ngơi không lao động trong sáu tháng. Nhưng chỉ ba tháng sau, Siêu Hải lại ngồi vào bàn và miệt mài viết. Để đến năm 1992, tập 1 của bộ tiểu thuyết mang tên Mảnh trăng Tô Lịch, gồm 29 chương, đã hoàn thành. Khi được xuất bản, tác phẩm có sức cuốn hút mạnh, các bài điểm sách trên báo chí đều khen ngợi.

Anh Siêu Hải tâm niệm: “Phải tiếp tục dấn bước, và viết cuốn sau hay hơn cuốn trước”. Vậy là trong góc nhỏ của căn nhà phố Hàng Chiếu, anh lại cặm cụi, say mê viết. Thời gian này vật giá đang leo thang, lạm phát phi nước đại, chị Chắt vợ anh nhiều khi muốn mua chục quả trứng, dăm lạng thịt bồi dưỡng cho chồng, cũng khó. Nhưng anh không để tâm đến chuyện đó. Đơn vị cũ cấp cho tấm phiếu may đo bộ lễ phục, anh cũng quên khuấy. Năm 1995 là Bóng chiều Thăng Long và năm 1997 là Nắng kinh thành được xuất bản. Vậy là trọn bộ tiểu thuyết về Thăng Long-Hà Nội đã có trên giá sách người hâm mộ, chỉ có điều chúng đã vắt kiệt sức tác giả. Bù lại, anh nhận được nhiều lời khen ngợi. Nhà nghiên cứu Phan Ngọc đánh giá: “Siêu Hải là nhà tiểu thuyết về văn hóa Việt Nam”.

Lớp đàn em chúng tôi nhớ mãi lời anh Siêu Hải thổ lộ khi trò chuyện: “Tôi chiến đấu và viết văn đều hăng say, nhưng không hề ý thức mình là nhà văn. Chẳng thế mà Hội Nhà văn Việt Nam kết nạp tôi vào Hội tới hai lần đó!”. Chuyện này trở thành một giai thoại vui trong giới văn nghệ sĩ. Do đó thật dễ hiểu vì sao mọi người đều quý mến anh, bởi anh viết văn với động cơ trong sáng, ẩn mình để viết, vượt qua tuổi già và bệnh tật để viết và cống hiến cho đời nhiều hoa thơm quả ngọt, đặc sản của Hà thành.

Đầu xuân năm nay, anh nói với tôi qua điện thoại là sẽ có món quà nhỏ đóng góp vào Đại lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long-Hà Nội. Đó là tiểu thuyết Thủ đô ta, dày khoảng 400 trang. Đến nay chắc đã có bản thảo hoàn chỉnh, nó đang ở trên bàn biên tập của một nhà xuất bản nào đó…

Trương Nguyên Tuệ
qdnd.vn

Người Tự vệ thành trong 60 ngày đêm quyết tử

Đại tá Nguyễn Trọng Hàm.

Trong số những người lính tham gia 60 ngày đêm quyết tử bảo vệ Thủ đô, có người là chiến sĩ Vệ quốc đoàn, chiến sĩ tự vệ chiến đấu thành Hoàng Diệu hoặc chiến sĩ công an, nhưng phần đông là những chiến sĩ Tự vệ thành tự nguyện ở lại chiến đấu giam chân địch, tạo điều kiện để toàn quốc bước vào cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp. Ông Nguyễn Trọng Hàm là một trong những chiến sĩ Tự vệ ấy…

Nguyễn Trọng Hàm sinh ra và lớn lên ở phố Hàng Thiếc (nay thuộc phường Hàng Gai, Hà Nội) trong một gia đình lao động. Sớm giác ngộ cách mạng, ông tham gia các hoạt động chống Nhật, Pháp từ những ngày tiền khởi nghĩa và trực tiếp tham gia giành chính quyền trong Cách mạng Tháng Tám rồi hăng hái tham gia các hoạt động giữ vững chính quyền non trẻ. Trước yêu cầu nhiệm vụ mới, ông cũng là người tham gia thành lập và tích cực hoạt động trong Tự vệ thành Hà Nội từ những ngày đầu tiên. Ông đã trực tiếp xây dựng đại đội Tự vệ Thành ở khu phố Hàng Thiếc gồm đủ thành phần: Công nhân, viên chức, học sinh, sinh viên, tiểu thương, tiểu chủ…

Trong những ngày tháng mùa Đông năm 1946, khi đường phố Hà Nội sục sôi không khí chiến đấu chống trả các hoạt động phá hoại, khiêu khích trắng trợn của quân đội thực dân Pháp, Nguyễn Trọng Hàm đã chỉ huy Tự vệ thành và nhân dân các khu phố đào hào, đắp lũy, rải chướng ngại vật, dựng ba-ri-e cát ở các ngã tư, đục tường thông từ nhà nọ sang nhà kia, tạo thành các trận địa chiến đấu liên hoàn sẵn sàng đánh trả địch. Khi bọn lê dương mũ đỏ từ trong thành xông ra đi khiêu khích quấy phá, ngăn trở công tác chuẩn bị chiến đấu của ta, ông đã chỉ huy lực lượng tự vệ đánh trả quyết liệt, diệt một số tên, buộc chúng phải nhiều lần rút chạy.

Những ngày tháng chạp căng thẳng cuối năm 1946, thực dân Pháp càng trắng trợn gây hấn ép buộc ta, Nguyễn Trọng Hàm đã cùng Đại đội tự vệ tự nguyện ở lại chiến đấu với lời thề “Sống chết với Thủ đô”, “Thề hy sinh đến giọt máu cuối cùng để bảo vệ Thủ đô”. Sau hơn nửa tháng chiến đấu, giữa khói lửa bom đạn ác liệt, ngày 6-1-1947, Trung đoàn liên khu I được thành lập. Đến ngày 12-1-1947, Hội nghị quân sự toàn quốc họp ở Chương Mỹ (Hà Tây cũ) đã tặng đơn vị danh hiệu Trung đoàn Thủ Đô. Nhân sự kiện này, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã nói: “Đặt tên cho Trung đoàn ấy không có một tên nào oanh liệt hơn là tên Trung đoàn Thủ Đô”.

Sau ngày thành lập trung đoàn, Nguyễn Trọng Hàm được cử làm Trung đội trưởng Trung đội 2 thuộc Tiểu đoàn 102 (khu Đông Thành) đảm nhiệm các tuyến phố Hàng Thiếc, Hàng Bồ, Hàng Bút, Hàng Phèn, Thuốc Bắc… đánh vào các mục tiêu của Pháp ở quanh thành Cửa Đông và ngăn chặn địch từ Cửa Đông, Đường Thành đánh ra. Ông đã chỉ huy nhiều trận tập kích, phục kích vào các mục tiêu, diệt nhiều tên và phá hủy nhiều xe tăng, xe cơ giới của địch. Đặc biệt trong trận đánh quyết tử giữ vững trận địa phố Hàng Thiếc suốt 3 ngày đêm từ 7 đến 10-2-1947, Trung đội 2 do ông chỉ huy đã cùng Trung đội 3 của đồng chí Nguyễn Anh Dũng đánh bại cuộc tiến công của địch, làm thất bại âm mưu đánh sâu vào trung tâm Liên khu 1 – cơ quan chỉ huy đầu não của Trung đoàn – hòng nhanh chóng kết thúc cuộc chiến đấu của Trung đoàn Thủ Đô. Trận địa phố Hàng Thiếc cùng các tuyến phố Bát Đàn, Hàng Bồ, Thuốc Bắc đã được giữ vững cho đến đêm rút quân cuối cùng ngày 17-2-1947.

Sau 8 năm lăn lộn chiến đấu trên các chiến trường, ông đã trở thành một tiểu đoàn trưởng dày dạn kinh nghiệm trận mạc của Trung đoàn Thủ Đô, trực tiếp tham gia nhiều chiến dịch lớn từ Việt Bắc đến Tây Bắc, từ Trung du đồng bằng đến Điện Biên Phủ. Rồi lời thề “ra đi hẹn ngày về” năm xưa cũng được thực hiện. Ngày 10-10-1954, Nguyễn Trọng Hàm đã cùng Trung đoàn trở về giải phóng Thủ đô giữa rừng cờ đỏ sao vàng, giữa muôn ngàn đóa hoa tươi thắm cùng tiếng reo hò, tiếng đàn hát của hàng vạn đồng bào Hà Nội…

Sau khi Tổ quốc thống nhất, Đại tá Nguyễn Trọng Hàm được cấp trên điều động về làm Phó tham mưu trưởng Quân khu Thủ Đô. Trên cương vị mới, lúc này tuy tuổi đã cao nhưng ông luôn đề cao trách nhiệm, hoàn thành xuất sắc trọng trách của mình, được cấp trên, đồng đội và nhân dân quý trọng, yêu mến. Nghỉ hưu đã hơn 20 năm, Đại tá Nguyễn Trọng Hàm vẫn được tín nhiệm bầu làm Trưởng ban liên lạc Chiến sĩ quyết tử Liên khu I, Trung đoàn Thủ Đô. Ông sống rất tình nghĩa, chân thành, hết lòng vì đồng chí đồng đội. Mặc dù tuổi cao, sức yếu, gia đình gặp nhiều khó khăn nhưng ông luôn hăng hái tích cực hoạt động giúp đỡ những người bạn, người đồng chí đã cùng chiến đấu và trở thành tấm gương sáng cho các thế hệ con cháu noi theo.

Nguyễn Huy Du
qdnd.vn

Những người tôi thương nhớ

Hồi ấy, tôi và nhà thơ Xuân Hoàng được Hội Nhà văn cho về thâm nhập thực tế ở vùng Quảng Bình – Vĩnh Linh. Lúc này vợ con chúng tôi đều ở Quảng Bình.

Khi Mỹ ném bom, bắn phá ác liệt ở vùng Quảng Bình, Vĩnh Linh, thì tôi được Hội triệu tập ra trại sáng tác Quảng Bá, Hà Nội.

Nhà văn Trần Công Tấn và con gái Thúy Vinh ở Hà Nội.

Ra dự trại có Thu Bồn, Liên Nam, Anh Đặng… Ngồi viết sách nhưng thỉnh thoảng chạy ra hầm hố ẩn nấp khi nghe loa phóng thanh báo có máy bay địch hướng về Hà Nội. Mỗi lần như thế, Thu Bồn và tôi đội mũ sắt, đeo súng ngắn vào hông, sẵn sàng nếu bộ đội phòng không bắn rơi máy bay thì hai đứa tôi lao theo dân quân đi bắt giặc lái Mỹ.

Đứng trên bờ đê Yên Phụ – Nhật Tân, chúng tôi thấy rõ tên lửa bay, máy bay Mỹ bị nổ tung giữa bầu trời. Mọi người vỗ tay reo hò, vui mừng như trẻ con rồi lao ra bãi sông Hồng, đi bắt giặc lái.

Nhưng những ngày vui đó cũng chóng qua do Mỹ ngày càng đánh phá ác liệt hơn. Năm 1971, Hội Nhà văn sơ tán vào Bến Đục. Trại viết văn chấm dứt. Thu Bồn, Liên Nam chuẩn bị theo Văn nghệ quân đội đi sơ tán. Tôi chuẩn bị đạp xe về Quảng Bình thì vợ tôi – cô giáo Phan Thị Bích An bất ngờ đem hai con gái nhỏ: Trần Thị Ngọc Lan mới tám tuổi và Trần Thúy Vinh hai tuổi ra Hà Nội giao cho tôi và nói: “Tỉnh ủy chủ trương tất cả đảng viên cho con nhỏ đi sơ tán ra các tỉnh phía Bắc, rồi trở về mà đánh giặc. Giáo viên thì đào hầm, đưa trường lớp xuống dưới lòng đất mà dạy. Còn vài ba học sinh cũng phải bám trụ mà dạy”.

Nói rồi, Bích An ôm con nhỏ, ngủ lại một đêm. Sáng hôm sau dậy sớm, rón rén ôm hôn con rồi trở về Quảng Bình.

Mọi người đi hết, tôi cảm thấy bơ vơ. Cháu Vinh lại ốm, nằm một chỗ. Nghe còi báo động máy bay, tôi ôm con nhỏ, dắt con lớn chạy xuống hầm.

Thu Bồn nhìn cha con tôi, ái ngại nói:

– Tấn đừng lo. Mình sẽ ở lại với cha con cậu.

Ngày ngày, Thu Bồn vác súng hơi đi quanh vùng Nhật Tân – Quảng Bá bắn chim. Chim gì cũng bắn: Chào mào, họa mi, sáo sậu, cu gáy, cà cưỡng… miễn là có chim đem về lấy thịt nuôi cháu Vinh.

Anh Chế Lan Viên và Nguyễn Tuân lên thấy Vinh ốm, Chế Lan Viên đi bắt cóc về làm thịt, băm viên, nấu cháo đỗ xanh cho Vinh ăn. Anh Tuân nói: “Tấn là “nhà quân sự”, ông không thấy Quảng Bá nằm cạnh con đê và cây cầu bắc qua sông Hồng. Mỹ nó đang nhằm ném bom cho vỡ đê, sập cầu. Phải đưa con đi chỗ khác”. Nói rồi anh móc túi cho hai chục đồng, dặn: “Cầm lấy mua thức ăn nuôi cháu”. Anh còn rỉ tai: “Này này. Mua cá mè của bọn câu trộm ở hồ Quảng Bá, Hồ Tây thì rẻ hơn cá ở chợ”…

Tôi nghe anh Tuân, đem con về sơ tán giữa… trung tâm Hà Nội. Ở nhờ căn hộ của nhà văn Hoàng Lại Giang và nhà thơ Lữ Huy Nguyên tại 52  Trần Nhân Tông.

Giang và Nguyên lấy sách xếp chồng lên cái bàn viết. Chất sách cao hai bên bàn làm cái hầm cho ba cha con ẩn nấp khi máy bay Mỹ đến.

Cả xóm Trần Nhân Tông đông vui thế đi sơ tán hết chỉ còn mấy người ở lại: Giang và Nguyên, bà Lê bán cháo gà, cô Quy uốn tóc, bà Tiệp hàng xén và ba bố con tôi. Sống tạm ổn vì có người chung quanh được mấy ngày thì Giang và Nguyên đi thực tế vào chiến trường miền Nam. Lúc địch ném bom trúng ga Hàng Cỏ thì cả xóm đi hết không còn ai. Trước khi sơ tán, bà Tiệp nói: “Anh là nhà văn, nhà báo thì ở lại cùng đánh Mỹ mà viết lách. Cứ giao hai cháu Lan, Vinh đi sơ tán với chúng tôi”. Cô Quy và bà Lê cũng muốn đưa hai con của tôi theo nhưng các cháu khóc, không muốn xa bố.

Anh Nguyễn Đình Thi, Chủ tịch Hội Nhà văn biết tin, đến thăm. Anh nói sẽ cho xe Hội Nhà văn đến đón ba bố con đi Bến Đục. Tôi thưa rằng cha con tôi cần ở lại Hà Nội, tìm xe quân sự của Đoàn 559 để về lại Quảng Bình. Anh lắng nghe tôi nêu đủ lý do để ở lại Hà Nội nhưng vẫn khuyên tôi nên đem hai con đi sơ tán. Anh nói rằng sắp đến Mỹ sẽ dùng máy bay B52 ném bom rải thảm hủy diệt Hà Nội… Tôi nói, ở giữa Hà Nội như thế này là an toàn lắm rồi, vẫn chưa ác liệt bằng lúc tôi ở Quảng Bình.

Biết tôi không thể rời Hà Nội, anh Thi nói:

– Thôi được, nếu ở lại thì ở Hội Nhà văn có cái hầm ẩn nấp tốt. Tấn đem các cháu đến đó mà tránh bom ít hôm…

Sau đó là vào những ngày ác liệt trong mười hai ngày đêm tháng Chạp năm 1972 bám trụ Hà Nội trong cái hầm sách ở 52 Trần Nhân Tông. Cha con chúng tôi vẫn sống trong sự đùm bọc của người Hà Nội.

Vợ chồng các nhà văn Nguyễn Anh Tài, Văn Linh mang đến cho chúng tôi bánh mì khô (bít cốt) tem phiếu để mua gạo, đậu phụ và cá thịt. Anh Chế Lan Viên, Bùi Hiển thì cho tiền. Thu Bồn từ chỗ Văn nghệ quân đội số 4 Lý Nam Đế mang đến cho một thùng lương khô…

Bà Tiệp, bà Lê, cô Quy vài ba bữa ở nơi sơ tán đem về cho chúng tôi quả bầu, quả bí, ít khoai lang và thức ăn.

Tôi nhớ có ông già tổ trưởng dân phố tên là bác Mai. Bác mặc sơ mi, quần tít-xo màu mỡ gà, là thẳng tắp. Tay chống gậy “ba toong” đến gặp tôi. Bác lễ phép cất cái mũ phớt khỏi mái đầu bạc ra vẻ chào, giương mục kỉnh ái ngại nhìn tôi và nói:

– Bố con anh là người ngụ cư bất ngờ, cho nên tôi không thể buộc anh mang các cháu đi sơ tán như các vị khác trong phố này. Nhưng cảm phiền anh: Đầu hôm anh cho biết ba bố con có ở lại đêm không. Nhỡ nó bom sập nhà, biết có người đang ở trong nhà để cho dân quân tự vệ đến đào bới mà cấp cứu.

Nói xong bác Mai lại chống gậy đến nhà khác. Từ đó, cứ đầu hôm bác đến gặp tôi. Mở sổ tay bác ghi nắn nót tên tôi và hai cháu. Đêm lại còi báo động, súng cao xạ, tên lửa rực trời. Tiếng bom nổ chỗ này, chỗ khác.

Rạng sáng bác Mai đến ngoài ngõ hỏi chõ vào: “Anh Tấn ơi! Vẫn còn ở đấy chứ”. Tôi vui mừng báo: “Ba bố con tôi vẫn bình yên, bác Mai ạ”. Bác cười, lọc cọc chống gậy đi.

Có hôm bác hỏi xong, lại nói: “Anh ra tôi bảo cái này”. Tôi chạy ra, bác trao cho gói xôi nóng, nói: “Đem vào cho hai cháu”. Cứ như vậy. Lúc thì gói xôi, lúc ổ mì, lúc mấy củ khoai luộc. Bác góp phần nuôi bố con tôi.

Tác giả (bên trái) khai thác phi công Lô-chát Hây-đơ lái máy bay F4H bị bắn rơi tại Thác Cóc, Quảng Bình ngày 9-3-1965. Ảnh do tác giả cung cấp

Tôi nhớ cái đêm kinh hoàng, giặc Mỹ đưa máy bay B52 đến ném bom Hà Nội. Chỗ chúng tôi ở rất gần phố Khâm Thiên, ga Hàng Cỏ, Bệnh viện Bạch Mai. Bom nổ, tiếng đạn cao xạ, tên lửa bắn đuổi máy bay, bầu trời Hà Nội đỏ rực như máu. Đêm cuối năm trời rét dữ, tôi lấy tất cả chăn gối của nhà Lại Giang, Lữ Huy Nguyên ủ ấm cho hai con rồi ra ngoài trời nhìn. Bom nổ rền bốn bên. Tên lửa vạch những đường đỏ rực bay lên. Máy bay B52 bị trúng đạn, bùng cháy, những khối lửa rơi lả tả. Tiếng reo hò của những người còn ở lại Hà Nội vang rền cả phố hoan hô bộ đội tên lửa và cao xạ. Chốc sau có tiếng chân người hối hả chạy qua nhà tôi, bắc loa gọi cả xóm đến Khâm Thiên cứu người bị sập hầm. Tôi đội cái mũ sắt, đeo súng ngắn vào và dặn con gái lớn: “Lan ở nhà trông em để ba đi cứu người”.

Băng qua đường sắt chạy vào đầu phố Khâm Thiên đã thấy lố nhố bộ đội, tự vệ, dân quân, thanh niên xung phong tay xẻng, tay cuốc đang hối hả đào bới những căn hầm bị sập. Một số bác sĩ, y tá đang băng bó cho người bị thương. Một số bộ đội và dân phố đang khiêng những tử thi ra khỏi đống gạch ngói đổ nát. Tôi đã nhận ra các nhà văn bám trụ Hà Nội cũng trong số người đào bới hầm sập. Anh Nguyễn Tuân, Thu Bồn đội mũ sắt. Chị Giên Phôn-đa, diễn viên điện ảnh Mỹ đang đưa máy lên ghi hình… chẳng ai nói với ai lời nào, chỉ nghe tiếng thở hổn hển và tiếng đất đá cuốc xẻng chạm nhau.

Cứ thế, mọi người miệt mài hối hả đào bới hết nhà này sang nhà khác trong lúc bom đạn và tiếng máy bay rền trời.

Trời rạng dần, máy bay địch đã mất hút. Sực nhớ đến hai con, tôi chạy về phố Trần Nhân Tông, vào nhà kêu tên con, chẳng có tiếng trả lời. Căn hầm sách chỉ còn chăn gối. Hốt hoảng, tôi đi tìm quanh nhà bà Lê, bà Tiệp, cô Quy vẫn trống vắng.

Một anh tự vệ nói: “Ra hồ Ha Le. Người chết, người bị thương, người lạc vô thừa nhận đều tập trung cả ngoài ấy”.

Tôi chạy quanh hồ Thuyền Quang, chỗ trước Đại sứ quán Lào, có mấy cái xác chết. Mấy người bị thương đang được băng bó và lố nhố dăm bảy đứa trẻ con. Tôi chạy ào đến thì hai con tôi trong đám xác chết và bị thương bước ra. Vinh khóc khản cả tiếng. Lan kêu: “Ba ơi! Ba ơi! Ba đi đâu mà lâu thế?”. Tôi ôm lấy hai con. Áo cả hai đứa đều lấm máu. Tôi sờ khắp người con xem chúng bị thương ở đâu. Chẳng có vết thương nào cả. Lan nói: “Ông Mai đến không thấy ba. Ông bảo mấy cô mấy chú bế con ra đây ngồi một chỗ với các bạn khác!”.

Tôi hiểu bác Mai tổ trưởng đã chăm sóc trẻ vắng bố mẹ bằng cách này. Hỏi Lan có đói không? Khát không? Lan nói: “Các cô các chú cho ăn cho uống rồi”. Tôi thầm biết ơn các cô chú y tế, dân quân tự vệ rồi xưng tên là bố của hai cháu và xin mang con về. Tôi phải ký vào cuốn sổ của cô giữ trẻ mới được bế Vinh và dắt Lan ra khỏi đám người chết, người bị thương ở bên bờ hồ Ha Le.

Bom đạn ác liệt đến thế, người Hà Nội vẫn bình tĩnh gan lì chiến đấu và chăm sóc nhau.

Trên đường trở về phố Trần Nhân Tông, tôi lắng nghe tin chiến thắng đêm qua vang lên trên các loa phóng thanh. Các em bé bán báo ôm những xấp báo lớn, cầm trên tay tờ báo đã mở, giơ lên vẫy vẫy vừa chạy vừa reo:

– Báo mới đây. Ta đã bắn rơi nhiều máy bay B52 của giặc Mỹ, bắt sống cả bầy giặc lái dẫn về nhốt chật trại giam… Báo mới đây!

Sau tin chiến thắng là bài ca “Người Hà Nội” bi tráng vang lên trên các loa phóng thanh:

Đây hồ Gươm, Hồng Hà, Hồ Tây

Đây lắng hồn núi sông ngàn năm

Đây Thăng Long

Đây Đông Đô

Đây Hà Nội, Hà Nội mến yêu…

Giờ đây hai con tôi ở Hà Nội năm ấy đã trưởng thành: Ngọc Lan đi làm luận án tiến sĩ ở Nga đã trở về giảng dạy Trường Đại học Văn Hóa. Thúy Vinh tốt nghiệp Nhạc viện Hà Nội, giảng dạy ở Nhạc viện TP Hồ Chí Minh, học cao học ở Pa-ri và hiện đang giảng dạy đàn dương cầm ở nước ngoài. Hẳn hai cháu không bao giờ quên những ngày ở Hà Nội, đã được người Hà Nội che chở thương yêu đùm bọc. Công ơn to lớn ấy chúng tôi không bao giờ quên.

Trần Công Tấn
qdnd.vn

Bốn mươi năm, đồng đội vẫn chưa về…

Một ngày cuối tháng 3 năm 2009, cựu chiến binh Hoàng Sơn Lâm ở phường Lê Lợi (thành phố Bắc Giang) trở lại thăm chiến trường Phước Sơn (Quảng Nam) –  nơi ông làm nhiệm vụ ở Đài quan sát của Trung đoàn 230 trên điểm cao 1599 và chứng kiến sự hy sinh anh dũng của 15 chiến sĩ đặc công thuộc đơn vị bạn trong trận đánh ngày 5-8-1970. Sau chuyến đi năm ấy, ông Lâm đã cần mẫn chắp nối thông tin từ các đồng đội và được biết họ là lính đặc công của Tiểu đoàn 404 – Quân khu 5…

Chắp nối thông tin tìm tên đồng đội

Để tìm hiểu rõ hơn về trận đánh diễn ra cách đây bốn thập kỷ, cựu chiến binh Hoàng Sơn Lâm đã cất công tìm kiếm tư liệu trong các cuốn lịch sử của nhiều đơn vị đặc công trên chiến trường Khu 5, nhưng không thấy tư liệu nào nhắc đến trận đánh này. Từ thành phố Bắc Giang, ông đã đi xe buýt về Hà Nội và tìm đến Tòa soạn Báo Quân đội nhân dân. Tới Ban Tư liệu, ông tỉ mỉ lật giở những chồng báo cũ và tìm được thông tin về trận đánh đăng trên Báo Quân đội nhân dân số ra ngày 7-8-1970: “Đêm 4 rạng ngày 5-8-1970, Quân giải phóng đã tiến công quân Mỹ thuộc Lữ đoàn 196 đóng ở Khâm Đức. Địch thú nhận đây là trận tiến công lớn nhất của Quân giải phóng vào quân Mỹ sau những trận đánh ở vùng điểm cao 935 phía tây thành phố Huế”. Có được thông tin chính xác về ngày hy sinh của đồng đội, ông Lâm lại tích cực liên hệ với các nhân chứng của Tiểu đoàn 404 để biết rõ hơn về những người tham gia trận đánh. Ông và các cựu chiến binh có cùng tâm nguyện đã tới Cục Chính sách – Tổng cục Chính trị, Phòng Chính sách Quân khu 5 và tập hợp nhiều nguồn thông tin khác nhau để tìm danh sách các liệt sĩ. Sau một thời gian kiên trì tìm kiếm, họ đã biết được tên của 7 trong số 17 liệt sĩ đặc công hy sinh ngày ấy.

CCB Hoàng Sơn Lâm (đứng giữa) và CCB Tiểu đoàn 404 tới thắp hương tại nơi đồng đội hy sinh 40 năm trước. (Ảnh do CCB Tiểu đoàn 404 cung cấp)

Tìm gặp cựu chiến binh Nguyễn Văn Bắc-nguyên Trợ lý quân giới Tiểu đoàn đặc công 404 – chúng tôi đã được ông kể khá chi tiết về trận đánh bi hùng của tiểu đoàn mình. Trận tập kích vào cứ điểm Khâm Đức đêm 4 rạng ngày 5-8-1970 được xác định là một trận đánh quan trọng, đối phương là lực lượng cơ động mạnh nên mũi chủ công được tiểu đoàn lựa chọn gồm 15 cán bộ, chiến sĩ đều là những cán bộ ưu tú, dày dạn kinh nghiệm. Dù bất lợi về thời gian và cách đánh, dù vũ khí mỗi người chỉ có 1 súng AK, 2 băng đạn, 6 quả thủ pháo, song mũi chủ công được chia làm 5 tổ do đồng chí Trợ lý Tác huấn Tiểu đoàn làm mũi trưởng đã dũng cảm chiến đấu giữa vòng vây dày đặc của địch. Trong lúc chiến đấu, địch phát hiện và bịt cửa mở, tất cả 15 cán bộ, chiến sĩ của mũi chủ công đã anh dũng hy sinh trong đồn địch và hai chiến sĩ khác hy sinh ở vòng ngoài…

Điều mong mỏi sau bốn mươi năm

“Sáng 5-8, tại trận địa, chúng tôi nghe loa của địch rêu rao trên máy bay là đã “tiêu diệt 15 Cộng quân”, ngay lúc đó tôi có hỏi anh Biền là Tham mưu phó Tiểu đoàn, anh cũng xác nhận 15 anh em của ta đã hy sinh trong trận đánh vào đồn địch đêm 4-8. Sau này, khi địch rút khỏi Khâm Đức, chấm dứt đợt càn lên hành lang Khu 5, tôi còn nhớ tại nơi địch đóng quân có một hố bom được san lấp và rào dây thép gai cẩn thận. Theo phán đoán của tôi, đó có thể là nơi địch chôn thi thể của các liệt sĩ hy sinh trong trận tấn công cứ điểm Khâm Đức”, Cựu chiến binh Nguyễn Văn Bắc nhớ lại.

Khi biết Ban CHQS huyện Phước Sơn (Quảng Nam) đã hai lần tổ chức tìm kiếm hài cốt liệt sĩ Tiểu đoàn đặc công 404 vào các năm 2001, 2007 và chưa có kết quả, ngày 6-6-2009, đồng đội Tiểu đoàn đặc công 404 đã tổ chức một chuyến đi trở lại chiến trường xưa do cựu chiến binh Nguyễn Văn Bắc dẫn đầu từ Hà Nội vào Khâm Đức. Dựa vào tài liệu của Tổ chức Cựu binh Mỹ tham chiến tại Việt Nam (VVA) do cơ quan quân sự huyện lưu giữ, đoàn đã tìm kiếm ở khu vực trường bắn đoạn giáp với sông Nước Chè, nhưng kết quả vẫn không tìm thấy hài cốt các liệt sĩ. Đầu tháng 8 năm 2010, gia đình liệt sĩ Nguyễn Văn Tiến ở Quốc Oai (Hà Nội) cũng tổ chức tìm kiếm ở khu vực phía đông đường băng thuộc khu cột cờ, cũng giống như ba lần tìm kiếm trước, khu vực chôn cất các liệt sĩ vẫn chưa được xác định.

“Trở lại Khâm Đức lần thứ hai vào tháng 6 năm ngoái, tôi và các chiến sĩ Tiểu đoàn 404 chỉ thắp được cho đồng đội nén hương để anh linh các liệt sĩ được an ủi phần nào. Chúng tôi vẫn cảm thấy lòng mình day dứt bởi đã nhiều lần tìm kiếm mà các anh vẫn chưa “về”. Hy vọng trong năm nay, khi vừa tròn 40 năm các liệt sĩ ngã xuống, chúng ta sẽ tìm thấy họ”, cựu chiến binh Hoàng Sơn Lâm đã tâm sự với chúng tôi như vậy. Điều ông Lâm và các cựu chiến binh Tiểu đoàn 404 mong mỏi hiện nay là muốn được đồng đội trên khắp cả nước cung cấp thêm thông tin về danh sách các cán bộ, chiến sĩ tham gia trận tiến công cứ điểm Khâm Đức và nên chăng cần dựng một tượng đài kỷ niệm ngay tại nơi các anh đã anh dũng hy sinh…

Bùi Vũ Minh
qdnd.vn

“Sổ, tem, phiếu” thời bao cấp

“Ngẩn ngơ như người mất sổ gạo” là thành ngữ điển hình của thời bao cấp ngày xưa. “Sổ gạo” tức là “Sổ lương thực” mà Nhà nước ta thời ấy phát cho mỗi hộ gia đình. Trong sổ ghi rõ họ tên, tiêu chuẩn lương thực hằng tháng của từng người. Đầu tháng, mang “Sổ gạo” ra cửa hàng lương thực gần nhất, xếp hàng, đợi gạo. Có dạo bán cả tháng, có dạo lại chỉ bán nửa tháng một. Gọi là “Sổ gạo”, nhưng thường thường là “nửa gạo, nửa mì”. Mì, có khi là mì bột, có khi là mì sợi, do các nước XHCN ngày ấy viện trợ cho Việt Nam. Thời đánh Mỹ lại càng nhiều mì. Cũng lắm khi, thay cho mì là ngô xay, là sắn khô, và sau này là hạt bo bo.

Phiếu thực phẩm

Nông dân, hiển nhiên là không có “Sổ gạo”. Riêng những làng nghề-ví dụ như quê tôi, làm thêm nghề tằm tơ, kiêm nghề dệt lụa gia công cho Nhà nước – thì những nhà, những người thợ thủ công này, cũng có “Sổ gạo”. Bộ đội và ai làm “công nghiệp nặng”, được 21kg mỗi tháng. Ưu tiên sinh viên sư phạm, cũng vậy, còn thì tùy vào nghề mà “ăn” 19kg, 17kg, 15kg mỗi tháng. Giáo viên, thị dân thì được 13,5kg. Trẻ con còn được ít hơn nữa, theo tuổi. Ngoài số lương thực trong “Sổ gạo”, không thể mua thêm ở đâu nữa, trừ khi bỏ tiền ra mà đi ăn… phở hay mì ở ngoài. Thế nên mới có chuyện, khi vợ họa sĩ Nguyễn Quân đặt “Sổ gạo” lên bàn, chán nản thông báo: “Gạo chưa về!”, thì họa sĩ (vốn là con trai duy nhất của một thiếu tướng quân đội ta) cười bảo: “Gạo chưa về, nhưng phở về rồi!”. Thế là cả nhà bỏ tiền ra, đi ăn phở đợi gạo. Mà phở, mì thời ấy, đa số là phở “mậu dịch”, mì “không người lái”- tức là không có một chút thịt nào. Thiểu số có thịt, thì thịt mỡ, thái mỏng, dày gấp chừng năm lần tờ giấy bóng kính, quạt mạnh là bay mất! Nhân viên cửa hàng ăn ngày ấy thái thịt giỏi gấp mấy lần “thằng Mới” trong ngày làng có việc xưa kia. Cũng vì thế cho nên, những làng nấu rượu “quốc lủi” thời đó bị cấm, không được nấu rượu bằng gạo. Ở các làng Vân Hà, Đại Lâm (Hà Bắc thời đó), người ta nấu rượu bằng sắn. Nếu bất ngờ, công an và phòng thuế đến kiểm tra, chỉ cần thấy bã rượu gạo, tức là chủ lò đã “vi phạm chính sách lương thực”, và tất nhiên là không thể tha được.

Nhưng cũng chính vì thế, mà dân Hà Bắc đã đưa được việc nấu rượu sắn lên thành “nghệ thuật”. “Rượu Vân” trở thành “đặc sản” mãi, là vậy.

Một cửa hàng thực phẩm thời bao cấp.

Bên cạnh đó, hình thành cả một nghề là nghề buôn rượu (lậu), chủ yếu là rượu Vân-rượu sắn. Có một người làm nghề này, sau bỏ nghề, kể với tôi: “Cho rượu vào săm ô-tô, thông đồng với cánh lái xe, chở về Hà Nội từ tờ mờ sáng. Đem săm ô-tô rượu để dưới vòi nước công cộng, lấy chân đạp thật lâu, rượu sẽ ngon hơn. Có đứa dã man, còn cho vào săm rượu mấy giọt thuốc trừ sâu Vô-pha-tốc, rồi cho thêm nước lã vào, đạp thật lâu. Rượu uống thấy nặng hẳn, lãi nhiều hơn!”. Trời ơi, Vô-pha-tốc là thuốc độc, cực độc, giờ đã cấm dùng! Từ khi nghe chuyện ấy, tôi và bạn bè tôi uống rượu Vân ít đi, không dám say nhiều như trước nữa. Nhưng rượu Vân không ngon bằng rượu Bắc Hà (Lào Cai) nấu bằng ngô. Rượu men lá Việt Bắc, nhẹ và nhạt! Rượu cần thì phải uống cả đêm, không hợp với phong tục “nhắm rượu” của dân Bắc Hà. Bây giờ dịch thơ Đường, thấy Lý Bạch suốt ngày say, vẫn thọ 62 tuổi, lại nghĩ, ngày ấy mình bớt rượu là dại! Và thấy Vương Tích, cũng là thi nhân đời Đường, viết: “Hôm nay ta say tràn cung mây – Ừ rằng như thế là không hay – Nhưng kìa, thiên hạ không ai tỉnh – Ta tỉnh làm chi giữa đất này?”, lại càng thêm quý rượu.

Nói vòng vo thế, để thấy rằng, “mất Sổ gạo” thật là một thảm họa, và người mất sổ ngơ ngẩn ngẩn ngơ nhất đời, là vì thế.

Trong một cửa hàng ăn uống thời bao cấp.

Bên cạnh “Sổ gạo”- “Sổ lương thực” – là “Tem gạo” và “Phiếu thực phẩm”. “Tem gạo” là để dùng khi đi công tác lẻ hoặc đi phép, có từ loại 100 gam đến 5 ki-lô-gam, 10 ki-lô-gam. “Phiếu thực phẩm” có các loại, từ cao xuống thấp, là A, B, C… N. Sổ loại A mua ở Tôn Đản (phố Tông Đản bây giờ). “Đi xe Vôn-ga, ăn gà Tôn Đản” là thế. Dân thường thì dùng phiếu N. Phiếu chia ô, đánh dấu tháng. Mỗi lần mua thức gì, cắt một ô. Có ô thịt, ô đường, ô mì chính, ô đậu phụ… Thế nên mới có chuyện, một ông tổ trưởng dân phố đi họp nghe phổ biến cách bầu đại biểu Quốc hội, về nhà phổ biến lại cho dân là “Bỏ người ở ô x…”, thì do không chú ý, một bà buột miệng kêu trời: “Thôi chết! Thế là tháng này mất đậu phụ rồi!”. Vì có nhiều loại tem, phiếu như vậy (ngoài “Sổ gạo”, “Phiếu thực phẩm”, còn có “Phiếu chất đốt”, “Phiếu vải” nữa-mỗi người 4m. Phụ nữ thì có tiêu chuẩn mua lụa đen, phíp đen để may quần), nên ở đâu cũng thấy “xếp hàng”. Xếp bằng người, xếp bằng gạch vỡ ở những cửa hàng lương thực, thực phẩm, củi, than; xếp hàng xem phim. Ở thôn quê, mỗi tháng có từ một đến hai buổi chiếu phim, do các tổ chiếu phim lưu động chiếu lần lượt ở các xã. Vé bán 1 hào một người, trẻ con thì 5 xu. Tôi, 11 – 12 tuổi, đi gánh nước thuê cho cụ Hàn ở Hoàng Mai, 40 gánh thì được 2 hào, thừa tiền xem phim. Nhưng có hôm bí, theo bạn xem phim “chui rào”, về bị anh cả bắt thức cả đêm để “kiểm điểm”! Mua “chất đốt” thì tôi lên Cầu Đổ trên phố Đại La xếp hàng. Ở đó bán củi, than – than cám, than “quả bàng” (chưa có than tổ ong như bây giờ). Sau này có cả dầu hỏa để đun bếp dầu. Ở nông thôn thì thôi, cứ đi kiếm củi, cắt rạ, vặt cỏ may, cắt lá chuối, quét lá rụng, giữ trấu… mà đun. Có lẽ không ở đâu trên thế giới này, người ta chế ra nhiều thứ bếp đun như ở ta thời ấy: Bếp dầu có bấc, không bấc. Bếp đun trấu, lò đun trấu – vừa đun vừa gõ cho trấu rơi xuống. Bếp than cám, bếp than quả bàng. Bếp đun rạ, rơm, củi (có nhà làm bếp hai ngăn, như cái lò dài, đun chính ở ngoài, hơi nóng chạy vào đun phụ ở trong). Sau này là bếp điện may-xo, đỏ rực, lộ thiên, như con giun lửa… Ấy thế mà hăng hái công tác và học tập; mà sản xuất và đánh giặc; mà sống và giúp nhau sống; mà vô tư, thanh sạch.

Ngày ấy, ở Hà Nội, nhà nào cũng có bếp dầu và ấm đun nước, gò – hàn bằng ống bơ sữa bò. Có khách, mươi phút là có nước pha trà (phích nước lúc ấy phân phối, không đủ dùng).

Thế nên mới có chuyện, cố thi sĩ Lưu Trọng Lư, khi đó là quyền Tổng thư ký Hội Nghệ sĩ sân khấu (tạm thay cụ Thế Lữ già yếu), Chủ nhiệm Tạp chí Sân khấu, “dại dột” in một bài thơ của tác giả Dũng Hiệp, có câu: “Hoan hô văn nghệ sĩ chúng ta – Uống nhiều nước pha trà, đun bằng ống bơ – Nên thơ ngân vang chất thép”…, và bị “xử lý”- thôi chức! “Con nai vàng ngơ ngác – Đạp trên lá vàng khô”, “Nụ cười đen nhánh sau tay áo”, “Áo đỏ người đem trước giậu phơi”… cũng chẳng cứu được! Chính Lưu Trọng Lư kể cho tôi nghe chuyện đó v.v…

Từ ngày “Đổi mới”, bao sự vừa kể không còn nữa. Đời sống, nói chung, đã tốt hơn nhiều. Nhưng mỗi thời có cái hay, cái dở của nó. Kể đôi lời về thời cũ, chỉ là để “ôn cố – tri tân”. Cái triển lãm “Một thời bao cấp” do ông tiến sĩ Nguyễn Văn Huy, con cụ Nguyễn Văn Huyên, cựu Giám đốc Bảo tàng Dân tộc học, là một triển lãm hay. Ai không xem, kể cũng tiếc!

Cái nước mình hay thật! Dân mình còn hay hơn: Thế nào thì cũng tìm ra “phương thức tồn tại” của mình. Sinh con đẻ cái, dựng vợ gả chồng, xây nhà xây cửa, trồng trọt chăn nuôi (cả trong toa-lét tập thể!), làm thơ và đánh giặc… không thua ai việc gì! “Bần tiện bất năng di”. Ta là “Quân tử” thật!

Có lẽ, chỉ có thời bao cấp mới đẻ ra lắm anh hùng kiểu ấy. Bây giờ lại có anh hùng kiểu khác!

Đỗ Trung Lai

Ảnh trong bài: Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam
qdnd.vn

Từ Thủ đô các nhà báo ra trận

Sau ngày Ngô Đình Diệm phản bội không thi hành Hiệp định Giơ-ne-vơ,  phong trào đấu tranh ở miền Nam ngày càng sôi sục, tiếng vọng ra tới miền Bắc. Báo chí trên miền Bắc – lúc đó chủ yếu là Hà Nội – đã tích cực tham gia cuộc đấu tranh ủng hộ phong trào ở miền Nam lên án bọn Ngô Đình Diệm và đế quốc Mỹ, yêu cầu thi hành Hiệp định Giơ-ne-vơ.

Trên các báo chí lúc đó đã từng tập trung nhiều đợt tuyên truyền về cuộc đấu tranh ở miền Nam, như phản đối Diệm dùng luật 10/59 giết hại ông Hoàng Lê Kha và các đồng chí; vụ tố cáo chính quyền Sài Gòn gây ra các vụ thảm sát ở chợ Được, Vĩnh Trinh, Bến Tre; phản đối vụ thảm sát tập thể các tù chính trị ở trại giam Phú Lợi… Các nhà báo vừa hoạt động nghiệp vụ, vừa tham gia biểu tình kéo đến Ủy ban Quốc tế yêu cầu chấm dứt đàn áp, khủng bố.

Vào những năm đầu thập kỷ 60 thế kỷ trước, chúng tôi chưa hiểu rõ sự cần thiết chi viện cho miền Nam. Vài năm sau đó mới mang máng nghe có các nhà báo đã rời Hà Nội về Nam.

Luật sư Nguyễn Hữu Thọ và các nhà báo trong chiến khu. Ảnh tư liệu

Tôi biết một nhà báo quân đội đã về Nam rất sớm, đó là anh Lê Nguyên Phổ ở Tạp chí Văn nghệ quân đội. Anh là đồng hương và là bạn chiến đấu trong kháng chiến chống Pháp với Vũ Tùng (Chủ tịch Hội Nhà báo yêu nước và dân chủ miền Nam), Hoàng Lê Kha, Tỉnh ủy viên Tây Ninh. Anh vượt Trường Sơn về Nam với tên mới Bùi Kinh Lăng – tên hai con kênh anh đã sống và chiến đấu là kinh Bùi và kinh Bằng Lăng. Anh được giao phụ trách Tiểu ban Văn nghệ và sau này là Tiểu ban Báo chí.

Nhà báo Vũ Đương (Đài Tiếng nói Việt Nam) cũng rời Hà Nội về miền Nam khá sớm. Với tên mới là Thanh Nho, anh phụ trách Tiểu ban Báo chí rồi Đài Phát thanh Giải phóng. Cùng đi vào dịp đó còn có anh Bến Nghé (từ Việt Nam Thông tấn xã), anh Hoàng Hà (từ Đài Phát thanh).

Năm 1961, 1962 Báo Nhân Dân có hai đồng chí quê ở Khu 5 cũng “biến mất”: Anh Hồ Diểng, Trưởng ban Tuyên truyền thống nhất về Khu 5 làm Trưởng ban Tuyên huấn; anh Bùi Cảnh (Ban Công thương) về Nam Bộ làm Tạp chí Tiền Phong của Đảng bộ.

Năm 1964, anh Trần Phong (Tổng biên tập Báo Cứu Quốc) theo tàu chở vũ khí vào Bến Tre rồi đi bộ về Tây Ninh. Các anh Tống Đức Thắng (Trần Tâm Tri), Thái Duy (Trần Đình Vân) vượt Trường Sơn về Nam Bộ. Cũng vào năm này có nhà báo – nhà thơ Hoài Vũ, nhà báo Đinh Phong cũng vượt Trường Sơn về công tác tại Báo Giải Phóng. Cũng năm 1964, nhà báo Thụy Nga (Bảy Vân) từ Báo Hải Phòng theo tàu không số về thẳng miền Tây Nam Bộ.

Từ 1965 cho đến sau này, nhiều nhà báo ở Thông tấn xã như Võ Nhân Lý, Nguyễn Đức Giáp, Lê Đình Khuyên… cũng đã về Nam. Nhà báo Trọng Dân (Đài Tiếng nói Việt Nam); Thế Phiệt (Báo Cứu Quốc), Kim Toàn (Báo Hải Phòng), Mạnh Tùng (Báo Công Giáo)… cũng đã về tăng cường cho các báo, đài…

Trung ương Đoàn cũng cử một đoàn nhà báo về chi viện cho công tác tuyên truyền của Đoàn – trong đó có nhà văn – nhà báo Sơn Tùng.

Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ cử các nhà báo: Dương Thị Xuân Quý (về Khu 5), Lê Đoan, Lê Phương (về Nam Bộ)…

Báo Nhân Dân đã cử nhà báo Thép Mới vượt Trường Sơn vào chiến trường với tên mới Hồng Châu. Một số nhà báo về Khu 5 – trong đó có Đặng Minh Phương, Nguyễn Trọng Định, Nguyên Ngọc Tứ, Nguyễn Huy. Nhà báo Tuất Việt từ Báo Nhân Dân cũng đã có mặt ở miền Nam trước chiến dịch Mậu Thân.

Quân đội đã cử vào Nam đội ngũ nhà báo, nhà văn khá hùng hậu, như: Nguyễn Thi, Võ Trần Nhã, Phú Bằng, Ngọc Bằng, Nguyễn Trọng Oánh, Thanh Giang, Ngọc Châu… và nhiều nhà quay phim thời sự.

Đội ngũ các nhà báo từ Hà Nội vào chiến trường đã chấp nhận gian khổ, ác liệt trong nhiều tháng vượt Trường Sơn, lại chấp nhận bám sát các xóm ấp chống địch gom dân lập “ấp chiến lược”, bám sát các đơn vị bộ đội trên khắp các chiến trường. Đội ngũ đó đã kết hợp với đội ngũ các nhà báo trưởng thành từ phong trào đấu tranh ở đô thị, ở đồng bằng, trở thành đạo quân báo chí hùng hậu từ trong chiến tranh cho đến ngày tiến về giải phóng Sài Gòn. Từ Hà Nội, hàng loạt phóng viên các Báo Quân đội nhân dân, Nhân Dân, Thông tấn xã, Đài Tiếng nói Việt Nam… đã nhanh chóng bám theo các đơn vị chủ lực vượt qua các trận đánh ác liệt tiến về Sài Gòn.

Một số nhà báo ra đi từ Hà Nội nhưng không còn được trở về Thủ đô, không còn dịp đi dạo Bờ Hồ, hóng mát Hồ Tây. Vì độc lập thống nhất, họ đem theo niềm thương nhớ Hà Nội và gia đình vào cõi vĩnh hằng.

Đinh Phong
qdnd.vn

Kỷ vật của hai nhà báo liệt sĩ

Các phóng viên (từ trái sang): Nguyễn Đức Toại, Ngọc Nhu và Lê Đình Dư tại Vĩnh Linh. Ảnh tư liệu

Năm 1965, tôi và hai đồng chí Ngọc Nhu, Lê Đình Dư (còn có bút danh Hồ Thừa) đều mới ngoài ba mươi, trong danh sách những cây bút xông xáo lúc bấy giờ của Báo Quân đội nhân dân.

Mùa hè năm 1967, chúng tôi tổ chức một bữa liên hoan tiễn đưa nhau lên đường ra mặt trận. Tôi được cử lên sân bay Hòa Lạc để viết về những gương và những trận chiến đấu đánh chặn máy bay giặc Mỹ của các phi đội Mig 17 của ta. Còn Dư và Ngọc Nhu thì được cử vào Vĩnh Linh, Quảng Trị. Gọi là một bữa liên hoan, nhưng chúng tôi đi mua về một mớ cá rô đem rán giòn để cùng uống bia Trúc Bạch. Đồng chí Tô Ân, Phó trưởng phòng quân sự cũng ghé vào góp vui. Ăn uống xong, Dư đưa tôi bức tượng cô giáo bằng gỗ và nói: “Các tài liệu, sách báo, tớ đã gói gọn nhét dưới gầm giường, chỉ có bức tượng này, cậu giữ hộ cho tớ, nếu xảy ra chuyện máy bay ném bom và bắn phá vào khu trung tâm Hà Nội, cơ quan phải đi sơ tán, cậu nhớ mang theo đừng để thất lạc, mất của tớ”. Dư có vợ tên là Kim, một cô giáo dạy cấp II ở bên Thuận Thành (Bắc Ninh). Hai vợ chồng đã có một cháu gái. Chỉ là một bức tượng gỗ, nhưng tôi hiểu rõ, đây là một vật kỷ niệm quý của Dư. Bởi vì tôi biết chuyện trong một dịp đi chơi với nhau ở Hà Nội, Kim đã ghé vào một cửa hàng mua bức tượng này đưa cho chồng và nói thẳng những điều sâu kín: “Ta thật sự đánh nhau với Mỹ rồi. Anh và các anh ở tòa soạn chắc chắn phải đi vào những nơi ác liệt, em rất lo… Anh giữ lấy bức tượng này để… luôn luôn có em bên cạnh anh”. Bức tượng chỉ ở trên bàn làm việc của Dư được vài tuần lễ thôi và bây giờ trước giờ phút đi vào tuyến lửa, anh giao lại cho tôi cất giữ…

Dư đưa bức tượng cho tôi xong thì Ngọc Nhu lại nháy tôi và kéo lên buồng làm việc của cậu ta. “Đánh nhau với Mỹ, đừng có đùa”. Ngọc Nhu vừa cười vừa nói thêm: “Tớ đi chuyến này, lành nhiều mà dữ cũng không ít. Dư nó nhờ cậu giữ bức tượng cô giáo, tớ cũng nhờ cậu cất giữ mấy thứ này, nhưng nhớ kín miệng cho tớ”. Đầu tiên là một lọ hoa nho nhỏ, xinh xinh, màu nâu sẫm có điểm những nụ hoa màu trắng. Điều đáng nói, lọ hoa này thường được Q. công tác ở Báo Phụ nữ, một bạn gái rất thân của Ngọc Nhu, mang đến cắm một bông hoa trắng. Cậu ta đưa thêm một phong bì khá dày và nói nhỏ giọng: “Tớ chả giấu cậu làm gì, trong này có một số bài thơ của Q. viết về tình yêu, về cuộc đời tặng mình, cậu cất giùm cho tớ. À, còn cái thẻ phóng viên của tớ nữa, tớ trao luôn cho cậu…”.

Tối hôm đó, trước ngày lên đường, chúng tôi sôi nổi bàn luận về nội dung bài vở của đợt công tác sắp tới. Dư nêu lên một mong muốn giản dị mà sâu sắc: “Truyện ký vừa rồi, mình lấy tài liệu gián tiếp qua một số cán bộ chỉ huy và một số gương chiến đấu được ra ngoài này báo cáo điển hình, vì vậy nó vẫn chưa sâu. Lần này nhất định phải bám sát một đơn vị trực tiếp quần nhau với Mỹ, mình hy vọng sẽ có nhiều tài liệu sống, nhiều chi tiết sống về sự chỉ huy tài tình của ta, về những con người chiến đấu giỏi của ta, làm sao bài viết phải trả lời được câu hỏi: Đế quốc Mỹ to lớn hùng mạnh nhưng không thể đè bẹp được nước Việt Nam nhỏ bé, lính Mỹ cao to nhưng nhất định bị dũng sĩ Việt Nam nhỏ bé quật ngã, mình phải sờ mó được “cái hồn”, cái bên trong của các trận đánh, của các gương chiến đấu…”. Ngọc Nhu cũng thẳng thắn góp ý: “Lâu nay nội dung các bài vở viết về các trận đánh, các gương chiến đấu na ná giống nhau. Tớ hoàn toàn đồng ý với Dư, phải sờ mó được “cái hồn”, cái “bên trong” của những điều mà mình muốn viết. Muốn được vậy, không còn cách nào khác phải trực tiếp sống và chiến đấu với anh em, phải bám sát một đơn vị…”.

Nhưng rồi hai tháng sau đó, Lê Đình Dư và Ngọc Nhu cùng hy sinh trên mặt trận Cửa Việt. Cả hai đã không bao giờ “sờ mó” được nữa “cái hồn” và cái “bên trong” của các trận đánh, của các gương chiến đấu, mà chính tôi lại cảm nhận sâu sắc “cái hồn” và cái “bên trong” của sự ra đi không trở về của hai bạn. Cả hai đi vào tuyến lửa, lòng thanh thản nhẹ nhàng, để lại bức tượng gỗ cô giáo, để lại lọ hoa hồng, thanh thản nhẹ nhàng mang theo hình ảnh người vợ yêu quý, mang theo hình ảnh người bạn gái yêu thương, thanh thản nhẹ nhàng với ước mong cháy bỏng, làm sao những bài báo sẽ được viết “có hồn”, có cái “bên trong”, sẽ được viết thật hay, thật tốt.

Ngọc Nhu và Lê Đình Dư ơi, “cái hồn” và cái “bên trong” của hai cậu vẫn theo mình suốt những năm tháng ở chiến trường B3, chiến trường Cam-pu-chia, Tây Nguyên… và bây giờ mỗi lần nhìn bức tượng gỗ cô giáo, nhìn lọ hoa hồng mình vẫn “thắp nhang” tưởng nhớ các bạn, tưởng nhớ một thời trai trẻ trong sự nghiệp phục vụ Báo Quân đội nhân dân.

Kim Đồng
qdnd.vn