Thư viện

Hồi ức nữ cảnh vệ đầu tiên của Bác Hồ

Đại tá Thuận, nữ cảnh vệ đầu tiên của Việt Nam kể lại những kỷ niệm đáng nhớ về những năm tháng bảo vệ các lãnh đạo cấp cao.

Ở căn nhà nằm sâu trong một ngõ nhỏ tại Hà Nội, đại tá Nguyễn Thị Bích Thuận, nguyên là Phó Cục trưởng thuộc Bộ Tư lệnh cảnh vệ (Bộ Công an) vẫn minh mẫn, khỏe mạnh dù năm nay đã ngoài 90 tuổi. Trong số những cán bộ được vinh dự bảo vệ Bác, bà là nữ cảnh vệ được đào tạo chuyên nghiệp đầu tiên.

Lần đầu gặp Bác Hồ

Bà Thuận kể, lần đầu được thấy Bác là trong ngày Bác đọc Tuyên ngôn độc lập. “Tôi nhìn Bác chăm chú, nhớ ra đã thấy ảnh Bác in trong sách do mật thám Pháp in để nghiên cứu, tìm hiểu Đảng cộng sản Đông Dương. Sau ngày Nhật đảo chính Pháp có một người bạn đưa cho tôi xem, nhưng lúc ấy tôi đâu biết đó là lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh.

Đại tá Nguyễn Thị Bích Thuận.

Lần thứ hai bà Thuận được gặp Bác là lần chúc tết Bác dịp tết Bính Tuất năm 1946, Tết đầu tiên của đất nước Việt Nam độc lập.

“Lúc đó tôi và một chị nữa tranh nhau đứng cạnh Bác. Lúc ấy, Bác rất tinh tế khi đứng giữa hai chị em chúng tôi rồi chụp ảnh. Một cử chỉ tuy nhỏ nhưng khiến chúng tôi tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Người”, bà Thuận nói.

Khép kín, tuyệt mật

Theo bà Thuận, rất nhiều nguyên tắc và phương pháp bảo vệ của ngành công an sau này đều thừa hưởng từ điều mà Bác dạy: “Không ngừng học hỏi và luôn dựa vào nhân dân, vào đồng chí, cơ quan. Học những phương pháp của nước ngoài là tốt, nhưng phải ứng biến, vận dụng phù hợp với điều kiện Việt Nam”.

Năm 1961, bà Thuận là một trong những sinh viên tốt nghiệp khóa đầu tiên ở Đại học Y Dược với tấm bằng đỏ.

Nhận nhiệm vụ từ ông Trần Quốc Hoàn, Bộ trưởng bộ Công an khi đó, nữ chiến sĩ Nguyễn Thị Bích Thuận được chuyển sang làm công tác Cảnh vệ.

Trong lần đầu được điều động làm công tác bảo vệ an ninh cho Đại hội Đảng lần thứ 3, bà Thuận làm việc cùng một nữ cảnh vệ chuyên trách an ninh cho Chủ tịch Mao Trạch Đông của Trung Quốc.

Nữ chuyên gia Trung Quốc tỏ ra vô cùng ngạc nhiên trước những phương pháp kiểm định thực phẩm cực nhanh và chuẩn của bà Thuận.

Nếu dùng phương pháp kiểm định chính quy, thường phải 1 tuần mới cho kết quả, trong khi bà Thuận chỉ mất vài giờ đồng hồ để cho kết quả tuyệt đối khớp với chuyên gia Trung Quốc.

“Lúc đó tôi làm bằng phương pháp nghiệp vụ kết hợp kiến thức khoa học, vẫn đảm bảo tính an toàn nhưng quan trọng là phải nhanh, chuẩn trong điều kiện Việt Nam chưa có nhiều tiềm lực tài chính để mua sắm trang thiết bị đắt tiền”, bà Thuận nói.

Bảo đảm an toàn tuyệt đối về thực phẩm là nhiệm vụ quan trọng nhất của lực lượng kỹ thuật bảo vệ trong ngành công an.

Ít ai biết rằng, bà Thuận là một trong những chiến sĩ có công đầu trong việc vận chuyển những bó hoa lay ơn tươi rói sang cho Đại hội Đảng cộng sản Liên Xô (cũ) lần thứ 22, được tổ chức năm 1962.

 Đại tá Thuận là nữ cảnh vệ đầu tiên của Bác Hồ.

Lần đó, bà Thuận đứng đầu đội cán bộ đưa những củ hoa lay ơn đã qua chọn lọc xuống trồng tại Hải Dương. Đến ngày thu hoạch, bà Thuận lại xuống tận nơi, kiểm tra từng bông hoa một để đảm bảo tuyệt đối an toàn rồi sau đó “áp tải” hoa sang tận Matxcơva.

Các đại biểu dự Đại hội Đảng cộng sản Liên Xô đã vô cùng bất ngờ và thích thú khi thấy những bông hoa lay ơn rực rỡ khoe sắc trong phòng họp giữa mùa đông giá lạnh ở Matxcơva.

Bà Thuận cũng từng trực tiếp làm việc với nhiều chuyên gia Trung Quốc, Liên Xô trong đội ngũ bảo vệ Mao Trạch Đông, Stalin. Năm 1962, bà được cử sang Liên Xô làm việc cùng các chuyên gia cao cấp trong đội bảo vệ Stalin. Tại đây, bà Thuận có dịp tiếp xúc những kỹ thuật tối tân của thế giới thời đó.

Cảm phục sự thông minh, chăm chỉ của nữ chiến sĩ cảnh vệ Việt Nam, các chuyên gia Liên Xô tặng bà quyển sổ tay ghi chép những biện pháp tuyệt mật về những khâu kiểm định an toàn. Kinh nghiệm quý báu của các chuyên gia Liên Xô sau này được bà vận dụng rất thành công và truyền dạy lại cho những thế hệ cán bộ tiếp theo.

“Cho đến nay, lực lượng cảnh vệ nói chung và lực lượng kỹ thuật bảo vệ nói riêng chưa từng để xảy ra sai sót nào đáng kể, đảm bảo tuyệt đối an toàn cho các lãnh đạo trong những chuyến công tác trong và ngoài nước”, bà Thuận nói với giọng tự hào.

Nhân chứng lịch sử

Đầu tháng 1/1947, trước Tết Nguyên đán Tân Hợi, bà Thuận được giao nhiệm vụ “mã” bức thư đánh qua điện đài mật của Trung ương vào mặt trận Liên khu I.

Đó là bức thư của Bác Hồ: “… Các em là đội cảm tử. Các em quyết tử để Tổ quốc quyết sinh. Các em là đại biểu cái tinh thần tự tôn tự lập của dân tộc ta mấy nghìn năm để lại, cái tinh thần quật cường đó đã kinh qua Hai Bà Trưng, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung, Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám truyền lại cho các em.

 Nguyên Phó cục trưởng Cục Cảnh vệ – bà Nguyễn Thị Bích Thuận

Nay các em gan góc tiếp tục cái tinh thần bất diệt đó, để truyền lại cho nòi giống Việt Nam muôn đời về sau…”.

Trong kháng chiến chống Pháp, bà được mã hóa bức điện Bác gửi vào cho cán bộ chiến sỹ mặt trận Liên khu I. Bức điện lịch sử được gửi đi từ cơ sở bí mật tại Mễ Trì, Hà Nội.

Nội dung là lời Bác căn dặn chiến sỹ quyết tâm bảo vệ nền độc lập nước nhà: “Các em quyết tử để Tổ quốc quyết sinh”.

Câu nói ấy sau này qua nhiều lần hội thảo, qua nhiều lần xác nhận, đã được UBND TP Hà Nội xây dựng đài tưởng niệm tại Vườn hoa Hàng Đậu xưa, nay là Vườn hoa Vạn Xuân…

Theo nguyên tắc giữ bí mật, bà Thuận không được lưu giữ bức điện và các công văn, giấy tờ khác.

Sau đó, bà Thuận lại “dịch” bức điện của Liên khu I hứa với Trung ương Đảng và Bác Hồ, thề “Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh”, thể hiện quyết tâm hy sinh xương máu để bảo vệ độc lập, chủ quyền của Tổ quốc.

Ít người biết rằng, bà Thuận là người sau này đã kiên trì 8 năm liên tục kiến nghị để sửa lại câu khẩu hiệu cho đúng như lời của Bác Hồ là: “Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh”.

“Bác viết là “để”, chứ không phải là “cho”, hoặc “để cho”, vì Bác Hồ của chúng ta là người làm việc vì dân, vì Đảng, phục vụ nhân dân, phục vụ Đảng.

Bác không bao giờ lấy cương vị Chủ tịch nước, lãnh tụ Đảng để đặt mình cao trên Tổ quốc, trên nhân dân.

Vì vậy, Bác không dùng từ “cho”, hoặc “để cho” – từ thường dùng của người bề trên với kẻ dưới. Bác dùng từ chuẩn xác, trọn nghĩa, dễ thấm, dễ hiểu, hợp với đức “vì mọi người” của Bác”, bà Thuận kể lại với giọng xúc động.

Theo VTC
Vkyno (st)

Sách lịch siêu đại về Bác Hồ lập kỷ lục Việt Nam

Toàn bộ nội dung sách lịch dành chuyển tải những tinh hoa tư tưởng, triết lý của Hồ Chủ tịch.

Bộ sách lịch có kích thước bìa 25,5cm x 66cm, được phát hành vào Tết 2013. Toàn bộ nội dung sách lịch dành chuyển tải những tinh hoa tư tưởng, triết lý của Hồ Chủ tịch.

Điểm nhấn đặc biệt của bộ sách lịch cỡ lớn này là hơn 200 bức ảnh của Người được một nhóm họa sĩ dồn tâm sức vẽ lại bằng bút sắt trong suốt một năm ròng. Tác giả ý tưởng – Thạc sĩ Vũ Đức Loan cho biết, việc vẽ tranh mất rất nhiều thời gian do có nhiều hình ảnh tư liệu không rõ nét nên việc phục dựng, chuyển thể bằng bút sắt phải được chăm chút rất dày công.

Xuyên suốt bộ sách lịch là 365 di ngôn được chọn lọc và dẫn nguyên văn từ bộ sách “Hồ Chí Minh toàn tập” và 365 tác phẩm thơ được lược trích từ di sản thơ Hồ Chí Minh.

Bộ sách lịch có thiết kế độc đáo: được lật qua mỗi ngày, hoàn toàn không xé sau khi sử dụng. Điều này thể hiện tinh thần tôn kính lãnh tụ và cũng là cách lưu trữ bộ sách lịch thành một tài liệu tham khảo hữu ích sau khi sử dụng.

Với ý tưởng độc đáo và ý nghĩa giáo dục cao, bộ sách lịch đã được Trung tâm Sách Kỷ lục Việt Nam xác lập kỷ lục dành cho “Sách lịch Hồ Chí Minh lần đầu tiên được xuất bản tại Việt Nam”.

Kỷ lục được trao cho 3 đơn vị đồng sở hữu gồm NXB Chính trị Quốc gia – Sự thật, Thạc sĩ Vũ Đức Loan (tác giả ý tưởng) và Công ty TNHH An Hảo (đơn vị hoàn thiện thiết kế và sản xuất).

Theo Dân Trí
Vkyno (st)

Lần đầu xuất bản sách lịch về Bác Hồ

Xuyên suốt bộ lịch là 365 di ngôn của Bác Hồ được chọn lọc và dẫn nguyên văn từ Bộ sách Hồ Chí Minh Toàn tập (15 tập).

Bộ sách lịch “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” chính thức được xác lập kỷ lục là “Sách lịch Hồ Chí Minh lần đầu tiên được xuất bản tại Việt Nam.”

Trung tâm sách Kỷ lục Việt Nam vừa chính thức xác lập kỷ lục này cho ba đơn vị đồng sở hữu là Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia – Sự Thật, ông Vũ Đức Loan và Công ty TNHH An Hảo.

Đây là bộ lịch đặc biệt cả về hình thức và nội dung được biên soạn công phu trong hơn ba năm. Bộ lịch khổ 24×41 cm được thiết kế mang dáng dấp cổ điển, nhưng lại hiện đại với 200 bức ảnh của Bác Hồ được một tập thể họa sỹ dày công họa từng chi tiết.

Mô tả ảnh. Mô tả ảnh.
Bộ sách lịch “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.”

Xuyên suốt bộ lịch là 365 di ngôn của Bác Hồ được chọn lọc và dẫn nguyên văn từ Bộ sách Hồ Chí Minh Toàn tập (15 tập). Đây là những lời kêu gọi, khuyên dạy, lời căn dặn, động viên của Bác Hồ gửi đến toàn Đảng, toàn dân, đến anh em bạn bè yêu chuộng hòa bình trên thế giới dựa theo hình ảnh của Bác.

Cùng với nội dung đó là 365 trích đoạn thơ lược dẫn từ kho di sản thơ Hồ Chí Minh, giúp ta hiểu thêm về Bác Hồ như một “Danh nhân văn hóa kiệt xuất” do Tổ chức UNESCO trao tặng.

Bộ lịch có thiết kế độc đáo, được lật qua mỗi ngày, mà hoàn toàn không phải xé sau khi sử dụng. Và sau khi sử dụng xong bộ lịch sẽ được lưu như một cuốn sách lịch hữu ích về Bác Hồ.

(Theo Vietnamplus)
Vkyno (st)

Sư cô học Bác Hồ “quan tâm đến mọi người hơn”

Sư cô Thích Ðàm Ngọc kể rằng, ấn tượng nhất là câu chuyện: “Phải biết quan tâm đến mọi người hơn”.

Sư cô Thích Ðàm Ngọc kể rằng, đã đọc rất nhiều mẩu chuyện về cuộc đời và thân thế sự nghiệp của lãnh tụ Hồ Chí Minh, nhưng ấn tượng nhất vẫn là câu chuyện: “Phải biết quan tâm đến mọi người hơn”.

Sư cô Thích Ðàm Ngọc

Ðạo đức Hồ Chí Minh không chỉ là tấm gương tu dưỡng các đức tính tốt, mà còn là gương ứng xử theo truyền thống văn hóa Việt Nam. Ðây là chuẩn mực đạo đức, mà những người con Phật giáo luôn noi theo và lấy đó làm kim chỉ nam cho mình trong cuộc sống – đó là tâm sự của sư cô Thích Ðàm Ngọc, ở chùa Ninh Xá Hạ (xã Yên Minh, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Ðịnh).

Chúng tôi đến chùa Ninh Xá Hạ khi chiều tắt nắng. Tiếng chuông chùa thánh thót ngân nga, gợi khung cảnh yên bình của miền quê Yên Minh, Ý Yên nổi tiếng với nghề đúc đồng. Mảnh mai và hiền dịu, sư cô Thích Ðàm Ngọc tỉ mỉ pha trà mời khách.

Nghe chúng tôi hỏi về giải ba toàn quốc và giải nhì cấp tỉnh trong cuộc thi kể chuyện học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, sư cô khiêm tốn trả lời: Ðây là giải “áo nâu”, có gì đáng nói đâu!

Sư cô Thích Ðàm Ngọc kể rằng, đã đọc rất nhiều mẩu chuyện về cuộc đời và thân thế sự nghiệp của lãnh tụ Hồ Chí Minh, nhưng ấn tượng nhất vẫn là câu chuyện: “Phải biết quan tâm đến mọi người hơn”.

Chuyện kể rằng, hồi Trường Ðảng Nguyễn Ái Quốc còn ở căn cứ kháng chiến Việt Bắc, một lần Bác Hồ đến dự lễ bế giảng của trường. Khi xuống thăm nhà bếp, thấy làm cỗ có vẻ linh đình, Bác nói với đồng chí phụ trách trường: “Này, bế giảng chứ không phải “bế bụng” đâu nhé! Kháng chiến còn khó khăn lắm đấy, các chú ạ”.

Ðến bữa ăn, thấy mâm cơm chỉ có một cái bát, một đôi đũa, Bác hỏi: “Thế Bác ăn với ai?”. Ðồng chí phụ trách  trường gãi đầu, gãi tai: “Dạ , xin để Bác ăn riêng cho tiện…”. Bác ngắt lời: “Không tiện gì cả. Thế các chú muốn Bác ăn trên ngồi trốc à?”.

Rồi Bác bảo kê thêm bàn ghế cho mọi người cùng ăn với Bác và gọi: “Ngồi cả vào đây, ăn chung với Bác, ăn một mình Bác ăn sao được?”.

Buổi tối, Bác ở lại trường làm việc. Các đồng chí mang đến một chiếc đèn tọa đăng rất sáng. Bác cầm cây đèn đó xuống văn phòng nhà trường bảo: Ðèn này to tốn dầu lắm! Bác còn làm việc khuya, một chiếc đèn con thôi cũng đủ. Các đồng chí đổi cho Bác cây đèn khác”.

Hôm sau, trước lúc chia tay trường, đồng chí phụ trách lễ phép hỏi Bác, có điều gì căn dặn thêm về công việc của trường. Người ân cần nói: “Tôi chỉ mong các đồng chí đừng quan tâm đến tôi quá, mà phải quan tâm đến mọi người hơn”.

Kể đến đây, sư cô Thích Ðàm Ngọc chậm rãi nói tiếp: Câu chuyện ngắn gọn, nhưng hàm súc ý nghĩa to lớn về hình ảnh một vị Chủ tịch nước giản dị, tiết kiệm. Người không bao giờ cho phép mình lãng phí dù chỉ một bữa ăn, hay một cây đèn dầu, tự hạn chế mình không ham mê vật chất, nhưng lại luôn quan tâm lo lắng cho dân, cho nước từ những điều nhỏ nhất như bát cơm, manh áo… suốt đời tâm niệm là công bộc của dân, lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ, luôn hòa mình vào cuộc sống chung của đồng bào, đồng chí, mà không nhận bất cứ một sự ưu tiên nào người khác dành cho mình.

Hình ảnh Người vui vẻ cùng cán bộ, nhân viên nhà trường bên bàn ăn, cho ta thấy một nhân cách hòa đồng, gần gũi, một trái tim nhân hậu, một tình thương vô bờ bến chỉ có ở người lãnh tụ cách mạng, một vĩ nhân. Sự bao dung bình dị, tình cảm yêu thương chân thành của Bác đã xóa đi khoảng cách giữa người lãnh tụ và quần chúng nhân dân.

Bác không đặt mình vào địa vị Chủ tịch nước hay một vị lãnh tụ cấp cao, không “quan liêu, hách dịch” như chúng ta thường gặp đâu đó trong xã hội, mà với mọi người, Bác thật gần gũi, thân thương nhường nào.

Ðúng như nhà thơ Tố Hữu đã viết: “Người là Cha, là Bác, là Anh; Quả tim lớn, lọc trăm dòng máu đỏ”. Câu chuyện kết thúc bằng một lời nhắc nhở nhẹ nhàng nhưng thật thấm thía, xúc động: “Tôi chỉ mong các đồng chí đừng quan tâm đến tôi quá, mà phải quan tâm đến mọi người hơn”.

Chúng tôi ngồi nghe, lặng đi vì xúc động và bị cuốn hút vào câu chuyện của sư cô Thích Ðàm Ngọc kể về Bác Hồ kính yêu. Những cảm xúc về vị cha già của toàn dân tộc Việt Nam bỗng ùa về thật sâu lắng qua giọng kể truyền cảm của sư cô.

Lặng đi hồi lâu, tôi mới hỏi: Vậy câu chuyện này có tác động gì đến đời sống của một người đi theo và phụng sự phật pháp như sư cô ?- Có chứ!- Sư cô trả lời và khẳng định: Câu chuyện luôn theo tôi hằng ngày trong cuộc sống.

Bởi những triết lý này không phải là điều gì lớn lao, khó làm trong cuộc sống hằng ngày. Những lời dạy của Bác không cao xa mà vô cùng giản dị – giản dị như chính cuộc đời của Người vậy.

Và chính nhân cách của Người, đạo đức của Người, cuộc đời của Người đã khắc sâu vào tiềm thức người dân Việt Nam nói chung, người con Phật giáo chúng tôi nói riêng những tình cảm không thể phai mờ.

Ðạo Phật có một câu kinh: “Hương của các loài hoa không bay ngược chiều gió. Hương của người đức hạnh bay ngược khắp muôn phương”. Chủ tịch Hồ Chí Minh là người như vậy. Với tôi, học Bác cũng là học Phật và học Phật cũng là học Bác.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói về Phật giáo: Tôn chỉ mục đích của Ðức phật, nhằm xây dựng cuộc đời thuần mỹ, chí thiện, bình đẳng, yên vui và no ấm. Nếu cốt lõi của Ðạo phật là:  Từ, bi, hỷ, xả, vô ngã, vị tha, cứu khổ, cứu nạn; thì nội dung cơ bản của tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh cũng là cần, kiệm, liêm chính, chí công, vô tư, cứu nước, cứu dân.

Ðó chính là hai điểm tương đồng của hai nền đạo đức, hai tư tưởng lớn hội tụ soi đường cho nhân loại hướng tới chân, thiện, mỹ. Dân tộc Việt Nam thật may mắn khi có một vị lãnh tụ như Người, đạo đức như Người. Người đã đi xa, nhưng tư tưởng và tấm gương đạo đức ngời sáng của Người vẫn sống mãi với thời gian.

Học theo Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu, hằng ngày, sư cô Thích Ðàm Ngọc luôn phấn đấu là công dân mẫu mực, không ngừng tu dưỡng đạo đức, nêu cao tinh thần hòa hợp của Phật giáo, giữ gìn khối đoàn kết toàn dân, đoàn kết tôn giáo, đem đạo vào đời, dìu dắt tín đồ phật tử xây dựng nếp sống văn minh, gia đình văn hóa, xây dựng chùa tinh tiến.

Theo Lê Phương Hiên
Nhân dân

Vkyno (st)

Gặp người phi công lái máy bay chở Bác Hồ

“Bác cháu ta đi công tác với nhau nhiều lần, hôm nay Bác định chụp chung với các cháu một bức ảnh để làm kỷ niệm”.

“Trước Bác chủ yếu đi bộ, sau đi ngựa, ôtô, giờ đi công tác xa bằng máy bay lại có các cháu phục vụ thì còn gì bằng. Các cháu cần luôn tu dưỡng, rèn luyện về học tập để hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao”.

Chiếc máy bay IL14 từng chở Bác đi công tác nước ngoài, vừa được đưa về Bảo tàng Lịch sử quân sự Việt Nam. Đây là chiếc máy bay phục vụ Bác thời kỳ 1960 – 1963.

Những người lính đã gắn bó với chiếc máy bay giai đoạn này, giờ đã cao tuổi. Được sự chỉ dẫn của một cán bộ Bảo tàng lịch sử quân sự Việt Nam, chúng tôi có dịp gặp đại tá Trần Văn Đông, phi công phục vụ Bác Hồ trên những chuyến bay IL14 này.

Dù đã 80 tuổi, nhưng ông Trần Văn Đông vẫn nhớ như in những chuyến công tác phục vụ Bác. Ông Đông kể: “Chiếc IL14 này là do Liên Xô tặng và bay phục vụ Bác chặng Hà Nội – Bắc Kinh giai đoạn 1960 – 1963.

e

Ông Nguyễn Văn Đông giới thiệu bức ảnh tổ bay IL14 vinh dự được chụp với Bác.

Sau khi hòa bình lập lại ở miền Bắc (sau năm 1954), tôi được cử đi học bổ túc văn hóa rồi chọn đi học bay ở Trường Xuân (đông bắc Trung Quốc) đến tận năm 1959. Khi về nước, tôi được cử vào đoàn không quân vận tải đầu tiên (đoàn bay 919) và được chọn vào tổ bay chuyên cơ phục vụ Bác Hồ và lãnh đạo Đảng, Nhà nước đi công tác trong nước và quốc tế.

Những lần được phục vụ Bác trong các chuyến công tác trên chiếc IL14, được sống bên Bác, chúng tôi hiểu thêm rất nhiều điều về Bác, một lãnh tụ, một người cha vĩ đại có tấm lòng bao dung nhân ái, lối sống giản dị, gần gũi, phong cách nhanh nhẹn, ý chí kiên quyết. Người suốt đời chỉ lo cho dân, vì dân phục vụ”.

Ông Đông kể lại: “Chuyến bay đầu tiên được phục vụ Bác là khoảng tháng 3/1960, trong tổ phục vụ lúc đó có tôi duy nhất là người Việt Nam. Sau khi hỏi tên tuổi, quê quán, biết tôi quê Nghệ An, Bác bảo: “Vậy là đồng hương với Bác rồi đó”.

Sau đó Bác tâm sự, trước Bác chủ yếu đi bộ, sau đi ngựa, ôtô, giờ đi công tác xa bằng máy bay lại có các cháu phục vụ thì còn gì bằng. Các cháu cần luôn tu dưỡng, rèn luyện về học tập để hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao”.

Ông Đông kể, vào tháng 8/1961, ông được phục vụ trong chuyến đưa Bác đi Bắc Kinh (Trung Quốc). Khi từ Bắc Kinh về tới sân bay Gia Lâm, khi xuống hết cầu thang, Bác thấy các đồng chí Trung ương ra đón, Bác nói: “Lần này, các chú ra đón Bác không có hoa à?”.

Các đồng chí nói: “Thưa Bác, chúng tôi sợ Bác phê bình”. Thế là Bác và đồng chí đều cười”. Ông Đông giải thích, có câu chuyện này là vì chuyến trước đó, Bác thấy các đồng chí Trung ương ra đón với một bó hoa, Bác hỏi: “Hoa để làm gì thế này?”.

Các đồng chí trả lời: “Thưa Bác, chúng tôi thấy Bác đi công tác về mừng quá nên mua hoa ra đón”. Bác bảo: “Các chú tiểu tư sản lắm đấy, người nhà đi công tác về mà cũng mua hoa ra đón”.

Một câu chuyện khác cho thấy Bác rất am hiểu về an toàn bay. Tháng 8/1962, tổ bay IL14 đưa Bác từ Bắc Kinh (Trung Quốc) về sân bay Gia Lâm, trong chuyến bay đó có đồng chí Văn, đồng chí Bảo, đồng chí Kỳ và đồng chí bí thư của đồng chí Trần Tứ Bình – Đại sứ của ta ở Bắc Kinh cùng về.

Khi máy bay hạ cánh xuống sân bay Gia Lâm đang lăn vào vị trí đậu, nhưng chưa vào tới nơi và máy bay cũng chưa tắt máy, đồng chí bí thư của đồng chí Bình chạy ra mở cửa máy bay. Bác bảo: “Chú mở cửa mà xảy ra không an toàn thì ai chịu trách nhiệm?

Việc đó là của các cháu phi công”. Đồng chí bí thư vội về vị trí ngồi. Sau khi máy bay vào vị trí đậu, tắt máy, ông Đông mời Bác xuống, Bác bảo: “Bây giờ Bác cháu ta đàng hoàng xuống”.

Chuyến bay cuối cùng ông Đông phục vụ Bác là tháng 3/1963, khi tổ bay sang Bắc Kinh đón Bác sau khi Bác từ Mátxcơva về. Về đến sân bay Gia Lâm, Bác bảo: “Bác cháu ta đi công tác với nhau nhiều lần, hôm nay Bác định chụp chung với các cháu một bức ảnh để làm kỷ niệm. Các cháu có đồng ý không?”.

Ông Đông thay mặt tổ lái trả lời: “Chúng cháu muốn lắm nhưng không dám thưa với Bác”. Bác nói: “Muốn mà không nói thì làm sao Bác biết được”. Khi chuẩn bị đứng vào chụp, ông Đông thấy một cháu bé chạy qua nên kéo vào. Bác hỏi “Cháu bé con của ai?” Ông Đông trả lời: “Thưa Bác, con của một đồng chí ở sân bay Gia Lâm”.

Thế là Bác đặt tay lên vai cháu bé cùng chụp ảnh. Đồng chí phóng viên nhiếp ảnh chụp xong thưa: “Thưa Bác, xong rồi ạ”. Bác bảo: “Phải nháy lại lần nữa cho chắc. Sau khi xong phải làm cho mỗi cháu một tấm thật đẹp, gửi tới tận tay cho các cháu”.

Đồng chí phóng viên trả lời: “Dạ thưa Bác, cháu rõ”. Lần đó Bác còn tặng cho mỗi người trong tổ bay một huy hiệu của Bác.

“Đó là tấm ảnh về chuyến bay cuối cùng của tôi phục vụ Bác trên chiếc IL14”, ông Đông tâm sự. Đã rất nhiều năm trôi qua, nhưng những kỷ niệm về Bác theo đại tá Trần Văn Đông đến tận ngày nay, nhất là mỗi dịp kỷ niệm Ngày sinh của Người.

Theo Báo Tin tức
Vkyno (st)

Gặp người giữ kỷ lục thể hiện hình ảnh Bác Hồ

nguoi the hien ha BH
Hình tượng Bác trong cuộc trao giải thơ

tại đền thờ Nguyễn Bỉnh Khiêm đầu năm 2013

Mặc dù đã ở tuổi xưa nay hiếm nhưng nghệ sĩ Văn Tân vẫn đi khắp nơi, mang hình ảnh Bác Hồ tới công chúng. Chúng tôi gặp ông tại cuộc trao giải thơ tại Khu đền thờ danh nhân Nguyễn Bỉnh Khiêm, huyện Vĩnh Bảo – TP Hải Phòng. Rất đông các tác giả được giải và người yêu thơ tham dự buổi lễ đứng bật dậy bồi hồi, xúc động khi “Bác Hồ” (do nghệ sĩ Văn Tân thể hiện) bước ra vẫy chào và chúc mừng những tác giả được giải. Giọng nói của “Bác” ấm áp, cử chỉ bình dị thân tình đã khiến cho buổi lễ trang trọng và sôi nổi hẳn lên.

Sau buổi lễ, nghệ sĩ Văn Tân đã dành thời gian trò chuyện với những người quan tâm tới công việc đóng vai Bác Hồ suốt mấy chục năm qua của mình. Năm 1970, sau khi Bác Hồ đã qua đời, Đảng ta đã có chủ trương đưa hình ảnh Bác lên sân khấu. Nhân dịp này nghệ sĩ Văn Tân lúc đó là diễn viên ở đoàn kịch Hà Bắc đã mạnh dạn nghiên cứu đóng vai Bác Hồ. May mắn của Văn Tân là hai lần được gặp Bác trước khi vào vai Bác. Đó là vào năm 1961 và 1963 trên chính quê hương. Từ đó hình ảnh Bác luôn hiện lên trong tâm trí của người nghệ sỹ và ông quyết tâm thể hiện ước mơ lớn của mình là đóng vai Bác Hồ trên sân khấu. Ông lấy cây đay ngâm kỹ, đập dập dùng sợi tết thành râu, tóc giả, tự hóa trang, tự viết hoạt cảnh, tập diễn với đoàn kịch Hà Bắc để thể hiện hình tượng Bác Hồ. Kết quả thật bất ngờ, rất nhiều người xem xong đã công nhận Văn Tân hóa trang giống Bác và diễn cũng có nhiều nét giống Bác. Đó là những động viên, khích lệ để Văn Tân càng tự tin, ra sức nghiên cứu sâu hơn ngôn ngữ, động tác của Bác.

Để có hình thức giống Bác nghệ sĩ Văn Tân đã phải hoá trang tất cả 17 chi tiết trên khuôn mặt như mũi, trán, cằm, râu… Lần đầu tiên hoá trang thành Bác Hồ các chuyên gia đã làm mất 10 tiếng đồng hồ mới xong. Riêng việc học nói giọng và cử chỉ đi đứng của Bác cũng mất rất nhiều thời gian, nhất là luyện ánh nhìn trìu mến thân thương của Người là vô cùng khó. Ngoài ra nghệ sĩ Văn Tân còn được đích thân cụ Hà Huy Giáp – nguyên Viện trưởng Viện Bảo tàng Hồ Chí Minh giảng giải cặn kẽ những đức tính của Bác để cảm nhận được từ trong ra ngoài một hình tượng vĩ đại mỗi khi nhập vai.

Nghệ sĩ Văn Tân nói: “Tôi đã xem đi xem lại hàng nghìn lần những băng đĩa về Bác Hồ để bắt chước cho thật giống, cứ có thời gian rảnh rỗi là tôi lại tập nói giọng của Người. Giọng Bác Hồ là giọng miền Trung pha Bắc và trầm ấm, còn giọng của tôi lại giọng cao nên rất khó bắt chước, tuy nhiên với tấm lòng kính yêu Bác tôi đã vượt qua, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao”.

Mặc dù đã đóng vai Bác Hồ hàng nghìn lần nhưng với nghệ sĩ Văn Tân thì lần nào cũng như là lần đầu tiên nhập vai vậy. Mỗi khi ra sân khấu giơ tay chào khán giả là tiếng hoan hô cổ vũ lại vang lên khiến cho buổi biểu diễn trở nên sống động lạ thường.

Lê Tự
Theo Báo Đại Đoàn Kết
Kim Yến
(st)

bqllang.gov.vn

Võ Quý Huân và mẻ gang đầu tiên đúc tượng Bác Hồ

Mang trong mình dòng máu Lạc Hồng, là một trí thức yêu nước, ông tích cực hoạt  động trong phong trào của Việt kiều hướng về Tổ quốc.

 – Võ Quý Huân sinh năm 1915 trong một gia đình giáo học, tại miền quê Thanh Tùng, Thanh Chương, Nghệ  An. Năm 1935-36, ông tham gia làm báo L’ activité Indochinoise và in truyền đơn chống chế độ thực dân Pháp. Bị lộ, năm 1937, ông phải trốn sang Pháp vừa làm vừa học… Năm 1940 đã tốt nghiệp 3 bằng kỹ sư: Cơ điện, Đúc, Công nghệ chuyên nghiệp và là đảng viên Cộng sản Pháp từ tháng 7/1939. 

Sinh thời có nhiều đóng góp nhưng có lẽ cuộc đời ông có 2 sự việc để lại dấu ấn sâu sắc. Đó là, Võ Quý Huân được Hồ Chủ tịch mời cùng Người từ Pháp trở về nước cuối năm 1946 và, mẻ gang đầu tiên của ngành Công nghiệp non trẻ do chính tay ông cùng các cộng sự rót ra, góp phần tạo nên những trái bom, những quả mìn diệt giặc Pháp.

Được theo Cụ Hồ về nước  

Là 1 trong những kĩ sư Đúc – luyện kim người Việt  đầu tiên tốt nghiệp tại Pháp, ông hành nghề tại nhiều công ty, nhà máy. Mang trong mình dòng máu Lạc Hồng, là một trí thức yêu nước, ông tích cực hoạt  động trong phong trào của Việt kiều hướng về Tổ quốc.

Nghe tin Cách mạng Tháng Tám thành công, ông cùng các Việt kiều (là  đảng viên Cộng sản Pháp) thành lập ra “Việt Nam đồng chí Hội” rồi ông làm thư kí cho Hội Pháp-Việt và Hội Việt-Pháp hữu nghị. Tháng 3/1946, khi phái đoàn Chính phủ ta sang Pháp đàm phán tại Hội nghị Phông-ten Nơ-blô, ông đã cùng Hội Việt kiều tổ chức bà con ta ra sân bay đón đoàn. Sau đó là người giao dịch cho phái đoàn những ngày ở Paris.

Bà con Việt kiều thời ấy kể lại Võ Quý Huân thoăn thoắt như con thoi, với camera trên tay, luôn lia máy chớp lấy những hình ảnh tư liệu quý giá có hình ảnh Hồ Chủ tịch. Khi về nước, những tư liệu này được bàn giao cho ông Nguyễn Sơn.

(Năm 1974, khi đạo diễn điện ảnh Phạm Kỳ Nam sang Pháp làm bộ phim “Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh” (ghi lại thời gian Bác sống và hoạt động tại đây) đã sưu tầm đuợc hơn 1000 thước phim tư liệu do 2 ông Mai Trung Thứ và Võ Quý Huân quay khi Bác sang Pháp năm 1946).

Cũng chính thời gian ấy là thời gian Võ Quý Huân được gần gũi nhiều với Cụ Chủ tịch. Con người, tính cách của Cụ đã để lại trong Võ Quý Huân những ấn tượng đặc biệt. Từ khâm phục ở đức độ, tài năng, ông đem lòng yêu mến rồi đặt niềm tin tưởng hoàn toàn ở Người.

Kĩ sư Võ Quý Huân (1915-1967)

Thấy kết quả của hội nghị bất thành, Hồ Chủ tịch cho gọi số trí thức gần gũi lần lượt lên gặp. Bác bảo “Hội nghị Phông-ten Nơ-blô không thành công, Bác sắp về nước. Các chú chuẩn bị để vài ngày nữa chúng ta lên đường. Chú đã sẵn sàng chưa?”. Cũng chỉ cần 1 đơn xin nghỉ việc, còn mọi thủ tục khác đã có người lo (vì Hội Việt kiều yêu nước khi đó khá mạnh, người ở lại sẵn sàng giúp người ra đi).

Ngày 16/9/1946, chuyến tầu hỏa đặc biệt, có 2 toa dành riêng, đưa Bác Hồ và đoàn tùy tùng rời Paris xuôi về  phía nam. Trên tầu có 6 người tháp tùng: thư kí Đỗ Đình Thiện (tư sản yêu nước, đảng viên Cộng sản Pháp), đại tá cận vệ Vũ Đình Huỳnh cùng 4 trí thức Việt kiều: bác sĩ Trần Hữu Tước, kĩ sư Mỏ-Luyện kim Võ Đình Quỳnh, kĩ sư Phạm Quang Lễ (sau này là Thiếu tướng Trần Đại Nghĩa) và kĩ sư Đúc-luyện kim Võ Quý Huân.

(Với  ông Lễ thì khá đơn giản vì đang sống độc thân, riêng ông Tước và ông Huân cũng phải có những thu xếp khéo léo với gia đình. Ông Huân có người vợ Pháp gốc Nga cùng  cô con gái. Ông hứa về nước một thời gian rồi sẽ đón mẹ con cùng về).

Từ Cảng Toulon, Thông báo hạm Dumont d’Urville của Hải quân Pháp đưa Hồ Chủ tịch về Việt Nam vào sáng 19/9/1946. Suốt 1 tháng lênh đênh trên biển, trên chính chiến hạm của kẻ địch có trang bị đại bác 155mm, pháo phòng không, súng đại liên cùng 150 sĩ quan, thủy thủ do 1 đại tá chỉ huy. Có khác gì “chim treo trên lửa”! Nhưng Bác cùng đoàn tùy tùng đã vượt qua mọi khiêu khích; thậm chí các sĩ quan, thủy thủ Pháp phải kính trọng.

Ngày 20/10/1946, Thông báo hạm cập cảng. Các đồng chí Phạm Văn  Đồng, Võ Nguyên Giáp cùng nhân dân Hải Phòng đã chào đón nồng nhiệt…

Kĩ sư Võ Quý Huân với mẻ gang đầu tiên 

Trở về nước, kĩ sư Phạm Quang Lễ được giao ngay trọng trách – Cục trưởng Cục Quân giới, còn kĩ sư Võ Quý Huân – Giám  đốc Sở Khoáng chất kỹ nghệ Trung bộ.

Ngày 19/12/1946 – toàn quốc kháng chiến. Võ Quý Huân chỉ  huy sơ tán 2 nhà máy Xe lửa Tràng Thi và Điện Bến Thủy lên rừng núi phía tây. Các nhà máy Kinh tế  1, 2, 3 cùng trường Cán bộ kỹ thuật Trung bộ  lần lượt được thành lập.

Tại Nhà máy Kinh tế 3 đã xây dựng lò cao sản xuất gang đầu tiên, phục vụ kháng chiến.

Sau được gọi là Nhà máy Kim khí kháng chiến (gọi tắt 3KC) do Võ Quý Huân làm giám đốc kiêm “tổng công trình sư” thiết kế lò cao 3KC1. Cộng sự  lúcđó gồm: đốc công Lê Tiến Văn, tổ trưởng luyện gang Lê Huy Yêm, Nguyễn Thái Đồng – công nghệ luyện cốc, Lê Khánh Cư – phụ trách năng lượng…

Mày mò, thử nghiệm. Chiều 15/11/1948, mẻ gang đầu tiên – từ  quặng sắt Vân Trì, Nghi Lộc, Nghệ An đã được nhiệt luyện, nóng chảy trong lò cao 450 lít (cao 2,4m, nhiệt độ lò: 400 độ C, áp lực gió 400 mm cột nước). Dòng suối gang chảy ra trong sự reo hò của cán bộ, công nhân nhà máy cùng bà con Cầu Đất, Con Cuông, Nghệ An. Bà con dắt ngay con bò mộng tặng, giết thịt ăn mừng những thỏi gang đầu tiên.

Trước niềm vui này, 3 công nhân Hiếu, Huệ, Thư tha thiết đề nghị giám đốc cho dùng các thỏi gang đầu tiên đúc tượng Bác Hồ để cảm ơn Người đã đưa các trí thức yêu nước từ Pháp về, xây dựng lò luyện kim ngay trên quê hương Xô viết Nghệ Tĩnh. Anh em muốn báo cáo với Bác “ngành Đúc-Luyện kim non trẻ sẵn sàng có sản phẩm phục vụ kháng chiến”.

Ba công nhân (chưa 1 ngày được học kỹ thuật đúc) đã mày mò trong 5 ngày và cho ra bức tượng bán thân của Bác. Ai xem cũng khen rất giống. Bức tượng được chuyển về Sở Khóang chất kỹ nghệ Trung bộ rồi đầu 1949 được đem đi triển lãm ở Liên khu IV, sau đó chuyển ra Việt Bắc.

 Những ngày Bác sang Paris 1946. Bác đang bế cháu gái Võ Quý Việt Nga và trò chuyện với các trí thức Việt kiều

Sau đó, lò  cao 3KC2, 3KC3 với dung tích 1m3 lần lượt ra đời. Đồng chí Trần Đăng Ninh đã vào tận nơi kiểm tra. Sau đó Tổng giám đốc Nha Khoáng chất kỹ nghệ  vào và có báo cáo ra Việt Bắc: “Than Khe Bố hết xấu rồi/ Thượng lò lớn, nhỏ đồng thời ra gang/ Kính thưa Thứ trưởng Đỗ Hoàng/ Định ngày vào để sửa sang khánh thành”.

Theo sau đó những trái mìn, những quả lựu đạn, những vũ  khí “made in Vietnam” được chế tạo theo thiết kế của ông Trần Đại Nghĩa và sản xuất đại trà bằng gang của Võ Quý Huân lần lượt ra chiến trường, góp phần vào công cuộc kháng chiến.

Chuyện sau này mới kể  

Không chỉ là người làm ra mẻ gang đầu tiên của ngành Đúc-Luyện kim Việt Nam mà Võ Quý Huân còn là người thầy đào tạo ra những “thợ cả” đầu tiên chuyên ngành Đúc-Luyện kim.

Các học trò từ thời kháng chiến: Hà Học Trạc, Hoàng Bình, Thái Duy Thẩm, Nguyễn Đình Nam, Nguyễn Hựu, Nguyễn Thái Đồng, Phan Cầu… và sau ngày hòa bình 1954: Trần Lum, Lê Ba, Trần Bạch Đằng, Vũ Đình Hoành… đều trở thành những cán bộ chủ chốt trong ngành Đúc- Luyện kim và Bộ Công nghiệp nặng. Sau này, ông được bầu là Phó Chủ tịch đầu tiên của Hội Đúc-Luyện kim.

Công lao của ông với đất nước là rất lớn nhưng không thể không nhắc đến sự hy sinh hạnh phúc cá nhân cho dân tộc. Khi trở về nước, ông phải xa vợ và con gái. Không ngờ, cuộc chia ly ấy kéo dài hàng chục năm.

Không thể quay lại Pháp ngay. Thời gian trôi qua, ông xây dựng gia đình mới. Với tình yêu tha thiết với ngành nghề mà con trai đầu – sinh đúng thời gian cho ra mẻ gang đầu tiên – được đặt tên Võ Quý Gang Anh Hào, sau này là Võ Quý Thép Hăng Hái.

Nhưng cũng chừng ấy năm, ông trăn trở vì còn có 1 gia đình ở lại Pháp. Thậm chí, con gái ông từng “mang hận với người cha thất hứa”. Trước khi nhắm mắt (tháng 9/1967) ông trăng trối hết với tổ chức và gia đình.

Và cũng phải gần 50 năm sau ngày chia ly, con gái Võ Quý Hòa Bình cùng cháu ngoại của ông đã đến Paris, tìm đến nhà chị Võ Quý Việt Nga. Cuộc trùng phùng với đầy nước mắt đã làm chị Việt Nga hiểu hơn về bố Võ Quý Huân đã hi sinh hạnh phúc và sự nghiệp để phụng sự Tổ quốc. Gia đình đoàn tụ, âu cũng làm cho ông dưới suối vàng thanh thản.

Võ Quý Huân, 1 trí thức yêu nước, đã có những đóng góp vô cùng to lớn cho dân tộc. Nhân dân không bao giờ quên ông!

Trần Kiến Quốc
Vkyno (st)

Đặc phái viên ngoại giao của Bác Hồ năm 1945

Sau ngày Cách mạng thành công, Trần Đình Long được Đảng giao nhiệm vụ làm đặc phái viên ngoại giao cho Hồ Chủ tịch.

 – Nhân dịp tháp tùng đại tá Lê Trọng Nghĩa, Ủy viên Ủy ban Khởi nghĩa Hà Nội 19/8/1945, ra Hà Nội dự giao lưu trực tuyến đêm 17/8/2005, trên VTV1 với chủ đề “60 năm: Những thông điệp từ quá khứ”, tôi nhận được những thông tin quý báu về gia đình ông Trần Đình Long (cố vấn của Uỷ ban khởi nghĩa).

d

“Ông cố vấn” Trần Đình Long.

Chiều chủ nhật 21/8/2005, tôi đến thăm chị Phong, con gái lão  cán bộ cách mạng Trần Đình Long, tại quận Bình Thạnh, TP.HCM. Chị cảm động kể: “Ba tôi sinh năm 1904.

Sau khi tốt nghiệp trung học ở Nam Định, ông sang Pháp học và tham gia hoạt động. Tại đây, ông được Đảng CS Pháp giới thiệu sang học tại trường Đại học CS Lao động Phương Đông tại Moscow từ 1928-31. Tốt nghiệp, ông trở lại Pháp rồi về VN. Tàu vừa cập bến, ông bị mật thám Pháp bắt vì tội “vượt biên sang Nga trái phép”.

Sau 4 tháng không có chứng cứ, chúng phải thả. Trần Đình Long tiếp tục hoạt động tại Hà Nội, rồi kết hôn với cô gái Hà Nội tên là Phương. Hai vợ chồng kinh doanh sách báo tiến bộ tại số nhà 26 phố Chợ Đồng Xuân. Thời kì Mặt trận Dân chủ (1936-39), ông hoạt động báo chí công khai của Đảng.

Ông có viết thiên kí sự “Ba năm ở nước Nga Xô viết” giới thiệu về cuộc sống tự do, bình đẳng, hạnh phúc của nhân dân Liên Xô. Tháng 8/1939, khi vào Thanh Hoá phát hành báo chí, ông lại bị bắt vì lí do “đi cổ động nhân dân chống thuế”.

Năm 1940, chính quyền Pháp bắt ông lần thứ ba với tội danh “cộng tác với báo chí cộng sản và cổ động dân chúng chống chính phủ bảo hộ”. Ông bị đày lên Sơn La cùng các ông Nguyễn Lương Bằng, Lê Thanh Nghị, Xuân Thuỷ, Xích Điểu…

Trong thời gian ở tù, ông đã sáng tác nhiều tác phẩm kịch nói, cải lương, tuồng chèo và lập cả “Gánh hát phiêu lưu” của tù chính trị. Tháng 3/1945, Nhật đảo chính Pháp, chi uỷ Đảng CS ngục Sơn La đấu tranh với giám ngục đòi giải phóng. Về đến Hà Nội, ông liên lạc ngay với Xứ uỷ Bắc kỳ và được giao nhiệm vụ “cố vấn” cho Uỷ ban khởi nghĩa Hà Nội.”

Ông Lê Trọng Nghĩa sôi nổi kể lại: “Hầu hết anh em trong Uỷ ban khởi nghĩa đều là học sinh, sinh viên, tuổi đời mới ngoài 20. Riêng anh Trần Tử Bình và anh Trần Đình Long già giặn và từng trải hơn. Anh Long làm cố vấn, còn anh Bình là thường vụ Xứ uỷ phụ trách 10 tỉnh đồng bằng Bắc bộ, nhưng luôn theo sát Uỷ ban khởi nghĩa Hà Nội.

Ngay hôm 16/8, anh Khang cùng tôi và anh Long vào gặp cụ Phạn Kế Toại để thương thuyết nhưng cuộc họp bất thành. Sau ngày Uỷ ban chuyển hẳn vào 101 Gambetta (101 Trần Hưng Đạo), anh Long luôn đưa ra những ý kiến sắc bén để đối phó với các tình huống.

Chiều 19/8, Thường vụ và Uỷ ban quân sự cách mạng giao nhiệm vụ cho tôi và anh Long phải liên lạc và gặp được Toàn quyền Nhật. Trước khi đi, anh Long dặn đi dặn lại: “Khi vào hang cọp, không được nói năng động chạm đến việc phát xít Nhật đã bại trận hay bom nguyên tử đã nổ ở Hiroshima”.

Lúc đã vào bên trong phòng khánh tiết, thấy trên tường có treo lá cờ trắng với hình mặt trời đỏ to tướng; sĩ quan Nhật đứng vòng quanh, gươm súng đầy mình làm 2 anh em lo âu. Được giới thiệu là “đại diện của nhóm dân chúng Hà Nội chiếm Dinh Khâm sai trưa nay”, tôi cố gắng bình tĩnh, nói: “Nghe tin Thiên hoàng đã cho phép các ông rút lực lượng của mình khỏi Đông Dương  trong ít ngày nữa…”.

Vừa nghe đến 2 chữ “Thiên hoàng”, thấy thái độ của cánh sĩ quan thay đổi hẳn. Sau đó, họ “chấp nhận chính quyền mới” của Việt Minh và nhắc dân chúng không được bạo động…

Kỷ niệm này sống mãi trong tôi, làm tôi luôn nhớ đến một Trần Đình Long đầy bản lĩnh, sáng suốt, luôn dựa vào tình hình thực tế để đưa ra những quyết sách đúng đắn trên cương vị của một cố vấn”.

Sau ngày Cách mạng thành công, Trần Đình Long được Đảng giao nhiệm vụ làm đặc phái viên ngoại giao cho Hồ Chủ tịch. Cuối tháng 11/1945, ông đi cùng đại diện Việt Nam Quốc dân Đảng xuống Kiến An giải quyết tranh chấp giữa lực lượng của họ với anh em Vệ quốc đoàn. Trần Đình Long đã giải quyết một cách rất khôn khéo, dựa vào sách lược của Đảng, tránh được xung đột vũ trang. Xong việc, ông trở về Hà Nội vào chiều 24/11/1945.

Chị Phong nhớ lại: “Gia đình tôi khi đó ở 26 phố Chợ Đồng Xuân, ngày đó tôi mới 7 tuổi. Cụ rất yêu thương vợ, con, cứ xong việc là lại về nhà. Khi bố tôi trở về nhà và lên gác được một lúc thì thấy có chiếc xe Jeep chạy tới và dừng lại. Từ trên xe nhảy xuống 5-6 người, mặc binh phục Tàu-Tưởng. Họ vào nhà, dí súng vào bụng mẹ tôi, khi đó đang có mang em tôi, doạ: “Gọi ông Long xuống đây, nếu không sẽ bắn!”. Mẹ tôi phải gọi bố xuống. Rồi chúng bắt cóc ông, đem đi thủ tiêu. Ngay sau đó báo chí kêu gọi Việt Nam Quốc dân Đảng phải trả tự do cho ông, nhưng vô hiệu”.

Theo tư liệu về lớp học ở Quảng Châu do Hồ Chí Minh tổ chức, Trần Đình Long cùng tham dự học tập với các ông Nguyễn Sơn, Lê Thiết Hùng, Phạm Văn Đồng… Còn theo nhà sử học Nga A.Xô-cô-lốp: “Trần Đình Long được xem là ứng cử viên Bộ trưởng Ngoại giao của Chính phủ Hồ Chí Minh 1946”.

Vừa  đúng 100 ngày kể từ 19/8/1945, sống và làm việc cho chính quyền dân chủ, nhân dân, Trần Đình Long đã ra đi. Vậy mà đã 65 năm! Tiếc rằng, cho đến giờ vẫn chưa biết ông được an nghỉ ở đâu?! Âu đó cũng là nghĩa vụ của người đang sống?

Trần Kiến Quốc
Vkyno (st)

Gia đình lớn của Bác Hồ

Mình chẳng phải thần thánh gì, cũng người như tất cả mọi người. Nhưng với hoàn cảnh này, còn điều kiện nào nghĩ đến gia đình.

– Bác chưa bao giờ lập gia đình. Bác có hàng nghìn người con là những trẻ em Việt Nam. Bây giờ Bác nghĩ lại thấy đúng. Thế nhưng, Bác vẫn giữ trong lòng tình yêu với người con gái Bác yêu… Bác đã phải làm như thế là vì cách mạng và Bác không hề hối tiếc…

Ngày 24/5/1948, Nhật ký của Bộ trưởng Lê Văn Hiến ghi lại buổi gặp Bác trước ngày họp Hội đồng Chính phủ: “Trời càng về đêm càng mưa lớn. Chúng mình phải ở lại kéo dài câu chuyện với Cụ trong lúc chờ đợi hết mưa. Cụ ân cần thăm hỏi gia đình của mọi người.

Đến lúc chúng mình vui câu chuyện nhắc đến gia đình Cụ, Cụ phì cười và nói: “Mình chẳng phải thần thánh gì, cũng người như tất cả mọi người. Nhưng với hoàn cảnh này, còn điều kiện nào nghĩ đến gia đình. Ý kiến các chú thế nào?”.

Bác Hồ với các cháu thiếu nhi tại Phủ chủ  tịchBác Hồ với các cháu thiếu nhi tại Phủ chủ tịch

Chúng mình cũng chỉ phì cười mà nói: “Thật là khó”, không thể có ý kiến gì khác. Cụ cười và nói tiếp: “Gia đình nhỏ không thể được thì ta cứ lo gia đình lớn đi vậy”.

Nói về gia đình riêng, trước đó, vào tháng 1/1947, trong bức điện chia buồn với Bác sĩ Vũ Đình Tụng, Bác Hồ tâm sự: “Thưa Ngài, tôi được báo cáo rằng: con giai của Ngài đã oanh liệt hy sinh cho Tổ quốc. Ngài biết rằng, tôi không có gia đình, cũng không có con cái. Nước Việt Nam là gia đình của tôi. Tất cả thanh niên Việt Nam là con cháu của tôi. Mất một thanh niên thì hình như tôi đứt một đoạn ruột vậy…”

Ngày 26/4/1960, nhận được bức thư của một nữ công dân Liên Xô, chị Ekaterina Iosipdovna chúc mừng ngày Quốc tế phụ nữ 8/3  gửi tới “vợ đồng chí Hồ Chí Minh”, Bác đã thân mật viết thư cảm ơn trong đó có đoạn: “Tôi chưa có gia đình riêng. Gia đình của tôi là đại gia đình các dân tộc Việt Nam”.

Năm 2007,  Đoàn làm phim của Hội Điện ảnh Việt Nam gặp Bà Madelein Riffaud, một nhà báo được Bác Hồ quý mến, gặp lần đầu tại Pháp (1946), sau đó bà sang Việt Nam nhiều lần trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ. Trong trả lời phỏng vấn bà đã kể lại câu chuyện Bác tâm sự với bà khi an ủi việc bà phải chấp nhận từ bỏ ý định hôn nhân với nhà văn Nguyễn Đình Thi.

Bà kể lại: “Bác gọi tôi đến và nói với tôi: Cháu không phải là người duy nhất hy sinh tình yêu của mình cho cách mạng… Khi Bác ở Pháp thì cháu còn chưa ra đời. Cháu yêu quý, cháu có biết không, Bác cũng yêu và có những tình cảm như cháu bây giờ. Bác là con người như những người khác thôi. Bác đã hy sinh tình yêu của mình cho cách mạng Việt Nam cũng như cháu hy sinh tình yêu của cháu bây giờ.

Cháu thấy đấy, Bác chưa bao giờ lập gia đình. Bác có hàng nghìn người con là những trẻ em Việt Nam. Bây giờ Bác nghĩ lại thấy đúng. Thế nhưng, Bác vẫn giữ trong lòng tình yêu với người con gái Bác yêu… Bác đã phải làm như thế là vì cách mạng và Bác không hề hối tiếc…” (Bản dịch theo phim của Hội Điện ảnh VN)

X&N
Vkyno (st)

Chuyện về một ông cụ người Hoa giống Bác Hồ

Có mấy tấm ảnh Bác Hồ ngày ở Chiến khu Việt Bắc. Hỏi ra thì được giải thích “đó không phải là Bác mà là ông cụ rất giống Bác”.

– Ông cụ tên là Lam Sơn, người Quảng Tây (Trung Quốc). Quê cụ nằm ngay sát biên giới Trung – Việt. Gia đình cụ là cơ sở cách mạng của cả ta và Đảng Cộng sản Trung Quốc. Theo lời mời của ông Trần Đăng Ninh, cụ đã sang hoạt động tại chiến khu Việt Bắc.

Xuất xứ câu chuyện lạ

Mô tả ảnh.Mô tả ảnh.

Cụ Lam Sơn chụp cùng các cán bộ ở chiến khu Việt Bắc.

Những năm 1960-70, bạn tôi – anh Hồ Bá Đạt – sống trong Khu tập thể quân đội số 16A Lý Nam Đế, Hà Nội. Trong hàng chục gia đình cán bộ trung, cao cấp ngày đó có gia đình một sĩ quan người Hoa. Đó là ông bà Bích Liên và Hoàng Hoa.

Nhà Đạt ở tầng trên, gia đình sĩ quan người Hoa ở ngay tầng dưới. Chẳng rõ họ về ở trong khu từ khi nào, nhưng khi gia đình Đạt tới thì đã thấy. Họ quan hệ thân thiết với bà con xóm giềng. Bọn trẻ con gọi ông bà là “cô Liên, chú Hoa”. Tới tháng 6/1975, gia đình họ chuyển về Trung Quốc, sống tại thành phố Quảng Châu.

Năm 2006, nhân dịp sang Trung Quốc, bạn tôi ghé thăm gia đình ông bà. Ông bà vẫn vui vẻ như xưa mặc dù đã nghỉ hưu và sức khỏe đã kém đi. Trong khi trò chuyện được ông bà cho xem cuốn album gia đình. Thú vị là có nhiều ảnh chụp chung với các lãnh đạo ta trong và ngoài quân đội thời chống Pháp và chống Mỹ.

Lúc này mới biết, ông Hoàng Hoa tham gia cách mạng ở Việt Nam từ năm 1948, trên Chiến khu Việt Bắc. Đến năm 1950 thì nhập ngũ. Trước khi trở về nước, ông mang quân hàm đại úy và là Phó chủ nhiệm Hậu cần Sư đoàn 338. Còn bà Bích Liên vào bộ đội năm 1951, mang hàm thiếu úy, phụ trách thư viện.

Thời kì chống Mỹ, ông Hoàng Hoa từng tham gia phiên dịch trong những buổi đàm phán giữa các vị lãnh đạo Việt Nam và Trung Quốc về viện trợ vũ khí, trao đổi tin tức tình báo… Khi về nước, ông bà tiếp tục giảng dạy tiếng Việt tại trường Đại học Ngoại ngữ, ngoại thương Quảng Châu.

Trong số ảnh được xem, bạn tôi thấy có mấy tấm ảnh Bác Hồ ngày ở Chiến khu Việt Bắc. Hỏi ra thì được giải thích “đó không phải là Bác mà là ông cụ rất giống Bác”. Chợt nghĩ đây là câu chuyện thú vị có liên quan đến Bác Hồ không phải ai cũng biết; thậm chí chưa thấy báo chí hoặc ai nói tới; bạn tôi đề nghị ông bà cho xin bản sao.

Về ông cụ giống Bác

Ông cụ tên là Lam Sơn, người Quảng Tây (Trung Quốc). Quê cụ nằm ngay sát biên giới Trung – Việt. Gia đình cụ là cơ sở cách mạng của cả ta và Đảng Cộng sản Trung Quốc.

Trong một chuyến công tác sang Quảng Tây, ông Trần Đăng Ninh tình cờ gặp ông cụ. Thấy cụ chân chất, hiền lành; hỏi tổ chức thì biết nhân thân của cụ rất tốt, lại thấy cụ có nhiều nét giống Bác Hồ, ông nảy ra ý định mời cụ sang sinh sống ở Việt Nam.

Cụ đồng ý và đề nghị “nếu có thể xin phép được đưa gia đình sang sống cùng”. Nguyện vọng này được chấp nhận và cụ theo ông Trần Đăng Ninh sang Việt Nam ngay chuyến ấy.

Biết ở Chiến khu Việt Bắc có cụ Lam Sơn từ Quảng Tây sang, ông Hoàng Hoa (lúc đó là tổ trưởng tổ phiên dịch gồm các đồng chí người Trung Quốc) có lời mời cụ đến chơi. Tình đồng hương, tình cảm của những người xa quê chiến đấu trên đất bạn làm họ thêm thân thiết. Tổ phiên dịch đã chụp chung với cụ vài kiểu ảnh; trong đó ông Hoàng Hoa còn giữ được 2 tấm nhỏ chỉ bằng 2 đầu ngón tay.

– Thời gian đó là năm 1952, – ông Hoa nhớ lại – ngày đó cụ đã ngoài 50 nhưng rất nhanh nhẹn… Chúng tôi trẻ măng, mới ngoài 20. Trong tấm hình thứ nhất, tôi là người đứng thứ 2 từ trái qua ; còn trong tấm thứ 2, tôi là người thứ 2 từ phải qua.

– Thế chú có biết lí do ông Trần Đăng Ninh mời cụ sang Việt Nam? – Đạt hỏi.

– Nói về việc này phải thận trọng, dù sự việc đã qua cả nửa thế kỷ. Anh về tìm hiểu thêm!

Sau này tin tức về ông cụ như thế nào thì ông Hoàng Hoa cũng không rõ. Nếu cụ còn sống thì nay đã trên trăm tuổi.

Trần Kiến Quốc
kienthuc.net.vn

Tình cảm của nhân dân miền Nam đối với Bác Hồ kính yêu

“Bác Hồ là vị cha chung
Là sao Bắc Đẩu là vầng Thái Dương”

Vâng! Bác Hồ của chúng ta yêu thương dân bằng tấm lòng của người cha, yêu đất nước bao la như lòng mẹ. Sinh thời Bác Hồ đã từng tâm sự: “Mình sinh ra ở xứ Nghệ An, ra đi tìm đường cứu nước từ bến cảng Nhà Rồng. Qua Pháp, qua Anh, qua Mỹ, các nước châu Phi, đến Liên Xô rồi về Trung Quốc, thế mà đến nay mới vào đến Đồng Hới, chưa được vào tới miền Nam. Đáp lại tình cảm thiêng liêng của Bác, mỗi chiến sỹ trước khi ra trận đều khắc sâu hình bóng của Bác nơi trái tim mình. Nhiều chiến sĩ nói: Mỗi lần nhận nhiệm vụ hay trước một trận đánh lớn, nhớ tới Bác Hồ là chúng tôi lại thấy như được tiếp thêm sức mạnh. Khi đấu tranh với kẻ thù, người chiến sỹ có trái tim, trái tim mang hình Bác thiêng liêng rực rỡ.

Bác Hồ với các cháu thiếu niên dũng sĩ miền Nam (1969).

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nghĩ đến đồng bào miền Nam. Người nói: “Một ngày mà Tổ quốc chưa thống nhất, đồng bào còn chịu khổ là một ngày tôi ăn không ngon, ngủ không yên”. Người luôn mong muốn được vào thăm nhân dân miền Nam. Và khi phải nằm trên giường bệnh, Người vẫn thường hỏi “Hôm nay miền Nam thắng đâu?”.

Mặc dù cho đến lúc đi xa, Bác Hồ chưa kịp vào thăm đồng bào miền Nam, nhưng tình cảm của Bác dành cho đồng bào miền Nam còn mãi như câu nói của Người: “Miền Nam trong trái tim tôi”…

Vào năm 1954, gia đình bà Lê Thị Sảnh (thường gọi là mẹ Tư) ngụ tại Cà Mau- đại diện nhân dân miền Nam gửi tặng Bác Hồ” cây vú sữa, Bác đã xúc động đến ngấn lệ khi biết đây là cây vú sữa của đồng bào vùng tận cùng của Tổ quốc. Cũng từ đó, cây vú sữa đã trở thành biểu tượng tấm lòng Bác Hồ đối với miền Nam và của miền Nam đối với Bác…và hình ảnh hàng ngày Bác tưới cây vú sữa do chính những người con miền Nam gởi tặng đã làm xúc động hàng triệu trái tim đồng bào miền Nam. Cây vú sữa bên nhà sàn, vẫn xanh tươi, minh chứng cho tấm lòng thủy chung của nhân dân miền Nam đối với Bác Hồ kính yêu…

Được tin Bác qua đời, cả nước vô cùng tiếc thương. Dân Cà Mau ai ai cũng treo ảnh Bác Hồ ở nơi trang trọng nhất trong nhà. Có người còn lập bàn thờ ngay tại gia đình để tưởng nhớ Bác. Nhiều gia đình đã ba đời thờ cúng Bác, như gia đình ông Nguyễn Văn Tân ở ấp Phủ Thờ, xã Trí Lực…Bà con nơi đây luôn tâm niệm, đó niềm vinh dự lớn lao của họ khi được thờ một vị lãnh tụ thiên tài của dân tộc. Vào các ngày lễ, ngày Tết, ngày sinh, ngày mất của Bác, bà con đều nấu mâm cơm, hoa, quả làm giỗ Bác theo tục thờ cúng tổ tiên. Bà Lê Thị Thanh Hải – nguyên PGĐ Bảo tàng HCM– Chi nhánh TPHCM, người đã từng nghiên cứu chuyên đề “ Bác Hồ với Miền Nam- Miền Nam với Bác Hồ”, kể lại:

Chưa từng được gặp Bác, chỉ nghe về Bác qua báo, đài, nhưng những người con của xã Lương Tâm, huyện Long Mỹ luôn dành cho Bác sự yêu quý và lòng tôn kính sâu sắc nhất. Sau khi hay tin Bác qua đời, những người con vùng đất Lương Tâm đã họa chân dung của Bác và lập Đền thờ Người. Trải qua bao năm tháng khó khăn và chiến tranh khốc liệt, nhưng Đền thờ Bác vẫn tồn tại, vững chãi. Khi mới lập, ngôi đền chỉ là cây lá tạm bợ. Với tấm lòng của mình đối với vị Cha già kính yêu, người dân Lương Tâm đã không ngừng góp sức tôn tạo, mở rộng khu đền. Bên cạnh đó, được sự đầu tư của chính quyền địa phương, đến nay, Đền thờ Bác Hồ đã được tôn tạo, hoàn chỉnh để người dân đến viếng Bác. Không chỉ vậy, nhiều hộ dân ở xã Lương Tâm còn rước ảnh Bác về nhà thờ. Tại ấp 3, xã Lương Tâm, nhà nào cũng thờ ảnh Bác rất trang nghiêm. Họ xem thờ Bác chính là thờ ông bà mình, thờ Bác để nhắc nhở, giáo dục các thành viên trong gia đình về truyền thống cách mạng của dân tộc ta và thờ Bác để học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Bác.

Ông Trần Thanh Triều, Phó Chủ tịch UBND xã Lương Tâm cho biết: “Tấm lòng của người dân nơi đây dành cho Bác là vô cùng lớn lao, ai cũng xem Bác như người cha của mình. Họ chưa từng được gặp Bác, nhưng lại rất yêu quý và tôn kính Bác, luôn có ý thức gìn giữ Đền thờ Bác và anh cho biết kế hoạch tổ chức lễ Giỗ của Bác:

Đã từ nhiều năm nay, cứ đúng vào dịp kỷ niệm Quốc khánh 2-9, nhân dân tỉnh Trà Vinh và đông đảo du khách từ mọi miền Tổ quốc lại về tham dự lễ tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Đền thờ Bác Hồ ở xã Long Đức, Thành phố Trà Vinh. Khi nghe tin Bác mất, người dân Long Đức đã bàng hoàng và nguyện chung một lòng xây dựng đền thờ Bác Hồ ngay trên mảnh đất quê hương của mình để ngày đêm hương khói cho Người. Trong suốt những năm tháng chiến tranh, mặc dù rất tức tối nhưng kẻ địch vẫn phải bất lực và khiếp sợ trước sự tồn tại của ngôi đền ra đời từ ý nguyện và lòng dân. Còn các chiến sĩ ta, trước mỗi trận đánh đều đến Đền dâng hương, hạ quyết tâm xung trận “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh” trước bàn thờ Tổ quốc và bàn thờ Bác. Hoà bình lập lại, Đền thờ đã trở thành “địa chỉ đỏ” giáo dục truyền thống cách mạng và tinh thần học tập tấm gương đạo đức Chủ tịch Hồ Chí Minh của tỉnh…Trung bình mỗi năm, Đền Thờ Bác Hồ tiếp đón khoảng 100 đoàn đại biểu, với trên 50 ngàn lượt người trong và ngoài tỉnh đến tham quan, thắp hương viếng Bác. Nhất là vào 2 dịp lễ chính, đó là sinh nhật Bác 19/5 và Quốc Khánh 2/9 thì các đoàn khách và người dân đến đền thờ rất đông. Do đó, công tác tổ chức quản lý đền thờ cũng có sự chuẩn bị chu đáo về mọi mặt để sẵn sàng phục vụ tốt cho ngày lễ. Tại đền, lễ giỗ, tưởng niệm Bác Hồ được chính quyền và nhân dân địa phương tổ chức long trọng hằng năm vào đúng dịp 2/9 để báo công lên Bác. Chị Trần Thị Tươi, người dân xã Long Đức bày tỏ tình cảm của mình:

“Bác nhớ miền Nam, nỗi nhớ nhà
Miền Nam mong Bác, nỗi mong Cha…”

Câu thơ ấy đã hàm chứa tình cảm sâu sắc của Bác đối với miền Nam và của đồng bào miền Nam đối với Bác Hồ kính yêu. Là con cháu Bác Hồ, mỗi người chúng ta nguyện ra sức học tập và làm theo tư tưởng của Người, xem đó là kim chỉ nam trên con đường phát triển của dân tộc, của đất nước trong thời đại mới. Học tập và làm theo tấm gương đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh là một việc làm lâu dài và phải xuất phát từ tư tưởng, nhận thức, tình cảm thiêng liêng đối với Bác. Có như vậy, chúng ta mới thấy hết được giá trị to lớn mà Người đã để lại cho con cháu đời sau, để từ đó noi theo gương Bác, học tập và hoàn thiện bản thân, đóng góp công sức của mình cho sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước./.

Thành Sang
Vknyo (st)

Ai chữa bệnh cho Bác Hồ ở Tân Trào?

Ngoài cụ lang người Tày còn có một y tá giải phóng quân được Đại tướng Võ Nguyên Giáp dẫn đến tiêm thuốc chữa bệnh cho Bác những ngày Người bị sốt nặng tại Tân Trào trước Tổng khởi nghĩa. Đó là ông Nguyễn Việt Cường, ở làng Khau Chủ, xã Đông Viên, Chợ Đồn, Bắc Kạn.

06-Ai-chua benh-20909-180.jpg

Những ngày trước Tổng khởi nghĩa giành chính quyền, tại lán Nà Lừa, Tân Trào, nơi đặt cơ quan đầu não của Mặt trận Việt Minh, Bác Hồ đã có những quyết định hệ trọng liên quan tới vận mệnh của dân tộc. Nhưng vào những ngày khẩn trương công việc bộn bề ấy, Người bị sốt nặng, có lúc rất nguy kịch tưởng chừng không qua khỏi.Đồng chí Võ Nguyên Giáp thời kỳ này luôn ở bên Bác, lo lắng tìm thầy thuốc chữa bệnh cho Người. Trong hồi ký của mình, Đại tướng ghi lại: “Ông cụ lang già người Tày xem mạch, sờ trán Bác rồi đốt cháy một thứ củ vừa đào trong rừng về, hòa vào cháo loãng. Sau đó Bác tỉnh. Hôm sau, Bác ăn thêm vài lần với cháo loãng nữa, cơn sốt nhẹ dần….” Ngoài việc đưa cụ lang người Tày còn có y tá giải phóng quân được Đại tướng dẫn đến tiêm thuốc chữa bệnh cho Bác. Đó là ông Nguyễn Việt Cường, tên thật là Nguyễn Đức Kính, sinh năm 1925, ở làng Khau Chủ, xã Đông Viên, huyện Chợ Đồn, Bắc Kạn.

Ông Cường nhớ lại, năm 1943 ông vào học tại trường Y tá Thực hành Bắc Kỳ ở Hải Dương. Khi Nhật đảo chính Pháp (9.3.1945) trường đóng cửa ông về quê. Cũng trong thời gian đó Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân từ Cao Bằng về đến quê hương ông. Ông được vị đại diện Việt Minh là đồng chí Khang (tức Đại tướng Hoàng Văn Thái) vận động vào tổ chức Việt Minh. Trước ngày gia nhập giải phóng quân, ông được người quen tại Nhà thương tỉnh và Sở cẩm cho một ít thuốc sốt rét, thuốc cảm, thuốc kháng sinh, một ít bông băng, hai ống bơm tiêm và một chiếc máy chữ mang đi kháng chiến. Ông được học tại Trường Quân chính kháng Nhật, và sau đó được cử về Ban chỉ đạo Khu giải phóng làm thư ký đánh máy kiêm y tá và được tổ chức phân công ở cùng nhà với đồng chí Văn (tức Đại tướng Võ Nguyên Giáp) và đồng chí Lý (tức Hoàng Hữu Kháng) và một đồng chí nữa ở nhà cụ Hoàng Trung Dân.

Vào một buổi trưa, lúc đó khoảng 12h30 đồng chí Văn bảo: đồng chí Việt Cường đi theo tôi, mang theo túi thuốc vào thăm người ốm. Ông được dẫn lên một chiếc lán, lên đến nơi thấy một Cụ mặc bộ quần áo chàm nằm thoi thóp thở ở trạng thái hôn mê. Ông sờ tay lên trán Cụ bắt mạch và thấy mạch của Cụ đập loạn, ông quyết định báo cáo được tiêm thuốc cho Cụ, đồng chí Văn đồng ý. Ông chuẩn bị dụng cụ tiêm thuốc, lấy 1 ống ether, 2 ống dầu long não tiêm cho Cụ (vì ông biết rằng khi tiêm hai thứ thuốc này cho người bị cảm sốt, thuốc sẽ làm cho người bệnh bị nóng lên, kích thích bộ máy tuần hoàn làm việc). Ông tiêm vào đùi cho Cụ, khi rút kim ra thấy Cụ bị mất cảm giác. Một lúc sau đã thấy mùi dầu long não tỏa ra theo hơi thở của Cụ, sau 2 phút thấy Cụ động đậy chân tay, 10 phút sau thấy Cụ bắt đầu tựa mình, ông sờ vào người thấy bắt đầu ấm lên. Sau đó Cụ lại thiếp đi và nói mê bằng tiếng Anh và tiếng Trung…

Sau đó, ông Việt Cường xin phép đồng chí Văn cho xuống làng, lúc đó khoảng 3h chiều. Đến 5h chiều, đồng chí Văn xuống, ông chưa kịp hỏi thăm tình hình sức khỏe của Cụ thì đồng chí bảo sáng mai ông lên tiêm cho Cụ. Tâm trạng của ông lúc đó nửa mừng nửa lo. Mừng vì ông tiêm cho Cụ và Cụ đã đỡ phần nào. Lo là vì nội quy y tế của Pháp quy định y tá không có quyền chữa bệnh khi chưa có chỉ định của bác sỹ. Khi trấn tĩnh lại ông cũng yên tâm vì bệnh của Cụ có chiều hướng tốt lên, vả lại trước khi tiêm ông đã được sự đồng ý của đồng chí Văn.

Sáng hôm sau ông lên lán ngay, đến nơi đã thấy Cụ ngồi trước máy chữ đánh máy. Ông chào Cụ. Cụ nhìn ông một lượt rồi hỏi:

– Hôm qua chú tiêm thuốc gì cho tôi? Tiêm vào đâu?

Ông báo cáo với Cụ là đã tiêm những thứ thuốc đó và tiêm vào đùi bên trái. Cụ bảo:

– Tiêm vào đùi bên trái sao lại đau sang bên phải, đau cả bả vai và trên đầu.

Ông đoán chắc là Cụ thấy ông còn trẻ quá nên Cụ hỏi thử mình xem có biết thuốc men gì không mà tiêm cho Cụ, và ông báo cáo là cả hai thứ thuốc đó đều dễ tan nên không thể gây đau chỗ khác được, Cụ đau là do sốt rét. Nghe xong Cụ bảo: “Ừ, thế thì tiêm đi”.

Ông xuống nhóm lửa luộc ống tiêm, khi đang nhóm lửa, Cụ xuống ngồi bên cạnh hai tay hơ vào bếp lửa. Cụ hỏi:

– Chú là con nhà ai mà biết tiêm thuốc.

Ông báo cáo với Cụ về gia đình và bản thân, quá trình học y tá, nghe xong Cụ bảo:

– Các chú là thanh niên phải học nhiều vì làm cách mạng thì gian khổ lắm.

Sau đó, ông tiếp tục tiêm cho Cụ bằng thuốc ký ninh, với liều lượng  2 ống bằng 1 gam ký ninh. Sáng hôm sau, ông lại tiếp tục lên tiêm gặp Cụ, Cụ bảo:

– Thôi tôi khỏi ốm rồi, chú không phải tiêm nữa.

Ông xuống làng nhưng lòng vô cùng áy náy (vì nguyên tắc khi tiêm thuốc sốt rét thì phải tiêm đủ 3 mũi mới cắt sốt). Rất may khi xuống gặp đồng chí Văn, ông báo cáo lại sự việc, đồng chí im lặng một lúc rồi bảo ông cùng lên lán. Lên đến nơi vào gặp Cụ, đồng chí Văn nói:

– Thưa Bác, tình hình bây giờ rất khẩn trương thế này mà tổ chức lại không có thuốc chữa trị cho Bác, đề nghị Bác cho chú thanh niên này tiêm cắt sốt để Bác làm việc. Sau này đoàn thể tiếp tục chữa chạy cho Bác.

Nghe đồng chí Văn báo cáo xong, Cụ đồng ý cho ông tiêm, thế là ông tiêm cho Cụ mũi cuối cùng. Sáng hôm sau, ông lên lán đem theo 8 viên ký ninh được gói cẩn thận đưa và dặn Cụ mỗi ngày uống đủ hai viên cho khỏi hẳn…

Tháng 5.2003, ông Việt Cường viết những dòng tâm huyết gửi Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Ông nhắc lại những việc đã được Đại tướng giao và những điều ông được nghe khi trở lại Tân Trào. Nhận được thư của ông Việt Cường, ngày 10.10.2003, Đại tướng đã viết vào mặt sau tờ giấy ông Việt Cường gửi cho Đại tướng. Chữ ký và bút tích của Đại tướng Võ Nguyên Giáp là sự hồi tưởng bổ sung sự kiện chữa bệnh cho Bác Hồ tại lán Nà Lừa năm 1945.

Hoa Đình Nghĩa
daibieunhandan.vn