Thư viện

“Viết về Bác là ước mơ, hạnh phúc của người cầm bút”

Thượng Luyến (tên thật là Nguyễn Đình Luyến, ở thị trấn Gia Bình, huyện Gia Bình) là tác giả của 4 vở kịch ngắn đã phát trong chuyên đề “Chuyện kể về Người” trên sóng VTV1 vào lúc 21 giờ 15 phút các ngày thứ 7 đầu tiên mỗi tháng năm 2010 và là “cha đẻ” của một số kịch bản cùng đề tài đang trong thời kỳ hoàn thiện bản thảo. Thượng Luyến tâm sự “Viết về Bác là ước mơ, hạnh phúc của người cầm bút”.

Viet ve bacTác giả Thượng Luyến.

Tác giả Thượng Luyến đã gần bước đến tuổi “thất thập”. Đam mê sân khấu từ khi còn rất trẻ song phải đến khi trải qua hai khóa đào tạo tại trường Nghệ thuật Sân khấu Việt Nam (nay là Trường Đại học Sân khấu Điện ảnh) và Đại học Văn hóa Hà Nội, ông mới thực sự có nền tảng và “duyên phận” với loại hình nghệ thuật này. Ở lĩnh vực, bình diện xã hội nào, Thượng Luyến cũng khai phá và có những thành công nhất định. Trong số ít các tác giả Bắc Ninh viết về Bác Hồ, Thượng Luyến đã khẳng định một tình yêu son sắc và hiện thực hóa việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh bằng chính ngòi bút của mình. Đó là đẩy mạnh tuyên truyền về tấm gương của Chủ tịch Hồ Chí Minh, giúp người xem hiểu được những bài học mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc về “Cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư” ẩn chứa trong từng lời nói và cử chỉ dù rất nhỏ của Người.

Viết ca ngợi Bác Hồ vốn không dễ bởi Người là nhân vật kiệt xuất, một hình tượng đẹp, Người vừa gần gũi, lại vừa cao xa. Thế nên Thượng Luyến luôn cảm thấy mình là người may mắn có được niềm vui qua những tác phẩm kịch ngắn về vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc với chuyên đề “Chuyện kể về Người” phát trên sóng VTV1.

Kể từ kịch ngắn đầu tiên “Tình Bác sáng lòng dân Đình Bảng”, phát sóng VTV1 tháng 8 năm 2010, đến nay, tác giả Thượng Luyến đã có thêm 6 sáng tác nữa cùng thể loại, trong đó có 3 tác phẩm khác đã lên sóng truyền hình là “Vọng vang bên khúc sông Cầu”, “Đón Bác ngày xuân” và “Mái trường ấm tình Bác”. Về khó khăn khi viết những kịch bản này, ông chia sẻ: Đối tượng và đặc trưng phản ánh của kịch là những mâu thuẫn xung đột trong đời sống xã hội và con người. Xung đột kịch tạo nên kịch tính, gây nên sự hấp dẫn của vở kịch. Nhưng với một vở về nhân vật vĩ đại như Bác Hồ thì xây dựng xung đột nào cho hợp lý thực sự là một thách thức. Thêm vào đó, để viết về Bác cần rất nhiều tư liệu, do vậy tôi phải nghiên cứu rất kỹ những cuốn sách, câu chuyện nói về Bác để có “tứ” cho vở kịch của mình.

Tìm được cốt truyện cho tác phẩm của mình đã khó, điều khó khăn hơn là làm thế nào để chuyển tải được tư tưởng, đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh đến với khán giả một cách nhẹ nhàng mà không máy móc, gượng ép bởi mục tiêu của chuyên đề “Chuyện kể về Người” là giúp cho khán giả thẩm thấu ý nghĩ nhân văn sâu sắc và những phẩm chất tốt đẹp của một huyền thoại trong lịch sử cách mạng Việt Nam. Bằng sự sáng tạo của người viết, Thượng Luyến đã bồi đắp thêm các tình huống, tình tiết xung quanh một sự kiện lịch sử và tư duy sâu để có được kết cấu hợp lý cho tác phẩm của mình. Ví như sự kiện Bác Hồ về Đình Bảng, hay chi tiết lịch sử Bác thăm đê sông Cầu, quãng đê Việt Thống (Quế Võ) làm cốt lõi, Thượng Luyến đã hư cấu thêm tình huống mâu thuẫn và tìm cách giải quyết hợp tình hợp lý mâu thuẫn đó, đồng thời làm sáng rõ sự dung dị trong nhân cách của Chủ tịch Hồ Chí Minh qua những câu chuyện nhỏ giữa Bác với các nhân vật. Ca ngợi sự quan tâm của Người với các tầng lớp nhân dân, trong kịch ngắn “Mái trường ấm tình Bác” nói về sự kiện Bác thăm trường Trung cấp Thể dục thể thao Trung ương (nay là Đại học Thể dục thể thao Từ Sơn), tác giả tạo không khí thân mật khi Bác ân cần hỏi thăm mọi người, từ chị bếp trưởng đến anh công nhân đang xây dựng tại công trình của nhà trường… Thông thường để có mỗi vở kịch ngắn ra mắt công chúng, tác giả chỉ cần một tuần để hoàn thiện nhưng thời gian tiếp cận tư liệu để có cốt truyện thì có thể là 1, 2 hoặc 4, 5 tháng.

Những vở kịch ngắn nói trên đều nằm trong hệ thống những tác phẩm tuyên truyền về học tập tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Nhưng nếu chỉ viết về những chuyến đi thăm của Người rồi cũng có thể sẽ cạn đề tài, dẫn đến sự nhàm chán cho cả người viết và người xem. Vì thế, thời gian gần đây, Thượng Luyến chuyển hướng, ông bắt đầu chú trọng vào nội dung “làm theo”, trong đó hình thức thể hiện những tác phẩm này sẽ có những thay đổi nhất định. Hình tượng Bác Hồ có thể xuất hiện hoặc không xuất hiện mà vẫn thể hiện được sự tác động trong nhận thức và hành động của chính quyền, và nhân dân các địa phương khi một lòng theo Đảng, theo Bác.

Khi được hỏi, ông có dự định gì trong thời gian tiếp theo, tác giả của nhiều vở kịch về Bác Hồ mở lòng: Tôi dự định xuất bản tập sách, trong đó tập hợp 9 kịch bản kịch nói viết về Bác Hồ. Trong số 9 vở kịch ngắn này, đã có 4 phát sóng, 3 còn ở dạng bản thảo và tôi sẽ tiếp tục tư duy để sáng tác thêm 2 vở nữa, tất cả sẽ làm tỏa sáng nhân cách vĩ đại của Người. Cũng theo tác giả, tập sách sẽ chia làm 2 phần: Tình Bác ấm lòng dân, Tâm thành dâng kính Bác. Chúng tôi tin rằng tác giả sẽ thực hiện được dự định của mình, bởi ông vẫn đang nỗ lực không ngừng.

Theo Báo Bắc Ninh
Tâm Trang
(st)
bqllang.gov.vn

Chuyện người chữa bệnh cho Bác Hồ trước ngày Tổng khởi nghĩa

Những ngày trước Tổng khởi nghĩa giành chính quyền, tại lán Nà Lừa – Tân Trào, nơi đặt cơ quan đầu não của mặt trận Việt Minh. Tại đây, trong chiếc lán đơn sơ của núi rừng Việt Bắc, Bác đã có những quyết định hệ trọng liên quan đến vận mệnh của dân tộc. Nhưng trong những ngày khẩn trương của công việc bề bộn ấy, Người bị sốt nặng…

Đồng chí Võ Nguyên Giáp thời kỳ này luôn ở bên Bác, lo lắng tìm thầy thuốc chữa bệnh cho Người. Trong hồi ký của mình, Đại tướng ghi lại: “Ông cụ lang già người Tày xem mạch, sờ trán Bác rồi đốt cháy một thứ củ vừa đào trong rừng về, hoà vào cháo loãng. Sau đó Bác tỉnh. Hôm sau, Bác ăn thêm vài lần với cháo loãng nữa, cơn sốt nhẹ dần…”. Ngoài cụ lang người Tày, Đại tướng còn dẫn một y tá đến tiêm thuốc chữa bệnh cho Bác. Đó là ông Nguyễn Việt Cường (tên thật là Nguyễn Đức Kính, sinh năm 1925, ở làng Khau Chủ, xã Đông Viên, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn).

Năm 1943, ông Cường vào học tại Trường Y tá Thực hành Bắc Kỳ ở Hải Dương. Khi Nhật đảo chính Pháp (9/3/1945), Trường đóng cửa, ông về quê. Cũng trong thời gian đó, Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân từ Cao Bằng về đến quê hương ông. Ông được vị đại diện Việt Minh là đồng chí Khang (tức Đại tướng Hoàng Văn Thái ) vận động vào tổ chức Việt Minh.

Trước ngày gia nhập giải phóng quân, ông được người quen tại Nhà thương tỉnh và Sở Cẩm cho một ít thuốc sốt rét, thuốc cảm, thuốc kháng sinh, một ít bông băng, hai ống bơm tiêm và một chiếc máy chữ mang đi kháng chiến. Ông được học tại Trường Quân chính kháng Nhật, và sau đó được cử về Ban Chỉ đạo Khu giải phóng làm thư ký đánh máy kiêm y tá và được tổ chức phân công ở cùng nhà với đồng chí Văn (tức Võ Nguyên Giáp), đồng chí Lý (tức Hoàng Hữu Kháng) và một đồng chí nữa ở nhà cụ Hoàng Trung Dân.

Nhắc đến câu chuyện chữa bệnh cho Bác Hồ ở Tân Trào trước ngày Tổng khởi nghĩa, ông Việt Cường bồi hồi xúc động: “Vào một buổi trưa, lúc đó khoảng 12h30 phút, đồng chí Văn bảo tôi: “Đồng chí Việt Cường đi cùng tôi mang theo túi thuốc vào thăm người ốm”. Tôi được đồng chí dẫn lên một chiếc lán, lên đến nơi tôi thấy Bác mặc bộ quần áo chàm nằm bất tỉnh thoi thóp thở ở trạng thái hôn mê.

Tôi nhận thấy sự lo lắng trên nét mặt của đồng chí Văn. Tôi sờ tay lên trán Bác bắt mạch và thấy mạch của Bác đập loạn. Thấy vậy, tôi quyết định báo cáo với đồng chí Văn cho được tiêm thuốc cho Bác. Đồng chí Văn đồng ý. Tôi chuẩn bị dụng cụ tiêm thuốc, lấy 1 ống ether, 2 ống dầu long não tiêm cho Bác (vì tôi biết rằng khi tiêm hai thứ thuốc này cho người bị cảm sốt, thuốc sẽ làm cho người bệnh bị nóng lên, kích thích bộ máy tuần hoàn làm việc ).

Tôi tiêm vào đùi cho Bác. Khi rút kim ra, tôi thấy Bác bị mất cảm giác. Một lúc sau đã thấy mùi dầu long não tỏa ra theo hơi thở của Người. Sau 2 phút, Bác động đậy chân tay, 10 phút sau, thấy Bác bắt đầu cựa mình, người bắt đầu ấm lên. Sau đó Bác lại thiếp đi. Rồi Bác mở mắt, khi trông thấy đồng chí Văn, Bác dặn việc đồng chí Văn. Đồng chí Văn trả lời đại ý là đã biết việc đó và mong Bác cứ yên tâm nghỉ ngơi dưỡng bệnh.

Sau đó, tôi xin phép đồng chí Văn cho xuống làng, lúc đó khoảng 3 giờ chiều. Đến 5 giờ chiều, đồng chí Văn xuống, tôi chưa kịp hỏi thăm tình hình sức khỏe của Bác thì đồng chí bảo sáng mai tôi lên tiêm cho Người.

Tâm trạng của tôi lúc đó nửa mừng nửa lo. Mừng vì Bác đã đỡ được phần nào, lo là vì nội quy y tế quy định y tá không có quyền chữa bệnh khi chưa có chỉ định của bác sĩ. Khi trấn tĩnh lại, tôi cũng yên tâm vì bệnh của Bác có chiều hướng tốt lên, vả lại trước khi tiêm tôi đã được sự đồng ý của đồng chí Văn rồi.

Sáng hôm sau tôi lên lán ngay, đến nơi đã thấy Bác đang đánh máy chữ. Tôi chào Người và báo cáo là đồng chí Văn bảo “cháu lên tiêm cho Bác”. Bác nhìn tôi một lượt rồi hỏi: “Hôm qua chú tiêm thuốc gì cho tôi? Tiêm vào đâu?”

Tôi báo cáo với Bác là đã tiêm những thứ thuốc đó và tiêm vào đùi bên trái. Người bảo: “Tiêm vào đùi bên trái sao lại đau sang bên phải, đau cả bả vai và trên đầu?” Tôi đoán chắc là Bác thấy tôi còn trẻ quá nên Bác hỏi thử mình xem có biết thuốc men gì không mà tiêm cho Bác, và tôi báo cáo với Bác là cả hai thứ thuốc đó đều dễ tan nên không thể gây đau chỗ khác được, Bác đau là do sốt rét. Nghe xong Bác bảo: “Ừ, thế thì tiêm đi”.

Tôi xuống nhóm lửa luộc ống tiêm, Bác xuống ngồi bên cạnh hai tay hơ vào bếp lửa. Bác hỏi: “Chú là con nhà ai mà biết tiêm thuốc?” Tôi báo cáo với Bác về gia đình và bản thân, quá trình học y tá. Nghe xong Bác bảo: “Các chú là thanh niên phải học nhiều vì làm cách mạng thì gian khổ lắm.”

Sau đó, tôi tiếp tục tiêm cho Bác bằng thuốc ký ninh, với liều lượng 2 ống bằng 1 gam ký ninh. Sáng hôm sau, tôi lại tiếp tục lên tiêm cho Bác, Bác bảo: “Thôi tôi khỏi ốm rồi, chú không phải tiêm nữa.”

Tôi xuống làng nhưng lòng vô cùng áy náy (vì nguyên tắc khi tiêm thuốc sốt rét thì phải tiêm đủ 3 mũi thì mới cắt sốt). Rất may, khi đi xuống thì tôi gặp đồng chí Văn. Tôi báo cáo lại sự việc, đồng chí im lặng một lúc rồi bảo tôi cùng lên lán. Lên đến nơi vào gặp Bác,  đồng chí Văn nói:
“Thưa Bác, tình hình bây giờ rất khẩn trương thế này mà tổ chức lại không có thuốc chữa trị cho Bác, đề nghị Bác cho chú thanh niên này tiêm cắt sốt để Bác làm việc. Sau này đoàn thể tiếp tục chữa chạy cho Bác”.

Nghe đồng chí Văn báo cáo xong, Bác đồng ý cho tôi tiêm mũi cuối cùng. Sáng hôm sau, tôi lên lán đem theo 8 viên ký ninh được gói cẩn thận, đưa và dặn Bác mỗi ngày uống đủ hai viên cho khỏi hẳn”…

Tháng 5 năm 2003, ông Việt Cường viết những dòng tâm huyết gửi Đại tướng. Ông nhắc lại những việc đã được Đại tướng giao và những điều ông được nghe khi trở lại Tân Trào. Nhận được thư của ông Việt Cường, ngày 10/10/2003, Đại tướng đã viết vào mặt sau tờ giấy ông Việt Cường gửi cho Đại tướng với những dòng chữ: “Tôi xác nhận trong thời gian Bác ốm ở lán Nà Lừa năm 1945, đồng chí Việt Cường, y tá giải phóng quân đã tiêm thuốc cho Bác…”.

Chữ ký và bút tích của Đại tướng Võ Nguyên Giáp là sự hồi tưởng bổ sung thêm sự kiện chữa bệnh cho Bác Hồ tại lán Nà Lừa năm 1945.

Thùy Dương – Nghĩa Hoa A
Theo baomoi.com.vn
Kim Yến (st)
bqllang.gov.vn

Cảm nhận từ một chuyến thăm không gian Hồ Chí Minh tại nước Pháp

DoancongtactaiPhap1Trong những ngày tháng Tư lịch sử, Đoàn cán bộ của Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có chuyến đi khảo sát và thăm một số địa danh lịch sử tại Pháp gắn liền với tên tuổi, sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong thời gian Người hoạt động cách mạng tại đây vào đầu thế kỷ XX.

Ngược dòng thời gian trở lại, vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, đất nước ta đắm chìm trong đêm trường nô lệ. Trước tình cảnh ấy, nhân dân ta đã phát huy truyền thống yêu nước từ bao đời để lại, đấu tranh chống lại ách thống trị của thực dân Pháp và bè lũ tay sai giành độc lập, tự do cho nhân dân nhưng đều thất bại. Nhiều nhà yêu nước đã ra đi tìm đường cứu nước nhưng vẫn không tìm ra con đường mang lại hiệu quả đích thực. Trước thực tế ấy, người thanh niên Nguyễn Tất Thành, người con xứ Nghệ, mới 21 tuổi đã quyết định ra đi tìm đường cứu nước. Ngày 5/6/1911, trên con tàu Latútsơ Tơrevin, từ Bến cảng Sài Gòn, Nguyễn Tất Thành rời Tổ quốc thân yêu ra đi tìm đường cứu nước.

Hành trình bôn ba khắp năm châu bốn biển để tìm ra con đường cứu dân, cứu nước của chàng thanh niên Nguyễn Tất Thành là hành trình lao động đầy vất vả với bao công việc khó khăn, nặng nhọc để kiếm sống, học tập, thâm nhập vào phong trào công nhân và tầng lớp lao động các nước. Từ tàu buôn Pháp, qua tàu buôn Mỹ, cạo tuyết thuê cho một trường học rồi phục vụ trong một khách sạn ở Anh. Năm 1917, Nguyễn Tất Thành trở lại Pháp. Bắt đầu từ đây, anh có nhiều cuộc tiếp xúc với các nhà văn hoá, trí thức, tham gia các cuộc sinh hoạt chính trị sôi nổi. Dấu ấn của những hoạt động chính trị đó là sự kiện Nguyễn Ái Quốc tham gia Đại hội lần thứ XVIII Đảng Xã hội Pháp tại thành phố Tua với tư cách là đại biểu chính thức và duy nhất của các nước thuộc địa Đông Dương. Tại Đại hội này, cùng những người cách mạng chân chính của nước Pháp, Nguyễn Ái Quốc đã bỏ phiếu tán thành tham gia quốc tế III – Quốc tế Cộng sản, trở thành một trong những người sáng lập Đảng Cộng sản Pháp và Người cũng trở thành người cộng sản Việt Nam đầu tiên. Việc Người tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp năm 1920 đã đánh dấu một bước chuyển biến quyết định, bước nhảy vọt, thay đổi về chất trong nhận thức tư tưởng và lập trường chính trị của Người: Từ chủ nghĩa yêu nước đến chủ nghĩa Lênin.

Doan cong tac tai Phap 3Toàn cảnh Bảo tàng Sống Montreuil

Những hoạt động trên đất Pháp của Người còn in đậm dấu ấn bởi sự hiện hữu của các di tích lịch sử, trong đó phải kể đến căn phòng trong ngôi nhà số 9 ngõ Công-poanh, quận 17- Pa-ri. Nơi đây, Người đã sống và hoạt động lâu nhất, từ ngày 14/7/1921 đến ngày14/3/1923. Căn phòng nằm trên tầng 3 của ngôi nhà cũ kỹ trong ngõ cụt thuộc một khu phố nghèo ở Pa-ri, không điện thắp sáng, rộng 9m2, chỉ vừa đủ kê chiếc giường cá nhân, một bàn nhỏ và một chiếc ghế. Qua nhiều năm tháng, căn phòng nhỏ vẫn được giữ nguyên vẹn như một kỷ niệm, một dấu ấn không thể phai mờ. Cuối năm 1986, thành phố Pa-ri có kế hoạch phá bỏ những toà nhà cũ kỹ để xây dựng lại, trong đó có ngôi nhà số 9 ngõ Công-poanh. Lúc đó, Đảng Cộng sản Pháp đã cùng Đại sứ quán Việt Nam tại Pháp bàn cách giữ gìn di tích quan trọng này. Cuối cùng, căn phòng lưu niệm được quyết định sẽ được phục chế tại Bảo tàng Lịch sử Sống Montreuil với những chi tiết nguyên bản (hiện vật gốc) tháo dỡ từ căn phòng trong ngôi nhà số 9 Công-poanh. Việc phục dựng căn phòng được tiến hành khẩn trương đồng thời với việc cải tạo Bảo tàng, đến tháng 9 năm 1988 thì hoàn thành.

Đoàn chúng tôi đặt chân đến Bảo tàng Lịch sử Sống Montreuil khi mùa xuân còn đang đọng lại trên các tán cây, ngọn cỏ nơi đây. Nắng vàng trải dài trên những thảm cỏ xanh mượt, tiếng chim hót trong các lùm cây hai ven đường líu lo. Công viên Montreau – Daniel Renoult nằm tại xã (commune) Montreuil, ngoại ô phía đông Pa-ri. Từ cổng công viên vào là một đoạn đường thẳng tắp, hai bên đưòng trồng nhiều loại hoa đua nhau khoe sắc, phía bên trong là một khu đất rộng trồng nhiều hoa dưới những tán cây cổ thụ. Bảo tàng Lịch sử Sống với 3 tầng màu trắng, mái ngói đỏ tươi nằm thấp thoáng bên những tán cây cao vút. Các cán bộ Bảo tàng niềm nở đón chúng tôi và rất vui khi biết đoàn từ Việt Nam tới. Nữ hướng dẫn viên nhiệt tình đưa chúng tôi tham quan một vòng quanh Bảo tàng vì biết chúng tôi là những cán bộ của Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh và giới thiệu về Bảo tàng – nơi lưu giữ hình ảnh 100 nhân vật có dấu ấn trong lịch sử nhân loại – mà Chủ tịch Hồ Chí Minh là một trong số 100 nhân vật được giới thiệu ở đây. Một không gian riêng của Bảo tàng được dành cho trưng bày căn phòng tại số 9, ngõ Công-poanh, nơi gắn liền với Chủ tịch Hồ Chí Minh khi Người hoạt động cách mạng ở Pháp từ năm 1921-1923 được phục dựng với tỷ lệ 1/1. Đứng trong căn phòng của Bảo tàng, mỗi thành viên trong đoàn chúng tôi ai cũng xúc động, bởi chính từ ngôi nhà trọ số 9 ngõ Công-poanh này đã nuôi dưỡng một tâm hồn, một ý chí mãnh liệt của người thanh niên Nguyễn Ái Quốc với con đường cứu dân, cứu nước, để dân tộc có độc lập, tự do như ngày hôm nay.

Chúng tôi đã tới thăm Tượng Bác Hồ được đặt ngay trong công viên Montreau, bên cạnh Bảo tàng Lịch sử Sống Montreuil. Từ xa chúng tôi đã nhận ra bức tượng Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt trang trọng, nổi bật giữa không gian yên bình của công viên. Phía trước là khoảng sân nhỏ lát đá để tiến hành các nghi thức nghi lễ, phía sau là hai cây hoa tím biếc và hai cây tùng cổ thụ đổ bóng mát quanh năm, xung quanh là những bông hoa màu sắc sặc sỡ và thảm cỏ mượt như nhung. Dưới tượng Chủ tịch Hồ Chí Minh là tấm biển đồng ghi dòng chữ:

«Président HỒ CHÍ MINH 1890 – 1969 Héros de la libération nationale et eminent homme de culture du Vietnam

(Résolution de LUNESCO 1987) »

Tạm dịch: «Chủ tịch HỒ CHÍ MINH 1890 – 1969 Anh hùng giải phóng dân tộc và danh nhân văn hoá của Việt Nam

(Nghị quyết của UNESCO năm 1987)»

Người hướng dẫn viên cho biết, lễ đặt tượng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được tổ chức trọng thể vào hồi 14 giờ 30 ngày 19 tháng 5 năm 2005, nhân dịp kỷ niệm lần thứ 115 năm Ngày sinh của Người.

Chia tay các cán bộ của Bảo tàng với lời hẹn gặp lại, đoàn chúng tôi tiếp tục cuộc hành trình tìm tới nơi mà Bác Hồ đã từng ở năm xưa: Nhà số 9, ngõ Công-poanh.

Qua vài bến tàu điện ngầm, chúng tôi đến phố Guy Môquet. Ngõ Công- poanh nằm trên phố Guy Môquet là một ngõ nhỏ, ngắn, hai bên là hai dãy chung cư. Con phố khá vắng vẻ, chúng tôi không cần hỏi thăm đã nhận ra nhà số 9 nằm ở phía bên trái, gần cuối ngõ, nay được chia ra thành số 9 và số 9 bis. Bên ngoài số 9 bis, có tấm biển với nội dung như sau:

“ICI, DE 1921 A 1923 A VECU ET MILITE POUR LINDEPENDANCE ET LA LIBERTE DU PEUPLE VIETNAMIEN ET DES AUTRES PEUPLES OPPRIMES NGUYỄN ÁI QUỐC CONNU SOUS LE NOM DE HỒ CHÍ MINH

JANVIER 1983”

Tạm dịch: «Tại đây, từ năm 1921 đến 1923, Nguyễn Ái Quốc được biết đến dưới tên gọi Hồ Chí Minh đã sống và chiến đấu cho độc lập và tự do của nhân dân Việt Nam và các dân tộc bị áp bức khác

Tháng 1 năm 1983

Doan cong tac tai Phap 2Bên tấm biển đồng tại nhà số 9 ngõ Công-poanh (Bà Christiane Suzet đứng giữa)

Đây chính là tấm biển của ngôi nhà cũ, do Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Pháp phối hợp với Đại sứ quán Việt Nam và Hội Việt kiều tại Pháp gắn biển lưu niệm vào ngày 15 tháng 01 năm 1983 để ghi nhớ và giữ gìn những kỷ niệm sâu sắc về Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh tại đây.

Đứng ngay dưới chân của căn gác xép năm xưa, nơi Bác Hồ của chúng ta đã từng sống và hoạt động cách mạng, chúng tôi ai cũng xúc động. Vậy là từ gác xép nhỏ nơi phố nghèo này, Bác của chúng ta đã tự thân, tự lập nơi xứ người, hoà vào cuộc sống của những người cùng khổ để tìm ra con đường cứu dân, cứu nước. Để rồi hơn hai mươi năm sau (năm 1945) tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Nhân loại tiến bộ đều biết đến Người – một chiến sỹ cách mạng lỗi lạc của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. Có một kỷ niệm nho nhỏ đối với chúng tôi đó là khi cả đoàn đang loay hoay tìm cách chụp ảnh chung nhưng chưa biết nhờ ai, vì con phố về trưa quá vắng vẻ, thì được ông bà Christiane Sauzet ở căn hộ phía kế bên đã nhiệt tình chụp ảnh giúp. Bà Christiane Sauzet cho biết, bà đã ở khu phố này từ khi mới xây dựng lại và năm nào cũng chứng kiến các đoàn khách Việt Nam đến thăm địa danh này và bà rất ấn tượng với cụm từ: Việt Nam – Hồ Chí Minh. Bà cho biết hai ông bà sẽ sang Việt Nam và đến viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh vào một dịp thích hợp.

Rời ngõ nhỏ Công-poanh khi nắng chiều đang nhạt dần, chúng tôi có chung một cảm xúc khi nhớ về một thời hoạt động cách mạng sôi nổi của Bác Hồ nơi xứ người, với bao khó khăn vất vả nhưng vẫn kiên định về một con đường: Cứu dân, cứu nước. Những khó khăn trong hành trình tìm đường cứu nước gian khổ là vậy nhưng không làm nhụt ý chí mà càng hun đúc nhiệt huyết cách mạng của người thanh niên trẻ tuổi Nguyễn Ái Quốc. Điều đó càng làm chúng tôi, những cán bộ, nhân viên đang ngày đêm thực hiện nhiệm vụ bên Lăng Bác như tiếp thêm sức mạnh và quyết tâm để hoàn thành nhiệm vụ chính trị đặc biệt mà Đảng, Nhà nước, Quân đội và nhân dân đã tin cậy giao phó: Giữ gìn lâu dài, bảo vệ tuyệt đối an toàn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh và phát huy ý nghĩa chinh trị, văn hóa của Công trình Lăng trong giai đoạn mới./.

Duy Hưng
bqllang.gov.vn

 

 

 

Bệnh binh 23 năm chăm Cây đa Bác Hồ

Bước từng bước khó nhọc bằng đôi chân tật nguyền, trong suốt 23 năm qua, ngày nào cũng vậy, dù là nắng cháy, mưa phùn hay gió rét,… người bệnh binh già ấy vẫn cố gắng làm tròn bổn phận của mình – chăm sóc Cây đa cuối cùng Bác trồng.

Một nạn nhân của chiến tranh

Ông tên là Trần Hữu Hào, 64 tuổi, ngụ tại xóm 1, thôn Yên Bồ, xã Vật Lại, Ba Vì, Hà Nội. Năm 1968, ông tham gia kháng chiến chống Mỹ và được điều vào chiến trường Thừa Thiên Huế đảm nhiệm công tác hậu cần.

Vào mùa mưa, lương thực khan hiếm, trong những chuyến đi xuyên qua các khu rừng trụi lá sang nước bạn Lào xin trợ cấp lương thực cứu đói cho bộ đội, ông đã bị nhiễm chất độc đi-ô-xin lúc nào không hay.

Những tưởng mình là một trong những người may mắn sống sót sau cuộc chiến, nhưng ông không thể ngờ rằng, đó là sự khởi đầu cho những chuỗi ngày mà cơ thể mình và người thân bị thứ chất độc quái ác mang tên da cam hành hạ.

Sau ngày giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà, năm 1975, ông Hào được xuất ngũ. Về quê, ông kết hôn với bà Phan Thị Lý – người cùng quê. Bốn đứa con của ông là Trần Thị Anh, Trần Trung Kiên, Trần Văn Giá, Trần Quang Hiển lần lượt trào đời.

Nhưng buồn thay, khi vừa sinh ra, người chị cả Trần Thị Anh đã mang trên mình cánh tay trái bị liệt. Vợ chồng ông hết lòng chạy chữa cho con, nhưng không thể thay đổi được điều gì.

Năm Trần Thị Anh lên 8, cơ thể ông Hào xuất hiện những cơn đau nhức ở các khớp xương. Trong đó, nặng nhất là khớp đầu gối. Những cơn đau mỗi ngày một nhiều và nặng hơn, ông phải đến Bệnh viện Bạch Mai khám bệnh. Các bác sỹ cho biết, ông đã bị nhiễm chất độc đi-ô-xin và điều này sẽ ảnh hưởng đến cơ quan thần kinh toàn thân.

Sau đó, Bộ Lao động Thương Binh và Xã hội đã chứng nhận ông là bệnh binh mất sức 81%. Giờ đây, ông Hào phải bước đi khó nhọc.

Sự tích cây đa Bác Hồ

Ông Hào cho biết: ngày 16/2/1969 (tức ngày mồng 1 Tết Kỷ Dậu), UBND xã Vật Lại tiến hành trồng cây bạch đàn phủ xanh đồi Đồng Váng. Sáng hôm ấy, sau khi thăm bộ đội Quân chủng Phòng không – Không quân ở Bạch Mai, Bác phải lên Vĩnh Phú công tác. Biết được nhân dân xã Vật Lại đang triển khai tết trồng cây, Bác đã đến thăm, chúc tết đồng bào và không quên trồng một cây đa lưu niệm.

Sau này, nhân dân xã Vật Lại vẫn thường gọi cây đa ấy với cái tên vô cùng ý nghĩa: Cây đa Bác Hồ.

thuong binh - cay da BH 1Ông Trần Hữu Hào

Trồng cây xong, Bác căn dặn mọi người phải cố gắng trồng cây nhiều hơn nữa, tốt hơn nữa, vì trồng cây có nhiều điều lợi, lợi trước mắt và lợi lâu dài. Trồng cây rồi phải chăm sóc, bảo vệ cho tốt. Trồng cây nào phải sống cây đó.

Tại đây, nhiều vị lãnh đạo cấp cao của Đảng và Nhà nước cũng đến thăm và trồng cây lưu niệm cạnh Cây đa Bác trồng như đồng chí Trường Trinh (năm 1980); đồng chí Phạm Văn Đồng, Nguyễn Hữu Thọ (năm 1983) và đồng chí Nguyễn Văn Linh (năm 1990)…

Năm 2004, đồi Đồng Váng vinh đự được Bộ Văn hóa và Thông tin cấp giấy chứng nhận làDi tích lịch sử quốc gia.

“Tôi làm vì tôi thấy hạnh phúc”

Ông Hào kể lại: năm 1988, ông được Ủy ban nhân dân xã Vật Lại giao việc trông giữ toàn bộ khu đồi này với diện tích khoảng 10 ha trong thời hạn 50 năm. Mặt khác, ông Hào được phép cắt tỉa những cành cây phát triển thừa và cây bụi làm củi. Ngày ấy, cây đa Bác trồng vẫn còn nhỏ, cao khoảng 3,5 – 4 mét, đường kính gốc là 25cm.

Dẫn tôi tham quan khu đồi, ông Hào chỉ tay vào hàng trăm gốc cây thông, tràm cao khoảng trên dưới chục mét (thấp hơn những cây xung quanh) và khoe: “Nó là của tôi đấy. Hai mươi năm trước, tôi đã mạnh dạn lên Hạt Kiểm lâm huyện xin những giống cây này về trồng. Bao nhiêu công sức của gia đình  đổ vào đây trong mấy chục năm mới được như thế này đấy chú ạ”.

Mỗi khi trái gió trở trời, những khớp xương của ông lại phải chịu đựng những cơn đau dữ dội. Đau như có ai đó đang cầm búa đập vậy. Thế nhưng, bằng tình yêu thiên nhiên, yêu rừng và yêu Cây đa Bác trồng, nằm trên giường nhưng ông cứ ngay ngáy một nỗi lo, không biết Cây đa của Bác sao rồi? Liệu có ai đó vào chặt trộm cây cối không? Vì thế, ông lại dồn hết sức bình sinh của mình để ngồi dậy và đi bộ ra đồi trông nom.

Ông Hào là người chứng kiến sự lớn lên từng ngày của Cây đa. Ông cũng chính là người chăm sóc cho Cây đa bằng tấm lòng chân thành nhất. Từ việc tưới nước, bón phân đến việc cắt tỉa cành lá, uốn nắn từng chiếc rễ đâm từ thân xuống đất…

Bây giờ, thân Cây đa đã to bằng sải tay của hơn 2 người trưởng thành cộng lại, tỏa bóng mát lan tỏa một vùng rộng xung quanh.

thuong binh - cay da BH 2Khó nhọc bằng đôi chân tật nguyền, trong suốt 23 năm qua, ngày nào cũng vậy, dù là nắng cháy, mưa phùn hay gió rét,… người bệnh binh già ấy vẫn cố gắng làm tròn bổn phận của mình – chăm sóc Cây đa cuối cùng Bác trồng.

Ông tâm sự: “Nếu vì mục đích vụ lợi từ công việc này thì tôi sẽ không bao giờ làm. Tôi làm vì tôi cảm thấy hạnh phúc. Ít ra, một nạn nhân nhiễm chất độc da cam như tôi vẫn có thể làm những việc có ích cho môi trường sống của con người”.

Trước đây, vì không có tường ngăn bảo vệ nên có nhiều trẻ em, thanh niên vào rừng chặt củi, hái quả dại ăn rồi nghịch ngợm leo trèo, phá phách cây cối. Thậm chí, bọn nghiện hút cũng lân la đến để tiêm chích rồi dùng mũi kim tiêm khắc hình bậy bạ lên thân. May mà ông Hào cùng các con phát hiện và kịp thời ngăn cản những hành vi xấu đó.

Năm 2009, nhà nước đầu tư 2,9 tỉ đồng xây dựng hệ thống tường rào xung quanh khu đồi với chiều dài 1650 mét và làm đường nhựa từ cổng đồi vào Cây đa Bác Hồ. Từ đó, công việc bảo vệ khu đồi được thuận tiện hơn, nhưng không lúc nào ông Hào và các con lơ là nhiệm vụ trông giữ đồi.

Nhìn toàn bộ khu rừng 10 ha rợp bóng cây xanh không một gốc cây bị chặt phá, Cây đa Bác trồng ngày càng vươn những cành lá sum suê lên bầu trời cao rộng… tôi mới hiểu ra rằng, khi con người ta cái tâm chân thành, hết lòng vì công việc thì tật nguyền cũng biến thành sức mạnh.

Theo Phùng Minh Phúc/ tin247.com
Kim Yến
(st)

Cô học trò nhỏ yêu Bác Hồ

Tại cuộc thi “Tìm hiểu tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” do Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam chủ trì tổ chức, trong 20 tác giả đoạt giải và có nhiều đóng góp tích cực nhất, có cô học trò nhỏ tuổi Nguyễn Hoài Thương (ảnh), học sinh Trường THCS Bồng Sơn, Hoài Nhơn.

Hoài Thương năm nay học lớp 7, làm lớp phó học tập, học giỏi đều các môn, đặc biệt là yêu thích môn Văn và viết văn rất nhanh. Những bài làm văn của Thương luôn được thầy cô lấy làm văn mẫu cho lớp, hầu hết những bài văn đều đạt điểm 9, 10. Thỉnh thoảng Thương làm thơ và viết những mẩu chuyện ngắn, truyện ngắn gởi dự thi trên các báo Tiền Phong, Mực Tím… Thương đang viết dở cuốn tự truyện dự kiến dài khoảng 100 trang nói về những kỷ niệm tuổi thơ của chính mình. Liên tục đạt học sinh giỏi từ lớp 1 đến lớp 6, Thương còn đạt học sinh giỏi cấp tỉnh năm lớp 5 và giải ba môn Anh văn cấp huyện (lớp 6).

Từ nhỏ, Thương đã đọc nhiều những mẩu chuyện, những bài học công dân về tấm gương Bác Hồ. Khi cơ quan mẹ phát động cuộc thi “Tìm hiểu tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, mẹ đem cuốn sách tư liệu về Bác, tranh thủ mượn đọc và Thương đã khóc trước câu chuyện Bác nhường bát cháo trứng cho cụ già khi các đồng chí bồi dưỡng lúc Bác ốm.

Lúc còn học lớp 1, là học sinh xuất sắc nên Thương được hội trại trường tiểu học chọn đi rước ảnh Bác. Ý thức về sự kính yêu một vị lãnh tụ “có nụ cười rất hiền” (cảm nghĩ của Thương) quan tâm nhiều đến thiếu nhi bắt đầu hình thành trong một tâm hồn non trẻ. Thương thuộc rất nhiều bài hát, bài thơ về Bác, những câu chuyện về Bác được em kể lại bằng tình cảm kính yêu làm người nghe cũng phải xúc động…

Một lần xem ti vi, thấy phát động cuộc thi, Thương vào phòng học viết một mạch và hôm sau gởi bài dự thi. Khi hỏi về động cơ nào tham gia chương trình thi dành cho người lớn, Thương cho biết: “Cháu muốn học tập theo tấm gương của Bác qua những câu chuyện cháu đã đọc được như: tinh thần yêu nước, lòng ham học hỏi, cần cù và sự giản dị…”.

Thương đến với cuộc thi không phải tình cờ mà bằng cả tình yêu, sự kính trọng đối với Bác Hồ. Thương tâm sự: “Cuộc thi đối với cháu mới chỉ là mở đầu cho cuộc hành trình tìm hiểu, học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”.

Ước mơ lớn nhất của Thương là được một lần ra Hà Nội thăm Lăng Bác, được đứng trước Bác nguyện lòng mình cố gắng học giỏi để không phụ mong mỏi của Người.

  • Ngọc Oanh

baobinhdinh.com.vn

Người sống mãi trong tim thế hệ trẻ Việt Nam

“Đây là tượng Bác Hồ này”, “Đây là đồng hồ của Bác Hồ này”, trong Bảo tàng Hồ Chí Minh, các em nhỏ ríu rít chỉ cho nhau xem những hiện vật lưu trữ về Bác.

Theo thống kê từ Bảo tàng Hồ Chí Minh, hàng ngày có đến hàng nghìn lượt khách vào thăm bảo tàng, nơi trưng bày những hiện vật tái hiện sự nghiệp vĩ đại của Bác. Trong số đó, thanh, thiếu niên nhi đồng chiếm đến hơn 1/3 số khách.

Từ những em bé…

Bước chân vào Bảo tàng Hồ Chí Minh, không khó để tìm gặp cảnh tượng những em bé nhỏ chỉ vào hình Bác, giọng nói líu lo kể về Người. Các em vừa xem vừa bi bô nói chuyện, những câu nói tuy còn ngây ngô nhưng ẩn chứa trong đó là lòng kính yêu Bác. Chị Dương Thị Hoài Linh, Phó Trưởng phòng Giáo dục, Bảo tàng Hồ Chí Minh cho biết: “Khách nước ngoài khi thăm bảo tàng tỏ ra rất thích thú trước những em bé hồn nhiên này. Họ cho rằng, chính việc đưa các mầm non tương lai của đất nước tiếp xúc sớm với những giá trị lịch sử sẽ góp phần giáo dục tư tưởng, đạo đức của các em sau này”.

nguoi song mai 1Các em nhỏ say mê xem các hiện vật về Bác trong Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Mặc dù nhiều em còn nhỏ, chưa nhận thức sâu sắc về Bác cũng như cuộc đời hoạt động và công lao to lớn của Người nhưng khi đến bảo tàng, các em tỏ ra rất hứng thú. Em nào khi được hỏi cũng trả lời rất hồn nhiên: “Cháu rất yêu Bác Hồ”; “Bác Hồ đẹp nhất”…

Chị Phí Thị Huệ (Xuân Đỉnh, Hà Nội) dẫn con gái nhỏ là Đào Bích Vân (4 tuổi) đến thăm Bảo tàng Hồ Chí Minh tâm sự: “Tôi đã nhiều lần cho con đến Bảo tàng để tham quan các hiện vật, những thước phim tư liệu về Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tôi muốn con mình ngay từ nhỏ đã được giáo dục về truyền thống lịch sử, cũng như những công lao vĩ đại của Bác đối với dân tộc Việt Nam”.

Bẽn lẽn nấp sau lưng mẹ, khi được hỏi, có thể tả lại hình dáng Bác Hồ không, Bích Vân không ngần ngại trả lời: “Bác Hồ là một ông già có chòm râu dài, mắt rất sáng và rất tốt bụng. Cháu rất yêu Bác Hồ”. Câu trả lời ngộ nghĩnh của cô bé 4 tuổi khiến nhiều người đứng xung quanh bật cười. Nhưng ai cũng hiểu rằng, đằng sau câu trả lời còn vụng dại ấy, tâm hồn của những em bé nhỏ đang được “tắm mát” bằng hình ảnh sáng ngời của Bác.

…đến những thanh, thiếu niên

Hình ảnh cô gái trẻ đứng lặng người, mắt đỏ hoe khi xem những thước phim lịch sử chiếu về Bác trên màn hình máy chiếu đặt trong bảo tàng khiến tôi không khỏi tò mò. Lại gần hỏi chuyện, tôi biết cô gái trẻ ấy là Hoàng Thị Dung, đang là sinh viên năm thứ nhất, Khoa Xã hội học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (Đại học Quốc gia Hà Nội). Hỏi chuyện Dung mới thấy, trong trái tim cô gái trẻ này, hình ảnh về Bác đẹp đẽ đến nhường nào. Dung tâm sự: “Đây là lần đầu tiên em đến thăm Bảo tàng Hồ Chí Minh. Khi xem lại những thước phim tư liệu chiếu về Bác, em thật sự rất cảm động. Cả cuộc đời của Người đã hi sinh cho nền độc lập, tự do của dân tộc. Ngay từ nhỏ, khi được bố mẹ kể cho nghe nhiều chuyện về Bác Hồ, em rất khâm phục ý chí cách mạng cũng như con người, đạo đức sáng ngời của Người. Trong tủ sách của em, có rất nhiều cuốn sách nói về Bác Hồ”.

nguoi song mai 2Bác Hồ sống mãi trong trái tim thế hệ trẻ Việt Nam. Ảnh minh họa: Internet.

Những suy nghĩ của Dung cũng là suy nghĩ của rất nhiều thanh, thiếu niên Việt Nam. Họ có thể không nhớ được nhiều sự kiện lịch sử quan trọng của đất nước, nhưng ngày sinh của Người, những công lao vĩ đại của Người thì không ai có thể quên được. Em Lê Văn Hiệp (15 tuổi, Hải Phòng) thật thà chia sẻ: “Em là dân chuyên Toán nên học lịch sử không được tốt lắm. Nhưng riêng cuộc đời, sự nghiệp của Bác Hồ thì em đều nhớ rất rõ”.

Chị Dương Thị Hoài Linh, Phó Trưởng phòng giáo dục, Bảo tàng Hồ Chí Minh cho biết: “Hàng năm, bảo tàng đón rất nhiều đoàn khách là các em học sinh, sinh viên từ các trường tiểu học và đại học đến thăm. Các em đều tỏ ra rất hứng thú với việc tìm hiểu về cuộc đời, sự nghiệp của vị Cha già dân tộc”.

Bác đã ra đi nhưng hình tượng về Người, cuộc đời và sự nghiệp của Người thì vẫn sống mãi theo năm tháng trong lớp lớp nhân dân Việt Nam. “Bác chúng em dáng cao cao người thanh thanh. Bác chúng em mắt như sao, râu hơi dài. Bác chúng em nước da nâu vì sương gió. Bác chúng em thề kiên quyết trả thù nhà”, tiếng hát thánh thót của các em nhỏ vang lên trường tồn trong trái tim thế hệ trẻ Việt Nam.

Theo Thu Thủy/www.qdnd.vn
Kim Yến
(st)
bqllang.gov.vn

Gian khổ phải luyện rèn, sung sướng không cần ai dạy

Bà Đặng Quỳnh Anh, năm 1911, bấy giờ chưa đầy 20 tuổi, đã theo các anh “Hội kín” vượt Trường Sơn, sang Xiêm, nuôi chí nguyện theo cha chú, những Đặng Thúc Hứa, Đặng Nguyên Cẩn… làm cách mạng. Tại Xiêm, với tên gọi là mụ Nho, bà Nho, Đặng Quỳnh Anh chăm lo cày cấy, lao động. Lập gia đình với Võ Tùng – sau này là đại biểu dự Đại hội thống nhất Đảng – bà vẫn vượt mọi khó khăn nuôi chồng, nuôi con, lấy làm nơi đi lại, ăn ở cho các chiến sĩ về nước, từ trong nước ra.

Năm 1928 – 1929, ông Thầu Chín (Bác Hồ) đã ở nhà bà Anh một thời gian. Khi cùng ông Võ Tùng đi công tác, lúc bà đang có mang, Bác rất suy nghĩ. Bà biết tấm lòng của Thầu Chín, nên đã động viên chồng, nói để Thầu Chín yên tâm đi công tác cách mạng.

Năm 1936, với tên mà cảnh sát Xiêm lập hồ sơ là Đặng Thị Nho quê Nghệ Tĩnh, chồng là Võ Tùng quê Đức Phổ, Quảng Ngãi, đã bị bắt giam đưa về Đông Dương, bà Quỳnh Anh bị giam giữ tại nhà lao Khôn Kèn cùng với hai con nhỏ.

Ra tù, sau khi nước Việt Nam được độc lập, xa chồng, bà trở lại Xiêm hăng hái hoạt động trong phong trào Việt kiều rồi lại bị tù đày, đánh đập. Năm 1949, bà Quỳnh Anh được về nước. Năm 1954, được gặp lại hai đứa con mà năm 1939, đã được ông Nguyễn Văn Luyện quê Anh Sơn, Nghệ An đưa từ Xiêm về nuôi dạy. Bây giờ cô gái lớn là Dung mới 13 tuổi, cậu con trai là Đông mới 11 tuổi. Bác Hồ lại giao cho bà việc chăm sóc các cháu nhi đồng miền Nam…

Vào một ngày cuối năm 1979, một số cán bộ Bảo tàng Quân đội đến thăm bà tại nhà riêng ở khu tập thể Tương Mai.

Bà vừa qua một cơn đau nặng. Các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước đã cử bác sĩ đến chăm sóc – mặc dù chị Dung, con gái bà là bác sĩ – tặng bà thuốc bổ, sâm, nhung nhưng bà không dùng.

Bà kể cho cán bộ nghe những mẩu chuyện về Bác Hồ mà bà biết được khi Bác ở Xiêm, nhưng không chịu kể về mình.

Khi người nhà bưng bát cháo lên để bà dùng, bà tự tay đón lấy. Tay phải bà run run, cầm cái thìa con đã buộc chặt vào hai ngón tay cái và trỏ. Khi bàn tay trái đưa bát cháo gần miệng, có lúc bát cháo lại “đi” qua sang phải, sang trái, bà cố ghìm lại để “xúc” cháo.

Chị Dung vẫn ngồi yên, cầm cái quạt giấy quạt cho mẹ, anh em gắt lên:

– Sao chị không bón cho bà?

Chị Dung cười và bà cũng cười. Chị nói:

– Mẹ tôi không cho. Mẹ bảo để mẹ tự làm lấy. Còn tại sao, các anh hỏi mẹ ấy!

Bà đặt bát cháo xuống, kể:

– Các cháu ạ, hồi ở Xiêm, Bác Hồ sống như mọi người dân, lao động bắt cá, kiếm củi, làm công, ăn đói mặc rét. Bác có lần nói với bà rằng: “O ơi! Sung sướng không ai dạy mà vẫn biết, còn muốn chịu đựng được gian khổ để làm cách mạng thì phải luyện rèn. Không ai nắm được tay từ sáng đến tối. Phòng khi khó khăn, còn vượt được, còn tham gia cách mạng được”. Bà nhờ câu nói ấy của Bác mà sống đến ngày nay… Bà còn cử động được tay, bà tự làm lấy theo lời Bác Hồ dạy mà thôi!

Rồi bà lại tươi cười run run bưng bát cháo lên.

Bốn cán bộ Bảo tàng ngồi mắt đỏ hoe, có anh trào nước mắt.

Trích trong “120 chuyện kể về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”
Theo baclieu.gov.vn
Phương Thúy (st).
bqllang.gov.vn

Người 30 năm sưu tầm kỷ vật về Bác Hồ

Ông là Nguyễn Đình Sơn, nguyên cán bộ Công an Thanh Hóa đã về hưu, là người duy nhất tại Thanh Hóa lập Bảo tàng Bác Hồ ngay tại nhà. Ông cũng là người chủ nhiệm đề tài lịch sử 2253 – NVTH “Bác Hồ với Đảng bộ, nhân dân và lực lượng vũ trang Thanh Hóa”. Hiện ông trú tại số nhà 14/42 phố Lam Sơn 1, phường Tân Sơn, thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa.

Ông Nguyễn Đình Sơn có 10 năm được sống và làm việc gần Bác khi phục vụ trong đội cận vệ bảo vệ Bác Hồ, tại Cục Cảnh vệ (nay là Bộ Tư lệnh Cảnh vệ, Bộ Công an). Vì hoàn cảnh gia đình nên ông đã chuyển công tác về tỉnh Thanh Hóa. Với tình cảm kính yêu đặc biệt dành cho Bác, sau khi nghỉ hưu, gần 30 năm qua, ông đã sưu tầm hàng nghìn bức tranh, ảnh, di vật, bút tích và bài viết về Bác Hồ rồi lưu giữ cẩn thận và coi đó như những tài sản quý giá của mình.

Ông Sơn kể: “Năm 1952, tôi lên ATK làm chiến sĩ bảo vệ Bác Hồ và Trung ương Đảng. Đây cũng là thời gian tôi vinh dự được nhiều lần trò chuyện với Bác. Tôi còn nhớ có lần đang tập võ thuật cùng ông Vũ Kỳ, thì Bác xuất hiện, cùng tập võ, khiến anh em rất cảm động. Những năm tháng làm chiến sĩ cận vệ cho Bác và Trung ương Đảng, tôi đã 4 lần vinh dự được tặng Huy hiệu Bác Hồ”.

30 nam suu tam ky vat ve BacNơi cất giữ những tài liệu quan trọng liên quan tới Bác Hồ tại gia đình ông Sơn.

Năm 1963, khi ông Sơn vừa tốt nghiệp lớp đại học thí điểm đầu tiên của ngành Công an, thì người vợ ở quê qua đời vì bệnh hiểm nghèo. Ông đã xin chuyển về Ty Công an Thanh Hóa làm việc để tiện chăm sóc các con, đến năm 1982 thì nghỉ hưu. Nhớ lại những hình ảnh cao đẹp của Bác, ông Sơn nung nấu trong lòng ý định lập một “Bảo tàng Bác Hồ” ngay tại nhà mình. Hằng ngày, trên chiếc xe đạp cũ, ông cần mẫn đi tìm các kỷ vật, bút tích, tranh ảnh về Bác Hồ… Nhiều khi ông phải lặn lội ra tận Hà Nội để gặp các nhân chứng lịch sử như: Đại tướng Võ Nguyên Giáp, đồng chí Vũ Kỳ, các đồng chí lãnh đạo ngành công an, lãnh đạo tỉnh đã về hưu. Nghe tin nơi nào có tư liệu, hay bút tích của Bác, là ông Sơn tìm tới ngay để xin lại, những thông tin còn mập mờ, ông đi tìm nhân chứng để xác minh rõ nguồn gốc.

Gần 30 năm đi tìm kỷ vật về Bác Hồ, ông Sơn đã có hàng nghìn bức tranh, ảnh, di vật, bút tích và bài viết về Bác Hồ, tất cả đều được ông lưu giữ cẩn thận và coi đó như những tài sản quý giá của mình. Mỗi lần các báo, tạp chí đăng thông tin về Bác Hồ, ông đều cắt, ép plastic để bảo quản được lâu. Tường nhà tầng một của ông Sơn không còn chỗ treo và trưng bày những kỷ vật về Bác. Ông đã di chuyển một phần bảo tàng của mình lên căn phòng tầng hai. Tại đây, ông Sơn phân ra nhiều mảng trưng bày. Bên phải từ cửa vào là những hình ảnh Bác Hồ với phụ nữ Việt Nam; bên trái là Bác Hồ với lực lượng Công an nhân dân; chính diện cửa vào là Bác Hồ với Đảng bộ, chính quyền và nhân dân các dân tộc tỉnh Thanh Hóa… cùng hai tủ sách nói về Bác Hồ và Lê-nin, Các Mác.

Giờ đây, ngôi nhà của ông Sơn đã trở thành bảo tàng về Bác Hồ lưu giữ nhiều tư liệu thông tin quý giá về Bác. Cũng chẳng biết tự lúc nào, các nhà nghiên cứu, người dân và đặc biệt là đông đảo các cháu học sinh đã đến nhà ông Sơn tìm hiểu và tham quan Bảo tàng về Bác Hồ của ông Sơn. Đây cũng là nguồn động viên, cổ vũ lớn lao, tiếp thêm sức lực để ông Sơn tiếp tục tìm kiếm, gìn giữ các hiện vật, tư liệu quý về Bác Hồ.

TheoHoàng Đình Văn/www. qdnd.vn
Kim Yến (st)
bqllang.gov.vn

Gặp lại cô bé quàng khăn đỏ cho Bác Hồ

Cô nữ sinh người Dao 14 tuổi năm ấy được gặp Bác Hồ 2 lần trong ngày, được che ô, quàng khăn quàng đỏ lên cổ Bác…

Được gặp Bác 2 lần 

Bac Ho tro chuyen voi cac hoc sinhTấm ảnh ghi lại buổi Bác Hồ trò chuyện với các học sinh Trường Thiếu nhi rẻo cao
khu tự trị Việt Bắc, cô nữ sinh Triệu Thị Kim Tặng (đứng sau vai trái của Bác)
đang hát vang bài ca kết đoàn.

Ngày ấy, cô nữ sinh Triệu Thị Kim Tặng tròn 14 tuổi, cô là một trong ba nữ sinh được cử đi đón Bác Hồ khi Bác lên thăm nhân dân tỉnh Thái Nguyên (năm 1960).

“Sáng hôm đó (13/3/1960) tôi cùng 2 người bạn là Chi Thị Khẩn dân tộc Lô Lô, Đào Thị Lý dân tộc Mông được cử đi đón Bác Hồ ở ngoài sân vận động Thái Nguyên – nơi Bác về trò chuyện với bà con các dân tộc Việt Bắc. Tôi là người được giao nhiệm vụ cầm ô che cho Bác nên được đứng ngay bên cạnh Bác.”

“Tôi còn nhớ rất rõ Bác mặc bộ quần áo “kiểu Tôn Trung Sơn” màu ghi, đằng sau vai áo bên phải có một miếng vá nhưng trong mắt tôi Bác mặc bộ đồ đó rất đẹp, rất giản dị, gần gũi với những người dân ở đây, gần gũi với chúng tôi…”.

Sau khi nhận những bông hoa tươi thắm từ tay các học sinh Trường Thiếu nhi rẻo cao khu tự trị Việt Bắc, Bác Hồ vui vẻ và nhanh nhẹn bước lên khán đài trò chuyện với bà con, “nhìn Bác rất hồng hào” – cô bé che ô cho Bác nhớ lại.

Cô nữ sinh Triệu Thị Kim Tặng không chỉ vinh dự được gặp Bác 1 lần mà ngay chiều hôm đó, Bác vào thăm Trường Thiếu nhi vùng cao, khu tự trị Việt Bắc nơi cô học, cô lại vinh dự được giao nhiệm vụ quàng lên cổ Bác chiếc khăn quàng đỏ.

“Bác hỏi chúng tôi: Các cháu có nhớ nhà không? Có được ăn no không? Bác còn dặn: Các cháu là con em tiêu biểu của các dân tộc nên phải cố gắng chăm học, ngoan ngoãn, nghe lời thầy cô giáo, rèn luyện tốt để thành cháu ngoan Bác Hồ, để sau này làm cán bộ phục vụ cho dân tộc mình”.

Sau đó, “Bác Hồ cũng trò chuyện với các thầy cô giáo và nhân viên trong trường. Rồi Bác bắt nhịp cho chúng tôi hát bài Kết đoàn, rồi Bác rời hội trường trong khi chúng tôi vẫn đang hát…”

Bà Tặng kể, chính lần gặp Bác Hồ đó đã tiếp thêm nghị lực cho cô nữ sinh trẻ vượt qua khó khăn để tiếp tục xây ước mơ trở thành cán bộ phục vụ dân tộc, quê hương mình.

13 tuổi (năm 1959), cô bé Tặng dời bản Dao nghèo Nà Lẹng (ruộng cạn) nằm chon von nơi đỉnh đèo Gió (xã Sỹ Bình, huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Thái – nay là Bắc Kạn) về theo học tại Trường Thiếu nhi vùng cao, khu tự trị Việt Bắc (Thái Nguyên).

Ba Trieu Kim Minh Tang Bà Triệu Thị Kim Tặng với tấm hình chụp ảnh Bác Hồ (Ảnh Minh Thúy)

Ôm con đi “xóa mù” ở vùng cao

Bà Tặng theo học ngành sư phạm bởi bà nghĩ ngành này giúp bà mang kiến thức đến cho con em đồng bào dân tộc vùng cao – như nơi bà sinh ra và sống thời thơ ấu. Ngay sau khi ra tốt nghiệp Trường Trung cấp sư phạm Việt Bắc (nay là Đại học Sư phạm Thái Nguyên, năm 1965), bà Tặng về giảng dạy ở trường học của xã Lam Vĩ (huyện Định Hoá, tỉnh Thái Nguyên).

Bà nhớ đó là những ngày tháng đầy khó khăn, vất vả bởi bà đang mang thai người con đầu lòng, chồng bà (ông Đặng Văn Lâm, nguyên là Hiệu Trưởng Trường Chính trị tỉnh Thái Nguyên, cũng là bạn học cùng Trường Thiếu nhi vùng cao với bà) lại đang theo học tận Trung Quốc nên bà phải nỗ lực thực hiện tốt nhất công việc của người giáo viên “cắm bản”.

Không chỉ dạy cái chữ cho bà con, bà Tặng cũng tuyên truyền vận động bà con loại bỏ các hủ tục trong cưới xin, ma chay, mê tín dị đoan…

“Cắm bản” ở các xã vùng sâu, vùng xa gần 20 năm, đến  năm 1984, bà Tặng chuyển về công tác tại Phòng Bổ túc văn hoá, Sở Giáo dục – Đào tạo Thái Nguyên, phụ trách mảng xoá mù chữ bậc tiểu học.

Với công việc này, bà đi khắp các bản làng xa xôi của tỉnh, có những lúc đi bộ cả 2 ngày trời, rồi cuộc sống đầy khó khăn, cái bụng chưa no nên nhiều người không muốn học cái chữ – khiến người giáo viên xóa mù chữ như bà Tặng có lúc cảm thấy mệt mỏi. Nhưng chính những lúc mệt mỏi đó, bà Tặng nhớ lời dặn dò của Bác Hồ, bà lại bước tiếp.

Có những thời gian chồng đi xa, một nách 2 con nhỏ, bà Tặng vẫn “cắp con” đi “xóa mù” cùng, những vùng cao ở Đồng Hỷ, Chợ Đồn, Na Rì, Bạch Thông… đều in dấu chân mẹ con cô giáo Tặng. Có những lúc cô giáo Tặng phải ở lại với bà con, ngày đi làm cùng họ, tối về vận động họ học chữ, cách làm này của cô giáo Tặng sau này đã được nhân rộng tại địa phương.

Năm 2001, cô giáo Tặng nghỉ hưu, nhưng “hưu” mà chẳng “nghỉ”, bà Tặng được bầu làm Chi hội trưởng Chi hội phụ nữ Tổ dân phố 13, phường Hoàng Văn Thụ, Thành phố Thái Nguyên. Năm 2002, bà vào Ban Chi ủy phụ trách công tác Mặt trận của phố Gia Bảy. Năm 2003, bà làm Bí thư Chi bộ… Đến năm 2006, bà được bầu làm tổ Trưởng Tổ dân phố 13.

Bà quyết tâm góp phần làm thay đổi bộ mặt khu phố, từ chỗ đi lại trong tổ dân phố trên những lối mòn đất đỏ bà vận động bà con làm đường bê tông, rồi làm đường dẫn nước sạch, làm luôn đường điện áp. Quá trình làm nhiều người ủng hộ, nhiều người… chửi nhưng bà vẫn kiên trì. Và vì đó, bà Tặng cũng được bà con dân phố “phong tặng” danh hiệu “người chịu đựng nhất khu phố”.

Nhờ làm được hạ tầng tốt, giờ đây khu phố của bà Tặng đã thay đổi bộ mặt, xóa hẳn được nhà lá, 100% là nhà xây cao tầng. “Tôi luôn tậm niệm lời Bác dạy suốt chặng đường tôi đi, suốt những việc tôi làm và tôi thấy thành công” – bà Tặng nói với giọng rất nhẹ nhàng, nụ cười tươi cả trong ánh mắt.

Nguồn: vtc.vn
Thúy Hằng (st)
bqllang.gov.vn

Nhắc mãi tên người Hồ Chí Minh

Nhà sàn Bác Hồ. Ảnh: PV

(BG)-Nhà thơ Tố Hữu – ngọn cờ đầu của nền thi ca cách mạng Việt Nam – đã viết:

Vì sao trái đất nặng ân tình
Nhắc mãi tên Người: Hồ Chí Minh
Như một niềm tin, như dũng khí
Như lòng nhân nghĩa, đức hy sinh

và:

Hồ Chí Minh, Người ở khắp nơi nơi.

Ngay từ những năm 20 của thế kỷ trước, các nhà cách mạng tiền bối nước ta như: Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Nguyễn An Ninh, Phan Văn Trường, Nguyễn Thế Truyền… trên hành trình tìm đường cứu nước đều dành cho Người – lúc ấy là bậc hậu sinh của các vị – lòng yêu mến và tin tưởng. Cụ Phan Chu Trinh khẳng định: “Độc lập của nước Việt Nam sau này sở cậy có Nguyễn Ái Quốc“. Cụ Phan Bội Châu tin tưởng: “Tôi chắc ông Quốc vẫn còn, mà ông ấy còn thì nước ta nhất định sẽ độc lập.” Cụ Huỳnh Thúc Kháng, sau cách mạng trong thư gửi đồng bào, ngợi ca Bác: “Là bậc yêu nước đại chí sĩ, là nhà lịch nghiệm cách mạng đại chuyên gia. Chân đi khắp năm châu, mắt trông xa vạn dặm, nhận rõ thời cuộc, lặng dò thời cơ”.

Bộ Bách khoa toàn thư Universalis (Pháp) trong mục Hồ Chí Minh đã mở đầu như sau: “Trong lịch sử các cuộc cách mạng thế kỷ XX trên toàn thế giới,  Hồ Chí Minh – Nhà sáng lập và Chủ tịch đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa – giữ vị thế đặc biệt. Ông là người tiến hành cuộc chiến đấu dài lâu nhất so với bất kỳ nhà lãnh đạo khác trong thời đại ngày nay chống bá quyền và đế quốc thực dân. Khi Mao Trạch Đông còn là một viên thủ thư trẻ chưa hề thoáng ý cách mạng trong đầu, khi Zosip Briz của Nam Tư chưa nghĩ ra việc dùng biệt danh Tito kêu gọi nhân dân nổi dậy, Phidel castro (Cu Ba), Abdel Nasset (Ai Cập) và Che Guevara (Mỹ – latinh) gần như mới chào đời thì Nguyễn Ái Quốc từ năm 1919 đã đặt vấn đề giải phóng thuộc địa ra trước Hội nghị Hoà bình họp tại Điện Versailees (Pháp).”

Các nhân vật quốc tế có quan hệ với Bác trong những thời gian khác nhau, ở nhiều địa điểm, hoàn cảnh và tình thế khác nhau; cả đồng chí, bạn bè, cả đối thủ về tư tưởng hay trên chiến trường đều có những ấn tượng tốt đẹp về Người. Đó là điều kỳ diệu, vĩ đại của Bác. Đó không phải chỉ là tư tưởng mà còn là nhân cách lớn. Denit Gray (Pháp) nhận xét: “Việt Nam có thể có những bước thăng trầm nhưng ký ức về vị lãnh tụ cộng sản được sinh ra từ cuối thế kỷ XIX sẽ tồn tại mãi mãi”. S.Kronow (Mỹ) viết: “Một thân hình gầy gò, chòm râu dài, chiếc áo khoác cũ và đôi dép cao su đã mòn. Hồ Chí Minh đã tạo ra một Bác Hồ hiền lành giản dị. Nhưng Người là nhà cách mạng dày đặc kinh nghiệm và một nhà dân tộc chủ nghĩa nồng nhiệt, suốt đời đấu tranh cho một mục đích duy nhất là mang lại độc lập tự do cho dân tộc mình.”Tờ báo Tiến lên của Xri lanca khẳng định: “Hồ Chí Minh đã làm nên lịch sử hiện đại, là một trong những nhân vật cao quý nhất, đáng kính nhất của thời đại chúng ta.” Sức lan toả và ảnh hưởng to lớn, kỳ vĩ của Chủ tịch Hồ Chí Minh đến nỗi Tổng thống Mỹ Nixon đã phải cay đắng thốt lên: “Chỉ khi nào xóa bỏ được hình ảnh lãnh tụ Hồ Chí Minh ra khỏi tâm thức người dân thì đường lối Việt Nam mới ngả theo Mỹ“.

Không thể nào kể hết những lời ngợi ca của các bậc danh nhân, các nhà chính trị, các nhà sử học, các nhà văn nhà báo trên thế giới nói và viết về Bác. Tự hào vô cùng dân tộc ta, non sông đất nước ta có Bác Hồ kính yêu. Chính Người đã làm rạng danh non sông đất nước ta. Bác là Anh hùng dân tộc, nhà văn hoá kiệt xuất Việt Nam. Nhưng cao hơn cả, sâu thẳm hơn cả, Bác trường tồn, mãi mãi trường tồn trong tâm trí dân tộc ta, trong non sông đất nước ta với hình ảnh một con người thiêng liêng, gần gụi, xiết bao yêu dấu. Tất cả những gì cao quý nhất, tốt đẹp nhất đều thuộc về Người – Chủ tịch Hồ Chí Minh, Bác Hồ kính yêu.

Giang Kế Nhân
baobacgiang.com.vn

Vị bác sĩ già và 120 ngày đêm trực chiến bên thi hài Bác Hồ

Vi bac si gia

Bác sĩ Mai Khắc Thái (thứ 4 từ trái sang) và các cán bộ Bộ Quốc phòng, Bộ Công an chuẩn bị cho lễ viếng Bác Hồ sáng 5/9/1969 tại Hội trường Ba Đình. (Ảnh tư liệu)

KTĐT – Một phòng khám nhỏ khá yên tĩnh trên phố Lương Khánh Thiện, ở đó vị bác sĩ già vẫn ngày đêm miệt mài với công việc của mình, khám bệnh miễn phí cho mọi người.

Ông là Đại tá, bác sĩ Mai Khắc Thái, người đã từng vinh dự được ứng trực trông nom thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Những ngày đêm trực chiến bên thi hài Bác

Tôi tìm đến ông vào một ngày Hà Nội nắng như đổ lửa, nhưng phòng khám của ông vẫn tấp nập người đến, đi. Vị cựu Đại tá quân y 86 tuổi ấy tay thoăn thoắt với những cây kim, dò từng huyệt đạo châm cứu cho bệnh nhân. Trong lúc chờ ông xong việc, tôi ngắm nhìn xung quanh, mọi thứ ngăn nắp, gọn gàng cho thấy một tác phong quân đội vẫn hiện hữu. Phòng khám thêm trang trọng, linh thiêng nhờ những bức ảnh Bác Hồ. Và bên này là ảnh ông chụp cùng Tổ y tế tham gia bảo vệ thi hài Bác, bên kia chụp cùng lãnh đạo Bộ Công an, Bộ Quốc phòng chuẩn bị lễ viếng Bác Hồ sáng 5/9/1969. Nghỉ tay, ông bắt đầu câu chuyện đầy hào hứng. Những kỷ niệm, cảm xúc năm xưa như ùa về trong trái lim người lính già.

Sinh ra trong một gia đình dòng dõi “trâm anh”, ngay thuở nhỏ, ông đã được rèn luyện, giáo dục những đức tính cần cù, chăm chỉ, ham học hỏi. Ông nội của ông chính là cụ Mai Khắc Đôn, nguyên là Thượng thư Bộ Lễ, kiêm giáo đạo và là thầy dạy chữ Hán cho vua Duy Tân. Tuy làm quan trong thời Pháp thuộc nhưng cụ vô cùng yêu dân, thanh liêm, chính trực. Cảm mến đạo đức và tấm lòng yêu nước, thương dân của nhà vua trẻ Duy Tân, cụ đã gả con gái của mình, là tiểu thư Mai Thị Vàng cho nhà vua. Để tưởng nhớ và biết ơn vị quan thanh liêm này, mới đây UBND thành phố Huế đã quyết định lấy tên cụ để đặt cho một con đường mới mở trên địa bàn phường Kim Long… Ông kể say sưa, rồi chuyển sang câu chuyện của bản thân mình.

Câu chuyện của ông đưa chúng tôi về những năm tháng theo cách mạng của một thanh niên xứ Huế. Năm 1946, nghe theo lời kêu gọi của Bác Hồ, thanh niên xếp bút nghiên lên đường chiến đấu, ông tham gia Vệ quốc quân ở chiến trường Nam bộ. Khi đoàn của ông đi đến Khánh Hòa thì địa phương này bị địch chiếm nên phải ngược lên Tây Nguyên. Là một trong số ít người có trình độ văn hóa lúc bấy giờ nên ông được cử đi học lớp y tá (năm 1947), rồi về phụ trách công tác y tế tại Tiểu đoàn 1, mang tên Nguyễn Nhạc, thuộc Trung đoàn 67 (Trung đoàn này gồm 3 Tiểu đoàn, Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ và Nguyễn Lữ). Sau đó, ông được đề bạt lên Viện phó Viện 1 Quảng Ngãi, rồi Viện phó Viện 5 Phú Yên. Cuối năm 1952, cấp trên cử ông cùng 11 y tá của Nam và Trung trung bộ xuyên rừng Trường Sơn ra Việt Bắc học y sĩ. Khi ta mở Chiến dịch Điện Biên Phủ, lớp học kết thúc để học sinh đi làm nhiệm vụ, ông phụ trách trại tù Âu Phi ở Quảng Xương – Thanh Hoá. Trao trả tù binh dưới Sầm Sơn xong, ông về Hà Nội làm việc tại một đơn vị nghiên cứu ở sân bay Gia Lâm. Sau khi tốt nghiệp Trường Sĩ quan Quân y, năm 1965 ông lại được cử đi Liên Xô học y học và tâm lý hàng không.

“Vinh hạnh nhất suốt cuộc đời quân ngũ của tôi, đó là những ngày trực chiến bên thi hài Bác Hồ”, giọng ông chùng xuống, xúc động. Ông kể tiếp: “Năm 1969, Bác ốm nặng, Trung ương biết Người khó qua khỏi nên cử đoàn bác sĩ Việt Nam sang Liên Xô học kỹ thuật bảo quản thi hài trong 6 tháng (Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Nguyễn Duy Trinh làm Trưởng đoàn). Năm ấy tôi vẫn đang là sinh viên, làm Bí thư Liên chi, phụ trách khối Chi đoàn quân đội của Học viện Quân y Leningrad; hồi đó không có người phiên dịch chuyên ngành y nên tôi được giao nhiệm vụ phiên dịch”.

Khi Bác mất, một nhóm chuyên gia của nước bạn được mời sang để hướng dẫn ta thực hiện ướp thi hài. Bác sĩ Thái tháp tùng đoàn chuyên gia về nước chở khí tài, bình thủy tinh, dung dịch… qua Việt Nam để thực hiện việc ướp thi hài Bác. “Hình ảnh cảm động nhất là hàng triệu người dân, bạn bè quốc tế đổ về Quảng trường Ba Đình viếng Bác, ai ai cũng nước mắt tuôn rơi… Bác nằm đó, như trong giấc ngủ ngon, gần gũi, thân thương biết nhường nào, Bác đã ra đi, nhưng hình ảnh Bác vẫn mãi mãi trong tâm trí mỗi người con đất Việt”, giọng đứt quãng, ông Thái kể lại câu chuyện cảm động về Bác Hồ. Với ông, 120 ngày làm nhiệm vụ bảo vệ thi hài Bác Hồ là niềm vinh dự, là những kỷ niệm không thể quên.

Vi bac si gia 2Bác sĩ Mai Khắc Thái. Ảnh: Thanh Hải

Một kỷ niệm nữa cũng khó quên với Đại tá, bác sĩ Thái. Đó là khi ông nhận nhiệm vụ làm Viện phó Viện Phòng không Không quân, kiêm Chủ tịch Hội đồng Giám định Không quân, ông đã khám, tuyển dụng và nghiên cứu diễn biến sức khỏe của Anh hùng vũ trụ Phạm Tuân, từ năm 1980 – 1986. “Lúc bây giờ tuyển phi công vũ trụ ngặt nghèo lắm, trong số hàng trăm người, tuyển được 30, 40 người, khi gửi lên Viện Phòng không Không quân, chỉ còn 5 người “lọt”. 5 người này được gửi sang Liên Xô tiếp tục khám tuyển, nhưng được 2 người là Phạm Tuân và Bùi Thanh Liêm đủ tiêu chuẩn. Sau khi test các vòng, Phạm Tuân được chọn là nhà du hành vũ trụ đầu tiên của Việt Nam. Sau 6 năm nghiên cứu sức khỏe của Anh hùng vũ trụ, ngày 23/4/1987 bác sĩ Mai Khắc Thái được Uỷ ban Nghiên cứu vũ trụ Việt Nam trao giải thưởng khoa học vì đã hoàn thành xuất sắc công trình khoa học: “Đánh giá sức khoẻ phi công nghiên cứu vũ trụ Phạm Tuân trước, trong, sau chuyến bay vũ trụ Xô – Việt”.

Phải lấy đức làm trọng

Sau khi về hưu, 20 năm nay, bác sĩ Thái mở phòng khám để tiếp tục chữa bệnh cứu người. Ở phòng khách và phòng khám của bác sĩ Thái đều treo trang trọng các bức thư pháp chữ “Đức”. Thấy tôi ngắm nhìn những bức thư pháp này, ông giải thích: Thầy thuốc phải lấy đức làm trọng, nếu không thì không nên làm nghề. Bác Hồ đã dạy “Thầy thuốc như mẹ hiền”, muốn được như mẹ hiền phải có tấm lòng. Chữa bệnh thì thân hay sơ, giàu hay nghèo đều như nhau, không vì đồng tiền mà làm sai lệch thiên chức của mình”. Rồi ông nhắc lại quy tắc của Hải Thượng Lãn Ông: “Đạo làm thuốc là một “nhân thuật” chuyên bảo vệ sinh mạng con người, phải lo cái lo của người, vui cái vui của người, chỉ lấy việc cứu sống mạng người làm nhiệm vụ của mình không nên cầu lợi kể công”. Quan niệm như vậy, nên cách ông ứng xử với bệnh nhân cũng hết sức thân thiện, gần gũi. Và bệnh nhân từ khắp các tỉnh, thành trên cả nước đến với phòng khám của ông ngày một nhiều hơn. “Tôi ít thấy một vị bác sĩ nào dù tuổi cao mà lại minh mẫn, nhanh nhẹn đến vậy. Hơn thế, ở ông có một tấm lòng, ông coi chúng tôi như người thân. Chữa bệnh ở đây một thời gian khá dài, nhưng chưa bao giờ tôi thấy ông có một cử chỉ, hay một lời nói nặng với bệnh nhân”, một bệnh nhân đến từ Lạng Sơn bày tỏ. Trước đó, khi tôi hỏi thăm tìm đến phòng khám, một người dân gần đấy bảo: “Chị tìm bác sĩ Thái chứ gì, đúng là tiếng lành đồn xa. Tôi cũng chữa bệnh ở đấy, hàng xóm láng giềng bác không lấy tiền”.

Phương pháp chữa bệnh của ông là Đông, Tây y kết hợp, châm cứu nhưng đi theo đường giải phẫu Tây y và sử dụng tân dược để điều trị. Đây là một phương pháp chữa bệnh mới nhưng rất hiệu quả. Nhiều bệnh nhân đau lưng, đau thần kinh, rối loạn tiền đình, liệt, méo mặt, méo miệng đều tìm đến ông và cải thiện bệnh lý trên 80 – 90%. Hàng ngày, phòng khám của ông khám, tư vấn và kê đơn thuốc miễn phí cho mọi đối tượng, miễn phí điều trị cho hàng xóm, thương binh nặng; người nghèo, người tàn tật được giảm phí điều trị trên 20%. Phòng khám của ông thu hút ngày càng nhiều bệnh nhân, phần do những ưu đãi đặc biệt, nhưng điều quan trọng hơn, ở đó luôn có tiếng cười, lời động viên, an ủi ân cần của vị bác sĩ già. “Tôi mở phòng khám, có chút thu nhập để động viên, nhưng mục đích chính là chữa bệnh cứu người. Trong khi bệnh nhân đang cần đến, mà mình ngồi không, dưỡng già thì không đành, lao động là vinh quang”, vị bác sĩ già phấn chấn nói.

Gần 12 giờ trưa, chúng tôi rời phòng khám của ông, trời nắng chói chang, vẫn có thêm những bệnh nhân đội nắng đến khám bệnh. Và ông lại mất giấc ngủ trưa, nhưng tôi hiểu, niềm vui cứu người lại được nhen lên trong trái tim vị Đại tá, bác sĩ đã trọn đời cống hiến cho Tổ quốc, cho nhân dân./.

Theo Hải Lý/ Báo Kinh tế & Đô thị
Huyền Trang (st)
bqllang.gov.vn

“Tôi không dám tin Bác biết tên một nông dân như mình”

“Nghe Bác gọi tên, tôi không dám tin Bác biết tên mình. Tôi lúng túng đứng lên, tà áo dài vướng vào mép bàn gỡ mãi không ra. Bác cười dí dỏm: “Cháu là nông dân, cháu mặc áo dài đi cày, nó cuốn vào cày thì cháu làm sao?”.Đó là một trong những kỷ niệm về lần gặp Bác Hồ đầu tiên của bà Nguyễn Thị Kim Dung. Tại ngôi nhà riêng ở thôn Trung Thành, xã Nam Phong, thành phố Nam Định, chúng tôi được nghe những kỷ niệm sâu sắc về quãng đời hoạt động cách mạng của bà. Đặc biệt là niềm tự hào và hạnh phúc hai lần được gặp Bác Hồ.

Toi khong dam tin1Bà Dung bên bức ảnh chụp cùng Bác.

Sinh năm 1938 ở xã Hải Tây (Hải Hậu – Nam Định), năm 1962, với nhiều thành tích xuất sắc trong lao động sản xuất cũng như các phong trào Đoàn và Hội Phụ nữ của địa phương, bà được kết nạp vào Đảng.

Trong điều kiện đất nước có chiến tranh, chồng công tác xa nhà, các con còn nhỏ, song bà luôn hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao. Từ các phong trào: “Tất cả vì miền Nam ruột thịt”, “Mỗi người làm việc bằng hai”… bà đã trở thành tấm gương sáng trong sản xuất và chiến đấu với nhiều thành tích như: “Đảng viên bốn xuất sắc”, “Phụ nữ 5 tốt, 3 đảm đang”…

Năm 1964, bà được Mặt trận Tổ quốc tỉnh Nam Định giới thiệu ra ứng cử đại biểu Quốc hội khóa III và bà đã trúng cử. Đây cũng chính là lần đầu tiên bà Dung được gặp Bác Hồ.

Người đàn bà với mái tóc đã điểm bạc, bồi hồi xúc động lật dở những kỷ vật được xem như là báu vật của dòng họ nhớ lại: “Lần đầu tiên gặp Bác, chúng tôi không hề được báo trước. Buổi tối của phiên họp Quốc hội đầu tiên, chúng tôi đang nghỉ ngơi ở khách sạn Kim Liên thì đồng chí Phan Điền – Trưởng đoàn Đại biểu Quốc hội Nam Định tới nói với tôi, chị Trà và chị Thạc “Sáng mai các đồng chí phải ăn mặc chỉnh tề để đi nhận nhiệm vụ đặc biệt”.

Nghe xong “Chỉ thị” chúng tôi nhìn nhau không biết ngày mai sẽ làm nhiệm vụ đặc biệt gì. Sáng hôm sau mới 8 giờ sáng, xe đã đến đón đưa chúng tôi đi qua Ba Đình, rồi đi vòng tới Phủ Chủ tịch và dừng lại ở cổng sau nhà sàn của Bác.

Một đồng chí cảnh vệ lại mời chúng tôi xuống xe và nói hôm nay Bác sẽ gặp mặt Đoàn Đại biểu Quốc hội trẻ tuổi. Lúc này chúng tôi mới biết sẽ được gặp Bác Hồ. Lúc đó tâm trạng của mọi người rất hồi hộp và phấn chấn. Khu đặt tiệc bày sẵn với những chiếc ghế và dãy bàn được bày biện rất đẹp, bên trên là những đĩa bánh kẹo.

Toi khong dam tin2Bức ảnh Bác chụp cùng Đoàn Đại biểu Quốc hội trẻ tuổi
(Ảnh tư liệu do nhân vật cung cấp).

Toi khong dam tin3Thẻ đại biểu Quốc hội khóa III – kỉ vật được bà Dung giữ lại làm kỉ niệm.

Tất cả mọi người sau khi ổn định chỗ ngồi ai cũng thấp thỏm mong được nhìn thấy Bác. Vừa lúc đó, Bác xuất hiện trong bộ quần áo nâu giản dị, vẫy tay chào mọi người. Chúng tôi quây quần nghe Bác hỏi chuyện từng đại biểu.

“Đến lúc Bác gọi đến tên tôi lần thứ nhất, nhưng lúc đó tôi không nghĩ là Bác gọi đến tên mình, làm sao Bác biết đến một người nông dân như mình nên tôi không dám đứng lên, Bác gọi tới lần thứ 2 tôi vẫn không dám đứng lên, phải đến lần thứ 3 khi các anh, chị ngồi cạnh tôi bảo chị Dung, Bác gọi gì chị kìa, tôi mới dám đứng lên nhưng không may cái áo dài của tôi lại bị vướng vào mép bàn, tôi gỡ mãi không được, phải nhờ tới mấy người xung quanh gỡ giúp mới được. Bác nhìn tôi cười rồi Người hỏi: “Cháu là Kim Dung? Tôi lễ phép trả lời: “Dạ, thưa Bác vâng ạ!”. Bác lại dí dỏm nói: “Cháu là nông dân, cháu mặc áo dài đi cày nó cuốn vào cày thì cháu cày làm sao?”.

Lúc đó tất cả mọi người đều cười làm cho tôi lúng túng xấu hổ không biết trả lời như thế nào thì Bác cười đôn hậu bảo: “Thôi, Bác đùa đấy, thế chi bộ Vạn Phong và Đảng bộ Nam Phong vẫn 4 tốt chứ?”. Lúc đó tôi vừa lúng túng vội trả lời: “Thưa Bác vâng ạ!”.

Nở nụ cười mãn nguyện, bà tiếp câu chuyện: Thực sự lúc đó tôi cũng không biết phải trả lời như thế nào vì được gặp Bác, được nói chuyện với Bác tôi vừa vui mừng, vừa hồi hộp. Sau một hồi nói chuyện, Bác cùng chúng tôi ra trước phủ Chủ tịch để chụp ảnh lưu niệm. Đó là lần đầu tôi được gặp Bác và cũng là lần đầu tiên tôi được Bác cầm tay và căn dặn: “Cháu phải cố gắng học tập để có đủ trình độ năng lực làm người Đảng viên tốt, người đại biểu Quốc hội tốt, nhưng Bác cũng phê bình cháu, cháu ít tuổi có nhiều con, mà nhiều con thì không tiến bộ được đâu cháu ạ. Phải sinh đẻ có kế hoạch thì mới có điều kiện học tập và công tác tiến bộ được.

Giây phút được Bác cầm tay ấy bà cảm nhận được sự ấm áp như tình cảm Cha – con và Người đã truyền cho tôi một sức mạnh làm tôi không còn run và sợ như lúc ban đầu nữa. Sau đó tôi cùng 3 người nữa được chụp ảnh riêng cùng Bác”.

“Lần thứ 2 là vào năm 1968. Khi ấy tôi được Đảng bộ tỉnh Nam Định cử đi dự Hội nghị tổng kết công tác xây dựng Đảng 4 tốt toàn miền Bắc. Sau giờ giải lao mọi người ai cũng háo hức mong được gặp Bác. Tôi đang đứng ở tiền sảnh thì đồng chí Lê Hoành – Chuyên viên Ban tổ chức chạy tới và bảo: “Bác đang hỏi cô, cô vào ngay để gặp Bác. Vừa trông thấy tôi Bác liền hỏi: “Chồng con cháu vẫn khỏe và công tác tốt chứ?. Tôi đáp lại: “Thưa Bác vẫn tốt ạ!”.

Toi khong dam tin4Bà Dung với những phần thưởng cao quy được trao tặng.

Bà cho chúng tôi xem một số kỉ vật, bút tích và hình ảnh trong những lần gặp Bác còn lưu giữ đến nay. Cùng với đó là những phần thưởng cao qúy của Đảng, Nhà nước, Chính phủ, Bộ, ngành Trung ương và tỉnh Nam Định trao tặng bà.

Chỉ vào bức tranh truyền lại từ bức ảnh bà chụp ảnh cùng Bác treo trang trọng trên tường phòng khách: “Đó là bức tranh mà ông nhà tôi đã dùng cả tháng lương để đi truyền lại. Ông nhà tôi bảo, đó là báu vật của cả dòng tộc nhà ta, nó sẽ là gương sáng cho con cháu noi theo, nếu không truyền lại sau này nó mối mọt mất mát đi thì không bao giờ còn lưu giữ lại được nữa”.

Những lời răn dạy và tấm gương đạo đức của Người đã tỏa sáng, giúp bà vượt qua bao khó khăn, gian khổ của chặng đường hoạt động cách mạng. Cho đến khi nghỉ hưu năm 1993, bà vẫn tham gia các hoạt động của địa phương như Bí thư chi bộ thôn Trung Thành, Ban Chấp hành Hội khuyến học của xã trong nhiều năm liền… Hiện nay, bà Dung đã 75 tuổi đời và 50 tuổi Đảng, tuổi đã cao, sức khỏe không tốt nên bà xin nghỉ, sống vui vầy cùng con cháu./.

Theo Trần Huệ – Đức Văn/ Báo Dân trí
Huyền Trang (st)
cpv.org.vn