Thư viện

Hồ Chí Minh trong mắt một người từng “ở phía bên kia”

Long live Uncle Ho

Một bài viết dài hơn 17.000 chữ (gồm cả những phần trích dẫn về Hồ Chí Minh mà tác giả – Giáo sư Trần Chung Ngọc, một tên tuổi trong giới học thuật người Việt ở Mỹ – chỉ đặt một cái tít thể hiện sự khiêm nhường của người viết: Vài nét về “Cụ Hồ”.

Tiếp tục đọc

Advertisements

Việt kiều Mỹ Lê Trọng Văn: Toàn dân Việt Nam nhớ ơn Bác Hồ đời đời

Ngày 9/10/2009. Cập nhật lúc 10h 3′

(ĐCSVN) – Chúng tôi xin đăng bài viết của Việt kiều Lê Trọng Văn, sống ở California. Ông Cửu Long Lê Trọng Văn từng là cố vấn tình báo của Ngô Đình Nhu. Nhưng sau biết Ngô Đình Nhu và chế độ Ngô Đình Diệm làm việc không phải vì dân tộc Việt Nam, ông Văn rút lui. Vì thế ông đã viết rất nhiều sách lên án tội ác của chế độ Diệm (như cuốn hồi ký Những bí ẩn lịch sử dưới chế độ Diệm,Mẹ Việt Nam, NXB Hoa Kỳ năm 1997). Cách đây hơn 10 năm, ông đã có một bài viết Bác Hồ đăng trên Đông Dương Thời Báo.

Trước hết, xin có đôi lời, tôi chỉ là người Việt Nam bình thường như mọi người Việt Nam khác biết yêu thương quê hương và nòi giống Lạc Hồng. Tôi không phải là đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam hay hội viên của bất cứ tổ chức chính trị nào. Sở dĩ tôi viết bài này vì nhận thấy gần đây có nhiều người viết sai sự thật lịch sử về Hồ Chí Minh.

Lý do viết bài viết này

Hôm nay là ngày 2 tháng 9, ngày lễ Độc Lập của nước Việt Nam; để tưởng nhớ đến sự nghiệp cách mạng và công ơn Bác đã lãnh đạo, quy tụ được trí thức, chủ trương toàn dân đoàn kết kháng chiến giành độc lập thắng lợi nên tôi viết bài này.

Đối với tôi, Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là lãnh tụ của riêng Việt Nam mà đích thực, Hồ Chí Minh là vĩ nhân của thế giới, Người đã đi tiên phong trong công cuộc giải phóng Dân Tộc của các nước bị trị bởi thực dân trên toàn thế giới. Không phải bây giờ tôi mới nói điều này mà tôi đã viết trong  quyển:Việt Nam – Những Sự Kiện Lịch Sử trong thế kỷ 20 – trang 201 xuất bản tại Mỹ năm 2005:

“Tất cả công trạng ông Hồ đòi được và nhờ vậy sau này ông Diệm được hưởng, quốc vương Lào SavangVatthana, ông hoàng Norodom Sihanouk của Cao Miên, đòi được độc lập năm 1954; Tunisie được trả độc lập năm 1956, Madagascar năm 1960, Sénegal năm 1960, Congo năm 1960, Cộng hòa Nam Phi năm 1962, Algérie năm 1962; Ấn Độ thuộc địa Anh được độc lập năm 1947 – ngày 14/8/1997 họ mới kỷ niệm 50 năm độc lập, Indonesia được Hà Lan trao trả độc lập năm 1949, Mã Lai Á thuộc địa Anh được độc lập năm  1957, Singapore năm 1958. Chỉ riêng Philippines được Mỹ tự ý trao trả độc lập năm 1946. Tất cả đó là do công của ông Hồ và Đảng Cộng Sản Việt Nam đứng lên lãnh đạo cuộc chiến tranh thần thánh Giải Phóng Dân Tộc, đánh đổ chế độ thuộc địa, chế độ thực dân trên toàn thế giới”.

DVD “Sự Thật về Hồ Chí Minh” chỉ là ác ý, bịa đặt nói xấu

Mới đây, ở nước ngoài, một đám chống Cộng và chống luôn cả Dân Tộc đã hồ hởi làm ra một DVD “Sự Thật về Hồ Chí Minh”. DVD đó là “sản phẩm trí tuệ”(chic) của linh mục Nguyễn Hữu Lễ và ông Trần Quốc Bảo? Và hai người này đồng thời lập ra một tổ chức có tên gọi là “Phong Trào Quốc Dân đòi đổi tên Sài Gòn”.

Thật ra, người ta chỉ mượn danh linh mục Lễ để lôi kéo những người công giáo vào cho đông. Đằng sau  DVD này là nhiều tổ chức, trong đó có Việt-Tân và có nhiều chuyên viên làm phim thực hiện.

Mặc dù DVD được phát không và đã được vận động ồn ào, quảng cáo rầm rộ trên nhiều báo, nhiều đài, nhiều web, nhưng đa số người Việt di tản thầm lặng không mấy hưởng ứng đến nỗi phải quảng cáo phát không và gửi đến tận nhà không mất cước phí.

Sau khi DVD “Sự Thật về Hồ Chí Minh” được tung ra, thì đã có nhiều bài viết đả kích và cũng có nhiều người lên tiếng ủng hộ trong giới chống Cộng.

Tôi cũng được một người bạn gửi tặng DVD quảng cáo “Sự thật về Hồ Chí Minh”, tôi đã xem hai lần, nhưng trong đó không có gì về “Sự Thật Hồ Chí Minh” cả, chỉ nói vớ va, vớ vẩn về đời tư của ông Hồ và kể tội ác của CSVN. Nhiều người có tai tiếng chống Cộng trong cộng đồng người Việt ở nước ngoài có người đã chết như ông Hoàng Văn Chí cũng có tên trong DVD. Còn các người còn sống thì có:  Lê Hữu Mục, Bùi Diễm, Tôn Thất Thiện, Nguyễn Ngọc Bích… và một số người bất mãn với chế độ đã đào ngũ hoặc bị lưu đày xa quê như: Nguyễn Minh Cần, Bùi Tín, Dương Thu Hương, Vũ Thu Hiên… cũng được mời lên tiếng trong DVD. Những người này nói ông Hồ có nhiều tên, ngày sinh nhật không phải ngày 19 tháng 05, ông Hồ có nhiều vợ và đã làm đơn xin việc với Phủ Toàn quyền Đông Dương v.v…

Những người chống Cộng chỉ biết nói cho sướng miệng chứ không biết nghiên cứu, nhận xét sự việc. Vì khi một người nào muốn hoạt động chống lại thực dân phải có nhiều tên để che giấu lý lịch của mình là lẽ đương nhiên. Những người chống Cộng đâu có biết rằng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết những 1205 bài báo và có tới 53 bút danh. Ngày xưa, dưới  thời thực dân việc viết sai hay làm sai ngày sinh là lẽ thường. Còn nói Hồ Chí Minh có nhiều vợ thì mọi người được biết rằng lúc về Hà Nội, Bác chỉ sống độc thân cho tới  lúc chết. Theo tôi, đa số người ta không quan niệm hay chú ý về đường vợ con. Cái mà mọi người để ý đến là Hồ Chí Minh đã đạt được những thành tựu gì trong việc cứu nước? Về vấn đề làm việc hay xin việc làm với chính quyền bảo hộ, tôi cho rằng nếu muốn chống lại kẻ địch thì cách tốt nhất nên đi sâu vào nội bộ địch. Và chẳng nhẽ tất cả những người Việt làm công chức cho Pháp thời ấy đều là Việt gian, phản quốc? Đó là điều họ đã hiểu sai, viết sai và nói sai với mục đích xuyên tạc sự thật.

Tôi có nhận xét việc làm ra DVD này không được đúng, không trung thực và hàm hồ vì những người có liên hệ đến DVD “Sự Thật về Hồ Chí Minh”, họ đều là những người hiện nay đều có lập trường chống Cộng. Hơn nữa, họ không phải là những nhà viết sử chân chính. Họ không phê bình Hồ Chí Minh hay việc làm của ông mà toàn là bịa đặt, xuyên tạc, nói xấu. Xét ra, họ không đủ tư cách để viết hay nói về cuộc đời của Hồ Chí Minh.

Phản tác dụng của nhóm làm DVD “Sự Thật về Hồ Chí Minh”

Hai tác giả của DVD là linh mục Nguyễn Hữu Lễ và Trần Quốc Bảo đã có nhiều tai tiếng trong cộng đồng người Việt ở nước ngoài. Nhất là trong vụ Bùi ĐìnhThi (cựu đại úy của miền Nam), linh mục Lễ đã ra làm chứng trước Tòa  Mỹ nhằm buộc tội ông Thi nên bị nhiều người phản đối. Còn ông Trần Quốc Bảo, người đứng đầu tổ chức đảng Phục Hưng Việt Nam có liên hệ với Việt Tân. Ông Bảo cũng là đại diện của “Phong trào Quốc Dân đòi lại tên Sài Gòn”.

Với linh mục Lễ, xin hãy đọc một đoạn sau đây thì biết linh mục Lễ là người như thế nào. Trong Thư Ngỏ đăng trên báo Người Việt gửi linh mục Nguyễn Hữu Lễ của ông Josep Minh Tong viết:

“Xin hãy trở về với “Thiên Chức Linh Mục” của mình và xin linh mục hãy từ bỏ những bài báo, e-mail mà những cụm từ không mấy tốt đẹp dân gian vẫn dùng kèm theo với chữ “cha” để diễn tả.

Xin cùng dẫn dắt đoàn chiên của ngài đến ăn những đồng cỏ xanh tươi, uống những dòng suối nước trong lành, không có độc tố hận thù, ích kỷ, nhỏ mọn. Tội nghiệp thay cho đoàn chiên Việt chúng tôi đã quá đau khổ trong bao nhiêu năm qua vì hận thù, chém giết. Xin cho chúng tôi và con cháu chúng tôi nghe chuyện yêu thương, tha thứ, rộng lượng và còn biết bao nhiêu giá trị tinh thần khác mà hơn ai hết là một mục tử ắt linh mục biết, nhưng có lẽ đã để lòng thù hận che mất đi từ khi nào.

Cái nhìn của linh mục đã quá ư hẹp hòi và văn chương của linh mục chứa đầy hận thù, ích kỷ và gương xấu. Linh mục có dự định yêu cầu bà con ở Việt Nam chấm dứt xuất ngoại, cũng như đừng gửi thư ra nước ngoài xin giúp đỡ và rồi kiều bào Việt Nam ở hải ngoại đừng gửi tiền về cho thân nhân không? Số tiền giáo dân giúp cho Giáo Hội Việt Nam làm sao sánh được với số tiền khổng lồ mà mà bà con ở hải ngoại gửi về giúp thân nhân hằng năm”.

Còn ông Trần Quốc Bảo, người đứng đầu tổ chức đảng Phục Hưng Việt Namcó liên hệ với Việt Tân. Ông Bảo cũng là đại diện của “Phong trào Quốc Dân đòi lại tên Sài Gòn”.

Việc đòi trả lại tên Saigonđã có người đòi trước ông Bảo. Đó là ông Trân Văn Chi, một người trong tổ chức Hòa Hảo ở gần Los Angelesthường tự xưng là giáo sư (?) Ông Chi đã viết trong quyển sách của ông ta trong đó có một chương “Đòi phải đổi lại tên thành phố Hồ Chí Minh bằng tên cũ Saigon”.

Theo tôi, phải đặt câu hỏi: Ai đòi và đòi ai?

Ông Bảo nói: Quốc dân đòi. Thật ra từ “quốc dân” để chỉ nhân dân ở trong nước. Ngay cả ông Bảo và linh mục Lễ đã xin đổi quốc tịch ViệtNam rồi, đâu còn quốc tịch Việt Namnữa. Hai chữ “quốc dân” dính liền với đồng bào trong nước. Ông Bảo lấy tư cách gì mà hiệu triệu quốc dân đồng bào?

Và nếu đòi được thì đòi bằng cách nào? Đòi với ai?

Chúng ta cứ xem lịch sử Hoa Kỳ thì biết, người dân Mỹ là những dân nhập cư tứ xứ, hợp chủng nhưng người ta không mang trong đầu óc hận thù, thiển cận, hẹp hòi. Miền Bắc thắng miền Nam và đi tới thống nhất đất nước Hoa Kỳ. Họ đâu có nuôi hận thù và gây chia rẽ; trái lại họ đã chung lưng đấu cật, xây dựng một Hiệp chủng quốc Hoa Kỳ giàu mạnh nhất thế giới. Bất kỳ ở bang nào tại Hiệp chủng quốc Hoa Kỳ cũng lấy tên tổng thống Washington; không một bang nào là không có. Vậy thì việc đổi tên thành phố Sài Gòn ra thành phố Hồ Chí Minh không phải là điều lạ mà là điều phổ thông trong lịch sử cận đại.

Lịch sử đã sang trang, dù  những người chống Cộng ở nước ngoài có muốn thay đổi cũng không thể lật ngược được lịch sử.

Làm DVD “Sự Thật về Hồ Chí Minh” để bịa đặt nói xấu và làm tiền</u>

Lý do tại sao làm ra DVD trên đây? Vì những người chống Cộng ở nước ngoài nghĩ rằng, cứ đạp đổ huyền thoại về Hồ Chí Minh tất nhiên sẽ đem lại thắng lợi trong công cuộc chống Cộng. Cái tên “Hồ Chí Minh lừng lẫy khắp năm châu”. Cái tên Hồ Chí Minh đáng ghét làm cho họ ăn không ngon, ngủ không yên nên phải tìm cách hạ cho bằng được, bất kể bằng phương tiện nào?

Mục đích làm ra DVD “Sự Thật về Hồ Chí Minh” để nói xấu ông Hồ, để thỏa mãn thú tính và là chuyện quá khứ… Những người làm DVD Sự Thật về  Hồ Chí Minh có tính chất trục lợi. Nhưng họ đã mua lấy thất bại vì ngây thơ tưởng rằng sẽ bán DVD được nhiều là có tiền. Nhưng sự thật khác hẳn, đa số Việt kiều thầm lặng không ai mua và cũng không muốn xem đồ giả được ráp nối sơ sài. Chỉ có một số ít chống Cộng lấy DVD về xem nhưng lại quên gửi tiền ủng hộ.

Mặt khác, nếu chúng ta xem kỹ DVD sẽ thấy trong DVD, họ đã không cắt xén được sự nghiệp cao cả cứu nước của Hồ Chí Minh.

Những người chống Cộng ở nước ngoài chỉ sống với quá khứ!

Nếu nhận xét kỹ, chúng ta sẽ thấy được những phần tử chống Cộng ở nước ngoài chẳng làm nên trò trống gì mà chỉ biết nói ba hoa, viển vông; sống với dĩ vãng quá khứ chẳng có gì là tốt đẹp như vấn đề “cờ vàng ba sọc đỏ” chẳng hạn. Họ đều gọi cờ đó là quốc kỳ. Nếu đã là quốc kỳ thì phải có đủ các yếu tố: lãnh thổ, chủ quyền và nhân dân làm gốc. Thiếu một trong những điều kiện trên đây thì sao gọi là quốc kỳ được? Hiện tại, họ là những cây tầm gửi sống trên đất người. Hơn ba chục năm chống đối Việt Namtừ chống Cộng đi tới chống lại Dân Tộc, chưa có lần nào đạt được thắng lợi cho dù là cỏn con. Kết quả là đi từ thất bại này đến thất bại khác; riết rồi hy vọng trở thành ảo vọng. Hiện tại thì gẫy đổ, tương lai thì mù mịt, quanh quẩn chỉ đấu láo với nhau và nuôi dưỡng hận thù. Họ không có gì để bá víu nên chỉ sống với quá khứ để tự an ủi lấy mình, sống cho qua ngày vì họ đã tự mình đánh mất quê hương.

Bước đầu tiên là họ chống giải tỏa cấm vận Việt Namđã thất bại. Sau đó là cấm gửi tiền về cho thân nhân ở trong nước cũng đi tong. Thứ đến, chống việc đặt quan hệ ngoại giao giữa Hoa Kỳ và Việt Namcũng thất bại. Chống  không cho Việt Nam vào WTO cũng thất bại. Gần đây, Chính phủ Việt Nam đã cho lập thêm một Tòa Tổng Lãnh Sự Việt Namtại Houston, Texas. Cách đây chỉ chừng vài năm về trước, văn hoá phẩm Việt Namđược họ gọi là văn hóa nhà quê, răng đen mã tấu. Nhưng hiện nay báo chí trong nước và băng nhạc trong nước đã tấn công văn hóa chống Cộng; các tiệm Việt Nam bán nhạc có đầy rẫy đĩa  nhạc xuất phát từ Việt Nam. Thậm chí đến Đài Truyền hình Việt Nam VTV4 đã công khai và lan tràn đến với từng nhà bà conViệt kiều với nỗi vui mừng được thấy hình ảnh đẹp đẽ tuyệt vời của quê hương hiện lên màn hình. Cái đau đớn nhất của họ là hai vấn đề chống để rồi mua lấy thất bại đau thương. Đó là cấm Việt kiều về thăm quê hương Việt Nam và gửi tiền về cho thân nhân ở trong nước mà cứ mỗi năm gần đến Tết là Việt kiều về nước ăn Tết mỗi ngày có đến hàng chục nghìn người.Và theo con số thống kê thì kiều hối gửi về năm rồi lên đến 7 tỉ đô.

Những nhà viết sử chân chính mới có đủ tư cách viết về cuộc đời của Hồ Chí Minh

Điều trước tiên, phải thành thật nói rằng, những người chống Cộng và làm DVD “Sự thật về Hồ Chí Minh”, họ không phải phê bình đúng cách mà chỉ biết đặt điều nói xấu, kể ra những điều không đúng sự thật và như vậy là bịa đặt. Họ chỉ nói theo cảm quan của riêng mình. Họ không có khả năng lý  luận như những nhà viết sử chân chính và không khách quan nhìn vào những sự việc đã thực sự xảy ra.

Nói chung, họ không đủ tư cách để viết về cuộc đời và việc làm của ông Hồ trong việc tranh đấu giành lại độc lập, thống nhất cho nước nhà.

Bằng chứng khác, ở Hoa Kỳ là một đất nước tự do, tuy có chiến tranh Việt Namxảy ra nhưng không vì lẽ đó mà họ cho rằng ông Hồ Chí Minh là người xấu. Nên ở các Thư viện ở Mỹ, Thư viện nào cũng có sách của người Mỹ viết về Hồ Chí Minh. Không riêng gì ở Mỹ mà ở Canada, Úc, Tân Tây Lan, và các nước châu Âu, Thái Lan, Nhật Bản…, bất kỳ Thư viện nào cũng có sách viết về cuộc đời của Hồ Chí Minh.

Cũng vì vậy mà chúng ta thấy có nhiều tác giả người ngoại quốc từ Mỹ, Canada, Úc, Tân Tây Lan, Thái Lan, Nhật Bản, Pháp, Đức… viết sách về Hồ Chí Minh vì họ quan niệm Hồ Chí Minh là người của lịch sử. Sách của họ viết có dẫn chứng và trung thực khách quan. Tôi không có khả năng liệt kê hết các tên tuổi của những tác giả ngoại quốc khác viết về Hồ Chí Minh. Xin có lời thành thât xin lỗi quý vị vì điều thiếu sót này. Và sau đây là tên các tác giả(1) viết về Hồ Chí Minh mà tôi đã xem qua:

1- Pierre Brocheux với quyển Biography of Ho-Chi Minh.

2- Peter A. Decaro với quyển Ho Chi Minh Rhetoric for Revolution.

3- Peter Deway với quyển Strategy,Tactics & Ho Chi Minh.

4- William  J. Duiker với quyển Ho Chi Minh: A life.

5- Charles Fenn với quyển Uncle Ho.

6- Frances Fitzgerald với quyển Chairman of the Worker’s Party of Vietnam.

7- Bamber Gascoigne với quyển Ho Chi Minh – Nguyen Sinh Cung

8- Jean Lacouture với quyển A Political Biography.

9- Milton Osborne với quyển A History of Ho Chi Minh trail.

10- Sukprida Phanomyong(2) với quyển Prathet Viet Namkab Lung Ho (Nước Việt Namvà Bác Hồ).

Một bằng chứng hùng hồn khác là ở Thái Lan, mặc dù chính phủ Thái thân Mỹ nhưng họ vẫn công nhận Hồ Chí Minh là một nhà lãnh đạo có tài, có đức nên chính phủ trung ương đã cho phép chính quyền địa phương lập ra những nhà lưu niệm để giữ kỷ vật của Bác Hồ khi Người còn ở Thái Lan hoạt động và tổ chức cán bộ. Hiện ở các tỉnh: Phi chịt, Mahả Sảrakham, Sakol Nakhorn, Nakhorn Phanôm, Uđon có các nhà lưu niệm kỷ vật của Bác Hồ.

Tại sao Việt kiều Thái Lan rất sùng kính Bác Hồ? Vì rằng họ đã thấy tận mắt những gì Bác Hồ bươn chải, gian lao, khó nhọc khi đi làm cách mạng vì  nước vì dân nên đặt niềm tin nơi Bác. Chúng ta thử nghĩ xem, không nhẽ Việt kiều ở Thái Lan, tất cả đều là những người  thơ ngây, nhẹ dạ. Bạn cứ đến vùng Đông-Bắc Thái Lan bạn sẽ thấy Việt kiều, nhà nào cũng có bàn thờ Tổ Quốc, trên bàn thờ đều có quốc kỳ nền đỏ sao vàng và ảnh bán thân của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Phải thành thật mà nói rằng Việt kiều Thái Lan trang trọng thờ kính Bác Hồ như một vị thánh sống. Xem như vậy đủ biết uy tín của Bác như thế nào. Dưới suối vàng, Bác sẽ mỉm cười với sự nghiệp cách mạng mà Bác đã lựa chọn.

DVD “Sự Thật về Hồ Chí Minh” là chuyện đáng xấu hổ

Ở nước ngoài, những thành phần phản động, vô Tổ Quốc làm DVD Sự Thật về Hồ Chí Minh nhằm mục đích phá vỡ huyền thoại về Hồ Chí Minh đã mang lấy thất bại vì không được sự hưởng ứng của đa số Việt kiều thầm lặng, họ chẳng thèm để ý đến và cho đó là chuyện đáng xấu hổ. Cho nên nhóm làm DVD “Sự Thật về Hồ Chí Minh” không đạt được mục đích. Trái lại, họ còn bị đả kích dữ dội.

Khách quan mà nói, cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trở thành đối tượng nghiên cứu cho khoa học. Đó là tư tưởng Hồ Chí Minh.

Còn đối với thế giới, Hồ Chí Minh đã từng nói: “Xây dựng khối hòa bình gồm nhiều dân tộc, coi nhau như bầu bạn, cùng sống với nhau trên những nguyên tắc hòa mục hữu nghị, cùng nhau ra sức giữ gìn hòa bình thế giới”.

Người mong muốn như vậy và hành động vì mục tiêu đó – vì dân tộc và nhân loại. Vì vậy, UNESCO đã công nhận Hồ Chí Minh là Anh hùng Giải phóng Dân tộc, một nhà Văn hóa lớn vì Người đã làm sáng tỏ khát vọng ý chí của các dân tộc, giải quyết các mối quan hệ bằng phương thức hòa bình vì tương lai của nhân loại.

*

Với riêng tôi, tôi kính trọng Bác Hồ về nhiều mặt: trí tuệ, tài đức (cần- kiệm -liêm-chính)… Thật vô cùng khâm phục, lúc Bác lìa đời tài sản riêng để lại chỉ có bộ quần áo kaki và đôi dép râu.

Tôi cũng rất lấy làm tiếc, Bác chết đi không có truyền nhân để lại như Chủ tịch Kim Nhật Thành và Chủ tịch Fidel Castro.

Kết luận

Vai trò lịch sử của Hồ Chí Minh

Với Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung chỉ có giáo mác, ngựa voi. Với Hồ Chí Minh chỉ có tầm vông vạc nhọn và vài khẩu súng lỗi thời so với địch là các cường quốc có máy bay, xe tăng, pháo binh, xe lội nước, tàu chiến và nhiều tiền cùng với chư hầu tay sai và đạo quân thứ năm lúc nào cũng sẵn sàng phản bội Tổ Quốc để làm nội ứng cho quân thù là một cuộc đọ sức không cân sức. Thế mà, do tài tổ chức, lãnh đạo thao lược và nhất là do trí tuệ của Hồ Chí Minh đã đạt được thắng lợi và thống nhất đất nước. Hồ Chí Minh đích thực là anh hùng vĩ đại nhất trong lịch sử Việt Nam và là ngọn hải đăng của các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới. Điều đó không ai có thể phủ nhận được. Cuộc đời của Người vĩ đại không chỉ trong lịch sử Việt Nam mà trong cả lịch sử thế giới.

California, viết để kỷ niệm ngày Độc Lập 2 tháng 9

Theo tạp chí Hồn Việt

cpv.org.vn

Vài nét về Cụ Hồ – Phần 2

Trên Đàn Chim Việt, Minh Võ có viết bài phê bình cuốn “Ho Chi Minh, A Life” của William J. Duiker. Sau đó Minh Võ còn “đọc lại Trần Dân Tiên” và đưa ra một số ý kiến. Đọc hai bài này, chúng ta thấy rõ trình độ của ông Minh Võ không thể gọi là trình độ, kiến thức của Minh Võ không thể gọi là kiến thức. Tôi không có ý định phê bình chi tiết hai bài trên của ông Minh Võ, chỉ duyệt qua vài điểm, cùng trình bày vài ý kiến của độc giả về ông Minh Võ để chúng ta thấy rõ Minh Võ thuộc loại người nào. Trước đây, trên trang nhà Giao Điểm, Hà Giang đã có bài nhận định về cuốn “Ho Chi Minh” của Duiker, viết đứng đắn và nghiêm chỉnh hơn ông Minh Võ rất nhiều. Link: http://www.giaodiem.com/doithoaiII/Hagiang_hcm.htm

Trước hết, Lê Duy Khoa trên Đàn Chim Việt đã vạch ra rằng ông Minh Võ đã áp dụng bậy bạ tam đoạn luận để phỉ báng ông Hồ như sau:

a) Chủ nghĩa cộng sản của Karl Marx là sai lầm, dối trá, tàn ác, phản nhân đạo, phản dân tộc. [TCN = Đây là một khẳng định vô trách nhiệm (affirmation gratuite). Cũng như Trần Mạnh Hảo, ông Minh Võ, không hiểu gì về Marx mà cứ viết bậy về Marx. Thế giới ngày nay đánh giá Marx như thế nào? Vị trí của Marx trong số những tư tưởng gia vĩ đại của thế giới là như thế nào?. 1. “Theo kết quả thăm dò ý kiến  thính giả đài BBC Radio 4 trong tháng 7, 2005 thì, trong số 20 tư tưởng gia được biết đến, kính trọng, và có ảnh hưởng nhiều nhất, Marx lại được coi như là một triết gia vĩ đại nhất của mọi thời đại”??. [BBC Press Release: 13-7-2005: Out of a shortlist of twenty of the best known, most respected and influential philosophical thinkers, nominated by the In Our Time audience, Karl Marx has been voted the Greatest Philosopher of all time by BBC Radio 4 listeners.] Theo bảng kết quả thì David Hume, một nhà nhân bản, xếp hạng 2, Nietzshe hạng 4, Kant hạng 6, và Aquinas của Ki-tô Giáo hạng 7.2. “Kết quả chọn vĩ nhân của Đức Quốc, với con số tham dự trên 5 triệu người, Karl Marx đứng hàng thứ 3 trong 100 ứng viên, Albert Einstein đứng hàng thứ 10 (www.unserebesten.zdf.de). Lạ nhỉ, cả thế giới trí thức này mù và ngu cả hay sao mà không nhìn và đánh giá Marx như ông Minh Võ? ]

b) Hồ Chí Minh là người theo chủ nghĩa cộng sản [Không ai phủ nhận điều này]

c) Kết luận: không thể coi HCM là nhân đạo, yêu nước, anh hùng mà phải coi ông ta là tội đồ ác ôn của đất nước. 

Chúng ta thấy ngay, ông Minh Võ đã dựa trên sự hoàn toàn sai lầm của mình trong vế a) để đưa đến một kết luận tất nhiên cũng hoàn toàn sai lầm trong vế c). Nhưng không phải chỉ có vậy. Đọc Minh Võ, chúng ta thấy rõ qua giọng văn một sự thù hận ngất trời và phản ánh một trình độ hiểu biết quá thấp kém của mình. Đối với tôi, Minh Võ không phải là người đáng để tôi phê bình về những “tác phẩm” của ông ấy, tôi để dành điều này cho một số độc giả trên Đàn Chim Việt trong phần trích dẫn ở cuối bài. Ở đây tôi chỉ muốn nêu ra một lý luận rất ngớ ngẩn nếu không muốn nói là ngu xuẩn của ông Minh Võ khi phê bình đoạn sau đây của Duiker.

 “Bất kể cuối cùng người đời phán xét về di sản của ông [Hồ] để lại cho dân tộc mình ra sao, ông Hồ đã chiếm được một chỗ trong ngôi đền thờ những anh hùng cách mạng từng đấu tranh mạnh mẽ để những người cùng khổ trên thế giới có được tiếng nói đích thực của họ.”

Vì Nhà Nước VN muốn dịch cuốn “Hồ Chí Minh” của Duiker nhưng muốn bỏ đi những đoạn nói về đời tư của ông Hồ, nên ông Minh Võ phê bình như sau: “Hồ Chí Minh đã tạo ra cái di sản ngăn cấm ngay tiếng nói của một sử gia [Duiker] thì có thể là bậc anh hùng đã đấu tranh mạnh mẽ cho tiếng nói đích thực của những kẻ cùng khổ được cất lên chăng?”

Thứ nhất ông Minh Võ không hiểu thế nào là di sản. Thứ nhì, cái di sản ông Hồ để lại cho dân tộc là nền độc lập quốc gia sau khi cất bỏ được chế độ thuộc địa của thực dân Pháp trên đất nước, và tiếp nối bởi chính ông và những người sau ông trong việc thành công đi đến sự thống nhất đất nước. Di sản đó tuyệt đối không phải là chính sách luôn luôn thay đổi của Nhà Nước và lẽ dĩ nhiên không phải là yêu cầu của Nhà Xuất Bản Chính Trị Việt Nam đối với Nhà Xuất Bản Hyperion ở New York như chúng ta thấy trong tài liệu sau đây trên Internet:

“Trong một bức thư cho nhà Xuất Bản Sách Hyperion ở New York, Nhà Xuất Bản Chính Trị Quốc Gia của chính quyền (VN) đã nói rằng họ chỉ muốn bỏ đi vài đoạn trong cuốn sách của Duiker “không phù hợp với những thông tin trong hồ sơ của họ.” (In a letter to New York publisher Hyperion Books, the state-run National Politics Publishing House has said only that it wants to remove certain passages from the Duiker biography that “do not conform with the information in our files”.)

Đây có phải là một hành động ngăn cấm hay không, hay chỉ là một đề nghị thương thuyết? Đầu óc như vậy mà ông Minh Võ muốn làm việc đội đá vá trời là xóa bỏ thần tượng Hồ Chí Minh thì đúng là sự mơ tưởng hão huyền của những kẻ cuồng tín vô minh.

Một nhận định khác có tính cách phóng đại rất lố bịch của ông Minh Võ về cuộc cải cách ruộng đất như sau:

“Thời ông HCM cũng thế nếu ông ấy tôn trọng Hiến pháp sao ông lại làm cải cách ruộng đất giết chết hơn nửa triệu người.?”

Ông lấy con số “hơn nửa triệu” này ở đâu ra? Chắc chắn là ông chưa hề đọc đến những công cuộc khảo cứu rất sâu rộng về Cải Cách Ruộng Đất ở Việt Nam: Mục đích, kết quả, số nạn nhân v..v.. của Gareth Porter, Edwin E.Moise, Noam Chomsky và Edward S.Herman. Rất có thể ông chỉ tin vào con số đoán mò của Hoàng Văn Chí, người đã thú nhận là con số nạn nhân trong cuộc cải cách ruộng đất chỉ là đoán mò sau khi bị Gareth Porter công khai vạch ra những sự giả mạo trong tài liệu của Chí [Chi eventually conceded that his number of victims of the land reforms to be merely a “guess” (The Washington Post, 13 September, 1972). This admission came after Porter had made Chi’s falsification public.] Thật là đẹp mặt cho Hoàng Văn Chí và cho cả Minh Võ.

Theo những tài liệu của Noam Chomsky và Edward S. Herman cũng như của Gareth Porter và Edwin E. Moise thì Hoàng Văn Chí vốn là một địa chủ ở ngoài Bắc, sau đó làm cho Bộ Thông Tin của Chính Quyền miền Nam, rồi làm việc cho CIA và làm thông dịch viên cho Cơ Quan Thông Tin Hoa Kỳ. Trong bài “The Myth of the Bloodbath: North Vietnam’s Land reform Reconsidered” (Bulletin of Concerned Asian Scholars, September 1973, pp. 2-15), Gareth Porter đã vạch ra vài đoạn Hoàng Văn Chí dịch bậy bài thú nhận có sai lầm trong việc thi hành cải cách ruộng đất của Tướng Võ Nguyên Giáp với mục đích giúp quan thầy Mỹ và miền Nam tuyên truyền xuyên tạc, thí dụ:

“Chúng ta không chú trọng đề phòng lệch lạc” đáng lẽ phải dịch là “We did not pay attention to precautions against deviation” thì Hoàng Văn Chí dịch là “Chúng ta phạm phải quá nhiều lệch lạc” (We made too many deviations); “Xử trí oan những người ngay” thay vì dịch là “the unjust disciplining of innocent people” thì Chí dịch là “hành quyết quá nhiều người lương thiện” (executed too many honest people); “không nhấn mạnh phải thận trọng, tránh…” [did not emphasize the necessity for caution and for avoiding] thì Chí bỏ đi không dịch (omitted); “dùng những biện pháp trấn áp quá đáng” [used excessive repressive measures] thì Chí dịch là “xử dụng để khủng bố” (resorted to terror); “thậm chí dùng phương pháp truy bức” [even coercive measures were used] thì Chí dịch là “tệ hơn nữa, tra tấn” (worse still, torture) v..v.. và còn thêm thắt vào những đoạn không có trong bản văn như “nhìn thấy kẻ thù khắp nơi” (seeing enemies everywhere) mà Gareth Porter không tìm thấy trong bản gốc (not in original). Noam Chomsky và Edward S. Herman còn vạch ra rằng, trong những cuộc phỏng vấn vào năm 1955, Hoàng Văn Chí không hề nói gì đến cuộc cải cách ruộng đất và con số những nạn nhân. Chỉ trong vài năm sau, sau khi Mỹ và Saigon biết đến những vấn đề trong cuộc cải cách ruộng đất từ những cuộc thảo luận trên báo chí ở Hà Nội mà Moise cho là “thẳng thắn kỳ lạ trong sự thảo luận những sai lầm và thất bại” (sometimes extraordinarily candid in discussing errors and failures”, Chí mới “nhớ lại” những điều viết trong tài liệu của mình.

Noam Chomsky và Edward S. Herman viết trong cuốn The Political Economy of Human Rights, Vol. ISouth End Press, Boston, 1979, trang 342:

“Nguồn thông tin căn bản về những con số giết chóc lớn trong cuộc cải cách ruộng đất ở Bắc Việt là từ những người của CIA hoặc Bộ Thông Tin Tuyên Truyền Saigon. Theo một người Việt Công giáo nay sống ở Pháp, Trung Tá Nguyễn Văn Châu, Chỉ Huy Cơ Quan Chiến Tranh Tâm Lý Trung Ương của quân đội Saigon từ 1956 đến 1962, số nạn nhân bị “tắm máu” trong cuộc cải cách ruộng đất  là “100% dựng lên” bởi cơ quan tình báo Saigon. Theo Trung Tá Châu, một chiến dịch có hệ thống dùng các tài liệu ngụy tạo để bôi nhọ đối phương được thi hành vào giữa thập niên 1950 để biện minh cho sự kiện là Diệm từ chối không thương thuyết với Hanoi trong việc sửa soạn tổ chức cuộc bầu cử để thống nhất đất nước quy định vào năm 1956.” (The basic sources for the larger estimates of killings in the North Vietnamese land reform were persons affiliated with the CIA or the Saigon Propaganda Ministry. According to a Vietnamese Catholic now living in France, Colonel Nguyen Van Chau, head of the Central Psychological War Service for the Saigon Army from 1956 to 1962, the “bloodbath” figures for the land reform were “100% fabricated” by the intelligence services of Saigon. According to Colonel Chau, a systematic campaign of vilification by the use of forged documents was carried out during the mid-1950s to justify Diem’s refusal to negotiate with Hanoi in preparation for the unheld unifying elections originally scheduled for 1956)

Giáo sư sử học James P.Harrison cũng viết trong cuốn The Endless War:  Vietnam Struggle For Independence, Columbia University Press, 1989, trang 149:

“Tuy nhiên, những cuộc nghiên cứu kỹ về sau đã ước tính là con số những người bị giết trong cuộc cải cách ruộng đất ở ngoài Bắc là vào khoảng 1500 cộng với 1500 bị cầm tù, theo một tác giả, hoặc có thể lên tới 15000 theo một tác giả khác, và do đó hầu hết những con số tuyên truyền của Saigon về vấn đề này là những con số phóng đại nếu không phải là hoàn toàn dựng đứng.” (Careful later studies, however, have estimated that the true figures for those executed in the noerthern land reform may have been more like 1500 plus 1500 jailed according to one, or possibly up to 15000 killed according to another, and therefore that most of Saigon’s propaganda on the subject was exaggerated if not a “total fabrication”.)

Giáo sư Pierre Brocheux viết trong bài “Con Người Trở Thành Hồ Chí Minh” , trang 34:

“Đối với Hồ Chí Minh, tập thể hóa đất đai là sự bảo đảm phân chia đồng đều tài sản. Nhưng ông ta tố cáo sự dùng những hành phạt thể xác đối với các địa chủ và các nông dân giàu có và yêu cầu thi hành một chương trình sửa sai những sự bất công và phục hồi những sở hữu của nông dân thuộc quyền của họ (1956). Nhưng ông ta phải nhượng bộ trước đa số trong Đảng. Chiến dịch cải cách ruộng đất làm cho ít nhất là 15000 người chết.” (Pour Ho Chi Minh, la collectivisation des campagnes est la garantie d’une répartition égalitaire des resources. Mais il dénonce l’utilisation des peines corporelles contre les “propriétaires fonciers et riches paysans” et demande une programme de correction des injustices et la restauration des paysans propriétaires dans leurs possessions et leurs droits (1956). Il s’incline pourtant devant la majorité du Parti. La réforme agraire côutera la vie à 15000 personnes au moins.)

Về con số “hơn nửa triệu” của ông Minh Võ, chúng ta có thể đối chiếu với một số tài liệu khác: Của Gareth Porter: từ 800 đến 2500; của Edwin E. Moise (sau một công cuộc nghiên cứu sâu rộng hơn): vào khoảng 5000 và chắc chắn trong khoảng từ 3000 đến 15000; của Trương Như Tảng, David Chanoff và Đoàn Văn Toại trong cuốn “A Viet Cong Memoir”: nhiều ngàn (thousands); của Bùi Tín trong Mặt Thật: “lên tới mười mấy ngàn”; của Vũ Thư Hiên: từ 4000 đến 5000. Chúng ta không thể biết chính xác con số bị giết trong cuộc cải cách ruộng đất. Nhưng xét đến số làng mạc, ruộng đất ở ngoài Bắc, số địa chủ thực sự, số nông dân nghèo khổ phải thuê đất [một số của Nhà Chung] để cầy cấy v..v.. thì con số “hơn nửa triệu” của ông Minh Võ là con số chỉ có trong đầu của ông Minh Võ.

Trên diễn đàn Đông Dương Thời Báo, tháng 5, 2006, chúng ta có thể đọc một đoạn về cải cách ruộng đất của chủ biên người Công Giáo, Giu-se Phạm Hữu Tạo, như sau:

Thật vậy, Hồ Chí Minh thực hiện cải cách ruộng đất, muốn lấy lại đất mà không phải giết nhiều người,  vì lúc đó các địa chủ có tiền bạc tài sản, chạy thoát trước về vùng Pháp chiếm đóng… Cải cách ruộng đất là việc phải làm ở trong Nam cũng như ngoài Bắc. Phải lấy lại đất của Pháp, của nhà Chung để chia cho cán bộ và nông dân có sức lực và siêng năng cần cù mà không có đất để sống và cày bừa và hy sinh cho cách mạng quyết dành chủ quyền – độc lập – thống nhất đất nước … Chính sách cải cách ruộng đất đương nhiên là đụng đến Giáo hội và giáo dân Công giáo Việt gian, cho nên chúng ta không lạ gì tại sao người Công giáo căm thù CSVN và ngụy tạo bôi đen chính sách Cải Cách Ruộng Đất.

Hiện tượng Minh Võ thì hầu như ai cũng biết về ý đồ và trình độ của ông ta như thế nào. Để quảng cáo cho cái ý đồ này, ông ấy nhờ một người quen biết trẻ hơn, có cùng trình độ như ông ấy, lên tiếng quảng cáo cho cuốn Hồ Chí Minh: Một Nhận Định Tổng Hợp của ông ấy trong buổi ra mắt sách.  Đó là ông Huỳnh Lương Thiện. Nhưng đọc Huỳnh Lương Thiện chúng ta thấy rõ là trình độ của ông ấy cũng chẳng hơn Minh Võ là bao nhiêu. Chứng minh?

Ông Huỳnh Lương Thiện phát ngôn:

Tôi nghĩ rằng tôi chỉ đáng em hay con của rất nhiều vị ngồi trong phòng này mà thôi. Thế mà quý vị có thể tưởng tượng là có kẻ khi tuổi còn nhỏ hơn, chỉ đáng em của tôi thôi mà đã dám xưng là bác với cả nước chúng ta. Quý vị biết đó là ai không? Hồ Chí Minh. Vâng, cám ơn quý vị đã cho biết kẻ đã dám xưng bác với cả nước là Hồ Chí Minh, tôi cũng biết điều đó. Tuy nhiên phải đến khi đọc cuốn sách này của bác Minh Võ thì tôi mới biết thêm là họ Hồ đã dám xưng bác với cả nước khi chỉ mới 55 tuổi, bằng tuổi cô em gái tôi.

Thưa quý vị, tôi tuổi Canh Dần, 56, 57 tuổi rồi và đó là một trong hàng chục, hàng trăm dữ kiện độc đáo, đặc biệt mà tôi đã tìm thấy trong cuốn sách này.

Như vậy là ông Huỳnh Lương Thiện sinh khoảng năm 1949-1950, tất nhiên đích thân không biết gì về ông Hồ Chí Minh mà chỉ biết qua những sự kiện mà ông ấy cho là độc đáo trong cuốn sách của Minh Võ. Rõ ràng là, dựa vào điều viết bậy của Minh Võ trong cuốn sách của ông ấy, Huỳnh Lương Thiện đã phát ngôn bậy như trên. Nhưng dữ kiện trên có thật là độc đáo không?  Rất có thể là độc đáo ở chỗ đã để lộ cái trình độ vô cùng thấp kém của mình về văn hóa và ngôn ngữ Việt Nam.

Thứ nhất, từ “Bác” mà ông Hồ Chí Minh dùng chỉ để nói với các “cháu nhỏ” trong vòng thân tình như người trong một nhà. Bác, nguyên nghĩa là anh của Bố hoặc Mẹ, và người Việt Nam thường dùng tiếng “Bác” để gọi thay con. Tiếng Bác cũng còn được dùng giữa các bạn bè cao tuổi dù rằng người bạn kém tuổi mình “Nguyễn Khuyến: Kể tuổi tôi còn hơn tuổi bác (Dương Khuê)”. Ông Hồ có thói quen là bất chợt đi thăm các em nhỏ trong trường học và nói những chuyện “Bác cháu ta”. Chưa ai thấy ông Hồ xưng là Bác với cả nước như ông Huỳnh Lương Thiện đã nói bậy dựa theo lời viết bậy của Minh Võ bao giờ. Người dân Việt Nam gọi ông Hồ là “Bác” nghĩa là coi ông như là bậc trưởng thượng thân tình của các con cháu trong nhà. Các ông chống Cộng mà chẳng biết gì về văn hóa và ngôn ngữ Việt Nam. Hãy đọc Peter A. DeCaro ở  Buena Vista University viết về ông Hồ Chí Minh (acjournal.org):

“Chức “Bác” của ông Hồ phải được hiểu trong ngữ cảnh của nền văn hóa Trung Hoa trong đó người cao tuổi hơn được đặc biệt tôn kính.  Bác (big uncle) là từ dùng để chỉ người anh của Bố hoặc Mẹ, người em nhỏ tuổi hơn gọi là “Chú”. Thật là tự nhiên khi người dân gọi [ông Hồ] là “Bác Hồ” vì những đồng nghiệp của ông ta thuộc một thế hệ trẻ hơn.  Do đó Bác là một từ thân thuộc và những người Cộng Sản ở miền Bắc thường đưa ra sự kiện là mọi gia đình đều coi Bác Hồ là một thành phần vinh dự của gia đình. Còn nữa, Bác đồng nghĩa với cách cư xử dân chủ: người Cha có thể ra lệnh, nhưng người Bác [hay Chú] chỉ có thể đưa ra những lời khuyên.”

(Ho’s title of “Bac” must be understood in the context of Chinese culture in which the eldest members of society enjoy especial veneration. Bac means “big uncle;” it is the term used to denote the elder brother of a father or mother while the younger brother is referred to as Chu, “little uncle.” It was only natural that people began to speak of Bac Ho because his closest colleagues already belonged to a younger generation. Bac is therefore a familiar term and the Communists in North Vietnam liked to point out that every family considered Bac Ho an honored member.  In addition, Bac is synonymous with democratic conduct; the father can command, but the uncle only advises.)

Ông Minh Võ cũng như ông Huỳnh Lương Thiện hiển nhiên là những người không biết ngượng vì chính cái trình độ hiểu biết thấp kém của mình về xã hội Việt Nam so với một người ngoại quốc như Peter A. DeCaro. Nhưng, như đã nói ở trên, các ông thuộc lớp người chỉ viết bậy, cốt hả lòng thù hận, cho nên không cần đến trí tuệ, không cần đến kiến thức, không cần đến trình độ, và không cần đến liêm sỉ. Tôi nghĩ rằng đối với những người như các ông, tôi không nên phí thêm thời gian để phê bình nữa. Nhưng có điều các ông cần biết, là thủ đoạn và trình độ của các ông không thể qua mắt được lớp trẻ ngày nay.

Vậy sau đây, tôi xin nhường chỗ cho vài tiếng nói của lớp trẻ trên Đàn Chim Việt:

1) Tôi cho rằng chính vì không tự mình tìm hiểu vấn đề một cách chủ động, giống như ông bạn Lương Thiện đăng đàn ở trên, bạn đã rơì quá dễ dàng vào những thứ lý sự quá đơn giản của những nhà nghiên cứu nửa mùa kiểu Minh Võ. Bạn hãy thử đề nghị Minh Võ đem dịch cuốn sách của mình ra tiếng Mỹ để xem những học giả Mỹ nghĩ gì. Cam đoan với bạn không đáng một cái nhếch mép! Trong nghiên cứu, kết luận về vấn đề nêu ra không quan trọng bằng cái phương pháp nghiên cứu đã dẫn đến kết luận ấy, đó là điều căn bản. Xin bạn lưu ý: đây là một vấn đề sử học, một vần đề khoa học chứ không phải là chuyện biểu diễn diễn lập trường, hoặc tệ hơn nữa bộc lộ oán thù, phục hận.

2) Tôi chưa đọc cuốn sách “HCM, Nhận định tổng hợp” của Minh Võ nhưng đã “thử” đọc mấy bài viết của Minh Võ trên DCV Online, vàchưa lần nào “tiêu hóa” nổi trọn vẹn một bài của Minh Võ. Không thể “tiêu hóa” nổi vì giọng văn của Minh Võ đầy hằn học và hận thù; người đọc (ngay cả lớp trẻ) có thể dễ dàng nhận thấy đó là giọng văn của một loser. Không thể “tiêu hóa” nổi vì những phân tích và nhận định của Minh Võ chẳng dựa trên phương pháp luận khoa học và những tài liệu lịch sử nào. Còn những bài viết của HCM để tuyên truyền, kêu gọi người dân đứng lên giành độc lập cho đất nước là những nghệ thuật vĩ đại; nó sánh như Nguyễn Trãi khi bôi mỡ vào lá cây cho kiến ăn để tạo ra dòng chữ “Lê Lợi làm vua, Nguyễn Trãi làm tôi”, hoặc là truyền thuyết về anh em vua Quang Trung thuần phục được ngựa thần trên núi.

Sách của Minh võ là tiểu thuyết để giải trí ư? Không đáng; là sách lịch sử ư? Không phải. Có thư viện nào người ta mua và lưu trữ sách của Minh Võ không? Không có. Cái ông Lương Thiện gì đó chẳng lương thiện tí nào đang quảng cáo sách cho Minh Võ đó; và cũng nhân cái diễn đàn này ông ta gài thêm mấy khẩu hiệu chống cộng cũ rích – cũng là giọng hằn học của một loser.

3) Anh Lương Thiện và Minh Võ đã lấy cái định kiến ác ý cuả chính mình, hội đoàn mình để chủ trương bôi nhọ chủ tịch Hồ Chí Minh- Một nhân vật vĩ đại, kiệt xuất số một; Vô tiền, khoáng hậu trong lịch sử VN và nhân loại. Đó là những lời vu khống; Lập lờ đánh lận con đen; Câu chữ cắt xén, biạ đặt một cách có chủ ý, có kế hoạch hòng làm lu mờ thần tượng vĩ đại của dân tộc ta.

Những người có thiện ý, thiện tâm… Thường có con mắt bao dung, độ lượng, nhìn vào mặt sáng, khai thác mặt sáng – Mặt tích cực. Công đức và thành tựu mà các vị giáo chủ hay vĩ nhân đó đã làm được cho dân, cho nước và nhân loại. Còn kẻ tiểu nhân đã mang sẵn định kiến hận thù thì sẽ làm ngược lại. Họ cũng biện chứng, dẫn chứng, có lang, có lớp như ai.. Nhưng đó chỉ là cách ngụy biện rẻ tiền. Chỉ cần chú ý đôi chút là ta sẽ nhìn rõ chân tướng chúng.

4) Rêu rao là người hiểu biết sâu sắc về chủ nghĩa cộng sản nhưng kiến thức của Minh Võ về vấn đề này chỉ là một con số không to tướng. 1) MV đã sai lầm hoàn toàn khi đồng hoá Marx với Đệ tam Quốc tế của Lenin. Học thuyết Marx là sản phẩm của xã hội tư bản phương Tây thế kỷ 19 trong khi đó ĐTQT là phản ứng của những nước ngoại vi với các nước giàu đã trở thành thực dân, đế quốc. 2) MV chỉ biết Marx qua Tuyên ngôn cộng sản 1848, không đếm xỉa gì đến những tác phẩm khác của Marx. Ngay cả với Tuyên ngôn này, MV cũng chỉ bám vào những từ ngữ tách rời khỏi hệ thống lý luận mà Marx đã mang ý nghĩa cho chúng (tư hữu, vô sản, quốc tế vô sản, chuyên chính…). 3) MV không hiểu biết gì về những mâu thuẫn thực tế của lịch sử hiện đại – giữa các quốc gia (giàu/giàu, giàu/nghèo, thực dân/bị trị, phát triển/chậm tiến…) , giữa các ý thức hệ (chủ nghĩa dân tộc, chủ nghĩa thực dân, chủ nghĩa tư bản, cộng sản, phát xít…) do đó đã trút tất cả vào mâu thuẫn cộng sản/ chống cộng sản một cách máy móc. 3) Riêng với những nước bị thực dân thống trị vấn đề cướp nước và chống cướp nước đã bị MV đầy lùi về phía sau một cách cố ý rồi mượn luận điệu của thực dân đồng hoá cộng sản với khủng bố, nổi loạn để biện hộ cho tội cướp nước của chúng. Bị cộng sản kết cho cái tội “Việt gian” không có gì là oan cả.

5) Phương pháp gọi là “nghiên cứu” của MV cũng hoàn toàn phản khoa học. Ông ta không tìm hiểu thực tế và những phát sinh và chuyển động của nó để rút ra kết luận mà ngược lại: gán cho cộng sản một số thuộc tính chết cứng rồi từ đó kết án tất cả những biểu hiện khác nhau trong thời gian của phong trào cộng sản (bất chấp những nội dung khác nhau, mâu thuẫn trong phong trào ấy). Trong tranh luận, nghiên cứu người ta gọi phương pháp ấy là procès d’intention, không cần tìm hiểu, phân tích xem sự thực như thế nào mà chỉ cần quy kết theo thiên kiến của mình là đủ. Ai cũng biết đó là phương pháp suy luận của những đàn bà hay ghen (nhìn đâu cũng thấy những kẻ cướp chồng minh), những kẻ bị bệnh tâm thần (nhìn đâu cũng thấy kẻ hại mình). Chẳng có gì khoa học, học thuật ở đây cả. Lý luận của MV rất phù hợp với cộng đồng những người có thâm thù với cộng sản: họ không còn đủ sáng suốt để nhìn ra đúng sai trong chủ nghĩa cộng sản (chủ nghĩa cộng sản có rất nhiều cái sai) như một hiện tượng lịch sử, từ lý thuyết đến thực hành, cũng không đủ lý trí để nhìn ra ngay cả những đúng sai trong bản thân những thất bại nhục nhã, đau đớn của họ nữa. Đối với những con người như vậy, họ chỉ cần đổ lỗi để biện minh, chỉ cần bôi bác, nguyền rủa để trả hận là đủ. Thứ lý luận của MV chỉ có thể lừa được những tên chống cộng ngu dốt thôi.

6) Thực ra thì “Nhận định tổng hợp “, hay không tổng hợp thì người ta cũng biết rõ: Hằn học, chửi rủa thoá mạ một nhân vật lịch sử của VN như cố chủ tịch HCM là những người như thế nào! Có rất nhiều gương mặt khác nhau dưới đủ mọi chiêu bài. Rất may, qua đó người ta càng hiểu hơn thế nào là tính chân xác của lịch sử. Sẽ chẳng có người VN tỉnh táo nào lại lên án Vua Lê Lợi, khi chỉ vì quyền lợi quốc gia mà đem vợ mình cúng sống thần biển. (bây giờ việc làm đó là thất đức và nặng mùi mê tín). Nhưng mỗi người dân VN, đều công nhận Lê Lợi, đó là một vị Vua có công đánh đuổi ngoại xâm, lập nên nhà Lê dài hơn 300 năm. Chắc chắn, thời buổi của ông không có máy tính, để bị lên án và vạch trần nhiều thủ đoạ, mà tất cả vì đất nước v.v. Trong công cuộc xây dựng, mở nước, và giữ nước, chưa có ông Vua VN nào chuyên viết thỉnh nguyện thư gởi cho kẻ thù, để mong được kẻ thù thương mà trả nước. Tất cả các chiến công lẫy lừng như Bạch Đằng giang dậy sóng, hay trận Chi lăng ghi sử sách, chẳng viết bằng máu của dân VN đó sao? Chẳng lẽ trận Rạch gầm, Xoài mút được viết bằng máu của người Miên hay Lào ? Đó là máu của người VN đã đổ cho đất nước hôm nay. Dù muốn nói gì và nói sao chăng nữa thì lịch sử đã chứng minh: Pháp đô hộ Việt nam, Mỹ muốn cứu đồng minh và Người Nhật đã làm cho hai triệu đồng bào ruột thịt của chúng ta chết đói. Biết đâu trong chúng ta, có những người là con cháu của những người may mắn nhờ có Việt minh phá kho thóc của Nhật.

7) Dù nói gì đi chăng nữa, thì một dân tộc với mã tấu răng đen như các anh vẫn gọi, thế mà trong một thế kỷ đánh gục đầu ba nước to lớn. Thử hỏi trong lịch sử từ cổ chí kim của nhân loại hỏi ai đã làm được như thế ? Người làm được chuyện đó ngoài HCM thì còn có ai? Chẳng lẽ Ngô chí sỹ chăng hay Cựu hoàng Bảo đại? Tui biết trong thân tâm cũa người ngoại quốc, nhất là với người Mỹ, người Pháp và nhiều người dân thuộc các nước nhược tiểu khác, trong con mắt của họ: HCM là nhà tổ chức kỳ tài! Nếu không đủ đức đủ tài, mà như tui và các anh chẳng hạn, thì làm sao làm được những việc kinh thiên động địa trên. Như chính Chủ tịch HCM, công nhận hễ là con người thì ai cũng có khuyết điểm, trên con đường kiến tạo đất nước và giữ nước, Đảng CS VN  không khỏi tránh những sai lầm..  Nhưng dù sai lầm đến như thế nào thì cái chính là nền độc lập tự chủ của VN đã được tạo dựng. Còn xây dựng nó như thế nào thì VN đang dần bước lên những nấc thang mà tiền nhân vẫn mong đợi là xây dựng đất nước bằng mười bằng trăm thế kỷ 20? Bạn có mơ và tin điều đó không? Tui rất tin điều đó, bởi đó là bước đi tất yếu mà chẳng có ai ngăn được bước đi lên của dân tộc VN chúng ta.! Vì vậy Hồ chí Minh luôn là ngọn cờ soi dọi mỗi bước ta đi lên phía trước !

8) Họ chụp mũ chúng ta là CS, chúng ta chỉ cười thầm vì bạn bè lớn nhỏ của chúng ta cũng đang sinh hoạt trên diễn đàn này, và tất nhiên bạn bè của chúng ta biết chúng ta hơn ai hết. Họ chửi chúng ta là tay sai, nhưng họ không có thể đem ra một bằng chứng nào cả. Chúng ta, vì tình người, đề nghị họ đọc một số sách vỡ lòng để họ còn biết tôn giáo họ như thế nào, nhưng họ không dám đọc vì sợ “bức xúc” trong lòng. Thế thì còn căn bản nào để nói cho nhau nghe? Thế thì còn căn bản nào để trở lại một con người chân chánh? Tôi coi ông Karl Marx là một triết gia như bao nhiêu triết gia khác, nhưng họ không chịu ông Karl Marx là một triết gia, mà xem ông Karl Marx là một ông “kẹ” hạng nhất trên đời này. Triết lý của Karl Marx được dạy khấp nơi trên thế giới ngay cả bật trung học, nhưng họ quả quyết rằng chỉ có những quốc gia CS mới dạy triết lý của Karl Marx! Rất buồn, là cùng một giống người, nhưng mà hể có “thánh đạo” thì hung hãn như một con chó, chỉ biết ăn rồi sủa chứ chẳng biết lý luận gì cả, còn người không có “thánh đạo” thì hiền từ.

9) Theo ông Minh Võ thì cản trở cho công cuộc vận động dân chủ tại VN là do dân chúng vẫn còn hiểu sai về Hồ Chí Minh cho nên cần phải đánh đổ thần tượng Hồ mà bấy lâu nay đảng cọng sản xây dựng nên. Đây là một công việc vô bổ vì chẳng làm cho uy tín của ông Hồ suy giảm đối với người dân hai miền Nam Bắc. Gần một triệu người miền Bắc mà đa số là công giáo di cư, sai lầm của cải cách ruộng đất, vụ nhân văn giai phẩm, tết Mậu thân vẫn không ngăn cản được Việt cọng thực hiện được thống nhất đất nước. Chắc chắn rằng khi quân Mỹ đem một đội quân đông tới hơn 500000 người, chưa kể thêm những đội quân đồng minh thì những người như ông Minh Võ lúc ấy ở Sài gòn đều nghĩ rằng họ sẽ chiến thắng. Vậy thì sức mạnh của Viêt cọng là ở chỗ nào nếu không nói là lòng dân.  Họ tin tưởng ông Hồ vì đơn giản ông Hồ và người dân có cùng chung một mục tiêu là độc lập dân tộc và thống nhất đất nước. Chẳng có bao nhiêu bộ đội đọc nhiều sách như ông Minh Võ để hiểu về lý thuyết này lịch sử nọ. Họ cũng chẳng chiến đấu vì một thần tượng, lý do là năm 1969 ông Hồ mất, Việt cọng vẫn tiếp tục sự nghiệp của dân tộc.  Vì vậy phân tích nguyên nhân không phát triển của tình hình hiện là do VN còn tín nhiệm ông Hồ. Điều này không đúng. Cần phải nhận định cho đúng đâu là nguyện vọng của người dân hiện tại để có khẩu hiệu đấu tranh thích hợp, nếu không chỉ là Dã Tràng se cát…

10) Tôi, TCN, không còn trẻ, nhưng tôi rất mừng vì có những bạn trẻ đã đưa ra những nhận định chính xác và sáng suốt, dựa trên những sự kiện lịch sử chứ không dựa trên cảm tính phe phái. Đây là một niềm hi vọng cho đất nước Việt Nam. Để kết luận, tôi xin trích dẫn hai tài liệu. Trước hết là đoạn kết trong cuốn Ho Chi Minh của Jules Archer, trang 189-190:

Cộng Sản hay không, ông Hồ Chí Minh cũng sẽ đi vào lịch sử như là một người Việt Nam yêu nước vĩ đại, là một trong những khuôn mặt phi thường của thế giới trong thế kỷ này.  Không vị kỷ, can đảm, hiến thân cho nền độc lập của Việt Nam bằng mọi giá, ông ta đã vật nước Pháp phải khụyu đầu gối và chiến đấu chống Hoa Kỳ, một thế lực mạnh nhất thế giới, đưa đến một thế bí quân sự.

Sự cương quyết về một mục đích đã làm thay đổi giòng lịch sử, làm phân rẽ dư luận quần chúng ở Hoa Kỳ, bắt buộc một Tổng Thống Mỹ phải rút lui không tái cử cho nhiệm kỳ hai, khiến cho hàng triệu giới trẻ trên khắp thế giới kính ngưỡng ông ta ủng hộ cách mạng và xuống đường biểu tình ủng hộ ông ta, hô “Hồ, Hồ, Hồ Chí Minh”

Sự pha trộn duy nhất chủ nghĩa Mác-xít với chủ nghĩa gia trưởng, và chủ nghĩa quốc gia cao độ của ông Hồ đã thành công vĩ đại trong việc gây cảm hứng cho dân ông chịu đựng những sự hi sinh to lớn. Họ cũng còn kính yêu “Bác Hồ” vì nhân cách khiêm nhường và những cách cư xử từ ái của ông. Ông Hồ là sự thất vọng của những kẻ thù – Pháp, chế độ Sài gòn, và Mỹ – vì họ không thể nào làm cho người ta thù hận được ông. Ông ta được sự kính yêu của người trong Nam cũng như của những người ở ngoài Bắc.

Một trong những thành quả vĩ đại của ông là, cũng như Tito, ông đã đạt thành một “Cộng sản quốc gia”, giữ cho nước của ông ta ở ngoài những móng vuốt của cả Trung Hoa Đỏ và Liên Bang Sô Viết, trong khi ông ta khôn khéo đi hàng đôi để có được sự giúp đỡ mà nước ông cần đến. Khi ông ta mất, Việt Nam không phải là một nước chư hầu, mà là một nước độc lập đầy hãnh diện, cương quyết trên sự thiết lập cá tính quốc gia cho mọi người Việt Nam…

Khi những trang sách về cuộc đời của ông được cân nhắc, và hòa bình sau cùng tái lập trên đất nước thê thảm của Việt Nam, ông Hồ Chí Minh sẽ vĩnh viễn được các nông dân đã từng yêu kính và đứng sau lưng ông coi như là một người Việt Nam vĩ đại nhất trong của lịch sử của họ – người “Bác” kính ngưỡng của nước ông.”

(Communist or not, Ho Chi Minh will probably go down in history as a great Vietnamese patriot who was one of the extraordinary world figures of this century.  Selfless, courageous, dedicated to Vietnamese independence at all costs, he wrestled France to her knees and fought the United States, the world’s mightiest power, to a military stalemate.

His single mind resolution changed the course of history, polarized public opinion in the United States, forced an American President to withdraw from seeking a second term, and radicalized millions of admiring youth around the world who demonstrated in his support chanting, “Ho, Ho, Ho Chi Minh”.

Ho’s unique mixture of Marxism, paternalism, and intense nationalism was enormously successful in inspiring tremendous sacrifice among his people.  They also loved “Bac Ho” (Uncle Ho) for his winning personal modesty and gentle ways. Ho was the despair of all his enemies – the French, the Saigon regime, the Americans – because they were unable to muster hatred of him.  He was held in as much affection in South Vietnam as among the people he led in the North.

Not the least of his great achievements was that he had, like Tito, achieve a “national Communism” which kept his country out of the grip of both Red China and the Soviet Union, while he skillfully played one off against the other to get the help his country needed. When he died, North Vietnam was no satellite but a proud, independent country, determined on nationhood for all Vietnamese…

When the books of his life are balanced, and peace is finally restored to the tragic land of Vietnam, Ho Chi Minh will always be known to the peasants who loved and followed him as the greatest Vietnamese in their history – the revere uncle of his country.)

Thứ đến là nhận định của một cựu quân nhân Mỹ, ông David Thomas, giáo sư nghệ thuật, đại học Boston, người đã tổ chức một cuộc triển lãm tranh ảnh Hồ Chí Minh ở Oakland, California, và đã bị một số người Việt Quốc Gia đến hò hét chống đối, văng tục và hành hung.  Trước cuộc triển lãm, ông Thomas đã tổ chức một cuộc thảo luận với một số người Việt Nam.  Ông phàn nàn: “Họ không cho tôi nói, văng tục, chửi hết câu này đến câu khác” (They kept hurling insult after insult. I didn’t get a chance to speak.)  Nhưng ông ta cương quyết không nhượng bộ (But he stands behind his work unflinchingly).  Ý định của ông tổ chức cuộc triển lãm là để cho quần chúng tìm hiểu về “con người đã làm thay đổi bộ mặt lịch sử thế giới.” (I want viewers to question, investigate this man who changed world history). Về ông Hồ Chí Minh, Thomas nói:

“Tôi kính trọng tính chính trực của ông ta.  Có vẻ như là ông ta chỉ có một nhiệm vụ trong đời, và đó là giải phóng Việt Nam ra khỏi người Pháp, và ông ta đã thành công.  Hãy suy nghĩ về điều đó, một quốc gia nhỏ bé như Việt Nam đã đánh bại một nước như nước Pháp và quay lại đánh bại chúng ta. Điều này chưa từng có trong lịch sử.  Và tôi kinh ngạc bởi điều đó.  Chúng ta phải ngưỡng mộ con người đã làm được như vậy.  (I respect his integrity,” Thomas adds. “He seemed to have one mission in his life, and that is to free Vietnam of the French, and he did it. Think about it, a little country like Vietnam beat a country like France and turned around and beat us. That has never been done in history. And I’m awed by that. You have to admire a man that did that.)

Hẳn nhiên Thomas đã nhìn sự việc trên bình diện to lớn của lịch sử hơn là những chuyện lặt vặt như ông Hồ có mấy vợ, hút bao nhiêu điếu thuốc lá một ngày, hay đã làm đơn xin học trường thuộc địa [Muốn học ở Pháp khi đó không xin học ở trường thuộc địa thì xin học ở trường nào, trường Nhà Dòng chăng. Nhưng có ai đọc kỹ câu này không: Je désirerais devenir utile à la France vis à vis de mes compatrioteset pouvoir en même temps les faire profiter des bienfaits de l’instruction”Vậy rõ ràng mục đích của ông Hồ là muốn tăng thêm học vấn để phục vụ đồng bào. Pháp dùng chính sách ngu dân để cai trị, nhưng ông Hồ lại muốn “trở thành hữu ích cho Pháp” với mục đích dùng kiến thức của mình phục vụ đồng bào. Đọc về ông Hồ, chúng ta ta thấy rõ đó là mục đích chính của ông.  Nên nhớ, khi vừa nắm được chính quyền, Việt Minh đã phát động phong trào Truyền Bá Quốc Ngữ khắp nước. Vậy mà người ta lại thường viện vào cái đơn xin học này để chứng tỏ ông Hồ không phải là người yêu nước…]

Vài lời kết : 

Tôi chưa từng có cơ hội đọc cuốn sách của Trần Dân Tiên, chỉ biết đến tên cuốn sách này qua bài ông Minh Võ đọc Trần Dân Tiên và viết trên Đàn Chim Việt:  Năm 1976, Đảng và Nhà Nước Cộng Sản Việt Nam công bố Trần Dân Tiên không phải người nào khác mà chỉ là bút hiệu của Hồ Chí Minh.” Ông Minh Võ cho rằng các tác giả viết về ông Hồ Chí Minh trong khoảng 1948-1975 đều bị lừa bịp bởi cuốn sách của Trần Dân Tiên về ông Hồ, và kể ra vài tác giả quen thuộc: Bernard Fall, Jean Lacouture, David Halberstam.  Nhưng đọc mấy tác giả này, Bernard Fall: “Street Without Joy” (1964),“The Two Viet-Nams” (1967); Jean LaCouture: “Cinq Hommes Contre La France” (1961); Halberstam: “The Making Of A Quagmire” (1965) chúng ta thấy họ không hề nêu ra nguồn tài liệu nào về Ông Hồ là lấy từ cuốn sách của Trần Dân Tiên trong danh sách những tư liệu tham khảo. Và ngay cả trong hàng trăm cuốn sách trong đó có viết về ông Hồ sau năm 1975 cũng không có cuốn nào dùng tài liệu của Trần Dân Tiên.

Đúng như một bạn trẻ đã nhận định ở trên: “Thứ lý luận của Minh Võ chỉ có thể lừa được những tên chống cộng ngu dốt thôi” chúng ta hãy điểm qua vài “lý luận” của ông Minh Võ:  

1) Nếu người dân có tôn sùng và gọi Hồ Chí Minh là Cha già dân tộc thì đó chỉ là kết quả của một nỗ lực dắt dẫn, uốn nắn thậm chí cưỡng bách nhiều năm.

Thật vậy sao? Cưỡng bách tôn sùng? Điều này chỉ có thể thấy trong lịch sử Công Giáo qua những Tòa Hình Án Xử Dị Giáo (Inquisition) và lịch sử truyền đạo qua chính sách thực dân. Nếu là cưỡng bách thì làm sao người dân có thể chiến thắng một cường quốc như Pháp rồi về sau lại đánh bại một cường quốc vào bậc nhất thế giới như Mỹ. France Fitzgerald đã viết: “Một bài học mà hầu như bất cứ vị lãnh đạo quốc gia nào cũng có thể học được từ ông Hồ Chí Minh: đó là, nếu đi vào một cuộc chiến lâu dài thì phải có sự ủng hộ của người dân. Sự ủng hộ này quan trọng hơn vũ khí, vì nếu người dân tin vào chính nghĩa của họ, họ có thể chấp nhận những sự hi sinh phi thường.  Nếu họ không tin, mọi vũ khí trở thành vô ích.” [Vietnam Reconsidered:  Lessons From A War, p. 302: There’s a lesson that almost any leader in any country might learn from Ho Chi Minh, and that is, if you embark on a war of any duration, you must have the support of your people. This support is more important than weapons, for if people believe their cause is just, they are capable of extraordinary sacrifices. If they do not, all your weapons are useless.]. Fitzgerald đã viết không sai. Nếu không tin tưởng vào chính nghĩa, người dân Việt Nam không thể chịu bao hi sinh để thắng nổi những thế lực quân sự có  ưu thế tuyệt đối về quân sự như Pháp và Mỹ trong hai cuộc chiến ở Đông Dương. Ai đã mang lại chính nghĩa đó, nếu không phải là ông Hồ.

2) Minh Võ viết: “6 năm sau cái thời điểm mà Hồ Chí Minh tự diễn tả mình được toàn dân coi là Cha già dân tộc, thực tế đã nói lên một cách cụ thể thái độ của người dân đối với Hồ Chí Minh bằng sự trạng hơn một triệu người bỏ xóm làng, sản nghiệp ra đi, khi miền Bắc đặt dưới sự lãnh đạo của Hồ Chí Minh.”

Chẳng có ai, xin lỗi độc giả, viết bậy như Minh Võ. Minh Võ có biết là thành phần, không phải là hơn một triệu, mà là gần một triệu, của số người di cư từ Bắc vào Nam là như thế nào không. Hãy đọc Bernard Fall trong “The Two Viet-nams”, trang 154:

“Trong số 860000 người chạy vào Nam, 600000 người là tín đồ Công Giáo.  Tuy 65% trên tổng số người Công giáo (ở ngoài Bắc) bỏ Bắc Việt Nam, hơn 99.5 % những người không Công Giáo ở lại.”

(Of the 860000 who fled South at this time, 600000 were Catholics. Although 65 percent of the total Catholic population left North Viet-Nam, more than 99.5 percent of the non-Catholics stayed put.)

Tại sao tỷ lệ những người Công Giáo chạy vào Nam lại cao như vậy? Fall giải thích:

“Những khẩu hiệu và truyền đơn tuyên truyền kêu gọi những tín đồ Công Giáo sùng tín là “Chúa đã đi vào Nam” và “Đức Mẹ Mary đã bỏ miền Bắc”; cho nên, toàn thể các xứ đạo – thí dụ như Bùi Chu và Phát Diệm – từ những ông giám mục cho đến hầu như ông linh mục cuối cùng trong làng và giáo dân đã gói ghém mọi đồ đạc [để đi theo Chúa và Đức Mẹ]”

(Propaganda slogans and leaflets appealed to the devout Catholics with such themes as “Christ has gone to the South” and the Virgin Mary has departed from the North”; and whole bishoprics – Bui Chu and Phat Diem, for example, packed up lock, stock, and barrel, from the bishops to almost the last village priest and faithful.)

Chúng ta cũng không nên quên rằng Bùi Chu, Phát Diệm là những khu “Công giáo tự trị”, đã nhận lãnh vũ khí của Pháp để chống Việt Minh.  Vậy chính cái mặc cảm phản bội dân tộc cộng với trình độ quá thấp đến độ bị mấy tên xảo quyệt như Lansdale và “bề trên” tuyên truyền láo: “Chúa đã đi vào Nam” và “Đức Mẹ Mary đã bỏ miền Bắc”,  một sự sự mê tín mà Linh Mục Trần Tam Tĩnh phải lắc đầu kêu trời trong cuốn “Thập Giá và Lưỡi Gươm”đã khiến cho số người Công Giáo trên di cư vào Nam. Phần còn lại là công chức, quân nhân trong quân đội liên hiệp Pháp. Còn tỷ lệ những người dân thường không đáng kể. Ông Minh Võ dốt sử nên không hiểu rằng cuộc di cư của số người Công Giáo này thực ra là có lợi cho chính quyền miền Bắc: có thêm ruộng đất để chia cho nông dân nghèo, và đỡ đi phần nào của mối lo về một số người thuộc một thế lực “đã phi dân tộc thì thể nào cũng phản bội dân tộc.” ở lại miền Bắc.

Viết bài này, tôi không có ý biện hộ hay bênh vực ông Hồ Chí Minh trước cuộc “thánh chiến chống Cộng” ở hải ngoại, mà chỉ viết theo sự hiểu biết của mình qua sự tổng hợp một số tài liệu. Lịch sử đã rõ ràng, không ai cần đến tôi làm việc này. Nhưng thấy trình độ và những thủ đoạn hạ bệ ông Hồ Minh Võ cũng như của một số đồng bọn ở đây thấp kém và ấu trĩ quá, mà lại cứ thích viết bậy, có những hành động làm nhục lây cả những người Quốc Gia như tôi, nên tôi buộc lòng phải viết lên vài điều để cảnh tỉnh những người muốn dùng những thủ đoạn xuyên tạc lịch sử cho những mục đích chính trị của mình.  Viết về ông Hồ, chúng ta không thể chỉ kể ra những chi tiết lặt vặt trong đời tư của ông mà phải nhìn vấn đề trên bình diện rộng hơn. Ít nhất là phải phân tích những hoạt động của ông ở ngoại quốc trước khi ông biết đến chủ thuyết Mác-Lênin, ở Hội Nghị Hòa Bình Versailles, ở các Hội Nghị Quốc Tế, phải đọc những bài ông Hồ Chí Minh, dưới tên Nguyễn Ái Quốc, viết trên những tờ L’Humanité, La Vie Ouvrière, Le Paria v..v.., nội dung ra sao, ông đã thành lập và tổ chức Việt Minh từ bao giờ, để làm gì, đã có những hoạt động chống Nhật và Pháp như thế nào, và sau cùng, đường lối chính trị của ông sau 1945 cho đến khi ông qua đời v..v.. thì mới có thể đánh giá đúng ông Hồ được.

Vài lời cuối với ông Minh Võ và những người có ý định phá bỏ “thần tượng Hồ Chí Minh” như ông Minh Võ:  Cái di sản mà ông Hồ Chí Minh để lại cho người dân Việt Nam là một nước Việt Nam độc lập và thống nhất. Lẽ dĩ nhiên đây không phải là công của mình ông Hồ mà là của toàn dân, ít ra là của đại đa số người Việt đã coi ông Hồ như là biểu tượng truyền thống yêu nước của người Việt Nam, do đó đã không ngại mọi hi sinh để đạt thành.  Nhưng quan trọng hơn là thế giới đã biết nhiều hơn về Việt Nam và không còn dám coi thường Việt Nam tuy Việt Nam vẫn còn là một nước tương đối nghèo và kém phát triển. Xin đừng có coi thường độc giả. Đừng có hi vọng họ tin tất cả những điều mình viết. Ngay cả giới trẻ ngày nay cũng sáng suốt lắm. Họ không để cho bị bịp bởi những luận điệu vô căn cứ, thuần túy viết theo thiên kiến và cảm tính đâu.  Dù thế nào đi chăng nữa thì đối với thế giới và đại đa số người dân Việt Nam, đúng như Jules Archer đã viết:

“Khi những trang sách về cuộc đời của ông được cân nhắc, và hòa bình sau cùng tái lập trên đất nước thê thảm của Việt Nam, ông Hồ Chí Minh sẽ vĩnh viễn được các nông dân đã từng yêu kính và đứng sau lưng ông, coi ông như là một người Việt Nam vĩ đại nhất trong của lịch sử của họ – người “Bác” kính ngưỡng của nước ông.”

“Cộng Sản hay không, ông Hồ Chí Minh cũng sẽ đi vào lịch sử như là một người Việt Nam yêu nước vĩ đại, là một trong những khuôn mặt phi thường của thế giới trong thế kỷ này.”

Trần Chung Ngọc

giaodiemonline.com

Vài nét về Cụ Hồ – Phần 1

Viết về một nhân vật có tầm vóc quốc tế như Hồ Chí Minh có thể nói là không dễ. Đối với những người thuộc giới Chống Cộng Cực Đoan [CCCĐ] hay Chống Cộng Cho Chúa [CCCC], viết theo cảm tính thù hận Quốc Gia chống Cộng, hay Công Giáo chống Cộng, trong khi  thực sự không hiểu, không biết gì về Hồ Chí Minh thì rất dễ, vì muốn viết sao cũng được. Đưa ra những chi tiết lặt vặt, cộng với xuyên tạc, dựng đứng v..v.. nhằm “ám sát tư cách cá nhân” (character assassination), bằng những từ tục tĩu, hạ cấp v..v.. cho hả lòng thù hận, thì có lẽ ai viết cũng được, không cần đến trí tuệ, không cần đến kiến thức, không cần đến trình độ, và không cần đến liêm sỉ. Thảm thay, hiện tượng này chúng ta thường thấy xảy ra trong vài khu rừng diễn đàn truyền thông hải ngoại, nơi đây một thiểu số người Việt có vẻ như không có mấy trình độ văn hóa, giáo dục thường lên tiếng. Nhưng viết cho đúng với nhân cách, khả năng, tư tưởng và con người của Hồ Chí Minh thì quả thật là khó, vì điều này đòi hỏi trước hết là một sự lương thiện trí thức, một sự hiểu biết đứng đắn về cuộc đời của ông Hồ, và nhất là, về ông đã làm gì cho đất nước Việt Nam.

Riêng đối với tôi, viết về ông Hồ lại càng khó hơn, vì xuất thân từ Trường Sĩ Quan Trừ Bị Nam Định, đã cầm súng chống Cộng trong thời gian 8 năm rưỡi, khoảng thời gian tôi ở trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, đã đi Mỹ học, và đã về phục vụ trong ngành giáo dục ở miền Nam cho đến ngày chót, đương nhiên tôi đã ở phía Quốc Gia rồi.  Nhưng cuộc chiến Quốc – Cộng đã chấm dứt hơn 30 năm rồi, bây giờ còn nói đến chuyện Quốc – Cộng có phải là ngớ ngẩn không? Thời gian chỉ trôi có một chiều, một thế hệ già nua như chúng tôi đang lần lượt rủ nhau đi vào dĩ vãng để nhường chỗ cho một thế hệ trẻ hơn, đầy nhiệt huyết, với những kiến thức thời đại, biết thế nào là con đường quốc gia, dân tộc, và dứt khoát từ chối, không để cho đầu óc bị ô nhiễm bởi những thù hận của lớp trước, dù các bậc cha anh vô trí có muốn truyền lại.  Với tâm cảnh như trên, vậy tôi phải viết về ông Hồ ra sao? Viết theo sự hiểu biết giới hạn của mình thì rất có thể “sai đường lối của một số người đang tham gia cuộc “thánh chiến chống Cộng”” và phải đội thêm vài cái nón cối nữa. Nhưng chẳng sao, tôi ở xứ lạnh, mùa Đông sắp đến, càng ấm đầu.

Được đào tạo trong ngành Khoa Học Vật Lý, đối với tôi, sự lương thiện trí thức phải để lên hàng đầu, và phương pháp khảo cứu mọi vấn đề phải cẩn trọng, không để cho tình cảm thiên kiến lôi cuốn, tuy tôi tự biết, vì không có cái mặc cảm của Thượng đế (God complex), nên tôi không thể tránh khỏi có đôi chút thiên kiến khi viết về lịch sử. Một người nào đó đã chẳng từng nói: “Người nào viết sử mà không có đôi chút thiên kiến chắc phải có cái mặc cảm mình là Thượng đế (hay mặc cảm của Thượng đế) [Those who write about history without bias must have a God complex]. Để giảm thiểu thiên kiến, phương pháp khảo cứu của tôi là đọc nhiều sách về cùng một vấn đề, rồi từ đó kiếm ra một mẫu số chung. Điều này chưa hẳn là tuyệt đối  đúng, nhưng ít ra cũng không xa sự thực là bao nhiêu.

Riêng về ông Hồ, đọc những tài liệu của giới CCCĐ hay CCCC  ở hải ngoại thì cũng như không đọc, vì không biết thêm được điều gì mới lạ, ngoài những cường điệu chứng tỏ trình độ thấp kém về lịch sử của người viết. Còn dùng những tài liệu trong nước, phải gội đầu sẵn để đội thêm vài cái mũ của những kẻ không hề biết lý luận, không có khả năng thảo luận trí thức. Không phải là trong những tài liệu thuộc cả hai phe “Quốc-Cộng” này không có những chi tiết đúng, nhưng những chi tiết này chúng ta cũng có thể tìm thấy trong kho tàng tài liệu ngày nay trên thế giới, từ tác phẩm của những nhà nghiên cứu trong môi trường đại học, các chính khách, cựu tướng lãnh v..v…, và từ các tài liệu có trong các văn khố của một số quốc gia. Vậy thì tốt hơn hết là đi tìm tài liệu không thuộc hai phe Quốc, Cộng.

Bài viết này không có mục đích viết tất cả về ông Hồ Chí Minh, tôi không có khả năng như vậy.  Nhân đọc loạt bài ông Minh Võ phê bình cuốn “Ho Chi Minh, A Life” của William J. Duiker cùng đọc bài khảo cứu, có thể nói là một bài giáo khoa của giáo sư Sử học Nguyễn Mạnh Quang, về những vị lãnh đạo Việt  Nam trong thời cận đại như Hồ Chí Minh, Bảo Đại, Ngô Đình Diệm, Nguyễn Văn Thiệu, đăng trên giaodiemonline.com tháng 11, 2006, tôi chỉ muốn bổ túc và thu hẹp trên một vài khía cạnh về ông Hồ Chí Minh: vị thế của ông Hồ Chí Minh trên chính trường quốc tế, trong lòng dân tộc Việt Nam, và nhất là, phải chăng ông là người Cộng sản cực đoan, tay sai của Nga Sô và Trung Cộng như một số người chống Cộng cực đoan ở hải ngoại, điển hình là ông Minh Võ, thường rêu rao.  Còn những con cờ Bảo Đại, Ngô Đình Diệm, và Nguyễn Văn Thiệu của Pháp và Mỹ thì có lẽ không cần phải nhắc tới.  Giáo sư Nguyễn Mạnh Quang đã viết quá đủ về những nhân vật này rồi, nhất là về ông “Phán Quan Tây Ban Nha” Ngô Đình Diệm.(Link: http://www.giaodiemonline.com/nov/chuong18.htm )

Trước khi đi vào những vấn đề này, tôi có một nhận xét tổng quát về những luận điệu xuyên tạc, đả kích ông Hồ Chí Minh của một số người có vẻ như không có mấy trình độ. Không có gì ngu xuẩn hơn là so sánh ông Hồ với Hitler. Những người này hầu như không hề biết gì đến dư luận thế giới, nhất là trong các nước tiến bộ Âu Mỹ, đã nhận định về ông Hồ Chí Minh như thế nào.  Hãy vào Internet đánh tên Ho Chi Minh thì sẽ thấy Thế giới đánh giá Hồ Chí Minh như thế nào. Hay hãy đọc những cuốn sách về chiến tranh Việt Nam của các học giả, tướng lãnh Mỹ, và ngay cả hai cuốn In Retrospect và Argument Without End của cựu Bộ Trưởng Quốc Phòng Robert McNamara. Phần nhận định tích cực về Hồ Chí Minh tràn ngập so với phần tiêu cực thưa thớt của một số người Việt hải ngoại mà tên tuổi không đáng kể, và chỉ như những con đom đóm lập lòe trên vài diễn đàn điện tử ít có giá trị trí thức của đám người Việt còn mang nặng lòng hận thù Quốc-Cộng, chống Cộng cuối mùa, chống Cộng khi đã không còn Cộng..

Và những người muốn hạ bệ Hồ Chí Minh để vinh danh “chí sĩ” Ngô Đình Diệm của họ nhân dịp 1/11 thì hãy kiếm đọc cuốn “Những Bạo Chúa, 100 Tên Chuyên Quyền và Độc Tài Ác Nhất Trong Lịch Sử” (Tyrants, History’s 100 Most Evil Despots and Dictators) của Nigel Cawthorne, Barnes & Noble, NY, 2004, trong đó chúng ta có thể thấy những tên quen thuộc như Tần Thủy Hoàng, Võ Hậu, Từ Hi, Richard III, Mary I, Ceasar Borgia v..v.. và trong thời cận đại: Hitler, Mao Trạch Đông, Stalin, Pol Pot, Sadam Hussein, Kim Jung II, và, lạ lùng thay, có cả tên Ngô Đình Diệm (President of South Vietnam) mà lại không có tên Hồ Chí Minh trong danh sách này.  Mỗi tên trong danh sách đều có kèm theo một tiểu sử ngắn và sơ lược những hành động chuyên quyền và độc tài của nhân vật đó. Thế này là thế nào, chẳng có lẽ Nigel Cawthorne cũng như nhiều trí thức Tây phương đều là tay sai của CSVN, hay là những người ngu cả hay sao?

Cách đây sáu năm, năm 2000, sử gia William J. Duiker có xuất bản cuốn “Ho Chi Minh, A Life”.  Cuốn này được giới trí thức, học giả Âu Mỹ đánh giá khá cao và cho rằng đó là một cuốn nghiên cứu sâu rộng nhất về con người và sự nghiệp của ông Hồ Chí Minh. Đọc Duiker và phối kiểm với những đoạn viết về ông Hồ của nhiều tác giả khác trong thế giới Tây phương, chúng ta có thể rút tỉa ra những điều không xa với sự thật là bao nhiêu.

Trước hết, quốc tế đối với ông Hồ ra sao? Tôi xin được nhắc lại một đoạn  trong bài của Giáo sư Nguyễn Mạnh Quang mà giáo sư đã trích dẫn từ cuốn “Ho Chi Minh” của William J. Duiker:

Khi tin tức về cái chết của ông Hồ Chí Minh được loan truyền thì khắp địa cầu đưa ra  nhận xét về ông. Hà Nội nhận được tới hơn hai mươi hai ngàn (22000)  bức điện tín từ các thủ đô lớn của 121 quốc gia trên thế giới để bày tỏ lời ca ngợi ông và chia buồn với nhân dân ViệtNam. Một số các nước theo chủ nghĩa xã hội tổ chức buổi lễ truy điệu ông và đưa ra những lời ca tụng ông. Thủ đô Mạc Tư Khoa chính thức ca tụng ông như là “người con vĩ đại của dân tộc anh hùng Việt Nam, một người lãnh đạo xuất sắc  của phong trào giải phóng dân tộc và cộng sản quốc tế, và là người bạn vĩ đại của Liên Bang Sô Viết.” Các nước trong Thế Giới Thứ Ba (các nước trung lập) cũng nhận xét về ông với những lời ca tụng  ông như là một người bảo vệ những người bị áp bức. Một bài báo phát hành ở Ấn Độ mô tả ông như là tinh túy của “dân tộc và là hiện thân của lòng khát vọng tự do, của sự tranh đấu bền bỉ.” Những bài báo khác đề cao đức tính giản dị và thẳng thắn của ông. Một bài xã luận trong một tờ báo ở Uruguay (Nam Mỹ) ghi nhận “Ông có một tấm lòng bao la như vũ trụ và có một tình thương vô bờ bến đối vào các trẻ em. Ông là gương mẫu về đức tính giản dị và thẳng thắn trong tất cả  mọi phạm vi.” 

Phản ứng từ các thủ đô Tây Phương thì không biểu lộ mạnh mẽ. Tòa Bạch Ốc lặng thinh và các viên chức cao cấp trong chính quyền của Tổng Thống Nixon cũng không bình luận gì cả. Nhưng việc chú ý đến cái chết cúa ông Hồ Chí Minh đối với giới truyền thông trong các nước Tây Phương thật là mãnh liệt. Những tờ báo ủng hộ các phong trào phản chiến có khuynh hướng mô tả ông bằng những lời lẽ  ca tụng ông như là một địch thủ xứng đáng và là một người bảo vệ những kẻ yếu, những người lép vế  thế cô và những người bị áp bức. Ngay cả những người vẫn thường khăng khăng chống lại chế độ Hà Nội cũng đánh giá ông bằng những lời lẽ kính trọng  ông như là  một người đã tận hiến cả cuộc đời cho đại cuộc chiến đấu giành độc lập và thống nhất đất nước cho tổ quốc ông, coi ông như là người phát ngôn xuất chúng cho các dân tộc bị bóc lột ở trên thế giới.”

Nguyên văn: (“The news of Ho Chi Minh’ s death was greeted with a outpouring of comment from around the globe. Eulogies flowed in from major world capitals, and Hanoi received more than twenty-two thousand messages from 121 countries  offering the Vietnamese people condolences for the death of their leader. A number of socialists states held memorial services of their own and editorial comment were predictable favorable. An official statement from Moscow lauded Ho as  a “great son of the heroic Vietnamse people, the outstanding leader of the international Communist and national liberation movement, and a great friend of the Soviet Union.” From the Third World countries came praise for his role as a defender of the oppressed. An article published in India described him as the essence of “the people, the embodiment of the ardent aspiration for freedom, of their endurance and struggle.” Others referred to his simplicity of manner and high moral standing. Remarked an editorial in Uruguayan newspaper: “He had a heart as immense as the universe and in a boundless love for the children. He is a model of simplicity in all fields.”

Reaction from Western capitals was more muted. The White House refrained from comment, and senior Nixon administration officials followed suite. But attention to Ho’s death in the Western news media was intense. Newspapers that supported the antiwar cause tended to describe him in favorable terms as a worthy adversary and a defender of the weak and oppressed. Even those who had admandtly opposed the Hanoi regime accorded him a measure of respect as one who had dedicated himself first and foremost to the independence and unification of his country, as well as a prominent spokeperson for the exploited peoples of the world.”) [Đây là đoạn đầu của Chương cuối: “Epilogue: From Man To Myth” , trang 562.  TCN]

Trên đây, Duiker đã viết lại một sự kiện. Sự kiện này, hơn gì hết, đã loại bỏ tất cả những gì mà một số người Việt hải ngoại hay ở trong nước viết tiêu cực theo cảm tính về ông Hồ. Cho nên bất kể những luận điệu nhằm hạ uy tín của ông Hồ đều không thể thuyết phục được ai, ít nhất là trong giới hiểu biết, nhất là những luận điệu này lại thuộc loại hạ cấp, đầy hận thù, vụn vặt, chỉ nhắm vào những tiểu tiết mà không nhìn thấy những mặt to lớn của sự việc, và chỉ có thể lấy được sự đồng tình của một số người nhỏ nhoi thu hẹp trong cộng đồng người Việt ở hải ngoại..

Có một bài viết về ông Hồ Chí Minh của Wilfred Burchett khá hay: Ho Chi Minh: An Appreciation (pipeline.com). Wilfred Burchett là một ký giả Úc nổi tiếng, đã từng được Ngoại Trưởng Henri Kissinger nhờ làm trung gian liên lạc giữa Mỹ và Hà Nội. Năm 1968, ông đã viết một cuốn có tính cách tiên đoán: “Việt Nam Sẽ Thắng” (Vietnam Will Win) và năm 1977 ông xuất bản cuốn “Châu Chấu Và Voi: Tại Sao [Nam] Việt Nam Sụp Đổ”(Grasshoppers and Elephants: Why Vietnam Fell). Theo tôi, Burchett viết hay, không phải vì tác giả ca tụng ông Hồ, mà tác giả đã viết về những gì đã tạo nên ông Hồ: Không phải thuần túy chỉ là Marx, là Lenin hay Mao Trạch Đông, mà chính là lịch sử 2000 năm chống ngoại xâm của Việt Nam đã tạo nên ông Hồ. Có thể nói, tác giả hiểu Việt Nam hơn rất nhiều người tự cho mình là trí thức. Chúng ta hãy đọc vài đoạn trong bài của Burchett:

“Chính sách của Mỹ là làm cho người Việt Nam cảm thấy mình thuộc một sắc dân thấp kém (racial inferiors), không có quyền về căn cước quốc gia (have no right for national identity).  Họ thường bị gọi là “gooks”, “slopes” và “dinks”, và trên những phúc trình chính thức, làng Mỹ Lai trở thành “Thành phố hồng” (Pinkville) [có nghĩa là thành phố CS] và dân làng bị tàn sát chỉ là “những người Á đông” (oriental human beings). [với ý coi thường, miệt thị]

Sự thực là người nông dân Việt Nam nghèo khó nhất, ngay cả thất học, về phương diện văn hóa và đạo đức thường cũng cao hơn người Mỹ (Reality is that the humblest Vietnamese peasant, even illiterate, is usually culturally and morally superior to his American adversary). Hắn ta biết nhiều hơn về lịch sử đất nước của hắn – không chỉ vì đất nước hắn có vài ngàn năm lịch sử nhiều hơn Mỹ để mà biết đến – mà vì những điều này đã thấm vào trong người hắn từ sữa mẹ (literally absorbs it with his mother’s milk). Ngay từ bé, hắn sống lên trong một môi trường tràn ngập với những câu chuyện về gia tài lịch sử, hoặc được kể ngay khi còn nằm trong lòng mẹ, hoặc qua những màn kịch diễn lại những trang sử oai hùng của 2000 năm lịch sử chống ngoại xâm của những gánh hát di động, hoặc những truyền thuyết về các “thần hoàng làng”, [thường là các anh hùng giúp nước của xóm làng, được nhà Vua sắc phong], hoặc là những câu chuyện về tổ tiên đã bảo vệ non sông như thế nào, hoặc là những chuyện đau khổ của người dân bị đàn áp bởi ngoại nhân nên đòi hỏi một sự đứng lên để chống đối v..v… Sự hiểu biết về 2000 năm tranh đấu chống kẻ xâm lăng có đầy trong dòng máu của người nông dân chân lấm tay bùn nghèo khó nhất. Chỉ một điều này cũng là một nguồn dũng cảm và sức chịu đựng vô tận, một sự tin tưởng vào tương lai và coi thường những kẻ toan tính phá vỡ những đức tính mà những chuyên viên trong cái “hồ tư duy” (think tank)[của Mỹ] không thể hiểu được (The knowledge of two thousand years’ struggle against invaders is in the bloodstream of the humblest, mud-stained peasant. This alone is an inexhaustible source of courage and stoicism; of confidence in the future and contempt for those who try to wreck the present-qualities incomprehensible to the “think tank” specialists).

Ông Hồ Chí Minh là mẫu mực thu nhỏ của tất cả những điều trên. Và đúng là, cũng như một cái gì đó trong mỗi người Việt Nam đều có trong Hồ Chí Minh, một cái gì đó trong Hồ Chí Minh đều có trong hầu hết những người Việt Nam ngày nay, dấu ấn của ông trên dân tộc Việt Nam thật là sâu đậm (Ho Chi Minh epitomizes all this. And just as there was something of every Vietnamese in Ho Chi Minh so there is something of Ho Chi Minh in almost every present-day Vietnamese, so strong is his imprint on the Vietnamese nation.) .

Một vấn đề mà Tổng thống Nixon cũng như các vị tiền nhiệm có thể không lưu ý đến nhưng chắc chắn là dân Việt Nam không thể không biết, đó là Hồ Chí Minh là của toàn thể quốc gia Việt Nam (that Ho Chi Minh belongs to the whole Vietnamese nation). Không có một lằn danh giới nào ở vĩ tuyến 17 có thể làm cho người dân miền Nam xa lìa Hồ Chí Minh dù rằng thủ đô được đặt ở miền Bắc. Hồ Chí Minh đã được chấp nhận là lãnh tụ và là nguồn cảm hứng cho mọi người Việt Nam – trừ số người đã lần lượt phục vụ những quan thầy Nhật, Pháp, rồi Mỹ. (No line arbitrarily drawn along the 17th parallel could divorce the people of the South from Ho Chi Minh because his capital happened to be on the northern side of the line. Ho Chi Minh was the accepted leader and source of inspiration for all Vietnamese – except the handful who served Japanese, French and American masters in turn.)

Lẽ dĩ nhiên, một số người Việt “Quốc Gia” ở hải ngoại không thể đồng ý với nhận định trên, điều này có lẽ cũng không lấy gì làm khó hiểu. Nhưng trên phương diện nghiên cứu trí thức, một câu hỏi cần được đặt ra: có bao nhiêu phần đúng trong nhận định của Burchett?  Nếu chúng ta thuộc lịch sử Việt Nam, nếu chúng ta biết đến những truyền thống trong xã hội làng mạc Việt Nam, nếu chúng ta để tâm nghiên cứu về hai cuộc chiến ở Việt Nam, với Pháp rồi với Mỹ, thì có lẽ chúng ta không cần đặt ra câu hỏi trên.

Vấn đề tiếp theo tôi muốn nói đến là: ông Hồ Chí Minh là con người Cộng Sản như thế nào?  Chúng ta biết rằng, ông Hồ Chí Minh chưa bao giờ phủ nhận mình là người Cộng Sản và đã từng khẳng định là Lenin đã gây cảm hứng cho ông trong công cuộc giành lại độc lập cho đất nước. Nhưng muốn hiểu ông Hồ là người Cộng sản như thế nào, có lẽ chúng ta nên biết đến quan niệm của một số trí thức ngoại quốc, những người thường ở trong môi trường đại học, đặt sự tôn trọng sự lương thiện trí thức lên hàng đầu, và vì chính uy tín của họ, nên không thể viết theo cảm tính mà không nghiên cứu kỹ vấn đề, hay tự hạ mình rơi vào vòng tranh chấp Quốc-Cộng mà họ không thuộc phe nào và không có lý do gì để ủng hộ hay chống đối một phe nào..

Chúng ta hãy đọc vài đoạn trong bài của Stanley I. Kutler điểm cuốn “Ho Chi Minh, A Life”, Kutler là tác giả cuốn “The Wars of Watergate” và là chủ biên của “The Encyclopedia of the Vietnam War.” . Stanley Kutler cho rằng trong tác phẩm của mình, Duiker đã viết về một nhà cách mạng ái quốc gần với Thomas Jefferson hơn là với V. I. Lenin [A patriot closer to Thomas Jefferson than to V.I. Lenin].  (Điều này, không phải chỉ có mình Duiker mới nhận định như trên, mà một số tác giả Mỹ khác cũng có cùng một nhận định như vậy. TCN)

Trước hết, Kutler cho rằng chế độ thực dân đã cáo chung một thế kỷ nay rồi và vai trò của ông Hồ đã đi vào quá khứ.  Ngày nay, Việt Nam là một phần của nền kinh tế toàn cầu, có nghĩa là có những liên doanh mang lại lợi nhuận cho chính phủ, cho một số viên chức được ưu đãi, và cho những công ty Tây phương. Nhưng Kutler ghi nhận là:

“Tuy nhiên, thế giới có một bộ mặt khác vì ông Hồ, và những người như ông, những người đã lo lắng, chiến đấu và hi sinh để giải phóng quốc gia của họ thoát khỏi sự sỉ nhục và gông cùm của sự chuyên chế bạo ngược ngoại quốc.  (Nevertheless, the world is a different place because of Ho, and others like him, who agitated, fought and died to liberate their lands from the stigma and yoke of foreign tyranny.)

Sau đó Kutler viết: “Duiker đã đi quá sự tranh luận đơn giản trong thời Chiến Tranh Lạnh về vấn đề ông Hồ là người Cộng sản theo chính thống Mác-Lênin hay là một nhà ái quốc quốc gia, hiến thân cho cuộc giải phóng và thống nhất đất nước?” (Duiker has moved beyond the simplistic Cold War debate of whether Ho was a dedicated Communist, beholden to Marxist-Leninist orthodoxy, or whether he was a patriot and a nationalist, dedicated to freeing and uniting his country.)  “Duiker đã nhận định đúng, Hồ Chí Minh có căn rễ sâu đậm trong phong trào Cộng sản quốc tế, nhưng ông luôn luôn là một người quốc gia đã mang lại sự lãnh đạo, viễn kiến và sự cương quyết hiến thân cho nguyên lý dân tộc tự quyết “(Duiker rightly notes that Ho had deep roots in the international Communist movement; but he was a constant nationalist who provided leadership, vision and a firm commitment to the principle of self-determination.)…

Ông Hồ không hề nao núng khi dùng chủ nghĩa Cộng Sản cho những mục đích quốc gia.  Lời tuyên bố của ông: “các dân ở Đông Dương vẫn sống và sẽ còn sống mãi” khó mà phù hợp với chủ nghĩa Mác. Duiker nhấn mạnh là, đối với ông Hồ, độc lập quốc gia bao giờ cũng là mục tiêu chủ yếu, trong khi chủ thuyết về một cộng sản không tưởng vẫn là một vấn đề mơ hồ, bất định cho tương lai” [Ho unabashedly used communism for his own nationalist ends. His statement that “the peoples of Indochina still live and will live forever” is hardly compatible with Marxism. Duiker insists that for Ho, national independence always was the primary goal, while the doctrine of a communist utopia remained a vague, indefinite matter for the future.] Duiker cũng nhắc lại cho chúng ta là rất tiếc vì những nhận định hời hợt về cuộc Chiến Tranh Lạnh mà Paris và rồi Washington đã thất bại không nắm lấy tay ông Hồ, để đưa đến những hậu quả sâu đậm cho người Việt Nam và cho thế giới (Duiker painfully reminds us that external Cold War considerations led to the failure of Paris and then Washington to grasp Ho’s hand, resulting in profound consequences for the Vietnamese people and the world.)

Lẽ dĩ nhiên, cuốn “Ho Chi Minh, A Life” của Duiker không làm những người mang nặng lòng hận thù Cộng Sản hài lòng, và họ đã lên tiếng chê sử gia Duiker cũng như tất cả các tác giả Âu Mỹ viết về ông Hồ mà không đúng ý họ là ngu dốt, là những người ngoại quốc, đâu có biết gì về ông Hồ bằng người Việt Nam. Chỉ có những người vô tên tuổi, vô văn hóa, và chẳng biết gì mấy về Việt Nam như họ mới có thể biết rõ về ông Hồ, dù rất có thể họ chưa bao giờ thấy mặt ông Hồ, và chỉ biết ông Hồ qua những luận điệu tuyên truyền chống Cộng ở hải ngoại và qua vài chi tiết lặt vặt trong những tác phẩm của những người sau này chống Đảng như Vũ Thư Hiên, Bùi Ngọc Tấn, Bùi Tín, Nguyễn Minh Cần v..v…. Điển hình cho loại người này trên Internet là Minh Võ, một người rất năng nổ trong chiến dịch “No Hồ” ở hải ngoại, viết trên diễn đàn điện tử Đàn Chim Việt, một diễn đàn có vẻ như là nơi để cho một số người nhân danh tự do ngôn luận vào đó chửi lộn. Minh Võ đang cố gắng phá đổ cái mà ông ta gọi là “thần tượng Hồ Chí Minh”, dù rằng chẳng có ai coi ông Hồ là thần tượng, vì hầu như mọi người dân trong nước đều coi ông Hồ đơn giản là “Bác Hồ”. Nhưng trình độ hiểu biết, khả năng lý luận, và thủ đoạn bịa đặt sự kiện của ông Minh Võ không cho phép ông ta đạt được mục đích, cho nên những điều ông ta phê bình Duiker cũng như những điều ông ấy viết về ông Hồ không có mấy giá trị trí thức, để lộ rõ một kiến thức kém cỏi và viết với một tâm trạng thù hận và thiếu sự lương thiện trí thức trong đó. Điều này chúng ta có thể chứng minh rất dễ dàng, nhưng tôi để cho phần sau.

Trước hết chúng ta hãy đọc thêm vài tài liệu về ông Hồ:

Trong tờ “Les Collections de L’Histoire”, số 23, Avril-Juin 2004, một tuyển tập về “Indochine Vietnam: Colonisation, Guerres et Communisme”  có bài “Con Người Trở Thành Hồ Chí Minh” [L’Homme Qui Devint Ho Chi Minh] của Pierre Brocheux, Giáo sư Diễn Giảng Danh Dự tại Đại Học  Denis-Diderot, Paris-VII.  Chúng ta sẽ thấy trong đó có vài chi tiết chứng tỏ ngay cả Nga và Tàu cũng không tin tưởng ông Hồ Chí Minh là người Cộng Sản chính thống (orthodox communist).  Giáo sư Brocheux viết, trang 33:

Đối với Quốc (Nguyễn Ái Quốc), chủ thuyết Mác Lênin đã đưa lên những phương tiện hành động, như là ông ta đã giảng giải nhiều năm sau: “Chúng ta phải hiểu rằng giật độc lập ra khỏi tay một cường quốc như Pháp là một nhiệm vụ rất khó khăn mà người ta không thể hoàn thành mà không có một sự ngoại viện, không cần thiết phải là một sự viện trợ vũ khí mà dưới dạng cố vấn và tiếp xúc. Chúng ta không lấy lại được độc lập bằng cách ném bom hay bằng những hành động tương tự. Đó là sự sai lầm của những nhà cách mạng lúc đầu đã phạm phải [Có lẽ ông Hồ muốn nói đến cuộc ám sát thất bại của Phạm Hồng Thái đối với Toàn Quyền Merlin]. Chúng ta lấy lại độc lập bằng sự tổ chức và tự khép mình vào kỷ luật. Chúng ta cũng còn cần đến một lòng tin, một phúc âm, một sự phân tích thực tiễn, có thể nói đến như là một thánh kinh. Chủ thuyết Mác-Lênin đã cung cấp cho tôi đường lối hành động này.”

(Pour Quoc, le marxisme-léninisme offre des moyens d’action, comme il l’a expliqué des années plus tard: “Vous devez comprendre qu’arracher l’indépendance à une puissance comme la France est une tâche formidable qu’on ne peut accomplir sans une aide extérieure et pas nécessairement une aide en armes mais sous la forme de conseils et de contacts.  On ne gagne pas l’indépendance en jetant des bombes et par des actes de ce type.  Ce fut l’erreur que les premiers révolutinaires commirent.  On gagne l’indépendance en s’organisant et en se diciplinant. On a aussi besoin d’une foi, d’un évangile, d’une analyse pratique, on peut même parler d’une bible.  Le marxisme-léninisme m’a fourni cette panoplie.)

Thực ra thì có lẽ ông Hồ muốn nói đến Những Luận Đề Về Những Vấn Đề Quốc Gia Và Thuộc Địa (Theses on The National and The Colonial Questions) của Lê-nin đưa lên trong Đại Hội II Cộng Sản Quốc Tế (Second Congress of the Communist International) vào năm 1920 để nghị thảo mà ông biết đến trong Đệ Tam Quốc tế.  Chúng ta đã biết, chính ông Hồ Chí Minh đã thành thực công nhận là mới đầu ông không hiểu hết những từ và ý tưởng chính trị khó khăn trong bản văn trên, nhưng rồi đọc đi đọc lại ông mới thấm và hiểu rõ, và ý thức được là những luận đề này đã giúp cho ông ta thấy con đường thích hợp nhất để cứu nước, giải phóng dân tộc khỏi ách thuộc địa, thực dân. Và ông Hồ đã thành công.

Chúng ta hãy đọc tiếp vài đoạn khác của Giáo sư Brocheux.  Trước hết là một tài liệu trích dẫn từ một tài liệu trong văn khố của Nga Sô, mới được sử gia Alain Ruscio phổ biến năm 1990, trang 34-36:

“Năm 1934, Ông Hồ trở lại Moscou. Stalin đã nắm chắc quyền lực, và những cuộc thanh trừng lớn bắt đầu năm 1937. Có vẻ như con người Hồ Chí Minh tương lai là nạn nhân, vì từ ngày trở lại Moscou, ông ta không được tin cậy để giao phó cho một trách nhiệm nào. Không còn nghi ngờ gì nữa người ta đã trách cứ là ông ta ngả về tinh thần quốc gia trong cuộc chiến đấu chống thực dân thay vì tinh thần cách mạng vô sản quốc tế.”

(En 1934, il est de retour à Moscou. Staline raffermit son pouvoir, les grandes purges vont débuter en 1937. Il apparait avec certitude que le futur Ho Chi Minh faillit en être victime car, depuis son retour, il ne s’est vu confier aucune responsabilité. Sans doute lui reproche-t’on de préférer le nationalisme qui sous-tend le combat anti-colonial à l’internationalisme de la révolution prolatérienne.)

“Về vấn đề này, ông Hồ đã bày tỏ quan điểm của mình từ năm 1924.. Được huấn luyện về cách mạng và chủ thuyết Marx bởi Tây phương, tuy nhiên Quốc đã nhìn theo đặc tính Á Đông: “Cuộc đấu tranh giai cấp ở Đông phương không giống như ở Tây phương. Marx đã xây dựng lý thuyết của mình trên một căn bản triết lý nào đó của lịch sử.  Nhưng là lịch sử nào? Đó là lịch sử Âu Châu. Nhưng Âu Châu là gì? Không phải là tất cả nhân loại.” 

(À ce sujet, il a expliqué son point de vue dès 1924… Éduqué par l’Occident à la révolution et au marxisme, Quoc est pourtant persuadé, de la spécifícité de l’Orient: “ La lutte de classes ne se manifeste pas en Indochine comme en Occident.” ; Marx a bâti sa doctrine sur une certaine philosophie de l’histoire.  Mais quelle histoire?  Celle de l’Europe.  Mais qu’est ce que l’Europe?  Ce n’est pas toute l’humanité).

“Hồ Chí Minh có thực sự là mgười Mác-xít không?  Hay ông ta chỉ là người Quốc Gia sau lớp sơn đỏ, như một thành viên Cộng Sản Quốc Tế, ông M. N. Roy, người Ấn Độ, đã nói?  Vấn đề này đáng được đặt ra..  Nếu chắc chắn là ông ta đã đọc bản Tuyên Ngôn của Đảng Cộng Sản, nếu đã nhiều lần ông ta nói là chịu ảnh hưởng trí thức và chính trị của Lê-nin, thì sự gắn bó của  ông với chủ nghĩa Mác không bao giờ có tính cách giáo điều.“

(Ho Chi Minh était-il vraiment marxiste?  Ou n’était-il qu’un “nationaliste peint en rouge”, comme l’a dit un membre du Komintern, l’Indien M.N. Roy?  La question mérite đêtre posée…  S’il a certainement lu le Manifeste du Parti Communiste, s’il dit maintes reprises sa dette intellectuelle et politique envers Lénine, son adhésion au Marxisme ne fut, pour autant, jamais dogmatique.)

“Năm 1963, người Cộng Sản Lưu Thiếu Kỳ đã phác họa một hình ảnh chính trị của ông Hồ, nếu đúng, cho thấy một vị thế không thoải mái[của ông Hồ] đưa đến một sự gắn bó đôi đàng với lòng yêu nước chấp nhận thỏa hiệp, và chủ nghĩa xã hội độc quyền: “Hồ luôn luôn là người hữu khuynh.. Khi chiến tranh Đông Dương chấm dứt, ông ta không thể quyết định là thiết lập một chế độ tư bản hay một chế độ theo xã hội chủ nghĩa.  Chúng tôi đã quyết định cho ông ta.””

(Le communist Chinois Liu Shaoqi esquisse en 1963 un portrait politique de Ho qui, s’il est exact, indique la position inconfortable qui résulte d’une double adhésion au patriotisme consensuel et au socialisme exclusif: “Ho a toujours été un droitiste.. Lorsque la guerre d’Indochine prit fin, il ne put se décider à choisir d’instaurer soit un régime capitaliste soit un régime socialiste.  Ce fut nous qui décidâmes pour lui.”)

“Không có gì minh họa rõ hơn sự tương phản giữa Hồ Chí Minh và những người lãnh đạo cộng sản là những trao đổi quan niệm của Mao Trạch Đông và Lưu Thiếu Kỳ với ông Hồ Chí Minh vào năm 1960.  Ông Hồ đã tuyên bố rằng ngay cả việc giết kẻ thù cũng không được đạo đức; Mao đã trả lời ông ta: “Tưởng Giới Thạch giết, tôi giết, đó không phải là một vấn đề đạo đức.  Và Lưu Thiếu Kỳ thêm vào là viện đến đạo đức khi ta phải đối phó với những tên tư bản chống cách mạng là không thích đáng .”

(Rien n’illustre mieux le contraste entre Ho Chi Minh et d’autres dirigeants communistes que les propos que Mao Zedong et Liu Shaoqi tinrent à Ho Chi Minh en 1960.  Ho avait déclaré qu’il n’était pas moral de tuer même ses adversaires; Mao lui répliqua: “Chiang Kaishek tue, je tue, ce n’est pas une question de morale.”  Et Liu Shaoqi de renchérir qu’il n’était pas pertinent d’invoquer la morale lorsqu’on avait affaire aux contre-révolutionnaires capitalistes.)

Trong cuốn “The Vietnam War Almanac, General Editor: John S. Bowman, Barnes & Noble Books, NY, 2005”, trang 493, cũng có viết:

“Ông Hồ ít quan tâm đến những chi tiết tế nhị của chủ thuyết Mao và Lê-nin; thiên tài của ông ta là về hành động chính trị, và lý tưởng của ông ta có thể khá co dãn chừng nào mà nó đưa tới mục đích đã ám ảnh ông ta: nền độc lập và thống nhất của Việt Nam.”  (Ho was less concerned with niceties of doctrine than Mao and Lenin; his genius was for political action, and his ideology was capable of considerable stretching as long as it tended toward the purpose that obsessed him: the independence and unification of Vietnam.)

Trong cuốn Cracks In The Empire, South End Press, Boston, 1981, Paul Joseph, Giáo sư xã hội học, đại học Tufts, viết, trang 83:

“Dù rằng thiếu bằng chứng, Washington tiếp tục cho rằng cuộc đấu tranh chống Pháp (ở Việt Nam) là do sự hứng khởi và chỉ đạo từ Liên Bang Sô Viết.  Thí dụ, trong bức công điện gửi cho Thủ Tướng (Pháp) Ramadier, đại sứ Mỹ vẫn sai lầm cho rằng Việt Minh là một phong trào mà “triết lý và tổ chức chính trị đều phát khởi từ và bị  kiểm soát bởi điện Kremlin. Tuy vậy tình báo Mỹ đã cố gắng, và thất bại, để kiếm ra bằng chứng là có mối liên hệ kiểm soát giữa Moscou và Hồ Chí Minh.  Một công điện của Bộ ngoại giao gửi cho đại sứ Mỹ ở Trung Quốc viết “Bộ không có bằng chứng nào về sự nối kết trực tiếp giữa ông Hồ và Moscou nhưng cho rằng có.”

(Despite a lack of evidence,Washington continued to perceive the anti-French struggle (in Vietnam) as something inspired and directed from the Soviet Union. For example, in the cable to Premier Ramadier cited above, the American embassador falsely maintained that the Vietminh was a movement whose “philosophy and political organization emanated from and was controlled by the Kremlin.” Yet American intelligence had tried, and failed, to substantiate the existence of controlling ties between Moscou and Ho Chi Minh. A State Department cable to the US Ambassador in China read “the Department has no evidence of a direct link between Ho and Moscou but assumes it exists..)

Marilyn B. Young, trong cuốn The Vietnam Wars: 1945-1990, HarperPerennial, New York, 1991, viết, trang 4:

“Trong vài năm tới, những văn bản Hồ Chí Minh viết bị tố cáo vì những “mùi hôi quốc gia” trong đó, và sự ủng hộ của ông Hồ về một liên minh rộng rãi bao gồm cả các địa chủ cỡ nhỏ và trung bình, miễn là họ yêu nước, bị đả kích là kẻ xét lại và là kẻ hợp tác (với kẻ thù).  Phải mười năm sau sự tranh luận đắng cay về mối liên hệ giữa cách mạng quốc gia và cách mạng xã hội mới được giải quyết, theo đường lối lúc đầu đưa ra bởi ông Hồ, sự thành lập Việt Minh (Việt Nam Cách Mệnh Đồng Minh Hội.”

(Over the next few years, Ho Chi Minh’s writings were denounced for their “nationalist stench”, and his support for a broad alliance that could include even small and medium landowners, provided they were patriotic, was attacked as reformist and collaborationist.  A decade would pass before this bitter debate on the relationship between national and social revolution was resolved, along the lines initially by Ho, in the formation of the Viet Minh.)

Trên đây chỉ là vài tài liệu trong số hàng trăm tài liệu khác có những nhận định tương tự  rải rác trong những cuốn sách mà tôi đã đọc. Lẽ dĩ nhiên, tôi không thể nào trích dẫn tất cả những nhận định ấy trong phạm vi một bài viết như thế này.  Điều này đòi hỏi nhiều thời gian và thích hợp trong một cuốn sách viết ông Hồ hơn.  Nhưng qua những tài liệu trên, chúng ta có thể thấy rằng ông Hồ không phải là tay sai của Nga và Tàu như một số người có đầu mà không có óc cố tình lên án ông ta là tay sai của Đệ Tam Quốc Tế, hay tệ hơn nữa là “điệp viên của Cộng Sản Quốc tế” [Minh Võ]. Họ không hề biết chính trị của ông Hồ giữa Nga và Tàu, đã khôn khéo từ chối không nhận đề nghị của Nga cũng như Tàu gửi quân tình nguyện vào đánh giúp. Chúng ta hãy đọc một đoạn trong cuốn Ho Chi Minh của Jules Archer, Chương 9: “Giữa Con Gấu Nga Và Con Rồng Tàu” (Between Russian Bear and Chinese Dragon), trang 109:

“Đến Bắc Kinh dự lễ kỷ niệm 10 năm Cách Mạng Trung Quốc, ông Hồ cẩn thận đứng giữa Mao Trạch Đông và đại diện của Nga Sô, Miklai Suslov.  Trong những cuộc đàm phán riêng, ông Hồ đã thành công lấy được sự hứa hẹn của cả Bắc Kinh lẫn Moscou để tăng gia giúp thêm vũ khí và viện trợ dân sự, nhưng khôn khéo từ chối những đề nghị gửi quân tình nguyện hay cố vấn quân sự đến Việt Nam.  Ông Hồ biết rõ là nếu để cho con gấu Nga hay con rồng Trung Hoa được đặt chân vào cửa ngõ Hà Nội thì dần dần cửa ngõ này sẽ bị cưỡng bách mở rộng ra cho đến khi Bắc Việt mất đi nền độc lập và trở thành một quốc gia bị chiếm.”

(Visiting Peking in 1959 for the 10th anniversary of the Chinese Revolution, Ho was careful to stand between Mao Tse-Tung and Chief Soviet Delegate Mikhail Suslov. In private negotiations,  he managed to win pledges of additional arms and aid from both Peking and Moscou, but adroitly declined their offers to send “volunteer” troops or military advisers. Ho knew that if either the Russian bear or the Chinese dragon were allowed to trust a foot inside Hanoi’s door, that door would gradually be forced open until North Vietnam lost its independence and became a captive nation.)

Đọc về ông Hồ chúng ta thấy rõ Mỹ và Pháp, vì những nhận định chính trị sai lầm, đã  càng ngày càng đẩy ông ta về phía Cộng Sản, và ông ta không có con đường nào khác, vì để thực hiện  mục đích không hề thay đổi của ông là thực hiện nền độc lập và thống nhất của Việt Nam, nên ông ta cần đến các đồng minh. [Hãy nghĩ đến chuyện ông viết 8 bức thư cho Tổng Thống Truman, đến chuyện Mỹ giúp 80% quân phí cho Pháp trở lại tái lập nền đô hộ ở Đông Dương, và rồi dựng lên chế độ Ngô Đình Diệm, vi phạm hiệp định Genève, ngăn chận cuộc bầu cử vào năm 1956 để thống nhất đất nước.]

Cuối cùng, vị thế của ông Hồ Chí Minh đối với dân tộc Việt Nam ra sao?  Chúng ta đã biết, Wilfred Burchett đã nhận định ở trên:

Hồ Chí Minh là của toàn thể quốc gia Việt Nam (that Ho Chi Minh belongs to the whole Vietnamese nation.)  Không có một lằn danh giới nào ở vĩ tuyến 17 có thể làm cho người dân miền Nam xa lìa Hồ Chí Minh dù rằng thủ đô được đặt ở miền Bắc. Hồ Chí Minh đã được chấp nhận là lãnh tụ và là nguồn cảm hứng cho mọi người Việt Nam – trừ số người đã lần lượt phục vụ những quan thầy Nhật, Pháp, rồi Mỹ.

Nhận định này đúng hay sai?  Có lẽ câu trả lời thiết thực nhất là của Hoàng Xuân Ba trong bài “Hai Câu Chuyện Hoàn Toàn Trung Thực”,  mới đây đăng trên Đàn Chim Việt:

Chuyện thứ nhất :  lá cờ đỏ sao vàng trên mạng:

Trưa 2/9/2006, ngày quốc khánh của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đang nói chuyện với một người bạn Việt Kiều trên Yahoo Messenger (YM) tôi bất ngờ nhận được thông điệp của một người bạn trẻ Việt Nam: “Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại sống mãi trong sự nghiệp của chúng ta”,  kèm theo đó là lời kêu gọi hãy thay đổi avatar (hình ảnh đại diện) trên YM bằng lá cờ đỏ sao vàng, lá cờ biểu trưng cho Đảng Cộng sản Việt Nam. Nhìn lại danh sách nickname của mình trên YM, tôi thấy rất đông các bạn trẻ thay đổi avatar bằng hình ảnh lá cờ đỏ sao vàng.

Sáng nay, 4/9/2006, báo Tuổi Trẻ đăng bài: “Mừng Quốc khánh trên mạng”. Trong bài viết này, tác giả mô tả lại hình ảnh nhà nhà treo cờ, người người treo cờ trên mạng: “Lần đầu tiên, cư dân trên mạng đón lễ Quốc khánh hoành tráng bằng cách đưa hình ảnh lá cờ Tổ quốc lên mạng trang trọng trên các blog (nhật ký cá nhân trên mạng) và trên avatar trong công cụ chat YM của mình trong ngày 2-9. Và ngày 3-9, tất cả đều đồng loạt thay vào đó là chân dung của Bác Hồ”.

Chuyện thứ hai : lăng ông Hồ Chí Minh :

Tôi đã có dịp gặp gỡ trên mạng với bạn đọc của DCVOnline gần đây qua bài Tản mạn vể xã hội chủ nghĩa ở Hà Nội, đăng ngày 31/08/2006 (với hàng chục ý kiến khác nhau). Cũng dịp công tác này, tôi tranh thủ được một thời gian ngắn để ghé thăm lăng ông Hồ với mục đích tìm hiểu xem thái độ, tình cảm của người dân Việt Nam và nhất là người dân Hà Nội đối với ông Hồ ra sao. Điều làm tôi thật bất ngờ là có rất nhiều cá nhân đến viếng thăm lăng ông, các đoàn viếng lăng vào ra tấp nập. Để vào thăm lăng của ông tôi được một anh bảo vệ cầm loa phóng thanh bắt phải đứng xếp vào hai hàng dọc, một đặc trưng của xã hội chủ nghĩa, rồi theo đó vào lăng. Quả thật tôi cảm nhận được sự trang nghiêm của lăng mộ ông Hồ và cả sự sùng bái của những người dân bình thường viếng thăm lăng. Một cách tự động, tất cả mọi người đều kính cẩn, nghiêm trang khi đi ngang qua xác ông được đặt trong một cái hòm rất rộng, bốn bên là kính trong suốt. Trông ông không giống như những bức hình chụp mà tôi từng thấy, khuôn mặt trông vẫn còn rất tươi tắn hồng hào nhưng trông giả chứ không thật, có lẽ bị đánh sáp.

 Báo chí Việt Nam sáng 4/9/2006 đều đồng loạt đăng tin về việc có hàng vạn người đến viếng thăm lăng ông Hồ. Báo Tuổi Trẻ viết: “Sáng 2/9, đoàn người vào lăng viếng Bác dài ra tận hai phía trên phố Ngọc Hà và Hùng Vương. Đông nhất là các đoàn học sinh và người già từ các tỉnh Thái Nguyên, Hà Tây. Còn có rất nhiều đoàn đến từ tỉnh xa như Cao Bằng, Nghệ An, Quảng Trị, Bình Phước… Có nhiều người nước ngoài cũng đứng trong đoàn người từng bước vào lăng. Khu vực quảng trường trước lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh lúc nào cũng đông kín người”.

 Một thông tin đáng chú ý đó là thiếu tướng Đào Hữu Nghĩa, trưởng Ban quản lý lăng kiêm tư lệnh Bộ tư lệnh bảo vệ lăng ông Hồ cho biết đến hết buổi viếng ngày 2/9 chỉ khoảng 25.000 lượt người được vào viếng lăng ông, số còn lại đành phải chờ đến hôm sau. Tôi tin rằng con số trên rất thật bởi vì tôi đã được tận mắt chứng kiến dòng người xếp hàng dài vào viếng lăng ông Hồ, không nhất thiết phải do cơ quan hay các hội đoàn tổ chức.

Duiker cũng viết, trang 566: “Mỗi tuần có hơn 15000 người đến viếng thăm Lăng ông Hồ” (More than 15000 visit the mausoleum each week)

Tại sao ngày nay người dân Việt Nam vẫn còn kính ngưỡng ông Hồ Chí Minh, tuy rằng trên diễn đàn truyền thông hải ngoại có cả một chiến dịch để xóa bỏ “thần tượng Hồ Chí Minh”? Lý do rất dễ hiểu là phần lớn những điều viết về ông Hồ của giới chống Cộng là sai lầm, là vô căn cứ, bắt nguồn từ lòng thù hận một chiều của những người gọi là Quốc Gia, chứ không đặt trên những sự thật và sự kiện lịch sử. Thật vậy, những người chống Cộng cực đoan như Minh Võ chỉ nhìn thấy những điều lặt vặt như chúng ta thấy trong bài ông ta phê bình cuốn “Ho Chi Minh, A Life” của William J.Duiker. Để có thể thêm vài chi tiết về ông Hồ Chí Minh, có lẽ tôi cũng nên điểm qua bài phê bình Duiker của Minh Võ.

Xem tiếp Phần 2

Trần Chung Ngọc

Nguồn: giaodiemonline.com
Vkyno (st)

Về sự kiện Unesco ra nghị quyết kỷ niệm 100 năm ngày sinh Hồ Chí Minh

Sau khi Hồ Chí Minh qua đời tháng 9 năm 1969, các cá nhân, tổ chức chính trị-xã hội trên thế giới đã tập trung đánh giá cuộc đời, sự nghiệp Hồ Chí Minh. Những đánh giá đó từ những người cộng sản, từ những chính khách không cộng sản, từ những nhà hoạt động xã hội nổi tiếng, những văn nghệ sĩ có tên tuổi. Tất cả đều đánh giá sự cống hiến lớn lao của Hồ Chí Minh đối với sự phát triển của nhân loại, không những đối với thế kỷ XX mà còn đối với thế kỷ XXI và các thế kỷ tiếp theo.

Nay thì thấy một số mạng điện tử tiếng Việt và cả DVD nói xấu Hồ Chí Minh. Điều này xuất phát từ thái độ thâm thù đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam do ĐCS Việt Nam lãnh đạo và từ chủ trương “hạ bệ thần tượng Hồ Chí Minh” của các thế lực thù địch.

Trước khi nêu sự kiện Nghị quyết của UNESO năm 1987 về Kỷ niệm lần thứ 100 Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, tôi muốn nêu một vài sự kiện có liên quan.

Vào thời điểm sắp sửa kết thúc thế kỷ XX của thiên niên kỷ thứ hai và bước sang thế kỷ XXI của thiên niên kỷ thứ ba, tờ Time (Thời báo) của Mỹ đã phối hợp với Hãng Truyền hình CBS làm một cuộc lấy ý kiến bằng cách phát ra 7 triệu phiếu gửi đi nhiều nước để bầu chọn lấy 100 nhân vật nổi tiếng nhất, có ảnh hưởng nhất thuộc các lĩnh vực khác nhau của thế kỷ XX. Kết quả được công bố cuối tháng 12 năm 1999. Trong số 100 nhân vật được chọn, có Hồ Chí Minh. Trong số 100 nhân vật đó, người ta lại phân ra danh sách 20 nhà lãnh đạo có uy tín nhất trên thế giới trong thế kỷ XX. Hồ Chí Minh là một trong số 20 nhân vật đó, cùng với V.I. Lênin, M. Găngđi, W. Sớcxin, A. Khômêny, N. Manđêla, T. Rudơven, F.D. Rudơven, M. Xangơ, Luthơ Kinh, R. Rigân, v.v. Điều đó giải thích tại sao Trưởng Đại diện của tuần báo Time ở Hà Nội lúc ấy coi “Hồ Chí Minh là một trong những nhân vật có ảnh hưởng mạnh mẽ nhất trong thế kỷ XX”.

Trước đó nữa, năm 1983, để chuẩn bị cho sự ra đời của tác phẩm loại từ điển tiểu sử mang tên Văn hoá thế kỷ XX (XXth Century culture) do Alan Bullock và R.B. Wodinger chủ biên (Do Harper and Row xuất bản năm 1983), 300 nhà khoa học trên thế giới đã được hỏi ý kiến để bình chọn danh nhân văn hoá thế kỷ XX. Các nhà khoa học này đã thảo luận những tiêu chí thế nào là danh nhân văn hoá thế giới trong thế kỷ XX. Các nhà khoa học đã đưa ra quan niệm như sau:

a. Thế kỷ XX là thế kỷ của những đảo lộn khoa học và công nghệ, chẳng hạn Thuyết Tương đối của A. Anhxtanh. Ai phát minh ra những kết quả khoa học và công nghệ làm đảo lộn thế giới thì người đó là danh nhân văn hoá thế giới.

b. Thế kỷ XX là thế kỷ của những cuộc chiến tranh tàn bạo. Ai tích cực đấu tranh cho quyền sống của con người, bênh vực con người, giải phóng con người, là người tiêu biểu cho chủ nghĩa nhân văn, người đó là danh nhân văn hoá thế giới.

c. Thế kỷ XX là thế kỷ phi thực dân hoá (décolonisation). Ai là người góp phần tích cực giải phóng các thuộc địa, giải phóng các dân tộc bị áp bức, làm đảo lộn thế giới thuộc địa, vẽ lại bản đồ chính trị thế giới, thì đó là danh nhân văn hoá thế giới.

Hồ Chí Minh đã được 300 nhà khoa học chọn là một nhân vật tra cứu trong công trình đó (các trang 322, 333). Các nhà khoa học đó thừa biết rằng, Hồ Chí Minh là người cộng sản, mà một số người trên thế giới không ưa chủ nghĩa cộng sản. Nhưng Hồ Chí Minh là người cộng sản đích thực, là nhà văn hoá, là chiến sĩ tiên phong của một dân tộc tiên phong tích cực nhất, hy sinh cho sự nghiệp giải phóng các dân tộc bị áp bức, giải phóng con người, cho nên Hồ Chí Minh xứng đáng được chọn. Trong các cuộc thảo luận, 300 nhà khoa học nhất trí cho rằng: “Hồ Chí Minh là nhà mácxít hay nhà Nho, điều đó không quan trọng. Hồ Chí Minh là người cộng sản hay là người dân tộc chủ nghĩa, điều đó không quan trọng. Chỉ cần biết Hồ Chí Minh là Nguyễn ái Quốc – người yêu nước – thế là đủ để xếp ông vào hàng danh nhân văn hoá thế giới thế kỷ XX. Vì Hồ Chí Minh là người khởi xướng và giương cao ngọn cờ giải phóng các dân tộc thuộc địa và trở thành người dẫn đường chủ chốt được mặc nhiên thừa nhận và kính trọng của châu á và của thế giới thứ ba”[1].

Còn đối với UNESCO, có một sự kiện liên quan đến Hồ Chí Minh cần làm sáng rõ hơn.

Với sự cống hiến nổi bật của Hồ Chí Minh đối với sự phát triển của đất n­ước và đối với sự phát triển văn minh tiến bộ của nhân loại, Việt Nam — một quốc gia thành viên — đã gửi hồ sơ tới Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hoá của Liên hợp quốc (UNESCO) để Tổ chức này xem xét kỷ niệm nhân dịp 100 năm Ngày sinh của Hồ Chí Minh.

Trong Khoá họp toàn thể lần thứ XXIV tại Pari (thủ đô nư­ớc Cộng hoà Pháp) từ ngày 20-10 đến ngày 20-11-1987, UNESCO có một ch­ương trình nghị sự thảo luận, xem xét và cuối cùng đã thông qua Nghị quyết về Kỷ niệm 100 năm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh[2].

Cần nhắc lại rằng, năm 1974, tại Khoá họp lần thứ XVIII của mình, Đại Hội đồng UNESCO đã định với nhau rằng: định kỳ xét để tổ chức kỷ niệm các danh nhân văn hoá thế giới theo tiêu chí chung nhất là “những người đã để lại những dấu ấn quan trọng trong quá trình phát triển văn minh, tiến bộ của nhân loại”. Những danh nhân này sẽ được long trọng kỷ niệm nhân kỷ niệm các năm sinh chẵn 100, 200…Tại Khoá họp lần thứ XXIV, Đại Hội đồng UNESCO đã xem xét để ra nghị quyết kỷ niệm các danh nhân có các kỷ niệm năm sinh chẵn vào các năm 1988, 1989, 1990. Hồ Chí Minh là 1 trong 6 người có hồ sơ đề cử (có cả J. Nêru (ấn Độ), A. Macarencô (Liên Xô), 1 của Thái Lan, 1 của Cộng hoà Liên bang Đức, 1 của Thổ Nhĩ Kỳ). Tính đến Khoá họp Đại Hội đồng UNESCO lần thứ XXIV năm 1987 này, đã có 21 người được ra nghị quyết kỷ niệm.

Bối cảnh của việc xem xét các danh nhân trong Khoá họp Đại Hội đồng UNESCO cuối năm 1987 không mấy suôn sẻ, vì trước đó đã có một số quốc gia vì lý do chính trị đã rút ra khỏi danh sách thành viên của UNESCO. Có nước chỉ đề nghị nên xem xét những hồ sơ đề cử nào mà có năm chẵn 100 (đến năm 1988) thôi, vì họ còn “lấn cấn”, chưa thông lắm về các tiêu chí. Có nước đề nghị UNESCO nên hạn chế kỷ niệm các danh nhân…

Trong Khoá họp lần thứ XXIV này, UNESCO tôn vinh J. Nêru là “Nhà quán quân của phong trào giải phóng dân tộc”, với 45 phút thảo luận và thông qua nghị quyết.

Phía Việt Nam dự kiến khi xét Hồ Chí Minh có thể khó khăn hơn, bởi nhiều lý do. Lúc này, vấn đề Campuchia và vấn đề người Việt Nam vượt biên tỵ nạn đang nổi lên, nhiều nước đang hiểu lầm và không thiện cảm. Một bản kiến nghị gửi đến Đại Hội đồng có các chữ ký của 79 người Việt Nam vượt biên, di tản phản đối việc xét Hồ Chí Minh. Trong lúc đó, hệ thống xã hội chủ nghĩa đang “có vấn đề”, nghĩa là đang lún sâu vào cuộc khủng hoảng toàn diện. Trong tổng lượng phiếu 159 nước thành viên thì các nước xã hội chủ nghĩa chỉ có 8.

Thế nhưng, tình hình không rắc rối, phức tạp như chúng ta tưởng. Cuộc thảo luận của Đại Hội đồng Khoá họp XXIV diễn ra trong không khí hữu nghị, tình cảm chân thành đối với nhân vật được đề xuất trong hồ sơ là Hồ Chí Minh. Gần 30 nước đã ký tên đồng tác giả dự thảo Nghị quyết về Kỷ niệm 100 năm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi lên Đại Hội đồng. Cuộc họp Tiểu ban các vấn đề văn hoá đã thảo luận dự thảo này và được thông qua tại Đại Hội đồng bằng biểu quyết với đa số tuyệt đối. Tại Hội thảo quốc tế về Hồ Chí Minh tại Thủ đô Hà Nội, các ngày 29 và 30 tháng 3 năm 1990, ông Nguyễn Dy Niên, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao của Việt Nam, Chủ tịch Uỷ ban UNESCO của Việt Nam, đã có bài thuật lại những nét cơ bản nhất của sự kiện này.

Trong quá trình thảo luận, Chủ toạ Phiên họp là một quý bà người Thái Lan. Bà đã cho rằng, tư tưởng Hồ Chí Minh là tài sản chung của nhân loại, có giá trị vĩnh hằng, là niềm tự hào của các dân tộc. Một đại biểu của Cộng hoà Dân chủ Đức cho rằng, chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh là chủ nghĩa nhân văn của mọi thời đại. Một đại biểu của Xri Lanca cho rằng, Hồ Chí Minh là một nhà tiên tri, Hồ Chí Minh là ngọn hải đăng của các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới. Còn ông Trưởng Đoàn đại biểu của ấn Độ thì cho rằng, Hồ Chí Minh là một danh xưng cao quý, không chỉ nằm ngay trong mỗi chúng ta, mà gắn với sự tiến bộ của thời đại, vì vậy, việc kỷ niệm 100 năm Ngày sinh của Hồ Chí Minh vừa là một sự kiện quan trọng, vừa là niềm tự hào, niềm vinh dự lớn lao đối với mọi người lao động.

Nghị quyết về Kỷ niệm 100 năm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh có đoạn viết:

“Xét thấy việc tổ chức kỷ niệm trên quy mô quốc tế những nhà trí thức lỗi lạc và danh nhân văn hoá là góp phần vào việc thực hiện những mục tiêu của UNESCO và vào sự hiểu biết trên thế giới,

Nhắc lại Quyết định số 18 C-4351 về việc tổ chức kỷ niệm những vĩ nhân và những sự kiện đã để lại dấu ấn trong quá trình phát triển của nhân loại,

Ghi nhận rằng, năm 1990 sẽ đư­ợc đánh dấu bằng lễ kỷ niệm lần thứ 100 Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị anh hùng giải phóng dân tộc và là nhà văn hoá kiệt xuất của Việt Nam”.

Các văn kiện của UNESCO được quy định công bố bằng 6 thứ tiếng: Pháp, Anh, Arập, Tây Ban Nha, Trung Quốc, Nga. Nguyên văn tiếng Pháp đoạn cuối cùng của ba đoạn trích dẫn này trong Nghị quyết của UNESCO nh­ư sau: “Notant que, 1990 marquera le centième anniversaire de la naissance du Président Ho Chi Minh, héro de la libération nationale et éminent homme de culture du Vietnam”.Đáng chú ý là cụm từ éminent homme de culture được một số ngư­ời dịch là Nhà văn hoá lớn.

Theo tôi, bản Nghị quyết bằng tiếng Anh (trong đó có ghi là: Ho Chi Minh, Vietnamese hero of national liberation and great man of culture) thì có thể dịch Nhà văn hoá lớn, nhưng cũng có thể dịch là Nhà văn hoá ưu tú (hoặc cũng có thể dịch là Nhà văn hoá xuất sắc hoặc Nhà văn hoá kiệt xuất – great man of culture). Nhưng đối với bản tiếng Pháp thì phải dịch là Nhà văn hoá kiệt xuấtmới đúng nghĩa. Mà đây cả hai cái danh: Anh hùng giải phóng dân tộc và Nhà văn hoá kiệt xuất đều là của Việt Nam (du Vietnam), chứ không phải là Anh hùng giải phóng dân tộc là của Việt Nam, còn Nhà văn hoá kiệt xuất thì lại là của thế giới.

Một vấn đề cần lư­u ý nữa là: bản thân Nghị quyết này của UNESCO được thông qua theo lời mở đầu có tính mặc định mà tôi đã trích dẫn ở hai đoạn đầu bên trên. Đáng chú ý là những cụm từ, như “Những nhà trí thức lỗi lạc và danh nhân văn hoá” cũng như Quyết định khung số 18 C-4351 của UNESCO “Kỷ niệm những vĩ nhân và những sự kiện đã để lại dấu ấn trong quá trình phát triển của nhân loại” thì có thể hiểu đã mặc nhiên công nhận Hồ Chí Minh là Danh nhân văn hoá thế giới rồi, chứ không nên gọi là Tổ chức UNESCO “phong” cho Hồ Chí Minh danh hiệu này, danh hiệu nọ. Tôi nghĩ rằng, nói đúng như thế thì sẽ không phức tạp hoá vấn đề.

Nghị quyết trên đây của UNESCO còn khẳng định rằng: “Chủ tịch Hồ Chí Minh là một biểu t­ượng kiệt xuất về quyết tâm của cả một dân tộc, đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam, góp phần vào cuộc đấu tranh chung của các dân tộc vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội… Sự đóng góp quan trọng về nhiều mặt của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong các lĩnh vực văn hoá, giáo dục và nghệ thuật, là kết tinh của truyền thống văn hoá hàng nghìn năm của nhân dân Việt Nam, và những tư tưởng của Ng­ười là hiện thân của những khát vọng của các dân tộc trong việc khẳng định bản sắc dân tộc mình và tiêu biểu cho việc thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau”.

Do đó, Nghị quyết của UNESCO đã nêu rõ: “Khuyến nghị các quốc gia thành viên kết hợp kỷ niệm lần thứ 100 Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh bằng cách tổ chức những hoạt động đa dạng để tư­ởng niệm Người, để làm cho mọi ngư­ời hiểu đ­ược tầm vóc to lớn của những tư tưởng và sự nghiệp của Ng­ười vì công cuộc giải phóng dân tộc”.

Việc thực hiện Nghị quyết này của UNESCO ở Việt Nam, nhất là ở trên bình diện quốc tế, ở các nước thành viên Tổ chức UNESCO, có nhiều trắc trở.

Phải thấy được hoàn cảnh đặc biệt lúc đó.

Sau ngày 30-4-1975, Việt Nam bước vào một cuộc thử thách mới, đầy chông gai trên bình diện quốc tế. Hầu như Việt Nam bị cô lập, ít được bạn bè cảm thông. Đây là một bi kịch lớn. Nói bi kịch lớn là vì lẽ ra mọi người, hay chí ít là bạn bè số đông của Việt Nam, sẽ cùng Việt Nam sẻ chia mừng vui và bắt tay vào công cuộc giúp Việt Nam băng bó vết thương chiến tranh, xây dựng một cuộc sống mới. Nhưng không đơn giản như vậy. Nói để cho người khác hiểu là việc không đơn giản. Việc Việt Nam đem quân sang Campuchia chẳng hạn. Đây là việc làm hợp với đạo lý, nhưng nhiều nước coi là Việt Nam đã xâm lược Campuchia. Hợp chúng quốc Hoa Kỳ, sau khi bại trận “lấm lưng trắng bụng” ở Việt Nam, lại bước vào một cuộc phiêu lưu mới, tiến hành cấm vận mọi mặt với Việt Nam. Việt Nam bước vào những đợt khó khăn mới. Nạn đói đã xảy ra trong thời bình. Lòng người không yên. ở ngoài bắc thiếu lương thực phải ăn bo bo đã đành, nhưng đợt công tác mà tôi có mặt một tháng tại thành phố Hồ Chí Minh mùa hè năm 1977 ở giữa vựa thóc lớn đất nước mà vẫn không đủ gạo ăn, phải ăn bo bo. Đó còn là cơ chế vốn chỉ thích ứng trong chiến tranh nay đến thời bình tỏ ra cứng nhắc nhưng vẫn được vận hành và đương nhiên nó không phù hợp mà Đảng Cộng sản chưa sớm nhận ra.

Đã xảy ra cuộc khủng hoảng kinh tế-xã hội nghiêm trọng. Làn sóng người Việt Nam ồ ạt ra đi khỏi đất nước, mà đây chủ yếu là lực lượng của chế độ Sài Gòn lòng đầy hận thù, trắc ẩn, mặc cảm với chế độ chính trị mới ở Việt Nam. Trung Quốc, sau những chuỗi không êm ả với Việt Nam, đầu năm 1979 đã đưa quân sang mấy tỉnh biên giới phía bắc Việt Nam gây chiến, nói là để “dạy cho Việt Nam một bài học”.

Trong hoàn cảnh đó, có sự chống phá quyết liệt từ những phần tử cực đoan, nhất là từ một số người gốc Việt ở nước ngoài. Họ ngăn trở việc Tổ chức UNESCO đứng ra tổ chức lễ Kỷ niệm hoặc đứng ra cổ suý cho các quốc gia thành viên tổ chức các hoạt động tưởng niệm hoặc lễ kỷ niệm lần thứ 100 Ngày sinh của Hồ Chí Minh theo đúng như Nghị quyết của UNESSCO, viết rằng: “Đề nghị ông Tổng Giám đốc UNESCO tiến hành những bước đi phù hợp để kỷ niệm lần thứ 100 Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh và giúp đỡ các hoạt động tưởng niệm chung được tổ chức nhân dịp này, đặc biệt là những hoạt động diễn ra ở Việt Nam”.

Ngay tại Pari, trụ sở của Đại Hội đồng UNESCO, cũng không tài nào tổ chức nổi một lễ kỷ niệm, tưởng niệm Hồ Chí Minh. Chỉ có hai nước là đứng ra tổ chức được lễ kỷ niệm theo đúng tinh thần của Nghị quyết UNESCO, đó là Việt Nam (đương nhiên, vì là đất nước của Hồ Chí Minh) và ấn Độ. Lễ Kỷ niệm và cuộc Hội thảo nhân dịp Kỷ niệm 100 năm Ngày sinh của Hồ Chí Minh được long trọng tổ chức tại Hà Nội với nhiều bạn bè quốc tế, những người có cảm tình với Việt Nam và những người nhận rõ những cống hiến về nhiều mặt của Hồ Chí Minh đối với những bước tiến của dân tộc Việt Nam cũng như đối với hành trình của nhân loại vươn tới tất yếu của tự do.

Trở lại vấn đề Nghị quyết 18.65 của phiên họp lần thứ 24 Đại hội đồng UNESCO năm 1987. Tại sao thế giới đánh giá Hồ Chí Minh như vậy? Tôi thấy chẳng phải ngẫu nhiên mà UNESCO đánh giá như thế. Tôi thấy như sau:

Một: Hồ Chí Minh là chiến sĩ tiên phong trong thế kỷ phi thực dân hoá.

Hồ Chí Minh là người lĩnh ấn tiên phong của dân tộc Việt Nam và của nhân loại cần lao tiến công vào chủ nghĩa thực dân để đưa lại độc lập, tự do cho mỗi dân tộc, mỗi con người. Thế giới thấy Hồ Chí Minh là một con người đặc biệt trong thế kỷ XX, một thế kỷ phi thực dân hoá. Chủ nghĩa thực dân là một vết nhơ lớn nhất trong lịch sử của loài người. Đúng là một vết nhơ thật. Một dân tộc đang yên đang lành thì bỗng nhiên có một thế lực thực dân đến bắt làm nô lệ, không cho người ta có quyền sống, hoặc nếu để sống thì cái quyền con người sống bị chà đạp. Thực dân xâm chiếm thuộc địa nhưng lại được che dấu bằng những lời lẽ mỹ miều là đi “khai hoá văn minh”.

Hồ Chí Minh chọn chủ nghĩa thực dân là mục tiêu lớn nhất để công phá. Hồ Chí Minh tố cáo mạnh mẽ chủ nghĩa thực dân ở tất cả mọi diễn đàn và sử dụng tất cả mọi vũ khí mà ông có. Người viết “Bản án chế độ thực dân Pháp”. Người tổ chức và lãnh đạo các cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân. Hồ Chí Minh là một con người tiên phong của một dân tộc tiên phong đấu tranh phi thực dân hoá trên đất nước ông và trên thế giới.

Với chiến thắng Điện Biên Phủ chiều ngày 7-5-1954, Việt Nam đã mở đầu cho một quá trình sụp đổ của chủ nghĩa thực dân cũ trên toàn thế giới. Với chiến thắng trưa ngày 30-4-1975 tại Sài Gòn, dân tộc Việt Nam đã báo hiệu cho sự sụp đổ của chủ nghĩa thực dân mới trên toàn thế giới. Một dân tộc tiên phong và một con người tiên phong của nhân loại tiến bộ. Thế giới không đặt lầm. Thế giới đã đúng. Việt Nam không làm hổ danh, không phụ lòng tin của lương tri loài người tiến bộ. Nếu tạc tượng những vĩ nhân thế giới thuộc thế kỷ XX, một thế kỷ phi thực dân hoá, thì Hồ Chí Minh xứng đáng được tạc bức tượng đẹp nhất.

Hai: Hồ Chí Minh là một con người đầy lòng vị tha, khoan dung.

Trong một thế giới đầy bất trắc của quan hệ con người, Hồ Chí Minh hiển hiện như một tấm lòng bao dung. Hồ Chí Minh đã nói rằng, sự bao dung là như biển cả, nó có thể nhận bao nhiêu nước từ các sông suối. Hồ Chí Minh tiếp thu truyền thống văn hoá khoan dung của dân tộc Việt Nam, như ông đã viết rằng, dân tộc Việt Nam là một dân tộc giàu lòng đồng tình và bác ái. Hồ Chí Minh không bao giờ kỳ thị, bài bác các học thuyết, trong quan hệ ứng xử của con người và của cộng đồng này với cộng đồng khác. Sự khoan dung trong thái độ ứng xử của Hồ Chí Minh đến mức đến như một số người hiểu lầm là trong cuộc sống, giải quyết trong các mối quan hệ, Hồ Chí Minh hay nặng về tình. Thực ra, Hồ Chí Minh không duy tình, không duy lý, mà luôn luôn “vừa có lý, vừa có tình”, lấy chữ “nhân” làm nền tảng.

Trong khoan dung văn hoá Hồ Chí Minh, thì các giá trị văn hoá nhân loại như là một giòng chảy tự nhiên qua tâm hồn Hồ Chí Minh. Hồ Chí Minh chính là bộ lọc văn hoá chắt lọc cái chân, cái thiện, cái mỹ. Nếu tập hợp, lần dở những trang sách, trang báo của các nhà “Hồ Chí Minh học”, “Việt Nam học” nổi tiếng trên thế giới thì biết cơ man nào là những đánh giá rất đặc sắc về khía cạnh văn hoá khoan dung của Hồ Chí Minh. Trong thực tế cuộc sống, mặc nhiên có sự so sánh. Trong sự so sánh đó, nổi bật lên Hồ Chí Minh, một nhân vật sáng ngời của nhân văn, văn hoá, khoan dung trong cái thế giới có lúc cũng có vẻ hỗn mang về các mối quan hệ giữa con người với con người này.

Ba: Hồ Chí Minh là một chiến sĩ văn hoá, là một hiệp sĩ của UNESCO tích cực giải quyết những vấn đề toàn cầu.

Vấn đề lớn nhất mà Hồ Chí Minh nêu lên và hướng cả cuộc đời của mình cũng như hướng cả dân tộc Việt Nam cùng những dân tộc khác trên thế giới vào giải quyết là đấu tranh giải phóng con người. Đối với Hồ Chí Minh, mọi hoạt động, mọi cuộc đấu tranh đều hướng đích đó. Hồ Chí Minh tập hợp cả một véctơ lực vào cái đó.

Từ cái chung nhất đó, Hồ Chí Minh nêu lên và hướng vào giải quyết vấn đề hòa bình, hòa bình cho dân tộc Việt Nam và hòa bình cho thế giới, một nền hòa bình thật sự, hòa bình bền vững mà trên đó bảo đảm các quyền dân tộc cơ bản độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ. Cái nguyên tắc đó trở thành cái khung cho mọi hiệp định chính trị, mà nó đã thể hiện ở Hiệp định Giơnevơ về Đông Dương ngày 20-7-1954 và Hiệp định Pari về chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam ngày 27-1-1973.

Hồ Chí Minh là con người của hòa bình. Hồ Chí Minh coi đó là nguyên tắc hành xử giữa con người với con người, giữa dân tộc này với dân tộc khác. Nhưng, cái chốt của Hồ Chí Minh là ở chỗ: đó phải là một nền hòa bình chân chính. Trước kẻ xâm lược, nhiều lúc Hồ Chí Minh nhân nhượng, nhưng kẻ cướp càng lấn tới thì ông kêu gọi cả dân tộc vùng lên đấu tranh gìn giữ hòa bình chứ không phải có hòa bình bằng mọi giá, hòa bình trong cái thế hèn kém của một kẻ nô lệ.

Sau khi giành được chính quyền, thiết lập được Nhà nước mới – Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà — Hồ Chí Minh tuyên bố trước toàn thể dân tộc Việt Nam cũng như toàn thể nhân dân thế giới rằng, nước Việt Nam đã thật sự trở thành một nước tự do và độc lập, toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững nền tự do và độc lập ấy. Nhưng thực dân Pháp quyết tâm chiếm nước Việt Nam một lần nữa. Cuộc kháng chiến đã nổ ra sớm ở Nam Bộ và Nam Trung Bộ từ ngày 23-9-1945, tức là đúng 3 tuần lễ sau Ngày Độc lập 2-9-1945. Nhân dân miền Nam đã đi liền một mạch gian khổ, kiên cường, Thành đồng Tổ quốc, “đi trước về sau” từ ngày đó đến tận ngày 30-4-1975.

Ý đồ của thực dân Pháp là gây chiến tranh trở lại, “gặm nhấm” dần lãnh thổ Việt Nam, chia cắt Nam Bộ ra khỏi đất nước Việt Nam. Quan điểm có tính nguyên tắc của Hồ Chí Minh là Nam Bộ là máu của máu Việt Nam, là thịt của thịt Việt Nam, là tìm cách bảo vệ chính quyền còn non trẻ, tránh đụng độ với các thế lực có ý định xâm lược, bảo vệ nền hoà bình lâu dài cho đất nước. Chính vì thế mà Hồ Chí Minh gồng mình lên để bước qua những chông gai. Hồ Chí Minh hoà với quân Tưởng Giới Thạch để kìm quân Pháp, ông hoà với Pháp để đuổi quân Tưởng Giới Thạch, và ông ký Hiệp ước 6-3-1946, phái người đi dự Hội nghị trù bị Đà Lạt, cử đoàn đi dự Hội nghị ở Phôngtenblô (Pháp) và khi các hội nghị đó không đạt kết quả, thì Hồ Chí Minh ký Tạm ước 14-9-1946.

Hồ Chí Minh tìm cách hoà hoãn với cả kẻ cướp để mong cứu vãn hoà bình, có lúc chịu nhận Việt Nam là nước tự do trong Liên hiệp Pháp, bảo đảm quyền lợi kinh doanh và các quyền lợi kinh tế khác cho người Pháp ở Việt Nam, v.v. Hồ Chí Minh viết thư cho các tổ chức và cá nhân quốc tế, kể cả cho một số nước có vai trò lớn trong Liên hợp quốc bày tỏ quan điểm, nguyên tắc đối ngoại của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Hồ Chí Minh nêu rõ quan điểm Việt Nam muốn là bạn với tất cả các nước dân chủ và không gây thù oán với một ai; sẵn sàng dành và tiếp nhận sự đầu tư về kinh tế với tất cả các nước, các nhà tư bản vào Việt Nam với mục đích cùng có lợi. Và Hồ Chí Minh cũng “rắn” khi tuyên bố rằng: nhân dân Việt Nam sẽ đứng lên cầm tất cả mọi thứ có trong tay để làm vũ khí chiến đấu chống xâm lược, bảo vệ hoà bình, bảo vệ nền độc lập, tự do cho Tổ quốc. Đúng như Hồ Chí Minh đã viết: “Cây muốn lặng nhưng gió chẳng đừng”. Nhân nhượng của Hồ Chí Minh và của nhân dân Việt Nam chỉ có giới hạn, có nguyên tắc. Hoà bình không bằng mọi giá. Không có thứ hoà bình trong thân phận của những người nô lệ.

Thế là cuộc chiến tranh lần nữa lại nổ ra. Lần này kéo dài 9 năm binh đao khói lửa, bằng trận đại thắng của Việt Nam và cũng là trận đại bại của thực dân Pháp ở Điện Biên Phủ kết thúc vào hồi 17 giờ 30 phút ngày 7-5-1954 và bằng Hiệp định Giơnevơ 20-7-1954.

Sau này, chiến tranh đã qua đi nhiều năm, nhiều chính khách và các sử gia, các nhà quân sự, các nhà báo, các nhà hoạt động xã hội Pháp đã tốn bao giấy mực viết về cuộc chiến tranh đó. Có lúc, trong số đó, có người đổ lỗi cho Hồ Chí Minh gây ra cuộc chiến tranh. Nhưng, sự thật là sự thật, nó phơi bày ra đó, không ai có thể chỗi cãi được. ý kiến đổ lỗi cho Hồ Chí Minh là số rất ít và bị chìm nghỉm đi. Hồ Chí Minh vẫn luôn hiện lên với tư cách là chiến sĩ hoà bình quốc tế.

Còn đối với cuộc chiến tranh Mỹ – Việt? Hồ Chí Minh và nhân dân Việt Nam không muốn cuộc chiến tranh này, nhất lại là “đấu” với lực lượng hùng mạnh, khổng lồ hơn Pháp nhiều. Hồ Chí Minh đã nhiều lần nêu quan điểm muốn “trải thảm đỏ” cho quân Mỹ ra khỏi Việt Nam. Nhưng, quân Mỹ cố bám lấy. Cuộc chiến đấu buộc phải diễn ra mà thiệt hại cho cả hai bên về vật chất và tinh thần không biết đến bao giờ mới hàn gắn lại được. Hồ Chí Minh quý từng giây phút hoà bình, khát khao hoà bình. Nhưng, cũng như trong cuộc kháng Pháp, ông biết đâu là giới hạn của sự chịu đựng, biết nguyên tắc “chơi” với kẻ xâm lược. Hoà bình của Hồ Chí Minh là một loại hoà bình chân chính. ở trong con người Hồ Chí Minh, thông điệp hoà bình cho mỗi một dân tộc, cho cả toàn thế giới là như thế.

Thông điệp đó, cái nguyên tắc về hoà bình của Hồ Chí Minh đó cần được phát huy trong thời buổi hiện nay. Có những chuyện tréo ngoe. Để dập tắt đổ máu, nhân danh hoà bình, nhân danh dân chủ, tự do, người ta lại đi đổ xô bán vũ khí cho các nước hiện đang đổ máu, hoặc những nước đang gầm ghè nhau, đang ở bên miệng hố chiến tranh. Người ta đang lấy luật này luật nọ để hành xử không công bằng trong nhiều quan hệ quốc tế. Nước này có vũ khí hạt nhân, thử vũ khí hạt nhân thì có vẻ lo lắng đấy, nhưng rồi không sao, nhưng nước kia mà có thì không, nhất thiết không thể được, v.v. Khái niệm hoà bình, hoà bình chân chính đang bị thử thách một cách nghiệt ngã.

Hồ Chí Minh nói: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”. Độc lập, tự do đó là độc lập, tự do trong một nền hoà bình chân chính, trong sự hợp tác, hữu nghị của tất cả các dân tộc trên thế giới — dù dân tộc lớn hay dân tộc nhỏ.

Hồ Chí Minh phấn đấu cho các dân tộc xích lại gần nhau, giao lưu, hữu nghị, hợp tác cùng phát triển. Cuộc đời của Hồ Chí Minh chính là một biểu tượng, hiện thân về cái đó. Mà điều đó lại bắt nguồn từ sinh khí của dân tộc, từ truyền thống của dân tộc Việt Nam, một dân tộc hòa hiếu, yêu chuộng hòa bình, tự do, công lý.

Có thể ai đó trong người Việt Nam cảm thấy bình thường, nhưng đối với thế giới, xét trong các vấn đề toàn cầu thì thấy rất thú vị, thú vị ở chỗ Hồ Chí Minh chính là người nêu ra và thực hành tích cực nhất cho việc bảo vệ môi trường, sinh thái.

Khỏi phải nói, vấn đề này hiện đang trở nên bức xúc, nhức nhối đến mức nào. Trong thời kỳ phát triển như vũ bão của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ, con người đã tạo ra khối lượng vật chất khổng lồ cho chính mình đồng thời lại tạo ra những tố chất hại mình. Đó là sự xâm hại môi trường sinh thái. Hình như Ph. Ăngghen thì phải, đã viết đại ý rằng, chúng ta không nên quá ảo tưởng vào những chiến thắng của mình đối với thiên nhiên; thiên nhiên sẽ trả thù chúng ta cho mỗi “chiến thắng” ấy.

Thế giới đang trở nên bất an hơn bao giờ hết. Sự xâm hại tự nhiên chính là hành vi phản văn hoá. Cái gọi là “sự thắng lợi” chinh phục tự nhiên của con người chính là sự tác động gây hiệu ứng phản lại của tự nhiên. Chinh phục tự nhiên không như một kẻ xâm lược thống trị một dân tộc khác. Bản thân con người là một thực thể của tự nhiên. Nếu gọi là sự chinh phục một cách đúng đắn của con người đối với tự nhiên thì đòi hỏi con người phải nhận thức đúng đắn quy luật của tự nhiên để hành xử cho đúng. Con người sẽ đánh mất khả năng chủ thể văn hoá khi thoát ra khỏi hệ thống điều chỉnh của tự nhiên — đó là sự cân bằng sinh thái. Chính con người hiện đại, mặc dù nắm được khoa học và công nghệ, lại là yếu tố phá vỡ một cách tệ hại nhất sự cân bằng sinh thái. Chính sự thống nhất của con người với tự nhiên tạo ra bản sắc văn hoá của mỗi vùng, miền.

Hiện thời, trên thế giới, người ta đã “quy” phát triển bền vững vào 6 nội dung:

1. Tăng trưởng kinh tế;
2. Công bằng xã hội;
3. Bảo vệ môi trường;
4. Phát triển văn hoá, giáo dục, công nghệ;
5. Bảo đảm tự do, dân chủ;
6. Phát triển con người.

Trong 6 nội dung đó, người ta lại hay tập trung vào ba nội dung có tính “trụ cột”, đó là Tăng trưởng kinh tế; Công bằng xã hội; Bảo vệ môi trường tự nhiên.

Quan niệm trên đây chính là phản ánh khái niệm phát triển, cho rằng, Phát triển là quá trình qua đó một xã hội người cùng nhau phấn đấu đạt tới chỗ thoả mãn được các nhu cầu mà xã hội ấy cho là cơ bản và hiện đại. Hoặc như quan niệm của Hội nghị của Liên hợp quốc về Môi trường và Phát triển họp ở Riô đơ Janerô (Braxin) năm 1992: Phát triển bền vững là một sự phát triển thoả mãn những nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không làm hại tới khả năng đáp ứng những nhu cầu của các thế hệ tương lai.

Hồ Chí Minh đã phát động Tết trồng cây từ cuối năm 1959. Hồ Chí Minh cho đăng trên báo Nhân Dân, số 2082, ngày 28-11-1959 bài “Tết trồng cây”, trong đó cho rằng: “Việc này tốn kém ít mà lợi ích rất nhiều”; rằng, miền Bắc hiện có độ 14 triệu người, trong đó có 3 triệu trẻ em thơ ấu, còn 11 triệu người từ 8 tuổi trở lên đều có thể trồng cây; như vậy là mỗi tết trồng được độ 15 triệu cây; từ năm 1960 đến năm 1965 là năm cuối cùng của Kế hoạch 5 năm lần thứ nhất, chúng ta sẽ có 90 triệu cây, vừa có cây ăn quả, cây có hoa, vừa có cây làm cột nhà; và trong vòng 10 năm, nước ta sẽ ngày càng tươi đẹp, khí hậu điều hoà hơn, cây gỗ đầy đủ hơn, đời sống nhân dân được cải thiện hơn.

Dịp cuối năm 1959, Hồ Chí Minh lại kêu gọi toàn dân hưởng ứng phong trào một tháng trồng cây (từ ngày 6-1-1960 đến ngày 6-2-1960) và mong nhân dân duy trì bền bỉ “Tết trồng cây” hằng năm.

Đi thăm các địa phương, các cơ quan, Hồ Chí Minh thường trồng cây. Hồ Chí Minh tham khảo ý kiến của các chuyên gia lâm nghiệp để có thể trồng cây gì phù hợp nhất. Theo tư vấn của các chuyên gia, Hồ Chí Minh hay trồng nhất là cây đa. Đây là loại cây nếu trồng ở nơi công cộng thì rất thích hợp, nó tỏa bóng mát nhiều, ít sâu bệnh, dễ sống, tuổi thọ lâu (khoảng 500-700 năm). Hồ Chí Minh quan niệm trồng cây nào phải sống cây ấy, cho nên ông trồng “thật”, ông tưới nước thật chứ không phải trên ngực áo có bông hoa giả, xẻng xúc đất thì quấn giấy xanh giấy đỏ để quay phim, chụp ảnh, và khi về Hà Nội Hồ Chí Minh thường hỏi thăm cây do mình trồng còn sống không, nó đang như thế nào.

Tới thăm xã Nam Cường, một xã mới thành lập do lấn biển của huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình, đang đi trên đường làng, Hồ Chí Minh thấy hai hàng cây mới trồng. Hồ Chí Minh cho rằng, hình như cán bộ và nhân dân ở đây mới trồng vội hôm qua để đón mình (Ông Ngô Duy Đông, Bí thư Tỉnh uỷ Thái Bình lúc đó thừa nhận đúng là như vậy). Hồ Chí Minh dặn rằng, phải rào lại khỏi bị trâu bò phá, và trồng cây nào phải cố gắng chăm sóc để tất cả đều sống.

Lạ thay và thật thú vị biết bao, đọc trong tài liệu Tuyệt đối bí mật, tôi thấy quan điểm của Hồ Chí Minh về môi trường sinh thái – vấn đề toàn cầu – rất rõ. Hồ Chí Minh đề cập trực tiếp vào vấn đề xử lý thi hài của mình khi qua đời. Đến bản viết năm 1966, Hồ Chí Minh viết lại như bản viết năm 1965 một đoạn: “Tôi yêu cầu thi hài tôi được đốt đi, tức là “hoả táng”. Tôi mong rằng cách “hoả táng” sau này sẽ được phổ biến. Vì như thế đối với người sống đã tốt về mặt vệ sinh, lại không tốn đất ruộng. Khi ta có nhiều điện, thì “điện táng” càng tốt hơn”.

Đến cái chết của mình mà còn nghĩ đến giữ vệ sinh và để khỏi tốn đất nông nghiệp, nghĩ đến trồng cây, nghĩ đến môi trường sinh thái thì đến nay tôi chỉ thấy Hồ Chí Minh chứ không thấy người thứ hai.

Câu chuyện trên đây thật nhiều tầng ý nghĩa. Nhưng, xét riêng về mặt môi trường sinh thái mà nói, thì quả là đáng khâm phục về tư chất của con người, một con người luôn luôn hướng tới việc nêu lên và giải quyết những vấn đề toàn cầu.

Dẫn ra một số điểm trên đây để thấy rõ thêm rằng, Hồ Chí Minh chính là con người của văn hoá, một nhà văn hoá hoạt động chính trị, một con người có tư duy luôn ở tầm quốc tế.

Phiên họp lần thứ XXIV Đại Hội đồng UNESCO năm 1987 tại Pari đã thực hiện được một sứ mệnh lớn lao, có ý nghĩa quan trọng đối với việc làm cho các dân tộc hiểu biết nhau hơn, làm cho con người xích lại gần nhau hơn, làm cho thế giới đẹp hơn lên khi khuyến nghị các quốc gia thành viên có những hoạt động kỷ niệm, tưởng niệm những danh nhân, những sự kiện văn hoá theo tiêu chí của mình. Chỉ điều này mới có ý nghĩa văn hoá lớn lao, chứ không phải là sự chống đối, sự quậy phá của những người có đầu óc thâm thù đối với sự nghiệp của Hồ Chí Minh, của nhân dân Việt Nam rồi đi đến ghét bỏ Hồ Chí Minh.

[1] Tham khảo báo Quân đội nhân dân, số Xuân Canh Ngọ, 27-1-1990.

[2] Những đoạn trích dẫn Nghị quyết này là từ tài liệu lư­u tại Uỷ ban UNESCO của Việt Nam.

Mạch Quang Thắng, ngày 22/5/2011
http://xichloviet.wordpress.com
NDVN, ngày 14/1/2012

nhandanvietnam.org

Toàn dân Việt Nam nhớ ơn Bác Hồ đời đời – Sự thật về DVD “Sự thật về Hồ Chí Minh”

LÊ TRỌNG VĂN (San Diego, California)

Trước hết, xin có đôi lời, tôi chỉ là người Việt Nam bình thường như mọi người Việt Nam khác biết yêu thương quê hương và nòi giống Lạc Hồng. Tôi không phải là Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam hay hội viên của bất cứ tổ chức chính trị nào. Sở dĩ, tôi viết bài này vì nhận thấy gần đây có nhiều người viết sai sự thật lịch sử về Hồ Chí Minh.

Lý do tôi viết bài này

Hôm nay là ngày 2 tháng 9, ngày lễ Độc lập của nước Việt Nam; để tưởng nhớ đến sự nghiệp cách mạng và công ơn Bác đã lãnh đạo, quy tụ được trí thức, chủ trương toàn dân đoàn kết kháng chiến giành độc lập thắng lợi, nên tôi viết bài này.

Đối với tôi, Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là lãnh tụ của riêng Việt Nam mà đích thực, Hồ Chí Minh là vĩ nhân của thế giới. Người đã đi tiên phong trong công cuộc giải phóng dân tộc của các nước bị trị bởi thực dân trên toàn thế giới. Không phải bây giờ tôi mới nói điều này mà tôi đã viết trong quyển: Việt Nam – Những sự kiện lịch sử trong thế kỷ 20, trang 201, xuất bản tại Mỹ năm 2005:


Chủ tịch Hồ Chí Minh tại mặt trận Đông Khê (1951). Ảnh TL.

Tất cả công trạng ông Hồ đòi được và nhờ vậy sau này ông Diệm được hưởng, quốc vương Lào Savang Vatthana, ông hoàng Norodom Sihanouk của Cao Miên, đòi được độc lập năm 1954; Tunisie được trả độc lập năm 1956, Madagascar năm 1960, Sénegal năm 1960, Congo năm 1960, Cộng hòa Nam Phi năm 1962, Algérie năm 1962; Ấn Độ thuộc địa Anh được độc lập năm 1947 (ngày 14/8/1997 họ mới kỷ niệm 50 năm độc lập), Indonesia được Hà Lan trao trả độc lập năm 1949, Mã Lai Á thuộc địa Anh được độc lập năm 1957, Singapore năm 1958. Chỉ riêng Philippines được Mỹ tự ý trao trả độc lập năm 1946. Tất cả đó là do công của ông Hồ và Đảng cộng sản Việt Nam đứng lên lãnh đạo cuộc chiến tranh thần thánh giải phóng dân tộc, đánh đổ chế độ thuộc địa, chế độ thực dân trên toàn thế giới”.

DVD Sự thật về Hồ Chí Minh chỉ là ác ý, bịa đặt, nói xấu

Mới đây, ở nước ngoài; một nhóm chống Cộng và chống luôn cả dân tộc đã hồ hởi làm ra một DVD Sự thật về Hồ Chí Minh. DVD đó là “sản phẩm trí tuệ” của linh mục Nguyễn Hữu Lễ và ông Trần Quốc Bảo? Và hai người này đồng thời lập ra một tổ chức có tên gọi là “Phong trào Quốc dân đòi đổi tên Sài Gòn”.

Thật ra, người ta chỉ mượn danh Lm. Lễ để lôi kéo những người công giáo vào cho đông. Đằng sau DVD này là nhiều tổ chức, trong đó có Việt Tân và có nhiều chuyên viên làm phim thực hiện.

Mặc dù DVD được phát không và đã được vận động ồn ào, quảng cáo rầm rộ trên nhiều báo, nhiều đài, nhiều trang web; nhưng đa số người Việt di tản thầm lặng không mấy hưởng ứng, đến nỗi phải quảng cáo phát không và gửi đến tận nhà không mất cước phí.

Sau khi DVD Sự thật về Hồ Chí Minh được tung ra, thì đã có nhiều bài viết đả kích và cũng có nhiều người lên tiếng ủng hộ trong giới chống Cộng.

Tôi cũng được một người bạn gửi tặng DVD quảng cáo Sự thật về Hồ Chí Minh, tôi đã xem hai lần, nhưng trong đó không có gì về sự thật Hồ Chí Minh cả, mà chỉ nói vớ va, vớ vẩn về đời tư của ông. Những người này nói ông Hồ Chí Minh có nhiều tên. Ngày sinh nhật không phải ngày 19 tháng 5. Ông có nhiều vợ và đã làm đơn xin việc với Phủ Toàn quyền Đông Dương…

Chẳng lẽ họ không biết rằng, một người muốn hoạt động chống thực dân phải có nhiều tên để che giấu lý lịch của mình. Họ cũng không biết rằng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết những 1205 bài báo và có tới 53 bút danh. Còn nói Hồ Chí Minh có nhiều vợ thì mọi người đều biết rằng lúc về Hà Nội, Bác chỉ sống độc thân cho tới lúc mất.


Hồ Chủ tịch lội suối đi công tác. Ảnh TL.

Cái mà mọi người để ý đến là Hồ Chí Minh đã đạt được những thành tựu gì trong việc cứu nước? Về vấn đề làm việc hay xin việc làm với chính quyền bảo hộ, tôi cho rằng nếu muốn chống lại kẻ địch thì cách tốt nhất nên đi sâu vào nội bộ địch. Họ đã cố tình hiểu sai, viết sai và nói sai với mục đích xuyên tạc sự thật.

Rõ ràng việc làm ra DVD này là không trung thực và hàm hồ vì những người có liên hệ đến DVD Sự thật về Hồ Chí Minh đều là những người có lập trường chống Cộng. Hơn nữa, họ không phải là những nhà viết sử chân chính. Họ không phê bình Hồ Chí Minh hay việc làm của ông mà toàn là bịa đặt, xuyên tạc, nói xấu. Xét ra, họ không đủ tư cách để viết hay nói về cuộc đời của Hồ Chí Minh.

Phản tác dụng của nhóm làm DVD Sự thật về Hồ Chí Minh

Hai tác giả của DVD là Lm. Nguyễn Hữu Lễ và Trần Quốc Bảo đã có nhiều tai tiếng trong cộng đồng người Việt ở nước ngoài. Nhất là trong vụ Bùi Đình Thi (cựu đại úy của miền Nam), Lm. Lễ đã ra làm chứng trước Tòa án Mỹ nhằm buộc tội ông Thi nên bị nhiều người phản đối. Còn ông Trần Quốc Bảo, người đứng đầu tổ chức đảng Phục Hưng Việt Nam có liên hệ với Việt Tân cũng là đại diện của “Phong trào Quốc dân đòi lại tên Sài Gòn”.

Với Lm. Lễ, xin hãy đọc một đoạn sau đây thì biết Lm. Lễ là người như thế nào? Trong Thư ngỏ đăng trên báo Người Việt gửi Lm. Nguyễn Hữu Lễ của ông Joseph Minh Tong (minh7us@yahoo.com) viết:

Xin hãy trở về với “Thiên chức linh mục” của mình và xin linh mục hãy từ bỏ những bài báo, e-mail và những cụm từ không mấy tốt đẹp mà dân gian vẫn dùng kèm theo với chữ “cha” để diễn tả.

Xin hãy dẫn dắt đoàn chiên của ngài đến ăn những đồng cỏ xanh tươi, uống những dòng suối nước trong lành, không có độc tố hận thù, ích kỷ, nhỏ mọn. Tội nghiệp thay cho đoàn chiên Việt chúng tôi đã quá đau khổ trong bao nhiêu năm qua vì hận thù, chém giết. Xin cho chúng tôi và con cháu chúng tôi nghe chuyện yêu thương, tha thứ, rộng lượng và còn biết bao nhiêu giá trị tinh thần khác mà hơn ai hết là một mục tử ắt linh mục biết, nhưng có lẽ linh mục đã để lòng thù hận che mất đi từ khi nào.

Cái nhìn của linh mục đã quá ư hẹp hòi và văn chương của linh mục chứa đầy hận thù, ích kỷ và gương xấu. Linh mục có dự định yêu cầu bà con ở Việt Nam chấm dứt xuất ngoại, cũng như đừng gửi thư ra nước ngoài xin giúp đỡ và rồi kiều bào Việt Nam ở hải ngoại đừng gửi tiền về cho thân nhân không? Số tiền giáo dân giúp cho Giáo hội Việt Nam làm sao sánh được với số tiền khổng lồ mà bà con ở hải ngoại gửi về giúp thân nhân hằng năm”.

Việc đòi lại tên Sài Gòn

Theo tôi, phải đặt câu hỏi: Ai đòi và đòi ai?

Ông Bảo nói: Quốc dân đòi. Thật ra từ “Quốc dân” để chỉ nhân dân ở trong nước. Ngay cả ông Bảo và Lm. Lễ đã xin đổi quốc tịch Việt Nam rồi. Đâu còn quốc tịch Việt Nam nữa. Hai chữ “Quốc dân” dính liền với đồng bào trong nước. Ông Bảo lấy tư cách gì mà hiệu triệu quốc dân đồng bào?


Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản tuyên ngôn độc lập tại quảng trường Ba Đình ngày 2-9-1945. Ảnh TL.

Và nếu đòi được thì đòi bằng cách nào? Đòi với ai?

Chúng ta cứ xem lịch sử Hoa Kỳ thì biết, người dân Mỹ là những dân nhập cư tứ xứ, hợp chúng nhưng người ta không mang trong đầu óc hận thù, thiển cận, hẹp hòi. Miền Bắc thắng miền Nam và đi tới thống nhất đất nước Hoa Kỳ. Họ đâu có nuôi hận thù và gây chia rẽ; trái lại họ đã chung lưng đấu cật, xây dựng một Hiệp chúng quốc Hoa Kỳ giàu mạnh nhất thế giới.

Bất kỳ ở bang nào tại Hiệp chúng quốc Hoa Kỳ cũng lấy tên tổng thống Washington; không một bang nào là không có. Vậy thì việc đổi tên thành phố Sài Gòn ra Thành phố Hồ Chí Minh không phải là điều lạ mà là điều phổ thông trong lịch sử cận đại.

Lịch sử đã sang trang, dù những người chống Cộng ở nước ngoài có muốn thay đổi cũng không thể lật ngược được lịch sử?

Làm DVD Sự thật về Hồ Chí Minh để bịa đặt, nói xấu và làm tiền

Lý do tại sao họ làm ra DVD trên đây? Vì những người chống Cộng ở nước ngoài nghĩ rằng cứ đạp đổ huyền thoại về Hồ Chí Minh tất nhiên sẽ đem lại thắng lợi trong công cuộc chống Cộng. Cái tên “Hồ Chí Minh lừng lẫy khắp năm châu”, cái tên Hồ Chí Minh làm cho họ ăn không ngon, ngủ không yên nên phải tìm cách hạ cho bằng được, bất kể bằng phương tiện nào?

Mục đích của những người làm DVD Sự thật về Hồ Chí Minh là để trục lợi. Nhưng họ đã mua lấy thất bại vì ngây thơ tưởng rằng sẽ bán DVD được nhiều là có tiền. Nhưng sự thật lại khác hẳn, đa số Việt kiều thầm lặng không ai mua và cũng không muốn xem đồ giả được ráp nối sơ sài. Chỉ có một số ít chống Cộng lấy DVD về xem nhưng lại “quên” gửi tiền ủng hộ.

Mặt khác, nếu chúng ta xem kỹ DVD sẽ thấy trong DVD, họ đã không cắt xén được sự nghiệp cao cả cứu nước của Hồ Chí Minh.

Nếu nhận xét kỹ, chúng ta sẽ thấy những phần tử chống Cộng ở nước ngoài chẳng làm nên trò trống gì mà chỉ biết nói ba hoa, viễn vông; sống với dĩ vãng chẳng có gì là tốt đẹp như vấn đề “cờ vàng ba sọc đỏ” chẳng hạn. Họ đều gọi cờ đó là quốc kỳ. Nếu đã là quốc kỳ thì phải có đủ các yếu tố: Lãnh thổchủ quyền và nhân dân làm gốc. Thiếu một trong những điều kiện trên đây thì sao gọi là quốc kỳ được?

Hiện tại, họ đang sống gửi trên đất người. Hơn ba chục năm chống đối Việt Nam từ chống Cộng đi tới chống lại dân tộc, chưa có lần nào đạt được thắng lợi cho dù là cỏn con. Kết quả là đi từ thất bại này đến thất bại khác; riết rồi hy vọng trở thành ảo vọng. Hiện tại thì gãy đổ, tương lai thì mù mịt, quanh quẩn chỉ đấu láo với nhau và nuôi dưỡng hận thù.

Họ không có gì để bám víu nên chỉ sống với quá khứ để tự an ủi lấy mình, sống cho qua ngày vì họ đã tự mình đánh mất quê hương.

Bước đầu tiên là họ chống giải tỏa cấm vận Việt Nam đã thất bại. Sau đó là cấm Việt kiều gửi tiền về cho thân nhân ở trong nước cũng đi tong. Thứ đến, chống việc đặt quan hệ ngoại giao giữa Hoa Kỳ và Việt Nam cũng thất bại. Chống không cho Việt Nam vào WTO cũng thất bại. Gần đây, Chính phủ Việt Nam đã lập thêm một Tòa Tổng lãnh sự Việt Nam tại Houston, Texas.

Cách đây, chừng vài năm về trước, văn hóa phẩm Việt Nam được họ gọi là văn hóa nhà quê, răng đen mã tấu, nhưng hiện nay báo chí trong nước và băng nhạc trong nước đã tấn công văn hóa chống Cộng; các cửa hàng Việt Nam bán rất nhiều đĩa nhạc xuất xứ từ Việt Nam. Thậm chí đài truyền hình Việt Nam VTV4 đã công khai và lan tràn đến với từng nhà bà con Việt kiều với nỗi vui mừng được thấy hình ảnh đẹp đẽ tuyệt vời của quê hương hàng ngày.

Cái đau đớn nhất của họ là hai vấn đề mà họ chống đều thất bại. Đó là cấm Việt kiều về thăm quê hương Việt Nam và gửi tiền về cho thân nhân ở trong nước. Mỗi năm, gần đến Tết cổ truyền của dân tộc là Việt kiều về nước ăn Tết mỗi ngày có đến mấy nghìn người. Và theo con số thống kê thì Kiều hối gửi về trong năm 2008 lên đến 7 tỉ đô la.

Những nhà viết Sử chân chính mới có đủ tư cách
viết về cuộc đời Hồ Chí Minh

Điều trước tiên, phải thành thật nói rằng, những người chống Cộng và làm DVD Sự thật về Hồ Chí Minh không phải phê bình đúng cách mà chỉ biết đặt điều nói xấu, kể ra những điều không đúng sự thật và như vậy là bịa đặt. Họ chỉ nói theo cảm quan của riêng mình: Họ không có khả năng lý luận như những nhà viết sử chân chính và không khách quan nhìn vào những sự việc đã thực sự xảy ra.


Nhân dân nước Nga đặt hoa trước tượng đài Hồ Chí Minh
kỉ niệm lần thứ 64 ngày Quốc khánh nước Việt Nam
và lần thứ 40 ngày mất của Hồ Chủ tịch. Ảnh: Châu Hồng Thủy.

Nói chung, họ không đủ tư cách để viết về cuộc đời và việc làm của ông Hồ Chí Minh trong việc tranh đấu giành lại độc lập, thống nhất cho nước nhà.

Bằng chứng khác, Hoa Kỳ là một đất nước tự do, tuy có chiến tranh Việt Nam xảy ra nhưng không vì lẽ đó mà họ cho rằng ông Hồ Chí Minh là người xấu. Nên các thư viện ở Mỹ, thư viện nào cũng có sách của người Mỹ viết về Hồ Chí Minh. Không riêng gì ở Mỹ mà ở Canada, Úc, Tân Tây Lan và cả các nước ở châu Âu, ở châu Á thì Thái Lan, Nhật… bất kỳ thư viện nào cũng có sách viết về cuộc đời Hồ Chí Minh.

Cũng vì vậy mà chúng ta thấy có nhiều tác giả người ngoại quốc từ Mỹ, Canada, Úc, Tân Tây Lan, Thái Lan, Nhật, Pháp, Đức… viết sách về Hồ Chí Minh vì họ quan niệm Hồ Chí Minh là người của lịch sử. Sách của họ viết có dẫn chứng và trung thực khách quan.

Tôi không có khả năng liệt kê hết các tên tuổi của những tác giả ngoại quốc khác viết về Hồ Chí Minh. Xin thành thật xin lỗi quý độc giả vì điều thiếu sót này. Và sau đây là tên các tác giả viết về Hồ Chí Minh (1) mà tôi đã xem qua:

  1. Pierre Brocheux với quyển: Biography of Ho Chi Minh.

  2. Peter A. Decaro với quyển: Ho Chi Minh Rhetoric for Revolution.

  3. Peter Deway với quyển: Strategy, Tactics and Ho Chi Minh.

  4. William J. Duiker với quyển: Ho Chi Minh: A life.

  5. Charles Fenn với quyển: Uncle Ho.

  6. Frances Fitzgerald với quyển: Chairman of the Worker’s Party of Vietnam.

  7. Bamber Gascoigne với quyển: Ho Chi Minh – Nguyen Sinh Cung.

  8. Jean Lacouture với quyển: A Political Biography.

  9. Milton Osborne với quyển: A History of Ho Chi Minh trail.

  10. Sukprida Phanomyong với quyển: Prathet Viet Nam kab Lung Ho.(Nước Việt Nam và Bác Hồ).(2)

Một bằng chứng hùng hồn khác là ở Thái Lan, mặc dù Chính phủ Thái Lan thân Mỹ nhưng họ vẫn công nhận Hồ Chí Minh là một nhà lãnh đạo có tài, có đức nên Chính phủ đã cho phép chính quyền địa phương lập ra những nhà lưu niệm để giữ kỷ vật của Bác Hồ khi Bác còn hoạt động ở Thái Lan và tổ chức cán bộ.

Hiện ở các tỉnh: Phi Chịt, Mahả Sảrakham, Sakol Nakhorn, Nakhorn Phanôm, Uđon đều có các nhà lưu niệm kỷ vật của Bác Hồ.

Tại sao Việt kiều ở Thái Lan rất sùng kính Bác Hồ? Vì rằng, họ đã thấy tận mắt những gì Bác Hồ bươn chải, gian lao, khó nhọc khi đi làm cách mạng, vì nước vì dân nên họ đặt niềm tin nơi Bác.

Chúng ta thử nghĩ xem, không nhẽ Việt kiều ở Thái Lan, tất cả đều là những người thơ ngây, nhẹ dạ. Bạn cứ đến vùng Đông Bắc Thái Lan bạn sẽ thấy Việt kiều, nhà nào cũng có bàn thờ Tổ quốc, trên bàn thờ đều có quốc kỳ nền đỏ sao vàng và ảnh bán thân của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Phải thành thật mà nói rằng, Việt kiều ở Thái Lan trang trọng thờ kính Bác Hồ như một vị thánh sống. Xem như vậy đủ biết uy tín của Bác như thế nào? Dưới suối vàng Bác sẽ mỉm cười với sự nghiệp cách mạng mà Bác đã lựa chọn.

Ở nước ngoài những thành phần phản động, vô Tổ quốc làm DVD Sự thật về Hồ Chí Minh nhằm mục đích phá vỡ huyền thoại về Hồ Chí Minh đã mang lấy thất bại vì không được sự hưởng ứng của đa số Việt kiều thầm lặng; họ chẳng thèm để ý đến và cho đó là chuyện vớ vẩn. Cho nên nhóm làm DVD Sự thật về Hồ Chí Minh không đạt được mục đích. Trái lại, còn bị đả kích dữ dội.

Khách quan mà nói cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trở thành đối tượng nghiên cứu cho khoa học. Đó là tư tưởng Hồ Chí Minh.

Còn đối với thế giới, Hồ Chí Minh đã từng nói: “Xây dựng khối hòa bình gồm nhiều dân tộc, coi nhau như bầu bạn, cùng sống với nhau trên những nguyên tắc hòa thuận hữu nghị, cùng nhau ra sức giữ gìn hòa bình thế giới”.

Người mong muốn như vậy và hành động vì mục tiêu đó – vì dân tộc và nhân loại. Vì vậy, UNESCO đã công nhận Hồ Chí Minh là Anh hùng giải phóng dân tộc, một Nhà văn hóa lớn vì Người đã làm sáng tỏ khát vọng ý chí của các dân tộc bị áp bức, giải quyết các mối quan hệ bằng phương thức hòa bình vì tương lai của nhân loại.

Kết luận

Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung có giáo mác, ngựa voi. Hồ Chí Minh chỉ có tầm vông vạc nhọn và vài khẩu súng lỗi thời, so với địch là các cường quốc có máy bay, xe tăng, pháo binh, xe lội nước, tàu chiến và nhiều tiền cùng với chư hầu tay sai và đạo quân thứ năm lúc nào cũng sẵn sàng phản bội Tổ quốc để làm nội ứng cho quân thù, là một cuộc đọ sức không cân sức. Thế mà, do tài tổ chức, lãnh đạo thao lược và nhất là trí tuệ của Hồ Chí Minh đã đạt được thắng lợi và thống nhất đất nước.

Hồ Chí Minh đích thực là Anh hùng vĩ đại nhất trong lịch sử Việt Nam, và là ngọn hải đăng của các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới. Điều đó không ai có thể phủ nhận được. Cuộc đời của Người vĩ đại không chỉ trong lịch sử Việt Nam mà cả trong lịch sử thế giới.

Với riêng tôi, tôi kính trọng Bác Hồ về nhiều mặt: Trí tuệ, tài đức (cần – kiệm – liêm – chính)… Thật vô cùng cảm động lúc Bác ra đi chỉ để lại có bộ quần áo kaki và một đôi dép râu.

California, viết để kỷ niệm ngày Độc lập 2 tháng 9.

Vài dòng về tác giả

Ông Cửu Long Lê Trọng Văn từng là cố vấn tình báo của Ngô Đình Nhu. Nhưng sau biết Ngô Đình Nhu và chế độ Ngô Đình Diệm làm việc không phải vì dân tộc Việt Nam, ông Văn rút lui. Vì thế, ông đã viết rất nhiều sách lên án tội ác của chế độ Diệm (như cuốn hồi ký Những bí ẩn lịch sử dưới chế độ DiệmMẹ Việt Nam, NXB ở Hoa Kỳ năm 1997). Ông cũng viết nhiều sách về Trương Vĩnh Ký, viết về những trí thức làm tay sai cho thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Cách đây hơn 10 năm, ông đã có một bài viết về Bác Hồ đăng trên Đông Dương Thời Báo.


Vài tác phẩm của tác giả


(1) Những tác giả trên đây có người viết rất nhiều sách về Việt Nam và Bác Hồ.

(2) Sukprida Phnomyong là một trong sáu người con của cựu thủ tướng Thái, ông Pridi Phanomyong. Lúc làm Thủ tướng, ông Pridi đã có nhiều cảm tình với Bác Hồ. Vì thế, cho nên lúc Việt kiều mới tản cư từ Lào qua Thái Lan, Thủ tướng Pridi cho đắp đê dọc sông Mê-kông với mục đích tạo công ăn việc làm cho Kiều bào.

honvietquochoc.com.vn

30 năm tôi đi tìm Hồ Chí Minh (*)

TRẦN CHUNG NGỌC
(Wisconsin – Hoa Kỳ)

Viết về một nhân vật có tầm vóc quốc tế như Hồ Chí Minh có thể nói là không dễ. Đối với những người thuộc giới chống Cộng viết theo cảm tính thù hận, khi thực sự chưa hiểu và không biết gì về Hồ Chí Minh thì rất dễ, vì muốn viết sao cũng được. Họ đưa ra những chi tiết lặt vặt, cộng với xuyên tạc, dựng đứng… nhằm “ám sát tư cách cá nhân”, bằng những từ hạ cấp cho hả lòng thù hận, thì có lẽ ai viết cũng được, không cần đến trí tuệ, không cần đến kiến thức, không cần đến trình độ, và cũng không cần đến liêm sỉ.

Thảm thay, hiện tượng này chúng ta thường thấy xảy ra trong vài khu rừng diễn đàn truyền thông hải ngoại. Nơi đây, một thiểu số người Việt có vẻ như không có mấy trình độ văn hóa, giáo dục đã thường lên tiếng. Nhưng viết cho đúng với nhân cách, tài năng, tư tưởng và con người của Hồ Chí Minh thì quả thật là khó, vì điều này đòi hỏi trước hết là một sự lương thiện trí thức, một sự hiểu biết đúng đắn về cuộc đời của Hồ Chí Minh, và nhất là, về việc ông đã làm gì cho đất nước Việt Nam.

Đối với tôi, viết về Hồ Chí Minh lại càng khó hơn, vì xuất thân từ Trường sĩ quan trừ bị Nam Định, đã cầm súng chống Cộng trong thời gian 8 năm rưỡi, khoảng thời gian tôi ở trong Quân lực Việt Nam Cộng hòa, đã đi Mỹ học, và đã về phục vụ trong ngành giáo dục ở miền Nam cho đến ngày chót, đương nhiên tôi đã ở phía Việt Nam Cộng hòa rồi. Nhưng cuộc chiến đã chấm dứt hơn 30 năm, bây giờ còn nói đến chuyện “Quốc – Cộng” có phải là ngớ ngẩn không?

Thời gian chỉ trôi có một chiều, một thế hệ già nua như chúng tôi đang lần lượt rủ nhau đi vào dĩ vãng để nhường chỗ cho một thế hệ trẻ hơn, đầy nhiệt huyết, với những kiến thức thời đại, biết thế nào là con đường quốc gia, dân tộc, và dứt khoát từ chối, không để cho đầu óc bị ô nhiễm bởi những thù hận của lớp trước, dù các bậc cha anh vô trí có muốn truyền lại. Với tâm cảnh như trên, vậy tôi phải viết về Hồ Chí Minh ra sao?

Được đào tạo trong ngành Khoa học Vật lý, đối với tôi, sự lương thiện trí thức phải để lên hàng đầu, và phương pháp khảo cứu mọi vấn đề phải cẩn trọng, không để cho tình cảm, thiên kiến lôi cuốn, tuy tôi tự biết, vì không có cái mặc cảm của Thượng đế, nên tôi không thể tránh khỏi có đôi chút thiên kiến khi viết về lịch sử.

Một người nào đó đã chẳng từng nói: “Người nào viết Sử mà không có đôi chút thiên kiến chắc phải có cái mặc cảm mình là Thượng đế (hay mặc cảm của Thượng đế)”. Để giảm thiểu thiên kiến, phương pháp khảo cứu của tôi là đọc nhiều sách về cùng một vấn đề, rồi từ đó kiếm ra một mẫu số chung. Điều này chưa hẳn là tuyệt đối đúng, nhưng ít ra cũng không xa sự thực là bao nhiêu.


Hồ Chủ tịch lội suối đi công tác. Ảnh TL.

Trước khi đi vào những vấn đề này, tôi có một nhận xét tổng quát về những luận điệu xuyên tạc, đả kích ông Hồ Chí Minh của một số người có vẻ như không có mấy trình độ. Không có gì ngu xuẩn hơn là so sánh Hồ Chí Minh với Hitler. Những người này hầu như không hề biết gì đến dư luận thế giới, nhất là trong các nước tiến bộ Âu-Mỹ, đã nhận định về ông Hồ Chí Minh như thế nào.

Hãy vào Internet đánh tên Ho Chi Minh thì sẽ thấy Thế giới đánh giá Hồ Chí Minh như thế nào. Hay hãy đọc những cuốn sách về chiến tranh Việt Nam của các học giả, tướng lãnh Mỹ, và ngay cả hai cuốn In Retrospect và Argument Without End của cựu Bộ trưởng Quốc phòng Robert McNamara. Phần nhận định tích cực về Hồ Chí Minh tràn ngập so với phần tiêu cực thưa thớt của một số người Việt hải ngoại mà tên tuổi không đáng kể, và chỉ như những con đom đóm lập lòe trên vài diễn đàn báo điện tử, ít có giá trị trí thức của đám người Việt còn mang nặng lòng hận thù.

CÁC NHÀ SỬ HỌC, GIÁO SƯ, KÝ GIẢ NƯỚC NGOÀI
ĐÃ VIẾT GÌ VỀ HỒ CHÍ MINH?

1. Hồ Chí Minh là tinh túy, là biểu tượng của dân tộc Việt Nam.

Cách đây 6 năm, năm 2000, sử gia William J. Duiker có xuất bản cuốn Ho Chi Minh, A Life. Cuốn sách này được giới trí thức, học giả Âu-Mỹ đánh giá khá cao và cho rằng đó là một cuốn sách nghiên cứu sâu rộng nhất về con người và sự nghiệp của ông Hồ Chí Minh. Đọc Duiker và phối kiểm với những đoạn viết về ông Hồ Chí Minh của nhiều tác giả khác ở phương Tây, chúng ta có thể rút tỉa ra những điều không xa với sự thật là bao nhiêu.


Trong dịp sang thăm Cộng hòa dân chủ Đức(7-1957),
Hồ Chủ tịch và các đồng chí lãnh đạo Cộng hòa dân chủ Đức
đến thăm và chụp ảnh lưu niệm với các cháu thiếu nhi Việt Nam
lưu học tại Đức. Ảnh TL.

Tôi xin được nhắc lại một đoạn trong bài của Giáo sư Nguyễn Mạnh Quang mà giáo sư đã trích dẫn từ cuốn Ho Chi Minh, A Life của William J. Duiker:

Khi tin tức về cái chết của ông Hồ Chí Minh được loan truyền thì khắp địa cầu đưa ra nhận xét về ông. Hà Nội nhận được tới hơn hai mươi hai ngàn (22.000) bức điện tín từ các thủ đô lớn của 121 quốc gia trên thế giới để bày tỏ lời ca ngợi ông và chia buồn với nhân dân Việt Nam. Một số các nước theo chủ nghĩa xã hội tổ chức buổi lễ truy điệu và đưa ra những lời ca tụng ông. Thủ đô Mạc Tư Khoa chính thức ca tụng ông như là “Người con vĩ đại của dân tộc anh hùng Việt Nam, một người lãnh đạo xuất sắc của phong trào giải phóng dân tộc và cộng sản quốc tế, và là người bạn vĩ đại của Liên bang Xô Viết”.

Các nước trong Thế giới thứ ba (các nước trung lập) cũng nhận xét về ông với những lời ca tụng ông như là một người bảo vệ những người bị áp bức. Một bài báo phát hành ở Ấn Độ, mô tả ông như là tinh túy của “dân tộc và là hiện thân của lòng khát vọng tự do, của sự tranh đấu bền bỉ”. Những bài báo khác đề cao đức tính giản dị và thẳng thắn của ông. Một bài xã luận trong một tờ báo ở Uruguay (Nam Mỹ) ghi nhận: “Ông có một tấm lòng bao la như vũ trụ và có một tình thương vô bờ bến đối với trẻ em. Ông là người gương mẫu về đức tính giản dị và thẳng thắn trong tất cả mọi phạm vi”.

Phản ứng từ các thủ đô phương Tây thì không biểu lộ mạnh mẽ. Tòa Bạch Ốc lặng thinh và các viên chức cao cấp trong chính quyền của Tổng thống Nixon cũng không bình luận gì cả. Nhưng việc chú ý đến cái chết của Hồ Chí Minh đối với giới truyền thông trong các nước phương Tây thật là mãnh liệt.

Những tờ báo ủng hộ các phong trào phản chiến có khuynh hướng mô tả ông bằng những lời lẽ ca tụng ông như là một địch thủ xứng đáng và là một người bảo vệ những kẻ yếu, những người thế cô và những người bị áp bức. Ngay cả những người vẫn thường khăng khăng chống lại chế độ Hà Nội cũng đánh giá ông bằng những lời lẽ kính trọng, như là một người đã tận hiến cả cuộc đời cho cuộc chiến đấu giành độc lập và thống nhất đất nước cho tổ quốc ông, coi ông như là người phát ngôn xuất chúng cho các dân tộc bị bóc lột trên thế giới”.


Nhân dân thủ đô Sofia nhiệt liệt chào đón Chủ tịch Hồ Chí Minh
sang thăm hữu nghị nước Cộng hòa Bulgaria (8-1957). Ảnh TL.

Trên đây, Duiker đã viết lại một sự kiện. Sự kiện này, hơn hết, đã loại bỏ tất cả những gì mà một số người Việt hải ngoại hay ở trong nước viết tiêu cực theo cảm tính về Hồ Chí Minh. Cho nên, bất kể những luận điệu nhằm hạ uy tín ông đều không thể thuyết phục được ai, ít nhất là trong giới hiểu biết, nhất là những luận điệu này lại thuộc loại hạ cấp, đầy hận thù.

Có một bài viết về Hồ Chí Minh của Wilfred Burchett – một ký giả Úc nổi tiếng, đã từng được Ngoại trưởng Henri Kissinger nhờ làm trung gian liên lạc giữa Mỹ và Hà Nội. Năm 1968, ông đã viết một cuốn sách có tính cách tiên đoán: Việt Nam sẽ thắng (Vietnam will win) và năm 1977, ông xuất bản cuốn Châu Chấu và Voi: Tại sao [Nam] Việt Nam sụp đổ (Grasshoppers and Elephants: Why Vietnam Fell).

Theo tôi, Burchett viết hay, không phải vì tác giả ca tụng ông Hồ Chí Minh, mà tác giả đã viết về những gì đã tạo nên ông Hồ Chí Minh: Không phải thuần túy chỉ là Marx, là Lenin hay Mao Trạch Đông, mà chính là lịch sử 2000 năm chống ngoại xâm của Việt Nam đã tạo nên Hồ Chí Minh. Có thể nói, tác giả hiểu Việt Nam hơn rất nhiều người tự cho mình là trí thức. Chúng ta hãy đọc vài đoạn trong bài của Burchett:

Chính sách của Mỹ là làm cho người Việt Nam cảm thấy mình thuộc một sắc dân thấp kém, không có quyền về căn cước quốc gia. Họ thường bị gọi là “gooks”, “slopes” và “dinks”, và trên những phúc trình chính thức, làng Mỹ Lai trở thành “Thành phố hồng” (có nghĩa là thành phố Cộng sản) và dân làng bị tàn sát chỉ là “những người Á Đông” (với ý coi thường, miệt thị).

Sự thực là người nông dân Việt Nam nghèo khó nhất, ngay cả thất học, về phương diện văn hóa và đạo đức thường cũng cao hơn người Mỹ. Họ biết nhiều hơn về lịch sử đất nước của họ – không chỉ vì đất nước họ có vài ngàn năm lịch sử nhiều hơn Mỹ để mà biết đến – mà vì những điều này đã thấm vào trong người họ từ sữa mẹ.

Ngay từ bé, họ lớn lên trong một môi trường tràn ngập với những câu chuyện về gia tài lịch sử, hoặc được kể ngay khi còn nằm trong lòng mẹ, hoặc qua những màn kịch diễn lại những trang sử oai hùng của 2000 năm lịch sử chống ngoại xâm của những gánh hát rong, hoặc những truyền thuyết về các “thần thành hoàng” (thường là các anh hùng giúp nước của xóm làng, được nhà vua sắc phong), hoặc là những câu chuyện về tổ tiên đã bảo vệ non sông như thế nào, hoặc là những chuyện đau khổ của người dân bị đàn áp bởi ngoại nhân nên đòi hỏi một sự đứng lên để chống đối…

Sự hiểu biết về 2000 năm tranh đấu chống xâm lăng có đầy trong dòng máu của người nông dân chân lấm tay bùn nghèo khó nhất. Đây là nguồn dũng cảm và sức chịu đựng vô tận, luôn tin tưởng vào tương lai mà những chuyên viên của Mỹ không thể hiểu được.

Hồ Chí Minh là mẫu mực thu nhỏ của tất cả những điều trên. Và đúng là,cũng như một cái gì đó trong mỗi người Việt Nam đều có trong Hồ Chí Minh, một cái gì đó trong Hồ Chí Minh đều có trong hầu hết những người Việt Nam ngày nay, dấu ấn của ông trên dân tộc Việt Nam thật là sâu đậm.

2. Đích đến của Hồ Chí Minh là độc lập dân tộc.

Vấn đề tiếp theo tôi muốn nói đến là: Hồ Chí Minh là người Cộng sản như thế nào? Chúng ta biết rằng, Hồ Chí Minh chưa bao giờ phủ nhận mình là người Cộng sản và đã từng khẳng định là Lenin cho ông niềm tin trong công cuộc giành độc lập cho đất nước.

Nhưng muốn hiểu ông là người Cộng sản như thế nào, có lẽ chúng ta nên biết đến quan niệm của một số trí thức ngoại quốc, những người thường ở trong môi trường đại học, đặt sự tôn trọng, sự lương thiện trí thức lên hàng đầu, và vì chính uy tín của họ, nên không thể viết theo cảm tính mà không nghiên cứu kỹ vấn đề, hay tự hạ mình rơi vào vòng tranh chấp Quốc-Cộng mà họ không thuộc phe nào và không có lý do gì để ủng hộ hay chống đối một phe nào.

Chúng ta hãy đọc vài đoạn trong bài của Stanley I. Kutler điểm cuốn Ho Chi Minh, A Life, Kutler là tác giả cuốn The Wars of Watergate và là chủ biên của The Encyclopedia of the Vietnam War. Stanley Kutler cho rằng trong tác phẩm của mình, Duiker đã viết về một nhà cách mạng ái quốc gần với Thomas Jefferson hơn là với V. I. Lenin. (Điều này, không phải chỉ có mình Duiker mới nhận định như trên, mà một số tác giả Mỹ khác cũng có cùng một nhận định như vậy. TCN)


Chủ tịch Hồ Chí Minh đón đoàn Việt kiều Thái Lan về nước. Ảnh TL.

Trước hết, Kutler cho rằng chế độ thực dân đã cáo chung một thế kỷ nay rồi và vai trò của ông Hồ Chí Minh đã đi vào quá khứ. Ngày nay, Việt Nam là một phần của nền kinh tế toàn cầu, có nghĩa là có những liên doanh mang lại lợi nhuận cho Chính phủ, cho một số viên chức được ưu đãi, và cho những công ty phương Tây. Nhưng Kutler ghi nhận là:

Tuy nhiên, thế giới có một bộ mặt khác vì Hồ Chí Minh, và những người như ông, những người đã lo lắng, chiến đấu và hi sinh để giải phóng dân tộc của họ thoát khỏi sự sỉ nhục và gông cùm của sự chuyên chế bạo ngược ngoại quốc”.

Sau đó Kutler viết: “Duiker đã đi quá sự tranh luận đơn giản trong thời Chiến tranh lạnh về vấn đề Hồ Chí Minh là người Cộng sản theo chính thống Marx-Lenin hay là một nhà ái quốc dân tộc, hiến thân cho cuộc giải phóng và thống nhất đất nước?”. “Duiker đã nhận định đúng, Hồ Chí Minh có căn rễ sâu đậm trong phong trào Cộng sản quốc tế, nhưng ông luôn luôn là một người theo chủ nghĩa dân tộc, cương quyết hiến thân cho nguyên lý dân tộc tự quyết”.

Ông Hồ Chí Minh không hề nao núng khi dùng Chủ nghĩa Cộng sản cho những mục đích dân tộc. Lời tuyên bố của ông: “Các dân ở Đông Dương vẫn sống và sẽ còn sống mãi” khó mà phù hợp với chủ nghĩa Marx. Duiker nhấn mạnh là, đối với Hồ Chí Minh, độc lập dân tộc bao giờ cũng là mục tiêu chủ yếu, trong khi chủ thuyết về một Cộng sản không tưởng vẫn là một vấn đề mơ hồ, bất định cho tương lai”.

Chúng ta hãy đọc thêm vài tài liệu về Hồ Chí Minh:

Trong tờ Les Collections de L’Histoire, số 23, Avril-Juin 2004, một tuyển tập về “Indochine Vietnam: Colonisation, Guerres et Communisme”, có bài Con Người trở thành Hồ Chí Minh (L’Homme Qui Devint Ho Chi Minh) của Pierre Brocheux, Giáo sư Diễn giảng danh dự tại Đại học Denis- Diderot, Paris-VII. Chúng ta sẽ thấy trong đó có vài chi tiết để chúng ta hiểu hơn về Hồ Chí Minh.

Đối với Nguyễn Ái Quốc, chủ thuyết Marx-Lenin đã đưa ra những cách thức hành động, như là ông đã giảng giải nhiều năm sau: “Chúng ta phải hiểu rằng giành độc lập ra khỏi tay một cường quốc như Pháp là một nhiệm vụ rất khó khăn, người ta không thể hoàn thành mà không có một sự viện trợ từ bên ngoài. Chúng ta lấy lại độc lập bằng sự tổ chức và tự khép mình vào kỷ luật. Chúng ta cũng còn cần đến một lòng tin, một phúc âm, một sự phân tích thực tiễn, có thể nói đến như là một thánh kinh. Chủ thuyết Marx-Lenin đã cung cấp cho tôi đường lối hành động này”.

Thực ra thì có lẽ Hồ Chí Minh muốn nói đến những luận đề về Những vấn đề Dân tộc và Thuộc địa của Lenin đưa ra trong Đại hội II của Quốc tế Cộng sản vào năm 1920 để nghị thảo mà ông biết đến trong Đệ Tam Quốc tế. Chúng ta đã biết, chính ông Hồ Chí Minh đã thành thực công nhận là mới đầu ông không hiểu hết những từ và ý tưởng chính trị khó hiểu trong bản văn trên, nhưng rồi đọc đi đọc lại ông mới thấm và hiểu rõ, và ý thức được là những luận đề này đã giúp cho ông thấy con đường thích hợp nhất để cứu nước, giải phóng dân tộc khỏi ách thuộc địa, thực dân.

Chúng ta hãy đọc tiếp vài đoạn khác của Giáo sư Brocheux. Trước hết là một tài liệu trích dẫn từ một tài liệu trong văn khố của Liên Xô, mới được sử gia Alain Ruscio phổ biến năm 1990, trang 34-36:

Năm 1934, Nguyễn Ái Quốc (Hồ Chí Minh) trở lại Moscou. Stalin đã nắm chắc quyền lực, và những cuộc thanh trừng lớn bắt đầu năm 1937. Dường như ông sẽ là nạn nhân, vì từ ngày trở lại Moscou, ông không được tin cậy để giao phó cho một trách nhiệm nào. Không còn nghi ngờ gì nữa người ta đã trách cứ là ông ngả về tinh thần dân tộc trong cuộc chiến đấu chống thực dân thay vì tinh thần cách mạng quốc tế vô sản”.

“Về vấn đề này, Hồ Chí Minh đã bày tỏ quan điểm của mình từ năm 1924. Được huấn luyện về cách mạng và chủ thuyết Marx bởi phương Tây, tuy nhiên ông đã nhìn theo đặc tính Á Đông: “Cuộc đấu tranh giai cấp ở phương Đông không giống như ở phương Tây. Marx đã xây dựng lý thuyết của mình trên một căn bản triết lý nào đó của lịch sử. Nhưng là lịch sử nào? Đó là lịch sử châu Âu. Nhưng châu Âu là gì? Không phải là tất cả nhân loại”.

“Không có gì minh họa rõ hơn sự tương phản giữa Hồ Chí Minh và những người lãnh đạo cộng sản là những trao đổi quan niệm của Mao Trạch Đông và Lưu Thiếu Kỳ với Hồ Chí Minh vào năm 1960. Ông đã tuyên bố rằng ngay cả việc giết kẻ thù cũng không được đạo đức; Mao đã trả lời ông rằng: “Tưởng Giới Thạch giết, tôi giết, đó không phải là một vấn đề đạo đức. Và Lưu Thiếu Kỳ thêm vào là viện đến đạo đức khi ta phải đối phó với những tên tư bản chống cách mạng là không thích đáng””.

Trong cuốn The Vietnam War Almanac, General Editor: John S. Bowman, Barnes & Noble Books, NY, 2005, trang 493, cũng có viết:

Ông Hồ Chí Minh ít quan tâm đến những chi tiết tế nhị của chủ thuyết Mao và Lenin; thiên tài của ông là về hành động chính trị, và lý tưởng của ông có thể khá co giãn chừng nào mà nó đưa tới mục đích đã ám ảnh ông: Nền độc lập và thống nhất của Việt Nam”.

Trong cuốn Cracks In The Empire, South End Press, Boston, 1981, Paul Joseph, Giáo sư Xã hội học, Đại học Tufts, viết, trang 83:

Dù rằng thiếu bằng chứng, Washington tiếp tục cho rằng cuộc đấu tranh chống Pháp (ở Việt Nam) là do sự chỉ đạo từ Liên bang Xô Viết. Thí dụ, trong bức công điện gửi cho Thủ tướng (Pháp) Ramadier, đại sứ Mỹ vẫn sai lầm cho rằng Việt Minh là một phong trào mà “triết lý và tổ chức chính trị đều phát khởi và bị kiểm soát bởi điện Kremlin”. Tuy vậy, tình báo Mỹ đã cố gắng, và thất bại, để kiếm ra bằng chứng là có mối liên hệ kiểm soát giữa Moscou và Hồ Chí Minh. Một công điện của Bộ Ngoại giao gửi cho đại sứ Mỹ ở Trung Quốc viết: “Bộ không có bằng chứng nào về sự nối kết trực tiếp giữa Hồ Chí Minh và Moscou nhưng vẫn cho rằng có”.

Trên đây chỉ là vài tài liệu trong số hàng trăm tài liệu khác có những nhận định tương tự rải rác trong những cuốn sách mà tôi đã đọc. Lẽ dĩ nhiên, tôi không thể nào trích dẫn tất cả những nhận định ấy trong phạm vi một bài viết như thế này. Điều này, đòi hỏi nhiều thời gian và thích hợp trong một cuốn sách viết về Hồ Chí Minh hơn.

Nhưng qua những tài liệu trên, chúng ta có thể thấy rằng ông không phải là tay sai của Liên Xô và Trung Quốc như một số người có đầu mà không có óc cố tình lên án ông là tay sai của Đệ Tam Quốc tế, hay tệ hơn nữa là “điệp viên của Cộng sản Quốc tế” (Minh Võ). Họ không hề biết quan điểm chính trị của Hồ Chí Minh đối với Liên Xô và Trung Quốc. Ông đã khôn khéo từ chối không nhận đề nghị của Liên Xô cũng như Trung Quốc gửi quân tình nguyện vào đánh giúp.

Chúng ta hãy đọc một đoạn trong cuốn Ho Chi Minh của Jules Archer, Chương 9: “Giữa con gấu Nga và con rồng Trung Quốc” (Between Russian Bear and Chinese Dragon), trang 109:

Đến Bắc Kinh dự lễ kỷ niệm 10 năm Cách mạng Trung Quốc, Hồ Chí Minh cẩn thận đứng giữa Mao Trạch Đông và đại diện của Liên Xô, Miklai Suslov. Trong những cuộc đàm phán riêng, Hồ Chí Minh đã thành công lấy được sự hứa hẹn của cả Bắc Kinh lẫn Moscou để tăng gia giúp thêm vũ khí và viện trợ dân sự,nhưng khôn khéo từ chối những đề nghị gửi quân tình nguyện hay cố vấn quân sự đến Việt Nam. Ông Hồ Chí Minh biết rõ là nếu để cho con gấu Nga hay con rồng Trung Hoa được đặt chân vào cửa ngõ Hà Nội thì dần dần cửa ngõ này sẽ bị cưỡng bách mở rộng ra cho đến khi Bắc Việt mất đi nền độc lập và trở thành một quốc gia bị chiếm”.

LỜI KẾT CHO CHÍNH BẢN THÂN TÔI VÀ NHIỀU NGƯỜI

Cuối cùng, vị thế của Hồ Chí Minh đối với dân tộc Việt Nam ra sao? Chúng ta đã biết, Wilfred Burchett đã nhận định ở trên:

Hồ Chí Minh là của toàn thể dân tộc Việt Nam. Không có một lằn ranh giới nào ở vĩ tuyến 17 có thể làm cho người dân miền Nam xa lìa Hồ Chí Minh dù rằng thủ đô được đặt ở miền Bắc. Hồ Chí Minh đã được chấp nhận là lãnh tụ và là nguồn cảm hứng cho mọi người Việt Nam – trừ số người đã lần lượt phục vụ những quan thầy Nhật, Pháp, rồi Mỹ.

Nhận định này đúng hay sai? Có lẽ câu trả lời thiết thực nhất là của Hoàng Xuân Ba trong bài Hai câu chuyện hoàn toàn trung thực, mới đây, đăng trên Đàn Chim Việt:

Chuyện thứ nhất: Lá cờ đỏ sao vàng trên mạng

Trưa 2/9/2006, ngày Quốc khánh của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đang nói chuyện với một người bạn Việt kiều trên Yahoo Messenger (YM), tôi bất ngờ nhận được thông điệp của một người bạn trẻ Việt Nam: “Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại sống mãi trong sự nghiệp của chúng ta”, kèm theo đó là lời kêu gọi hãy thay đổi avatar (hình ảnh đại diện) trên YM bằng lá cờ đỏ sao vàng, lá cờ biểu trưng cho Đảng Cộng sản Việt Nam. Nhìn lại danh sách nickname của mình trên YM, tôi thấy rất đông các bạn trẻ thay đổi avatar bằng hình ảnh lá cờ đỏ sao vàng.

Sáng nay, 4/9/2006, báo Tuổi Trẻ đăng bài: “Mừng Quốc khánh trên mạng”. Trong bài viết này, tác giả mô tả lại hình ảnh nhà nhà treo cờ, người người treo cờ trên mạng: “Lần đầu tiên, cư dân trên mạng đón lễ Quốc khánh hoành tráng bằng cách đưa hình ảnh lá cờ Tổ quốc lên mạng trang trọng trên các blog (nhật ký cá nhân trên mạng) và trên avatar trong công cụ chat YM của mình trong ngày 2/9. Và ngày 3/9, tất cả đều đồng loạt thay vào đó là chân dung của Bác Hồ”.

Chuyện thứ hai: Lăng ông Hồ Chí Minh

Tôi đã có dịp gặp gỡ trên mạng với bạn đọc của DCVOnline gần đây qua bài Tản mạn về xã hội chủ nghĩa ở Hà Nội, đăng ngày 31/8/2006 (với hàng chục ý kiến khác nhau). Cũng dịp công tác này, tôi tranh thủ được một thời gian ngắn để ghé thăm lăng Hồ Chí Minh với mục đích tìm hiểu xem thái độ, tình cảm của người dân Việt Nam và nhất là người dân Hà Nội đối với ông ra sao. Điều làm tôi thật bất ngờ là có rất nhiều người đến viếng thăm lăng ông, các đoàn viếng lăng vào ra tấp nập. Để vào thăm lăng của ông, tôi được một anh bảo vệ cầm loa phóng thanh bắt phải đứng xếp vào hai hàng dọc, rồi theo đó vào lăng.

Quả thật, tôi cảm nhận được sự trang nghiêm của lăng mộ Hồ Chí Minh và cả sự sùng bái của những người dân bình thường viếng thăm lăng. Một cách tự động, tất cả mọi người đều kính cẩn, nghiêm trang khi đi ngang qua thi hài ông được đặt trong một cái hòm rất rộng, bốn bên là kính trong suốt. Trông ông không giống như những bức hình chụp mà tôi từng thấy, khuôn mặt trông vẫn còn rất tươi tắn, hồng hào nhưng trông giả chứ không thật, có lẽ bị đánh sáp.

Báo chí Việt Nam sáng 4/9/2006 đều đồng loạt đăng tin về việc có hàng vạn người đến viếng thăm lăng Hồ Chí Minh. Báo Tuổi Trẻ viết: “Sáng 2/9, đoàn người vào lăng viếng Bác dài ra tận hai phía trên phố Ngọc Hà và Hùng Vương. Đông nhất là các đoàn học sinh và người già từ các tỉnh Thái Nguyên, Hà Tây. Còn có rất nhiều đoàn đến từ tỉnh xa như Cao Bằng, Nghệ An, Quảng Trị, Bình Phước… Có nhiều người nước ngoài cũng đứng trong đoàn người, từng bước vào lăng. Khu vực quảng trường trước lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh lúc nào cũng đông kín người”.

Một thông tin đáng chú ý đó là thiếu tướng Đào Hữu Nghĩa, Trưởng Ban quản lý lăng kiêm Tư lệnh Bộ Tư lệnh bảo vệ lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh cho biết, đến hết buổi viếng ngày 2/9 chỉ khoảng 25.000 lượt người được vào viếng lăng ông, số còn lại đành phải chờ đến hôm sau. Tôi tin rằng, con số trên rất thật bởi vì tôi đã được tận mắt chứng kiến dòng người xếp hàng dài vào viếng lăng Hồ Chí Minh, không nhất thiết phải do cơ quan hay các hội đoàn tổ chức…

Duiker cũng viết, trang 566: “Mỗi tuần có hơn 15.000 người đến viếng thăm Lăng ông Hồ Chí Minh”.

Tại sao ngày nay người dân Việt Nam vẫn còn kính trọng và ngưỡng mộ Hồ Chí Minh, tuy rằng trên diễn đàn truyền thông hải ngoại có cả một chiến dịch để xóa bỏ “thần tượng Hồ Chí Minh”? Lý do rất dễ hiểu là phần lớn những điều viết về Hồ Chí Minh của giới chống Cộng là sai lầm, là vô căn cứ, bắt nguồn từ lòng thù hận một chiều của những người gọi là “Quốc Gia”, chứ không đặt trên những sự thật và sự kiện lịch sử.

Vài nét về tác giả

Sinh năm 1931 tại Hà Nội.

1952: Tốt nghiệp trường Sĩ Quan Trừ Bị Nam Định với cấp bậc Thiếu úy.

1956: Xin giải ngũ.

1957: Quy Y Tam Bảo, chùa Văn Thánh, Thị Nghè, Thượng tọa Tuệ Đăng chứng minh.

1962: Cử nhân Giáo khoa Khoa học, Khoa học Đại học Sài Gòn.

1962: Bị gọi tái ngũ.

1962-1965: Trưởng Khoa Khoa học (Vật lý và Hóa học), Văn Hóa Vụ, Trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt. Đồng thời dạy thực tập Vật lý ở Đại học Đà Lạt.

1965: Giải ngũ.

1965-1967: Giảng Nghiệm Viên, Ban Vật lý, Khoa học Đại học Sài Gòn.

1967: Được học bổng đi Mỹ học về ngành Vật lý ở Đại học Wisconsin – Madison.

1972: Tốt nghiệp Ph.D., Vật lý, Đại học Wisconsin – Madison.

1972-1975: Giảng sư, Ban Vật lý, Khoa học Đại học Sài Gòn.

1975-1977: Nghiên cứu sinh Sau Tiến sĩ, Khoa Vật lý, Trường Đại học Wisconsin-Madison.

1977-1996: Giám đốc Phòng thí nghiệm Phân tích Bề mặt, Trung tâm Vật liệu, Trường Đại học Wisconsin-Madison. Hướng dẫn nghiên cứu trong lĩnh vực Phân tích Bề mặt bằng cách sử dụng các kỹ thuật mới…

1989: Tháng 11: Được mời sang Singapore làm Cố vấn Kỹ thuật ở SISIR (Singapore Institute of Standards and Industrial Research)

1996 – đến nay: Về hưu. Nghiên cứu Đạo Phật, Công Giáo, Lịch sử.


(*) Tựa bài và các tiểu mục là do Tạp chí Hồn Việt đặt.

Trích từ http://giaodiemonline.com

honvietquochoc.com.vn