Thư viện

Chuyện kể về những người treo khẩu hiệu ngày Cách mạng Tháng 8

(Dân trí) – Bác nói “Cách mạng tháng Tám là do Đảng lãnh đạo nhân dân đấu tranh gian khổ với thực dân Pháp và phát xít Nhật để giành độc lập tự do cho Tổ quốc, chứ có ai đến giải phóng cho ta đâu mà phải hoan hô họ?!”.

Buổi lễ mít tinh ngày 20/8/1945, tại đường Paul Bert. (ảnh tư liệu)

Những ngày sau Cách mạng tháng Tám, Hà Nội rợp bóng đỏ của cờ và khẩu hiệu. Bấy giờ ta đang chuẩn bị đón quân Đồng minh vào giải giáp vũ khí của quân Nhật đã đầu hàng.

Trên nhiều đường phố của Thủ đô, có những khẩu hiệu được viết bằng các thứ tiếng Việt, Anh, Pháp, Nga trên băng đỏ, chữ vàng: Nước Việt Nam của người Việt Nam, Độc lập hay là chết!, Hoan hô những người giải phóng cho chúng ta…

Một hôm, có hai người tuổi ngoài ba mươi đi trên hè phố, vừa đi vừa hân hoan ngắm nhìn cảnh tượng phố xá tưng bừng như trong buổi mới. Chợt một người chỉ lên một tấm biểu ngữ chăng ngang nói với người kia: “Khoa này, những khẩu hiệu và cờ như choàng cho thủ đô chiếc áo ngày cưới”.

Người vừa nói đó là nhà văn Nguyễn Huy Tưởng, còn người tên Khoa chính là đạo diễn điện ảnh tương lai Phạm Văn Khoa. Hai ông được Hội Văn hóa cứu quốc giao trách nhiệm treo các khẩu hiệu thể hiện ý chí của dân tộc Việt Nam khi quân Đồng minh vào Hà Nội. Công việc được thực hiện, hai ông đi kiểm tra một lượt, đồng thời cũng để tận hưởng niềm vui chiêm ngưỡng thành quả của mình…

Không ngờ, tối hôm ấy, các ông được biết Hồ Chủ tịch chỉ thị phải dỡ bỏ ngay khẩu hiệu Hoan hô những người giải phóng cho chúng ta. Bác nói: “Cách mạng tháng Tám là do Đảng lãnh đạo nhân dân đấu tranh gian khổ với thực dân Pháp và phát xít Nhật để giành độc lập tự do cho Tổ quốc, chứ có ai đến giải phóng cho ta đâu mà phải hoan hô họ?!”. Thế là, ngay lúc đêm hôm, Nguyễn Huy Tưởng và Phạm Văn Khoa mượn xe cam nhông của Tòa thị chính đi các phố gỡ các khẩu hiệu non yếu về chính trị kia…

Câu chuyện này được đạo diễn Phạm Văn Khoa kể trong bài Những lời Bác dạy khi được tin Bác mất. Bài viết thể hiện nỗi tiếc thương vô hạn của tác giả đối với lãnh tụ. Đồng thời cũng là một kỷ niệm có nhiều ý nghĩa về hoạt động của Hội Văn hóa cứu quốc những ngày đầu mà bác Phạm Văn Khoa và cha tôi, nhà văn Nguyễn Huy Tưởng, là hai trong số những thành viên nòng cốt.

Đạo diễn Phạm Văn Khoa (thứ ba từ phải sang) tại một liên hoan phim.

Riêng với tôi, câu chuyện mà bác Phạm Văn Khoa kể đã bổ khuyết rất nhiều cho những gì tôi được biết về bác, trước hết là qua nhật ký của cha tôi – cố nhà văn Nguyễn Huy Tưởng. Tháng 3 năm 1960, cha tôi ghi lại một sự việc mà ông cho là “khá thảm”. Họa sĩ Nguyễn Sáng có một bức sơn mài “Hà Nội trong đêm” được treo ở Câu lạc bộ quốc tế. Do cái tên tranh, người phụ trách câu lạc bộ cho là một đề tài lạc hậu, nên quyết định hạ xuống. Người ta gỡ tranh ra, giữ lại cái khung, còn bức tranh vứt vào một xó rồi gọi bán.

Đạo diễn Phạm Văn Khoa tình cờ đi qua, hỏi giá, thấy nói khoảng 100 đồng thì mừng quá. Ông vội về nhà bán chiếc xe đạp và một số thứ khác nữa cho đủ số tiền (bấy giờ 100 đồng là rất to). Nhưng đến lúc ấy thì cũng đã nhiều người biết chuyện, các vị ngoại giao đoàn và chuyên gia quốc tế nhao nhao hỏi mua. Một người Rumani đã trả tới 700 đồng. Người phụ trách câu lạc bộ thấy thế, đoán bức tranh có giá trị, bèn không bán nữa.

Ghi lại sự việc ấy, cha tôi không có ý định tả chân ai, mà ông chỉ thổ lộ một nỗi “buồn cho nghệ thuật”. Vô hình trung, đạo diễn Phạm Văn Khoa đã tô đậm thêm rất nhiều tính hài hước trớ trêu của câu chuyện. Bấy giờ, xe đạp còn là của quí hiếm. Chỉ một số ít người mới có được.

Với một người đi làm Nhà nước như bác Khoa, chiếc xe đạp là vật không thể thiếu, để đạp đi làm, đi họp, đi liên hệ công tác… Không có nó khác nào như bị chặt chân. Thế mà ông đã dám bán chiếc xe đi, mà là bán vội bán vàng, những mong đổi lấy một nghệ phẩm bị người ta cho là “đề tài lạc hậu”!

Đạo diễn Phạm Văn Khoa quả là người yêu hội họa. Người viết bài này từng có lần được theo mẹ đến thăm đạo diễn. Bấy giờ là đầu năm 1979, đang thời bao cấp khó khăn. Trong lúc bác lúi húi pha trà, bóc bánh mời khách, tôi tranh thủ ngắm nhìn xung quanh. Khắp bốn bức tường nhà bác đều có treo tranh, những bức tranh mà tôi biết là rất quí vì bác vốn là người sành hội họa. Nhưng tôi khó có thể hình dung, làm sao bác có được từng ấy báu vật?

Có lẽ, với một người nổi tiếng quảng giao và lắm bạn như đạo diễn Phạm Văn Khoa, những bức tranh mà bác có là được bạn bè tặng cho, chứ dễ gì lần nào bác cũng có thể bán xe đạp mà mua cho được! Nhưng dù là được cho hay mua được, trước hết phải có lòng say mê nghệ thuật lắm mới được người ta chọn mặt gửi vàng, giao phó cho những bức tranh như thế…

Điện ảnh là nghệ thuật tổng hợp, điều này xem ra thật hợp với đạo diễn Phạm Văn Khoa, tác giả của các bộ phim nhựa nổi tiếng Lửa trung tuyến, Chị Dậu, Làng Vũ Đại ngày ấy… Vợ ông là nữ diễn viên sân khấu Bích Châu, đồng thời cũng là một người chơi piano có tiếng. Căn phòng của ông ở ngõ Phan Chu Trinh, Hà Nội thường vang tiếng dương cầm, mỗi khi có bạn bè đến chơi, muốn thưởng thức âm nhạc.

Ở bài viết này, tôi xin mượn lời một bài báo để được nói về sự say sưa, nhiệt huyết của người nghệ sĩ Phạm Văn Khoa khi làm nghệ thuật, bất kể là sân khấu, điện ảnh hay gì gì đi nữa. Tác giả Trung Sơn, trong bài Đạo diễn Phạm Văn Khoa và mùa thu Hà Nội có kể rằng, năm 1953, ngành điện ảnh quốc gia được thành lập ở chiến khu Việt Bắc. Ông Phạm Văn Khoa ngay từ khi đó đã mơ mộng “rồi ta có xtuy-đi-ô, nào đường ray quay tra-ven-linh, còn đèn pha lóa sáng cả núi rừng…”.

Và mặc dù đang còn phải lo gây dựng cơ quan với tranh, tre, nứa, lá, ông đã nghĩ tới việc làm phim truyện, nên cho khênh ở đâu về chiếc piano cũ kỹ, để chuẩn bị âm nhạc cho các bộ phim tương lai. Thế là, phim chưa biết bao giờ mới làm, nhưng tiếng đàn đã được cất lên trong rừng khuya, nghe thánh thót, sang trọng…

Nguyễn Huy Thắng
dantri.com.vn

Tết Độc lập ngày ấy…

– … Cả nửa thế kỷ đã trôi qua, có cảm giác cái không khí Tết Độc lập của ngày xưa không còn. Nhưng dù thế nào với chúng tôi kỷ niệm về những ngày ấy sẽ sống mãi vì để có được Tết Độc lập đã phải hy sinh bao xương máu của ông cha, anh em, đồng đội, bạn bè. Chúng ta đừng bao giờ quên!

Ngày ấy, Tết Độc lập – Tết của toàn dân. Tôi nhớ cái Tết ấy vui không kém gì cái Tết xuân mới. Với bọn trẻ, có lẽ, vì sau Tết Độc lập sẽ là ngày tựu trường.

Từ 2/9/1945, Việt Nam có ngày Độc lập. Ảnh dongautaivietnamTừ 2/9/1945, Việt Nam có ngày Độc lập. Ảnh dongautaivietnam

Ngày ấy, nhà tôi ở khu gia binh của sĩ quan Bộ Tổng tham mưu, ngay ngã tư Điện Biên và Trần Phú, không xa đầu đường Nam Bộ. Cứ sát ngày Quốc khánh, chả riêng gì nhà tôi mà các gia đình trong khu tập thể đều đón họ hàng ở quê lên ăn tết. Vui lắm, râm ran chào nhau, thăm hỏi sức khỏe rồi vụ chiêm xuân, vụ hè thu năm nay ra sao…

Tiếng gà qué loác quác các xó bếp. Nhà cửa chật chội, cứ trải chiếu xuống dưới sàn mà nghỉ.
Tối 1/9, thấy bọn trẻ còn đùa nghịch ngoài sân, các bác nói với ra: “Ngủ sớm đi để ngày mai còn đi xem duyệt binh!”.

Sáng hôm sau, trong khu các sĩ quan với quân phục chỉnh tề, đầy đủ huân, huy chương ra xe từ sớm. Còn các bác ở quê ra hầu như thấp thỏm cả đêm, dậy uống trà từ 4h. Bên ấm trà thì thào, mong cho trời mau sáng.

Thức giấc, chẳng thèm ăn sáng, chúng tôi theo chân các bác ra đứng trên vỉa hè trước cửa, chờ đoàn xe duyệt binh đi qua. Ngày ấy bộ đội, du kích tham gia duyệt binh tập trung ở sân bay Bạch Mai, tới sáng 2/9 mới theo xe hành quân lên đầu đường Hùng Vương (phía công viên Tây Hồ). Nghe các bác kháo nhau: “Chỉ cần xem xe pháo, bộ đội, du kích ngồi trên xe chạy qua phố mình cũng như được xem duyệt binh trên Quảng trường. Kéo nhau lên sát Ba Đình làm gì cho mất trật tự ra”. Chẳng ai nhắc nhở nhưng ai cũng như tự hiểu điều đó. (Dân ta hay thế!).

Sáng, bà con ở các huyện ngoại thành, ở các tỉnh sát thủ đô mới kéo ra. Trên vỉa hè người xếp hàng lớp trong, lớp ngoài. Bên những bà con với quần áo mới lành lặn vẫn thấy có người đi chân đất, quần áo vá nhưng chả ai phân biệt giàu nghèo, họ như hòa thành 1 khối.

Trên loa phóng thanh treo ở cột điện đầu ngã tư tường thuật trực tiếp lễ duyệt binh và diễu hành mừng Quốc khánh. Khi phát thanh viên giới thiệu “Hồ Chủ tịch, Chính phủ và các vị khách quý đang bước ra lễ đài” làm ai cũng xúc động, như thấy mình đang có mặt trên Quảng trường. Mở đầu là lễ duyệt binh… Đội Quân nhạc nghi lễ do ông Đinh Ngọc Liên chỉ huy liên tục thực hiện các khúc quân hành. Không khí thật rạo rực.

Ở nhà chỉ mong cho đoàn xe pháo hoàn thành nhiệm vụ duyệt binh trở về sẽ tiếp tục diễu hành báo cáo với nhân dân thủ đô. Từ loa phóng thanh vang lên “Đoàn xe tải Mô-lô-tô-va quân sự trong màu sơn mới, các bánh xe sơn trắng, đang rẽ từ đường Hùng Vương sang đường Trần Phú để đi lên Bờ Hồ…”.

Vừa thoáng thấy chiếc com-măng-ca mui trần, với Quân kỳ quyết thắng gắn những huân chương lấp lánh, dẫn đầu đi qua đầu vườn hoa Canh Nông (nay là vườn hoa Lê-nin), bà con đã nhảy cẫng lên, vỗ tay, hô lớn: “Việt Nam muôn năm! Bác Hồ muôn năm! Hồ Chí Minh – Võ Nguyên Giáp!”…  Bọn trẻ chúng tôi sung sướng hô theo và chen sát ra lề đường.

Trên xe là những chiến sĩ trẻ măng, đẹp trai với “quân dung tươi tỉnh”, lưỡi lê tuốt trần, mặt nghiêm nghị nhìn về phía trước. Hết xe bộ binh là hải quân, pháo binh, phòng không… Nhìn những trang bị quân đội hiện đại ngày ấy mà cảm thấy tự hào cho sự phát triển của QĐNDVN anh hùng.

Kế sau bộ đội là công an, dân quân tự vệ, rồi diễu hành của các lĩnh vực, ngành nghề. Xem cho tới khi không còn đoàn nào diễu hành, chúng tôi mới theo chân các bác trở về. Bữa cơm trưa ấy xôm tụ, có thêm cả thịt gà.

Buổi tối cả nhà kéo nhau ra Bờ Hồ xem bắn pháo hoa. Nhìn bầu trời nở ra những bông hoa với ngàn vạn màu sắc mà thêm yêu Tổ quốc độc lập, tự do.

Cho đến bây giờ trong chúng tôi – thế hệ tuổi 50 – 60 trở lên – vẫn còn giữ mãi kỉ niệm về những cái tết Độc lập, cho dù cả nửa thế kỷ đã qua. Dân ta đã bao năm sống trong nô lệ, đã bao năm khao khát được sống trong độc lập, tự do; chỉ từ sau ngày 2/9/1945, dân ta mới thực sự có cái Tết Độc lập như thế!

… Cả nửa thế kỷ đã trôi qua, có cảm giác cái không khí Tết Độc lập của ngày xưa không còn. Nhưng dù thế nào với chúng tôi kỷ niệm về những ngày ấy sẽ sống mãi vì để có được Tết Độc lập đã phải hy sinh bao xương máu của ông cha, anh em, đồng đội, bạn bè. Chúng ta đừng bao giờ quên!

  • Trần Kiến Quốc

bee.net.vn

Độc lập, tự do… đường lên phía trước…

Không khí linh thiêng ngay từ những giây đầu tiên, khi tất cả khán giả cùng đứng lên chào lá quốc kỳ, cất cao lời “Quốc ca” và “Lãnh tụ ca”, để cùng tự hào là con dân nước Việt, cùng đồng lòng đi theo con đường mà Bác đã vạch ra cho dân tộc như lời một bài hát: Độc lập, tự do…đường lên phía trước…

Đúng 20h đêm 29/8/2009, đêm nhạc “Hồ Chí Minh – cả cuộc đời vì nước vì dân” đã được truyền hình trực tiếp từ Quảng trường Ba Đình đến với đồng bào cả nước và kiều bào ta ở nước ngoài. Đêm mùa thu, không gian quảng trường lắng lại, khi vài ngàn con người đủ mọi lứa tuổi, từ những cụ già tóc bạc phơ đến những em nhỏ đôi ba tuổi, tụ họp tại đây để cùng nhớ, cùng tri ân, cùng bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc vị lãnh tụ vĩ đại nhất của dân tộc Việt Nam. Thêm rất nhiều ghế phụ, và hàng ngàn đồng bào xem chương trình dọc đường Độc Lập, nơi ban tổ chức đặt 3 màn hình lớn.

Đêm nhạc hoành tráng cạnh lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ảnh VietNamNetĐêm nhạc hoành tráng cạnh lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ảnh VietNamNet

Không khí linh thiêng ngay từ những giây đầu tiên, khi tất cả khán giả cùng đứng lên chào lá quốc kỳ, cất cao lời “Quốc ca” và “Lãnh tụ ca”, để cùng tự hào là con dân nước Việt, cùng đồng lòng đi theo con đường mà chủ tịch Hồ Chí Minh đã vạch ra cho dân tộc như lời một bài hát: Độc lập, tự do…đường lên phía trước…

Con đường của dân tộc Việt Nam mà Bác vạch ra là con đường mở, con đường phát triển đến tương lai mà cơ sở nền móng của nó là Độc lập, tự do.

anh 1.jpgCả dân tộc đồng lòng vì “Độc lập tự do… đường lên phía trước”. Ảnh VietNamNet

Ngay sau đó, ca sĩ Đăng Dương “Ca ngợi Hồ Chủ tịch” (Nhạc sĩ Văn Cao) với những lời ca tha thiết, hào hùng: “Người về mang tới ngày vui. Mùa thu nắng tỏa Ba Đình, với tiếng Người còn dịu dàng như tiếng đất trời…” mở đầu cho những ca khúc thể hiện tình cảm yêu kính của những người con Việt Nam với người cha chung của dân tộc. Từ những khúc ca hùng tráng Tiếng hát từ thành phố mang tên Bác (Cao Việt Bách), Hồ Chí Minh đẹp nhất tên người (Trần Kiết Tường) đến Người là niềm tin tất thắng (Chu Minh)…, đến những lời ca da diết của “Lời Bác dặn trước lúc đi xa”, “Viếng lăng Bác”, “Giữa Mạc Tư Khoa nghe câu hò Nghệ Tĩnh”…

Các nghệ sĩ thuộc nhiều thế hệ, từ những người kỳ cựu như NSND Thu Hiền, NSND Quang Thọ, đến thế hệ trung niên như Thái Bảo (Hà Nội), Tạ Minh Tâm (TPHCM), cả các sĩ trẻ như Hồ Quỳnh Hương, Phương Anh, Thanh Thúy…, mỗi người đều góp lời ca như những bông hoa đẹp trong vườn hoa dâng Bác. Nhiều khán giả hát cùng các ca sĩ những lời ca tha thiết, nhiều tiếng vỗ tay theo nhạc điệu.

Đa số các ca khúc về Bác được chọn hát trong chương trình không mới, bởi những người yêu nhạc “cách mạng” Việt Nam đã quen thuộc với những lời ca được cất lên mỗi dịp kỷ niệm ngày sinh của Bác, hay tưởng nhớ ngày Bác đi xa. Nhưng khi những lời ca sâu lắng ấy vang lên giữa không gian quảng trường Ba Đình lịch sử, nơi Bác đọc những lời Tuyên ngôn độc lập khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hòa 64 mùa thu trước, nơi đồng bào cả nước hòa chung dòng lệ tiễn đưa Bác 40 năm trước, nơi Bác đang yên giấc, dường như tinh thần của Bác, tấm lòng của Bác đã truyền tình cảm cho cả người hát lẫn người nghe; tạo nên mối cộng cảm, gắn bó, liên kết cả dân tộc thành một khối sức mạnh: Độc lập, tự do…đường lên phía trước…

Chương trình cũng dành những phút tri ân các chuyên gia Liên Xô trước đây, các chuyên gia Nga hiện nay nối tiếp nhau dành trọn tâm sức, tình cảm để giữ gìn hình hài Bác suốt 40 năm qua, để mỗi ngày hàng ngàn người nối tiếp nhau vào lăng để được thấy Bác. Nhiều chuyên gia có mặt trong đêm diễn, cùng nhớ Bác với đồng bào Việt Nam.

Cùng với những lời ca dâng Bác, những thước phim tư liệu hình ảnh Bác Hồ với đồng bào – chiến sĩ cả nước, với bạn bè quốc tế gây xúc động mạnh mẽ không chỉ bởi hình ảnh Người giản dị, gần gũi, thân thương, mà còn bởi những người tiếp xúc với Bác đều thể hiện rõ niềm hạnh phúc khi được gặp Bác, được Bác ôm hôn hay bắt tay thân mật… Cảm giác như Bác vĩ đại đang ở đâu đó thật gần.

Trong không khí ấy, những lời cuối cùng trong di chúc Bác để lại cho toàn dân từ 40 năm trước sẽ khiến mỗi người phải suy ngẫm: “Điều mong muốn cuối cùng của tôi là: Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”.

  • Theo Khánh Linh (VietNamNet)

bee.net.vn