Thư viện

Cuộc cách mạng “điện báo” Hà Nội tháng Tám 1945

– Sáng 19/8/1945, người dân từ ngoại thành dồn dập đổ về trung tâm Hà Nội. Quảng trường Nhà Hát Lớn chưa bao giờ đông đến thế – một rừng cờ đỏ phấp phới giữa biển người, và khúc nhạc “Tiến quân ca” vang lên hùng tráng.

Hà Nội vùng đứng lên!

Sáng ngày 19/8, Hà Nội bừng lên không khí đấu tranh, hàng vạn nông dân, công nhân ngoại thành và các huyện Thanh Trì, Thường Tín, Phú Xuyên, Hoài Đức, Đan Phượng (Hà Đông), Gia Lâm (Bắc Ninh) mang theo cờ Việt Minh cùng gậy gộc, mã tấu, dao phạt bờ, câu liêm và súng từ khắp các cửa ô dồn dập tiến vào thành phố.

Quảng trường Nhà hát Lớn chưa bao giờ đông đến thế, trên quảng trường là cả một rừng cờ đỏ giữa biển người. Trưa 19/8, cuộc mít tinh bắt đầu, sau phút mặc niệm để tưởng nhớ các chiến sỹ đã hy sinh, nhạc “Tiến quân ca” vang lên hùng tráng, tất cả hướng về lá cờ đỏ sao vàng…

Ngay sau đó, dưới sự chỉ đạo của Ủy ban quân sự cách mạng, cuộc mít tinh chuyển thành biểu tình vũ trang, đi đánh chiếm các vị trí đầu não quan trọng của địch. Một nửa quần chúng phía trước tiến về phủ Khâm sai, nổ súng thị uy, hô vang khẩu hiệu ủng hộ cách mạng.

Trước khí thế hùng hậu của quần chúng và sức thuyết phục của đồng chí Nguyễn Khang đoàn quân cách mạng tiến về phủ Khâm sai mà không gặp sức kháng cự nào đáng kể, các đội lính bảo an ngay sau đó chất khí giới nộp cho quân cách mạng.

Chiếm xong phủ Khâm sai, đội Xung phong, Tự vệ và quần chúng tiến sang Tòa thị chính, tại đây Thị trưởng chính quyền bù nhìn Trần Văn Lai đã giao chính quyền lại cho nhân dân. Tại Sở cảnh sát, do được vận động từ trước nên anh em cảnh sát đã ngả về cách mạng nhanh chóng. Việc chiếm trại Bảo an binh gặp nhiều khó khăn hơn, có lúc tưởng chừng như đổ máu vì quân Nhật quyết tâm giữ lấy kho vũ khí, nhưng bằng mưu trí, sự khéo léo của ta, đến 4 giờ chiều quân Nhật đã rút lui.

Tại ngân hàng Đông Dương, do địch viện lẽ phải bảo vệ để giao cho Đồng minh, không thể trao lại cho cách mạng nên quân Nhật tập trung cố thủ. Trước tình hình đó, các đồng chí lãnh đạo sợ rằng nếu cố tiến vào thì kẻ thù sẽ nổ súng gây đổ máu cho quần chúng vì vậy ta đề nghị lực lượng tự vệ cách mạng cùng tham gia bảo vệ với quân Nhật nhưng sau vài ngày anh em tự vệ chiến đấu của ta đã rút đi.

19/8/1945. Ảnh Tuổi trẻNgày 19/8/1945. Ảnh Tuổi trẻ

Chiều ngày 19/8, cả Hà Nội ngập tràn trong niềm vui cuộc khởi nghĩa giành chính quyền đã thành công, chính quyền đã nằm trong tay nhân dân. Trong không khí thắng lợi, ngày 20/8/1945 chính quyền cách mạng ra mắt quốc dân trong tiếng vỗ tay vang dội. Hà Nội từ ngày hôm ấy lại trở về với tư cách là người chủ của nước Việt Nam anh hùng.

Thắng lợi ngày 19/8/1945 của nhân dân Hà Nội là thắng lợi của trí tuệ và lòng quả cảm, ngày này đi vào lịch sử dân tộc như một biểu tượng cho thắng lợi chung của cách mạng Tháng Tám trong cả nước.

Kín trời phơi phới vàng sao

Sau khi cuộc khởi nghĩa kết thúc, thành phố Hà Nội vinh dự được chọn làm nơi ra mắt Chính phủ cách mạng lâm thời trước quốc dân đồng bào và trong những ngày cuối tháng 8/1945 Trung ương Đảng và Bác từ Tân Trào về Hà Nội.

Ngày 2/9/1945 trong biển cờ hoa, trước cuộc mít tinh rầm rộ chào đón chính phủ cách mạng của hàng vạn đồng bào Hà Nội và vùng lân cận, Chủ tịch Hồ Chí Minh trịnh trọng đọc bản Tuyên ngôn độc lập chính thức tuyên bố cùng thế giới nền độc lập của Việt Nam và khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Sự kiện ngày 2/9 đã đặt dấu ấn quan trọng, là bước ngoặt lớn trong lịch sử dân tộc và là niềm tự hào của nhân dân Hà Nội.

Trong niềm tự hào chung của toàn dân tộc, giai cấp công nhân và nhân dân Hà Nội có quyền tự hào rằng cuộc khởi nghĩa thắng lợi ở Hà Nội vào ngày 19/8/1945 đã góp phần quan trọng quyết định kết thúc nhanh chóng quá trình tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước.

Với vị trí là một thành phố lớn, một trung tâm kinh tế – chính trị tập trung đầu não của bộ máy chính quyền bù nhìn Bắc Bộ, nơi lực lượng quân đội Nhật đông đảo, thắng lợi của nhân dân Hà Nội đã góp phần làm tan rã nhanh chóng toàn bộ hệ thống bộ máy chính quyền tay sai của Nhật trong cả nước. Giáo sư Trần Văn Giàu đã khẳng định:

“Các nhà viết sử khởi nghĩa Cách mạng Tháng Tám phải ghi công đầu rất lớn cho Đảng bộ và nhân dân Hà Nội trong cuộc chiến đấu mang tính chất quyết định này. Hà Nội có khởi nghĩa thành công ngày 19 tháng Tám thì Huế mới khởi nghĩa thành công ngày 23 và Sài Gòn khi ấy nóng lòng chờ tin Hà Nội. Hà Nội có khởi nghĩa thì Sài Gòn mới làm. Hà Nội có làm sớm thì Sài Gòn mới khỏi trễ nải nguy hiểm. Tuy Sài Gòn đã tập hợp đủ lực lượng, nhưng nếu Hà Nội chưa làm thì vị tất Sài Gòn đã làm vì nhớ mãi kinh nghiêm của tháng 11/1940. Nói khởi nghĩa Hà Nội có tầm quyết định là như vậy”.

Với thắng lợi này, Hà Nội từ một thành phố thuộc địa thương mại, từ nơi đầu não cai trị của chính quyền thực dân và phong kiến đã trở thành trung tâm cách mạng của cả nước, trở thành thủ đô của nước Việt Nam độc lập, thủ đô của một nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á – một nhà nước trong đó nhân dân lao động đã thực sự làm chủ vận mệnh của mình. (…).

Hà Nội mở đầu trận bão cách mạng cuồn cuộn

Thắng lợi ở Hà Nội đã có những ảnh hưởng tích cực tới nhiều địa phương khác trong cả nước, cổ vũ nhân dân các địa phương thêm quyết tâm đấu tranh giành chính quyền. Từ những ngày Việt Minh còn hoạt động bí mật trong thành Hoàng Diệu, những tin tức hoạt động cách mạng đã được truyền đi các tỉnh qua báo chí và qua việc truyền tin của quần chúng trên những tuyến ô tô, xe lửa.

Hình ảnh lá cờ đỏ sao vàng năm cánh tung bay phấp phới nhiều lần trên tháp Rùa giữa hồ Hoàn Kiếm trong thời kỳ tiền khởi nghĩa cũng đã được đồng bào các tỉnh lỵ kể cho nhau nghe với lòng khâm phục, nhân dân vô cùng phấn khởi trước những chiến công của đội danh dự thành Hoàng Diệu.

Trong những ngày tổng khởi nghĩa của cách mạng Tháng Tám, tin tức khởi nghĩa rầm rộ ở Hà Nội bay đi nhanh chóng, được truyền bá đi các tỉnh Bắc Bộ, Trung Bộ và nhiều tỉnh lỵ Nam Bộ làm cho bọn cầm đầu chính quyền tay sai của Nhật ở nhiều nơi thêm hoảng hốt. Cán bộ lãnh đạo khởi nghĩa ở các tỉnh sử dụng những tin tức ấy như một sự hỗ trợ tinh thần để đẩy mạnh việc vận động nhân dân địa phương vùng dậy đạp đổ ách nô lệ, giành quyền làm chủ.

Ngay từ ngày 17/8, tin cuộc biểu tình ở Hà Nội nhanh chóng lan tới các tỉnh thông qua báo chí với đầu đề “Hà Nội khởi nghĩa” khiến cho nhân dân phấn khởi càng thêm tin tưởng vào thắng lợi của Hà Nội.

Ngày 18/8 Đội tuyên truyền ở Hà Nội xung phong đi các tỉnh lỵ loan báo tin Nhật đầu hàng quân Đồng minh vô điều kiện, đội này dùng ô tô cắm cờ đỏ sao vàng làm nhiệm vụ tuyên truyền công khai suốt dọc đường từ Hà Nội đi Phủ Lý, đến Ninh Bình rồi vòng về Nam Định. Được tin đó, khí thế cách mạng của quần chúng càng sục sôi, họ nhanh chóng đi theo tiếng gọi của Đảng đánh đổ chính quyền phản động, thiết lập chính quyền cách mạng.

Stein Tonesson, trong The Vietnames Revolution of 1945, Roosevelt, Ho Chi Minh and De Gaulle a world at war, cho rằng: “Vai trò trọng yếu của cuộc nổi dậy ở Hà Nội là không thể chối cãi được. Việc Hà Nội, thủ phủ của Đông Dương, được tiếp quản ngay từ sáng ngày 19/8/1945 có một ảnh hưởng quan trọng trong việc lan truyền cuộc cách mạng tới các vùng còn lại của nông thôn. Tới một mức độ nhất định, đây là cuộc cách mạng “bằng điện báo” – sử dụng theo cách diễn đạt của L.Trosky. Theo nghĩa này, Cách mạng Tháng Tám là một cuộc cách mạng thành thị giống cách mạng Tháng Mười Nga”.

Ngày 19/8 tin khởi nghĩa ở Hà Nội hoàn toàn thắng lợi được truyền đi nhanh chóng, báo “Tin mới” lập tức đưa tin thắng lợi này đi các tỉnh và “tin khởi nghĩa ở Hà Nội thắng lợi truyền đi như một luồng gió mạnh góp thêm vào trận bão cách mạng đang cuồn cuộn dâng lên trong cả nước”. (…).

Ảnh hưởng của cuộc khởi nghĩa ở Hà Nội còn vang dội tới các tỉnh miền trung du Bắc Bộ như Phúc Yên, Vĩnh Yên, Phú Thọ và các tỉnh miền Bắc Trung bộ như Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh. Sáng ngày 20/9, tờ báo “Tin mới” nói về cuộc khởi nghĩa ở Hà Nội được chuyển đến tay các đồng chí lãnh đạo khởi nghĩa ở Phú Thọ lúc bấy giờ. Ngay cả những tỉnh đã hoàn thành nhiệm vụ đánh đổ chính quyền bù nhìn, thiết lập chính quyền cách mạng vẫn tuyên truyền tới quần chúng thắng lợi của Hà Nội, bản tin cuối cùng của ban Thông tin tuyên truyền tỉnh Hà Tĩnh ngày 20/8 báo tin Hà Nội đã khởi nghĩa thắng lợi khiến nhân dân càng thêm phấn khởi, hăng hái tham gia xây dựng chính quyền cách mạng.

Tin tức Hà Nội giải phóng ngày 19/8 dội vào Huế, “thanh thế của Việt Minh và của uy tín của cụ Nguyễn Ái Quốc được lan truyền công khai và rộng khắp càng làm cho tinh thần vốn sôi sục ở Huế như được đẩy tới đỉnh điểm”7, Uỷ ban khởi nghĩa Thuận Hoá quyết định ngày 23/8 sẽ lãnh đạo nhân dân nổi dậy giành chính quyền.

Tin tức về thắng lợi ở Hà Nội cũng được Uỷ ban cũng nhất trí gửi cho vua Bảo Đại kèm theo yêu cầu phải thoái vị và công bố chuyển giao chính quyền cho Việt Minh. Đêm 23/8 từ Hà Nội, Uỷ ban nhân dân Cách mạng Bắc bộ gửi tới hoàng cung một bức điện khẩn với nội dung “Một chính phủ nhân danh Cách mạng lâm thời đã thành lập. Chủ tịch là cụ Hồ Chí Minh. Yêu cầu đức Vua thoái vị ngay để củng cố và thống nhất nền độc lập nước nhà”8. Khi biết rõ cụ Hồ Chí Minh chính là cụ Nguyễn Ái Quốc, vua Bảo Đại nhanh chóng chấp nhận thoái vị và trao ấn kiếm cho đại diện Việt Minh vào ngày 30/8, tự nguyện làm một công dân của nước Việt Nam độc lập.

Những ngày sau đó, tin tức về khởi nghĩa thắng lợi ở Hà Nội còn được truyền tới các tỉnh miền Nam như: Biên Hoà, Gia Định, Cần Thơ… đã tác động sâu sắc đến Đảng bộ, đến các tầng lớp nhân dân và các tôn giáo, đảng phái trong tỉnh. Nghe tin ta cướp chính quyền thắng lợi ở Hà Nội, nhân dân các địa phương nô nức mong chờ đến lượt mình.

Ngày 20/8 trên sóng phát thanh, Xứ uỷ Nam kỳ nhận được tin về Hà Nội nhưng còn chưa chắc chắn, nhưng sau khi nhận được báo cáo của ta từ Bưu Điện các đồng chí lãnh đạo vô cùng phấn khởi phát động quần chúng nhân dân Nam Bộ tiến lên tổng khởi nghĩa giành chính quyền.

Hồ Công Lưu -Trần Văn Kiên

>>Xem bản đầy đủ tại đây: Hà Nội – Cách mạng Tháng Tám 1945

(Trích Kỷ yếu Hội thảo khoa học “Kỷ niệm 60 năm Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh mùng 2 tháng Chín” (1945-2005), Khoa Lịch sử, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội).

* Các tiêu đề chính và phụ do Bee.net.vn đặt

TIN LIÊN QUAN

bee.net.vn

Cách mạng Tháng Tám: Dân chủ, dân chủ hơn nữa!

Một trong những lãnh đạo khởi nghĩa ở Hà Nội (về sau phụ trách tình báo chiến lược cho Cụ Hồ cho đến 1968), ông Lê Trọng Nghĩa bảo tôi: “Chính tinh thần dân chủ là đảm bảo thắng lợi cho giành chính quyền ở Hà Nội”.

Hiệu lệnh của thời đại

Trong sách “Hồ Chí Minh – một hành trình”, tác giả Lady Borton nhận định: “Cuộc giành chính quyền tháng Tám năm 1945 ở Việt Nam là sáng tạo độc đáo trong lịch sử thế giới. Đó là cuộc nổi dậy sâu rộng được toàn dân tham gia, cuộc cách mạng thắng lợi nhưng không đổ máu”.

Với tôi, khởi nghĩa thành công của Hà Nội làm sạt lở quan điểm “bạo lực là bà đỡ cho cách mạng”, nói nôm na, phàm là giành chính quyền, cứ phải thông qua con đường bạo lực.

Giới tinh hoa Hà Nội đang nhớ lại những ngày Tháng Tám. Ảnh chụp họa sĩ Nguyễn Thu của George BurchettGiới tinh hoa Hà Nội đang nhớ lại những ngày Tháng Tám. Ảnh chụp họa sĩ Nguyễn Thu của nghệ sĩ George Burchett

Một trong những lãnh đạo khởi nghĩa ở Hà Nội (về sau phụ trách tình báo chiến lược cho Cụ Hồ cho đến 1968), ông Lê Trọng Nghĩa bảo tôi: “Chính tinh thần dân chủ là đảm bảo thắng lợi cho giành chính quyền ở Hà Nội”.

Các bậc lão thành kể, người quyết định tiến hành khởi nghĩa là ông Nguyễn Khang, lúc đó là Thường vụ Xứ ủy. Ông Khang không ra mặt vì là cộng sản.

Ông Nghĩa (ông Lê Trọng Nghĩa) cũng cộng sản, nhưng trước công luận, ông là người lãnh đạo Dân chủ đảng. Đây là đảng của các nhân sĩ trí thức, sinh viên, học sinh yêu nước lập ra theo chủ trương của Cụ Hồ năm 1944. Vì thế, ông Khang lệnh cho ông Nghĩa “nếu mít tinh ở Nhà Hát Lớn tiến triển thuận lợi thì phát lệnh khởi nghĩa”.

Giành được diễn đàn, các chiến sĩ dân chủ kêu gọi dân chúng ngả theo Việt Minh. Ông Nguyễn Đình Thi kể lại, ông Nghĩa, quyết đoán về tư tưởng, nhưng đã “vụng về” bắn chỉ thiên một phát súng ngắn, chính thức phát lệnh khởi nghĩa.

Lực lượng ở Hà Nội lúc đó, cả nội ngoại thành chỉ có được dăm chục khẩu dóp năm, dóp ba… không thể đấu với xe tăng của Nhật.

Nhưng khẩu súng ngắn, lúc đó trị giá cả gia tài, là do ông Lê Đức Thọ giao cho ông Nghĩa từ sau ngày Nhật đảo chính Pháp. Các tự vệ nội ngoại thành Hà Nội chắc lúc đó cũng đâu quen bắn súng, lại hầu như chân đất, nhưng có cái đầu tỉnh và trái tim quả cảm, nên đã thắng.

Sau này, ông Nghĩa nói, chính bài “Diệt phát xít” đã tạo men say cho ông và những người khởi nghĩa. “Tiến lên nền dân chủ cộng hoà, giành lại áo cơm tự do” là hiệu lệnh thời đại.

Gương mặt người chiến thắng

Lúc nhỏ, tôi nhận thấy ông Ngọc, chồng cô Thanh bạn mẹ tôi chẳng có gì đặc biệt. Đeo kính cận dày cộp, ông có vẻ bỡ ngỡ giữa thế nhân. Hóa ra, ông Ngọc chính là người đã vác cờ đỏ sao vàng vào người, leo qua cổng Phủ Khâm sai (nay là Nhà Khách chính phủ), trong lúc Bảo an binh súng ống tua tủa bên trong. Bảo an binh, vốn đã giao động vì Khâm sai Phan Kế Toại từ nhiệm (sau mấy lần gặp ông Lê Trọng Nghĩa) vì hành động đó đã ngả hẳn theo cách mạng.

Ở Trại bảo an binh, Nhật đã phái xe tăng tới cố thủ. Và trên đường Hàng Bài, 5 thiếu nữ Hà Nội mặc áo dài, trong đó có cô Tuyết Minh bạn mẹ tôi (sau này là “chính uỷ nữ” đầu tiên và duy nhất của Quân đội Việt Nam – chính trị viên tiểu đoàn 102, trung đoàn Thủ đô đầu kháng chiến) đã “tươi như hoa” chặn xe tăng Nhật trong nỗ lực “binh vận” đầu tiên. Ông quản Liên, sau cách mạng phụ trách đoàn quân nhạc, nhớ lại: “Tưởng Việt Minh là ai, hoá ra mấy nữ sinh Đồng Khánh cành vàng lá ngọc”.

Thuyết phục được quân Nhật để cho quân cách mạng làm chủ Trại bảo an binh, ông Nghĩa thấy một viên sĩ quan Nhật quay lại “hẹn” ông tới Bản doanh quân Nhật (nay là 33 Phạm Ngũ Lão), nói chuyện. Cuộc đấu trí diễn ra giữa “những người nổi loạn”, cựu sinh viên Hà Nội Lê Trọng Nghĩa và nhà Marxist kỳ cựu Trần Đình Long, với các tướng soái “Thiên Hoàng” mặt sắt, gươm súng sáng loè, khá gay go. Cuối cùng, quân Nhật chịu để cho người Hà Nội làm chủ thành phố của họ.

Dân chủ, dân chủ hơn nữa

Khi nghiên cứu vấn đề giao liên trong cách mạng Việt Nam, học giả Anh Virginia Morris rất quan tâm tới khởi nghĩa giành chính quyền ở Hà Nội năm 1945. Bà cho rằng, các giao thông viên chân đất đã không thể chuyển đạt kịp thời các công văn giữa Trung ương ở Tân Trào và Hà Nội, trong những ngày nước sôi lửa bỏng. Nhưng, theo bà Virginia Morris, sự liên kết giữa Việt Minh và lực lượng đồng minh (nhóm “Con Nai”) trước đó, đã làm cho quân Nhật nhầm trong việc định cỡ (gauge) sức mạnh vũ trang của Hà Nội.

Sáng sớm 20/8, tiếng súng đánh trại Nhật ở Thái Nguyên đã làm không chỉ Bộ chỉ huy Nhật ở Hà Nội, mà cả chính quyền cách mạng Hà Nội vừa qua đêm đầu tiên thức trắng, phải giật mình. Theo ông Nghĩa, người Nhật chợt hiểu ra rằng Hà Nội vừa giành chính quyền bằng quyết tâm chính trị của mỗi người dân. Đã có những công văn xin chỉ thị từ Tokyo nhưng sau sự đã rồi của ngày hôm trước, chúng đã lạc loài trong đám tro tàn của bom nguyên tử.

Và khi khấp khởi đón Cụ Hồ về Hà Nội hôm 25/8, lãnh đạo khởi nghĩa đã rất lo lắng vì đã hành động mà chưa kịp nhận phê chuẩn của Trung ương. Cụ Hồ làm mọi người sốc, với khẩu hiệu: “Độc lập, độc lập hơn nữa. Dân chủ, dân chủ hơn nữa”.

Tác giả William J. Duiker trong khi lục lọi hồ sơ những ngày Tân Trào, đã tìm được một chỉ thị của Cụ Hồ quan trọng ra ngày 16/8. Duiker viết trong “Hồ Chí Minh – một cuộc đời”:

“(Phát biểu trước các đại biểu Quốc dân Đại hội) Hồ Chí Minh khẳng định lại điều quan trọng là phải nhanh chóng giành chính quyền để có thể đón tiếp quân chiếm đóng Đồng Minh trên thế mạnh. Buộc phải đối phó với quân Nhật, nhưng cần cố thuyết phục họ, nếu có thể…”

Phát biểu đó đã không đến được tay ông Nguyễn Khang và Uỷ ban khởi nghĩa Hà Nội, những người đã đi đến cái quyết định long trời lở đất vào ngày 17/8. Có lẽ, các tư tưởng lớn thường gặp nhau, kể cả bằng thần giao cách cảm.

Như Georges Bouldarel đã khái quát trong Lời tựa cuốn “Ngọn cờ chiến tranh nhân dân và đường lối quân sự của Đảng” của Đại tướng Võ Nguyên Giáp (NXB PRAEGER, Hoa kỳ 1970):

“19 tháng Tám, khi quân của Tướng Giáp tiến về đánh Thái Nguyên, một cuộc nổi dậy đã dẫn đến lật đổ chính phủ thân Nhật ở Hà Nội. Đó là một thử nghiệm thành công, là cuộc cách mạng theo kiểu mới, riêng có của Việt Nam. Các thành phố không bị nông thôn bao vây, chúng đã vùng lên, đã tự chín muồi trên ý nguyện của chính mình.

Tuy vậy, việc cướp chính quyền ở thành thị không thể đạt được nếu không có sức hút mạnh mẽ và cảm hứng cách mạng truyền đến từ căn cứ địa Việt Bắc… Với thời gian, tính chất độc đáo của cách mạng Việt Nam sẽ trở nên không thể biện bác”.

TIN LIÊN QUAN

bee.net.vn

Cách mạng tháng Tám (ngày 19 tháng 8 năm 1945)

Cách mạng tháng Tám (ngày 19 tháng 8 năm 1945)Cách mạng tháng Tám (ngày 19 tháng 8 năm 1945) là cuộc cách mạng thắng lợi của Việt Minh với quân PhápNhật Bản và chính phủ Đế quốc Việt Nam do vua Bảo Đại phê chuẩn. Kết quả chính phủ cũ giải tán và sau đó đến ngày 2 tháng 9 năm 1945HồChí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập Việt Nam khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Bối cảnh:

Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ, phe trục gồm Đức Ý Nhật đánh lại phe Đồng Minh gồm AnhPhápLiên Xô. Sau có Mỹ và nhiều nước nữa tham chiến.

Vào tháng 9 năm 1940, ngay giữa Thế chiến thứ haiChính phủ Vichy của Pháp, vì đã đầu hàng Đức Quốc Xã, đồng ý cho quân đội Nhật Bản đổ bộ vàoBắc kỳ. Ngay lập tức quân đội Nhật dùng đó làm bàn đạp ảnh hưởng đến các chiến trường Trung Quốc và Đông Nam Á. Trên thực tế, đây là một điểm quan trọng trong chiến lược quân sự của Nhật nhằm thống trị toàn bộ vùng Đông Nam Á. Trong khi chờ đợi cuộc đại thắng của Đức tại châu ÂuNhật tạm thời duy trì hệ thống bảo hộ của Pháp tại Đông Dương. (Trong những trận đánh lớn hồi đó có thể kể đến việc Hải Quân và Không Quân Nhật xuất phát từ Cam Ranh và Sài Gòn tiêu diệt Hạm đội Viễn Đông của Anh).

Thời gian này, Đảng Cộng Sản Đông Dương lãnh đạo nhiều cuộc khởi nghĩa chống thực dân Pháp, như Khởi nghĩa Nam KỳKhởi nghĩa Bắc Sơn nhưng đều thất bại. Những binh lính tham gia chiến tranh Thái Lan thực hiện cuộc Binh biến Đô Lương cũng thất bại.

Vào tháng 5 năm 1941 các lực lượng ái quốc, trong đó nòng cốt là Đảng Cộng Sản Đông Dương, dẫn đầu bởi Hồ Chí Minh, tập họp tại một địa điểm gần biên giới Việt-Trung, tham gia một tổ chức đứng về phíaĐồng Minh giành độc lập cho Việt Nam gọi là Việt Nam Độc Lập Đồng Minh Hội. Tổ chức này thường được gọi vắn tắt là Việt Minh. Tổ chức này xây dựng một chiến khu do họ kiểm soát ở biên giới Việt Trung. Ngày 22 tháng 12 năm 1944Võ Nguyên Giáp thành lập một trung đội 34 người mang tên Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng Quân (một trong những tiền thân của Quân đội Nhân dân Việt Nam), ngay sau khi thành lập đã tiến đánh quân Nhật, mở rộng chiến khu. Trước khi Nhật đầu hàng Đồng Minh, chiến khu đã bao gồm nhiều tỉnh vùng đông Bắc Bắc Bộ, gọi là chiến khu Việt Bắc.

Trong khi đó, phản ứng trước sự kiện Nhật đảo chính Pháp, ngày 12 tháng 3 năm 1945, Ban Thường vụ Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam ra chỉ thị “Nhật – Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta” nhằm phát động cao trào kháng Nhật cứu nước (thay đổi hình thức tuyên truyền, tổ chức đấu tranh để thích hợp với thời kỳ tiền khởi nghĩa, tập dượt quần chúng tiến lên khởi nghĩa giành chính quyền).

Tại Âu châu, Đức thất trận và đầu hàng ngày 7 tháng 5 năm 1945. Ngày 6 tháng 8Hoa Kỳ ném hai trái bom nguyên tử trên đảo Hiroshima và Nagasaki. Ngày 14 tháng 8Nhật hoàng tuyên bố đầu hàng vô điều kiện. Do đó quân Nhật tại Việt Nam dao động và tan rã. Theo tối hậu thư Postdam của phe đồng minh gửi Nhật ngày 26 tháng 7, quân đội Nhật sẽ bị giải giới do quân đội Trung Hoa ở bắc vĩ tuyến 16, và do quân đội Anh từ nam vĩ tuyến 16.

Dưới sự cai trị của Nhật, từ tháng 10 năm 1944 đến tháng 5 năm 1945nạn đói khủng khiếp diễn ra làm 2 triệu người chết. Đây là thời cơ để Việt Minh xây dựng lực lượng lớn khắp cả nước, họ tập hợp nhân dân cướp các kho thóc Nhật. Đồng thời, một đại hội đại biểu toàn quốc họp trên chiến khu, thành lập Quốc dân Đại hội, tức quốc hội lâm thời. Khi Nhật thất bại, khởi nghĩa nổ ra trên toàn quốc, đó là Cách mạng tháng Tám. Cách mạng diễn ra nhanh chóng với sự tham gia của hầu hết dân chúng, Việt Minh giành được chính quyền trên cả nước trong mười mấy ngày.

Diễn biến tại miền Bắc

Khi nhậm chức, bộ trưởng tư pháp Trịnh Đình Thảo của chính phủ Trần Trọng Kim đã ra lệnh thả hàng ngàn tù chính trị bị Pháp giam giữ trước đó và cho phép các tổ chức, hội đoàn chính trị được hoạt động công khai. Tin đồn dân Nhật sắp sửa đầu hàng đã lan tỏa khắp nơi tại miền Bắc, lợi dụng cơ hội, dân chúng đã tụ tập biểu tình, bãi công nhiều nơi, như ở Thái Bình vào ngày 11 tháng 8. Từ ngày 12 tháng 8 năm 1945, các đơn vị Giải phóng quân của Việt Minh lần lượt tiến công các đồn Nhật ở các tỉnh Cao BằngBắc KạnThái NguyênTuyên QuangYên Bái… và hỗ trợ nhân dân các tỉnh này tiến lên giành chính quyền tại các tỉnh lỵ.

Hội nghị toàn quốc họp ở Tân Trào ngày 13 tháng 8 năm 1945 đã nhận định rằng những điều kiện cho Tổng khởi nghĩa đã chín mùi và chuẩn bị lãnh đạo toàn dân khởi nghĩa.

Ngày 14-8 một số cán bộ Đảng Cộng sản và Việt Minh dù chưa nhận được lệnh khởi nghĩa nhưng căn cứ vào tình hình hiện tại và chỉ thị “Nhật Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta” đã quyết định cùng nhân dân khởi nghĩa, khởi nghĩa lan rộng ra xã thuộc các tỉnh ở đồng bằng sông Hồng như Thanh Hóa, Thái Bình…

Ngày 16 tháng 8 năm 1945, một đơn vị Giải phóng quân của Việt Minh do đại tướng Võ Nguyên Giáp chỉ huy từ Tân Trào (Tuyên Quang) kéo về bao vây, tấn công quân Nhật ở thị xã Thái Nguyên.

Tổng khởi nghĩa Hà Nội

Bài chi tiết: Tổng khởi nghĩa Hà Nội

[sửa]Diến biến tại Huế

Ngày 17/8/1945 chính phủ Trần Trọng Kim tổ chức mittinh ra mắt quốc dân nhưng cuộc mittinh thành cuộc tuần hành ủng hộ Việt Minh. Ngày 23/8 khởi nghĩa giành thắng lợi. Cuộc khởi nghĩa có sự đóng góp của lực lượng Thanh niên tiền tuyến (Thanh niên Phan Anh).

Diễn biến tại miền Nam

Tại Sài GònHuỳnh Phú Sổ kết hợp các tổ chức chính trị Cao ĐàiHoà HảoViệt Nam Quốc dân đảngĐại Việt Quốc dân đảng… thành Mặt trận Quốc qia Việt Nam Thống nhất, tổ chức một cuộc biểu tình lớn chống Pháp.

Ngày 25 tháng 8 năm 1945, Việt Minh mà Thanh niên Tiền phong làm nòng cốt tổ chức biểu tình và giành chính quyền tại Sài Gòn (nơi chịu sự cai trị trực tiếp của Nhật).

Đến ngày 28 tháng 8, Việt Minh giành được chính quyền toàn quốc. Hai tỉnh cướp được chính quyền cuối cùng là Hà Tiên và Đồng Nai Thượng.

Bảo Đại thoái vị

Ngày 22 tháng 8, Việt Minh gửi công điện yêu cầu Bảo Đại thoái vị, họ đã giành được chính quyền. Bảo Đại tuyên bố chấp nhận thoái vị, từ bỏ ngai vàng và trở thành công dân Vĩnh Thụy. Ngày 30 tháng 8, hàng mấy vạn người tụ tập trước Ngọ Môn Lâu xem nhà vua thoái vị, ông tuyên bố “Thà làm dân một nước độc lập còn hơn làm vua một nước nô lệ”[1] [2].

Sau đó công dân Vĩnh Thụy trao ấn, kiếm cho đại diện Việt Minh Trần Huy Liệu và được gắn huy chương. Khi vua Bảo Đại chính thức thoái vị, Hồ Chí Minh ở Tân Trào mới về Hà Nội, dân chúng vẫn chưa biết Hồ Chí Minh chính là Nguyễn Ái Quốc.

Tuyên ngôn độc lập ngày 2 tháng 9 năm 1945

Bài chi tiết: Tuyên ngôn Độc lập Việt Nam

Ngày 2 tháng 9 năm 1945, tại quảng trường Ba Đình (Hà Nội). Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập và tuyên bố sự khai sinh của một nước Việt Nam mới: Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Bản tuyên ngôn, dựa theo bản Tuyên ngôn Độc lập Hoa Kỳ, bắt đầu bằng câu: Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc.

Tiếp theo đó, đất nước non trẻ tổ chức tổng tuyển cử, xây dựng nhà nước dân chủ độc lập đầu tiên trong lịch sử Việt NamHồ Chí Minh được 98% ủng hộ.

Tại Sài Gòn

Ngày 2 tháng 9 năm 1945, hàng ngàn người dân từ nhiều tỉnh và tại Sài Gòn kéo về quảng trường Norodom (gần nhà thờ Đức Bà) chờ được nghe Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc tuyên ngôn độc lập từ quảng trường Ba Đình (Hà Nội). Nhưng do thời tiết xấu và trình độ kỹ thuật lúc đó, những lời tuyên bố của Hồ Chí Minh trước quốc dân không đến được với những người dự mít tinh. Ông Trần Văn Giàu, Chủ tịch Lâm ủy hành chính Nam Bộ bước lên khán đài kêu gọi nhân dân đoàn kết chung quanh chính phủ Hồ Chí Minh, nâng cao cảnh giác, “sẵn sàng đập tan mưu đồ của thực dân, đế quốc trở lại xâm lược nước ta lần nữa”[cần dẫn nguồn]. Bác sĩ Phạm Ngọc Thạch, người được cử chức Bộ trưởng Bộ Y tế Chính phủ lâm thời thay mặt chính phủ tuyên thệ trước quốc dân “Cương quyết lãnh đạo đồng bào giữ gìn đất nước, vượt qua khó khăn nguy hiểm xây đắp nền độc lập hoàn toàn cho Việt Nam”.

Tuần hành chào mừng Cách mạng thành công ở Sài Gòn (25/8/1945)

Khi cuộc mít tinh chuyển sang biểu tình tuần hành, từ trên những tầng lầu cao xung quanh, quân Pháp đã nổ súng bắn vào đoàn biểu tình tuần hành, từ trên những lầu cao xung quanh, làm 47 người chết và bị thương[cần dẫn nguồn]. Ngày 23 tháng 9 năm 1945, ông Trần Văn Giàu viết lời kêu gọi Nam Bộ kháng chiến: “Hãy nắm chặt vũ khí trong tay, xông lên đánh đuổi thực dân Pháp, cứu nước. Cuộc kháng chiến bắt đầu…”

Ý Nghĩa:

Với thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945, nhân dân Việt Nam đã đập tan xiềng xích nô lệ của Pháp trong gần một thế kỷ tại Việt Nam, chấm dứt sự tồn tại của chế độ quân chủ chuyên chế gần một nghìn năm, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòaĐảng Cộng sản Việt Nam từ chỗ phải hoạt động bí mật, bất hợp pháp trở thành một đảng cầm quyền và hoạt động công khai

Vkyno (st)
36phophuong.vn

Chú thích:

1.    ^ Tạp chí Sông Hương, Mười lăm phút tiếp chuyện công dân Vĩnh Thụy sau ngày thoái vị ngôi vua (31-8-1945)

2.    ^ Xem U80 vẫn ấm lửa, báo Quân đội nhân dân

Bác Hồ với Cách mạng Tháng Tám

Với tư duy chiến lược sắc sảo, nhạy bén, Bác Hồ đã giải quyết thành công vấn đề giải phóng dân tộc. Trước những biến đổi nhanh chóng của tình hình thế giới nhất là nguy cơ chiến tranh thế giới thứ hai đến gần, Bác Hồ đã đề nghị Quốc tế cộng sản để Người về nước lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Tháng 2 năm 1941, sau 30 năm bôn ba, Bác Hồ về Cao Bằng, trực tiếp chỉ đạo phong trào cách mạng Việt Nam. Bác Hồ trực tiếp triệu tập và chủ trì Hội nghị Trung ương 8 (khóa I) của Đảng từ ngày 10 đến ngày 19 tháng 5 năm 1941. Tại Hội nghị, Bác đã phân tích, nhận định sáng suốt tình hình quốc tế và trong nước, đề ra nhiều chủ trương quan trọng, nổi lên bao trùm xuyên suốt là giương cao ngọn cờ giải phóng dân tộc, đặt nhiệm vụ chống đế quốc, tay sai, giải phóng dân tộc lên hàng đầu, tạm gác khẩu hiệu ruộng đất. Đó chính là sự phát triển hoàn chỉnh chủ trương chuyển hướng chỉ đạo chiến lược cách mạng do các Hội nghị Trung ương lần thứ 6 (tháng 11 năm 1939) và lần thứ 7 (tháng 11 năm 1940) của Đảng đề ra.

Chủ trương đó đã thể hiện tư duy chiến lược, nhãn quan chính trị nhạy bén của Bác Hồ, đồng thời phản ánh đúng tâm tư nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân là thoát khỏi ách áp bức “một cổ hai tròng” của đế quốc và phong kiến tay sai. Nghị quyết đó đã nhanh chóng đi vào cuộc sống, được nhân dân đồng tình ủng hộ, đã thổi bùng ngọn lửa đấu tranh của toàn dân tộc chống lại bè lũ cướp nước và bọn tay sai bán nước.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chủ động xây dựng lực lượng cách mạng hùng hậu đủ sức tiến hành Tổng khởi nghĩa giành chính quyền thắng lợi. Cùng với việc mở các lớp huấn luyện chính trị và quân sự cho nhiều cán bộ cách mạng, Bác Hồ đã quyết định thành lập Mặt trận Việt Minh, bao gồm tất cả các giai cấp, tầng lớp yêu nước trong xã hội. Đâu đâu cũng phát triển mạnh mẽ các đoàn thể quần chúng trong Mặt trận Việt Minh như: Nông dân cứu quốc, Công nhân cứu quốc, Thanh niên cứu quốc, Phụ nữ cứu quốc, Nhi đồng cứu quốc… Vai trò và sức mạnh to lớn của Mặt trận Việt Minh được phản ánh trong thực tiễn, có sức lôi cuốn hiệu triệu mạnh mẽ quần chúng đứng lên đấu tranh giành độc lập tự do.

Cuối năm 1941, Bác Hồ cho xây dựng thí điểm đội vũ trang ở Cao Bằng đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng. Đội làm nhiệm vụ bảo vệ căn cứ cách mạng, huấn luyện chính trị, quân sự cho các đội tự vệ, du kích ở địa phương, làm liên lạc nối căn cứ của Đảng với miền xuôi. Để đáp ứng yêu cầu của cách mạng ngày 22/12/1944, thực hiện chỉ đạo của Bác Hồ, Đội Tuyên truyền Giải phóng quân được thành lập với nhiệm vụ là hoạt động vũ trang tuyên truyền, kết hợp chính trị với quân sự, nhưng chính trị hơn quân sự. Ngay sau khi thành lập, Đội đã gây được tiếng vang lớn, nhờ chiến công xuất sắc, tiêu diệt gọn hai đồn giặc ở Phay Khắt và Nà Ngần. Để đẩy nhanh việc chuẩn bị khởi nghĩa giữa tháng 4 năm 1945 Bác Hồ cùng Trung ương Đảng triệu tập Hội nghị quân sự Bắc kỳ quyết định đặt nhiệm vụ quân sự lên hàng đầu, thống nhất sáp nhập Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân và Cứu quốc quân thành Việt Nam Giải phóng quân. Lực lượng cách mạng chính trị và lực lượng vũ trang không ngừng trưởng thành, lớn mạnh, đã tạo điều kiện vô cùng quan trọng cho Tổng khởi nghĩa giành chính quyền thắng lợi nhanh chóng.

Chiến tranh thế giới chuyển biến nhanh chóng Bác Hồ phát hiện ra mâu thuẫn giữa Mỹ – Anh – Pháp về thuộc địa nói chung, về Đông Dương nói riêng. Bác Hồ gặp đại diện Mỹ ở Côn Minh bàn phương thức hợp tác Việt Minh – Mỹ. Thực hiện kế hoạch hợp tác đó, Mỹ đã giúp Việt Minh một số súng đạn, thuốc men, nhân viên điện đài và một số quân tình nguyện Mỹ huấn luyện cho lực lượng vũ trang Việt Minh, cách sử dụng các loại vũ khí, điện đài và kỹ thuật, chiến thuật trận địa. Ngược lại, Việt Minh đã cung cấp cho Mỹ những thông tin quan trọng về hoạt động của Nhật, đã cứu và giúp đỡ nhiều phi công Mỹ rơi trên đất ta. Bác Hồ quan hệ với Quốc dân Đảng Trung Hoa và Mỹ là những quyết định sáng suốt, nhằm vừa tranh thủ họ, vừa hạn chế họ, thêm bạn, bớt thù cho cách mạng Việt Nam; đồng thời cho họ thấy rõ cuộc đấu tranh của dân tộc ta là cuộc đấu tranh của lực lượng dân chủ trong mặt trận Đồng minh chống phát xít mà họ cần quan hệ. Đây là minh chứng điển hình cho quan điểm của Bác Hồ về đoàn kết mọi lực lượng có thể đoàn kết, tranh thủ mọi lực lượng có thể tranh thủ, thực hiện cho được mục tiêu độc lập, tự do.

Với tầm cao trí tuệ tuyệt vời và kinh nghiệm hoạt động thực tiễn phong phú Bác Hồ và Đảng ta đã nắm chắc thời cơ cách mạng, kịp thời đề ra chủ trương, kế hoạch Tổng khởi nghĩa, động viên sự đoàn kết nhất trí của toàn dân tộc, để giành độc lập, tự do cho Tổ quốc. Tháng 8 năm 1945, phát xít Đức đầu hàng Đồng minh, ở Đông Dương quân Nhật hoảng loạn, phong trào cách mạng cả nước sôi sục, những điều kiện cho Tổng khởi nghĩa đã chín muồi Bác Hồ đã khẳng định, lúc này thời cơ thuận lợi đã tới, dù hy sinh tới đâu cũng phải giành cho được độc lập. Và “Cần phải tranh thủ từng giây, từng phút tình hình sẽ biến chuyển nhanh chóng, không thể để lỡ cơ hội”. Nắm chắc thời cơ đó Bác Hồ và Trung ương Đảng đã chuẩn bị gấp và triệu tập Hội nghị toàn quốc của Đảng và Đại hội đại biểu Quốc dân ở Tân Trào. Tại đây đã chủ trương phát động toàn dân Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trước khi quân Đồng minh vào nước ta giải giáp quân đội Nhật. Ngay sau đó Bác Hồ đã gửi thư kêu gọi Tổng khởi nghĩa tới đồng bào cả nước, trong đó khẳng định “Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc ta đã đến. Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy dùng sức ta mà giải phóng cho ta… Tiến lên! Tiến lên! Dưới lá cờ Việt Minh, đồng bào hãy dũng cảm tiến lên!…”.

Đáp ứng lời kêu gọi của Bác Hồ và Đảng ta, nhân dân ta triệu người như một tiến hành cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám thành công. Ngay sau khi thắng lợi vĩ đại của Cách mạng Tháng Tám, Bác Hồ đã soạn thảo Bản Tuyên ngôn độc lập, quyết định ngày ra mắt quốc dân và tuyên bố sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa vào ngày 2/9/1945, trước khi quân Đồng minh vào nước ta giải giáp quân Nhật.

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám và sự ra đời của nước Việt Nam mới là một trong những thắng lợi nổi bật, vĩ đại nhất của cách mạng Việt Nam trong thế kỷ XX. Thắng lợi đó gắn liền với sự lãnh đạo sáng suốt, đúng đắn và công lao to lớn của Bác Hồ. Công lao trời biển của Bác Hồ đối với cách mạng nước ta nói chung và thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám nói riêng, luôn trường tồn cùng lịch sử dân tộc, sống mãi trong lòng nhân dân ta, đã, đang và sẽ là những chỉ dẫn quan trọng cho sự nghiệp đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nước ta hiện nay.

Theo Đức Tâm Baobacninh.com.vn
Tâm Trang (st)
bqllang.gov.vn

Những bức ảnh lịch sử về Cách mạng Tháng Tám 1945

Sáng sớm 19/8/1945, các đường phố Hà Nội đã tràn ngập cờ đỏ sao vàng. Tất cả nhà máy, công sở, chợ búa, cửa hiệu… đều đóng cửa, từng dòng thác người với cờ, biểu ngữ, vũ khí thô sơ hay công cụ lao động rầm rập tiến về Quảng trường Nhà hát lớn.

acmt8 1

Biểu tình cướp chính quyền ngày 19 tháng 8 năm 1945 tại Phủ Khâm sai Bắc Kỳ

acmt8 2

Duyệt đội quân du kích ở các chiến khu về Hà Nội ngày 30/8/1945.

acmt8 3

Ảnh Tư liệu

acmt8 4

Những ngày Cách mạng Tháng Tám sục sôi tại Hà Nội.

acmt8 5

Nhân dân Hà Nội đón quân Đồng minh vào giải giáp quân Nhật ở phố Tràng Tiền, tháng 8 năm 1945.

acmt8 6

Ngày 28/8/1945, Đoàn Giải phóng quân ở Việt Bắc về duyệt binh ở Quảng trường Nhà hátlớn.

acmt8 7

Tuần hành chào mừng Cách mạng Tháng Tám thành công ở Sài Gòn (25/8/1945)

acmt8 8

Toàn cảnh Lễ đài tại Quảng trường Ba Đình Hà Nội, ngày 2/9/1945. Tại đây, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc Bản Tuyên Ngôn Độc lập,khai sinh ra nướcViệt Nam Dân chủ cộng hòa.

Kim Yến (st)
bqllang.gov.vn

Bài học về lãnh đạo quần chúng làm cách mạng

Chỉ trong vòng nửa tháng, từ ngày 14 đến ngày 28-8-1945, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, nhân dân đã nổi dậy đồng loạt tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước. Cách mạng Tháng Tám thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, “lần đầu tiên trong lịch sử cách mạng của các dân tộc thuộc địa và nửa thuộc địa, một đảng mới 15 tuổi đã lãnh đạo cách mạng thành công, đã nắm chính quyền toàn quốc”(1).

Nhận định về nguyên nhân thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám, đồng chí Trường Chinh khẳng định: “Cuộc khởi nghĩa Tháng Tám 1945 đã đạt được mục đích giành chính quyền, mục đích trực tiếp của mọi cuộc cách mạng, vì nó là sự nghiệp của toàn dân đoàn kết, kiên quyết chiến đấu để tự giải phóng, do Đảng Cộng sản Đông Dương lãnh đạo”(2).

Cách mạng Tháng Tám để lại những bài học lịch sử quý báu. Một trong những bài học luôn có ý nghĩa thực tiễn là bài học về phát động, tổ chức, hướng dẫn quần chúng tạo thành những cao trào sôi nổi hoàn thành những nhiệm vụ lịch sử của cách mạng.

Ý Đảng hợp lòng dân là một cơ sở quyết định để có cao trào cách mạng

Đảng ta là một đội tiên phong của giai cấp công nhân và của dân tộc Việt Nam. Mục tiêu phấn đấu của Đảng cũng là nguyện vọng của đông đảo quần chúng. Đường lối, chủ trương của Đảng không phải dựa trên ý muốn chủ quan của một bộ phận mà căn cứ vào tình hình thực tiễn của đất nước, khả năng, nguyện vọng của quần chúng.

Vào thời kỳ tiền khởi nghĩa, nguyện vọng bức thiết của cả dân tộc lúc bấy giờ là thoát khỏi ách thống trị tàn bạo của phát xít Nhật. Ngay sau khi Nhật đảo chính Pháp, Đảng phát động cao trào kháng Nhật cứu nước làm tiền đề cho cuộc tổng khởi nghĩa. Ý Đảng hợp với lòng dân, khẩu hiệu cứu quốc có sức cổ vũ lớn đối với mọi giai cấp, mọi tầng lớp, mỗi người dân yêu nước. Khắp các địa phương, từ rừng núi đến đồng bằng, thành thị đều nô nức khẩn trương chuẩn bị khởi nghĩa giành chính quyền. Được lệnh khởi nghĩa, toàn dân đồng loạt vùng lên với khí thế mãnh liệt của lực lượng chính trị quần chúng đông đảo và lực lượng vũ trang, bán vũ trang. Ở một số địa phương, do điều kiện thông tin liên lạc nên lệnh khởi nghĩa của Trung ương tới muộn, đảng bộ và Mặt trận Việt Minh căn cứ vào tình hình cụ thể của địa phương, vào phương hướng hành động của Đảng đã chủ động lãnh đạo quần chúng nổi dậy khởi nghĩa.

Bài học ý Đảng hợp với lòng dân thể hiện rất điển hình trong Cách mạng Tháng Tám và được phát triển trong những thời kỳ cách mạng sau đó, Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 15, khóa II đến với sự mong chờ khát khao của đồng bào miền Nam đã làm bùng lên phong trào Đồng Khởi. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng đề ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước, đáp ứng nguyện vọng của nhân dân đã tạo nên những phong trào cách mạng trên nhiều lĩnh vực, đạt được những thành tựu to lớn trong công cuộc đổi mới.

Những sai lầm, vấp váp của Đảng trong tiến hành cải cách ruộng đất, trong việc đề ra kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội ở Đại hội IV (năm 1976) của Đảng đều có nguyên nhân do Đảng chủ quan, chưa nắm vững thực tiễn, chưa kịp thời nắm bắt được nguyện vọng, khả năng của quần chúng nhân dân. Sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc hiện nay đang đặt ra nhiều vấn đề với sự lãnh đạo của Đảng. Muốn phát huy được tinh thần cách mạng của quần chúng nhân dân, trước hết đường lối, chủ trương của Đảng phải coi lòng dân là một điểm xuất phát quan trọng hàng đầu.

Chăm lo đáp ứng nguyện vọng trước mắt và lâu dài của nhân dân

Vào đầu năm 1945, nạn đói diễn ra khủng khiếp ở các tỉnh Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ. Hai triệu người chết đói, hàng triệu người khác đang bị đói và có nguy cơ chết đói. Trước tình hình đó, Mặt trận Việt Minh kêu gọi: “Phá kho thóc Nhật cứu đói”. Hàng triệu nông dân nghèo dù chưa giác ngộ cao nhưng để cứu bố, mẹ, vợ, con và bản thân mình khỏi chết đói đã rầm rộ tham gia cuộc đấu tranh phá kho thóc Nhật. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, quần chúng nhân dân từ hình thức đấu tranh cho quyền lợi kinh tế hằng ngày đến giác ngộ chính trị, đấu tranh cho độc lập dân tộc. Đi theo Việt Minh cứu nhà cũng chính là đi theo Việt Minh để cứu nước. Đó là nhận thức cụ thể, sâu sắc và biện chứng của nhân dân. Nhân dân được phát động vùng dậy với khí thế hừng hực khởi nghĩa chống Nhật giành chính quyền. Qua sự kiện lịch sử này, đồng chí Lê Duẩn đã rút ra kết luận: “Một khẩu hiệu sát đúng với tình thế cụ thể có sức dấy lên cả một phong trào”(3).

Trong cách mạng xã hội chủ nghĩa, chúng ta ngày càng nhận thức rõ lợi ích vật chất là động lực trực tiếp. Đảng và Nhà nước ta đã có đường lối, chính sách thường xuyên chăm lo đời sống của mọi tầng lớp nhân dân. Tuy nhiên, mỗi người cần nhận thức đúng đắn mối quan hệ hài hòa giữa quyền lợi vật chất với quyền lợi tinh thần, lợi ích kinh tế với những vấn đề chính trị, xã hội, quyền lợi trước mắt của bản thân, gia đình với mục tiêu chung của đất nước, của cách mạng. Đặc biệt, cần chống những quan niệm sai trái coi lợi ích vật chất là duy nhất, chỉ lo “ích kỷ phi gia”, bàng quan với cuộc sống khó khăn của người xung quanh, với sự nghiệp cách mạng của đất nước, của dân tộc.

Nêu cao vai trò tiên phong gương mẫu xả thân vì nước của cán bộ, đảng viên.

Trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, người cán bộ, đảng viên vì lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, dám xả thân mình để hoạt động cách mạng. Họ tuyên truyền, vận động, tổ chức và hướng dẫn quần chúng đấu tranh. Trong bất kỳ hoàn cảnh nào, người cán bộ, đảng viên đều nêu cao vai trò tiền phong gương mẫu. Những nơi đòi hỏi phải hy sinh, khó khăn gian khổ thì “đảng viên đi trước, làng nước theo sau”. Trong đoàn biểu tình, cán bộ, đảng viên đi hàng đầu. Trong chiến đấu, đảng viên xung phong lên phía trước. Đảng viên luôn nêu gương sáng dẫn dắt, cổ vũ quần chúng đi theo cách mạng. Nhờ vậy, trong Cách mạng Tháng Tám, chỉ với 5.000 đảng viên mà Đảng đã phát động, tổ chức, lãnh đạo được phong trào cách mạng rộng lớn của toàn dân.

Sau khi cách mạng thành công, nhất là trong cách mạng xã hội chủ nghĩa, đảng viên, cán bộ thường được giao các cương vị công tác “có chức, có quyền”. Từ đó, xuất hiện không ít “quan cách mạng” như Bác Hồ đã cảnh báo từ những ngày đầu của chính quyền cách mạng. Hiện nay, một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên trong hệ thống chính trị suy thoái về phẩm chất đạo đức, quan liêu, tham nhũng, không những mất uy tín trước nhân dân, làm suy giảm uy tín của Đảng, mà còn đang là lực cản phong trào cách mạng của quần chúng. Tệ nạn này đã trở thành quốc nạn. Đảng phải thực sự dựa vào dân, kiên quyết loại trừ những “quan cách mạng”, làm trong sạch đội ngũ, khôi phục niềm tin của dân với Đảng.

Thấm nhuần nguyên lý của Chủ nghĩa Mác – Lê-nin, cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lãnh đạo cuộc Cách mạng Tháng Tám thắng lợi, để lại những bài học quý giá luôn nóng bỏng tính thời sự mà chúng ta cần nghiêm túc vận dụng có hiệu quả, đưa cách mạng nước ta tiếp tục giành những thắng lợi mới./.

—————–
(1) Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội 1995, t6, tr 159
(2) Trường Chinh, Cách mạng Tháng Tám, cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, Nxb Sự thật, Hà Nội 1975, t 1, tr 374
(3) Lê Duẩn, Dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, Nxb Sự thật, Hà Nội 1975, tr 46-47.

Trần Thông, Trường Đại học Chính trị Bắc Ninh
Nguồn: Tạp chí Xây dựng Đảng
tapchicongsan.org.vn

Cuộc cách mạng từ nhân dân và vì nhân dân

Có người đã vào các trang mạng xã hội phát biểu nhiều điều rất lạ tai về cuộc Cách mạng Tháng Tám, có vẻ như Đảng Cộng sản Việt Nam đã chớp được thời cơ cách mạng nhưng nghĩ kỹ thì không phải. Người ta muốn hạ thấp vai trò của Đảng với đất nước, với cuộc cách mạng long trời lở đất thay đổi vận mệnh của nước Việt Nam, một cuộc cách mạng quan trọng nhất trong lịch sử dân tộc. Thực hư việc ấy là thế nào?

Lịch sử chỉ có một nhưng luận giải về lịch sử thì có nhiều, càng lùi xa sự kiện càng nhiều cách luận giải. Tuy nhiên, dù luận giải theo cách nào, thì người trung thực đều phải xuất phát từ khách quan.

Gần đây, nhất là trong không khí kỷ niệm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2-9 này, đáng tiếc là có người đã vào các trang mạng xã hội phát biểu nhiều điều rất lạ tai. Chẳng hạn, người ta nói Cách mạng Tháng Tám là chuyện ăn may, nhờ có một khoảng thời gian nước Việt Nam bỏ trống, không ai quản lý, Đảng Cộng sản Việt Nam phát động quần chúng giành chính quyền. Nghe bề ngoài, có vẻ như Đảng Cộng sản Việt Nam đã chớp được thời cơ cách mạng nhưng nghĩ kỹ thì không phải. Người ta muốn hạ thấp vai trò của Đảng với đất nước, với cuộc cách mạng long trời lở đất thay đổi vận mệnh của nước Việt Nam, một cuộc cách mạng quan trọng nhất trong lịch sử dân tộc. Thực hư việc ấy là thế nào?

Đúng là nhờ dự đoán chính xác đến từng ngày và tranh thủ được thời cơ cách mạng, Đảng đã lãnh đạo tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong toàn quốc, một cuộc cách mạng vô cùng mau lẹ, ít tốn xương máu nhưng vô cùng to lớn. Nhưng để có tình thế ngàn năm có một ấy, Đảng đã phải trải qua cuộc đấu tranh gian khổ suốt 15 năm, tích lũy thế và lực cũng như kinh nghiệm qua 4 cao trào cách mạng, cao trào sau rộng lớn hơn, có kinh nghiệm hơn cao trào trước.

Năm 1930-1931, cao trào cách mạng Xô viết-Nghệ Tĩnh là cuộc tập dượt quần chúng đầu tiên về giành chính quyền và quản lý chính quyền sau ngày thành lập Đảng. Năm 1936-1939 là cao trào tuyên truyền, giác ngộ, tổ chức quần chúng làm cách mạng, tuyên truyền chủ nghĩa Mác-Lênin và đường lối chủ trương của Đảng dưới khẩu hiệu mở rộng dân chủ trong phạm vi toàn quốc.

Nhân dân Hà Nội chiếm Phủ Khâm sai (8-1945, ảnh Vũ Năng An).

Cao trào cách mạng 1939-1941 phát động quần chúng ủng hộ Liên bang Xôviết, đứng hẳn về phe đồng minh, góp tiếng nói với các lực lượng tiến bộ chống chiến tranh đế quốc là Đại chiến thế giới lần thứ 2. Lực lượng cách mạng được củng cố, uy tín được tăng cường, dự đoán được xu thế phát triển của tình hình, chủ động đón bắt thời cơ, Đảng đã phát động quần chúng, xây dựng các căn cứ cách mạng rải khắp toàn quốc điển hình là căn cứ địa Việt Bắc (Cao, Bắc, Lạng, Thái, Tuyên, Hà); tiến hành khởi nghĩa từng phần, kết hợp tuyên truyền với đấu tranh vũ trang, xây dựng quân đội cách mạng. Cuộc cách mạng của nhân dân ta trong Việt Nam độc lập đồng minh là một bộ phận của mặt trận đồng minh quốc tế chống phát xít, góp phần vào thắng lợi của phe Đồng minh ở Đông Dương và đã được sự ủng hộ của một số quốc gia thuộc phe Đồng minh từ những năm trước 1945 là nhờ đường lối đúng đắn đó.

Đúng như dự đoán thiên tài của Chủ tịch Hồ Chí Minh từ trước đó nhiều năm, năm 1945 thời cơ cách mạng xuất hiện. Nắm bắt thời cơ đó, đứng vững trên thế chủ động chiến lược, Đảng ta đã phát động một cao trào cách mạng rộng khắp, tranh thủ phá kho thóc của Nhật, giành chính quyền về tay nhân dân ở nhiều nơi trước khi Hà Nội giành chính quyền làm thế địch suy yếu, tinh thần địch hoang mang, rệu rã, tạo điều kiện cho Tổng khởi nghĩa thành công. Có yếu tố khách quan trong thời cơ cách mạng. Đó là việc Liên Xô đánh thắng phát xít Đức ở mặt trận châu Âu, tấn công đội quân Quan Đông của Nhật ở châu Á, cùng với 2 quả bom nguyên tử Mỹ ném xuống nước Nhật khiến Nhật phải ký hiệp định đầu hàng.

Trong một khoảng thời gian rất ngắn, các nước thắng trận (trong đó có Pháp, Anh, Trung Quốc Tưởng Giới Thạch…) chưa thống nhất chia lại thuộc địa và chưa kịp đưa quân vào giải giáp quân Nhật thua trận. Nhưng thuận lợi khách quan đó cũng sẽ không thể tận dụng được nếu quần chúng chưa được phát động, và không có lực lượng vũ trang đủ mạnh.

Cách mạng Tháng Tám lịch sử đã 66 năm, nhưng ý nghĩa lịch sử của nó luôn còn mang tính thời sự. Đó là cuộc cách mạng giải phóng dân tộc nắm vững thời cơ, chủ động tiến công dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, của toàn dân Việt Nam, đứng lên tự quyết định vận mạng của mình

Vĩnh Thi
cand.com.vn

Một nhân chứng lịch sử của Cách mạng Tháng Tám

Là một nhà nhiếp ảnh có tài, cuộc đời đã dẫn Vũ Năng An qua những khúc quanh của định mệnh để rồi trở thành một nhân chứng của lịch sử, của cách mạng. Mỗi lần đến thăm ông, nhắc lại những gì đã qua, ông thường nói với tôi: “Đời tôi may mắn được chứng kiến ghi lại những sự kiện trọng đại, được gần với những nhân vật lớn của thế kỷ XX… những gì tôi ghi lại được, chính là một phần của câu chuyện lớn…”.

Vũ Năng An sinh ra ở tỉnh Nam Định năm 1916. Ông mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Nhiều năm liền chàng trai trẻ Vũ Năng An nuôi ý nghĩ cần phải rời khỏi gia đình, tìm một nơi độc lập để sống và một việc để làm, tạo dựng cuộc sống riêng. Năm 16 tuổi, Vũ Năng An trốn nhà xuống Hải Phòng xin thi vào trường kỹ nghệ. Năm đó ông thi hỏng vì môn kỹ thuật không đạt yêu cầu.

Vũ Năng An đành trở về nhà nhưng ý chí thay đổi cuộc sống bế tắc, tù đọng thì vẫn sôi sục trong tâm hồn người trai trẻ đầy sôi nổi và khát vọng.

Đêm 30 tết năm 1937, biết hôm sau có chuyến tàu xuyên Đông Dương chạy qua Nam Định, không đợi đến sáng hôm sau cùng vui tết với gia đình, Vũ Năng An tự nhủ: “Phải rời xa thành Nam, không thể sống như thế mãi”. Rồi anh mua vé lên tàu vào Tuy Hòa, từ đó bắt xe ôtô đi tiếp vào Sài Gòn.

Cũng tại đây anh may mắn gặp được Géo Thơm. Chính Géo Thơm đã dạy anh nghề chụp ảnh và nhận anh vào làm tại hiệu ảnh của mình. Vũ Năng An nhanh chóng bộc lộ những dấu hiệu của một tài năng nhiếp ảnh lớn được các bậc đàn anh nể trọng. Và một lần tình cờ chụp ảnh cho vợ chồng ông phó giám đốc tàu Armis. Mối lương duyên ấy đã đưa Vũ Năng An vào một hành trình mới.

Ông chủ tàu Armis trầm trồ khen Vũ Năng An chụp đẹp và bảo rằng với tay nghề của mình, Vũ Năng An có thể sang làm việc tại Pháp. Anh được nhận xuống tàu và làm một hành trình 2 tháng liền trên đại dương. Cuối cùng thì tàu cũng cập cảng Marseille. Trong thời gian làm việc tại Pháp, chàng trai trẻ Vũ Năng An đã lăn lộn trong nhiều cảnh sống và có thêm nhiều hiểu biết. Và cũng trong hoàn cảnh xa đất nước ấy, anh đã có dịp nhìn nhận lại mình. Từ tuổi thơ cay đắng đến cảnh sống thiếu quê hương nơi đất khách quê người đã bùng cháy lên trong Vũ Năng An tình yêu Tổ quốc và sự thông cảm sâu sắc với số phận người cùng khổ. Năm 1939 anh quyết định về nước, cố gắng làm một cái gì đó có ích cho đời.

***

Trước đó, từng chứng kiến cảnh các chiến sỹ cách mạng bí mật xuất dương trên tàu Armis, ý thức cách mạng đã thấm dần vào Vũ Năng An. Ông còn có hai người bạn bí mật hoạt động cho Đảng Cộng sản Việt Nam, đã rủ ông tham gia viết báo trong lớp. Cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám 1945 chuẩn bị nổ ra đã tạo điều kiện để Vũ Năng An trở thành một nghệ sỹ nhiếp ảnh cách mạng và một nhân chứng lịch sử.

Từ 17/8/1945, Việt Minh đã chính thức mời Vũ Năng An chụp ảnh cho Cách mạng.

Ngày 19/8/1945, cùng với không khí cuồn cuộn đấu tranh của cuộc tổng khởi nghĩa, theo lệnh Việt Minh, nhân dân Hà Nội vùng lên giành chính quyền. Buổi sáng hôm đó, nhà văn Nguyên Hồng đến gặp Vũ Năng An với tâm trạng vô cùng phấn chấn:

– Đi! Đi chụp ảnh nhân dân chiếm Phủ Khâm sai.

Vũ Năng An cầm máy chạy về phía Phủ Khâm sai. Và may mắn sao, ông đã chụp được một trong những bức ảnh lịch sử vào loại tiêu biểu nhất, ghi lại cái thời khắc thiêng liêng của Cách mạng Tháng Tám – thời khắc nhân dân ta tiến vào sào huyệt của kẻ thù, đập tan bộ máy thống trị hơn 80 năm của thực dân Pháp, giải phóng dân tộc, lật đổ chế độ phong kiến cai trị suốt 1.000 năm, xây dựng chế độ cộng hoà dân chủ nhân dân.

Bác Hồ và Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong Chiến dịch Biên giới 1950
Ảnh Vũ Năng An.

Sau sự kiện Cách mạng Tháng Tám, Vũ Năng An lại được bố trí chụp ảnh Bác Hồ và Chính phủ Lâm thời trong ngày ra mắt đọc Tuyên ngôn Độc lập 2-9-1945. Những bức ảnh tư liệu quý đó đã đi vào sách giáo khoa và được trưng bày, lưu giữ tại Bảo tàng Hồ Chí Minh, Bảo tàng Cách mạng Việt Nam.

Kháng chiến toàn quốc bùng nổ, Vũ Năng An được điều động lên Việt Bắc. Từ đó cho đến khoảng 20 năm sau, Vũ Năng An là nhà nhiếp ảnh trụ cột và có nhiều cơ hội được chụp ảnh Bác Hồ, Thủ tướng Phạm Văn Đồng, Đại tướng Võ Nguyên Giáp cùng đồng chí lãnh đạo và các nhà trí thức văn nghệ sỹ khác.

Chiến dịch Biên giới nổ ra năm 1950. Với ý nghĩa vô cùng quan trọng của chiến dịch này, Bác Hồ thân chinh đi chiến dịch. Lần hành quân này bên Bác là một ân huệ nữa mà lịch sử dành cho Vũ Năng An. Ông đã chụp được nhiều ảnh, trong đó có một bức vô cùng quý giá, bức ảnh Bác Hồ ngồi trên điểm cao của Chiến dịch Biên giới, với bộ quần áo bộ đội, mắt hướng về phía xa quan sát trận địa, gương mặt Bác đầy suy nghĩ và tự tin… Bức ảnh ấy đã đi vào lịch sử và làm xúc động biết bao nhiêu người Việt Nam qua các thế hệ.

Vũ Năng An có tất cả 3 lần được theo Bác Hồ đi chụp ảnh dài ngày. Đó là lần ở Chiến dịch Biên giới, và lần Bác thăm Liên Xô năm 1955 và 1959. Trong những lần đó, ông đều hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ và để lại những bức ảnh rất có giá trị. Đáng chú ý, theo chúng tôi là bức ảnh chụp Bác Hồ thăm hồ Y Xức Kun trên dãy A La Tao cao ngất trời nằm trong triền núi Thiên Sơn và ảnh Bác Hồ thăm Bảo tàng khi làm việc và sống của Lênin tại Điện Kremly.

Vũ Năng An cũng được theo Thủ tướng Phạm Văn Đồng cùng đoàn cán bộ ngoại giao của Chính phủ Việt Nam đến bàn đàm phán tại Hội nghị Geneve. Chuyến đi này ông cũng đã chụp được nhiều ảnh tư liệu rất có giá trị.

***

Năm 1960-1964, Vũ Năng An được điều sang làm quản lý ở Xưởng phim tổng hợp. Năm 1964-1969, ông làm Phó Giám đốc Xí nghiệp Phim truyện Việt Nam. Từ 1969-1972, ông đảm nhận vị trí Giám đốc Xưởng kỹ thuật sản xuất phim và từ 1972-1979, là Giám đốc Xưởng phim truyện Việt Nam.

Trong 15 năm tham gia các vị trí quản lý chủ chốt nhất của xưởng phim, ông đã hết lòng với công việc, để lại một tấm gương trong sáng, cần cù, thấu hiểu đồng chí, đồng nghiệp, tin tưởng vào họ tạo điều kiện cho những tư tưởng sáng tạo chân chính được thực hiện trong thực tế. Nhiều bộ phim của xí nghiệp phim truyện thời kỳ này ra đời đã được nhân dân đón nhận và được bạn bè quốc tế đánh giá cao.

Vì những đóng góp xuất sắc của mình, đặc biệt là bức ảnh Bác Hồ đi Chiến dịch Biên giới, Vũ Năng An đã được Nhà nước trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về nhiếp ảnh, đợt

Thiên Sơn
cand.com.vn

Về lại chiến khu xưa

Khu Di tích lịch sử Tân Trào (xã Tân Trào – huyện Sơn Dương – tỉnh Tuyên Quang) với hơn 20 Di tích lịch sử nổi tiếng liên quan đến Cách mạng Việt Nam thời kì Cách mạng Tháng Támnăm 1945, nay đang trở thành “tâm điểm” của những chuyến tham quan tìm lại cội nguồn cách mạng của hàng vạn du khách. Và đây cũng là điểm du lịch văn hóa – lịch sử trọng điểm của tỉnh Tuyên Quang.

Tân Trào không chỉ có cảnh sắc thiên nhiên hùng vĩ của núi rừng mà còn có vị trí đắc địa về mặt quân sự và giao thông do được bao bọc bởi núi Hồng và sông Đáy. Do đó, nơi đây đã từng được Chủ tịch Hồ Chí Minh lựa chọn để xây dựng Thủ đô lâm thời Khu giải phóng. Chính tại nơi đây, ngày 13 tháng 8 năm 1945, Đảng Cộng sản Việt Nam đã tiến hành Hội nghị toàn quốc để quyết định tiến hành cuộc Tổng khởi nghĩa mùa thu năm 1945. Và đến ngày 16 tháng 8 năm 1945, Ðại hội Quốc dân cũng đã họp tại đây với việc thông qua 10 Chính sách lớn của Việt Minh, bầu ra một Chính phủ lâm thời do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch và quân Giải phóng Việt Nam làm lễ ra quân.

 chien khu xua 1
Đại tướng Võ Nguyên Giáp nói chuyện
với đồng bào Tuyên Quang dưới gốc đa Tân Trào. (Ảnh: Tư liệu).

 chien khu xua 2
Di tích lán Nà Lừa, nơi làm việc của Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Tân Trào

chien khu xua 3
Hòn đá thề, nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh
 đã đọc lời thề quyết tâm giành độc lập dân tộc.

chien khu xua 5
Nhà tưởng niệm của Ban Thường trực Quốc hội tại Tân Trào.

chien khu xua 7

Mặc dù cuộc trường chinh kháng chiến đầy gian khổ của dân tộc đã lùi xa vào quá khứ, song khi đến với Tân Trào, trở về với chiến khu xưa, du khách vẫn như cảm nhận được không khí hào hùng của những ngày mùa thu Tháng Tám lịch sử. Ở đó, nay vẫn còn đó nhiều di tích nổi tiếng như: Đình Hồng Thái, đình Tân Trào, lán Nà Lừa, cây đa Tân Trào, hang Bòng, hầm An toàn của Trung ương Đảng và Chính phủ, Khu Di tích Nha Công an Việt Nam…

Mỗi địa danh ở Khu Di tích lịch sử Tân Trào đều có ý nghĩa lịch sử quan trọng, bởi tại đây đã diễn ra những sự kiện lịch sử quyết định đến thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng 8 năm 1945. Nơi đây cũng gắn bó với cuộc đời hoạt động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh kể từ khi Người rời Pắc Bó (Cao Bằng) về Tân Trào để lãnh đạo cách mạng, cũng như khi Người cùng các đồng chí lãnh đạo Đảng, Chính phủ và quân đội ở và làm việc để lãnh đạo nhân dân cả nước thực hiện cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân vào tháng 8 năm 1945, và lãnh đạo nhân dân cả nước trong 9 năm kháng chiến chống Pháp (1945 – 1954).

Đình Hồng Thái có dáng dấp của một ngôi nhà sàn miền núi với kiến trúc gỗ, mái lợp lá cọ và có 3 gian, 2 chái. Cũng như bao ngôi đình cổ của Việt Nam, đình Hồng Thái cũng là nơi thờ thành hoàng làng và những vị thần xung quanh vùng. Song bên cạnh đó, đình Hồng Thái còn là Di tích lịch sử quan trọng, bởi đây là nơi dừng chân đầu tiên của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc khi Người từ Cao Bằng về Tân Trào vào tháng 5 năm 1945, là trạm giao liên và huấn luyện quân sự trong thời kì kháng chiến, là trạm thường trực của An toàn khu (ATK) Trung ương ở Tân Trào.

Đình Tân Trào là địa danh lịch sử quan trọng tại Khu Di tích lịch sử Tân Trào. Nơi đây, từ ngày 13 đến ngày 15 tháng 8 năm 1945 đã diễn ra Hội nghị toàn quốc của Đảng dưới sự chủ trì của lãnh tụ Hồ Chí Minh, quyết định Tổng khởi nghĩa trong cả nước giành chính quyền về tay nhân dân. Dưới mái đình này, ngày 16/8/1945, các đại biểu từ khắp mọi miền đất nước đã về họp Quốc dân Đại hội, tán thành chủ trương Tổng khởi nghĩa của Đảng, quy định Quốc kì, Quốc ca, thông qua 10 Chính sách của Mặt trận Việt Minh, cử ra Ủy ban Dân tộc giải phóng, tức Chính phủ nước Việt Nam mới do lãnh tụ Hồ Chí Minh là Chủ tịch. Sau này, ngày 20/3/1961, Bác Hồ đã về thăm lại đình Tân Trào, thăm lại quê hương cách mạng, nơi mở đầu cuộc cách mạng vĩ đại của dân tộc.

Cây đa Tân Trào cách đình Tân Trào khoảng 500m về phía Đông. Chính tại đây đã diễn ra một sự kiện lịch sử trọng đại của dân tộc. Chiều ngày 16/8/1945, Đội Việt Nam Giải phóng quân đã làm lễ xuất quân trước sự chứng kiến của nhân dân Tân Trào và các đại biểu. Đồng chí Võ Nguyên Giáp đã thay mặt Đội đọc bản Quân lệnh số 1 và ngay sau đó hành quân về giải phóng Hà Nội.

Lán Nà Lừa là địa danh lưu lại nhiều dấu ấn của Chủ tịch Hồ Chí Minh khi Người sống và hoạt động cách mạng tại Tân Trào. Lán nằm ở sườn núi Nà Lừa, phía Đông làng Tân Lập. Tại đây, Bác Hồ đã thành lập Khu giải phóng và quân giải phóng, chuẩn bị cho Hội nghị toàn quốc của Đảng và Quốc dân Đại hội. Đây cũng là nơi sinh sống và làm việc của Bác từ tháng 5 đến tháng 8 năm1945.

chien khu xua 9
Du khách tham quan Di tích Hầm an toàn
của Trung ương  Đảng và Chính phủ ở Tân Trào.

chien khu xua 10
“Tượng đài Chiến thắng” tại Khu Di tích Nha Công an Việt Nam ở Tân Trào.

chien khu xua 11
Bảo tàng Công an Nhân dân Việt Nam tại Khu Di tích Nha Công an Trung ương.

chien khu xua 12
Máy bay của Không lực Hoa Kỳ tại sân bay Lũng Cò,
nơi tiếp nhận nhiều chuyến bay của quân ta trong thời kì làm việc tại chiến khu Tân Trào.

chien khu xua 13
Du khách tham quan Khu Di tích Nha Công an Việt Nam.

chien khu xua 14
Di tích Ty Tư pháp.

chien khu xua 15
Di tích Nhà in Báo.

Với những ý nghĩa lịch sử đặc biệt như trên, ngày 10/5/2012, Thủ tướng Chính phủ đã kí Quyết định xếp hạng Di tích Quốc gia đặc biệt cho Di tích lịch sử Tân Trào./.

Kim Yến(st)
bqllang.gov.vn

Bác Hồ trong thời khắc lịch sử Cách mạng Tháng Tám

Chiến tranh thế giới lần thứ 2 bùng nổ, với tầm nhìn của một lãnh tụ thiên tài, Bác Hồ nhận định chiến tranh không chỉ là nguy cơ cướp đi hàng triệu sinh mạng con người ở các nước tham chiến, đồng thời là cơ hội để nhân dân các nước nhược tiểu đứng lên đấu tranh giành độc lập. Rời Liên Xô về nước trực tiếp chỉ đạo cách mạng, Bác tích cực chuẩn bị mọi điều kiện cần thiết cho cách mạng Việt Nam, đón thời cơ về tay nhân dân.

bac ho trong thoi khac lich su CMT8

Về nước được hơn 3 tháng, Người chủ trì Hội nghị (mở rộng) Trung ương lần thứ VIII, Người vạch ra đường lối cách mạng trước thời cơ mới: Thành lập Mặt trận Việt Minh, tập hợp mọi lực lượng yêu nước, khẳng định nhiệm vụ cách mạng chủ yếu lúc đó là giải phóng dân tộc. Hội nghị đề ra nhiệm vụ cụ thể trước mắt chuẩn bị Tổng khởi nghĩa: “… Sẽ thành lập một Chính phủ nhân dân của Việt Nam Dân chủ cộng hoà, lấy lá cờ đỏ ngôi sao vàng năm cánh làm lá cờ Tổ quốc” (Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ VIII Đảng Cộng sản Đông Dương, tháng 5 năm 1941). Hội nghị mở ra một trang sử mới trong lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc, quyết định thắng lợi của Cách mạng tháng Tám, đóng góp to lớn vào kho tàng lý luận về cách mạng dân tộc dân chủ ở Việt Nam.

Vạch ra đường lối đúng đắn, Người còn trực tiếp chỉ đạo thực hiện đường lối, đúc rút kinh nghiệm hoạt động của Mặt trận Việt Minh từ cơ sở trở lên, tổ chức nhiều lớp tập huấn đào tạo cán bộ, thành lập các đội tự vệ ở Cao Bằng, rồi nhân rộng ra các địa phương khác.

Để tuyên truyền rộng khắp đường lối và phương pháp cách mạng, Người sáng lập Báo Việt Nam Độc Lập. Theo yêu cầu của Người, tờ Báo phải là tờ Báo của đông đảo quần chúng, ai đọc cũng hiểu, thức tỉnh ý thức độc lập và ý chí tự do. Người trực tiếp viết nhiều bài cho Báo Việt Nam Độc Lập.

Trong thời gian ở Pác Bó, Bác Hồ đã chủ trương và trực tiếp chỉ đạo xây dựng các đội vũ trang, huấn luyện quân sự. Bác viết các tài liệu quân sự: Chiến thuật du kích, phép dùng binh của Tôn Tử… dùng làm tài liệu đào tạo cán bộ quân sự, huấn luyện cho các đội tự vệ, du kích, nền tảng cơ bản về lý luận và thực tiễn học thuyết quân sự của quân đội ta.

Để tranh thủ sự ủng hộ của các lực lượng dân chủ thế giới, đặc biệt là lực lượng Đồng minh, tuy trong nước còn bộn bề trăm công ngàn việc, tháng 8 năm 1942, Bác Hồ ra nước ngoài để liên lạc với các lực lượng cách mạng, trong đó có những người Việt Nam đang hoạt động ở nước ngoài. Người bị chính quyền của Tưởng Giới Thạch bắt giữ, trải qua gần 30 nhà giam ở Quảng Tây trong hơn một năm ròng.

Khi được tự do trở về nước, tháng 9 năm 1944, xét thấy thời cơ khởi nghĩa vũ trang chưa chín muồi, Bác Hồ ra chỉ thị hoãn cuộc khởi nghĩa Cao – Bắc – Lạng. Sau đó, Người lựa chọn trong hàng ngũ du kích Cao – Bắc – Lạng số cán bộ và đội viên xuất sắc nhất, làm nòng cốt cho đội quân chủ lực. Theo chỉ thị của Người, ngày 22/12/1944, Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân ra đời.

Bác Hồ dự đoán chính xác thời cơ và tích cực chủ động đón thời cơ. Trong tư tưởng của Người đã sớm hình thành một cơ cấu Nhà nước Dân chủ nhân dân. Đầu năm 1945, trong một cuộc gặp gỡ phái bộ Mỹ A-pa-ti, Người nói rõ quan điểm đang chuẩn bị một Chính phủ Việt nam dân chủ độc lập. Ngày 12/8/1945, qua chiếc đài thu thanh nhỏ, Bác Hồ biết Nhật đàm phán với Đồng Minh, trước nguy cơ thất bại hoàn toàn. Bọn phát xít Nhật ở Đông Dương hoang mang rệu rã, chính quyền bù nhìn tay sai mất tinh thần, quần chúng cách mạng đã sẵn sàng nổi dậy giành chính quyền.

Chớp thời cơ, Bác Hồ cấp tốc triệu tập Hội nghị toàn quốc của Đảng, họp ngày 14 và ngày 15 tháng 8 năm 1945. Hội nghị quyết định phát động Tổng khởi nghĩa trong toàn quốc, trước khi Đồng minh vào, đề ra đường lối đối nội và đối ngoại sau khi Tổng khởi nghĩa. Ngày 16/8/1945, Đại hội Quốc dân họp ở Tân Trào, quyết định thành lập Uỷ ban dân tộc giải phóng Việt Nam, tức Chính phủ. Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư tới đồng bào cả nước, kêu gọi nổi dậy Tổng khởi nghĩa giành chính quyền: “Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc ta đã đến. Toàn quốc dân đồng bào hãy đứng dậy, đem sức ta mà tự giải phóng cho ta…”.

Hưởng ứng lệnh Tổng khởi nghĩa của Đảng và lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân cả nước đã nhất tề đứng lên khởi nghĩa, giành thắng lợi từng phần, tiến tới giành thắng lợi trên toàn quốc, mùa thu Tháng Tám. Ngày 2/9/1945 tại vườn hoa Ba Đình, trước cuộc mít tinh của hàng vạn người, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Bản Tuyên ngôn độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã quyết định sáng suốt những bước đi của thời đại, tiên đoán chính xác, lãnh đạo Đảng và nhân dân ta chớp thời cơ, giành thắng lợi và Người trở thành huyền thoại đẹp nhất. Cống hiến của Người đã giúp cho dân tộc ta hồi sinh, tái tạo một quốc gia, mở ra một kỷ nguyên mới – kỷ nguyên độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội trên đất nước ta.

Theo Quỳnh Trang/langvietonline.vn
Tâm Trang (st)
bqllang.gov.vn

Cách mạng Tháng Tám – mốc son sáng mãi muôn đời

Một mùa thu nữa đang về trên dải đất hình chữ S thân yêu. Cứ mỗi độ thu sang, nhân dân ta lại tưng bừng chào đón một ngày lễ lớn của cả nước: Kỷ niệm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2/9. Cách mạng Tháng Tám năm 1945 ở Việt Nam là cuộc cách mạng giải phóng dân tộc đầu tiên trên thế giới do giai cấp công nhân lãnh đạo giành được thắng lợi. Kỷ niệm 67 năm Cách mạng Tháng Tám thành công, hãy cùng nhìn lại những sự kiện lịch sử trong những ngày Tháng Tám oai hùng của dân tộc ta.

Ngày 4-5-1945, Bác Hồ rời Pắc Bó (Cao Bằng) về Tân Trào (Tuyên Quang) để chuẩn bị cho cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền.

CMT8.1Lán Nà Lừa, nơi Bác Hồ làm việc và tiếp khách những ngày ở Tân Trào

Về Tân Trào, Bác được tổ chức bố trí ở xã Kim Lộng nay là xã Tân Trào, khu vực giáp ranh giữa Tuyên Quang và Thái Nguyên, có cơ sở cách mạng tốt, địa thế thuận lợi, phong trào quần chúng khá mạnh. Người cùng một số anh em chặt cây, cắt tranh dựng lán Nà Lừa. Đây là nơi Bác Hồ ở và làm việc từ cuối tháng 5 đến cuối tháng 8 năm 1945 để chuẩn bị cho cuộc Tổng khởi nghĩa. Thời gian ở lán Nà Lừa, do điều kiện làm việc gian khổ và khó khăn, với những bữa ăn đạm bạc, nhưng Bác vẫn luôn giữ cho mình tinh thần làm việc và nghị lực phi thường, vượt qua mọi khó khăn gian khổ để vững vàng lãnh đạo cách mạng. Đồng chí Võ Nguyên Giáp nhớ lại rất rõ những ngày gian khổ đó: “Đã mấy hôm liền Bác sốt nặng. Song Bác vẫn gượng làm việc”.Ngày 4-6-1945, tại lán Nà Lừa, Bác Hồ đã triệu tập Hội nghị cán bộ để chuẩn bị thành lập “Khu giải phóng, Quân giải phóng”, tiến tới Quốc dân Đại hội, Tổng khởi nghĩa.

CMT8.2Bữa cơm đạm bạc của Bác Hồ và các chiến sỹ ở Tân Trào

Ngày 13-8-1945, trong không khí sục sôi cách mạng của thời kỳ tiền khởi nghĩa, Trung ương Đảng triệu tập Hội nghị toàn quốc họp ở Tân Trào quyết định phát động Tổng khởi nghĩa trong cả nước, giành lấy chính quyền trước khi quân Đồng minh vào Đông Dương và ngay đêm hôm đó Uỷ ban Chỉ huy lâm thời Khu giải phóng đã hạ mệnh lệnh Tổng khởi nghĩa. Uỷ ban khởi nghĩa cũng đã ra Quân lệnh số 1. Quân lệnh viết: “Giờ Tổng khởi nghĩa đã đến! Cơ hội có một cho quân, dân Việt Nam vùng dậy giành lấy quyền độc lập của nước nhà!… Chúng ta phải hành động cho nhanh, với một tinh thần vô cùng quả cảm, vô cùng thận trọng!… Cuộc thắng lợi hoàn toàn nhất định sẽ về ta”.

 CMT8.3Đình Tân Trào, Sơn Dương (Tuyên Quang)
nơi diễn ra Đại hội Quốc dân ngày 16-8-1945

Ngày 16-8-1945, Đại hội Quốc dân họp ở Tân Trào đã thông qua Mười chính sách lớn của Việt Minh, thông qua Lệnh Tổng khởi nghĩa, quyết định Quốc kỳ nền đỏ, ở giữa có sao vàng năm cánh, chọn bài Tiến quân ca làm Quốc ca và bầu ra Ủy ban Dân tộc giải phóng Trung ương tức Chính phủ lâm thời do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch. Sáng ngày 17-8-1945, Uỷ ban Giải phóng dân tộc ra mắt quốc dân làm lễ tuyên thệ. Thay mặt Uỷ ban, hướng lên lá cờ đỏ sao vàng Hồ Chí Minh đọc tuyên thệ: “Chúng tôi là những người được Quốc dân đại biểu bầu vào Uỷ ban Giải phóng dân tộc để lãnh đạo cuộc cách mạng của nhân dân ta.

Trước lá cờ thiêng liêng của Tổ quốc, chúng tôi nguyện kiên quyết lãnh đạo nhân dân tiến lên, ra sức chiến đấu chống quân thù, giành độc lập cho Tổ quốc. Dù hy sinh đến giọt máu cuối cùng, quyết không lùi bước. Xin thề!”.

Giọng Bác nghiêm trang, lời thề dõng dạc biểu lộ khí phách kiên cường, dũng cảm, quật khởi của dân tộc ta. Tất cả những người có mặt trong buổi lễ này đều nắm chắc tay hô một cách mạnh mẽ: Xin thề!

Ngay trước giờ phút đấu tranh quyết liệt và khẩn trương của cuộc Tổng khởi nghĩa, Hồ Chủ tịch đã thay mặt Uỷ ban Dân tộc giải phóng gửi thư kêu gọi đồng bào toàn quốc kháng chiến. Bức thư có đoạn viết:

“Hỡi đồng bào yêu quý!

… Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc ta đã đến. Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta.

Tiến lên! Tiến lên! D­ưới lá cờ Việt Minh, đồng bào hãy dũng cảm tiến lên!”.

Mệnh lệnh khởi nghĩa và lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh như tiếng gọi của non sông thức tỉnh con tim mỗi người Việt Nam yêu nước hãy nhất tề đứng dậy tranh đấu giành quyền độc lập – tự do. Không khí cách mạng sôi sục trên khắp mọi miền Tổ quốc. Nhân dân cả nước, triệu người như một nhất tề nổi dậy với ý chí dù có hy sinh đến đâu. Đặc biệt, phải kể đến cuộc khởi nghĩa ở Thủ đô Hà Nội.

Ngày 19-8-1945, cả Hà Nội đỏ rực màu cờ. Hàng chục vạn quần chúng cách mạng ở nội và ngoại thành mang theo gậy, dao, súng, mã tấu… tiến về Quảng trường Nhà hát thành phố dự cuộc mít tinh do Việt Minh tổ chức. Cuộc mít tinh bắt đầu lúc 11 giờ. Sau loạt súng chào cờ và bài Tiến quân ca vang lên, đại biểu Uỷ ban Quân sự cách mạng đọc lời hiệu triệu khởi nghĩa của Việt Minh. Cuộc mít tinh phát triển nhanh chóng chuyển thành cuộc biểu tình tuần hành vũ trang. Quần chúng biểu tình chia thành nhiều đoàn, có các đơn vị tự vệ chiến đấu, tiến về các ngả đường, chiếm các cơ quan của chính quyền bù nhìn: Phủ Khâm sai, Toà Thị chính, Sở cảnh sát, Trại bảo an binh… Trước khí thế sục sôi của quần chúng khởi nghĩa, phát xít Nhật dù có hơn một vạn quân cũng không thể làm gì được. Binh lính và cảnh sát ngụy cũng bất lực và cuối cùng phải đầu hàng cách mạng. Chính quyền hoàn toàn về tay nhân dân.

CMT8.4Ngày 19-8-1945, hơn 10 vạn quần chúng
Thủ đô Hà Nội đã tham gia biểu tình giành chính quyền.

CMT8.5

Thắng lợi của cuộc khởi nghĩa ở Hà Nội (ngày 19 tháng 8) đã có tiếng vang nhanh trong cả nước, có tác dụng cổ vũ mạnh mẽ các tỉnh và các thành phố khác, làm tăng thêm cuộc khủng hoảng trong hàng ngũ kẻ thù, tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc tổng khởi nghĩa. Các địa phương khác trong cả nước cũng nhanh chóng giành được thắng lợi hoàn toàn: Huế (23/8/1945), Sài Gòn (25/8/1945)… Đến ngày 28 tháng 8, Việt Minh đã giành được chính quyền toàn quốc. Hai tỉnh giành được chính quyền cuối cùng là Hà Tiên và Đồng Nai Thượng.

Như vậy, chỉ trong 15 ngày (từ 14 đến 28/8/1945), cuộc Tổng khởi nghĩa đã nhanh chóng giành được thắng lợi. Lần đầu tiên chính quyền trong cả nước đã thuộc về nhân dân. Vua Bảo Đại xin thoái vị để “được làm dân tự do của một nước độc lập” .

Ngày 22/8/1945, Bác rời Tân Trào về đến Hà Nội. Sáng ngày 26/8/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã triệu tập và chủ trì cuộc họp của Thường vụ Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam. Trong số các quyết định của cuộc họp này, Thường vụ nhất trí chuẩn bị Tuyên ngôn độc lập và tổ chức mít tinh lớn ở Hà Nội để Chính phủ lâm thời ra mắt nhân dân, cũng là ngày nước Việt Nam chính thức công bố quyền độc lập và thiết lập chính thể dân chủ cộng hòa; Chủ tịch Hồ Chí Minh phụ trách thảo Bản Tuyên ngôn độc lập.

Ngày 2/9/1945, giữa Quảng trường Ba Đình lịch sử rợp bóng cờ, hoa và trước hàng chục vạn nhân dân đủ các tầng lớp ở Thủ đô và các vùng lân cận, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thay mặt Chính phủ lâm thời đọc bản Tuyên ngôn độc lập, trịnh trọng tuyên bố với quốc dân và thế giới: Nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà ra đời. Bản Tuyên ngôn độc lập khẳng định quyền thiêng liêng, bất khả xâm phạm của nhân dân Việt Nam được hưởng tự do độc lập mà tự mình giành lại từ tay kẻ thù xâm lược: “Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn 80 năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng về phía Đồng minh chống phát xít mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do, dân tộc đó phải được độc lập?… Và sự thật đã thành một nước tự do độc lập”.

Bản Tuyên ngôn đồng thời cũng khẳng định ý chí sắt đá không gì lay chuyển nổi của nhân dân Việt Nam quyết giữ vững quyền thiêng liêng ấy: “Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”.

CMT8.6

CMT8.7

Lễ Tuyên ngôn độc Lập tại Quảng trường Ba Đình, Hà Nội ngày 2-9-1945

CMT8.8Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa

Buổi lễ kết thúc bằng những lời thề độc lập sục sôi tinh thần quyết tâm:

“Kiên quyết một lòng ủng hộ Chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ cộng hoà, ủng hộ Chủ tịch Hồ Chí Minh”.

“Cùng Chính phủ giữ nền độc lập hoàn toàn cho Tổ quốc, chống mọi mưu mô xâm lược, dù có phải chết cũng cam lòng”.

Nếu Pháp đến xâm lược lần nữa thì chúng tôi xin thề: “Không đi lính cho Pháp. Không làm việc cho Pháp. Không đưa đường cho Pháp”.

Với thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám 1945 nhân dân ta đã đánh đổ ách thống trị của chủ nghĩa thực dân Pháp gần một trăm năm, giành chính quyền về tay nhân dân, lập nên nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa – Nhà nước Dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á. Thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Tám có ý nghĩa lịch sử hết sức to lớn đối với dân tộc Việt Nam. Nó chẳng những khẳng định giai cấp công nhân và nhân dân lao động Việt Nam đã đồng tâm hiệp lực, chiến đấu quả cảm đã nhất tề đứng lên giành độc lập tự do mà còn khẳng định sự lãnh đạo tài tình, sáng suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đề ra đường lối chiến lược và sự thay đổi sách lược đúng đắn, chớp thời cơ, tiến hành khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền về tay nhân dân. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám đã đưa dân tộc ta từ thân phận nô lệ trở thành chủ nhân, đưa Việt Nam gia nhập đại gia đình vô sản quốc tế sánh vai với các cường quốc văn minh trên thế giới. Và kể từ đây, một kỷ nguyên mới mở ra cho dân tộc Việt Nam ta: Kỷ nguyên của độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội.

Cách mạng Tháng Tám là sự kiện vĩ đại trong lịch sử dân tộc, đánh dấu bước tiến nhảy vọt của cách mạng Việt Nam. 67 năm đã qua kể từ mùa thu lịch sử năm 1945, song tinh thần Cách mạng Tháng Tám vẫn còn đó, âm vang của bài ca chiến thắng vẫn còn ngân mãi trong lòng mỗi người con đất Việt. Quá khứ hào hùng sẽ mãi là điểm tựa tinh thần cho đất nước ta vững vàng trên con đường hội nhập và phát triển bền vững, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội.

Thu Hiền (Tổng hợp)
bqllang.gov.vn

Quốc dân Đại hội Tân Trào

chien khu xua 1Đại tướng Võ Nguyên Giáp nói chuyện
 với đồng bào Tuyên Quang dưới gốc đa Tân Trào. (Ảnh: Tư liệu).

Trong lịch sử dựng nước và giữ nước, nhân dân ta đã có truyền thống anh hùng bất khuất, không chịu khuất phục trước xiềng xích nô lệ và đã nhiều lần đánh đuổi được các kẻ thù hùng mạnh, tạo nên những trang sử oai hùng để tiếng vang muôn đời. Dân tộc ta còn có một nền văn hiến lâu đời, có tình đoàn kết thuỷ chung, có tình nghĩa đồng bào sâu nặng… Đó là một nét tiêu biểu trong bản sắc dân tộc của người Việt Nam.

Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quý báu của ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước. Lịch sử đã có nhiều cuộc kháng chiến vĩ đại chứng tỏ tinh thần yêu nước của dân tộc ta. Chúng ta có quyền tự hào về những trang lịch sử vẻ vang thời đại Bà Trưng, Bà Triệu, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung v.v… Chúng ta phải ghi nhớ công lao của các vị Anh hùng dân tộc, vì các vị ấy là tiêu biểu của một dân tộc anh hùng…”

Dựa vào dân, bồi dưỡng sức dân, động viên toàn dân, phát huy sức mạnh truyền thống và bản sắc dân tộc của người Việt nam là kế sâu, gốc bền của sự nghiệp dựng nước và giữ nước. Vì thế, mỗi khi vận nước bị đe doạ, ngoại bang nhòm ngó và xâm lăng, cả nước đồng tâm, toàn dân tụ hợp, khi quân Nguyên Mông xâm lược triều đình đã cho mở Hội nghị “Diên Hồng”, để lấy ý kiến của các bậc hương thân, phụ lão để cứu nước, cứu nhà. Đó là bí quyết thắng lợi, tạo nên những chiến công hiển hách trong lịch sử: Bạch Đằng, Chi Lăng, Xương Giang, Đống Đa…

Giá trị tinh thần truyền thống ấy đã được giữ gìn và phát triển từ thế hệ này qua thế hệ khác.

Năm 1858, thực dân Pháp xâm lược và thống trị nước ta. Ngay từ khi Pháp nổ súng xâm lược, nhân dân ta đã liên tục đứng lên kháng Pháp, kẻ trước ngã, người sau kế tiếp. Song, tất cả phong trào yêu nước chống Pháp lúc bấy giờ đã lần lượt thất bại.

Việt Nam đã trở thành một thuộc địa của Pháp. Dân ta bị áp bức và bóc lột nặng nề, dưới xiềng xích nô lệ dân ta bị mất hết quyền cơ bản của một con người. Phá ách áp bức, chặt xiềng nô lệ cho đồng bào, giải phóng dân tộc, giành lại độc lập, tự do là yêu cầu bức thiết nhất của toàn dân ta.

Sau nhiều năm bôn ba nơi đất khách quê Người, đi tìm chân lý của thời đại, đi tìm con đường cứu nước, cứu dân. Tháng 7 năm 1920, khi đọc Bản Sơ thảo lần thứ nhất Luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của V.I.Lênin, Nguyễn Ái Quốc đã phấn khởi, tin tưởng, coi đó là “cái cẩm nang cần thiết cho chúng ta”, là con đường giải phóng đất nước.

Cách mạng giải phóng dân tộc là sự nghiệp của cả dân chúng, của toàn thể quốc dân đồng bào. Phải khơi dậy và phát huy truyền thống yêu nước, tình nghĩa đồng bào, khối đoàn kết dân tộc, sĩ, nông, công, thương lấy công – nông làm gốc nhằm tạo nên sức mạnh dân tộc để chiến đấu và chiến thắng đế quốc, thực dân.

Tháng 2 năm 1930, Hồ Chí Minh đã thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam và soạn thảo Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt của Đảng. Đó là bản Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt Nam. Cương lĩnh xác định chủ trương chiến lược làm cách mạng tư sản dân quyền để đi tới xã hội cộng sản. Đảng phải vận động thu phục cho được đông đảo quần chúng công dân, nông dân, ra sức lôi kéo tiểu tư sản, trí thức, trung nông, tập hợp hoặc trung lập phú nông, trung, tiểu địa chủ và tư sản Việt Nam nhằm thực hiện các nhiệm vụ dân tộc và dân chủ, chống đế quốc và phong kiến, trước mắt là chống đế quốc và tay sai, giành độc lập, tự do cho toàn thể nhân dân Việt Nam

Độc lập và tự do là tư tưởng chủ yếu trong Cương lĩnh đầu tiên của Đảng.

Dưới ngọn cờ cách mạng của Đảng, một cao trào cách mạng đã bùng lên mạnh mẽ trong toàn quốc năm 1930 – 1931, mà đỉnh cao là phong trào Xô Viết Nghệ – Tĩnh. Tiếp đến là cao trào Dân chủ rộng lớn và sôi nổi khắp cả ba miền Bắc, Trung, Nam trong những năm 1936 – 1939. Đây là các cuộc tổng diễn tập cho cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945.

Tháng 9 tháng 1939, chiến tranh thế giới lần thứ hai bùng nổ. Đế quốc Pháp tham chiến. Phát xít Nhật xâm lược Đông Dương. Thực dân Pháp đầu hàng và dâng Đông Dương cho Nhật.

Nhật – Pháp cấu kết với nhau ra sức bóc lột, đàn áp nhân dân các dân tộc Đông Dương. Nhân dân ta oằn mình trước gót giày cướp bóc của thực dân Pháp và phát xít Nhật vận mệnh dân tộc nguy vong không lúc nào bằng. Vì vậy, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng tháng 11 năm 1939 d­ưới sự chủ trì của đồng chí Nguyễn Văn Cừ và đặc biệt là Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng tháng 5 năm 1941 do Hồ Chí Minh trực tiếp lãnh đạo, đã nêu cao ngọn cờ giải phóng dân tộc lên hàng đầu, tạm gác lại nhiệm vụ cách mạng ruộng đất; thống nhất lực lượng cách mạng dân tộc của ba nước trên bán đảo Đông Dương; không phân biệt thợ thuyền, dân cày, phú nông, tiểu tư sản, tư sản bản xứ, trung, tiểu địa chủ, ai có lòng yêu nước thương nòi đều tham gia vào một mặt trận dân tộc thống nhất rộng rãi, đánh Pháp, đuổi Nhật, giành quyền độc lập, tự do cho các dân tộc ở Đông Dương theo quan điểm thực hiện quyền dân tộc tự quyết. Đối với Việt Nam, sau khi đánh đuổi Pháp – Nhật sẽ lập nên một nước Việt Nam mới theo chế độ Dân chủ cộng hoà. Cách mạng Đông Dương hiện tại chỉ giải quyết một vấn đề cần kíp là giải phóng dân tộc, vì nếu không đánh đuổi được Pháp – Nhật thì chẳng những vận mệnh của dân tộc phải chịu kiếp ngựa trâu muôn đời mà vấn đề ruộng đất cũng không sao giải quyết được. Do đó, tính chất của cách mạng Đông Dương lúc này là “cách mạng dân tộc giải phóng”. Vì quyền lợi sinh tồn của dân tộc, phải khơi dậy mạnh mẽ chí khí cách mạng, tinh thần yêu nước bất khuất, đoàn kết, thống nhất các lực lượng yêu nước trong một mặt trận dân tộc thống nhất rộng rãi lấy tên là Việt Nam Độc lập đồng minh, gọi tắt là Việt Minh.

Tháng 6 năm 1941, Hồ Chí Minh đã gửi thư cho đồng bào toàn quốc. Người viết: “Trong lúc quyền lợi dân tộc giải phóng cao hơn hết thảy, chúng ta phải đoàn kết lại đánh đổ bọn đế quốc và bọn Việt gian đặng cứu giống nòi ra khỏi nước sôi, lửa nóng… Việc cứu quốc là việc chung, ai là người Việt Nam đều phải kề vai gánh vác một phần trách nhiệm: Người có tiền góp tiền, người có của góp của, người có sức góp sức, người có tài năng góp tài năng….”

Ngày 25/10/1941, Việt Nam Độc lập đồng minh đã chính thức tuyên bố ra đời. Tuyên ngôn của Việt Minh nêu rõ: “Từ khi lập quốc, xét lịch sử nước ta, chưa bao giờ dân tộc ta nhục nhằn, đau khổ như lúc này… Nguy cơ diệt vong đã bày ra trước mắt. Hiện thời, chúng ta chỉ có một con đường mưu sống là đoàn kết thống nhất, đánh đuổi Nhật – Pháp, trừ khử Việt gian. Mở con đường sống ấy cho đồng bào, Việt Nam Độc lập đồng minh (Việt Minh) ra đời chào các bạn”.

Chương trình cứu nước của Việt Minh gồm 44 điểm bao gồm các chính sách về chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội nhằm thực hiện hai điều cốt yếu mà quốc dân đồng bào đang mong ­ước là:

“1. Làm cho nước Việt Nam được hoàn toàn độc lập;

2. Làm cho dân Việt Nam được sung sướng tự do !”.

Đặt quyền lợi dân tộc cao hơn hết thảy, Việt Minh sẵn sàng bắt tay đón tiếp những cá nhân hay đoàn thể không cứ theo chủ nghĩa quốc tế hay quốc gia miễn là thành thực muốn đánh đuổi Nhật – Pháp để dựng lên một nước Việt Nam tự do và độc lập. Sau khi đánh đuổi được bọn đế quốc phát xít “sẽ lập lên một Chính phủ cách mạng của nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà, theo tinh thần tân dân chủ, lấy cờ đỏ giữa có ngôi sao vàng năm cánh làm lá cờ chung của nước. Chính phủ của nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà, do Quốc dân Đại hội cử lên…”. Thực hiện chủ trương cứu nước, Việt Minh đã tích cực chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang. Phong trào cách mạng phát triển ngày càng mạnh mẽ và đều khắp ở cả nông thôn và đô thị.

Tại các thành phố lớn như Hà Nội, Sài Gòn, Huế và các đô thị khác, cơ sở Việt Minh đã được tổ chức ở trong nhiều nhà máy, tr­ường học, đường phố… Phong trào thanh niên, học sinh, trí thức được khởi dậy mạnh mẽ. Đảng Dân chủ Việt Nam ra đời (tháng 6 năm 1944). Hội Văn hoá cứu quốc được thành lập. Mặt trận Việt Minh có thêm các thành viên mới. Các căn cứ địa và lực lượng vũ trang cách mạng được hình thành.

Trên thế giới, cuộc chiến tranh chống phát xít đã đi vào giai đoạn kết thúc thắng lợi. Quân đội Xô Viết đang phản công phát xít Đức trên nhiều mặt trận. Ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dương, cục diện chiến tranh cũng đang chuyển biến có lợi cho các lực lượng chống phát xít, cho phong trào giải phóng dân tộc…

Trong bối cảnh thời cuộc khẩn trương đó, tháng 10 năm 1944, Hồ Chí Minh đã gửi thư cho quốc dân đồng bào, thông báo chủ trương triệu tập Đại hội đại biểu Quốc dân để thành lập một cơ cấu đại biểu cho sự chân thành đoàn kết và hành động nhất trí của toàn thể quốc dân ta để tạo nên sức mạnh dân tộc bên trong và tranh thủ ngoại viện của quốc tế nhằm chớp thời cơ thuận lợi thực hiện cho được mục tiêu độc lập, tự do. Cơ cấu tổ chức đó “phải do một cuộc toàn dân đại biểu Đại hội gồm tất cả các Đảng phái cách mệnh và các đoàn thể ái quốc trong nước bầu cử ra. Một cơ cấu như thế mới đủ lực lượng và oai tín, trong thì lãnh đạo công việc cứu quốc, kiến quốc, ngoài thì giao thiệp với các hữu bang.

Phe xâm lược gần đến ngày bị tiêu diệt. Phe Đồng minh sắp giành được sự thắng lợi cuối cùng. Cơ hội cho dân tộc ta giải phóng chỉ ở trong một năm hoặc năm rưỡi. Thời gian rất gấp. Ta phải làm nhanh !

Tôi mong rằng các Đảng phái và các đoàn thể đều ra sức chuẩn bị cùng nhau thảo luận để khai cuộc Đại hội Quốc trong năm nay. Như vậy thì ngoại viện nhất định cầu được, cứu quốc nhất định thành công”.

Tháng 3 năm 1945, Nhật đảo chính lật đổ Pháp để độc chiếm Đông Dương, tạo ra một cuộc khủng hoảng chính trị sâu sắc. Ban Thường vụ Trung ương Đảng họp Hội nghị mở rộng và đã ra Chỉ thị “Nhật – Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta” vạch ra những nhiệm vụ và chủ trương, biện pháp cách mạng mới để chỉ đạo phong trào cách mạng trong cả nước phù hợp với tình hình lúc này. Một cao trào kháng Nhật cứu nước mạnh mẽ làm tiền đề cho cuộc Tổng khởi nghĩa đã phát triển trong toàn quốc. Phong trào chiến tranh du kích, khởi nghĩa từng phần đã diễn ra trong nhiều địa phương, nhất là ở thượng du và trung du Bắc Kỳ. Hàng loạt xã, châu, huyện thuộc các tỉnh Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Bắc Giang… được giải phóng.

Ngày 16/4/1945, Tổng bộ Việt Minh ra Chỉ thị tổ chức Uỷ ban Dân tộc giải phóng. Chỉ thị nêu rõ: “Trong tình thế chính quyền đế quốc có chỗ tan rã, có chỗ không được ổn định như ở nước ta ngày nay, Uỷ ban Dân tộc giải phóng là hình thức tiền Chính phủ, trong đó nhân dân học tập để tiến lên giữ chính quyền cách mạng”. Uỷ ban Dân tộc giải phóng được thành lập ở các cấp từ cơ sở đến Trung ương. Uỷ ban Dân tộc giải phóng Việt Nam tức là Chính phủ lâm thời cách mạng Việt Nam.

Tháng 5 năm 1945, Hồ Chí Minh về Tân Trào, Sơn Dương, Tuyên Quang. Ngày 4/6/1945, Hội nghị Cán bộ Việt Minh đã quyết nghị thành lập khu giải phóng. Khu giải phóng chính thức được thành lập gồm hầu hết các tỉnh Cao Bằng, Bắc Cạn, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Hà Giang và một số vùng lân cận thuộc Bắc Giang, Phú Thọ, Yên Bái, Vĩnh Yên. Uỷ ban Chỉ huy lâm thời khu giải phóng gồm 5 người. Uỷ ban có nhiệm vụ lãnh đạo toàn Khu về các phương diện chính trị, quân sự, kinh tế, văn hoá và xã hội. Chính sách chung của Uỷ ban lâm thời dựa vào ba điểm chính sau:

1 – Tổng động viên nhân dân trong khu để kháng Nhật.

2 – Căn cứ vào điều kiện cụ thể và nhu cầu của cuộc kháng chiến mà thực hiện chương trình Việt Minh, kiến lập nền Dân chủ cộng hoà và ban bố các quyền phổ thông đầu phiếu, tự do dân chủ, dân tộc tự quyết, nam nữ bình quyền.

3 – Cải thiện sinh hoạt cho nhân dân: Bỏ sưu, bỏ thuế thân, vận động sinh sản, v.v…

Tân Trào được chọn là Thủ đô lâm thời của Khu giải phóng. Hơn một triệu đồng bào trong Khu giải phóng bắt đầu được hưởng thành quả cách mạng.

Khu giải phóng là căn cứ địa chính của cách mạng cả nước, là hình ảnh thu nhỏ của nước Việt Nam mới.

Tại Tân Trào, Hồ Chí Minh chỉ thị phải gấp rút họp Đại hội đại biểu Quốc dân. Lúc bấy giờ, cao trào Kháng Nhật cứu nước đang cuồn cuộn dâng lên từ Nam chí Bắc. Toàn quốc đang mong đợi một Chính phủ lâm thời cách mạng của nước Việt Nam độc lập. Đồng chí Võ Nguyên Giáp cho biết: “Theo chỉ thị của Hồ Chủ tịch, cuộc Toàn quốc đại biểu Đại hội phải khai hội chậm nhất là vào trung tuần tháng bảy. Hồ Chủ tịch đã từng cân nhắc giá trị của thời đại, của mỗi ngày, mỗi giờ trong lúc lại chuyển biến. Cho nên, khi thấy công việc chậm trễ, thì Chủ tịch đã từng dùng đủ mọi cách để động viên tinh thần các cán bộ phụ trách và thúc giục công cuộc khai hội. Nào thơ viết tay để chỉ rõ công việc khẩn cấp như thế nào, nào giao thông đặc biệt tung ra các hướng để thúc giục đại biểu. Chủ tịch thấy rõ, lúc bấy giờ, chậm một tý, tức là bỏ lỡ nhiều cơ hội thuận lợi. Song, vì liên lạc khó khăn, đường sá trắc trở, mặc dầu anh em, đại biểu đã hết sức đi chóng, mà mãi đến mười, mười bốn tháng tám, các đại biểu mới lục tục kéo đến Tân Trào… Những Đoàn đại biểu đi sau tính ra đến mười sáu, mười bảy hoặc mười tám, mới tề tựu đông đủ…”.

Tháng 8 năm 1945, Quân đội Liên xô tấn công như vũ bão, đánh bại đội quân Quan Đông tinh nhuệ và hùng mạnh của Nhật tại Mãn Châu. Quân Mỹ ném hai quả bom nguyên tử xuống đất Nhật. Chính phủ Nhật Bản đầu hàng. Quân Nhật ở Đông Dương bị tê liệt. Chính phủ Trần Trọng Kim hoang mang tan rã.

Ngày 13/8/1945, Hội nghị toàn quốc của Đảng họp ở Tân Trào quyết định phát động Tổng khởi nghĩa trong cả nước, giành lấy chính quyền trước khi quân Đồng minh vào Đông Dương và ngay đêm hôm đó Uỷ ban Chỉ huy lâm thời Khu giải phóng đã hạ mệnh lệnh khởi nghĩa. Uỷ ban khởi nghĩa cũng đã ra Quân lệnh số 1. Quân lệnh viết: “Giờ Tổng khởi nghĩa đã đến! Cơ hội có một cho quân, dân Việt Nam vùng dậy giành lấy quyền độc lập của nước nhà!… chúng ta phải hành động cho nhanh, với một tinh thần vô cùng quả cảm, vô cùng thận trọng!… Cuộc thắng lợi hoàn toàn nhất định sẽ về ta”.

Sáng 15/8/1945, được tin đích xác vua Nhật đã ra lệnh đầu hàng cho quân đội Nhật, Hồ Chí Minh và Tổng bộ Việt Minh thấy không thể chờ đợi cho thật đông đủ tất cả các đại biểu nữa nên đã quyết định khai mạc Đại hội đại biểu Quốc dân vào chiều ngày 16/8/1945 và tiến hành rất nhanh chóng để các đại biểu có thể mang lệnh khởi nghĩa về các địa phương. Hơn 60 đại biểu đại diện cho các Đảng phái chính trị, các Đoàn thể cứu quốc, các dân tộc, tôn giáo, có cả đại biểu từ Nam bộ, miền Nam Trung Bộ và Việt Kiều ở Thái Lan, ở Lào về dự Đại hội. Đại hội họp tại Đình Tân Trào, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang. Đình lợp lá cọ, có ba gian, gian giữa có bàn thờ, vẫn để nguyên không đụng chạm đến. Gian bên phải triển lãm sách báo cách mạng, gian bên trái là gian họp của Đại hội. Hồ Chí minh vừa bị cơn sốt nặng, sức còn yếu nhưng Người đã đến dự Đại hội. Đây là lần đầu tiên sau khi về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng, Hồ Chí Minh ra mắt anh chị em đại biểu khắp ba kỳ, cả đại biểu Việt Kiều ở Thái Lan và Lào. “Được gặp vị lãnh tụ tối cao của dân tộc, được nghe vị lãnh tụ ấy vạch rõ phương châm thành công, với một giọng nói hiền từ mà kiên quyết, các đại biểu ai nấy đều có cảm tưởng đã được thoả mãn trong ước vọng bình sinh của mình, lòng tin tưởng vào tương lai càng cao”. Đồng chí Trường Chinh, Tổng bí thư Đảng Cộng sản Đông Dương, đọc bản báo cáo trước Đại hội nêu ra hai vấn đề lớn: Tổng khởi nghĩa và bầu Uỷ ban Dân tộc giải phóng. Đảng Cộng sản Đông Dương chủ trương lãnh đạo quần chúng nhân dân nổi dậy tước vũ khí của Nhật trước khi quân Đồng minh vào Đông Dương, giành lấy chính quyền từ tay Nhật, lật đổ bọn bù nhìn tay sai của Nhật, đứng địa vị cầm quyền mà tiếp đón quân Đồng minh vào giải giáp quân Nhật trên đất Đông Dương .

CMT8.3Đình Tân Trào

Đại hội đã nghe đồng chí Hoàng Quốc Việt báo cáo về phong trào công nhân, đồng chí Trần Đức Thịnh về nông dân, đồng chí Nguyễn Đình Thi về văn hoá, đồng chí Hoàng Đạo Thuý về hướng đạo, v.v… Đại hội đã nhất trí tán thành chủ trương Tổng khởi nghĩa của Đảng Cộng sản Đông Dương và hiệu triệu nhân dân toàn quốc, các đoàn thể cách mạng phải kịp thời đứng lên phấn đấu, thi hành 10 chính sách sau:

“1- Giành lấy chính quyền, xây dựng một nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà trên nền tảng hoàn toàn độc lập.

2- Võ trang nhân dân. Phát triển Quân giải phóng Việt Nam.

3- Tịch thu tài sản của giặc nước và của Việt gian, tuỳ từng trường hợp sung công quỹ của quốc gia hay chia cho dân nghèo.

4- Bỏ các thứ thuế do Pháp, Nhật đặt ra; đặt một thứ thuế công bằng và nhẹ.

5- Ban bố những quyền của dân, cho dân: Nhân quyền; tài quyền (quyền sở hữu); dân quyền; quyền phổ thông đầu phiếu, quyền tự do dân chủ (tự do tín ngưỡng, tự do tư tưởng, ngôn luận, hội họp, đi lại), dân tộc bình quyền, nam nữ bình quyền.

6 – Chia lại ruộng đất cho công bằng, giảm địa tô, giảm lợi tức, hoãn nợ, cứu tế nạn dân.

7 – Ban bố Luật Lao động: Ngày làm 8 giờ, định lương tối thiểu, đặt xã hội bảo hiểm.

8 – Xây dựng nền kinh tế quốc dân, phát triển nông nghiệp. Mở mang Quốc gia ngân hàng.

9 – Xây dựng nền quốc dân giáo dục, chống nạn mù chữ, phổ thông và cưỡng bách giáo dục đến bậc sơ cấp, kiến thiết nền văn hoá mới.

10 – Thân thiện và giao hảo với các nước Đồng minh và các nước nhược tiểu dân tộc để giành lấy sự đồng tình và sức ủng hộ của họ” .

Đại hội đã quyết định lập Uỷ ban Dân tộc giải phóng Việt Nam do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch, đồng chí Trần Huy Liệu, Phó Chủ tịch và các Uỷ viên là Nguyễn Lương Bằng, Đặng Xuân Khu, Võ Nguyên Giáp, Phạm Văn Đồng, Dương Đức Hiền, Chu Văn Tấn, Nguyễn Văn Xuân, Cù Huy Cận, Nguyễn Đình Thi, Lê Văn Hiến, Nguyễn Chí Thanh, Phạm Ngọc Thạch, Nguyễn Hữu Đang, Thường trực của Uỷ ban là Hồ Chí Minh, Trần Huy Liệu, Phạm Văn Đồng, Nguyễn Lương Bằng, Dương Đức Hiền. Đại hội bế mạc ngày 17/8/1945. Trong buổi bế mạc Uỷ ban Dân tộc giải phóng hướng lên lá cờ đỏ sao vàng, trang nghiêm tuyên thệ: Chúng tôi là những người được Quốc dân đại biểu bầu vào Uỷ ban Dân tộc giải phóng để lãnh đạo cuộc cách mạng của nhân dân ta. Trước lá cờ thiêng liêng của Tổ quốc, chúng tôi nguyện kiên quyết lãnh đạo nhân dân tiến lên, ra sức chiến đấu chống quân thù, giành lại độc lập cho Tổ quốc. Dù phải hy sinh đến giọt máu cuối cùng, quyết không lùi bước . Đại hội bế mạc trong không khí Tổng khởi nghĩa sôi sục, Lệnh khởi nghĩa đã truyền đi từ hôm 13/8/1945. Các đại biểu phải khẩn trương trở về địa phương lãnh đạo nhân dân nổi dậy giành chính quyền theo ba nguyên tắc: Tập trung, thống nhất, kịp thời. Thì giờ rất cấp bách. Phải hành động cho kịp thời cơ: “Không phải Nhật bại là nước ta tự nhiên được độc lập: Nhiều sự gay go trở ngại sẽ gây ra. Chúng ta phải khôn khéo và kiên quyết. Khôn khéo để tránh những sự không lợi cho ta. Kiên quyết để giành cho được nền độc lập hoàn toàn… Một dân tộc quyết tâm và nhất trí đòi quyền độc lập thì nhất định được độc lập. Chúng ta sẽ thắng lợi”.

Hồ Chí Minh, Chủ tịch Uỷ ban Dân tộc giải phóng đã gửi thư kêu gọi đồng bào toàn quốc trước giờ phút đấu tranh quyết liệt và khẩn trương: Tổng khởi nghĩa. Bức thư có đoạn viết:

“Hỡi đồng bào yêu quý!

….

Ủy ban Dân tộc giải phóng Việt Nam cũng như Chính phủ lâm thời của ta lúc này. Hãy đoàn kết chung quanh nó, làm cho chính sách và mệnh lệnh của nó được thi hành khắp nước.

… giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc ta đã đến. Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta.

Nhiều dân tộc bị áp bức trên thế giới đang ganh nhau tiến bước giành quyền độc lập. Chúng ta không thể chậm trễ.

Tiến lên! Tiến lên! Dư­ới lá cờ Việt Minh, đồng bào hãy dũng cảm tiến lên!”.

Quốc dân Đại hội diễn ra khẩn trương và thắng lợi trong đêm trước cuộc Cách mạng Tháng Tám là hình ảnh tiêu biểu của khối đoàn kết dân tộc đồng tâm nhất trí đứng lên đem sức ta mà giải phóng cho ta ở một thời điểm thuận lợi ngàn năm có một. Thắng lợi đó là một biểu hiện sáng tạo độc đáo của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong việc vận dụng và thực thi từng bước tư tưởng dân quyền ngay trong tiến trình đấu tranh giành quyền độc lập dân tộc bằng hình thức tổ chức Quốc dân Đại hội để thông qua quyết sách chuyển xoay vận nước bằng Tổng khởi nghĩa, xoá khởi nghĩa, xoá bỏ chế độ cũ, thi hành 10 chính sách của Việt Minh, đặt cơ sở mang tính pháp lý cách mạng đầu tiên cho một chế độ mới của dân, do dân và vì dân sắp ra đời.

Thực hiện nghị quyết tổng khởi nghĩa giành chính quyền của Quốc dân Đại hội và của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân cả nước, triệu người như một nhất tề nổi dậy với ý chí dù có hy sinh đến đâu, cũng phải giành cho được chính quyền trong toàn quốc.

Cuộc Tổng khởi nghĩa đã nhanh chóng giành được thắng lợi, tiêu biểu là các cuộc khởi nghĩa ở Hà Nội (19/8/1945), Huế (23/8/1945), Sài Gòn (25/8/1945). Chính quyền trong cả nước đã thuộc về nhân dân. Vua Bảo Đại xin thoái vị để “được làm dân tự do của một nước độc lập”.

Với thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Tám, nhân dân ta đã đập tan xiềng xích nô lệ của thực dân Pháp, Nhật; đã lật nhào chế độ quân chủ chuyên chế, lập lên nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà trên nền tảng hoàn toàn độc lập.

Ngày 25/8/1945, Chủ tịch Uỷ ban Dân tộc giải phóng Hồ Chí Minh về Hà Nội. Theo đề nghị của Người, Uỷ ban Dân tộc giải phóng do Quốc dân Đại hội ở Tân Trào cử ra được cải tổ thành Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà. Nhiều Uỷ viên Việt Minh trong Chính phủ đã tự nguyện rút ra khỏi Chính phủ để mời thêm nhiều nhân sĩ ngoài Việt Minh tham gia. “Đó là một cử chỉ vô tư, tốt đẹp, không ham chuộng địa vị, đặt lợi ích của dân tộc, của đoàn kết toàn dân lên trên lợi ích cá nhân”.

chnh phu lam thoiChính phủ lâm thời ra mắt quốc dân

Chính phủ lâm thời gồm có:

1. Chủ tịch kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Hồ Chí Minh.

2. Bộ trưởng Bộ Nội vụ Võ Nguyên Giáp.

3. Bộ trưởng Bộ Thông tin Tuyên truyền Trần Huy Liệu.

4. Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Chu Văn Tấn.

5. Bộ trưởng Bộ Thanh niên Dương Đức Hiền.

6. Bộ trưởng Bộ Kinh tế quốc gia Nguyễn Mạnh Hà.

7. Bộ trưởng Bộ Cứu tế xã hội Nguyễn Văn Tố.

8. Bộ trưởng Bộ Tư pháp Vũ Trọng Khánh.

9. Bộ trưởng Bộ Giao thông công chính Đào Trọng Kim.

10. Bộ trưởng Bộ Lao động Lê Văn Hiến.

11. Bộ Trưởng Bộ Y tế Phạm Ngọc Thạch.

12. Bộ trưởng Bộ Tài chính Phạm Văn Đồng.

13. Bộ trưởng Bộ Quốc gia Giáo dục Vũ Đình Hoè.

14. Bộ trưởng không giữ Bộ nào Cù Huy Cận.

15. Bộ trưởng không giữ Bộ nào Nguyễn Văn Xuân.

Ngày 30/8/1945, tại Huế, các đồng chí Trần Huy Liệu, Nguyễn Lương Bằng, Cù Huy Cận thay mặt Chính phủ lâm thời đã tuyên bố chấp nhận sự thoái vị của Bảo Đại và nhận ấn, kiếm của nhà vua giao nộp cho Chính phủ trước sự chính kiến của hàng vạn đồng bào Thừa Thiên – Huế.

Ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình, trước cuộc mít tinh của hàng chục vạn đồng bào Thủ đô, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ lâm thời trịnh trọng đọc Bản Tuyên ngôn độc lập, tuyên bố với quốc dân và thế giới: Nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà ra đời. Bản Tuyên ngôn khẳng định:

“Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng; dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”.

“Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”.

Độc lập tự do – tư tưởng cách mạng chủ yếu của Hồ Chí Minh được phác thảo trong Cương lĩnh đầu tiên của Đảng (tháng 2 năm1930), là mục tiêu đấu tranh trực tiếp của mặt trận Việt Minh (1941) và của Đại hội Quốc dân ở Tân Trào (tháng 8 năm 1945) đã thành hiện thực bằng sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà.

Một kỷ nguyên mới trong lịch sử của dân tộc Việt Nam đã được mở ra – Kỷ nguyên Độc lập Tự do.

Kim Yến (Tổng hợp)
bqllang.gov.vn