Thư viện

Hào khí cách mạng tháng Tám trong bộ phim “Sao tháng Tám”

(Dân trí)- Khắc họa cuộc kháng chiến lừng lẫy trong lịch sử, cho đến hôm nay, sau 36 năm “Sao Tháng Tám”(cố Đạo diễn – NSND Trần Đắc) vẫn giữ trong mình hơi thở thời đại cách mạng tháng Tám hào hùng. Bộ phim xứng đáng mang sứ mệnh ghi dấu lịch sử dân tộc bằng điện ảnh.

Lấy bối cành những ngày sôi sục trước cách mạng tháng Tám (1945), thời điểm nạn đói Ất Dậu khủng khiếp lan tràn khắp mọi nơi. “Năm 1940, phát xít Nhật chiếm đóng các thuộc địa Pháp trên bán đảo Đông Dương…”- ý tưởng chủ đề của bộ phim đã phần nào khái quát lại hoàn cảnh lịch sử để người xem có thể hình dung lại.

Bộ phim “Sao tháng Tám” đưa đến cho khán giả bức tranh về cuộc sống lầm than của dân ta mà không trang viết nào tái hiện chân thực bằng. Người đói vật vờ như những cái bóng khắp các hang cùng, ngõ hẻm, với tiếng khóc, tiếng rên, tiếng kêu ai oán. Hẳn ai đã từng xem qua bộ phim này, không thể quên được những tấm hình về nạn đói của Nguyễn An Ninh, cảnh quay ông cụ già thều thào khi bị mang đi “Tôi chưa chết đừng chôn tôi” và tiếng đáp trả của hai thanh niên “Đằng nào cụ chả chết, cụ đi sớm cho mát mẻ” hay cảnh cháu bé khóc thảm thiết “Các bác ơi! Cứu bà cháu với” đầy bi thương… Những công nhân lao động sống cảnh cơ cực trong các hầm lò, nhà máy với đồng lương rẻ mạt, ngày ngày bị đánh đập. Tội ác của Nhật, Pháp chất cao như núi.

Hào khí cách mạng tháng Tám trong bộ phim “Sao tháng Tám”

Giữa cảnh lầm than ấy, cuộc đối đầu giữa một dân tộc với những kẻ xâm lược đang chực chờ bùng nổ. Tập trung thể hiện một khía cạnh của tình hình xã hội có liên quan tới các nhân vật trong phim. “Sao tháng Tám” là cuộc đấu tranh từng giờ, từng phút của những chiến sĩ trong phạm vi nhỏ ở nội và ngoại thành Hà Nội từ tháng 2 đến tháng 8 năm 1945 – thời kì căng thẳng nhất của cuộc kháng chiến. Mỗi nhân vật là biểu trưng cho một tầng lớp tham gia kháng chiến từ lôi kéo vận động quần chúng rải truyền đơn, huy động công nhân đình công ở các nhà máy, xí nghiệp đến trực tiếp liên lạc, chống lại việt gian. Từ người phụ nữ bụng mang dạ chửa như chị Nhu (NSUT Thanh Tú) một cán bộ Việt Minh cốt cán, những thanh niên trí thức như Kiên (NS Dũng Nhi), người phụ nữ nông dân như cô Mến (NSUT Thanh Hiền), đến những cụ già đói rách, cùng cực, những đứa trẻ ngây thơ… đều tham gia cách mạng. Họ kiên cường chống chọi với những tên chỉ điểm như Kiều Trinh (Cố NS Đức Hoàn), gã mật thám cáo già như Công. Với diễn xuất tài tình của dàn diễn viên trẻ, bộ phim đã khắc họa lại thời khắc căng thẳng trong cuộc đấu trí giữa những nhân vật đưa bộ phim đến tầm kinh điển có hơi hướng hành động của điện ảnh Việt Nam.

Có thể nói, “Sao tháng Tám” không chỉ là bộ phim mang giá trị lịch sử mà còn là mảnh đất để nhiều diễn viên tỏa sáng. Nhu là vai diễn để đời của NSUT Thanh Tú, trước đó, chị đã từng đóng nhiều phim như “Biển lửa”, “Tiền tuyến gọi” nhưng khi vào vai Nhu chị mới thực sự để lại dấu ấn trong lòng khán giả. Vai diễn chị Nhu một cán bộ Việt Minh can trường xuất thân từ bần cố nông là hình ảnh trung tâm của “Sao tháng Tám” khi giả dạng một công nhân lao động, lúc là một nữ tu hành khi lại là một phụ nữ khâu thuê. Ánh mắt chị khi cương quyết giao nhiện vụ cho đồng đội, lúc tràn đầy xót xa khi chứng kiến đồng bào lầm than, lúc bi thương khi nghe tin chồng bị bắt. Vai diễn đã mang lại cho diễn viên Thanh Tú giải thưởng nữ diễn viên xuất sắc nhất ở liên hoan phim Việt Nam lần thứ IV (1977).

NSƯT Thanh Tú trong vai Nhu- phim Sao tháng TámNSƯT Thanh Tú trong vai Nhu- phim Sao tháng Tám

Dũng Nhi sắm vai thứ chính trong phim, Kiên – chiến sĩ Việt Minh trẻ nhưng có người chị gái theo Pháp, sau đó theo Nhật, chuyên lùng bắt cộng sản. Dũng Nhi lúc đó chừng 24 tuổi, nghiệp dư, song vào vai khá sâu sắc. Anh đã thể hiện chân thực hình ảnh của một người thanh niên trí thức đến với cách mạng song vẫn đau đớn, xót xa cho chị gái của mình. Cảnh quay anh khóc nhìn chị gái mình trước khi ngã xuống đã ám ảnh người xem và ẩn chứa nhiều thông điệp sâu sắc về sự day dứt giữa tình yêu nước và tình cảm ruột thịt.

Bộ phim sử dụng những khúc tráng ca cách mạng của nhạc sĩ Văn Cao, Nguyễn Đình Thi cùng giai điệu “Quốc tế ca” làm sống dậy một thời kì hào hùng của đất nước. Những đoàn người cầm cờ đỏ sao vàng, giơ cao khẩu hiệu chiến thắng trên đường phố thủ đô, những khuôn mặt chị Nhu, Mến hân hoan trong niềm vui chiến thắng đã khép lại bộ phim.

“Sao tháng Tám” được đánh giá là bộ phim thành công nhất về cách mạng tháng Tám (1945) tính đến thời điểm hiện tại. “Sao tháng Tám” cũng là một trong những bộ phim về chiến tranh có sức sống mãnh liệt nhất của điện ảnh Việt Nam.

Nha Trang
dantri.com.vn

Bài học Cách mạng Tháng Tám: Độc lập dân tộc gắn liền với Chủ nghĩa xã hội

Qua 65 năm giành và giữ độc lập dân tộc, xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ tổ quốc, đặc biệt hơn 20 năm đổi mới, với hệ giá trị đó, Đảng Cộng sản Việt Nam xứng đáng tiêu biểu cho bản lĩnh Việt Nam trong việc giữ vững đường lối, chính sách đối nội và đối ngoại, đưa đời sống nhân dân lên ngày một cao hơn, đưa đất nước và dân tộc ta lên vị thế mới trong cộng đồng quốc tế.

Trong những ngày mùa thu lịch sử này, toàn Đảng, toàn dân ta đang tưng bừng kỷ niệm 65 năm ngày thắng lợi huy hoàng của cách mạng Tháng Tám và ngày tết độc lập của dân tộc.

Nhìn lại chặng đường lịch sử 65 năm qua chúng ta càng thấm đậm một trong những bài học sâu sắc nhất, lớn lao nhất – bài học về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.

Như chúng ta đã biết, dân tộc ta có truyền thống yêu nước, anh dũng bất khuất, đã từng chiến thắng nhiều đế quốc hung hãn, làm nên các chiến thắng lẫy lừng.

Từ khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, phong trào yêu nước đã dấy lên hết sức mạnh mẽ. Liên tiếp nổ ra các cuộc nổi dậy ở khắp nơi của đất nước, thu hút đông đảo các tầng lớp nhân dân, các bậc sĩ phu, kể cả một bộ phận quan lại phong kiến. Các phong trào Cần Vương, khởi nghĩa Yên Thế; các phong trào Duy Tân, Đông Du, khởi nghĩa Yên Bái và hàng chục cuộc đấu tranh khác nữa đều bị thực dân Pháp thẳng tay đàn áp và thất bại. Điều đó chứng tỏ rằng, vẫn là nhân dân giàu lòng yêu nước, có truyền thống chống giặc ngoại xâm, sẵn sàng ủng hộ và tham gia các phong trào yêu nước; còn các bậc sĩ phu, các nhà lãnh đạo các phong trào chống thực dân Pháp đều có trí dũng, không thiếu quyết tâm, nhưng cả họ, cả giai cấp phong kiến và đại diện cho thế lực tư sản khi đó đều không giải quyết được vấn đề dân tộc ở nước ta vì không tập hợp được lực lượng toàn dân tộc và quan trọng hơn là không bắt kịp nhịp sống của thời đại…

Trong bối cảnh đó, chưa bao giờ như lúc bấy giờ, độc lập dân tộc trở nên là yêu cầu cơ bản, khách quan của xã hội Việt Nam – xã hội thuộc địa nửa phong kiến. Công cuộc giải phóng dân tộc Việt Nam khi ấy ở trong “tình hình đen tối như không có đường ra”. Bằng con đường nào và giai cấp nào có khả năng gánh vác sứ mệnh lịch sử trọng đại là tập hợp được lực lượng toàn dân để giải phóng dân tộc?

Nhưng rồi chính lịch sử đã có lời giải đáp. Chủ nghĩa Mác ra đời đã vạch ra cái tất yếu từng bị che lấp bởi màn sương mù trong lịch sử. Chủ nghĩa Mác khẳng định chủ nghĩa tư bản nhất định phải bị thay thế bằng chế độ tốt đẹp hơn – chế độ cộng sản chủ nghĩa không có người bóc lột người. Đó là một tiếng sét trong lòng chủ nghĩa tư bản ở vào thời thịnh trị, sau khi nó đã chiến thắng các chế độ chuyên chế phong kiến và đã bành trướng ra khắp thế giới. Các nước tư bản phát triển khi ấy đang là “trung tâm vũ trụ”, chi phối và làm mưa làm gió mọi mặt đời sống xã hội loài người.

Chính vào thời điểm mà chủ nghĩa tư bản như đang cực thịnh ấy thì Cách mạng Tháng Mười nổ ra. Sự đột phá Tháng Mười mở đầu cho một xu thế phát triển mới của lịch sử thế giới. Cách mạng Tháng Mười “rung chuyển thế giới” đã làm cho tính chất thời đại thay đổi, giai cấp trung tâm của thời đại thay đổi, vai trò lãnh đạo cách mạng cũng thay đổi; và vì vậy con đường để giải quyết mâu thuẫn của xã hội, lực lượng cách mạng và phương pháp cách mạng thay đổi.

Toàn bộ tình hình đó của thế giới, bằng nhiều con đường, dội vào và thấm sâu trong mảnh đất Việt Nam – nơi mà “chính sự tàn bạo của chủ nghĩa tư bản đã chuẩn bị đất rồi; chủ nghĩa cộng sản chỉ còn phải làm các việc là gieo hạt của công cuộc giải phóng nữa thôi”. Hơn ai hết, chính Nguyễn Ái Quốc là người gieo hạt, gây mầm cho Cách mạng Việt Nam. Với kỳ công và thiên tài của Nguyễn Ái Quốc, chủ nghĩa Mác – Lênin kết hợp với phong trào yêu nước và phong trào công nhân Việt Nam chuyển hoá thành một tất yếu đưa tới một sự kiện trọng đại: Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời. Sự kiện này là một mốc son đánh dấu sự kết hợp các nhân tố dân tộc và giai cấp, quốc gia và quốc tế, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trong bản chất của Đảng.

Độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội đã trở thành hệ giá trị phát triển của Việt Nam, dưới ngọn cờ của Đảng, trong thời đại ngày nay. Đó cũng chính lôgic phát triển lịch sử của dân tộc Việt Nam; 76 năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng ta, điều đó đã làm nên cốt cách Việt Nam, bản lĩnh Việt Nam và vị thế Việt Nam trên thế giới.

Nhận thức và hành động theo sự lựa chọn và theo hệ giá trị đó, Đảng ta từng lãnh đạo thành công cuộc cách mạng Tháng Tám 1945, một điển hình trong các dân tộc thuộc địa, tiến hành thắng lợi hai cuộc kháng chiến mà tưởng như hoàn toàn không cân sức với “hai đế quốc to”, mở ra thời kỳ phi thực dân sau Việt Nam cho cả hệ thống thuộc địa và các nước phụ thuộc trên toàn thế giới.

Qua 61 năm giành và giữ độc lập dân tộc, xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ tổ quốc, đặc biệt hơn 20 năm đổi mới, với hệ giá trị đó, Đảng Cộng sản Việt Nam xứng đáng tiêu biểu cho bản lĩnh Việt Nam trong việc giữ vững đường lối, chính sách đối nội và đối ngoại, đưa đời sống nhân dân lên ngày một cao hơn, đưa đất nước và dân tộc ta lên vị thế mới trong cộng đồng quốc tế.

Trong cương lĩnh chính trị và Nghị quyết của Đại hội của mình, đặc biệt trong Nghị quyết Đại hội X vừa qua, Đảng ta luôn khẳng định giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là bài học sâu sắc nhất của Cách mạng Tháng Tám, đó không chỉ là mục tiêu, nhu cầu, cương lĩnh hoạt động, là ngọn cờ hiệu triệu, mà còn là động lực, là niềm tin sâu sắc của dân tộc Việt Nam ta, Độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội là sự gắn kết hai sức mạnh thành một sức mạnh mới, là cội nguồn thắng lợi của cách mạng Việt Nam hôm qua, hôm nay và mai sau./.

Giáo sư, Tiến sĩ Vũ Văn Hiền
(Uỷ viên Trung ương Đảng, Tổng Giám đốc Đài TNVN)

qdnd.vn

Phát huy sức mạnh của lòng yêu nước xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

QĐND – Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là cuộc cách mạng vĩ đại nhất trong lịch sử dân tộc Việt Nam, mở ra thời kỳ mới-thời kỳ dân ta từ nô lệ trở thành người chủ thực sự của đất nước.

Bài học sâu sắc nhất của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 chính là bài học về sự lãnh đạo tài tình của Đảng và Bác Hồ kính yêu đã phát huy được sức mạnh của toàn dân tộc, kết tinh thành khối thống nhất đánh đuổi bè lũ bán nước và cướp nước giành lại chính quyền về tay nhân dân, lập nên nước Việt Nam dân chủ cộng hòa-nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á. Đó là sức mạnh của lòng yêu nước, của văn hóa, của con người Việt Nam yêu chuộng hòa bình, quyết không chịu làm nô lệ. Đảng thấu hiểu nỗi đau của dân tộc bị đế quốc, phong kiến giày xéo; thấu hiểu nỗi đau của người dân sống kiếp lầm than, đã vận dụng sáng tạo Chủ nghĩa Mác – Lê-nin chớp thời cơ phát lệnh Tổng khởi nghĩa giành lại chính quyền. Đảng không có quyền lợi gì khác ngoài quyền lợi của dân tộc, của nhân dân. Chính vì thế mà lập tức, hiệu lệnh của Đảng trở thành hiệu lệnh của lòng dân.

Nhìn lại lịch sử mấy nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc càng thấy rõ một chân lý: Lòng yêu nước chỉ có thể trở thành sức mạnh dân tộc khi được tập hợp, quy tụ thông qua khối đại đoàn kết toàn dân, đặt dưới sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, theo tư tưởng Hồ Chí Minh.

66 năm qua, bài học thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám được Đảng, Nhà nước và nhân dân ta tiếp tục phát huy, khơi dậy trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Nhất là qua hơn 25 năm thực hiện công cuộc đổi mới đất nước do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo, nhân dân ta đã thu được những thắng lợi to lớn có ý nghĩa lịch sử, chính là nhờ Đảng ta đã phát huy được sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc bằng những chính sách hợp lòng dân. Một đất nước tuy còn nhiều khó khăn, thu nhập của nhân dân còn thấp, nhưng mọi người, mọi nhà đều được hưởng những thành quả của công cuộc đổi mới, nhất là đồng bào ở vùng sâu vùng xa, biên giới hải đảo luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm giúp đỡ.

Tuy nhiên, cũng phải thấy rằng, bên cạnh những thành tựu lớn lao đã đạt được, vẫn còn đây đó những thói hư tật xấu, tệ nạn quan liêu, tham nhũng làm cản trở công cuộc đổi mới, giảm lòng tin của nhân dân vào Đảng, vào chế độ tốt đẹp của chúng ta, đòi hỏi Đảng, Nhà nước, Chính phủ phải có những biện pháp kiên quyết để khắc phục.

Năm nay, chúng ta kỷ niệm Cách mạng Tháng Tám giữa lúc toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đang học tập, quán triệt Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI và thực hiện Chỉ thị của 03 của Bộ Chính trị về việc tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Những bài học quý báu trong Cách mạng Tháng Tám sẽ được vận dụng sáng tạo vào công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nhằm phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, khơi dậy nguồn lực đất nước với tinh thần “lấy sức ta mà giải phóng cho ta” nhằm xây dựng một nước Việt Nam hùng cường, sánh vai với các cường quốc năm châu, như mong muốn của Bác Hồ.

Quân đội ta được thành lập ngay từ trong trứng nước của cách mạng, được Đảng và Bác Hồ kính yêu lãnh đạo, dìu dắt, được sự cưu mang, đùm bọc, giúp đỡ hết lòng của nhân dân, với lòng yêu nước nồng nàn, với chí căm thù giặc sâu sắc đã luôn luôn phát huy truyền thống, lập nhiều thành tích vẻ vang, không chỉ trong các cuộc kháng chiến bảo vệ Tổ quốc mà cả trong hòa bình, xây dựng đất nước, luôn sẵn sàng đi bất cứ nơi đâu, làm bất cứ nhiệm vụ gì khi được Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó.

Phát huy tinh thần Cách mạng Tháng Tám, toàn quân ra sức thi đua, tích cực rèn luyện, học tập, nâng cao khả năng sẵn sàng chiến đấu, bảo vệ vững chắc chủ quyền thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ Đảng, Nhà nước và nhân dân, giữ vững môi trường hòa bình để phát triển đất nước, tích cực và chủ động phòng, chống âm mưu “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch, thực hiện tốt chức năng đội quân chiến đấu, đội quân công tác, đội quân sản xuất, xứng đáng là lực lượng chính trị trung thành, chỗ dựa tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân.

QĐND
qdnd.vn

Cách mạng tháng Tám – những bài học lịch sử

QĐND – Như Đại hội toàn quốc lần thứ III (năm 1960) của Đảng đã kết luận, thắng lợi nhanh gọn của cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám “căn bản là do lực lượng chính trị của nhân dân đã kịp thời nắm lấy thời cơ thuận tiện nhất, khởi nghĩa giành chính quyền Nhà nước. Nhưng nếu Đảng ta trước đó không xây dựng LLVT và thành lập các khu căn cứ rộng lớn để làm chỗ dựa cho lực lượng chính trị và phong trào đấu tranh chính trị và khi điều kiện đã chín muồi, không mau lẹ phát động cuộc khởi nghĩa vũ trang thì cách mạng cũng không thể mau chóng giành được thắng lợi”.

Kết luận trên đây của Đại hội nói lên mấy bài học chủ yếu của Cách mạng Tháng Tám.

Thứ nhất là kiên trì xây dựng lực lượng và kịp thời phát huy sức mạnh của toàn dân theo phương châm “đem sức ta giải phóng cho ta”.

Đảng ta đánh giá cao mối quan hệ giữa cách mạng Đông Dương với cuộc chiến tranh chống phát xít của Đồng minh và đã từng có dự kiến khả năng quân Đồng minh đổ bộ vào Đông Dương đánh quân Nhật. Tuy nhiên, Đảng ta vừa coi trọng cả hai yếu tố khách quan và chủ quan, nhưng vẫn luôn khẳng định sức mạnh đoàn kết và đấu tranh của dân tộc Việt Nam có ý nghĩa quyết định thắng lợi của cách mạng. Điều đó giải thích vì sao một nội dung quan trọng của Hội nghị Trung ương 8 là chủ trương thành lập Mặt trận Việt Minh, từng bước giác ngộ các giai cấp trong cộng đồng dân tộc và tập hợp các tầng lớp nhân dân vào các đoàn thể cứu quốc, tạo thành một sức mạnh chính trị rộng lớn và vững chắc.

Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân (Ảnh tư liệu)

Trải qua 4 năm kiên trì giác ngộ các tầng lớp nhân dân về mục tiêu đánh Pháp-đuổi Nhật và không ngừng mở rộng các đoàn thể cứu quốc trong Mặt trận Việt Minh, đến giữa năm 1945, cách mạng Việt Nam đã đứng vững trên nền tảng chính trị của toàn dân từ thành thị đến nông thôn. Từ trung tuần tháng 8-1945, sức mạnh chính trị đó không những đã quyết định thắng lợi của cuộc Tổng khởi nghĩa mà còn là lực lượng hậu thuẫn vững chắc, có ý nghĩa quyết định sự tồn tại của chế độ dân chủ cộng hòa non trẻ trước sự uy hiếp từ nhiều phía của các loại kẻ thù sau khi chính quyền về tay nhân dân.

Thứ hai là khẩn trương, nhưng thận trọng chuẩn bị chu đáo, toàn diện.

Phương châm chỉ đạo xuyên suốt cả quá trình chuẩn bị tiến tới vũ trang khởi nghĩa giành chính quyền là người trước-súng sau, thể hiện tính biện chứng trong mối quan hệ giữa chính trị và quân sự, giữa con người và vũ khí, giữa tinh thần giác ngộ của quần chúng và binh khí kỹ thuật, thể hiện sự coi trọng sức mạnh chính trị của quần chúng trong khởi nghĩa vũ trang. Với sự ra đời của Mặt trận Việt Minh, Đảng chủ trương trước hết phải gây cơ sở chính trị vững chắc và rộng khắp làm chỗ đứng chân cho các lực lượng chính trị quần chúng; LLVT chỉ ra đời trên nền tảng vững chắc của cơ sở chính trị và lực lượng chính trị; mọi hoạt động trong thời kỳ đầu của các đội vũ trang trước hết phải nhằm gây thanh thế cho lực lượng chính trị, cũng tức là tạo thêm điều kiện cho cả lực lượng chính trị và LLVT cùng phát triển theo định hướng “khơi thêm nước cho cá vẫy vùng”.

Hội nghị lần thứ 8 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng rút ra được những kết luận đầu tiên về khả năng tổ chức Mặt trận Việt Minh trên một vùng rừng núi được chọn làm nơi đứng chân của cách mạng những ngày trứng nước. Tiếp đó, trải qua hơn ba năm kiên trì vận động, từ vùng rẻo cao đến “vùng thấp” thuộc các châu huyện trên vùng rừng núi Cao Bằng, ta dần dần gây dựng được những thôn bản hoàn toàn, rồi tiến lên những tổng và châu hoàn toàn. Trên cơ sở chính trị vững chắc đó mà các đội vũ trang ra đời ở từng thôn bản, rồi từng châu và cuối cùng là việc thành lập đội vũ trang tập trung đầu tiên của cách mạng-Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân.

Trải qua bốn năm (tháng 5-1941 đến tháng 5-1945) hoạt động tách biệt, hoàn toàn không có liên lạc giữa hai bộ phận Trung ương (Hồ Chí Minh ở Cao Bằng và Thường vụ Trung ương ở miền xuôi), việc ra đời của căn cứ địa Tân Trào (Tuyên Quang) mùa Hè năm 1945 là điều kiện thuận lợi để tập thể Ban Chấp hành Trung ương thống nhất nhận định tình hình trong và ngoài nước trong giai đoạn cuối của Thế chiến 2 và quyết định những bước đi tiếp theo, nhằm gấp rút chuyển cách mạng từ giai đoạn tiền khởi nghĩa (cách gọi thời đó) sang Tổng khởi nghĩa trên toàn quốc: Thống nhất LLVT cách mạng (Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân và Cứu Quốc quân) thành Quân giải phóng; đẩy mạnh phong trào chiến tranh du kích cục bộ, khởi nghĩa từng phần, giành chính quyền trong các địa phương có điều kiện; lập Khu giải phóng để thống nhất chỉ đạo, chỉ huy phong trào toàn quốc; mở Trường Quân chính kháng Nhật nhằm gấp rút đào tạo cán bộ phục vụ cho Tổng khởi nghĩa…

Theo đồng chí Trường Chinh, “chuẩn bị chu đáo và đúng nguyên tắc, đó là một ưu điểm lớn của Cách mạng Tháng Tám”.

Thứ ba là nhạy bén đánh giá tình hình, nắm bắt trúng thời cơ, hành động kịp thời, đúng lúc.

Mùa Thu năm 1944, Thường vụ Trung ương dự kiến cuộc xung đột Nhật-Pháp trước sau sẽ nổ ra. Cuộc đảo chính Nhật-Pháp đêm 9-3-1945 đã chứng minh dự kiến đúng đắn của Đảng, chứng minh sự nhạy bén trong việc “bắt mạch” tình hình để kịp thời đề ra chủ trương thúc đẩy phong trào tiến tới.

Hội nghị Thường vụ Trung ương mở rộng họp giữa lúc tiếng súng đảo chính đang nổ và bản Chỉ thị Nhật Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta (đề ngày 12-3-1945) ra đời, định hướng lãnh đạo rất đúng đắn và kịp thời. Bản chỉ thị đã tạo nên một bước ngoặt lịch sử. Phong trào cách mạng chuyển từ thời kỳ vận động chính trị là chủ yếu sang thời kỳ phát động đấu tranh vũ trang, khởi nghĩa từng phần, giành chính quyền ở các địa phương cơ sở.

Thực tế cho thấy, nghệ thuật nắm bắt tình hình và nghệ thuật chỉ đạo chớp thời cơ cách mạng của Đảng thể hiện trong hai bối cảnh khác nhau: Khi nhận thấy điều kiện chưa chín muồi thì kiên quyết phản đối mọi chủ trương manh động để bảo toàn lực lượng cách mạng; nhưng khi phát hiện “tình thế trực tiếp cách mạng” đã xuất hiện thì kịp thời động viên quần chúng nhân dân quyết tâm vượt mọi khó khăn để đánh đòn quyết định, giành thắng lợi cho cách mạng.

Nét đặc sắc của nghệ thuật đánh giá tình hình và chớp thời cơ của Đảng trong Cách mạng Tháng Tám là ở chỗ: Cuộc Tổng khởi nghĩa không nổ ra trước ngày Nhật Bản đầu hàng, để quân đội Thiên hoàng không còn vị thế để can thiệp vào nội tình Việt Nam. Cuộc Tổng khởi nghĩa cũng không nổ ra sau ngày quân Tưởng đã vào miền Bắc, buộc tướng lĩnh Quốc dân đảng Trung Hoa phải “nói chuyện” với Chính phủ lâm thời, đại diện cho nước Việt Nam đã có chủ sau Tổng khởi nghĩa thắng lợi.

Nhận xét về thời cơ của Cách mạng Tháng Tám, Tổng Bí thư Trường Chinh nói: “Mau lẹ, kịp thời, nổ ra đúng lúc phải nổ, đó là một ưu điểm nữa của Cách mạng Tháng Tám”.

Ba bài học trên đây liên quan hữu cơ với nhau, tạo thành một thể thống nhất, nói lên bản lĩnh và nghệ thuật lãnh đạo của Đảng những năm 1941-1945 (từ Nghị quyết Trung ương 8 đến Quân lệnh Tổng khởi nghĩa). Đó là quá trình kiên trì giáo dục giác ngộ và tổ chức quần chúng, dựa vào sức mạnh đoàn kết của toàn dân đã được giác ngộ để không ngừng chủ động chuẩn bị, nhằm tạo thế mới và lực mới cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức, thúc đẩy điều kiện chủ quan chín muồi, làm cơ sở để khi điều kiện khách quan thuận lợi xuất hiện thì kịp thời chớp thời cơ động viên toàn dân nổi dậy giành chính quyền trong cả nước.

Điều đó giải thích vì sao chỉ trong vòng hai tuần (từ trung tuần đến cuối tháng 8-1945), Tổng khởi nghĩa đã nổ ra dồn dập và giành thắng lợi nhanh gọn từ địa phương này đến địa phương khác, từ thành thị đến nông thôn, trong cả nước.

* Trần Trọng Trung
qdnd.vn

Kỷ niệm 67 năm Cách mạng Tháng Tám, Quốc khánh 2-9 tại Tân Trào

Ngày 16/8, tại Quảng trường Tân Trào, xã Tân Trào, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang, Lễ Kỷ niệm 67 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2-9 đã được tổ chức trọng thể. Đồng chí Lê Hồng Anh, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư tham dự buổi lễ.

Tân Trào là nơi diễn ra nhiều sự kiện lịch sử dân tộc. Đầu tháng 5/1945, Bác Hồ quyết định di chuyển từ Pác Bó (Cao Bằng) về Tân Trào, Sơn Dương, Tuyên Quang để chuẩn bị những điều kiện cần thiết cho cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền từ tay phát xít, thực dân. Ngày 16/8/1945, Quốc dân đại hội họp tại đình Tân Trào bầu ra Ủy ban Dân tộc giải phóng (tức Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa) do đồng chí Hồ Chí Minh làm Chủ tịch, quyết định Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước, làm nên cuộc Cách mạng Tháng Tám thành công. Ngày 19/8/1945, trước khi rời Tân Trào về Thủ đô Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh với tầm nhìn chiến lược đã dự báo trước về cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược và Người chỉ đạo tiếp tục củng cố xây dựng căn cứ cách mạng tại Tuyên Quang.

Trong 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp, một lần nữa lịch sử giao phó cho Tuyên Quang sứ mệnh là Thủ đô kháng chiến – nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh, Trung ương Đảng, Quốc hội, Chính phủ, Mặt trận, 13/14 bộ và gần 60 ban, ngành, cơ quan Trung ương đóng trụ sở làm việc, lãnh đạo toàn dân kháng chiến, kiến quốc…

Mừng 67 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2/9, nhân dân Tuyên Quang vinh dự đón nhận quyết định của Thủ tướng Chính phủ về xếp hạng “Di tích Quốc gia đặc biệt Tân Trào”.

Đồng chí Lê Hồng Anh, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư trao Bằng xếp hạng Di tích Quốc gia đặc biệt Tân Trào cho tỉnh Tuyên Quang. Ảnh: TTXVN.

Trao tặng Bằng xếp hạng “Di tích Quốc gia đặc biệt Tân Trào” cho tỉnh Tuyên Quang, đồng chí Lê Hồng Anh nhấn mạnh: Gắn liền với lịch sử ra đời và phát triển của cách mạng Việt Nam, Tân Trào – Tuyên Quang đã trở thành địa danh thân thiết và thiêng liêng, gắn bó với lịch sử dân tộc. Việc quyết định xếp hạng “Di tích Quốc gia đặc biệt Tân Trào” là sự tôn vinh, đánh giá cao của Đảng, Nhà nước về vị trí vai trò, ý nghĩa lịch sử của khu di tích, đồng thời ghi nhận những đóng góp to lớn của Đảng bộ, nhân dân các dân tộc Tuyên Quang trong sự nghiệp cách mạng của dân tộc Việt Nam

Theo Chinhphu.vn
cand.com.vn

Hào khí cách mạng Tháng 8 – Sợi chỉ đỏ xuyên suốt chiều dài lịch sử

– Cách mạng tháng Tám là một sự kiện vĩ đại trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Sau thắng lợi này, nước ta từ một nước thuộc địa đã trở thành một nước độc lập, nhân dân ta từ thân phận nô lệ đã trở thành người làm chủ nước nhà. Trải qua nhiều năm, hào khí cách mạng Tháng Tám như một sợi chỉ đỏ, xuyên suốt chiều dài lịch sử của dân tộc

Từ thủ đô gió ngàn

Trở lại Tuyên Quang – thủ đô kháng chiến năm xưa – vào những ngày tháng Tám lịch sử này, chúng tôi có cơ hội được đến thăm một số cán bộ lão thành cách mạng và được nghe kể về không khí sục sôi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Một niềm tự hào xen lẫn sự trân trọng thành quả giữ vững và bảo vệ chính quyền cách mạng trong 65 năm qua của nhân dân ta.

Ảnh minh họaPhát lệnh Tổng khởi nghĩa năm 1945

Người đầu tiên chúng tôi tìm gặp là ông Nghiên Bút Ngọc, cán bộ lão thành cách mạng, trú tại tổ 3, phường Phan Thiết (thành phố Tuyên Quang). Khi chúng tôi đề nghị ông kể lại kỷ niệm kháng chiến, vị lão thành cách mạng đã vui vẻ cho biết: Ngày 9/3/1945, Nhật đảo chính Pháp, mặc dù chưa nhận được chỉ thị trực tiếp của Trung ương, đồng chí Song Hào, Bí thư Khu uỷ Nguyễn Huệ cùng các đồng chí Tạ Xuân Thu, Khánh Phương… đã họp bàn cần nhanh chóng hành động, tổ chức quần chúng đấu tranh, từng bước giành chính quyền. Thanh La (xã Minh Thanh, huyện Sơn Dương ngày nay) được chọn là trọng điểm chỉ đạo. Cuộc thử sức bắt đầu bằng việc tước vũ khí của lính dõng ở một xóm. Bọn địch hầu như không có phản kháng. Khởi nghĩa ở Thanh La ngày 10/3/1945 nổ ra là khởi nghĩa sớm nhất trong cả nước đã thắng lợi, mở đầu tiến tới tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước.

Sau khởi nghĩa Thanh La, từ tháng 3 đến tháng 5, nhân dân các xã trong huyện Sơn Dương và các huyện, thị xã trong tỉnh đã đứng lên tự giải phóng, cướp chính quyền về tay nhân dân.

Đáng chú ý là trận đánh đồn Đăng Châu (thị trấn Sơn Dương ngày nay) vào ngày 15/3/1945 đã giành thắng lợi hoàn toàn. Đây là trận thử sức đầu tiên của quân cách mạng, bộc lộ rõ nét tình thế của Cách mạng Tháng Tám: Từ khởi nghĩa từng phần tiến tới Tổng khởi nghĩa, cho thấy sự lãnh đạo nhạy bén, kịp thời nắm thời cơ của Đảng ta. Giải phóng Đăng Châu dẫn đến thành lập Ủy ban nhân dân châu Tự Do, đó là ủy ban nhân dân cấp huyện được thành lập đầu tiên trong cả nước.

Tháng 5/1945, Bác Hồ từ Pác Bó (Cao Bằng) về Tân Trào chuẩn bị lãnh đạo Tổng khởi nghĩa trong toàn quốc.

Ông Phùng Hậu Giành, năm nay đã 91 tuổi, cán bộ lão thành cách mạng ở tổ 8, phường Tân Quang (thành phố Tuyên Quang) cũng không giấu được nỗi xúc động khi nhắc lại kỷ niệm những ngày tham gia kháng chiến. Ông kể rằng, tháng 3/1945, khi đó ông là công nhân lái xe hơi tại khu phố Tam Cờ (thành phố Tuyên Quang ngày nay) được phân công phụ trách Đội nhi đồng cứu quốc của khu phố với gần 100 em thiếu nhi. Là người thông thạo đường, phố nên ông đã được chọn vào chiến khu để chuẩn bị cho khởi nghĩa giải phóng thị xã Tuyên Quang.

Ngày 17/8, sau khi làm lễ tế cờ, đồng chí Song Hào đã đọc bản Quân lệnh số 1 ra lệnh tiến về giải phóng thị xã Tuyên Quang, giao cho ông làm tổ trưởng tổ lái xe hơi cứu quốc gồm 7 người. Chỉ với 1 khẩu súng duy nhất, tổ đã tiến đánh kho bạc, thu súng của địch trang bị cho các đồng chí trong tổ.

Sau 4 ngày đêm chiến đấu anh dũng, ngày 21/8, toàn bộ quân Nhật rút khỏi thị xã, thị xã được giải phóng. Đêm 21/8, thị xã Tuyên Quang tổ chức mít tinh, thành lập chính quyền cách mạng, ra mắt Ủy ban lâm thời. Mỗi người dân đem theo một bó đuốc, cả thị xã rực sáng trong ánh đuốc, trong niềm hân hoan của chiến sỹ và nhân dân.

Và Hà Nội ngày này năm xưa

Tháng 8/1945, khắp nơi quần chúng hưởng ứng lệnh Tổng khởi nghĩa đã đồng loạt nổi dậy. Thủ đô Hà Nội những ngày Tháng Tám ấy cũng hừng hực khí thế giành chính quyền.

Ảnh minh họaHà Nội những ngày Tháng 8 năm 1945

Cụ bà Nguyễn Thị Tố ( Hoàng Hoa Thám – Hà Nội) năm nay đã 81 tuổi, xúc động kể lại: “Ngày đó tôi là cô bé 16 tuổi, theo các anh chị lớn hơn tham gia vào các phong trào đoàn thể. Tôi còn nhớ, ngày 17/8 năm ấy, có một cuộc mít tinh rất lớn ở Nhà hát thành phố, tôi đã đến xem. Khi cuộc mit tinh vừa khai mạc thì cờ đỏ sao vàng bất ngờ xuất hiện trước đám đông. Các đội viên tuyên truyền của Việt Minh xông lên giành lấy diễn đàn, thông báo tin Nhật đầu hàng và kêu gọi nhân dân ủng hộ Việt Minh khởi nghĩa. Hôm đó, mọi người tự động xếp thành hàng lối ngay ngắn, có các đội viên tự vệ chiến đấu dẫn đầu, đi từ Nhà hát lớn qua các phố trung tâm, hô vang khẩu hiệu “Ủng hộ Việt Minh”, “Việt Nam độc lập”…

Trước khí thế cách mạng của quần chúng dâng cao, chính quyền bù nhìn đã không dám chống cự. Theo các tài liệu sử học, ngày 18/8, cờ đỏ sao vàng đã xuất hiện trên các đường phố Hà Nội, từ Bưởi qua Dịch Vọng, xuống Tương Mai, Mai Động…

Ông Vũ Văn Lượng, một cán bộ lão thành cách mạng Hà Nội năm xưa, cho biết thêm: “Sáng 19/8, hàng chục vạn nhân dân nội thành, ngoại thành Hà Nội đã xuống đường biểu dương lực lượng. Tất cả tập trung trước Nhà hát lớn. Đúng 11 giờ, Ủy ban khởi nghĩa đọc lời kêu gọi khởi nghĩa. Sau đó, cuộc mít tinh thành cuộc biểu tình vũ trang giành chính quyền. Quần chúng cách mạng, có sự hỗ trợ của các đội tự vệ chiến đấu, lần lượt chiếm các cơ quan đầu não của địch như: Phủ Khâm sai Bắc Bộ, Sở mật thám, Sở Bưu điện….Tối 19/8/1945, cuộc khởi nghĩa giành chính quyền ở Hà Nội đã kết thúc hoàn toàn thắng lợi.”

Trải qua nhiều năm, cảnh vật năm xưa giờ đã khác, những con người làm nên lịch sử đã người còn người khuất…nhưng hào khí cách mạng năm xưa vẫn còn nguyên trong lòng mỗi người dân Việt. Hào khí cách mạng như sợi chỉ đỏ xuyên suốt chiều dài lịch sử, để mỗi năm đến ngày này, những người con đất Việt lại lâng lâng niềm tự hào dân tộc.

Toàn Trung

Việt Báo (Theo_VnMedia)
vietbao.vn

Cách mạng Tháng Tám 1945 – Thắng lợi vĩ đại đầu tiên của cách mạng Việt Nam

Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập – Khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

(DVT.vn) – Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là một trong những trang sử vẻ vang nhất, chói lọi nhất trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân ta đã tiến hành các cao trào cách mạng, vượt qua bao hy sinh, tổn thất để giành thắng lợi trong Cách mạng Tháng Tám, đem lại cuộc biến đổi xã hội chưa từng có và tạo ra bước ngoặt vĩ đại của lịch sử dân tộc. Cách mạng Tháng Tám và sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là thắng lợi của trí tuệ, bản lĩnh và tinh thần đấu tranh quật cường của toàn thể dân tộc Việt Nam dưới sự lãnh đạo đúng đắn, sáng tạo của Đảng; là sự lựa chọn của chính nhân dân Việt Nam, của lịch sử dân tộc Việt Nam qua nhiều thập kỷ khảo nghiệm, tìm tòi con đường cứu nước; là kết quả tổng hợp của các phong trào cách mạng liên tục diễn ra trong 15 năm sau khi Đảng ra đời.

Cũng đã có biết bao nhiêu công trình nghiên cứu về cách mạng Tháng Tám 1945 từ trước đến nay, và mỗi công trình lại có những điểm nhấn, tìm tòi, phát hiện thêm những giá trị sâu sắc của cuộc cách mạng vĩ đại này – cuộc cách mạng đã đưa dân tộc Việt Nam bước sang kỷ nguyên mới – kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liến với chủ nghĩa xã hội, trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ vận mệnh của mình.

Với sự kiện lịch sử này, cuốn sách Cách mạng Tháng Tám 1945 – Thắng lợi vĩ đại đầu tiên của cách mạng Việt Nam của GS, TS. Trình Nhu và TS. Trần Trọng Thơ xuất bản nhân dịp kỷ niệm 66 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2-9 sẽ góp phần giúp chúng ta nhận thức rõ sự lãnh đạo đúng đắn, sáng tạo của Đảng và sự lựa chọn của nhân dân ta trong quá trình đấu tranh cách mạng để có được những thành quả vinh quang. Là một thắng lợi vĩ đại đầu tiên của cách mạng Việt Nam, Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã đi vào lịch sử dân tộc ta và trải qua hơn sáu thập kỷ kiểm nghiệm bằng những thắng lợi vĩ đại của chiến tranh nhân dân chống chiến tranh xâm lược, bảo vệ Tổ quốc, bằng những thành tựu rất quan trọng của sự nghiệp xây dựng đất nước theo đường lối đổi mới mà nhân dân ta đã và đang tiến hành.

Cuốn sách gồm 6 chương, trong đó tập trung trình bày sự vận dụng truyền thống đại đoàn kết dân tộc “cả nước một lòng, toàn dân đánh giặc” của dân tộc nhằm khơi dậy và quy tụ các nguồn lực dân tộc để cứu nước. Trong bối cảnh muôn vàn khó khăn, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nắm chắc, dự đoán và đánh giá đúng tình hình thế giới và trong nước, thay đổi chiến lược, xây dựng lực lượng cách mạng, kết hợp các hình thức đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang, tận dụng thời cơ, phối hợp hành động, vận động đồng bào toàn quốc đứng dậy “đem sức ta mà giải phóng cho ta”, làm chuyển hóa so sánh thế và lực giữa ta và địch, tạo nên sức mạnh tổng hợp áp đảo kẻ thù.

Bên cạnh việc nhấn mạnh những thành công vô cùng lớn lao của Cách mạng Tháng Tám, các tác giả cũng nêu lên và luận giải rõ những hạn chế về quan điểm tiến hành cách mạng, về công tác xây dựng Đảng ở một số cấp bộ Đảng, chỉ rõ những khuyết điểm trong đấu tranh chống khủng bố và lãnh đạo khởi nghĩa ở một số địa phương.

Hoàng Nguyễn
dvt.vn

Ký ức ngày tổng khởi nghĩa ở thủ đô

Lật giở từng trang ảnh kỷ niệm, ông Lê Đức Vân (tên thật là Nguyễn Hữu Phúc) nhớ lại mùa thu hào hùng năm 1945 và những người bạn trong Đội thanh niên cứu quốc thành Hoàng Diệu.

Là cựu học sinh của trường Bưởi, ông Lê Đức Vân được người bạn học Vũ Oanh (tên thật là Vũ Duy Trương) giác ngộ cách mạng. Ông tham gia tổ chức “Tu Thân” (sau này đổi tên thành Đội Ngô Quyền) của ông Vũ Oanh để rèn luyện sức khỏe, học tập và tìm hiểu về con đường của những vị lãnh đạo yêu nước…

Vũ Oanh, Lê Đức Vân cùng gần 40 thành viên của đội sau đó được kết nạp vào Đoàn Thanh niên cứu quốc và ít lâu sau đứng vào hàng ngũ Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam. Khi trường Bưởi phải sơ tán đến khu an toàn, ông Vân cùng đồng đội bỏ học ở lại Hà Nội chiến đấu. Bí danh Lê Đức Vân (do ông Vũ Oanh đặt), Vân “Bụ” (vì ông khá bụ bẫm) cũng được ra đời từ đó.

Người thanh niên cứu quốc thành Hoàng Diệu Lê Đức Vân năm xưa nay tóc đã bạc, lưng đã còng. Ảnh: Hoàng Thùy.

Nhiệm vụ của ông Vân là trị sự, in ấn, phát hành tờ báo Hồn Nước, rải truyền đơn và phụ trách một số tổ Thanh niên cứu quốc từ Cầu Giấy dọc theo đường Láng đến Ngã Tư Sở. Tháng 6/1945, ông Vũ Oanh được cử làm Trưởng đoàn đại biểu nhân dân Hà Nội đi Tân Trào dự Quốc dân đại hội, ông Vân được giao phụ trách toàn bộ thành đoàn Hà Nội cho đến ngày Cách mạng Tháng Tám diễn ra.

Giờ đây, người chiến sĩ có biệt danh Vân “Bụ” đã lên chức ông, đôi bàn tay đã nhăn nheo và lưng đã còng đôi chút, thế nhưng ông vẫn còn nhớ rõ thời khắc quan trọng những ngày tổng khởi nghĩa. Lúc ấy, quân đội Liên Xô đã đánh tan gần một triệu quân Nhật tại Mãn Châu (Trung Quốc), buộc Nhật đầu hàng đồng minh không điều kiện.

Trong hoàn cảnh đó, đồng minh lăm le quay trở lại Việt Nam dưới danh nghĩa giải giáp quân đội Nhật. Lãnh đạo mặt trận Việt Minh xác định đây là thời cơ tổng khởi nghĩa bởi nếu để muộn hơn, khi quân đồng minh vào, cùng một lúc không thể đối phó với thù trong, giặc ngoài hùng mạnh.

Từ ngày 13 đến ngày 15/8/1945, tại Tân Trào diễn ra Hội nghị toàn quốc của Đảng. Hội nghị nhận định: “Những điều kiện khởi nghĩa ở Đông Dương đã chín muồi… Quân lính Nhật tan rã, mất tinh thần, hàng ngũ chỉ huy Nhật ở Đông Dương chia rẽ đến cực điểm, bọn Việt gian thân Nhật hoảng sợ. Toàn dân tộc đang sôi nổi đợi giờ khởi nghĩa giành chính quyền độc lập”.

Từ nhận định đó, hội nghị đi đến quyết định phát động toàn dân nổi dậy khởi nghĩa giành chính quyền trước khi quân Anh, quân Tưởng Giới Thạch vào Đông Dương tước khí giới quân Nhật và thực dân Pháp chưa kịp tập hợp lực lượng, điều quân vào xâm lược Việt Nam lần nữa.

Buổi chiều 17/8/1945, tại Nhà hát lớn, Chính phủ Trần Trọng Kim tổ chức mít tinh với sự tham gia của hàng chục nghìn người. Khi chúng mới chỉ kịp tuyên bố khai mạc thì người của Việt Minh xông lên cướp micro.

Ông Vân nhớ, hai người phụ nữ là Kiều Trang (Từ Trang Anh, thành viên của đội cứu quốc thành Hoàng Diệu) và Nguyễn Khoa Diệu Hồng (thành viên của Đảng Dân chủ) lên sân khấu thông báo với mọi người rằng Nhật đã đầu hàng, rồi hô hào đồng bào ủng hộ Việt Minh cướp chính quyền, đòi độc lập. Từ trên tầng hai Nhà hát lớn, lá cờ đỏ sao vàng được buông xuống.

Ngay sau đó, một thành viên trong đội danh dự đã lấy từ trong người ra lá cờ đỏ sao vàng to, có cán, quay đầu hô “tiến lên”. Do anh đứng ở cuối đoàn nên khi quay đầu trở thành người dẫn đường. Những người tham dự mít tinh cũng xoay người đi theo anh. Cả đoàn nhằm hướng Tràng Tiền tiến lên. Đoàn đi đến đâu, người dân từ hai bên đường ra gia nhập đến đó. Vừa đi mọi người vừa hô “Ủng hộ Việt Minh, ủng hộ Việt Minh, Việt Nam độc lập”.

Ông Vân cho biết, đoàn diễu hành sau khi đi hết Tràng Tiền lại qua Hàng Đào, Hàng Ngang, Phan Đình Phùng… Khi đi qua Chủ tịch phủ (nơi Tư lệnh quân Nhật đóng), quân địch ở đây không có phản ứng gì mà chỉ đứng nhìn. Đoàn diễu hành tiếp tục đi qua Trần Phú, Cửa Nam rồi dừng lại trong tiếng súng bắn chỉ thiên của lính bảo an. Từ đây, đoàn diễu hành chia thành các nhóm nhỏ đi về các phố biến thành hàng chục cuộc diễu hành nhỏ, vừa đi vừa hô vang khẩu hiệu “Việt Nam độc lập” cho đến 19, 20h mới tan.

Ông Lê Đức Vân vinh dự được gặp đại tướng Võ Nguyên Giáp năm 1993.
Ảnh: Hoàng Thùy.

“Số người tham gia diễu hành lúc đó phải lên tới 10.000 người. Cuộc mít tinh của địch đã nhanh chóng biến thành biểu tình, tuần hành của ta ngoài dự kiến. Chúng tôi thấy rằng đây là đỉnh điểm của sự quật khởi, lãnh đạo mặt trận Việt Minh phải nắm lấy thời cơ đề phòng tinh thần hừng hực của người dân lắng xuống”, ông Vân nói và cho hay, khi vừa tham gia đoàn diễu hành về đến nhà thì nhận được lệnh đi họp gấp.

Cuộc họp diễn ra lúc 21h, tại nhà một gia đình là căn cứ cách mạng ở thôn Dịnh Vọng. Đây là hội nghị của Thành ủy và Ủy ban Quân sự cách mạng mở rộng. Có 9 người tham gia trong đó có ông Nguyễn Quyết (bí thư thành ủy), ông Lê Trọng Nghĩa, Trần Quang Huy (cán bộ xứ ủy).

Cuộc họp nhanh chóng quyết định khởi nghĩa vào ngày 19/8. Các thành viên kiểm tra lại lực lượng xem có bao nhiêu hội viên, vũ khí có những gì và bàn phương thức khởi nghĩa. “Khởi nghĩa như thế nào khi Hà Nội có 20.000 lính Nhật, lực lượng hội viên mặt trận chưa đến 1.000 người, vũ khí chỉ có vài khẩu súng, mã tấu” là vấn đề được đưa ra.

Các thành viên phân tích, thời điểm ấy, Nhật đã đầu hàng đồng minh nhưng lệnh chưa được chuyển đến Hà Nội. Nếu mình đánh, chúng phản ứng lại thì không đủ sức chiến đấu. Thế nên hội nghị chủ trường trung lập hóa quân Nhật. Khi lực lượng của ta diễu hành qua các tuyến phố chúng chỉ nhìn mà không phản ứng, như vậy, nếu mình không đánh, họ cũng sẽ không đụng mình.

Phương án mà các thành viên tham dự hội nghị đưa ra là sẽ cử người sang thương lượng với Nhật, rải truyền đơn thông báo rằng “Nhật đã đầu hàng đồng minh, việc giành chính quyền là việc của chúng tôi, đề nghị quân đội Nhật không can thiệp vào”.

Cuộc họp cũng phân công ông Vân đảm trách việc tổ chức khởi nghĩa ở ngoại thành Hà Nội, sau khi hoàn tất sẽ về dự mít tinh tổng khởi nghĩa trong nội thành. Việc này rất quan trọng bởi trước đây, hoạt động cách mạng có thể đứng được là nhờ khu vực ngoại thành. Ông Nguyễn Quyết sẽ cùng với đội tuyên truyền thành Hoàng Diệu chiếm trại Bảo an binh, ông Nguyễn Khang (chủ tịch mặt trận khởi nghĩa) chiếm phủ Khâm sai…

Cuộc họp kéo dài đến rạng sáng 18/8, các thành viên trở về địa bàn được phân công, bí mật phổ biến kế hoạch với lực lượng tự vệ xung phong và nhân dân, đồng thời chuẩn bị mọi điều kiện để đồng loạt khởi nghĩa vào hôm sau.

Sáng sớm 19/8, lực lượng cách mạng ngoại thành tổ chức mít tinh, nhân dân làng Cót tuyên bố lật đổ chính quyền. Sau đó, đoàn diễu hành kéo đến các làng như Quan Nhân, Chính Kinh, tuyên bố xóa chính quyền cũ, khẳng định Nhật ủng hộ đồng minh. Trước khí thế đó, bọn tay sai sợ hãi, vội vàng nộp con dấu, sổ sách cho chính quyền cách mạng.

Cũng trong buổi sáng, mũi hai tổ chức mít tinh ở làng Mọc, Quan Nhân sau đó sang làng Cự Lộc rồi về Chính Kinh tụ họp. Mỗi lần di chuyển, lực lượng tham gia lên tới hàng chục nghìn người vừa đi vừa hô hào. Cả đoàn đi ra đường Láng, Thái Hà rồi đổ ra Ngã Tư Sở.

Tại đây, phường hát cô đầu (hát ả đào), binh lính địch, lính bảo an cũng giao súng cho lực lượng ta và tham gia diễu hành. Lực lượng tự vệ xung phong ngoại thành đã làm chủ được tình thế nên tiến lên chiếm Đại lý Hoả Long, bắt được tuần phủ Đặng Vũ Niết. Cuộc khởi nghĩa giành chính quyền ở vùng ngoại thành hoàn toàn thắng lợi.

Ở trong nội thành sáng 19/8 cũng tổ chức mít tinh và chia thành hai mũi chiếm Trại Bảo an binh, phủ Khâm Sai. Tại Trại bảo an binh, do không mở được cửa vào, lực lượng ta bao vây quanh trại. Bên ngoài, 4 xe tăng Nhật chĩa súng vào ta. Trong tình thế nguy cấp đó, ông Lê Trọng Nghĩa được cử đi thương thuyết với Nhật.

Với tài đàm phán và thuyết phục khéo léo, ông đã khiến quân Nhật rút lui, lực lượng của ta chiếm Bảo an binh, chiếm vũ khí và phân phát cho tự vệ, đồng thời, bầu Chủ tịch Ủy ban cách mạng lâm thời ngoại thành để làm nhiệm vụ thu hồi sổ sách, giấy tờ của chính quyền cũ.

“Cuộc cách mạng đã thắng lợi, thủ đô được giải phóng nhưng chúng ta không hề phải đổ máu. Chiến thắng này không phải trong ngày một, ngày hai chúng ta làm được mà phải chuẩn bị từ vài năm trước”, ông Vân phân tích.

Ngày 2/9/1945, hàng chục nghìn người dân đã tập trung tại Quảng trường Ba Đình lịch sử để nghe Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập. “Tiếng hô xin thề, xin thề của nhân dân ta và câu hỏi chân tình “Tôi nói đồng bào có nghe rõ không” của Bác Hồ tôi không bao giờ quên được. Đó là những ngày tháng gian khổ, hào hùng nhưng cũng hạnh phúc nhất cuộc đời tôi”, ông Vân nói.

Hoàng Thùy
vnexpress.net

Kỷ niệm 67 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2-9: Niềm tin và chân lý đưa chúng ta đến thành công

Tôi sinh ra vào những năm đầu của nền dân chủ cộng hoà nên tinh thần Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2 – 9 như ngấm vào trong máu, trong máu của cha mẹ mà truyền sang cho mình. Có lẽ không chỉ riêng tôi mà cả thế hệ những người sinh ra vào thời kỳ ấy đều như thế. Tinh thần Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2 – 9 muôn năm! không chỉ là khẩu hiệu mà là xương thịt tạo nên cái hình hài của cả thế hệ chúng tôi, cái thế hệ đã tiếp bước cha ông, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Theo chân Bác, thế hệ ấy nhiều người đã vĩnh viễn ra đi, chỉ để lại một tinh thần bất diệt : Không có gì quý hơn độc lập tự do! cái tinh thần được khởi nguồn từ tinh thần Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2 – 9!

Nhân dân Hà Nội chiếm phủ Khâm Sai ngày 19-8-1945

Ảnh: TL

Những người còn lại như chúng tôi, đa phần trở về với cuộc sống hoà bình với tư cách là một công dân nước Việt Nam độc lập, hoà bình và thống nhất; một phần tham gia vào hệ thống chính trị với cương vị là những cán bộ từ cơ sở đến trung ương, nhiều người giữ trọng trách trong bộ máy chính quyền của dân, do dân và vì dân. Dù ở cương vị nào thì tinh thần Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2 – 9 vẫn chảy trong huyết quản mà làm nên sức mạnh vượt qua mọi thử thách để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong điều kiện mới nhiều thời cơ nhưng cũng không ít thách thức cam go. Đất nước đã có Hoà bình, Độc lập, Thống nhất và Tự do; nhưng Dân chủ và Giàu mạnh trên con đường phát triển còn gặp muôn vàn khó khăn, gian khổ bởi lực cản hữu hình và vô hình trong và ngoài nước. Những lực cản ấy từ bên ngoài không trực tiếp như thời kỳ chống đế quốc, thực dân xâm lược, nhưng cũng không kém phần nguy hiểm và tiềm ẩn những thử thách cam go dài lâu. Tuy nhiên, so sánh tương quan lực lượng giữa kẻ chống đối và người ủng hộ, thì lực lượng ủng hộ chúng ta, ủng hộ Hoà bình, Độc lập, Thống nhất, Tự do, Dân chủ và Giàu mạnh của Việt Nam trên trường quốc tế lớn hơn bao giờ hết. Dẫu còn muôn vàn khó khăn để đối phó với lực cản bên ngoài, nhưng xét về mọi phương diện chính trị, kinh tế, quân sự và hợp tác quốc tế trong thời kỳ Cách mạng Tháng Tám năm 1945, chúng ta không thể có thuận lợi trong thế so sánh ta và địch như trong tình thế hiện nay. Khi ấy giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm cùng một lúc hoành hành như muốn nhấn chìm nền Cộng hoà Dân chủ vừa mới ra đời của chúng ta! Khi ấy cách mạng Trung Quốc còn chưa thành công, Liên Xô (cũ) mãi đến năm 1950 mới công nhận Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, vậy mà Nhà nước công nông của chúng ta vẫn đứng vững, kháng chiến trường kỳ vẫn thành công! Tinh thần Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2-9 bất diệt trong mỗi trái tim người Việt Nam ta đã làm nên sức mạnh thần kỳ ấy!

Như vậy lực cản lớn nhất xét về tổng thể không còn nằm ở cái bên ngoài mà là ở cái bên trong, cái tồn tại trong mỗi con người chúng ta hôm nay. Sức ì của tư duy cũ, sức ì của quán tính cũ, thói quen cũ vẫn đang là lực cản không nhỏ của chính chúng ta mặc dù nó đã được hạn chế, tước bỏ đi nhiều trong quá trình đổi mới hơn hai mươi năm qua. Thêm vào đó, những căn bệnh mới mà mặt trái của kinh tế thị trường đem đến là thói tham lam, ích kỷ, hám tiền, trục lợi dẫn đến quốc nạn tham nhũng đang ngày đêm sói mòn niềm tin của nhân dân, khoảng cách giàu nghèo trong xã hội tăng lên làm suy giảm nghiêm trọng sức mạnh đoàn kết của dân tộc. Cuộc đấu tranh ai thắng ai đang diễn ra hết sức quyết liệt trong mỗi con người chúng ta. Cái thiện, cái ác, cái tốt, cái xấu đan xen trong mỗi chúng ta, trong mỗi cơ quan, tổ chức, đoàn thể và xã hội ta! Cái nào sẽ thắng, bản thân chúng ta nhiều khi cũng mơ hồ chưa rõ, bởi kẻ địch không hiện nguyên hình trước ta mà lẩn trốn ngay trong ta. Chỉ lơ là thiếu tinh thần cách mạng một thoáng thôi, chúng ta có thể làm hỏng những người đồng chí vốn trung kiên, năng động và có thể đã có nhiều công trạng trong quá khứ. Chỉ buông thả trong khoảnh khắc, cái xấu đã lôi ta lút vào con đường tăm tối của danh lợi, quyền chức, bạc tiền đến nỗi muốn quay đầu cũng chẳng còn đơn giản nữa. Chúng ta đã được các nhà cách mạng tiền bối cảnh báo “viên đạn bọc đường” với sức tàn phá còn hơn cả bom đạn, vậy mà để tránh nó vẫn là vấn đề hết sức nan giải. Loại đạn này không từ bất kỳ ai, kể cả những người ở ngôi vị quyền cao, chức trọng, kể cả những người đã dạn dày kinh nghiệm trong chính trường hay trong thương trường. Cái độc hại của nó hơn cả bom đạn vì nó gặm nhấm tâm hồn và trái tim con người. Làm cho bản chất người suy giảm trong ta đến khi tỉnh ngộ thì thân đã tàn, lực đã kiệt, khó bề chống đỡ. Khi ấy liệu ta có dũng cảm tự nguyện hy sinh như khi xưa nơi chiến địa chống quân thù?! Thật vô cùng khó, bởi hình như trong lịch sử nó là chuyện cực kỳ hiếm gặp! Như vậy, chẳng phải bi kịch lắm sao khi cái thân ta tồn tại lại như mảnh đất màu mỡ để lây truyền căn bệnh vốn hiểm nguy cho cộng đồng, làm giảm đi sức sống mà chính cha anh ta và bản thân ta đã góp phần làm nên trong lịch sử, đó là Tinh thần Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2 – 9 muôn năm! Nhân dân ta, dân tộc ta, Đảng ta với kinh nghiệm xương máu của mình nhất định không để bất kỳ kẻ thù nào dù ngoại xâm hay ” nội xâm” khuất phục. Tinh thần Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2 – 9 đang thực sự sống động trong toàn Đảng, toàn dân ta trong đợt sinh hoạt chính trị đặc biệt này!

Trước tiên, phải nói đến các đồng chí trong Bộ Chính trị. Các đồng chí đã thể hiện một tinh thần tiên phong cách mạng, đi đầu trong khó khăn, gian khổ, gương mẫu thực hiện phê bình và tự phê bình, mở đầu cho việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 về chỉnh đốn, xây dựng Đảng. Đợt sinh hoạt chính trị đặc biệt này diễn ra đúng dịp kỷ niệm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2 – 9, phải chăng là sự khẳng định quyết tâm cao độ vượt lên chính mình của tất cả các Uỷ viên Bộ Chính trị, những người hơn ai hết, trước tiên nhất đã, đang học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Đạo đức cách mạng sáng ngời Hồ Chí Minh chính là niềm tin vào nhân dân vĩ đại. Niềm tin Hồ Chí Minh là niềm tin của bậc chí nhân, chí dũng, chí tín: Tin người để người tin mình. Tinh thần Cách mạng Tháng Tám là minh chứng lịch sử sinh động cho niềm tin ấy! Chính niềm tin vào nhân dân mà với hơn năm ngàn đảng viên hoạt động công khai ở một số vùng nông thôn, còn trong các thành phố lớn là hoạt động bí mật, Đảng đã phất cờ cách mạng, lãnh đạo toàn dân ta làm nên thắng lợi thần kỳ, giành chính quyền trong cả nước, lập nên Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Bản Tuyên ngôn Độc lập do Hồ Chủ tịch đọc trước quốc dân đồng bào tại quảng trường Ba Đình đã đi vào lịch sử như một mốc son sáng ngời trong lịch sử dân tộc. Bộ máy trung ương của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà không chỉ có những người cộng sản mà còn có nhiều nhân sĩ, trí thức yêu nước, thậm chí có cả những phần tử chống đối cách mạng. Ngay sau đó, để phù hợp với yêu cầu của cách mạng, Đảng ta đã tự giải tán và hoạt động trên danh nghĩa chỉ là Hội Nghiên cứu chủ nghĩa Mác. Vậy mà Nhà nước dân chủ cộng hoà non trẻ vẫn vững vàng trong điều kiện ” ngàn cân treo sợi tóc”. Nhà nước ấy chẳng những tồn tại vững vàng mà còn cùng dân tộc trường kỳ kháng chiến và lập nên nhiều chiến công vang dội. Cho đến năm 1951 Đảng mới chính thức công khai với tên gọi Đảng Lao động Việt Nam để lãnh đạo cách mạng làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ, tiếng bom đầu tiên báo hiệu sự sụp đổ của chế độ thực dân kiểu cũ ở Đông Dương và trên toàn thế giới. Rõ ràng lịch sử cách mạng Việt Nam đã cho ta bài học vô cùng quý giá là : dù công khai hay bí mật, thậm chí không còn trên danh nghĩa, nhưng Đảng còn sống trong lòng dân, thì Đảng còn lãnh đạo cách mạng. “Đảng không có quyền lợi nào khác là quyền lợi của nhân dân” thì nhân dân mãi mãi vẫn tin vào Đảng, mãi mãi vẫn đi theo Đảng bất chấp mọi khó khăn, gian khổ, hy sinh! Đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định quyết tâm của Bộ Chính trị, của toàn Đảng triển khai tích cực và có hiệu quả Nghị quyết Trung ương 4 về xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Quyết tâm cao của toàn Đảng chính là sự tiếp nối sinh động tinh thần Cách mạng Tháng Tám và 2 – 9! Đồng chí Tổng Bí thư nhấn mạnh : ” Không làm tốt vấn đề này là có tội với nhân dân” là sự quán triệt sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh, tư tưởng tin vào sức mạnh vô địch của nhân dân ” khó trăm lần dân liệu cũng xong”!

Đúng là khó khăn đang chồng chất khó khăn. Chính phủ đang cố gắng hết sức để khắc phục hậu quả của suy thoái kinh tế và các tệ nạn xã hội. Tuy nhiên, tham nhũng và các tệ nạn xã hội vẫn chưa giảm lại có phần tinh vi hơn, táo tợn và tàn bạo hơn! Lương và các khoản trợ cấp xã hội được điều chỉnh theo hướng nâng cao đời sống của nhân dân chưa đủ bù vào sự tăng giá đồng loạt của các mặt hàng và dịch vụ thiết yếu cho đời sống con người. Biển Đông lại đang dậy sóng bởi những toan tính hẹp hòi, thủ cựu và nguy hiểm. Thế hệ chúng tôi nay cũng đã già rồi. Những người trẻ nhất cũng đã ngoài 60 tuổi. Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến nay cũng đã 67 năm. Trách nhiệm xây dựng đất nước Hoà bình, Thống nhất, Độc lập, Dân chủ và Giàu mạnh chắc chắn phải trông vào thế hệ sau chúng tôi!

Nhìn vào những gương mặt trẻ trung, tươi vui mà quyết đoán, của những người lính Trường Sa; những gương mặt tự tin của các phi công trên các chiếc SU hiện đại; những gương mặt sạm nắng gió mà vẫn sáng vẻ thông minh, sáng tạo của những người thợ trên dàn khoan dầu nơi đầu sóng ngọn gió; nhìn những gương mặt xinh tươi, tinh nghịch, nhanh nhẹn, tự tin của các cô gái trên đồng ruộng, đồi nương…những người đã làm nên hàng triệu tấn gạo, hàng chục vạn tấn cà phê và các nông sản khác, đưa Việt Nam thành quốc gia có trách nhiệm quan trọng về an toàn lương thực trong cộng đồng thế giới! …Tất cả những gương mặt trẻ ấy là niềm tin, là chỗ dựa tinh thần vững chắc của thế hệ chúng tôi và của toàn Đảng, toàn dân ta. Dòng chảy lịch sử, dòng chảy cuộc sống vẫn tiếp nối như mạch nguồn vô tận Việt Nam mỗi khi gặp gian nguy lại kết thành làn sóng mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Lớp sau tiếp lớp trước thành hàng ngàn lớp sóng trùng trùng cuốn phăng mọi lực cản trên con đường Độc lập, Tự do của dân tộc, ấm no và hạnh phúc của nhân dân.

Niềm tin ấy là sự thật, là chân lý sáng ngời bởi Tinh thần Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2 – 9 muôn năm!

TS. Nguyễn Viết Chức
(Phó Chủ nhiệm Uỷ ban Văn hoá, Giáo dục,
Thanh thiếu niên – nhi đồng của Quốc hội khoá XI)
daidoanket.vn

Bài học Đại đoàn kết từ Cách mạng Tháng Tám

(VnMedia) – Đến thời điểm này, những bài học quý báu mà Cách mạng tháng Tám 1945 để lại vẫn còn nguyên giá trị thời sự, trong đó, trên hết chính là việc xây dựng, củng cố và phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Tính đến thời điểm này, sau 66 năm trôi qua, thắng lợi và ý nghĩa lịch sử của cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945 vẫn là một sự kiện diệu kỳ trong lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước vĩ đại của dân tộc. Khát vọng độc lập, tự do, cùng với một đường lối chính trị đúng đắn và sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân dưới sự lãnh đạo của Đảng và Hồ Chí Minh đã tạo ra xung lực hồi sinh mạnh mẽ, góp phần làm nên thành công của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, kiến lập ra một Nhà nước Việt Nam mới.

Sự thắng lợi của Cách mạng tháng Tám là tiền đề tốt cho ngày 2/9/1945 tại Quảng trường Ba Đình – Hà Nội, Chủ tịch Chính phủ lâm thời Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên ngôn độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và khẳng định một chân lý: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do độc lập ấy”.

Ảnh minh họaCách mạng Tháng Tám năm 1945 – một dấu son chói lọi trong lịch sử Việt Nam – Ảnh: Tư liệu

Theo GS Lê Mậu Hãn, việc tuyên bố chủ quyền trong “Tuyên ngôn độc lập” ngày 2/9/1945 đã thể hiện rõ ràng một chân lý: Khi một dân tộc kiên quyết đứng lên chiến đấu cho độc lập tự do thì không một kẻ thù nào có thể chiến thắng. “Việc chọn ngày 19/8 để mở đầu cho thắng lợi vĩ đại của Cách mạng tháng Tám 1945 cũng là một dịp để khẳng định với thế giới về tư tưởng mỗi dân tộc có quyền chọn con đường để giành độc lập tự do riêng và các dân tộc có quyền tự quyết của mình. Riêng dân tộc Việt Nam trong tình thế này chủ trương là thay đổi chiến lược cách mạng, đó là giải phóng dân tộc, đánh Pháp, đuổi Nhật giành độc lập tự do”, GS Lê Mậu Hãn nói.

Cũng theo GS Lê Mậu Hãn, một điểm đặc biệt khác của Cách mạng tháng Tám 1945 mà chúng ta ít nhắc đến đó là một cuộc cách mạng không đổ máu. Thể hiện ở việc ngày 30/8/1945, Hoàng đế Bảo Đại – vua cuối cùng nhà Nguyễn đã tuyên bố thoái vị, trao lại ấn kiếm cho cách mạng, kết thúc sự trị vì của triều đại phong kiến này. Việc thoái vị của Hoàng đế Bảo Đại đã khiến cuộc khởi nghĩa giành độc lập dân tộc của Việt Nam càng rõ ràng và khác hẳn các cuộc cách mạng khác trên thế giới.

Đến thời điểm này, những bài học mà Cách mạng tháng Tám 1945 để lại vẫn còn nguyên giá trị thời sự như bài học về nắm bắt thời cơ, bài học về xây dựng, củng cố và phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc, bài học về phát huy sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại.

Trong đó, theo GS Lê Mậu Hãn, bài học tuyệt vời nhất là việc xây dựng, củng cố và phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc. “Thắng lợi lớn lao của cách mạng Việt Nam là không tạo ra giai cấp, khi mọi người đều bình đẳng thì tất cả sẽ dấn thân để giành thắng lợi cuối cùng”, GS Hãn nói.

Theo chỉ thị của Hồ Chí Minh, ngày 16/8, Quốc dân Đại hội chính thức khai mạc, tượng trưng cho ý chí, nguyện vọng và khối đại đoàn kết toàn dân tộc đã nhất trí thông qua đề nghị Tổng khởi nghĩa của Mặt trận Việt Minh, và thành lập Ủy ban giải phóng dân tộc. Sáng ngày 17/8, các thành viên trong Uỷ ban giải phóng dân tộc vừa được Đại hội bầu đã ra mắt quốc dân và làm lễ tuyên thệ trước sân đình Tân Trào. Thay mặt Uỷ ban, hướng lên Quốc kỳ, Chủ tịch Hồ Chí Minh trân trọng đọc lời tuyên thệ.

Trong khi đó, ở Hà Nội, Sài Gòn và nhiều tỉnh khác, cán bộ Đảng và Việt Minh chưa thể nhận được mệnh lệnh khởi nghĩa, nhưng căn cứ vào các chỉ thị trước đó của Đảng, trên cơ sở phân tích cụ thể tình hình địa phương, tuyệt đại đa số cán bộ Đảng và Việt Minh cơ sở đã mau chóng tự quyết định khởi nghĩa giành chính quyền, không bỏ lỡ thời cơ.

Trong ngày 17/8, cả Hà Nội tưng bừng khí thế sục sôi khởi nghĩa. Sáng ngày 19/8, theo lời hiệu triệu của Việt Minh, với rừng cờ đỏ sao vàng, nhân dân Hà Nội xuống đường, tiến thẳng về trung tâm Nhà hát thành phố để dự mittinh. Sau loạt súng chào cờ và bài Tiến quân ca, đại biểu Ủy ban quân sự cách mạng đọc lời hiệu triệu của Việt Minh, biến cuộc mittinh trở thành cuộc biểu tình vũ trang tiến vào chiếm Phủ khâm sứ, trại lính bảo an và các cơ sở của chính phủ bù nhìn,v.v.. Ngày 19/8 trở thành mốc son lịch sử thắng lợi của cuộc Tổng khởi nghĩa Cách mạng Tháng Tám ở Thủ đô Hà Nội.

Ảnh minh họaThắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945 cũng là thắng lợi của việc xây dựng, củng cố và phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc. Ảnh: Tư liệu

Từ bài học Cách mạng tháng Tám 1945 để lại, trong mọi hoàn cảnh, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH, nắm vững thời và thế, phát huy sức mạnh tổng lực của dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại đã được Đảng vận dụng linh hoạt để đưa đất nước tiến lên, đổi mới và hội nhập. Đó chính là nắm bắt xu thế phát triển của thời đại, kịp thời quyết định đổi mới, đổi mới tư duy, đổi mới mạnh mẽ về kinh tế trên cơ sở đổi mới từng bước về chính trị; vừa tranh thủ và phát huy sức mạnh nội lực, vừa tranh thủ, tận dụng những cơ hội của thế giới, của thời đại mang lại, để không chỉ đưa đất nước chuyển mình theo hướng tích cực, dần vượt thoát khỏi khủng hoảng kinh tế – xã hội, kinh tế phát triển nhanh, đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt,v.v..mà còn góp phần nâng cao vị thế của đất nước trong khu vực và trên trường quốc tế

Lam Nguyên
vnmedia.vn

Lãnh đạo hiểu và tin dân: Cách mạng thành công

– Bài học sâu sắc của cuộc Cách mạng vĩ đại cách đây đã 66 năm cho thấy chỉ khi nào những người lãnh đạo nắm được lòng dân, tin vào sức mạnh của dân, thì những đuờng lối đúng đắn mới trở thành hiện thực trong cuộc sống.

Tầm nhìn sáng suốt và quyết tâm sắt đá

Lịch sử ghi lại rằng: năm 1924, Nguyễn Ái Quốc từ nước Nga của cuộc cách mạng vô sản đưa ra quan điểm: “Chủ nghĩa dân tộc là một động lực lớn của đất nước” và tiên đoán cuộc cách mạng ở Việt Nam sẽ diễn ra như sau: “Cuộc khởi nghĩa phải được chuẩn bị trong quần chúng, nổ ra trong thành phố theo kiểu các cuộc cách mạng châu Âu, chứ không phải nổ ra đột ngột ở biên giới Trung Quốc theo phương pháp của các nhà cách mạng trước đây”. 21 năm sau, cuộc Cách mạng tháng Tám 1945 diễn ra đúng như vậy.

Năm 1941, khi trở về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng, ở chiến khu, Nguyễn Ái Quốc viết “Diễn ca Lịch sử nước ta” kết thúc bằng câu :“45 sự nghiệp hoàn thành”. 4 năm sau đó câu thơ trở thành hiện thực.

Duyệt đội quân du kích ở các chiến khu về Hà Nội ngày 30-8-1945. Ảnh Tuổi trẻDuyệt đội quân du kích ở các chiến khu về Hà Nội ngày 30-8-1945. Ảnh Tuổi trẻ

Tháng 10/1944, Nguyễn Ái Quốc viết thư kêu gọi đồng bào toàn quốc chỉ rõ: “Phe xâm lược gần đến ngày bị tiêu diệt. Các đồng minh quốc sắp tranh được sự thắng lợi cuối cùng. Cơ hội cho dân tộc ta giải phóng chỉ ở trong một năm hoặc một năm rưỡi nữa. Thời gian rất gấp. Ta phải làm nhanh”. Thực tế cho thấy Cách mạng tháng Tám thành công sớm hơn cả thế nữa.

Và khi thời cơ đã hiện rõ, vị tổng công trình sư của cách mạng Việt Nam thể hiện một ý chí sắt đá: “Dù có phải đốt cháy dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập”. Như vậy, tầm nhìn sáng suốt và quyết tâm sắt đá của bộ máy lãnh đạo đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh là một nhân tố quyết định thắng lợi của Cách mạng.

Cơn lốc

Lịch sử cũng ghi nhận: Tối 13/8/1945, ngay khi vừa nghe tin phát xít Nhật đầu hàng, Ủy ban Khởi nghĩa Toàn quốc đã ban bố Quân lệnh số 1: “Giờ tổng khởi nghĩa đã đến! Cơ hội có một cho quân dân Việt Nam vùng dạy giành lấy quyền độc lập của nuớc nhà !… Chúng ta phải hành động cho nhanh với một tinh thần vô cùng quả cảm, vô cùng thận trọng ! Tổ quốc đang đòi hỏi những hy sinh lớn lao của các bạn. Cuộc thắng lợi hoàn toàn nhất định sẽ về ta!”

Ngày 14 và 15/8/1945 Hội nghị toàn quốc của Đảng họp tại Tân Trào vạch rõ: “Những điều kiện khởi nghĩa đã chín muồi. Toàn dân tộc đang sôi nổi đợi giờ khởi nghĩa giành quyền độc lập”.

Ngày 16 và 17/8/1945 Quốc dân Đại hội được triệu tập tại Tân Trào thành lập Ủy ban Giải phóng dân tộc hình thức tiền thân của chính quyền cách mạng, định quốc kỳ và quốc ca. Quốc dân Đại hội ra lời hiệu triệu: “Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc đã đến. Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta… Dưới lá cờ Việt Minh, đồng bào hãy dũng cảm tiến lên!”

Đơn vị vũ trang Đại đội Việt-Mỹ làm lễ xuất quân và Nam tiến, hướng về đánh quân Nhật đồn trú ở Thái Nguyên… Lịch sử ghi tiếp: ngày 18/8, Hải Dương, Bắc Giang, Hà Tĩnh, Quảng Nam khởi nghĩa giành chính quyền; 19/8, Hà Nội tổng khởi nghĩa…, 23/8, kinh đô Huế và tỉnh Thừa Thiên khởi nghĩa…, ngày 25/8, thành phố Sài Gòn chính quyền về tay nhân dân… ; ngày 30/8, tại Huế, vua Bảo Đại tuyên bố thoái vị…

Diễn biến của cuộc khởi nghĩa trên toàn quốc diễn ra mau lẹ như một cơn lốc. Và trong một thời gian dài, người viết sử phóng bút viết về sự kiện vĩ đại này như một kịch bản hoàn chỉnh thể hiện rất đậm nét theo trình tự từ trên xuống dưới, từ Bắc vào Nam, từ Trung ương xuống địa phương để thể hiện rõ cái nguyên lý kinh điển: có đường lối đúng, có sự lãnh đạo sát sao thì mọi chủ trương đều thành hiện thực nhờ vào một kỷ luật chặt chẽ của tổ chức cách mạng…

Bóng cờ nhô trên nước lụt

Cho đến một lần, Ban liên lạc các cựu chiến sĩ của Đội Thanh niên Ngô Quyền, một trong những lực lượng nòng cốt tham gia tổng khởi nghĩa ở Hà Nội họp mặt truyền thống vào năm 1998. Khi ôn lại ký ức những ngày cách mạng sôi nổi, mọi người nhắc tới người lãnh đạo cao nhất của cuộc Tổng khởi nghĩa ở Thủ đô là đồng chí Nguyễn Khang, xứ ủy viên Bắc Kỳ. Mọi người ghi nhận rằng, cũng trong tối 13/8, đồng chí Nguyễn Khang đã cùng đảng bộ Hà Nội đã bàn bạc để đi đến quyết định sẵn sàng huy động quần chúng nổi dậy.

Nhưng cho đến 17/8, nhận thấy thời cơ đã đến sau khi cao trào cách mạng của quần chúng dâng cao trong khi lực luợng quân Nhật và chính quyền thân Nhật đã mất hết ý chí, đảng bộ Hà Nội đã quyết định Tổng khởi nghĩa vào lúc chưa nhận được Bản quân lệnh số 1 phát ra từ chiến khu Tân Trào cách đó đã mấy ngày. Tổng khởi nghĩa đã thành công trọn vẹn chỉ trong một buổi sáng ngày 19/8/1945.

Dự buổi gặp mặt đó có Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Và chính vị tư lệnh lực lượng vũ trang cách mạng đã xác nhận một sự thực là: trong khi đơn vị vũ trang chính quy nhất của cách mạng là Đại đội Việt-Mỹ còn chưa giải quyết được quân Nhật ở Thái Nguyên thì tin Hà Nội đã khởi nghĩa thành công làm mọi người vừa phấn khởi vừa ngỡ ngàng. Đồng chí Thận (bí danh của Tổng Bí thư Trường-Chinh) là người tính rất thận trọng đã yêu cầu phải thẩm tra kỹ.

16/9/1945 - Tuần lễ Vàng, những người giàu có xếp hàng trên phố Tràng Tiền để quyên góp16/9/1945 – Tuần lễ Vàng, những người giàu có xếp hàng trên phố Tràng Tiền để quyên góp

Đến khi đã biết chắc là Hà Nội đã giành được chính quyền và báo cáo với Bác thì vị chỉ huy tối cao của cuộc cách mạng ra lệnh: Tất cả bằng những phương tiện nhanh nhất phải về ngay Hà Nội.

Đại tướng kể lại rằng, khi đó nước lụt mênh mông nhưng cứ càng về gần tới Hà Nội thì càng thấy nhiều bóng cờ đỏ sao vàng. Bất cứ nơi nào nhô lên khỏi mặt nước lụt là ở đó đã có lá cờ mới cách đó chỉ mấy ngày đã được Quốc dân Đại hội công nhận là quốc kỳ của nước Việt Nam độc lập. Thật là một cảnh tượng không thể nào quên…

Trong hồi ức của mình Giáo sư Trần Văn Giàu, năm 1945 là người chỉ huy cuộc khởi nghĩa giành chính quyền tại Sài Gòn cũng thuật lại rằng, cho đến lúc quyết định khởi sự cuộc nổi dậy giành chính quyền thì Nam Bộ vẫn chưa nhận được Quân lệnh số 1 của Trung ương gửi vào. Nhưng khi nghe tin Hà Nội đã thành công, thì đó chính là mệnh lệnh phát ra từ trái tim và bản lĩnh của người cách mạng. Với Sài Gòn, cũng như Nam Bộ mới trải qua thất bại đẫm máu của Khởi nghĩa Nam Kỳ thì càng không thể manh động được.

Nhưng tin tức từ Hà Nội và nhiều địa phương khác khiến những người lãnh đạo quả quyết khởi động. Và Sài Gòn, đầu não chính trị ở phương Nam đã giành được chính quyền trong ngày 25-8, chỉ cách 1 tuần sau Hà Nội !

Như vậy, tính năng động từ phía dưới không trái ngược với sự chỉ đạo từ phía trên. Nó là kết quả của một quá trình chuẩn bị lâu dài, của sự tôi luyện qua thử thách thực tế và quan trọng hơn nữa là nó nắm bắt được lòng dân.

Ý chí nhân dân thúc giục lãnh đạo hành động

Ông Lê Trọng Nghĩa, một trong những người lãnh đạo chủ chốt cuộc Tổng khởi Nghĩa ở Hà Nội kể lại rằng: sở dĩ Hà Nội quyết định hành động trước khi nhận được lệnh của Trung ương vì lẽ chính nhân dân đã thức tỉnh, tác động vào những người lãnh đạo. Buổi sáng ngày 17/8/1945, khi cuộc mít tinh do Tổng hội Công chức triệu tập tại Nhà Hát Lớn với mục đích được thông báo là để ủng hộ chính phủ thân Nhật thì những người lãnh đạo của Hà Nội chỉ chủ trương đả phá mục tiêu đó.

Nhưng chính diễn biến của sự kiện, đặc biệt là ý chí của người dân đã thúc giục những người lãnh đạo phải hành động. Ông kể rằng Thường vụ Xứ uỷ Bắc Kỳ Nguyễn Khang vào buổi sáng còn đắn đo bao nhiêu thì sau khi chứng kiến sự kiện và gặp gỡ nhân dân thì đến buổi chiều hăng hái, quyết tâm hành động bấy nhiêu.

Ông Nghĩa khẳng định rằng, chính vì nắm bắt được mạch đập của dân mà người lãnh đạo đã thành công trong một sứ mệnh tưởng chừng vô cùng khó khăn, trong khi mọi sự lưỡng lự hay dao động vào thời điểm này có thể làm thời cơ vượt qua trong khoảnh khắc của lịch sử.

Bài học sâu sắc của cuộc Cách mạng vĩ đại cách đây đã 66 năm cho thấy chỉ khi nào những người lãnh đạo nắm được lòng dân, tin vào sức mạnh của dân, thì những đuờng lối đúng đắn mới trở thành hiện thực trong cuộc sống.

Dương Trung Quốc

TIN LIÊN QUAN

bee.net.vn

Cách mạng tháng Tám qua lăng kính hai sử gia phương Tây

– Lên án cuộc chiến lầm tại Việt Nam ngay thời điểm cao điểm của chiến tranh Pháp – Việt, sử gia người Pháp Phillip Devillers biểu hiện một hành động dũng cảm và sáng suốt. Còn với sử gia David Marr, người Mỹ, tác phẩm Việt Nam 1945 của ông xuất bản lần đầu năm 1995 có thể coi là công trình nghiên cứu sử học chi tiết nhất về Cách mạng 1945 của nước ngoài.

1. Phillip Devillers, người Pháp

Ông là một trong những sử gia phương Tây có cái nhìn sớm nhất và đúng đắn nhất về Cách mạng tháng Tám Việt Nam. Tôi quen ông từ những năm 80, qua một bà bạn chung là nhà thơ nữ Francoise Corrèze. Lần cuối cùng, tôi gặp ông ở Paris vào năm 1997, nhân ngày Quốc tế Pháp ngữ. Chúng tôi cùng được mời nói chuyện một buổi. Ông nói về lịch sử hiện đại Việt Nam và tôi nói về văn hóa Việt Nam. Ông người cao, xương xương, điềm tĩnh, nói nhỏ nhẹ, phát biểu gì cũng viết ra giấy cẩn thận.

Những ngày tháng 8/1945 tại Hà Nội. Ảnh Bản tin ĐH Quốc GiaNhững ngày tháng 8/1945 tại Hà Nội – Nguồn ảnh: Bản tin ĐH Quốc Gia

Cuốn Lịch sử Việt Nam (từ 1940-1952) của ông ra năm 1952, biểu lộ một hành động dũng cảm và sáng suốt, vì lúc đó là cao điểm cuộc chiến tranh Pháp – Việt, ông đã lên án một cuộc chiến sai lầm, điều mà mấy chục năm sau ông chứng minh bằng tư liệu chặt chẽ trong cuốn Paris – Sài Gòn – Hà Nội.

Ông có mặt ở Việt Nam ngay từ khi tướng Leclerc đổ bộ, nên có thể coi ông là một nhân chứng lịch sử. Về Cách mạng Tháng Tám và Việt Minh, ông nhận định:

“Cuộc Cách mạng không phải là sự bùng nổ. Nó là kết quả cuối cùng của sự thấm lọc, điểm nút logic của sự thâm nhập Việt Minh vào tất cả các lĩnh vực quốc gia. Chỉ có một sự tụ hội kỳ lạ các điều kiện mới khiến cho cách mạng thực hiện được.

Việt Nhật lật đổ Pháp đã thay đổi các dữ kiện của vấn đề một cách cơ bản. Cho đến lúc đó, Việt Minh không có cơ may gì hơn Việt Nam Quốc dân đảng (1930) và Đảng Cộng sản Đông Dương (1931) để thắng được cấu trúc mạnh mẽ của Pháp… Bạo lực của Nhật mở ra cho Việt Minh triển vọng mới, do sự phá hủy mọi quyền lực trong nước nhờ vào tình trạng vô chính phủ chung…

Ngày 6/8, trái bom Hirosima nổ tung. Ngày 10/8, Hồ Chủ tịch ra lệnh Tổng khởi nghĩa. Sau Cách mạng, nhờ sự hội tụ kỳ lạ các điều kiện, Việt Minh đã chiếm được một số ví trí chính trị và tâm lý tuyệt vời”.

2. David Marr, người Mỹ

Tác phẩm Việt Nam 1945 của ông xuất bản lần đầu năm 1995 có thể coi là công trình nghiên cứu sử học chi tiết nhất về Cách mạng 1945 của nước ngoài. “Hết sức chi tiết và khách quan, đây là một sự kiện thiết yếu để hiểu nguồn gốc sự dính líu của Mỹ và Việt Nam“.

David Marr là giáo sư Trường đại học Quốc gia Australia. Tuy lâu lâu mới gặp, tôi có dịp cộng tác với ông trong nhiều năm để thực hiện một dự án của Quỹ Ford: Chọn 10 cuốn sách về khoa học xã hội và nhân văn điển hình nhất của phương Tây để dịch và xuất bản cho giới nghiên cứu ở Việt Nam. (Hội đồng tư vấn gồm có David Marr, Phan Huy Lê, Lương Văn Hy, Việt Phương, Hữu Ngọc). Ông Marr dáng người nho nhã, nói năng từ tốn. Ông có bà vợ người Việt, ông nói tiếng Việt giỏi.

Trước khi viết cuốn Việt Nam 1945, ông đã viết Sự chống chủ nghĩa thực dân của Việt Nam (1971) và Truyền thống Việt Nam bị xét xử (1981).

Cuốn Việt Nam 1945 là 13 năm lao động trí óc bền bỉ. Ông Marr đã đi tìm tư liệu ở Mỹ, Pháp, Australia, Việt Nam và ông dệt một bức thảm lịch sử, kết hợp tất cả các nguồn thuộc các đối tác lịch sử khác nhau để đi đến một sự khách quan có thể có được.

Shawn McHale đánh giá cuốn sách là cái nhìn đầy đủ nhất về một trong những năm quan trọng nhất của lịch sử Việt Nam, một cột mốc của sự nghiên cứu Việt Nam, ông cho đây là một cuốn sách tham khảo mẫu mực cho một thời gian dài.

2005
Hữu Ngọc
Lãng du trong Văn hóa Việt Nam, trang 373-374

bee.net.vn