Thư viện

Người tung cờ đỏ sao vàng ở Nhà hát Lớn

QĐND Online – Ngưỡng mộ tên tuổi ông đã lâu, nhưng chỉ đến khi ông nghỉ hưu ở Đài Tiếng nói Việt Nam, về lập ra tờ tạp chí Việt Nam Hương Sắc, tôi mới có vinh hạnh được gặp Nhà báo Trần Lâm; nhất là khi ông bàn giao hẳn công việc cùng chức danh Tổng biên tập cho người khác, thời gian gần gũi ông càng nhiều hơn. Mỗi khi có một thông tin mới, một bài viết hay, tôi đều chạy ngay tới ông, thong thả đọc từng câu viết và lắng nghe ông chỉnh cho từng chữ:

– Lại văn rồi. Chỉ đọc đến chữ ấy thôi. Viết báo cần ngắn gọn, xúc tích, dễ đọc, dễ hiểu, chứ dài dòng làm gì.

– Thế hả bác? Tôi lần nào cũng vậy.

Nhà báo Trần Lâm chậc lưỡi, kéo dài chữ ở cuối câu:

– Ấy thế, chứ còn gì nữa …

Cuộc gặp gỡ trao đổi chỉ có vậy. Nhưng, tùy theo tính chất bài viết của tôi có tác dụng tới đâu trong dư luận mà Nhà báo Trần Lâm đã cử phóng viên khác, làm những công việc tương tự như tôi, bảo vệ tôi, bảo vệ tiếng nói của chính nghĩa. Mãi sau này, khi mọi việc đã êm, ông chỉ cho tôi có bài báo đăng ở báo nọ, báo kia. Tôi mới chợt hiểu và reo lên:

– A! Bác làm như vậy là để bảo vệ cháu. Đúng không bác?

Nhà báo Trần Lâm gật đầu. Tôi xúc động. Trong cuộc đấu tranh chống tiêu cực, chống tham nhũng này, hoạt động đơn phương độc mã của người viết báo thường gặp nguy hiểm, nếu không có những tấm lòng hiệp nghĩa như của Nhà báo Trần Lâm. Từ ngày bị thương cổ xương đùi, ông ít đi lại, chỉ ngồi nghe và viết. Ông ghi nhận xét hàng ngày cho Đài truyền hình Trung ương, viết báo, làm cố vấn cho một số tờ báo. Ông thường bảo: – Cái đầu con người ta phải như cái dao của ông thợ cạo, càng mài bao nhiêu càng sắc, không đọc, không viết tự nó cùn đi…

Mít tinh tổng khởi nghĩa ở Quảng trường Nhà hát lớn Hà Nội 8-1945. Ảnh tư liệu.

Chưa đến chương trình thời sự, ông hay kể cho tôi về thời kỳ hoạt động sôi nổi. Mái tóc dài trắng như cước của bác gái vừa búi gọn ghẽ sau gáy, bác mỉm cười nhắc bác trai đến giờ uống thuốc. Nét đẹp trời phú, dịu dàng của người con gái Hàng Đào với nước da trắng, mắt bồ câu long lanh, sống mũi dọc dừa trên gương mặt tròn ấy, đã hút hồn chàng sinh viên trường Luật Đông Dương năm nào.

– Tôi là con nhà nghèo, có mỗi đôi guốc mộc đi vẹt cả gót. May “trồng cây si” bảy năm, được ông cụ thương học trò nghèo, có chí, gả con gái cho! Tôi có được bà ấy như có cô tiên trong nhà. – Nhà báo Trần Lâm nhìn bác gái cười khà khà.

– Ở Đài, có phát thanh viên Vân Yến là ai, bác nhỉ? – Tôi hỏi.

– Tên bà ấy đấy. Khi đọc phát thanh, bà ấy lấy tên Vân Yến. – Ông nói.

– Dạo ấy, ở Đài ít người, chỉ có chị Dương Thị Ngân và bác đọc phát thanh. Ít lâu, chị Ngân chuyển sang biên tập tin bài, giỏi lắm. Bác đọc nhiều quá, đến năm 1961 bị chùng thanh đới, không nói được mới thôi, phải điều trị mất hai năm ở bệnh viện Việt Xô cơ mà. Tính chưa đủ hai mươi năm nên không được phong nghệ sĩ ưu tú. – Bác gái quay sang tôi, tiếng nói vẫn trong trẻo. – Sau bác làm ở văn phòng. Bác đánh máy tiếng Anh, tiếng Pháp nhanh lắm …

Tôi rót nước dâng trà hai bác:

– Bác ơi, bác kể chuyện hồi còn sinh viên trường Luật tung cờ ở Nhà hát Lớn đi bác.

Mái tóc muối tiêu cắt ngắn của ông nghiêng hẳn sang phía tôi, đôi mắt to sáng lên hào khí cả một thời sôi nổi:

– Năm 1944, tôi học ở trường Luật, dạy thêm ở trường Gia Long và tích cực tham gia phong trào truyền bá chữ Quốc ngữ do cụ Nguyễn Văn Tố (Viện trưởng Viện Khảo cổ học) làm Chủ tịch. Nhờ sớm tiếp cận với Việt Minh, nên cuối năm bốn tư, tôi gia nhập Đội Tuyên truyền xung phong nội thành Hà Nội, một tổ chức của Đảng Dân chủ Việt Nam (ông Dương Đức Hiền làm Bí thư). Tôi vừa học hết chương trình của đại học Luật thì nổ ra sự kiện “Nhật đảo chính Pháp” (9/3/1945). Người Nhật gọi sinh viên trường Luật chúng tôi, tập trung học khẩn trương hai tháng, đào tạo thành quan tri huyện mới của Nhật, thay thế cho lớp tri huyện cũ của Pháp. Tất cả anh chị em sinh viên trường Luật khóa tôi đều tẩy chay hết. Đội tuyên truyền xung phong của tôi hoạt động ngày càng mạnh và có hiệu quả trên địa bàn Hà Nội. Chúng tôi bí mật nghe đài nước ngoài, chọn lọc tin tức, viết thành tài liệu, viết khẩu hiệu, biểu ngữ, rải truyền đơn khắp Hà Nội, ủng hộ Việt Minh. Tôi khoái nhất là đột nhập nhà hát, rạp xinê cắt cầu dao điện, lên diễn thuyết vài ba phút, căng khẩu hiệu rồi nhanh chóng rút ra cửa sau.

Ngày 17/8/1945, tổ tuyên truyền xung phong của chúng tôi được phân công hai việc: Một là, treo lá cờ đỏ sao vàng cực lớn (6m x 8m = 48 mét vuông, do chị Lê Thị Tý là vợ anh Nguyễn Dực may) từ thành cửa sổ khoang giữa tầng hai trải phủ xuống khoang giữa cửa ra vào Nhà hát Lớn, ngay trên đầu ban tổ chức mít tinh của Tổng hội viên chức chính phủ bù nhìn Trần Trọng Kim. Hai là: chiếm diễn đàn đọc lời hiệu triệu của Việt Minh.

Việc thứ nhất, do tôi và anh Nam thực hiện. Cuộc mít tinh bắt đầu, tôi giấu lá cờ, giả làm thợ điện đi lên tầng hai. Khi tới ban công, tôi tung lá cờ đỏ sao vàng lên. Anh Nam giúp tôi một tay buộc vào lan can. Lá cờ đỏ sao vàng to rộng, sáng chói nổi bật trên cao, làm đảo lộn tình thế.

Việc thứ hai, do chị Nguyễn Khoa Diệu Hồng và anh Ngô Quang Châu thực hiện. Cả hai việc, chúng tôi đều hoàn thành xuất sắc. Sau chị Diệu Hồng còn có một đại biểu của Phụ nữ Cứu quốc Hà Nội nhảy lên diễn đàn hô hào nhân dân ủng hộ Việt Minh! Đả đảo chính phủ bù nhìn Trần Trọng Kim! Cuộc mít tinh ủng hộ Việt Minh, chuyển thành cuộc diễu hành của hàng vạn người từ Quảng trường Nhà hát Lớn qua Tràng Tiền, Bờ Hồ, Hàng Đào, Hàng Ngang, Phan Đình Phùng (lúc ấy có tên là Carnot), qua dinh Toàn quyền (lúc ấy là Tổng hành dinh quân Nhật), vòng về Cửa Nam rồi chia ra nhiều ngả …

Đỉnh cao của lòng dân khát khao độc lập tự do là ngày 19/8/1945! Tổng khởi nghĩa thành công ở Hà Nội. Giành được chính quyền về tay nhân dân. Đây là những ngày sôi động nhất của cuộc đời tôi. Những ngày tràn đầy sự kiện ấy, khi tổ chức giao việc là làm ngay, làm hối hả, làm đến nơi đến chốn. Một lời nói của người chỉ huy, một bàn tay ấm nóng vỗ vai với nụ cười tin cậy là mệnh lệnh, là quyết định hành động.

Hà Nội, 8/2011

Trần Minh Thu – (Để tưởng nhớ anh linh Nhà báo Trần Lâm)
qdnd.vn

Cách mạng Tháng 8-1945 ở Sài Gòn: Bạo lực chính trị là chỗ dựa cơ bản, tuyên truyền vận động là đòn chiến lược chủ yếu.

Trong cuốn “Nhìn lại cuộc đời” của chú Huỳnh Văn Tiểng, là một trong số các nhà lãnh đạo cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền của nhân dân Sài Gòn – Chợ Lớn – Gia Định đêm 24 ngày 25 tháng 8 năm 1945 có đoạn viết: Ủy ban khởi nghĩa đóng ở dinh một tướng Pháp đã bị Nhật bắt giam, số 6 đường Colombert (nay là đường Alexandre de Rhodes).

Chủ trương của Ủy ban khởi nghĩa là lấy bạo lực chính trị là chỗ dựa cơ bản, tuyên truyền vận động là đòn chiến lược chủ yếu. Lực lượng Thanh niên Tiền phong đã xâm nhập vào hầu hết các cơ quan của ngụy quyền (chính trị, quân sự, kinh tế) vừa làm nhiệm vụ tuyên truyền vận động vừa chuẩn bị cho kế hoạch đánh chiếm các cơ sở của địch. Kế hoạch của lực lượng Thanh niên Tiền phong là bắt giữ ngay những phần tử phản động chống đối Cách mạng; thu giữ tài liệu quan trọng của địch; bố trí lực lượng canh gác nhằm đối phó với những kẻ phá hoại; có đảng viên trong các cơ sở quan trọng như dinh Thống đốc Nam kỳ (nay là Bảo tàng Cách mạng), nhà máy nước, nhà máy điện, kho lương thực, kho vũ khí … giao cho lực lượng cảnh sát đã được giác ngộ theo cách mạng gìn giữ an ninh trật tự Thành phố; giao cho lực lượng lính khố xanh, lính khố đỏ và lực lượng Hay – Hô (lính Nhật) đã được giác ngộ theo cách mạng canh giữ khu nhà ở của Pháp kiều và các đầu cầu trong yếu.

Ban tuyên truyền do các ông Huỳnh Tấn PhátTrần Bửu Kiếm, Đặng Ngọc Tốt, Nguyễn Việt Nam, Trương Cao Phước… đã đào hầm ngay trong biệt thự của cụ Trương Văn Huyên (thân phụ ông Trương Cao Phước), là tư sản dân tộc và tín đồ đạo Cao Đài, số 90 Richaud (nay là Nguyễn Đình Chiểu) để in tài liệu tuyên truyền của Việt Minh. Kêu gọi mọi người tìm vũ khí chống giặc, trong đó đội Thanh niên Tiền phong ở kho đạn thành Tuy Hạ, Thị Nghè bí mật đào hầm chuyển được mấy chục hòm súng tiểu liên, trung liên và mìn cho Ủy ban Khởi nghĩa, chị Nguyễn Thị Vui (cháu ông Huỳnh Tấn Phát) đã mua được một số lụu đạn và đạn của Nhật; những người làm việc cho Nhật vận động lính Nhật quăng súng xuống sông rồi tìm cách vớt lên…

Đêm 22, sáng 23 tháng 8 năm 1945, cuộc khởi nghĩa điểm ở Tân An đã giành thắng lợi như kế hoạch đã định. Sáng 24 tháng 8 năm 1945, Hội nghị mở rộng kỳ bộ Việt Minh với đại diện các tầng lớp Công, Nông, Thanh, Phụ, đại biểu các tôn giáo đã bầu ra Ban chấp hành Việt Minh Nam Bộ và thông qua kế hoạch Tổng khởi nghĩa giành chính quyền ở Sài Gòn và các tỉnh Nam Bộ.

19 giờ ngày 24 tháng 8 năm 1945, Ủy ban Tổng khởi nghĩa Nam bộ và Sài Gòn họp ở tổng hành dinh, số 6 đường Colombert (nay là đường Alexandre de Rhodes) quyết định phát lệnh tổng khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân.

Đội Thanh niên Tiền phong do ông Ung Ngọc Ky phụ trách đã bắt giam Khâm sai đại thần Nguyễn Văn Sâm và hạ cờ quẻ Ly ở dinh Thống đốc Nam Kỳ để treo cờ đỏ sao vàng của cách mạng.

Sáng 25 tháng 8 năm 1945, hàng trăm ngàn người từ các huyện ngoại thành và các tỉnh Thành phố Chợ Lớn , Tân An, Mỹ Tho, Tây Ninh, Biên Hòa, Thủ Dầu Một kéo về Sài Gòn tham gia cuộc diễu hành biểu dương lực lượng Cách mạng và ra mắt Ủy ban hành chính lâm thời Nam Bộ. Đoàn diễu hành đi từ quảng trường nhà thờ Đức Bà qua đường Catina (đường Đồng Khởi ngày nay) sang đường Quai Belgique (đường Tôn Đức Thắng ngày nay), đường Kichener (đường Nguyễn Thái Học ngày nay), đường Bonard ( đường Lê Lợi ngày nay) rồi quay về tập trung trước dinh Đốc Lý (hiện là trụ sở Ủy ban nhân dân Thành phố).

Sau khi đồng chí Nguyễn Văn Nguyễn thay mặt kỳ bộ Việt Minh Nam bộ giới thiệu các ông Trần Văn GiàuUng Văn KhiêmNguyễn Văn Tạo, Ngô Tấn Nhơn, Phạm Ngọc Thạch, Huỳnh Văn Tiểng và ông Dương Bạch Mai vào Ủy ban hành chính lâm thời Nam Bộ là hàng vạn cánh tay giơ lên và tiếng hò reo vang dội của đoàn người diễu hành biểu thị sự đồng tình ủng hộ kỳ bộ Việt Minh Nam Bộ và thống nhất giao nhiệm vụ quản lý điều hành chính quyền cho các thành viên Ủy ban hành chính lâm thời Nam Bộ.

Bùi Hiển
ubmttq.hochiminhcity.gov.vn

 

 

 

Từ khát vọng Độc lập đến tư tưởng phát triển đất nước

Ngày càng nhiều du khách đến Việt Nam

(VOV) – Giành được độc lập tự do đã trở thành sức mạnh chắp cánh cho dân tộc Việt Nam từ đêm dài nô lệ trăm năm rũ bùn đứng dậy làm chủ vận mệnh của mình, lập nên những kỳ tích trong chiến đấu và dựng xây đất nước.

Ngày 2/9/1945, trên Quảng trường Ba Đình lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh trịnh trọng tuyên bố: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập và thực sự đã trở thành một nước tự do và độc lập”.

Với bản Tuyên ngôn độc lập ngày 2/9, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định với thế giới tư thế đĩnh đạc của một dân tộc tự do, độc lập. Sự đĩnh đạc phải đánh đổi bằng máu xương của cả dân tộc. Khát vọng độc lập tự do đã thôi thúc hàng triệu con dưới ngọn cờ lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Bác Hồ đứng lên như biển dâng sóng trào, nhấn chìm chế độ thực dân, phát xít.

Một khát vọng cháy bỏng mà nói như Hồ Chủ tịch trong những ngày tiền khởi nghĩa là “Dù có đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải giành cho được tự do độc lập”. Cuộc cách mạng ấy có ý nghĩa to lớn vì đem lại cơm no, áo ấm cho dân.

Giáo sư Văn Tạo, nguyên Viện trưởng Viện Sử học Việt Nam, nói: “Cụ Hồ nói: Không có gì quý hơn độc lập tự do. Có độc lập mới có tự do. Có độc lập tự do là quý nhưng nếu dân không được ấm no hạnh phúc thì độc lập có nghĩa lý gì?. Lòng dân có đi với ta hay không là ở chỗ dân có giàu thì nước mới mạnh. Sự thu phục lòng dân của Cách mạng tháng Tám là ở chỗ đi đúng nguyện vọng của nhân dân”.

Hòa chung khát vọng tự do của nhân dân với lý tưởng độc lập mà mình theo đuổi dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác – Lênin, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khơi dậy lòng tự tôn dân tộc, biến thành nguồn lực để dựng xây đất nước. Đó chính là tư tưởng phát triển tiến bộ, là nghệ thuật lãnh đạo của người cầm lái con thuyền cách mạng.

Tuần lễ vàng ngay sau khi Tuyên ngôn độc lập được các tầng lớp nhân dân nhiệt tình hưởng ứng, có người hiến cả chục cân vàng mà không cần một tờ hóa đơn, vì họ tin vào Đảng, vào Bác. Người góp của, góp công giúp đất nước vượt qua nạn đói, ngân khố cạn kiệt được bổ sung đáng kể để kiến thiết quốc gia.

Người dân từ giàu đến nghèo sẵn sàng chung vai sẻ chia gánh nặng cho chính phủ thông qua việc tự tổ chức cuộc sống, chiến đấu, sinh hoạt, học tập trong điều kiện chống cả 3 thứ giặc đe dọa sự tồn vong của chính quyền non trẻ. Với tư tưởng dân chủ tiến bộ, Hồ Chí Minh đã thành lập một Chính phủ có trí tuệ nhất, đại diện nhất cho các giới, các dân tộc ở khu vực Đông nam Á.

Tại thời điểm năm 1945, với 95% dân số mù chữ và vừa thoát khỏi nạn đói, việc làm ấy là một kỳ tích. Phó Giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Trọng Phúc nói: “Từ trong Tuyên ngôn độc lập và sau này trong nhiều bài phát biểu, trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo cách mạng Việt Nam, Bác Hồ luôn khẳng định nước ta là một nước dân chủ. Dân chủ trở thành bản chất của chế độ, là mục tiêu của chế độ và cũng là động lực thúc đẩy sự phát triển của xã hội. Người dân có quyền tham gia vào đời sống chính trị của đất nước, giám sát sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước và chính quyền các cấp. Đó là quyền làm chủ. Khi nói đến quyền làm chủ của dân, dân trở thành chủ thể để thực hiện quyền làm chủ của mình”.

Hồ Chí Minh luôn ý thức rằng muốn xã hội phát triển thì người dân phải được tự do, được nói lên nguyện vọng của mình, được sáng tạo và cống hiến cho đất nước dân tộc mình, học được những bài học từ quá khứ. Chỉ có phát huy dân chủ, mới huy động được sức sáng tạo, huy động được sức mạnh toàn xã hội, đặc biệt là các nguồn lực và con người cho sự phát triển đất nước.

Thực tế cho thấy, nơi đâu, lúc nào xa rời tư tưởng của Hồ Chí Minh về dân chủ, không lắng nghe tiếng nói xây dựng, phê bình của người dân đều dẫn đến trì trệ, suy thoái. Những thành quả quan trọng và có ý nghĩa lịch sử của gần 25 năm đổi mới giúp Việt Nam thoát khỏi tình trạng một nước lạc hậu, kém phát triển là một minh chứng cho điều này.

Thử nghiệm, tìm tòi, lắng nghe tiếng nói từ cơ sở để từ đó từng bước thay đổi cơ chế, chính sách dẫn tới đổi mới tư duy về kinh tế, giải phóng nguồn lực, huy động sức dân cho phát triển. Những kinh nghiệm của quá trình lãnh đạo kinh tế đất nước sẽ giúp cho chúng ta vững vàng để phát triển nhanh, bền vững theo tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Tiến sĩ Lê Đăng Doanh, Chuyên viên cao cấp của Chính phủ phân tích: “Chúng ta đã đạt được mức tăng trưởng ngoạn mục, thu nhập bình quân đầu người đạt ở mức trung bình. Tuy nhiên, tăng trưởng thời gian qua còn dựa quá nhiều vào tiền vốn, vào khai thác tài nguyên thiên nhiên mà ít phát huy các nhân tố về khoa học công nghệ, ít phát huy giá trị gia tăng. Nói cách khác là những gì chúng ta làm được còn chưa xứng với tiềm năng, chưa huy động hết sức mạnh của dân tộc Việt Nam. Về lâu dài chúng ta phải tái cấu trúc nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng. Đặc biệt phải tiếp tục thực hiện các quyền tự do dân chủ mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu trong Tuyên ngôn độc lập và Hiến pháp năm 1946”.

Người xưa từng nói, lấy gương để soi mình thì có thể sửa được đầu tóc, trang phục nhưng lấy lịch sử để soi mình có thể học được những bài học lớn cho phát triển. Cái mới nhiều khi chính là cái đúng đã bị che khuất hoặc lãng quên trong quá khứ được khôi phục và tái xuất hiện.

Thành công về mặt kinh tế của 25 năm đổi mới chính là thành công của việc trở lại với những giá trị đích thực được qui định trong Hiến pháp năm 1946, mà cơ bản là quyền tự do kinh doanh được nâng lên và vận dụng phù hợp với thời đại ngày nay, góp phần xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Kỷ niệm 65 năm Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 2/9 là dịp để chúng ta nhìn lại mình, kiên trì vận dụng những tư tưởng phát triển tiến bộ và đúng đắn của Chủ tịch Hồ Chí Minh dựa trên cơ sở khát vọng độc lập tự do của dân tộc./.

Vân Thiêng
vov.vn

Kỷ niệm 67 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2-9: Cột mốc mở đầu Nhà nước kiểu mới ở Việt Nam

Nền dân chủ cộng hòa Việt Nam được thiết lập cùng với Nhà nước dân chủ nhân dân sau thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945 đã hoàn thành xuất sắc sứ mệnh lịch sử của nó sau 30 năm (từ 1945 đến 1975) và trở thành tiền đề chính trị-xã hội vững chắc để nước ta đi vào xây dựng và phát triển nền dân chủ XHCN khi cả nước tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Cách mạng tháng Tám năm 1945 – một cuộc cách mạng vĩ đại trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam.

Cách mạng tháng Tám năm 1945 do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thành công rực rỡ. Đó là một cuộc tổng khởi nghĩa thần tốc và thần kỳ trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta. Thần tốc vì chỉ trong một tuần lễ, cách mạng đã thành công trong cả nước. Thần kỳ vì từ thành công của cuộc cách mạng này nhân dân ta đã đánh đổ cùng một lúc hai ách thống trị Pháp và Nhật cùng bè lũ tay sai, đưa nước ta từ một nước thuộc địa nửa phong kiến hàng trăm năm trở thành một quốc gia độc lập, tự do; đưa dân tộc ta từ thân phận nô lệ trở thành người chủ của đất nước độc lập tự do. Cách mạng tháng Tám đã khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa – nay là nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Cách mạng tháng Tám đã thiết lập nền Dân chủ Cộng hòa (DCCH) đầu tiên ở nước ta và tạo tiền đề cho sự ra đời nền dân chủ xã hội chủ nghĩa khi cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội. Mục tiêu ” độc lập dân tộc”, “người cày có ruộng” và quyền phổ thông đầu phiếu trong lĩnh vực chính trị đã được thực hiện trọn vẹn. Cách mạng tháng Tám mở đầu thời kỳ phi thực dân hóa ở các nước thuộc địa và phụ thuộc. Từ sau Cách mạng tháng Tám hàng loạt các nước thuộc địa, nửa thuộc địa và phụ thuộc đã vùng đứng dậy đấu tranh giành độc lập dân tộc, tự do và dân chủ ở những mức độ khác nhau; phá tan sự thống trị độc quyền thực dân của chủ nghĩa đế quốc đối với các dân tộc lạc hậu và kém phát triển, buộc chúng phải thừa nhận và tôn trọng quyền độc lập, tự do, dân chủ và chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ của các nước vốn trước đây là thuộc địa của chúng.

Tiền thân của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở nước ta là nền dân chủ cộng hòa Việt Nam được thiết lập ngay sau khi Cách mạng tháng Tám thành công.

Từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, chế độ của ta là chế độ dân chủ nhân dân, thực hiện dân chủ với nhân dân, nhưng đồng thời cũng nghiêm trị những kẻ phá hoại thành quả của cách mạng. Tất cả mọi người dân Việt Nam không phân biệt tầng lớp, chủng tộc, tôn giáo, trẻ già, trai gái đều là người chủ đất nước, đều được hưởng thụ những quyền lợi chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội theo pháp luật quy định. Chỉ sau hơn 4 tháng từ khi Cách mạng tháng Tám thành công, ngày 06 tháng Giêng năm 1946, lần đầu tiên nhân dân ta được thực hiện quyền phổ thông đầu phiếu, dưới sự lãnh đạo của Đảng, bầu ra Quốc hội (khóa I) của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa – Cơ quan quyền lực cao nhất – Tính đến nay nhân dân ta đã thực hiện quyền phổ thông đầu phiếu, bầu ra 13 khóa Quốc hội, dưới sự lãnh đạo của Đảng, đã huy động lực lượng nhân dân ta thực hiện thắng lợi hai cuộc kháng chiến chống đế quốc Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược nước ta; giành độc lập tự do cho dân tộc và tiến lên chủ nghĩa xã hội; tiến hành cuộc đổi mới đất nước, đẩy mạnh sự nghiệp CNH, HĐH và mở rộng hội nhập kinh tế quốc tế phấn đấu năm 2020 đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Điều quan trọng về chính trị là chính quyền từ xã đến Chính phủ trung ương đều do dân bầu ra; đoàn thể từ trung ương đến xã cũng do dân tổ chức. Dân bầu ra người đại diện và có quyền kiểm sát, giám sát và bãi miễn khi không làm tròn sự ủy thác của nhân dân. Nhà nước muốn điều hành, quản lý xã hội hiệu lực, hiệu quả phải dựa vào dân và lấy dân làm gốc. Nhân dân có quyền làm chủ đất nước thì cũng phải có nghĩa vụ làm tròn bổn phận công dân, giúp Chính phủ và làm đúng chính sách để Chính phủ làm tròn phận sự do nhân dân giao phó.

Nền dân chủ cộng hòa Việt Nam được thiết lập cùng với Nhà nước dân chủ nhân dân sau thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945 đã hoàn thành xuất sắc sứ mệnh lịch sử của nó sau 30 năm (từ 1945 đến 1975) và trở thành tiền đề chính trị-xã hội vững chắc để nước ta đi vào xây dựng và phát triển nền dân chủ XHCN khi cả nước tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Ở nước ta, ngay từ khi Đảng ra đời (1930) để lãnh đạo cách mạng, trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên, đã nhất quán chủ trương, đường lối trong giai đoạn cách mạng giải phóng dân tộc là xây dựng và phát triển chế độ dân chủ nhân dân mà mục tiêu cốt lõi của nó là “Độc lập dân tộc, người cày có ruộng” và thực hiện quyền phổ thông đầu phiếu trong lĩnh vực chính trị. Khi chuyển sang giai đoạn cách mạng xã hội chủ nghĩa dựa trên cơ sở kế thừa nền dân chủ nhân dân đã có, phải tiến hành ngay việc xây dựng, phát triển nền dân chủ xã hội chủ nghĩa mà mục tiêu xuyên suốt là:”Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Dân giàu, nước mạnh, dân chủ ,công bằng, văn minh”.

Dân chủ xã hội chủ nghĩa là bản chất của chế độ xã hội mới – xã hội xã hội chủ nghĩa. Xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa là một trong những nhiệm vụ lâu dài và trọng yếu nhằm bảo đảm:” tất cả quyền lực thuộc về nhân dân mà trên nền tảng là liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức do Đảng CSVN lãnh đạo”. Vì vậy, vấn đề trung tâm là phải xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thực sự của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Cùng với Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể nhân dân có vai trò rất quan trọng trong sự nghiệp đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; đại diện bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân, chăm lo lợi ích của hội viên; thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa; tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước; giáo dục lý tưởng và đạo đức cách mạng, quyền và nghĩa vụ công dân, tăng cường mối quan hệ giữa nhân dân với Đảng, Nhà nước.

Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn coi dân chủ là một mục tiêu cơ bản và không ngừng phát triển, hoàn thiện mục tiêu đó. Trong 25 năm đổi mới vừa qua nền dân chủ XHCN ở nước ta không ngừng phát triển, góp phần ổn định chính trị xã hội, thúc đẩy kinh tế phát triển với tốc độ tăng trưởng cao và bền vững, góp phần bảo đảm trật tự, an ninh, an toàn xã hội, đưa nước ta từng bước vững chắc tiến lên theo con đường xã hội chủ nghĩa.

PGS,TS Cao Duy Hạ
daidoanket.vn

Cách mạng Tháng Tám và giá trị của độc lập,tự do

Cách mạng Tháng Tám và giá trị của độc lập,tự do

Ngày 2/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Bản Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa

Nếu chúng ta không vươn lên để đuổi kịp các nước đi trước, chúng ta khó lòng bảo đảm được một cách đầy đủ quyền độc lập của mình – TS. Nguyễn Sĩ Dũng viết.

63 năm đã trôi qua kể từ ngày 19/8 năm 1945 – ngày nhân dân ta, dưới sự lãnh đạo của Đảng, đã làm nên Cách mạng tháng Tám lịch sử. Kỷ niệm ngày này là dịp để chúng ta tiếp tục nhìn nhận về những giá trị mà Cách mạng đã mang lại cho dân tộc.

Độc lập và hội nhập: Hai giá trị to lớn nhất mà tháng Tám đã mang lại cho dân tộc ta là độc lập và tự do. Mặc dù để bảo vệ thành công hai giá trị này, nhân dân đã phải tiếp tục chiến đấu và hy sinh thêm 30 năm nữa.

Độc lập là giá trị vĩnh hằng, nhưng không phải là một giá trị bất biến. Nó luôn luôn phát triển cùng với sự phát triển của dân tộc.

Đất nước Việt Nam đang bước vào một thời kỳ phát triển mới, thời kỳ của hội nhập và toàn cầu hóa. Trong thời kỳ này, độc lập vừa là sự tự chủ, cũng vừa là sự hợp tác với bên ngoài. Độc lập vừa là tinh thần tự lực, tự cường, cũng vừa là sự tiếp thu thành tựu của thế giới, sự tận dụng các nguồn lực của thế giới để vươn lên.

Nếu chúng ta không vươn lên để đuổi kịp các nước đi trước, chúng ta khó lòng bảo đảm được một cách đầy đủ quyền độc lập của mình.

Mối quan hệ giữa tính độc lập và tính phụ thuộc lẫn nhau giữa các dân tộc trong thế giới hôm nay là biện chứng. Không có bản sắc, không có những giá trị đặc trưng của riêng mình, chúng ta khó lòng bổ sung được giá trị gia tăng cho thế giới và khó lòng trở thành một phần cấu thành hữu ích của thế giới.

Tuy nhiên, không tiếp nhận luật chơi chung, không hợp tác và không tận dụng các thành tựu của thế giới, chúng ta sẽ bị gạt ra bên lề và bị bỏ lại phía sau. Độc lập không loại trừ hội nhập, và hội nhập không tước bỏ giá trị của độc lập.

Trong thời Pháp thuộc, chúng ta không có quyền tự quyết, thực dân Pháp đã áp đặt rất nhiều thứ cho dân tộc ta, kể cả hệ thống pháp luật và chế độ chính trị. Ngày nay, chúng ta đã giành được toàn quyền tự quyết. Tuy nhiên, tự quyết không có nghĩa là muốn quyết thế nào cũng được.

Càng hội nhập sâu hơn, chúng ta càng phải có những quyết sách phù hợp hơn với luật chơi chung. Cân đối giữa bản sắc dân tộc và chuẩn mực quốc tế là một sự cân nhắc khó khăn. Tuy nhiên, ngoài tầm trí tuệ, sự nhạy cảm và bản lĩnh của chính mình, chúng ta không thể trông chờ vào sự mách bảo của bất kỳ ai.

Trao cơ hội cho kẻ yếu

Giá trị to lớn thứ hai mà Cách mạng tháng Tám mang lại là tự do. Tự do cũng là một giá trị vĩnh hằng, nhưng cũng không phải là một giá trị bất biến.

Tự do đóng vai trò quan trọng đối với sự giàu có và thịnh vượng của đất nước. Bởi vì tự do là động lực, đồng thời cũng là công cụ để phân bổ tối ưu mọi nguồn lực của đất nước. Không có tự do, một cá nhân không thể phát huy hết tiềm năng và sức mạnh sáng tạo của mình, không thể tự hoạch định và “mưu cầu hạnh phúc” cho mình. Không có tự do, nguồn nhân lực và tài lực của đất nước khó có thể được phân bổ hợp lý tối đa. Tuy nhiên, tự do không đương nhiên mang lại cho chúng ta công bằng – một trong những giá trị mà dân tộc ta đã đổ máu xương để theo đuổi trong gần suốt cả thế kỷ XX và cho đến nay. Ngược lại, tự do và cơ chế thị trường có thể làm cho sự phân cách giàu nghèo có thể ngày càng mở rộng.

Cân đối giữa tự do và công bằng là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của hệ thống chính trị hôm nay. Bởi vì mọi sự thiên lệch đều rất dễ dẫn đến những hậu quả bất lợi.

Nếu chúng ta chỉ coi trọng tự do, tiền sẽ chỉ được tập trung cho những người biết kiếm ra nhiều tiền nhất, đất chỉ được tập trung cho những người biết khai thác đất hiệu quả nhất. Kinh tế nhờ đó có thể sẽ phát triển nhanh chóng hơn. Thế nhưng, đại đa số những người bình thường khác thì thì sẽ ra sao? Xã hội có thể ổn định được bao lâu?

Tuy nhiên, nếu chúng ta chỉ coi trọng công bằng, thì không khéo động lực kinh doanh và sáng tạo sẽ bị triệt tiêu. Trong một xã hội không ai có động lực để làm ra của cải nhiều hơn người khác, thì kinh tế sẽ đình đốn và sẽ xảy ra đói nghèo. Làm như vậy, không khéo chúng ta sẽ trở lại vết xe đổ của thời kỳ bao cấp, một thời kỳ trì trệ và khốn khó.

Như vậy, phải tận dụng cơ chế thị trường, nhưng đồng thời cũng phải phấn đấu để bảo đảm công bằng xã hội. Và nếu triết lý của cơ chế thị trường là kẻ mạnh hơn phải thắng, thì triết lý của dân chủ là kẻ yếu hơn phải có cơ hội.

Kết hợp cơ chế thị trường với việc mở rộng dân chủ và bảo đảm quyền tham gia quyết định của người dân phải là phương châm hành động của chúng ta trong thời kỳ mới.

Nguồn tin: TS. Nguyễn Sĩ Dũng
lagi.gov.vn

Những Nghị quyết Trung ương của Đảng dẫn tới thắng lợi Cách mạng Tháng Tám năm 1945

Tháng 9/1939, Chiến tranh Thế giới thứ hai bùng nổ. Tình hình quốc tế và ở Đông Dương có nhiều biến đổi sâu sắc. Chuẩn bị cho Cách mạng Tháng Tám 1945, Đảng ta liên tiếp tổ chức 3 cuộc Hội nghị Trung ương (lần thứ 6, tháng 11/1939; lần thứ 7, tháng 11/1940 và lần thứ 8, tháng 5/1941) bàn việc chuyển hướng chiến lược, khẳng định nhiệm vụ chủ yếu trước mắt của cách mạng Việt Nam là đánh đuổi đế quốc xâm lược, giải phóng dân tộc, giành chính quyền về tay nhân dân.

Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 (tháng 11/1939) quyết định thành lập Mặt trận Thống nhất dân tộc phản đế Đông Dương thay cho Mặt trận Dân chủ, nhằm đấu tranh đánh đổ thực dân Pháp, vua quan nhà Nguyễn và bọn tay sai, giành độc lập dân tộc, thực hiện tự do, bình đẳng, hòa bình và hạnh phúc cho nhân dân.

Sau Hội nghị Trung ương 6 (11/1939), Nhật nhảy vào Đông Dương. Trung ương Đảng họp Hội nghị lần thứ 7 (tháng 11/1940). Nghị quyết Trung ương 7 nhận định việc Pháp đầu hàng Nhật làm cho Đông Dương rơi vào cảnh “một cổ hai tròng”, vừa bị thực dân Pháp đàn áp, vừa bị phát xít Nhật hành hạ. Kẻ thù mà nhân dân Đông Dương cần phải đánh đổ trong lúc này là thực dân Pháp và phát xít Nhật. Đồng thời, Nghị quyết Trung ương 7 xác định, tính chất của cách mạng Đông Dương vẫn là cách mạng tư sản dân quyền với nhiệm vụ đánh đổ đế quốc, diệt trừ phong kiến, làm cho Đông Dương hoàn toàn độc lập và người cày có ruộng. Nghị quyết còn xác định, quyền lãnh đạo cách mạng tư sản dân quyền Đông Dương là giai cấp công nhân Đông Dương.

Trong thời gian này, ở Việt Nam nổ ra ba cuộc khởi nghĩa do nhân dân các địa phương tiến hành: Khởi nghĩa Bắc Sơn (9/1940); Khởi nghĩa Nam Kỳ (11/1940) và Khởi nghĩa Đô Lương (9/1941).

Hội nghị Trung ương lần thứ 8 (tháng 5/1941) do đồng chí Nguyễn Ái Quốc, đại diện Quốc tế Cộng sản, triệu tập và đề ra Nghị quyết: “Trong lúc này, nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập tự do cho toàn thể dân tộc, thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn năm cũng không đòi được. Tất cả mọi vấn đề của cách mạng, cả vấn đề điền địa phải nhằm vào mục đích ấy mà giải quyết”.

Hội nghị quyết định thành lập Mặt trận Dân tộc thống nhất rộng rãi lấy tên là Việt Nam Độc lập đồng minh, gọi tắt là Việt Minh thay cho Mặt trận Dân tộc thống nhất phản đế Đông Dương, không còn thích hợp với tình hình mới.

Về phương pháp cách mạng, Hội nghị nhận định rằng “cuộc cách mạng Đông Dương kết liễu bằng một cuộc khởi nghĩa vũ trang”. Hội nghị chỉ rõ, khi thời cơ đến, “với lực lượng sẵn có, ta có thể lãnh đạo một cuộc khởi nghĩa từng phần trong từng địa phương, cũng có thể giành sự thắng lợi mà mở đường cho một cuộc tổng khởi nghĩa to lớn”.

Tháng 02/1943, Nghị quyết của Ban Thường vụ Trung ương Đảng họp ở Võng La (Đông Anh) nhận định “kẻ thù số một của dân tộc Đông Dương lúc này không phải tất cả đế quốc chủ nghĩa mà chỉ là đế quốc phát xít, đặc biệt là phát xít Nhật – Pháp”. Hội nghị chủ trương toàn bộ công tác của Đảng trong lúc này phải nhằm vào việc chuẩn bị khởi nghĩa, giành chính quyền.

Ngày 09/3/1945, Nhật đảo chính Pháp, độc chiếm Đông Dương. Tiếp đó, ngày 12/3/1945, Hội nghị Ban Thường vụ Trung ương Đảng mở rộng ở Đình Bảng (Bắc Ninh) Nghị quyết nêu rõ “Nhật Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”. Đồng thời phân tích: Cuộc đảo chính đã tạo ra một tình hình khủng hoảng chính trị sâu sắc làm cho những điều kiện của cuộc khởi nghĩa vũ trang mau chóng đi đến chín muồi. Hội nghị xác định “đế quốc phát xít Nhật là kẻ thù chính – kẻ thù cụ thể trước mắt – duy nhất của nhân dân Đông Dương” và quyết định thay khẩu hiệu “Đánh đuổi phát xít Nhật – Pháp” trước đây bằng khẩu hiệu “Đánh đuổi phát xít Nhật”. Hội nghị nhận định cao trào cách mạng đã bước vào thời kỳ tiền khởi nghĩa, vì thế cần thay đổi các hình thức tuyên truyền, cổ động, tổ chức và đấu tranh cho thích hợp để động viên đông đảo quân chúng tham gia kháng Nhật cứu nước.

Chủ trương của Đảng thực hiện khởi nghĩa từng phần và xây dựng căn cứ địa được thực tế chứng minh là đúng. Căn cứ địa phát triển tới đâu, lực lượng vũ trang, bán vũ trang phát triển tới đó. Đảng nêu cao quyết tâm: “Phải đem sức ta mà giải phóng cho ta”.

Tháng 8/1945, tình thế trực tiếp cách mạng xuất hiện, ngày 13/8/1945, Hội nghị toàn quốc của Đảng Cộng sản Đông Dương chính thức khai mạc ở Tân Trào (Tuyên Quang). Tham dự Hội nghị có đủ đại biểu các đảng bộ Bắc, Trung, Nam và một số đại biểu hoạt động ở nước ngoài.

Sau khi phân tích những điều kiện chủ quan và khách quan, Hội nghị nhận định “Cơ hội rất tốt cho ta giành độc lập đã tới” và quyết định Đảng phải kịp thời phát động và lãnh đạo toàn dân tổng khởi nghĩa, giành chính quyền từ tay phát xít Nhật và bọn bù nhìn tay sai của chúng trước khi quân Đồng minh vào Việt Nam tước khí giới quân đội Nhật.

Sau ba ngày làm việc, Hội nghị toàn quốc của Đảng đã bế mạc vào ngày 15/8/1945 trong không khí cả nước sôi sục khí thế tổng khởi nghĩa.

Ngày 16/8/1945, Quốc dân Đại hội họp ở Tân Trào, tán thành chủ trương Tổng khởi nghĩa của Đảng và bầu ra Ủy ban Dân tộc giải phóng do Bác Hồ làm Chủ tịch…

Bức tranh tái hiện Bác Hồ chủ trì Đại hội Quốc dân tại đình Tân Trào ngày 16/8/1945 để chuẩn bị tổng khởi nghĩa. (Ảnh TL, TNN st)

Cách mạng Tháng Tám 1945 là cuộc cách mạng giải phóng dân tộc. Sức mạnh của nhân dân trong cuộc cách mạng như triều dâng thác đổ. Chỉ trong 15 ngày, từ 14 đến 28/8, nhân dân các địa phương trong cả nước đã nổi dậy, giành chính quyền thắng lợi. Quyền thống trị của bọn đế quốc (Pháp, Nhật) suốt gần một trăm năm và chế độ quân chủ tồn tại hàng nghìn năm đã bị nhân dân ta lật đổ hoàn toàn.

Ngày 02/9/1945, tại quảng trường Ba Đình lịch sử, trước hàng vạn đồng bào Thủ đô, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập, trịnh trọng tuyên bố với quốc dân và thế giới “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do và độc lập”.

NGUYỄN XUYẾN
binhthanh.hochiminhcity.gov.vn

Chuyện kể về những người treo khẩu hiệu ngày Cách mạng Tháng 8

(Dân trí) – Bác nói “Cách mạng tháng Tám là do Đảng lãnh đạo nhân dân đấu tranh gian khổ với thực dân Pháp và phát xít Nhật để giành độc lập tự do cho Tổ quốc, chứ có ai đến giải phóng cho ta đâu mà phải hoan hô họ?!”.

Buổi lễ mít tinh ngày 20/8/1945, tại đường Paul Bert. (ảnh tư liệu)

Những ngày sau Cách mạng tháng Tám, Hà Nội rợp bóng đỏ của cờ và khẩu hiệu. Bấy giờ ta đang chuẩn bị đón quân Đồng minh vào giải giáp vũ khí của quân Nhật đã đầu hàng.

Trên nhiều đường phố của Thủ đô, có những khẩu hiệu được viết bằng các thứ tiếng Việt, Anh, Pháp, Nga trên băng đỏ, chữ vàng: Nước Việt Nam của người Việt Nam, Độc lập hay là chết!, Hoan hô những người giải phóng cho chúng ta…

Một hôm, có hai người tuổi ngoài ba mươi đi trên hè phố, vừa đi vừa hân hoan ngắm nhìn cảnh tượng phố xá tưng bừng như trong buổi mới. Chợt một người chỉ lên một tấm biểu ngữ chăng ngang nói với người kia: “Khoa này, những khẩu hiệu và cờ như choàng cho thủ đô chiếc áo ngày cưới”.

Người vừa nói đó là nhà văn Nguyễn Huy Tưởng, còn người tên Khoa chính là đạo diễn điện ảnh tương lai Phạm Văn Khoa. Hai ông được Hội Văn hóa cứu quốc giao trách nhiệm treo các khẩu hiệu thể hiện ý chí của dân tộc Việt Nam khi quân Đồng minh vào Hà Nội. Công việc được thực hiện, hai ông đi kiểm tra một lượt, đồng thời cũng để tận hưởng niềm vui chiêm ngưỡng thành quả của mình…

Không ngờ, tối hôm ấy, các ông được biết Hồ Chủ tịch chỉ thị phải dỡ bỏ ngay khẩu hiệu Hoan hô những người giải phóng cho chúng ta. Bác nói: “Cách mạng tháng Tám là do Đảng lãnh đạo nhân dân đấu tranh gian khổ với thực dân Pháp và phát xít Nhật để giành độc lập tự do cho Tổ quốc, chứ có ai đến giải phóng cho ta đâu mà phải hoan hô họ?!”. Thế là, ngay lúc đêm hôm, Nguyễn Huy Tưởng và Phạm Văn Khoa mượn xe cam nhông của Tòa thị chính đi các phố gỡ các khẩu hiệu non yếu về chính trị kia…

Câu chuyện này được đạo diễn Phạm Văn Khoa kể trong bài Những lời Bác dạy khi được tin Bác mất. Bài viết thể hiện nỗi tiếc thương vô hạn của tác giả đối với lãnh tụ. Đồng thời cũng là một kỷ niệm có nhiều ý nghĩa về hoạt động của Hội Văn hóa cứu quốc những ngày đầu mà bác Phạm Văn Khoa và cha tôi, nhà văn Nguyễn Huy Tưởng, là hai trong số những thành viên nòng cốt.

Đạo diễn Phạm Văn Khoa (thứ ba từ phải sang) tại một liên hoan phim.

Riêng với tôi, câu chuyện mà bác Phạm Văn Khoa kể đã bổ khuyết rất nhiều cho những gì tôi được biết về bác, trước hết là qua nhật ký của cha tôi – cố nhà văn Nguyễn Huy Tưởng. Tháng 3 năm 1960, cha tôi ghi lại một sự việc mà ông cho là “khá thảm”. Họa sĩ Nguyễn Sáng có một bức sơn mài “Hà Nội trong đêm” được treo ở Câu lạc bộ quốc tế. Do cái tên tranh, người phụ trách câu lạc bộ cho là một đề tài lạc hậu, nên quyết định hạ xuống. Người ta gỡ tranh ra, giữ lại cái khung, còn bức tranh vứt vào một xó rồi gọi bán.

Đạo diễn Phạm Văn Khoa tình cờ đi qua, hỏi giá, thấy nói khoảng 100 đồng thì mừng quá. Ông vội về nhà bán chiếc xe đạp và một số thứ khác nữa cho đủ số tiền (bấy giờ 100 đồng là rất to). Nhưng đến lúc ấy thì cũng đã nhiều người biết chuyện, các vị ngoại giao đoàn và chuyên gia quốc tế nhao nhao hỏi mua. Một người Rumani đã trả tới 700 đồng. Người phụ trách câu lạc bộ thấy thế, đoán bức tranh có giá trị, bèn không bán nữa.

Ghi lại sự việc ấy, cha tôi không có ý định tả chân ai, mà ông chỉ thổ lộ một nỗi “buồn cho nghệ thuật”. Vô hình trung, đạo diễn Phạm Văn Khoa đã tô đậm thêm rất nhiều tính hài hước trớ trêu của câu chuyện. Bấy giờ, xe đạp còn là của quí hiếm. Chỉ một số ít người mới có được.

Với một người đi làm Nhà nước như bác Khoa, chiếc xe đạp là vật không thể thiếu, để đạp đi làm, đi họp, đi liên hệ công tác… Không có nó khác nào như bị chặt chân. Thế mà ông đã dám bán chiếc xe đi, mà là bán vội bán vàng, những mong đổi lấy một nghệ phẩm bị người ta cho là “đề tài lạc hậu”!

Đạo diễn Phạm Văn Khoa quả là người yêu hội họa. Người viết bài này từng có lần được theo mẹ đến thăm đạo diễn. Bấy giờ là đầu năm 1979, đang thời bao cấp khó khăn. Trong lúc bác lúi húi pha trà, bóc bánh mời khách, tôi tranh thủ ngắm nhìn xung quanh. Khắp bốn bức tường nhà bác đều có treo tranh, những bức tranh mà tôi biết là rất quí vì bác vốn là người sành hội họa. Nhưng tôi khó có thể hình dung, làm sao bác có được từng ấy báu vật?

Có lẽ, với một người nổi tiếng quảng giao và lắm bạn như đạo diễn Phạm Văn Khoa, những bức tranh mà bác có là được bạn bè tặng cho, chứ dễ gì lần nào bác cũng có thể bán xe đạp mà mua cho được! Nhưng dù là được cho hay mua được, trước hết phải có lòng say mê nghệ thuật lắm mới được người ta chọn mặt gửi vàng, giao phó cho những bức tranh như thế…

Điện ảnh là nghệ thuật tổng hợp, điều này xem ra thật hợp với đạo diễn Phạm Văn Khoa, tác giả của các bộ phim nhựa nổi tiếng Lửa trung tuyến, Chị Dậu, Làng Vũ Đại ngày ấy… Vợ ông là nữ diễn viên sân khấu Bích Châu, đồng thời cũng là một người chơi piano có tiếng. Căn phòng của ông ở ngõ Phan Chu Trinh, Hà Nội thường vang tiếng dương cầm, mỗi khi có bạn bè đến chơi, muốn thưởng thức âm nhạc.

Ở bài viết này, tôi xin mượn lời một bài báo để được nói về sự say sưa, nhiệt huyết của người nghệ sĩ Phạm Văn Khoa khi làm nghệ thuật, bất kể là sân khấu, điện ảnh hay gì gì đi nữa. Tác giả Trung Sơn, trong bài Đạo diễn Phạm Văn Khoa và mùa thu Hà Nội có kể rằng, năm 1953, ngành điện ảnh quốc gia được thành lập ở chiến khu Việt Bắc. Ông Phạm Văn Khoa ngay từ khi đó đã mơ mộng “rồi ta có xtuy-đi-ô, nào đường ray quay tra-ven-linh, còn đèn pha lóa sáng cả núi rừng…”.

Và mặc dù đang còn phải lo gây dựng cơ quan với tranh, tre, nứa, lá, ông đã nghĩ tới việc làm phim truyện, nên cho khênh ở đâu về chiếc piano cũ kỹ, để chuẩn bị âm nhạc cho các bộ phim tương lai. Thế là, phim chưa biết bao giờ mới làm, nhưng tiếng đàn đã được cất lên trong rừng khuya, nghe thánh thót, sang trọng…

Nguyễn Huy Thắng
dantri.com.vn

Cuộc khởi nghĩa Cách mạng tháng Tám 1945 giành chính quyền về tay nhân dân Cần Thơ

Cuộc khởi nghĩa Cách mạng tháng Tám 1945 giành chính quyền về tay nhân dân Cần Thơ

Ngày 9/3/1945, Nhật đảo chính Pháp, tình hình trong nước hết sức rối ren, cuộc sống của nhân dân càng thêm thống khổ bởi chính sách đàn áp, vơ vét của Nhật. Trước tình hình đó, Ban Thường vụ Trung ương Đảng chủ trương “Đánh đuổi Pháp – Nhật” , phát động phong trào chống Nhật cứu nước, tạo cao trào cho tổng khởi nghĩa. Tỉnh ủy Cần Thơ gấp rút xây dựng Mặt trận Dân tộc Thống nhất, nhanh chóng tập hợp lực lượng nhất là nắm các tôn giáo (Cao Đài, Hòa Hảo). Đồng thời, Liên tỉnh ủy miền Tây được thành lập nhằm củng cố vững chắc cơ cấu lãnh đạo phong trào quần chúng ở các tỉnh miền Tây.

Chớp thời cơ quân Nhật thất thủ và suy yếu trên mặt trận quốc tế, Đảng ta cho xây dựng tổ chức Thanh niên Tiền phong do bác sĩ Phạm Ngọc Thạch đứng đầu vào tháng 5/1945 tập trung thanh niên đi theo cách mạng, đây là kế sách “gậy ông đập lưng ông” khéo léo và kịp thời trước khi Nhật kịp thực hiện âm mưu lôi kéo thanh niên ta vào hàng ngũ của chúng. Ngày 20/6/1945, tổ chức Thanh niên Tiền phong Cần Thơ chính thức thành lập với hơn 7 vạn thanh niên tham gia tổ chức. Song song với lực lượng quần chúng lớn mạnh, lực lượng cán bộ lãnh đạo cũng được củng cố với sự phát triển các chi bộ Đảng tại địa phương. Nhận thấy thời cơ đang đến gần, Tỉnh ủy các địa phương quyết định khẩn trương xây dựng lực lượng vũ trang, tập dượt ngày đêm và chuẩn bị vũ khí cho cuộc tổng khởi nghĩa.

Ngày 12/8/1945, phát xít Nhật đầu hàng Đồng Minh vô điều kiện, quân Nhật đóng tại các nước tê liệt. Ở Đông Dương, chính phủ bù nhìn Trần Trọng Kim sụp đổ. Thời cơ tổng khởi nghĩa đã thực sự chín muồi. Hội nghị toàn quốc của Đảng và Đại hội Quốc dân ra lệnh tổng khởi nghĩa trên toàn quốc. Ngày 17/8/1945, tỉnh ủy Cần thơ họp bàn khởi nghĩa, 19/8 triệu tập hộI nghị thành lập “Ủy ban Dân tộc Giải phóng’.

Cuộc khởi nghĩa tại các địa phương liên tiếp thắng lợi, khí thế cách mạng dâng cao, địch lại càng hoang mang tột độ.

Sáng sớm 26/8/1945, trên 20.000 đồng bào tỉnh Cần Thơ giương cao khẩu hiệu “Chính quyền về tay nhân dân”, “Nước Việt Nam độc lập muôn năm”. Sau khi nghe lời hiệu triệu của Ủy ban dân tộc giải phóng, đoàn biểu tình vũ trang tuần hành khắp đường phố và tập trung tại Dinh Xã Tây đòi Tỉnh trưởng tay sai giao chính quyền lại cho Ủy ban dân tộc giải phóng tỉnh Cần Thơ, trước khí thế hừng hực của quần chúng, tỉnh trưởng Lưu Văn Tào buộc phải chấp nhận yêu cầu của nhân dân, ra lệnh giải tán chính quyền bù nhìn và xin chính quyền cách mạng cho làm công dân của nước Việt Nam độc lập. Cuộc khởi nghĩa ở Cần Thơ đã thắng lợi, chính quyền đã thuộc về tay nhân dân, do Ủy ban dân tộc giải phóng lãnh đạo.

Ngày 28/8/1945, Ủy ban Hành chính tỉnh Cần Thơ được thành lập.

Cùng với cả nước, nhân dân tỉnh Cần Thơ đã đứng lên khởi nghĩa giành chính quyền trong Cách mạng Tháng Tám 1945 thắng lợi. Đây là thắng lợi đỉnh cao của cao trào cách mạng 1929-1945 dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Nguồn tin: cantho.gov.vn
canthotoday.com

Báo chí Việt Nam nói về Cách mạng tháng 8/1945

(VOV5)- Hôm nay 19/8 toàn dân Việt Nam kỷ niệm thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945. Nhân dịp này các báo xuất bản tại Việt Nam đều đăng trên trang nhất nhiều tin, bài về các hoạt động kỷ niệm, cùng các bài xã luận về ý nghĩa và bài học lớn mà cuộc cách mạng này để lại đến nay vẫn nguyên giá trị.

Lễ thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân – tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam ngày nay

Báo Quân đội Nhân dân, trong bài xã luận đăng trên trang nhất, khẳng định: Một trong những bài học quý bái của cuộc cách mạng đó chính là sự quy tụ, tập hợp và phát huy cao nhất sức mạnh của toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại. Cách mạng tháng Tám là một sự kiện diệu kỳ trong lịch sử. Nhiều bài học quý báu về lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức cách mạng đã được Đảng Cộng Sản Việt nam đúc kết và vận dụng thành công trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Đặc biệt, bài học về phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc trong cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945 tiếp tục được Đảng vận dụng, phát huy ở một tầm cao mới. Đảng đã phát huy hiệu quả sức mạnh dân tộc kết hợp với sức mạnh của thời đại, tranh thủ sự giúp đỡ và ủng hộ của các lực lượng tiến bộ trên thế giới, tạo ra nguồn lực để đưa đất nước đến những thành công mới.

Trong bài xã luận nhan đề “Phát huy tinh thần cách mạng tháng Tám, vượt mọi khó khăn, thách thức, vững bước đi lên!”, báo Nhân dân nhấn mạnh: Thành quả và những bài học lịch sử quý báu của Cách mạng tháng Tám là khởi nguồn của những thắng lợi vĩ đại mà nhân dân Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã giành được trong các cuộc kháng chiến cứu nước, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước mà đỉnh cao là chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ 1954, đại thắng mùa xuân 1975.

Mang tinh thần Cách mạng tháng Tám vào trận tuyến chiến thắng nghèo nàn, lạc hậu và kém phát triển, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trong công cuộc đổi mới suốt 26 năm qua, tạo thế và lực đưa đất nước tiến vào thời kỳ phát triển mới, thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

VOV5
vovworld.vn

GS.DS. Đỗ Tất Lợi và những ngày Tháng Tám sôi sục

Kỷ niệm Ngày Cách mạng tháng tám thành công (19/8/1945):

LTS: GS. Đỗ Tất Lợi sinh ngày 1/2/1919 tại Phù Xá, Kim Anh, Phúc Yên (nay là Phú Minh, Sóc Sơn, Hà Nội). Phụ thân là ông Đỗ Văn Kiêm, một người trồng na, nuôi hươu. Do vậy, từ bé cậu Lợi đã yêu thích cỏ cây, chim thú. Ông nội của Đỗ Tất Lợi là Đỗ Văn Phong do hoạt động trong phong trào Đông Kinh nghĩa thục mà bị thực dân Pháp đầy biệt xứ. Sau này ông cụ trốn về nước tiếp tục hoạt động bí mật chống Pháp cho đến lúc qua đời tại Chợ Lớn. Truyền thống yêu nước của gia đình cộng với nhận thức của bản thân đã góp phần tạo nên một nhà khoa học yêu nước sau này. Nhân dịp kỷ niệm Cách mạng Tháng Tám, chúng tôi xin trích đăng bút ký Nhà bác học thuốc Nam của GS. Hàm Châu viết về cố GS.DS. Đỗ Tất Lợi với những dòng hồi ức của chính giáo sư về những ngày tháng 8 lịch sử.

Ai dán báo Việt Minh nơi tủ kính?

Năm 1944, trong toàn cõi Đông Dương thuộc Pháp, chỉ có 6 người tốt nghiệp dược sĩ đại học. Đỗ Tất Lợi nằm trong con số ít ỏi ấy.

Ông thuê một ngôi nhà ở góc Bờ Hồ – Hàng Gai để mở hiệu thuốc, một vị trí lý tưởng chỗ ngã năm.

Đêm 9/3/1945, Nhật đảo chính Pháp.

Khi DS. Lợi vừa chữa xong ngôi nhà, treo biển, thì bọn Nhật đến, đòi chiếm lấy để làm phòng thông tin! Chả là vì nơi đây đông người qua lại. DS. Lợi không chịu. Nhưng, cuối cùng, đành nhượng bộ cho chúng sử dụng hai tủ kính về phía Bờ Hồ để dán mấy tờ báo thân Nhật. Hằng ngày, nhân viên phòng thông tin của chúng từ phố Tràng Tiền đến thay báo, rồi yêu cầu ông dược sĩ… “trông coi”!

Một buổi sáng, trong khi ông đang mải miết làm việc, thì bỗng thấy phía trước tủ kính người đông nghịt! Có gì lạ vậy? Thì ra Việt Minh đã lọt vào hiệu thuốc từ lúc nào rồi, bóc mấy tờ báo phản động kia đi, dán vào đấy mấy số báo Cứu Quốc! Mấy số báo ấy DS. Lợi đã đọc trước đó, nhưng phải đọc lén vào lúc nghỉ trưa, sau khi khoá trái các cửa, nhân viên ra ngoài hết cả rồi. Kiến trúc sư Ngô Huy Quỳnh, một người bạn thân thời trung học, chuyển cho ông đọc đều đặn báo của Việt Minh.

Ai dám dán mấy số báo kia ngoài tủ kính thế nhỉ? Ông cảm thấy vừa mừng, vừa phục, vừa lo. Nếu bọn Nhật đến, sẽ phải đối phó sao đây? Chưa biết thế nào, nhưng thôi, ông cứ liều kéo dài thời gian mở cửa hiệu thuốc tới 10 giờ đêm (thường chỉ tới 5 giờ rưỡi chiều) cho dân chúng tha hồ xem báo.

KTS Ngô Huy Quỳnh có người cháu gái là Ngô Minh Nguyệt làm công ở hiệu thuốc. Về sau, DS. Lợi mới biết Nguyệt là người của Việt Minh. Cô đưa cho ông mấy tờ tín phiếu để ông mua, góp quỹ Việt Minh. Rồi cô khuyên ông nên quyên góp thuốc sốt rét, thuốc đỏ, bông băng gửi lên chiến khu Cao – Bắc – Lạng…

Người thứ hai, anh Phạm Văn Phong, nhân viên thu tiền ở hiệu thuốc, hoá ra cũng là cán bộ Việt Minh!

Thảo nào mà mấy số báo Cứu Quốc kia được dán ở hai cái tủ kính!

Lễ Tuyên ngôn độc lập tại Quảng trường Ba Đình – Hà Nội ngày 2/9/1945 (Hình ảnh tư liệu Cách mạng Tháng Tám năm 1945).

Tay không, chiếm trại bảo an binh

Với bản tính sôi nổi, chân thành và cởi mở, GS Đỗ Tất Lợi kể lại những ngày đầu “non nớt” đến với cách mạng.

“Năm 1945, tôi mới 26 tuổi, còn trẻ lắm. Rất may – ông nói – tôi được gần gũi nhiều cán bộ Việt Minh, từ kiến trúc sư Ngô Huy Quỳnh đến cháu Ngô Minh Nguyệt. Tôi coi việc giành độc lập là tiên quyết. Phải có độc lập rồi, thì người trí thức “bản xứ” mới được tôn trọng. Cho nên anh Quỳnh, cháu Nguyệt bảo tôi làm gì cho công cuộc giải phóng, là tôi làm liền; nếu bảo cần đóng cửa hiệu thuốc, tôi cũng sẵn lòng.

Giờ Tổng khởi nghĩa tới rồi! Tôi cho may một lá cờ đỏ sao vàng thật to treo trước cửa hiệu thuốc. Ông Hoàng Mộng Giác, một dược sĩ già ở gần phố Hàng Gai, ngạc nhiên chỉ vào lá cờ đỏ to tướng ấy, hỏi tôi bằng tiếng Pháp: “‘Tu es communiste, toi?” (Cậu là cộng sản, chính cậu?) Tôi trả lời ngay: “Pourquoi pas?” (Tại sao không?) Thú thật, khi trả lời như vậy, tôi chẳng biết Việt Minh có phải là cộng sản hay không! Và cộng sản là như thế nào, tôi cũng chẳng rõ! Tôi chỉ biết, những lời kêu gọi, những điều viết trên báo Cứu Quốc và những việc làm của cán bộ Việt Minh thì ai là người Việt Nam có chút lòng yêu nước cũng phải tán thành.

Chưa bao giờ tôi say sưa vui sướng hơn những giờ phút theo đoàn biểu tình đi chiếm trại bảo an binh ngày 19-8! Đến gần trại, tôi cố len lên phía trước để được nhìn tận mắt và được góp sức vào việc chiếm trại. Vào được trại rồi, bỗng nghe tin lính Nhật kéo đến vây! Có thể đổ máu? Tôi xin phát súng để bảo vệ cái trại ta vừa giành được. Nhưng rồi, tôi bỗng cảm thấy sợ. Một số người khác cũng cứ nói liều là họ biết dùng súng, nhưng khi được phát, lại bóp cò nổ đì đẹt lung tung! Không khéo tôi chết oan vì mấy “ông tướng” này mất! Chẳng làm sao biết được ai là người chỉ huy giữa đám đông nhốn nháo!

Cũng may, cuối cùng, ta thuyết phục được bọn Nhật: Tokyo đã đầu hàng rồi, vậy thì ở Hà Nội, bọn họ còn can thiệp vào chuyện Việt Minh chiếm trại bảo an binh để làm gì cơ chứ?”

Tiền quan kim và súng Pạc-hoọc

Trong lúc chờ quân Đồng Minh vào tước vũ khí, bọn Nhật rất hoang mang. DS Lợi nhân cơ hội ấy, dùng tiền mua súng do chúng giấm giúi mang đến bán. Ông vẫn nghe đồn “quân đội thiên hoàng” có tinh thần “võ sĩ đạo”, rất trọng danh dự. Nhưng sự thật đâu phải vậy! Ông mà cả, mua được hai khẩu Côn, một loại súng ngắn rất tốt, cho mình và cho người anh vợ (chính là người bán hàng ở hiệu thuốc). Ông còn mua thêm một khẩu súng trường Anh-đô-si-noa, một khẩu các-bin với 500 viên đạn sáng choang cho tự vệ làng hoa Hữu Tiệp. Có súng, có đạn rồi, anh em liền mở hội thi bắn. Không ngờ ông dược sĩ trẻ bắn giỏi nhất làng hoa!…

Quân Tàu Tưởng vào giải giáp quân Nhật. Chúng bắt dân ta tiêu đồng tiền giấy “quan kim” với cái giá hối đoái ngất ngưởng cao hơn giá trị thực  nhiều lần. Ở Quảng Đông dạo đó, nghe nói, muốn ăn một bát sủi cảo, phải xách theo cả một cái bị to tướng thứ tiền… “khỉ gió” kia!

“Hôm đó, một tên Tàu Tưởng đến mua thuốc – GS. Đỗ Tất Lợi kể. Nó hỏi giá tiền Việt, nhưng rồi đưa trả bằng tiền quan kim. Người anh vợ tôi  không chịu bán. Nó cứ giằng lấy thuốc. Anh ấy giằng lại, rồi giận dữ hô lên “tả lớ!” (đánh bỏ đời!) Tên này bỏ đi. Nhưng, lát sau, hắn quay lại cùng một tên khác mang súng Pạc-hoọc. Biết chuyện lôi thôi to, anh ấy tránh mặt. Vừa lúc đó, tôi bước ra. Súng Pạc-hoọc gí sau lưng, chúng áp giải tôi tới nơi “xét xử” ở cuối dốc Hàng Than. Chúng giam tôi vào một căn phòng có nhiều người dân thường đã bị chúng đánh nhừ đòn. Sờ trong túi quần, tôi bỗng thấy còn mấy viên đạn súng ngắn! Vứt đâu bây giờ? Tôi bèn lẻn vào hố xí, ném xuống đống phân. Tôi vừa bước ra, thì chúng gọi tới tên tôi! May mà trong khi chúng áp giải tôi đi cả một chặng đường dài, từ đầu phố Hàng Gai đến cuối dốc Hàng Than, người anh vợ tôi đã kịp chạy đến gặp một ông bạn người Hoa quen tên chỉ huy Tàu Tưởng, nhờ can thiệp. Thế nên chúng mới chịu thả tôi về. Nếu không, chắc chúng cũng đã đánh tôi nhừ tử!

Ngày ấy, tôi chưa thấu hiểu những nỗi gian truân của Ông Cụ, nên thầm trách Chính phủ ta mềm yếu quá, nhượng bộ bọn Tàu Tưởng nhiều quá! Cứ lùi mãi thế này, chưa biết chừng lại để mất nước một lần nữa đây!…”.

GS.DS. Đỗ Tất Lợi (bên trái) cùng GS. Hàm Châu – Tác giả bút ký Nhà bác học thuốc Nam.

Tây mũ đỏ ngáng xe, gây hấn

Tháng 12/1946, tình hình Hà Nội hết sức căng thẳng.

DS. Đỗ Tất Lợi vừa dắt xe đạp ra khỏi hiệu thuốc Huỳnh Quang Đại (ở đầu phố Bà Triệu ngày nay), tay xách một cái cặp da đựng tiền và khẩu súng ngắn, thì một tên lính Tây mũ đỏ chạy ra ngáng xe, bắt dừng lại. Nhiều người đi đường lo lắng cho ông, nhưng chẳng ai dám đến gần.

– Mày là tự vệ?

– Tôi là dược sĩ.

Tưởng trả lời như vậy là yên, vì nhìn bộ côm-plê khá sang ông mặc, chắc nó cũng nghĩ ông nói đúng. Không ngờ nó vặn lại:

– Dược sĩ à? Nếu vậy, thì chính mày lấy hoá chất cho vào nhân bánh, khiến chúng tao ăn… đau bụng!

– Tôi không biết làm bánh.

– Mày không biết làm bánh thì bạn mày làm.

– Tôi không có người bạn nào biết nghề làm bánh cả.

Tên lính đưa tay lên sờ túi trong áo vét-tông của ông, chắc là để moi tiền. Ông hoảng quá! Kêu với ai bây giờ? Mọi người chỉ đứng xa nhìn, nào có ai dám đến gần can thiệp! Ông sợ nhất là nó lục chiếc cặp da! Trong cặp có khẩu súng ngắn, thì thật khó cãi mình không phải là tự vệ!

Nhưng rồi, chẳng hiểu sao, nó bỗng để ông đi. Có lẽ do số người đi đường dừng lại xem mỗi lúc một đông, với vẻ mặt đầy căm phẫn.

Đêm 19/12/1946, đèn thành phố vụt tắt. Nhận biết mật hiệu nổ súng đánh Pháp, DS. Đỗ Tất Lợi vui sướng vô cùng! Đúng rồi! Chính phủ ta chỉ nhượng bộ đến một mức nào thôi. Vượt quá cái mức đó, thì phải đánh!

Hàm Châu
suckhoedoisong.vn

Giá trị trường tồn của Cách mạng tháng Tám 1945

(VOV5)- Đúng ngày này cách đây 67 năm, dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, nhân dân Việt Nam  từ Bắc chí Nam đồng loạt vùng dậy tiến hành cuộc cách mạng tháng Tám giành chính quyền, thành lập nhà nước công – nông đầu tiên ở Đông Nam Á, mở ra kỷ nguyên độc lập, tự do cho dân tộc Việt Nam. Tầm vóc vĩ đại của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến nay vẫn còn nguyên giá trị.

Ảnh tư liệu

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là một trong những trang sử vẻ vang nhất trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam. Bằng thắng lợi của cuộc Cách mạng này, nhân dân Việt Nam đã đập tan ách phát-xít Nhật, lật đổ ách thống trị của thực dân Pháp gần 100 năm, xóa bỏ chế độ phong kiến hàng nghìn năm, đưa đất nước bước sang kỷ nguyên mới – kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Ông Thái Vĩnh, lão thành cách mạng ở Hà Nội, nói: “Cách mạng tháng Tám là cuộc đại đồng khởi toàn dân sau 15 năm chuẩn bị dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam. Đây là một kỳ tích của dân Việt Nam trong thế kỷ 20. Một cuộc đổi đời lớn cho tất cả các tầng lớp, các dân tộc, các cộng đồng. Nó là một bước chuyển vĩ đại không chỉ của dân tộc Việt Nam  mà còn là của các dân tộc bị áp bức trên thế giới”

Chuyên gia sử học người Pháp Alain Ruscio, người có nhiều gắn bó với lịch sử Việt Nam cho rằng, với cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945, dân tộc Việt Nam đã làm nên điều kỳ diệu, bước ra từ thân phận dân tộc nô lệ và trở thành dân tộc làm chủ, tự quyết định vận mệnh và tương lai của mình. Cách mạng Tháng Tám thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, đã đem lại niềm tin tự giải phóng, cổ vũ mạnh mẽ cuộc đấu tranh của các dân tộc bị áp bức chống ách nô dịch của chủ nghĩa đế quốc, mở ra thời kỳ tan rã của chủ nghĩa thực dân trên toàn thế giới:”Thắng lợi của cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945 của Việt Nam  là sự tất yếu mang tính logic trong lịch sử phong trào đấu tranh của dân tộc Việt Nam. Đây là sự kiện trọng đại của cả dân tộc Việt Nam. Đặc biệt, Việt Nam là dân tộc đầu tiên trong số các dân tộc trên thế giới bị thực dân Pháp đô hộ đã thành công trong cuộc kháng chiến của mình. Thắng lợi của cuộc cách mạng tháng Tám năm 1945 đã có ảnh hưởng rất lớn tới phong trào đấu tranh đòi độc lập của các nước thuộc địa trên thế giới lúc bấy giờ, nhất là các nước ở châu Phi. Khi đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh là người có vai trò quan trọng, là người đầu tiên tuyên bố độc lập ở một nước thuộc địa”

Cách mạng tháng Tám năm 1945 đã tạo dấu ấn sâu sắc trong lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc. Vì ở đó, đường lối đấu tranh của Đảng cộng sản Việt Nam trùng khớp với ý nguyện của nhân dân; thiên tài của lãnh tụ Hồ Chí Minh đã tỏa sáng cùng trí tuệ của dân tộc… Tất cả đã tạo thành con sóng nhấn chìm chế độ thực dân phong kiến, đưa nhân dân Việt Nam bước vào kỷ nguyên độc lập, tự do. Trung tướng Phạm Hồng Cư, nguyên phó chủ nhiệm Tổng cục chính trị, Quân đội nhân dân Việt Nam, nêu rõ: “Có thể nói khí thế của toàn dân lúc đó rất sục sôi nổi dậy khi thời cơ đã đến. Cuộc cách mạng này gần như không phải nổ súng, không phải đổ máu mà vẫn giành được chính quyền. Cho nên, khí thế toàn dân nắm lấy thời cơ, ngày 19-8 giành chính quyền ở Hà nội, sau đó gần 1 tuần đã giành chính quyền trong toàn quốc, đó là một thành công rất lớn mà trước hết nó xuất phát từ tư tưởng Hồ Chí Minh về cuộc khởi nghĩa này.”

Cách mạng Tháng Tám đã cho những bài học lịch sử quý báu, mãi mãi soi sáng các chặng đường cách mạng Việt Nam. Ðó là bài học giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; xác định và kết hợp đúng đắn các nhiệm vụ chiến lược trong từng thời kỳ cách mạng; bài học về phát động sức mạnh toàn dân tộc; bài học thực hiện triệt để phương châm “thêm bạn bớt thù”; bài học về nghệ thuật khởi nghĩa, nghệ thuật tạo thời cơ và nắm bắt thời cơ; bài học về xây dựng một Đảng Mác – Lê-nin có bản lĩnh chính trị vững vàng, gắn bó mật thiết với nhân dân. Giá trị lịch sử và bài học Cách mạng tháng Tám năm 1945 không chỉ soi sáng các chặng đường cách mạng Việt Nam mà còn vẹn nguyên trong thời điểm VN tiến hành công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và hội nhập quốc tế hiện nay.

Giáo sư, Tiến sỹ Vũ Văn Hiền, thành viên của Hội đồng lý luận Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam, nói: “Trong cách mạng tháng 8 có một khẩu hiệu rất nổi tiếng là “Nhật -Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”. Biết được tình huống như vậy, Đảng cộng sản Việt Nam đã chỉ đạo rất chính xác, tiến hành khởi nghĩa tháng 8. Trong điều kiện hiện nay, không phải có những tình huống cách mạng như ngày xưa nhưng chúng ta có thể nhìn trước trông sau, đoán định các tình huống phát triển của thế giới, biết được các lực lượng thế giới, biết được các mâu thuẫn trong thế giới, biết được mặt thuận, mặt nghịch trong thế giới hiện nay. Từ đó, chúng ta sẽ có những bài toán để mà phát triển tốt và giải quyết được những vấn đề đang đặt ra.”

Cách mạng tháng Tám năm 1945 là thành quả rực rỡ của khát vọng lòng dân, của sức mạnh đại đoàn kết dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng và lãnh tụ Hồ Chí Minh. Khát vọng cao cả ấy luôn là nguồn sức mạnh vô biên đồng hành cùng dân tộc, cổ vũ các thế hệ hôm nay vững tin tiến về phía trước./.  

Thu Hoa
daibieunhandan.vn

Cách mạng Tháng Tám 1945 – Cuộc hồi sinh vĩ đại của một dân tộc đoàn kết

Cách mạng tháng Tám 1945 – đây chính là cuộc hồi sinh vĩ đại của một dân tộc đoàn kết: thực sự đoàn kết, biết đoàn kết và đoàn kết đúng lúc, kịp thời…

Cách đây vừa tròn 60 năm, chỉ trong khoảng thời gian chừng hai tuần lễ cuối tháng 8/1945, toàn dân tộc ta dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương, Mặt trận Việt Minh và lãnh tụ Hồ Chí Minh đã nhất tề vùng lên trong một cuộc Tổng khởi nghĩa, kiên quyết giành lấy quyền tự mình quyết định vận mệnh của dân tộc, Tổ quốc và của mỗi cá nhân con người như một nhân cách tự do trong một cộng đồng tự do. Sự kiện đó được nghi nhận trong lịch sử dân tộc ta là cuộc “Cách mạng tháng Tám 1945″. Đây chính là cuộc hồi sinh vĩ đại của một dân tộc đoàn kết: thực sự đoàn kết, biết đoàn kết và đoàn kết đúng lúc, kịp thời.”

Đoàn kết là bài học có tính quy luật đã được tổng kết và kiểm chứng nhiều lần trong lịch sử dựng nước và giữ nước hàng nghìn năm của dân tộc ta. Hơn nữa, đoàn kết đã trở thành một giá trị tiêu biểu trong nền văn hoá chính trị Việt Nam, truyền thống cũng như hiện đại.

Tuy nhiên, nhìn lại lịch sử dân tộc ta, để đạt được sự đoàn kết dân tộc là một điều không dễ dàng. Đoàn kết không phải là điều hiển nhiên, cho dù đã trở thành một quy luật lịch sử. Thực tế này có cội nguồn sâu xa trong quá trình hình thành và phát triển của dân tộc Việt Nam. Bất cứ ai cũng có thể nhận thấy rằng có rất nhiều sự dị biệt, đa dạng cùng tồn tại trong lòng một dân tộc Việt Nam thống nhất. Thứ nhất, Việt Nam là một dân tộc đa sắc tộc với không ít các sắc tộc xuyên biên giới (cross-border minorities). Sự đa dạng về sắc tộc tạo nên sự đa dạng, phong phú trong sắc thái văn hoá, nhưng đồng thời cũng luôn luôn hàm chứa những nguy cơ phân biệt, chia rẽ, mất đoàn kết. Thứ hai, trong hành trình dựng nước, đặc biệt là trong quá trình người Việt tiến dần về phía Nam, cùng với việc một số cộng đồng dân cư khác gia nhập vào cộng đồng dân tộc, bản sắc văn hoá Việt Nam ngày càng trở nên đa dạng, phong phú hơn. Tuy nhiên, điều đó cũng có nghĩa là những dị biệt về văn hoá giữa các tộc người và giữa các vùng miền trở nên rõ nét và phức tạp hơn. Hơn nữa, Việt Nam còn là quốc gia đa tôn giáo.

Những dị biệt về sắc tộc, tôn giáo và văn hoá ấy trong những hoàn cảnh lịch sử nhất định đã kết hợp với những mâu thuẫn xã hội giữa các giai cấp, các nhóm người khác nhau tạo nên tình trạng xung đột, thậm chí là những cuộc nội chiến kéo dài. Tuy cuối cùng xu hướng thống nhất dân tộc và truyền thống đoàn kết tương thân, tương ái vẫn thắng thế và được khẳng định là xu hướng chủ đạo, nhưng thực tế lịch sử cũng đã chỉ ra rằng để đạt được sự đoàn kết dân tộc và thống nhất đất nước không phải là điều dễ dàng. Dân tộc ta cần phải luôn luôn tự mình học cách đoàn kết, và chỉ khi nào khối đoàn kết dân tộc được củng cố vững chắc thì nội lực dân tộc mới có cơ hội phát huy tốt, đất nước trở nên thái bình, thịnh trị, dân chúng yên vui, hạnh phúc.

Từ giữa thế kỷ XIX nước ta bị rơi vào ách đô hộ của thực dân Pháp. Một trong những nguyên nhân cơ bản nhất đã dẫn đến hoạ mất nước chính là khối đại đoàn kết dân tộc đã bị xói mòn nghiêm trọng.

Trong suốt gần 100 năm đô hộ nước ta, núp dưới chiêu bài của “sứ mệnh khai hoá văn minh” thực dân Pháp đã thực thi chính sách “chia để trị” rất thâm độc, hòng khoét sâu thêm những dị biệt vốn có, làm cho các mâu thuẫn và những xung đột nội bộ trong lòng dân tộc Việt Nam ngày càng trở nên gay gắt hơn, do đó làm cho khối đoàn kết dân tộc của người Việt Nam không thể nào được khôi phục và phát triển được.

Từ rất sớm các lãnh tụ của phong trào yêu nước như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh.v.v. đã sớm nhận ra rằng chừng nào toàn dân tộc ta chưa thực sự đồng tâm, nhất trí, đoàn kết lại dưới một ngọn cờ thì chừng đó dân tộc ta chưa thể tự mình giải phóng khỏi ách đô hộ của thực dân Pháp. Chính vì vậy các cụ không ngừng kêu gọi lòng “ái quốc” và sự “đồng tâm” của mọi mọi hạng người, của toàn dân tộc:

 Nghìn muôn ức triệu người chung góp,

Gây dựng nên cơ nghiệp nước nhà…

– Có trời, có đất, có ta,

Đồng tâm như thế mới là đồng tâm!

Lời kêu gọi “đồng tâm” thống thiết của Phan Bội Châu và các lãnh tụ yêu nước hồi đó đã góp phần thức tỉnh ý thức dân tộc và lòng yêu nước của nhiều lớp người Việt Nam từ đầu thế kỷ XX. Song, lời kêu gọi dù thống thiết đến đâu mà thiếu cơ sở lý luận, thiếu những phương tiện, biện pháp cụ thể thì khối đại đoàn kết dân tộc cũng không thể trở thành hiện thực được. Đây cũng chính là một trong những nguyên nhân căn bản nhất dẫn tới sự thất bại của các phong trào yêu nước Việt Nam cho tới trước khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời.

Sau nhiều năm bôn ba tìm đường cứu nước, lãnh tụ Nguyễn ái Quốc đã tìm đến với chủ nghĩa Mác – Lênin, học thuyết cách mạng tiên tiến nhất của thời đại. Năm 1924, Người từ Liên Xô về Quảng Châu (Trung Quốc), lập ra Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên (gọi tắt là Thanh Niên), quy tụ những thanh niên – trí thức yêu nước ưu tú, mở nhiều lớp huấn luyện để đào tạo họ thành một lớp cán bộ tài năng, chuẩn bị cho sự nghiệp Dựng Đảng – Cứu nước vĩ đại. Ngay từ những bài học đầu tiên, Người đã chỉ ra, rằng: “Kách mệnh là việc chung cả dân chúng chứ không phải việc một hai người” (Đường kách mệnh).

Trong những năm sau đó, dưới ảnh hưởng của Thanh Niên, phong trào yêu nước và cách mạng Việt Nam đã phát triển rất sôi nổi, đòi hỏi phải thành lập đảng cộng sản để đưa phong trào tiếp tục tiến lên. Nhưng rất tiếc là chính vào thời điểm này, lực lượng yêu nước và cách mạng lại bị phân liệt sâu sắc. Bên cạnh Việt Nam Quốc dân Đảng (thành lập năm 1927), từ giữa năm 1929 đến đầu năm 1930 đã xuất hiện ở Việt Nam ba tổ chức cộng sản. Các tổ chức này cùng tích cực vận động quần chúng công nông, nhưng lại không tránh khỏi công kích nhau. Đây chính là tình trạng mất đoàn kết nghiêm trọng, cản đường phát triển của phong trào yêu nước và cách mạng Việt Nam. Đúng lúc đó, lãnh tụ Nguyễn ái Quốc kịp thời xuất hiện, với uy tín và tài năng của mình đã đứng ra thống nhất các tổ chức cộng sản và lập ra Đảng Cộng sản Việt Nam vào ngày 3/2/1930. Điểm thứ nhất trong “Năm điểm lớn” được Nguyễn ái Quốc đưa ra, coi như nguyên tắc để gạt bỏ các bất đồng trước đó và đi tới thống nhất phong trào cộng sản Việt Nam là: “Bỏ mọi thành kiến xung đột cũ, thành thật hợp tác để thống nhất các nhóm cộng sản Đông Dương.

Sự ra đời của Đảng với đường lối chiến lược và sách lược đúng đắn là một bước ngoặt quan trọng của cách mạng Việt Nam, tạo ra nhân tố hạt nhân quy tụ sức mạnh đoàn kết dân tộc, kết hợp chặt chẽ sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại. Đây là tiền đề quan trọng nhất cho những bước phát triển tiếp theo và cho thắng lợi hoàn toàn của cuộc đấu tranh giải phóng và cho cuộc hồi sinh của dân tộc.

Ngay sau khi Đảng ra đời, một cao trào cách mạng sôi nổi đã diễn ra trên phạm vi cả nước với đỉnh cao là hàng chục cuộc biểu tình ở Nghệ An và Hà Tĩnh dẫn đến sự ra đời của các làng đỏ – Xô Viết. Trong cao trào cách mạng này “công nông đã bắt tay nhau giữa trận tiền”, liên minh cách mạng công – nông, yếu tố nền tảng của khối đại đoàn kết dân tộc đã hình thành trên thực tế. Tuy vậy, chỉ riêng yếu tố hạt nhân và yếu tố nền tảng thì vẫn chưa đủ để tạo ra và củng cố vững chắc khối đại đoàn kết dân tộc.

Trong thời kỳ 1936 – 1939, trong điều kiện trong nước và thế giới có nhiều biến đổi quan trọng, Đảng đã kịp thời chuyển hướng chỉ đạo chiến lược, đổi mới mạnh mẽ công tác vận động và tổ chức quần chúng. Một cao trào đấu tranh mạnh mẽ lại dâng cao khắp cả nước, lôi cuốn không chỉ hàng triệu quần chúng công nhân, nông dân, mà cả những tầng lớp yêu nước khác như trí thức, tiểu thương, tiểu chủ, địa chủ, thân hào và tư sản dân tộc v.v. Đến thời kỳ này khối đoàn kết dân tộc được mở rộng và củng cố thêm một bước. Lần đầu tiên Đảng Cộng sản Đông Dương đã chủ động bắt tay liên minh với một số tổ chức yêu nước, tiến bộ khác.

Tuy nhiên qua cao trào vận động dân chủ 1936 – 1939 có thể thấy vẫn còn tồn tại hai hạn chế lớn cần phải khắc phục nhằm củng cố khối đại đoàn kết dân tộc thực sự vững mạnh. Thứ nhất, trong công tác tuyên truyền cách mạng và vận động quần chúng, cho tới lúc đó Đảng ta chưa thực sự chú trọng tới việc phát huy chủ nghĩa yêu nước và tinh thần dân tộc. Các tài liệu tuyên truyền thường nói nhiều hơn đến đấu tranh giai cấp, mà ít nói tới cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc; các đợt đấu tranh thường được phát động trong các dịp kỷ niệm cách mạng tháng Mười Nga, Quảng Châu Công xã, kỷ niệm “3 L” (Lenin, Liepknecht, Luxamburg), mà hầu như không phát động đấu tranh nhân dịp giỗ tổ Hùng Vương, kỷ niệm Hai Bà Trưng, giỗ Đức Thánh Trần v.v. Đây chính là một hạn chế không nhỏ, bởi lẽ chủ nghĩa yêu nước luôn luôn là giá trị tinh thần quan trọng nhất để quy tụ sức mạnh đoàn kết dân tộc, nhất là trong các cuộc đấu tranh chống ngoại xâm.

Thứ hai, khối đại đoàn kết dân tộc trong cuộc đấu tranh sinh tử với kẻ áp bức ngoại bang chỉ thực sự được củng cố vững chắc và phát huy tác dụng khi nó được hiện thực hoá thông qua một hình thức tổ chức thích hợp. Đây chính là vấn đề mà cho tới lúc đó Đảng ta chưa thực sự quan tâm đầy đủ. Hình thức tổ chức của mặt trận dân tộc thống nhất mà Đảng đề ra trong thời kỳ 1930-1936 là Mặt trận phản đế Đông Dương và trong thời kỳ 1936-1939 là Mặt trận Dân chủ Đông Dương. Tuy nhiên, cả hai hình thức tổ chức này chưa bao giờ được hiện thực hoá.

Chiến tranh thế giới thứ II bùng nổ (3/9/1939), tình hình quốc tế và trong nước chuyển biến hết sức mau lẹ và sâu sắc. Từ tháng 11/1939 Đảng ta đã kịp thời điều chỉnh đường lối chiến lược và sách lược cho phù hợp với tình hình. Với sự trở về của lãnh tụ Nguyễn ái Quốc, Hội nghị BCH Trung ương lần thứ VIII của Đảng họp vào từ ngày 10 đến 19/5/1941 đã hoàn chỉnh chủ trương chuyển hướng chiến lược cách mạng của Đảng, mở ra con đường đi tới thắng lợi của cuộc đấu tranh yêu nước, giải phóng dân tộc của nhân dân ta. Hội nghị khẳng định: “… cuộc cách mạng Đông Dương trong giai đoạn hiện tại là một cuộc cách mạng dân tộc giải phóng“; do vậy: “Trong lúc này quyền lợi của bộ phận của giai cấp phải đặt dưới sự sinh tử, tồn vong của quốc gia, của dân tộc”. (Văn kiện Đảng toàn tập, T.7, NXB CTQG HN, 2000). Để phát huy tối đa sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước, của tinh thần dân tộc, hội nghị chủ trương đặt mục tiêu của cuộc cách mạng trong phạm vi từng dân tộc ở Đông Dương để xem xét và giải quyết một cách cụ thể.

Một trong những quyết định quan trọng nhất, trực tiếp liên quan đến việc củng cố khối đoàn kết dân tộc, chuẩn bị lực lượng một cách kiên trì và toàn diện cho cuộc vùng lên tự giải phóng, chính là quyết định thành lập mặt trận Việt Nam Độc lập Đồng Minh (Việt Minh). Trong tuyên ngôn của mình Việt Minh tuyên bố rõ ràng: “Việt Minh chủ trương liên hiệp hết thảy các giới đồng bào yêu nước, không phân biệt giàu nghèo, già trẻ, gái trai, không phân biệt tôn giáo và xu hướng chính trị, đặng cùng nhau mưu cuộc dân tộc giải phóng và sinh tồn“.

Hội nghị Trung ương VIII của Đảng và sự ra đời của mặt trận Việt Minh đánh dấu một bước ngoặt trong đường lối lãnh đạo cách mạng hướng tới việc mở rộng và củng cố khối đại đoàn kết dân tộc, quy tụ và phát huy cao độ nội lực dân tộc cho một cuộc hồi sinh vĩ đại. Lần đầu tiên chủ trương đoàn kết dân tộc của Đảng được đặt trên cơ sở của chính chủ nghĩa yêu nước Việt Nam. Chủ trương này được thực hiện nhất quán trong công tác vận động quần chúng của Đảng. Các đoàn thể trong mặt trận Việt Minh đều được gọi là Cứu quốc hội. Trong các tài liệu tuyên truyền hàng ngày của Đảng, nhất là các tài liệu do Nguyễn ái Quốc – Hồ Chí Minh trực tiếp soạn thảo, lời kêu gọi đoàn kết dân tộc đã được thay thế cho lời kêu gọi đoàn kết giai cấp và đấu tranh giai cấp. Các biểu tượng như “con Rồng cháu Tiên”, Hùng Vương, Hai Bà Trưng, Trần Hưng Đạo, Hoàng Hoa Thám, Lam Sơn, Bạch Đằng,… đã được tôn vinh để cổ vũ tinh thần yêu nước và ý thức đoàn kết dân tộc. Về phương diện tổ chức, với sự ra đời của mặt trận Việt Minh, lần đầu tiên mặt trận dân tộc thống nhất đã trở thành hiện thực. Quan trọng hơn, Hồ Chí Minh đã trực tiếp chỉ đạo tỉ mỉ cán bộ Đảng trong việc lập ra hàng chục loại Cứu quốc hội khác nhau để tập hợp tất cả các nhóm trong cộng đồng dân tộc Việt Nam vào một tổ chức có độ cố kết bền vững không chỉ dựa trên tinh thần yêu nước mà còn dựa trên những quy tắc tổ chức giản đơn nhưng rất chặt chẽ. Vì vậy mặt trận Việt Minh không chỉ làm cho khối đại đoàn kết dân tộc được mở rộng, củng cố không ngừng, mà còn là phương tiện nâng lực lượng của khối đại đoàn kết ấy lên gấp bội thông qua việc biến khối đại đoàn kết ấy thành một tổ chức có sức chiến đấu cao. Như vậy, dưới sự lãnh đạo của Đảng và lãnh tụ Hồ Chí Minh, thông qua Việt Minh, dân tộc ta không những đã đoàn kết lại mà lần đầu tiên còn biết cách đoàn kết có hiệu quả cao nhất.

Từ sau khi ra đời mặt trận Việt Minh đã nhanh chóng trở thành hạt nhân quy tụ sức mạnh đoàn kết dân tộc. Lực lượng cách mạng đứng dưới ngọn cờ đại nghĩa của Việt Minh ngày càng được mở rộng và phát triển không ngừng. Tuy nhiên, trong bối cảnh của những diễn biến rất phức tạp và mau chóng của thời cuộc, những bất đồng, dị biệt cố hữu của dân tộc vốn được thực dân Pháp và phát-xít Nhật lợi dụng, khoét sâu thêm, không phải dễ dàng gì một sớm một chiều vượt qua được. Trong hàng ngũ những người Việt Nam yêu nước, không ít người đã bị những chiêu bài tuyên truyền của thực dân Pháp, phát xít Nhật hoặc quân phiệt Trung Hoa lung lạc lôi kéo. Trên thực tế, lực lượng yêu nước và khối đại đoàn kết dân tộc cho đến trước ngày Tổng khởi nghĩa tháng 8/1945 vẫn chưa khắc phục được hoàn toàn sự chia rẽ, nghi ngại, thậm chí bài xích lẫn nhau. Ngay trong nội bộ Đảng và mặt trận Việt Minh cũng còn tồn tại ở một số địa phương, nhất là ở Trung Kỳ và Nam Kỳ, tình trạng chia rẽ, phân liệt. Đây là tình hình rất nghiêm trọng, nhất là khi thời cơ tổng khởi nghĩa giành chính quyền đang đến rất gần. Trong một bức thư gửi các cán bộ Đảng ở Trung Kỳ, Tổng bí thư Trường Chinh đã nghiêm khắc chỉ thị: “Phải kíp chạy lại dưới lá cờ chói lọi của Đảng… Không thể biệt phái chia rẽ! Không thể do dự, hoài nghi!”. Đối với cán bộ Đảng ở Nam Kỳ, đồng chí Trường Chinh chỉ rõ: “Chúng ta sẽ phạm phải một tội lớn, nếu trước giờ quyết liệt, chúng ta còn chia rẽ mãi”.

Giữa lúc đó, ngay từ ngày 13/8/1945 có tin Nhật Hoàng đã chấp nhận đầu hàng Đồng Minh. Ngay đêm đó Uỷ ban khởi nghĩa toàn quốc đã phát lệnh tổng khởi nghĩa. Ngày 15/8, tin Nhật đầu hàng chính thức được công bố. Tại Tân Trào, từ nhiều ngày trước đó, mặc dù bị ốm nặng, Hồ Chí Minh vẫn quan tâm, hối thúc việc triệu tập Quốc dân Đại hội. Theo chỉ thị của Người, ngày 16/8 Quốc dân Đại hội chính thức khai mạc, tượng trưng cho ý chí, nguyện vọng và khối đại đoàn kết toàn dân tộc, thông qua đề nghị tổng khởi nghĩa của mặt trận Việt Minh.

Trong khi đó, ở Hà Nội, Sài Gòn và nhiều tỉnh khác, cán bộ Đảng và Việt Minh chưa thể nhận được mệnh lệnh khởi nghĩa. Căn cứ vào các chỉ thị trước đó của Đảng, trên cơ sở phân tích cụ thể tình hình địa phương, tuyệt đại đa số cán bộ Đảng và Việt Minh cơ sở đã mau chóng tự quyết định khởi nghĩa giành chính quyền, không bỏ lỡ thời cơ. Và điều quan trọng hơn, quyết định đó được tuyệt đại đa số quân chúng nhân dân mọi tầng lớp ủng hộ, kể cả các lực lượng vốn đứng ngoài mặt trận Việt Minh. Kết quả là chỉ trong vòng khoảng hai tuần lễ làn sóng biểu tình chính trị mạnh mẽ của hàng triệu quần chúng cùng với sự hỗ trợ của lực lượng vũ trang cách mạng đã nhanh chóng lật đổ chính quyền tay sai thân Nhật, lập ra chính quyền cách mạng.

67 năm trôi qua, Cách mạng tháng Tám vẫn được xem như một sự kiện diệu kỳ trong lịch sử dân tộc. Hàng trăm công trình nghiên cứu của các sử gia Việt Nam và nước ngoài đã được công bố, đưa ra những kiến giải khác nhau về sự kỳ diệu của cuộc tổng khởi nghĩa giành chính quyền tháng 8/1945. Sự thực lịch sử là: với sự ra đời của mặt trận Việt Minh, ngọn cờ dân tộc được Đảng ta giương cao hơn bao giờ hết và trong suốt hơn 4 năm trời Việt Minh đã thực sự trở thành nhân tố trung tâm quy tụ sức mạnh của nhiều lực lượng và cá nhân yêu nước tiến bộ. Khối đại đoàn kết toàn dân đã không những được khôi phục, được củng cố mà còn được nâng lên tầm cao mới, kết hợp với sức mạnh của các lực lượng tiến bộ trên thế giới, tạo ra xung lực hồi sinh mạnh mẽ để bùng phát kịp thời, khi thời cơ đến.

Mặt khác, cũng phải thừa nhận rằng bên cạnh mặt trận Việt Minh, một số lực lượng yêu nước khác, theo những cách thức riêng của mình, đã góp phần mạng mẽ vào việc thức tỉnh lòng yêu nước của toàn dân, để rồi trong giờ phút quyết định, trên cơ sở của tinh thần yêu nước, đã nhanh chóng quy tụ dưới ngọn cờ đỏ sao vàng năm cánh của Việt Minh, góp phần không nhỏ vào cuộc vùng lên “đem sức ta tự giải phóng cho ta” (Nguyễn ái Quốc). Trong số những lực lượng đó, trước hết phải kể đến lực lượng thanh niên, sinh viên yêu nước ở Hà Nội, Sài Gòn và nhiều tỉnh thành khác. Về danh nghĩa lực lượng này do chính quyền thực dân Pháp đã phát xít hoá tạo ra hòng lợi dụng lòng yêu nước của thanh niên, sinh viên Việt Nam. Song, chính tầng lớp này đã biết dụng kế “gậy ông đập lưng ông”, lợi dụng cơ hội đó để tuyên truyền, cổ vũ tinh thần yêu nước sâu rộng trong các tầng lớp dân chúng một cách hợp pháp. Những chuyến đi thăm quan Bạch Đằng Giang, Gò Đống Đa, ải Chi Lăng, những đoàn hướng đạo sinh tổ chức đi cắm trại và hát vang những bài ca yêu nước, những vở kịch lưu diễn ở nhiều nơi kể về sự nghiệp Hai Bà Trưng, Lê Lợi vv… đã thực sự thổi bùng lên lòng yêu nước của dân chúng khắp cả ba Kỳ.

Sau khi bắt liên lạc với Việt Minh, một bộ phận lớn trong phong trào yêu nước trên đã gia nhập Việt Minh. Bộ phận còn lại, sau cuộc đảo chính Nhật – Pháp (9.3.1945) gia nhập Phong trào thanh niên Tiền tuyến ở Trung Kỳ và Bắc Kỳ và Thanh niên Tiền phong ở Nam Kỳ. Hai lực lượng này, một do chính phủ Trần Trọng Kim lập ra, một do quân đội Nhật gợi ý cho ra đời, với mục đích lợi dụng phong trào thanh niên làm hậu thuẫn cho chính quyền bù nhìn, thân Nhật. Tuy nhiên, hai lực lượng này đã sớm được Việt Minh liên lạc và trong giờ phút quyết định đã nhanh chóng đứng dưới cờ Việt Minh.

Làn sóng đấu tranh sục sôi do Việt Minh và các lực lượng yêu nước khác tiến hành đã đánh thức và cổ vũ lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết vì đại nghĩa dân tộc của cả những tầng lớp và cá nhân vốn có quá khứ gắn chặt với chế độ thực dân. Hoàng đế Bảo Đại là một ví dụ điển hình. Trong những ngày tháng 8/1945, làn sóng yêu nước mạnh mẽ của toàn dân đã đủ sức cảm hoá cả ông vua đã suốt 20 năm làm bù nhìn cho thực dân Pháp, khiến ông ta tự tuyên bố “ưng làm dân một nước tự do hơn làm vua một nước nô lệ”. Ngày 30/8/1945, Bảo Đại tuyên chiếu thoái vị, trao ấn vàng, kiếm nạm ngọc lại cho đại diện Việt Minh. Trong ngày đó, Bảo Đại còn kêu gọi hoàng tộc và toàn dân đoàn kết, bởi lẽ “đoàn kết thì sống, chia rẽ thì chết”.

Như thế, cuộc Cách mạng tháng Tám 1945 thực sự là biểu trưng, là kết quả của khối đại đoàn kết dân tộc, là hội tụ của các nguồn xung lực hồi sinh mạnh mẽ của toàn dân tộc trong thời khắc bước ngoặt lịch sử dưới ngọn cờ chói lọi tinh thần yêu nước của mặt trận Việt Minh do Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo.

 – Ảnh: Tư liệu [Bản tin ĐHQG Hà Nội – số 174, tháng 8/2005]
cuocsongviet.com.vn