Thư viện

Sáng mãi các chiến công của 11 cô gái Sông Hương

Tiểu đội nữ du kích sông Hương. Ảnh tư liệu. (Nguồn: thuathienhue.gov.vn)

Thời gian trôi qua, những gì thuộc về quá khứ có thể bị mờ dần hoặc lãng quên theo năm tháng, nhưng với dân tộc, quân đội Việt Nam và với những người trải qua những mùa chiến dịch, những trận chiến các liệt trên chiến trường chống Mỹ, thì cuộc Tổng tấn công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 là ký ức lịch sử không thể nào quên, nhất là đối với những người nữ du kích của Tiểu đội 11 cô gái sông Hương ngày ấy.

Thành phố Huế đã dựng bia tưởng niệm và ghi công 11 cô gái sông Hương tại phường Xuân Phú, nơi gắn với những chiến công của họ trong những ngày đánh Mỹ.

Nơi đây đã trở thành địa điểm sinh hoạt văn hoá, thắp lửa truyền thống cho đoàn viên thanh niên và các thế hệ cách mạng, nhất là trong những ngày Tết đến Xuân về.

Nói về chiến công của tiểu đội du kích 11 cô gái sông Hương ngày ấy, ông Hoàng Lanh, nguyên Bí thư thành ủy Huế lúc bấy giờ cho biết ban đầu, họ tập hợp nhau lại trong một tiểu đội xung phong làm nhiệm vụ tải thương, dẫn đường cho bộ đội tiến công vào giải phóng thành phố.

Về sau, chính họ đã anh dũng chiến đấu đẩy lùi một tiểu đoàn thủy quân lục chiến Mỹ được trang bị vũ khí hiện đại, có xe tăng, máy bay yểm trợ ngay giữa lòng thành phố Huế.

Riêng với chị Hoàng Thị Nở, một trong số các cô gái Sông Hương thì nhớ như in tất cả các cô gái sinh ra và lớn lên tại làng nón Thủy Thanh, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên-Huế, nhưng đều lấy tên sông Hương làm tên chung.

Cuối năm 1967, họ tình nguyện tham gia đội nữ vũ trang bí mật gồm 11 người, với nhiệm vụ được giao là nắm tình hình hoạt động của bọn địch tại địa bàn các xã vùng ven như Thuỷ Thanh, Thuỷ An, đến Xuân Phú (thành phố Huế); tham gia chuyển thương binh ra ngoài, và bổ sung lực lượng chiến đấu khi cần thiết.

[Tổng tấn công Mậu Thân 1968: Đòn tấn công mở đầu]

Xuân Mậu Thân năm 1968, bộ đội bắt đầu đánh lớn ở thành phố Huế. Do thông thuộc địa bàn, 11 cô gái sông Hương được tổ chức thành một tiểu đội, ban ngày đi tổ chức xây dựng lực lượng nòng cốt, chiều tối đi gài đặt lựu đạn giết ác ôn và tổ chức đưa đón, dẫn đường cho các chiến sĩ vào chiến đấu giải phóng thành phố.

Riêng trận đánh đêm 11 sáng 12/2/1968 cả tiểu đội 11 cô gái sông Hương, với các vũ khí được trang bị AK, K44, một số mìn và lựu đạn nhưng đã dàn trận khắp các địa điểm tại khách sạn Hương Giang, Đại học sư phạm, chợ Cống, Xuân Phú để cầm cự và đánh lui cả một tiểu đoàn lính Mỹ có nhiều xe bọc thép và máy bay chiến đấu yểm trợ, diệt 70 lính và 4 xe tăng, thu nhiều vũ khí của địch để trang bị lại phục vụ cho chiến đấu.

[Quần chúng góp phần quan trọng trong chiến thắng]

Chị em háo hức đánh giặc quên ăn quên ngủ, lúc xông xáo với việc thả truyền đơn, đậy hầm bí mật nuôi giấu cán bộ, lúc liên lạc và vận động binh lính ngụy trở về với nhân dân. Bất chấp hiểm nguy, trong công sự, chị em còn đùa nhau lính Mỹ to xác càng dễ bắn, chị em mình phải nhanh chóng, quyết liệt để chúng không thể trốn thoát.

Xuân năm ấy se lạnh, Huế rét ngọt, mưa phùn lất phất. Chị em vừa chiến đấu, vừa ăn Tết ngay trên công sự khét lẹt mùi khói thuốc. Bánh Tết được các mẹ, các chị trong phố đem ra tiếp tế.

Nhiều chị em đã anh dũng hy sinh ngay trong trận chiến đấu đó, trong đó có tiểu đội trưởng Phạm Thị Liên và tiểu đội phó Đỗ Thị Cúc khi tuổi đời họ còn rất trẻ.

Chiến công của 11 cô gái sông Hương đã được Bác Hồ gửi thư khen:

“Dõng dạc tay cầm khẩu súng trường
Khôn ngoan dàn trận khắp trong phường
Bác khen các cháu dân quân gái
Đánh giặc Hoa Kỳ phải nát xương”

Năm 2009, tiểu đội du kích 11 cô gái sông Hương còn vinh dự được Chủ tịch nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân vì những chiến công xuất sắc trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

Gặp lại chị Hoàng Thị Nở tại ngôi nhà số nhà 131/1 đường Bà Triệu, thành phố Huế bây giờ, chị cho biết sau giải phóng, trở về với đời thường, 5 trong số 11 cô gái sông Hương ngày ấy còn sống đã có 4 lần gặp lại nhau trong các chương trình giao lưu các thế hệ phụ nữ tham gia kháng chiến.

Những người đồng đội từng chung một chiến hào xưa thì nay mỗi người sinh sống một nơi. Chị Chế Thị Mừng và Nguyễn Thị Xê lấy chồng xa ở thành phố Hồ Chí Minh và Nam Định; còn lại các chị Nguyễn Thị Hoa, Nguyễn Thị Hợi, và chị Hoàng Thị Nở đều ở tại Thừa Thiên-Huế.

Chị Nguyễn Thị Hoa sau giải phóng về tham gia làm công tác ở Ban quản lý chợ Đông Ba, chị Chế Thị Mừng làm y sĩ ở phòng khám khu vực 3, chị Hoàng Thị Nở làm Chủ tịch Hội Nông dân thành phố Huế, nay tất cả đã ngoài 60 tuổi và đều nghỉ hưu.

Mỗi người mỗi hoàn cảnh và còn nhiều khó khăn, vất vả nhưng các chị đã vượt lên tất cả, xứng danh người phụ nữ “anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang”…/.

Quốc Việt (TTXVN)
vietnamplus.vn

Quần chúng góp phần quan trọng trong chiến thắng

Ảnh tư liệu. (Nguồn: daibieunhandan.vn)

Nói đến Xuân Mậu Thân 1968, nhiều người không thể nào quên hình ảnh nhân dân đón bộ đội như những người thân đi xa lâu ngày trở về. Chính lực lượng quần chúng mến yêu ấy là động lực, là cội nguồn tiếp thêm sức mạnh đi đến ngày thắng lợi vinh quang…

Đó là cảm nhận của các ông Nguyễn Trung Chính, Phan Nam, nguyên là những chỉ huy mặt trận Huế trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968.

Ngay từ phút phát lệnh nổ súng (2 giờ 33 phút), tất cả các hướng, mục tiêu tấn công, nổi dậy đã đồng loạt, hợp đồng mạnh mẽ, nổ súng. Kẻ thù không kịp trở tay đối phó, bị cô lập, rối loạn, bị chia cắt không ứng cứu, chi viện cho nhau được, bị tổn thất nặng nề.

8 giờ 30 phút ngày mồng 2 Tết, cùng thời điểm lá cờ Liên minh Dân tộc – Dân chủ – Hòa bình tung bay trên đỉnh cột cờ Phu Vân Lâu, tất cả các đội công tác chính trị-vũ trang, các “tụ điểm” quân, khu phố, đường phố, các đội Biệt động, đội An ninh vũ trang các lực lượng cán bộ thành tăng cường, lực lượng tụ điểm của học sinh, sinh viên thanh niên đồng loạt xuất hiện hành động, cùng các lực lượng vũ trang sẵn sàng chiến đấu, đánh trả bọn địch ngoan cố, bảo vệ, hỗ trợ quần chúng nổi dậy.

Địa bàn nội thành rộng lớn được giải phóng. Lực lượng to lớn nổi dậy đã lên đến hàng chục vạn dân, sức mạnh mới tại chỗ – “hậu phương” rộng lớn mới được giải phóng, làm chủ, tạo thuận lợi cho lãnh đạo, chỉ huy mặt trận triển khai tiếp, nhanh chóng phát huy nội lực, bảo vệ thành quả thắng lợi giành được, chống địch phản kích, tái chiếm Huế.

Không khí vui mừng, phấn khởi buổi đầu hiện rõ và ngày một thể hiện rõ hơn trong những công việc do các đội công tác đường phố đề ra, được đông đảo nhân dân hăng hái tham gia thực hiện.

Mối quan hệ gắn kết giữa quân – dân ngày một gần gũi, chặt chẽ, thuận lợi hơn, tăng thêm sức mạnh mới – sức mạnh của sự nổi dậy làm chủ, kiểm soát, bảo vệ thành quả chung, từ sự kết hợp chặt chẽ tấn công quân sự, đồng loạt nổi dậy của nhân dân ở đô thị lớn.

Bà con ở nội thành đã nhanh chóng tin tưởng, hăng hái làm theo sự kêu gọi, dắt dẫn của các đội công tác, cán bộ thành tăng cường về các khu phố địa bàn. Nhất là vai trò tích cực, phát huy tác dụng nhanh của những người từng hướng dẫn quần chúng nội thành nổi dậy đấu tranh chống Mỹ và tay sai trước đây mà họ đã nhận ra. Hoặc số cán bộ cốt cán cơ sở tại chỗ, số do các huyện bí mật đưa vào từ trước chưa kịp giới thiệu cho thành phố, nay xuất hiện như những “người thân” đi lâu mới về.

Đối với những người, gia đình có tham gia hoặc quan hệ làm ăn với bộ máy ngụy quân, ngụy quyền…lúc đầu số đông tỏ ra lo ngại, lúng túng, bị động, hoang mang chờ đợi, dè dặt, lo sợ…Số gia đình có người đã gây tội ác, có nợ máu thì càng lo lắng, sợ cách mạng trừng trị.

Nhưng từng bước, họ cũng yên lòng, ổn định khi đã nghe và được giải thích – “tai nghe mắt thấy”, được đối xử khoan hồng trong và sau khi trình diện, nộp vũ khí, tài liệu ngụy tại các điểm tiếp nhận, về gia đình sống bình thường.

[Tổng tấn công Mậu Thân 1968: Đòn tấn công mở đầu]

Ông Hoàng Lanh nguyên Ủy viên Thường vụ Thành ủy, Phó Chính ủy Mặt trận cánh Nam Huế nhớ tường tận vào khoảng 9 giờ ngày mồng 3 Tết, cuộc míttinh chào mừng thắng lợi của cách mạng được tổ chức trọng thể tại Thành Nội.

Khác với sự cẩn trọng ban đầu, người dân thành phố Huế đã xuống đường. Nhiều người nắm áo chúng tôi, nước mắt rưng rưng: “Các anh về đây rồi thiệt à? Cánh mạng đã về rồi thiệt à”.

Cuộc míttinh thu hút vài trăm người, trong đó có các anh Nguyễn Đắc Xuân, Hoàng Phủ Ngọc Phan, chị Lê Thị Mai (em đồng chí Lê Quang Vịnh). Những người dân Huế đã từng sống trong ách cai trị của chế độ Mỹ – Nguỵ khi nghe nói “Thưa đồng bào, bây chừ cách mạng đã về” thì vỗ tay ào ào và hết sức xúc động.

Ông Lanh nhớ mãi hôm ấy, chỉ những lời nói giản dị dưới lá cờ Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam vậy thôi mà đã làm cho mọi người mừng rơi nước mắt.

Ông cũng lặng người đi vì tự hào và sung sướng. Đó là những giọt nước mắt chờ đợi, tủi hờn và hơn thế là những giọt nước mắt tin yêu cách mạng của những người dân Huế bình thường một lòng tin theo cách mạng mà suốt đời ông chẳng thể nào quên.

Đối với ông Phan Nam, nguyên Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Huế thì người dân Huế đã đóng góp sức người, sức của làm nên thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968.

Tiếp theo những thắng lợi có ý nghĩa quyết định trên chiến trường, ở hậu phương, những người có uy tín, kinh nghiệm và nhiệt tình đã tự nguyện đứng ra tổ chức quyên góp tiền bạc, lương thực, thực phẩm ủng hộ bộ đội nuôi quân.

Có nhà ủng hộ cả tấn hàng, hàng chục tấn gạo, thực phẩm, mắm muối, chất đốt. Hàng vạn nhân dân Huế “có chi góp nấy” miễn sao bộ đội được ăn no đánh thắng quân địch, bảo vệ thắng lợi thành quả cách mạng đã giành được.

Sau này, Bác Hồ đã tặng cho quân và dân thành phố Huế 8 chữ vàng “Tấn công, nổi dậy, anh dũng, kiên cường”. Đây mãi mãi là niềm tự hào cho các thế hệ cách mạng, là nguồn sức mạnh để người dân Huế vượt qua muôn vàn khó khăn của những năm tháng chiến tranh ác liệt cho đến ngày đất nước toàn thắng.

45 năm đã trôi qua nhưng những bài học về chỉ đạo chiến lược, về nghệ thuật phát hiện và chớp thời cơ để chủ động giáng đòn quyết định làm chuyển biến cục diện chiến tranh, nghệ thuật tiến công bằng cách đánh chiến lược mới, giành thế bất ngờ, đưa chiến tranh vào thành thị, nghệ thuật tổ chức, bố trí và sử dụng lực lượng để lấy nhỏ đánh lớn, lấy ít địch nhiều…

Cuộc Tổng tấn công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 giữ một vai trò to lớn trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân và đi vào lịch sử đấu tranh cách mạng của dân tộc Việt Nam như một chiến công bất hủ; là một biểu hiện tập trung của ý chí và sức mạnh quật cường của con người Việt Nam, dân tộc Việt Nam, biểu hiện sức sáng tạo và tài thao lược trong chỉ đạo chiến tranh của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh./.

Quốc Việt (TTXVN)
vietnamplus.vn

Tổng tấn công Mậu Thân 1968: Đòn tấn công mở đầu

Đã 45 năm trôi qua, nhưng ký ức về cuộc Tổng tấn công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 ở Huế không thể phai mờ trong ký ức của Thiếu tướng Nguyễn Văn Thu, nguyên Tham mưu phó Quân khu Trị Thiên, Chỉ huy trưởng cánh Bắc đánh vào Huế trong cuộc Tổng tấn công và nổi dậy năm ấy.

Đã gần 80 tuổi, ông vẫn minh mẫn và đặc biệt là nhớ rất rõ, đến từng chi tiết của từng trận đánh mùa Xuân năm ấy.

Chiều 30/1/1968, từ núi rừng Hương Trà, cánh quân chủ yếu phía Bắc Huế cùng với toàn mặt trận bắt đầu xuất quân. Mỗi cánh quân, ngoài lực lượng bộ đội trong đội hình còn có các đội biệt động, đội công tác khởi nghĩa, cán bộ dân vận mặt trận trên 2.500 người, kéo dài trên 2km.

Cuộc hành quân bí mật, phải vượt qua đồi núi, khe suối, sông ngòi, làng mạc. Đặc biệt nhất là vượt qua vành đai tai mắt bảo vệ vòng ngoài của địch để tiếp cận mục tiêu bí mật, an toàn, đúng giờ quy định.

Từ các hướng, các mũi tiếp cận mục tiêu đã giữ được bí mật trước giờ nổ súng. Kết quả đó là nhờ công tác chuẩn bị chiến trường với thế trận chiến tranh nhân dân của các cấp ủy địa phương và các đơn vị với tinh thần trách nhiệm cao, chấp hành nghiêm ý thức kỷ luật của cán bộ, chiến sỹ.

Điều đáng nói là có đồng chí khi vượt sông cạnh vị trí địch đóng quân, xuồng bị chìm nhưng không một lời kêu cứu, gặp hiểm nguy sẵn sàng hy sinh, không làm lộ bí mật.

Đúng giờ G – 2 giờ 33 phút ngày 31/1/1968 (rạng sáng Mồng 2 Tết Mậu Thân), từ tuyến xuất phát xung phong, các mũi tấn công bằng đòn chiến đấu đồng loạt, dũng mãnh, nhanh chóng đánh chiếm các mục tiêu như Mang Cá, cửa An Hòa, cửa Chánh Tây, sân bay Tây Lộc, Cửa Hữu, Đại Nội, Cột Cờ, cửa Thượng Tứ, cửa Đông Ba.

Cánh phía Nam diệt Trung đoàn thiết giáp ngụy ở Tam Thai, khu Nam Giao, Kho Rèn, Sở cảnh sát, Đài phát thanh, Tòa tỉnh trưởng, tiểu khu Thừa Thiên Phan Sào Nam, khách sạn Thuận Hóa.

Sau 3 giờ chiến đấu, ta đã chiếm được các mục tiêu trọng yếu cả quân sự lẫn chính trị và làm chủ cơ bản thành phố Huế cả phía Bắc lẫn phía Nam. Cùng với đòn tấn công quân sự, nhân dân thành phố Huế, dưới sự chỉ đạo của cấp ủy, cùng đồng loạt nổi dậy làm chủ từng khu phố như Đông Ba, Gia Hội (gồm 3 phường) và Cồn Hến.

Khoảng 7 giờ 30 phút ngày 31/1/1968, lá cờ Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam tung bay trên đỉnh cột cờ trước Ngọ Môn, báo hiệu thành phố Huế được giải phóng. Cùng với đó là các đội bình định, phòng vệ dân sự ở nông thôn, vùng ven bị các lực lượng bộ đội địa phương, biệt động, dân quân du kích bao vây, tiêu diệt, bức hàng, bức rút. Nhân dân đồng loạt, nhất tề đứng dậy làm chủ thôn xóm, quê hương mình.

Đòn tấn công mở đầu trong cuộc Tổng tấn công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 ở Huế giành được thắng lợi ngay từ phút đầu, giờ đầu, ngày đầu.

Địch bị đánh bất ngờ, cả về mục tiêu, thời gian, lực lượng và phương pháp tấn công, bị đánh cả bên trong lẫn bên ngoài thành phố, cả vùng nông thôn và đồng bằng. Bị động, địch hoang mang, lúng túng, không nơi nào đối phó, ứng cứu cho nhau được.

Trong 3 ngày đầu, các đơn vị của ta vừa củng cố mục tiêu chiếm được, vừa mở rộng vùng giải phóng, cùng nhân dân lùng bắt bọn địch chạy trốn thoát, diệt bọn ác ôn, đầu sỏ, các đảng phái phản động.

Tất cả 36 cơ quan ngụy quyền thuộc thành phố Huế và trung phần đều bị ta đánh chiếm, đập tan bộ máy ngụy quyền của địch từ tỉnh, thành phố xuống tận thôn xã. Ta thiết lập chính quyền cách mạng trong các quận, phường thành phố Huế và các xã vùng ven đô, nông thôn của tỉnh.

Đánh chiếm và giữ thành phố Huế liên tục trong 25 ngày đêm, ta vẫn giữ được thế chủ động ở từng khu vực, từng mục tiêu, dù địch đã tăng viện quân lên nhiều lần. Có thời điểm trong thành phố có tới 8-9 tiểu đoàn Mỹ ngụy. Đòn đánh phản kích địch ở cống Thủy Quan của d7/F325 diệt 200 tên địch; đánh quỵ c/D4 ngụy, đại đội thám báo bắt nhiều tù binh, thu giữ 40 súng, giữ vững tuyến hành lang từ cửa Chánh Tây sang Cửa Hữu.

Đòn phản kích địch ở ngã tư Mai Thúc Loan – Đinh Tiên Hoàng, đánh thiệt hại nặng tiểu đoàn ngụy, diệt 120 tên, phá hủy 3 xe M113, giữ vững phía sau đội hình các đơn vị ở cửa Thượng Tứ, Đại Nội, cửa Đông Ba. Một bộ phận d2/e6 ở cửa Đông Ba đánh phản kích 1 đại đội Mỹ, diệt 50 tên, thu nhiều súng đạn.

Điển hình như d6/e6 đánh tan tiểu đoàn ngụy tại cầu An Hòa, diệt 200 tên địch, bắn cháy 5 xe M113 buộc chúng phải rút lui về sau cống Rớ.

Đại đội 5, Tiểu đoàn 7 Kỵ binh bay của Mỹ tiến vào Liễu Cốc bị c1/d816/e9 đánh tan, diệt 50 tên, bắn rơi 1 máy bay lên thẳng, bắn cháy 3 xe M113… giữ vững hành lang phía Tây Bắc Huế, đảm bảo cho các lực lượng vận chuyển thương binh, và đưa cán bộ, nhân dân, thanh niên, học sinh, sinh viên ra khu căn cứ an toàn.

Về phía Nam, phía Đông thành phố Huế, địch tập trung lực lượng phản kích ra các nơi như An Cự, cầu Lòn, kho Rèn, ngã 6, sân vận động đều bị ta chặn đánh quyết liệt, diệt trên 2.000 quân Mỹ ngụy, bắn cháy 10 xư M113. Cùng với bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân du kích, đặc công vừa tiêu diệt địch, vừa giữ thế chủ động đánh địch, hoàn thành được nhiệm vụ đề ra…

Riêng trận đánh tại nhà lao Thừa Phủ, tại đây địch đang giam giữ hơn 2.000 tù nhân, được canh gác cẩn mật, chúng cho cài mìn clâymo để bảo vệ và ra sức chống trả các đợt tiến công của quân ta. Các chiến sỹ trinh sát vũ trang và biệt động đã kết hợp bao vây, khống chế, dùng lao thông báo tin chiến thắng của cách mạng và tìm cách đột nhập vào bên trong động viên cán bộ, bộ đội đang bị giam giữ nổi dậy kêu gọi bọn cai ngục, lính canh đầu hàng.

Nửa đêm 2/2/1968, một người lính ngụy đang bị địch giam trong lao trốn được ra ngoài, đầu hàng và nói: có đường hầm bí mật vào lao và dẫn các chiến sỹ vào giải phóng nhà lao theo đường hầm bí mật đó. Thế là từ ngoài đánh vào, trong đánh ra địch không kịp trở tay, nhà lao được giải phóng…

Theo Trung tướng Đoàn Sinh Hưởng, nguyên Tư lệnh Quân khu 4, Trong cuộc Tổng tấn công và nổi dậy tại Trị Thiên-Huế, ta đã giải phóng 227.300 dân, 40 xã và 296 thôn.

Ủy ban Nhân dân cách mạng một số huyện và thành phố được thành lập. Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hòa bình Việt Nam thành phố Huế ra đời.

Thắng lợi quan trọng này, cùng với thắng lợi trên toàn chiến trường miền Nam đã làm lay chuyển ý chí xâm lược của Mỹ, buộc Tổng thống Johnson phải “xuống thang” chiến tranh, chịu ngồi lại đàm phán với ta ở Paris.

Phía Mỹ phải thay Bộ trưởng Bộ quốc phòng và Tổng chỉ huy quân viễn chinh Mỹ ở miền Nam Việt nam. Johnson thôi không ứng cử nhiệm kỳ 2.

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân về cơ bản đã đánh bại chiến lược “Chiến tranh cục bộ” của Mỹ, mở ra cho ta khả năng thực hiện trọn vẹn chiến lược “đánh cho Mỹ cút,” để tiến tới “đánh cho ngụy nhào,” giành độc lập thống nhất Tổ quốc…/.

Quốc Việt (TTXVN)
vietnamplus.vn

Hiệu lệnh mang tầm lịch sử

Cách đây 45 năm, thực hiện quyết tâm chiến lược của Bộ Chính trị: Động viên những nỗ lực lớn nhất của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ở cả hai miền, giáng cho địch một đòn thật mạnh, làm lung lay ý chí xâm lược của Mỹ, tạo ra sự thay đổi cơ bản cục diện chiến trường, chuyển cuộc chiến tranh cách mạng sang một thời kỳ mới – thời kỳ giành thắng lợi quyết định, quân và dân ta ở miền Nam mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968.

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 đã đồng loạt tiến công địch ở 4 thành phố, 37 thị xã, hàng trăm thị trấn, đánh vào hầu hết các cơ quan đầu não trung ương và địa phương của Mỹ và chính quyền Việt Nam cộng hòa, đặc biệt trong đó có Đại sứ quán Mỹ, Dinh Độc Lập, Bộ Tổng tham mưu, Đài Phát thanh Sài Gòn… trong bối cảnh đế quốc Mỹ đã leo đến nấc thang tột cùng: Quân Mỹ và đồng minh lên tới hơn 50 vạn, quân đội Sài Gòn hơn 70 vạn. Với cuộc Tổng tiến công và nổi dậy này, chúng ta đã tiêu diệt một bộ phận sinh lực cấp cao của địch, phá hủy một số lượng quan trọng vũ khí, phương tiện chiến tranh, cơ sở hậu cần, kỹ thuật của chúng.

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 đã gây một cú “sốc đột ngột”, làm đảo lộn thế bố trí, phá vỡ kế hoạch tác chiến của Mỹ trên toàn bộ chiến trường miền Nam; gây chấn động mạnh tới Nhà Trắng, Lầu Năm Góc và toàn nước Mỹ; đưa hình ảnh chiến tranh Việt Nam vào từng gia đình, đến tận phòng họp của Thượng viện và Hạ viện chính phủ Hoa Kỳ. Những thủ đoạn dối trá, xảo quyệt của Nhà Trắng và Lầu Năm Góc đưa ra để đánh lừa nhân dân Mỹ và nhân dân thế giới lâu nay nhanh chóng bị bóc trần. Làn sóng chống chiến tranh phi nghĩa của đế quốc Mỹ và ủng hộ cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam diễn ra mạnh mẽ, liên tục trên toàn nước Mỹ và khắp các châu lục.

Với thắng lợi mang ý nghĩa chiến lược to lớn của cuộc Tổng tiến công Xuân Mậu Thân, quân và dân ta đã làm lay chuyển tận gốc rễ ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ. Tổng thống Giôn-xơn phải cách chức Mắc Na-ma-ra – Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Mỹ và Đại tướng Oét-mo-len – Tổng chỉ huy quân chiến đấu Mỹ ở miền Nam Việt Nam, đồng thời xuống thang chiến tranh, chấp nhận ngồi vào bàn đàm phán với Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam tại Pa-ri. Về cá nhân, Giôn-xơn tuyên bố không tham gia ứng cử Tổng thống Mỹ nhiệm kỳ thứ 2. Vậy là, chúng ta đã thực hiện thắng lợi mục đích đề ra của cuộc Tổng tiến công Xuân Mậu Thân là đánh đòn quyết định làm thay đổi cục diện chiến tranh theo chiều hướng có lợi cho ta.Hieu lenhQuân giải phóng trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu thân 1968 (Ảnh tư liệu)

Thắng lợi Xuân Mậu Thân (1968) là minh chứng cho tài trí trong nghệ thuật điều hành chiến tranh đặc biệt độc đáo Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh. Một trong số đó là vấn đề chọn thời điểm, hiệu lệnh khởi phát cuộc Tổng tiến công và nổi dậy.

Về thời điểm Tổng tiến công, chúng ta chọn Tết Nguyên đán năm Mậu Thân – đúng thời khắc đêm Giao thừa(*). Theo phong tục truyền thống ngàn đời của người Việt Nam, Tết Nguyên đán (Tết Âm lịch) là thời điểm hội ngộ của những người thân trong gia đình, dòng tộc; thời điểm mà hầu như tất cả mọi người con xa gia đình, quê hương bản quán đều mong ước trở về. Và, thông lệ từ xa xưa, các thành phần xã hội dù làm việc gì, ở đâu cũng đều được nghỉ Tết, đón Xuân. Kể cả với những người lính trong quân ngũ (thậm chí ngay khi đang có chiến tranh), dù dưới chế độ nào cũng hầu như rất ít khi nằm ngoại lệ. Đó là chưa kể, ngày Tết thường gắn chặt với việc tổ chức tiệc ăn uống (rượu chè) và những hoạt động đón Tết, mừng Xuân khác nữa – kể cả đối với những bộ phận được phân công ứng trực theo phiên. Vì thế, dù cho có “cấm trại” bảo toàn quân số đi chăng nữa thì yếu tố cảnh giác, sức ứng phó với những tình huống bất thường xảy ra cũng ít nhiều hạn chế. Điều tra, nghiên cứu và tính toán rất cụ thể từng chi tiết phong tục tập quán ăn Tết – vui Xuân cổ truyền ở các vùng miền đất phương Nam, đặc biệt là việc “điều binh khiển tướng” của Quân lực Việt Nam cộng hòa từ nhiều năm trước đó, chúng ta mới đi đến quyết định chọn thời điểm Giao thừa để khai mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy. Với sự tính toán mưu lược chu tất như vậy, nên khi ta phát hỏa tiến công, địch hoàn toàn bất ngờ, không thể trở tay kịp. Chính phóng viên chiến trường nhiều tờ báo lớn của Mỹ cũng phản ánh rằng: Vào những ngày Tết Mậu Thân, các đơn vị của quân đội Sài Gòn chỉ có một nửa quân số, khiến cho Bộ Chỉ huy quân sự Mỹ vô cùng lúng túng trong việc ứng phó… Như vậy, việc chọn thời khắc Giao thừa để mở cuộc Tổng tiến công Xuân Mậu Thân thực sự là một quyết sách đầy mưu lược của Đảng ta, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, tạo nên bất ngờ rất lớn đối với Mỹ và chính quyền Sài Gòn, góp phần làm nên thắng lợi lớn của quân và dân ta.

Mặt khác, để bảo đảm cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân (1968) diễn ra đồng loạt trên khắp các thành phố, thị xã, thị trấn toàn miền Nam trong điều kiện địch đang tạm thời nắm quyền kiểm soát thực sự là vô cùng khó khăn. Làm thế nào để “giờ G” được thống nhất trên toàn miền mà vẫn giữ được yếu tố bí mật, bất ngờ tuyệt đối với địch trong điều kiện lịch miền Bắc và lịch miền Nam chênh lệch nhau một ngày là một bài toán khó. Sau nhiều phiên thảo luận, Bộ chỉ huy tối cao quyết định chọn phương án lấy thời điểm Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc thơ chúc Tết đồng bào cả nước đêm Giao thừa theo lịch miền Bắc – thời khắc chuyển giao năm Đinh Mùi sang năm Mậu Thân làm hiệu lệnh khởi phát cuộc Tổng tiến công. Đọc thơ chúc Tết của Bác Hồ trên Đài Tiếng nói Việt Nam là việc làm thường niên, đều đặn mỗi năm khi mùa Xuân đến. Mặt khác, chỉ có làn sóng của Đài Tiếng nói Việt Nam mới có thể phủ khắp được các vùng miền trên toàn miền Nam, mà không có một phương tiện nào lúc bấy giờ có thể thực hiện được. Tính quy luật của lời chúc Tết của Bác và làn sóng phát thanh Đài Tiếng nói Việt Nam đã gây sự bất ngờ lớn đối với quân địch. Tuy trên thực tế diễn biến cụ thể cũng còn có những hiện tượng chưa đồng nhất về thời điểm nổ súng tiến công ở một số đơn vị và địa phương, nhưng sau đó đã được khắc phục kịp thời, bởi trong nghệ thuật quân sự Việt Nam thời chống Mỹ, có một nguyên tắc rất độc đáo là “lấy tiếng súng làm tín hiệu hiệp đồng”. Theo đó, tiếng súng tiến công của các đơn vị, địa phương này trở thành hiệu lệnh cho đơn vị, địa phương liền kề tiến công địch như một lẽ đương nhiên. Có thể khẳng định rằng, hiệu lệnh khởi phát cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân (1968) cũng thực sự là một hiện tượng đặc sắc, góp phần quan trọng vào thắng lợi của quân và dân ta ở miền Nam.

Tóm lại, vấn đề chọn thời điểm và hiệu lệnh khởi phát cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân (1968) thực sự là những nét độc đáo thuộc về nghệ thuật chỉ đạo và điều hành chiến tranh của Đảng ta, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Đây là một trong những chiến công thể hiện tầm cao trí tuệ và bản lĩnh Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh. Từ thực tế lịch sử, thành tựu và bài học kinh nghiệm về nghệ thuật quân sự đúc rút từ cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân (1968) nói riêng và trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước nói chung vẫn sẽ còn nguyên vẹn giá trị để chúng ta tiếp tục nghiên cứu, vận dụng trong sự nghiệp đấu tranh bảo vệ Tổ quốc hôm nay và tương lai.

Theo TS. Nguyễn Huy Thục/ Báo quân đội nhân dân
 Thu Hiền (st)

bqllang.gov.vn

Nhìn toàn cảnh về chiến dịch Mậu Thân 1968

12 tập phim tài liệu “Mậu Thân 1968” sẽ mang đến cho khán giả cái nhìn đa chiều và đầy đủ nhất từ trước đến nay về cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968. Phim được phat sóng trên VTV1 vao lúc 20h30 từ ngay hôm nay (25-1).

Êkíp làm phim tác nghiệp tại Mỹ

Để hoàn thành bộ phim này, đạo diễn Lê Phong Lan đã mất gần 8 năm trời chỉ để phỏng vấn, tập hợp, đối chiếu tư liệu. Trước đó sự kiện Mậu Thân 1968 đa được đề cập đến trong những bộ phim tư liệu của người Australia, Nga, Phap, Canada va đặc biệt là người Mỹ…Vì vậy, cách đặt vấn đề như thế nào với “Mậu Thân 1968” không phải là việc dễ dàng với một êkip làm phim người Việt Nam. Dù sự kiện đã diễn ra cách đây 45 năm nhưng trong phim, có nhiều thông tin mới mà cho tới tận bây giờ chúng ta mới được đề cập tới. Nhiều tư liệu quý mà cả hai bên cung cấp sẽ xuất hiện trong phim. Ngoài ra, phim tài liệu “Mậu Thân 1968” được thể hiện rất chuyên nghiệp với lời bình, giọng đọc, âm thanh… hứa hẹn sẽ gây ấn tượng với khán giả.

Đạo diễn Lê Phong Lan tiết lộ: “Mậu Thân 1968” bắt đầu từ việc đi tìm câu tra lời tai sao My – một cường quốc với tiềm lực kinh tế, quân sự, khoa học gấp 800 lần Việt Nam, lại can gián vào công việc nội bộ của một quốc gia nhỏ bé và lạc hậu ở cách xa nước Mỹ nửa vong trai đất; tại sao lại vướng vào một trong những cuộc chiến tranh lớn nhất, khốc liệt nhất và đáng xấu hổ nhất đối với quân đội của một đế quốc hùng mạnh? Tiếp theo là hành trình lật lại hồ sơ tư liệu về một kế hoạch tuyệt mật đã không được thực hiện từ thời chiến tranh đặc biệt; lý giải tại sao thời cơ chiến lược lại rơi đúng vào Tết Mậu Thân; diễn biến của cuộc tổng tiến công; lý giải tại sao người Mỹ lại cho rằng Khe Sanh là hướng tấn công chiến lược của ta, có hay không sự nổi dậy cua quần chung nhân dân trong sự kiện Mậu Thân 1968…

Bên cạnh đó, hình anh về một nước Mỹ, bị chia rẽ và phân hóa sâu sắc từ sau sự kiện Mậu Thân ra sao, dưới góc nhìn cua những nhân chứng người Mỹ cũng được phản ánh trong phim. Và cuối cùng, các sử gia, nhà nghiên cứu, người trong cuộc, bày tỏ những quan điểm thẳng thắn của mình về những được – mất của cách mạng Việt Nam trong sự kiện Mậu Thân 1968. Đặc biệt bộ phim cũng sẽ trả lời được câu hỏi tại sao chiến dịch Mậu Thân 1968 nay lai gây nhiều tranh cai suốt gần nửa thế ky qua…

Phim tài liệu “Mậu Thân 1968” sẽ phát sóng tập đầu tiên vào lúc 20h30 ngày 25-1 trên kênh VTV1 và chiếu liên tục 12 tập phim trong những ngày sau đó. Phim do Trung tâm Phim tài liệu và Phóng sự (Đài THVN) phối hợp với Hang phim Truyền hình Bản sắc Việt sản xuất. Trong buổi ra mắt mới đây tại Hà Nội, đánh giá về bộ phim tai liệu nay, ông Nguyễn Ha Nam – Trưởng Ban Thư ký Biên tập Đai THVN cho rằng: Bộ phim tai liệu “Mậu Thân 1968” đa tai hiện vô cung sinh động sự kiện có ý nghĩa bước ngoặt to lớn trong lịch sử dân tộc. Và với những ai đã từng theo dõi 5 tập phim “Hiệp định Paris 1973” thì việc tiếp tục theo dõi 12 tập phim “Mậu Thân 1968” sẽ có được cái nhìn đầy đủ và liên tục về vấn đề mà nhiều người cho là nhạy cảm và thường né tránh trong nhiều năm qua.

Nhã Anh
daidoanket.vn

Khởi quay phim chiến tranh “Món nợ Miền Đông”

Sáng ngày 27/9, Trung tâm sản xuất phim Truyền hình Việt Nam đã khởi quay phim truyện “Món nợ Miền Đông” kịch bản của Nguyễn Trung Hiếu và các nhà văn Trung Trung Đỉnh, Trần Thanh Phong và do nghệ sĩ Trần Vịnh làm đạo diễn.

Phim về đề tài chiến tranh dài 30 tập gồm hai phần. Phần I khởi quay có 13 tập xuyên suốt quá trình cách mạng ở Bình Dương và khu vực Miền Đông Nam bộ từ năm 1936 đến ngày giải phóng 1975 và phần II ở giai đoạn từ sau năm 1975 với chủ đề xây dựng- phát triển đất nước.

Theo ông Nguyễn Trung Hiếu vốn là chiến sĩ cách mạng- nhà báo của Thông tấn xã Việt Nam trong những năm chiến tranh, rồi làm Giám đốc Đài Phát thanh- truyền hình Bình Dương hiện đã nghỉ hưu cho biết, chủ đề và ý nghĩa chính của phim là nói lên trách nhiệm của những người đang sống đối với những người đã hy sinh để ra sức xây dựng đất nước ngày càng giàu đẹp hơn. Phim sẽ kịp hoàn thành phục vụ các ngày lễ lớn trong năm 2010 như 3/2, 30/4…

Còn theo đạo diễn Trần Vịnh, bộ phim (phần một) có tính phức tạp cao vì thể hiện nhiều giai đoạn lịch sử kéo dài gần 40 năm. Phim có những cảnh lớn hoành tráng khá phức tạp cần có đủ kinh phí và phải tập trung cao mới thể hiện tốt như cảnh khởi nghĩa năm 1945, cảnh nhà tù Phú Lợi bị đầu độc- thảm sát; cảnh chiến tranh năm Mậu Thân 1968….

Đội ngũ diễn viên có trong cả nước tham gia, với nhiều vai phải do 2-3 viễn viên đóng vì trải qua nhiều thời kỳ. Nhưng với chủ đề ca ngợi người lính, những người đã nằm xuống, đoàn làm phim “Món nợ Miền Đông” sẽ khắc phục khó khăn, cố gắng hoàn thành phim với chất lượng tốt nhất./.

(TTXVN/Vietnam+)
vietnamplus.vn