Thư viện

Cuộc chiến đấu giải phóng nhà lao Phủ Thừa

QĐND Online – Trong căn nhà nhỏ ở ngõ 365 phố Mai Dịch, Thiếu tướng Vũ Xuân Sinh, nguyên Chính ủy Trung đoàn 9, Chính ủy Quân đoàn 1, Hệ trưởng Hệ Quốc phòng (Học viện Quốc phòng) sau này, say sưa kể với tôi kỷ niệm đánh TP Huế hồi Tết Mậu Thân 1968. Ông tham gia đợt chiến đấu ấy với cương vị là Chính trị viên Đại đội 2 (Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 9, Sư đoàn 968), lực lượng được Bộ điều động tăng cường cho K815 của Thành đội Huế.

22 dũng sĩ xóm Siêu Quần

Khoảng đầu tháng 10-1967, đơn vị chúng tôi gồm: Tiểu đoàn 1, Tiểu đoàn 3 đang đứng chân ở sông Hai Gánh, phía Tây của TP Huế thì được trên phổ biến, thời gian tới sẽ đánh vào TP Huế. Nghe phổ biến như vậy ai trong chúng tôi cũng vui. Những ngày sau đó, chúng tôi tích cực làm công tác chuẩn bị với khí thế rất cao. Chúng tôi đi xuống Hương Thủy để lấy gạo, đạn và vũ khí. Đơn vị tổ chức tập huấn quán triệt nhiệm vụ, đồng thời huấn luyện bổ sung các hình thức chiến đấu. Đội ngũ cán bộ được phổ biến kỹ về các mục tiêu tác chiến và các yêu cầu phối hợp thực hiện nhiệm vụ. Tiểu đoàn 1 của tôi được giao đảm nhiệm tiêu diệt khu vực Tam giác Huế, bao gồm các mục tiêu: Nhà ga, Tòa nhà quốc hội Trung phần (bây giờ là khách sạn Thuận Hóa), Dinh tỉnh trưởng và nhà lao Phủ Thừa, hỗ trợ cho quần chúng nhân dân nổi dậy.

Thiếu tướng Vũ Xuân Sinh say sưa kể chuyện

Chúng tôi vốn chẳng lạ kiểu tác chiến của bọn Mỹ, ngụy. Vì Tiểu đoàn 1, Tiểu đoàn 3 đã được điều động vào tăng cường cho K815 của Thành đội Huế từ tháng 12-1966. Từ lúc vào Huế cho đến khi cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 diễn ra, đơn vị chúng tôi ở cùng dân; cùng dân chống càn, chống bình định và nhổ chốt. Chúng tôi đã nhiều lần chạm chán với quân Mỹ, điển hình là trận đánh lại 1 tiểu đoàn thủy quân lục chiến Mỹ có pháo binh, xe tăng, cơ giới yểm trợ càn vào làng Siêu Quần (xã Phong Hòa, huyện Phong Điền) của Trung đội 6, Đại đội 2 chúng tôi các ngày từ 20 đến 23-7-1967. Trung đội 6 lúc đó có 22 người mà đã đẩy lùi nhiều đợt tiến công của địch, thu nhiều vũ khí trang bị. Sau mỗi đợt tiến công không có kết quả, địch lại cho pháo kích dội xuống làng Siêu Quần. Trước đó, nhân cơ hội bộ binh địch rút ra ta cũng bí mật rút theo, nên khi địch bắn pháo ta không bị thương vong. Khi địch chuẩn bị tiến công, ta rút về trước củng cố công sự trận địa và đánh lại chúng. Đêm đến, khi địch cố thủ trong các các vị trí dã chiến, ta tổ chức lực lượng đánh tiêu diệt và lại nhanh chóng rút đi. Kết thúc 3 ngày chống càn, 22 cán bộ, chiến sĩ Trung đội 6 đã tiêu diệt nhiều xe tăng bọc thép của quân địch nhưng nhiều chiến sĩ đã bị thương và hy sinh. Sau này, Quân khu Trị Thiên tuyên dương công lao của Trung đội 6, phong họ là “22 dũng sĩ xóm Siêu Quần”.

Phá nhà lao Phủ Thừa

Chiều 31-1-1968, đơn vị tôi bí mật hành quân vượt sông Nguyễn Biểu (một nhánh của sông Hương) sau đó lại bí mật vòng tránh để vượt đồn Nam Giao, vượt cầu An Cựu và vào Lăng Gia Long (phía Tây Huế) trú quân. Rạng sáng ngày 1-2-1968, đơn vị chúng tôi nổ súng tiến công địch. Đến trưa cùng ngày, Đại đội 1 và 3 của Tiểu đoàn 1 chiếm được nhà ga Huế và Tòa nhà quốc hội Trung phần. 6 giờ ngày 1-2, Đại đội 2 của tôi đánh chiếm và cắm được cờ giải phóng trên nóc Dinh tỉnh trưởng, sau đó chúng tôi đột phá nhà lao Phủ Thừa, nhưng không thành công do ta chưa nắm chắc được nguyên tắc bố phòng của địch.

Theo cơ sở báo cho ta thì nhà lao Phủ Thừa là nơi giam giữ khoảng hơn 2.200 người và có khoảng 100 cai ngục, ác ôn, lính bảo vệ. Đặc biệt, chúng đã gài bọc phá khắp nhà lao, nếu bị đánh mạnh, chúng sẽ cho nổ, tiêu diệt toàn bộ tù nhân và phá hủy nhà lao. Nhà lao có nhiều lớp hàng rào kiên cố bao bọc xung quanh, có hệ thống bốt canh và đại liên từ trên cao đánh xuống, rất lợi hại. Đến tối ngày 1-2, chúng tôi đánh thăm dò một lần nữa, nhưng vẫn không có kết quả. Từ sáng ngày 2-2, chúng tôi đã nhiều lần nghiên cứu và bàn phương án tác chiến, nhưng chưa lựa được phương án khả thi. Tối ấy, vào khoảng 20 đến 21 giờ, chúng tôi quyết định cử 1 tổ trinh sát gồm 7 đồng chí, do Phó đại đội trưởng Phạm Văn Nhang chỉ huy bí mật đi trinh sát. Rất may, sau đó chúng tôi bắt được một tên lính ngụy từ trong nhà lao trốn ra ngoài. Sau khi khai thác, chúng tôi đã động viên được tên này dẫn đường vào trong nhà lao. Phương án là cho 1 tiểu đội, do đồng chí Nhang trực tiếp chỉ huy vượt tường rào vào trong nhà lao. Tiểu đội được chia làm 2 tổ, tổ 1 đánh chiếm khu chỉ huy nhà lao; tổ 2 đánh ra cổng chính, hỗ trợ lực lượng chủ yếu mở cổng và tiến vào giải phóng tù nhân. Hiệu lệnh hiệp đồng là tiếng nổ ở bên trong.

Khoảng 3 giờ sáng ngày 3-2, chúng tôi triển khai đội hình xong. Gần 4 giờ sáng, khi bộc phá do tổ 2 bí mật gài ở trong nổ, bộ binh ở bên ngoài đánh mạnh vào cổng chính. Khi mở được cổng chính chúng tôi tràn vào, phối hợp với lực lượng bên trong tiêu diệt bọn địch. 30 phút sau chúng tôi mở được cửa các phòng giam tù nhân trong nhà lao. Tại đây, sau nhiều lần kêu gọi, các tù nhân mới ngóc đầu dậy và chỉ khi nhìn thấy quần áo; cờ đỏ, xanh quấn ở cánh tay trên các chiến sĩ quân giải phóng thì các tù nhân mới dám đứng lên. Vì bọn địch quy định, khi nghe tiếng súng, tất cả các tù nhân phải nằm úp mặt xuống đất, nếu ai ngẩng đầu lên sẽ bị bắn. Toàn bộ tường của các phòng đã bị địch ốp thuốc nổ, nếu tù nhân ồn ào là chúng điểm hỏa, từ nhân sẽ bị giết hại. Sau khi được giải phóng, các tù nhân đi tìm lính canh, cai ngục và ác ôn để tiêu diệt, chúng tôi phải liên tục ngăn cản, tuyên truyền, giải thích gần 4 giờ đồng hồ rất mệt mỏi thì các tù nhân mới thông; thành ra nhiệm vụ của chúng tôi lúc này là bảo vệ bọn binh lính, cai ngục và ác ôn.

Đến sáng 3-2, lực lượng của Tiểu đoàn 1 và Thành đội Huế kéo đến, chúng tôi phải ghi tên, phân loại tù nhân; tuyên truyền chính sách của Mặt trận giải phóng; động viên họ phát hiện, tố cáo ác ôn và tham gia cùng lực lượng quân giải phóng chiến đấu. Có rất nhiều người tham gia vào các đơn vị phục vụ và trực tiếp làm nhiệm vụ chiến đấu, riêng Đại đội 2 của tôi tiếp nhận thêm khoảng 70 người. Từ ngày 4 -2 trở đi, địch bắt đầu tổ chức phản kích quyết liệt, chúng tôi đã chiến đấu ngoan cường, chống lại hỏa lực và lực lượng địch đông gấp nhiều lần trong điều kiện hết sức khó khăn, thiếu đạn dược, lương thực, thực phẩm, thuốc men và cả nước uống. Trong thời gian ấy, có nhiều tấm gương chiến đấu rất dũng cảm, như đồng chí Khiêm, chiến sĩ B40, có ngày bắn tới 9 quả đạn (vượt 4 – 5 quả so với quy định) đến độ ù tai, người ngơ ngác. Đến ngày 24 và 25-2, chúng tôi rút khỏi TP Huế, hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ trên giao.

Thiếu tướng VŨ XUÂN SINH (kể)MẠNH THẮNG (ghi)
qdnd.vn

Nghệ thuật tạo bất ngờ trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân (1968)

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân (1968) là một trong ba đòn Tiến công chiến lược của quân và dân ta trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Nó đã gây cú “sốc đột ngột”, làm đảo lộn thế bố trí, phá vỡ kế hoạch tác chiến của Mỹ; làm rung chuyển không chỉ toàn bộ chiến trường miền Nam, mà còn gây chấn động Nhà trắng, Lầu năm góc và làm lay chuyển ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ. Tổng thống Mỹ Giôn-xơn phải cách chức Bộ trưởng Quốc phòng và Tổng chỉ huy quân viễn chinh Mỹ ở miền Nam Việt Nam; đồng thời, xuống thang chiến tranh, chấp nhận ngồi vào bàn đàm phán với Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam tại Pa-ri. Về cá nhân, Giôn-xơn tuyên bố không tham gia ứng cử Tổng thống Mỹ nhiệm kỳ thứ 2. Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân (1968) về cơ bản đã làm phá sản chiến lược “Chiến tranh cục bộ” của Mỹ, mở ra khả năng và cục diện mới cho quân và dân ta thực hiện quyết chiến chiến lược “đánh cho Mỹ cút”, tiến tới “đánh cho ngụy nhào”, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc vào mùa Xuân 1975. Thắng lợi đó có nhiều nguyên nhân và để lại nhiều bài học quý. Xét về lĩnh vực quân sự, đó là bài học nghệ thuật tạo bất ngờ trên cả ba phương diện: chiến lược, nghệ thuật chiến dịch và chiến thuật.

Bộ đội hành quân trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968. (Ảnh tư liệu)

Trước hết là sự chuẩn bị chu đáo về lực lượng và vũ khí trang bị. Đây là điều kiện tiên quyết để ta mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân với quy mô lớn trên toàn miền Nam, trong đó tập trung vào các thành phố, đô thị. Vì thế, yêu cầu đặt ra là phải có lực lượng quân sự tinh nhuệ, lực lượng đấu tranh chính trị hùng hậu, rộng khắp và khối lượng lớn vũ khí, trang thiết bị quân sự… Thực hiện quyết tâm của Bộ Chính trị, các sư đoàn chủ lực dự bị cơ động chiến lược (308, 304, 320, 312) được gấp rút kiện toàn về tổ chức, biên chế, trang bị, đẩy mạnh huấn luyện để sẵn sàng vào chiến trường khi có lệnh. Các trung đoàn, sư đoàn bộ binh và các đơn vị binh chủng từ nhiều nơi trên chiến trường miền Nam bí mật hành quân “ém sẵn” ở các địa bàn ven đô. Riêng khu vực Sài Gòn, Trung ương Cục quyết định giải thể Quân khu 7 và Quân khu Sài Gòn – Gia Định, thành lập “Khu trọng điểm” gồm nhiều phân khu (Tiểu đoàn mũi nhọn) được tổ chức và trang bị gọn nhẹ; trong đó, biên chế nhiều tổ, đội biệt động, đặc công, bảo đảm cho các lực lượng vừa có mũi nhọn, vừa có chiều sâu tiến công đồng loạt từ nhiều hướng vào Sài Gòn… Bên cạnh đó, việc đảm bảo lương thực, thực phẩm, vũ khí, trang bị kỹ thuật cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy (từ miền Bắc chuyển vào) được chuẩn bị hết sức chu đáo. Trong nội đô, nhiều tổ chức – cơ sở cách mạng của ta đã sử dụng các phương tiện vận tải (ô tô, xuồng máy) hợp pháp, đêm ngày bí mật chuyển lương thực, thuốc men ra vùng giải phóng và nhận súng đạn đưa về nội đô… Với chiến thuật “thiên biến vạn hóa” đó, chúng ta đã đưa một lực lượng bộ đội chủ lực cùng với khối lượng lớn vũ khí, trang bị quân sự vượt qua hệ thống trạm kiểm soát và mạng lưới mật vụ, biệt kích, thám báo chìm, nổi dày đặc của địch, vào “lót sẵn” trong nội đô. Dưới sự lãnh đạo sáng suốt, tài tình, táo bạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân (thậm chí có cả vợ, con của sĩ quan ngụy) trong các thành phố, thị xã đã nhiệt tình ủng hộ, che chở, đùm bọc lực lượng cách mạng. Họ bí mật đào những căn hầm chứa vũ khí, trang bị kỹ thuật quân sự ngay dưới nền nhà của mình; nhiều bà má, chị, em không quản gian khổ, hiểm nguy, hy sinh để vận chuyển vũ khí vào thành phố… Nhờ đó, các lực lượng của ta với đầy đủ vũ khí, trang bị đã “nằm sẵn” trong lòng thành phố, thị xã, quận lỵ sẵn sàng chờ lệnh nổ súng tiến công tiêu diệt địch. Những việc làm trên được khắc ghi trong sử sách là minh chứng sống động về nghệ thuật chiến tranh nhân dân Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh, mà biểu hiện cụ thể của nó là tạo bất ngờ cả về thế và lực đối với địch.

Tạo bất ngờ về thời điểm tiến hành cuộc Tổng tiến công và nổi dậy. Chọn dịp Tết Nguyên Đán và thời khắc giao thừa1 đồng loạt nổ súng mở màn là nét đặc sắc của nghệ thuật tạo bất ngờ; bởi đây là lúc địch sơ hở và chủ quan nhất. Cân nhắc, nghiên cứu và tính toán rất kỹ, cụ thể từng chi tiết, phong tục tập quán Tết cổ truyền của dân tộc trên đất phương Nam; việc “điều binh, khiển tướng” của Quân lực Việt Nam cộng hòa từ nhiều năm trước đó, sau khi có sự thống nhất giữa cơ quan chỉ đạo tối cao và chỉ huy các chiến trường, Bộ thống soái quyết định chọn thời điểm Giao thừa là “giờ G” làm hiệu lệnh nổ súng mở màn cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân. Với sự tính toán mưu lược chu tất như vậy, nên khi ta tiến công, địch hoàn toàn bị bất ngờ, không kịp đối phó. Ngay sau khi sự kiện Tết Mậu Thân diễn ra, giới chỉ huy quân sự và học giả Mỹ cũng như phương Tây đã xác nhận: Vào những ngày Tết Mậu Thân, các đơn vị của Quân đội Việt Nam cộng hòa chỉ có một nửa quân số, khiến cho Bộ Chỉ huy Quân sự Mỹ ở Sài Gòn vô cùng lúng túng trong việc ứng phó. Từ thực tế đó, càng khẳng định: việc chọn thời điểm Tết Nguyên Đán mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân có ý nghĩa chiến lược, góp phần tạo bất ngờ về thời gian – yếu tố quan trọng làm nên thắng lợi của Xuân Mậu Thân. Vì thời gian là lực lượng.

Tạo bất ngờ về hướng và mục tiêu tiến công chủ yếu. Vào thời điểm trước cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân, địch còn rất mạnh cả về thế và lực, nên chúng ta không thể sử dụng toàn bộ lực lượng chủ lực để đánh vào các thành phố lớn. Do vậy, chủ trương của Đảng ta là căng, kéo, lừa địch trải lực lượng ra khắp chiến trường miền Nam, nhất là đến địa bàn có lợi để dùng những quả đấm mạnh đánh những đòn tiêu diệt lớn, bẻ gãy các cuộc hành quân “tìm diệt” của chúng. Thực hiện chủ trương đó, cuối năm 1967, Quân ủy Trung ương quyết định mở chiến dịch tiến công Đường 9 – Khe Sanh2, nhằm dụ quân Mỹ lên để giam chân và tiêu diệt chúng tại đó, tạo ra kẽ hở, điểm yếu ở các đô thị. Trong khi đó, giới chức chỉ huy quân sự Mỹ và Sài Gòn cho rằng bộ đội chủ lực ta có rất ít kinh nghiệm tác chiến trong thành phố, lực chưa đủ mạnh để tiến công vào các cơ quan đầu não của chúng; bởi, đây là những mục tiêu được canh phòng cẩn mật, với hệ thống thiết bị cảnh giới tinh vi, hỏa lực ngăn chặn mạnh và dày đặc nhiều tầng, nhiều lớp. Từ đánh giá sai về ta, lại “tuyệt đối hóa” sức mạnh của vũ khí, thiết bị chiến trường, nên từ chỉ huy đến binh sĩ của quân đội Mỹ cũng như quân đội ngụy chủ quan, mất cảnh giác. Do vậy, chọn đô thị là hướng tiến công chủ yếu là ta đã chọn đánh vào điểm yết hầu, hiểm yếu của kẻ thù. Đòn hiểm đó đã phơi bày sự thất bại về quân sự và sự yếu kém của Mỹ và chính quyền ngụy. Lần đầu tiên trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, chúng ta đã đưa được chiến tranh vào đô thị, thực hiện một đòn đánh hiểm, đánh đau vào “trung tâm đầu não” của địch; đồng thời, khẳng định: với đường lối chiến tranh nhân dân đúng đắn, sáng tạo của Đảng thì mọi điều đều có thể xảy ra, dù khó khăn, phức tạp đến mấy. Đó chính là tư duy chiến lược, chiến thuật của những bộ não chỉ huy và trực tiếp điều hành chiến tranh thời đại Hồ Chí Minh; sự sáng tạo, độc đáo, vượt trước của Đảng ta trong cuộc đấu mưu, đấu trí sinh tử với kẻ thù. Sau thảm bại trong Tết Mậu Thân, với tâm trạng hoang mang, dao động, nhiều giới chức quân sự và chính khách Mỹ đã tự hỏi: Tại sao nửa triệu lính Mỹ và hơn 70 vạn lính Nam Việt Nam cộng tác, có ưu thế hoàn toàn trên không và ngoài biển, được cung cấp quá đầy đủ và được trang bị những vũ khí hiện đại nhất lại không có khả năng bảo vệ được thành phố khỏi bị đối phương tấn công! Chính nội dung câu hỏi đã lộ rõ và thừa nhận về sự bị động và bất ngờ của quân Mỹ – lực lượng đóng vai trò chủ chốt trong chiến lược “chiến tranh cục bộ”.

Ngoài ra, nét độc đáo về nghệ thuật tạo bất ngờ trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân còn được thể hiện ở cách thức phát hiệu lệnh tiến công. Để bảo đảm bí mật, bất ngờ tuyệt đối, hiệu lệnh khởi phát cuộc Tổng tiến công Tết của ta được ấn định vào thời điểm giao thừa, lúc Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc thơ chúc mừng năm mới trên Đài phát thanh tiếng nói Việt Nam, một phương tiện thông tin đại chúng, có độ lan tỏa rộng, nhanh và ít bị địch chế áp, theo dõi. Vì thế, Lời chúc Tết Mậu Thân của Bác trở thành một sự kiện gây bất ngờ đối với quân thù. Như vậy, hiệu lệnh của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân cũng thực sự là một hiện tượng thật đặc sắc, góp thêm một bất ngờ nữa đối với Mỹ và Quân đội Sài Gòn.

Tóm lại, nghệ thuật tạo bất ngờ đối với Mỹ và Quân đội Việt Nam cộng hòa thực sự là một trong những nhân tố đóng vai trò quyết định thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân. Đây là “sản phẩm đặc biệt” của tầm cao trí tuệ và bản lĩnh Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh; nét đặc sắc đáng ghi nhớ nhất, hấp dẫn nhất của sự kiện Tết Mậu Thân đã diễn ra cách đây 45 năm, trong hoàn cảnh hết sức đặc biệt. Bài học kinh nghiệm về nghệ thuật tạo bất ngờ trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân (1968) nói riêng, trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước nói chung, vẫn mãi giữ nguyên giá trị để chúng ta tiếp tục nghiên cứu, vận dụng trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc hiện nay.

Đại tá, TS. NGUYỄN HUY THỤC
Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam
tapchiqptd.vn

—————
1 – Đêm 30 rạng ngày 31-01-1968 – đêm giao thừa và ngày Mùng 1 Tết Mậu Thân.
2 – Chiến dịch bắt đầu từ ngày 20-01-1968.

Bước phát triển nghệ thuật tác chiến của xe tăng và chỉ huy tác chiến binh chủng hợp thành

Chiến thắng Tà Mây-Làng Vây

QĐND – Cách đây 45 năm, Bộ đội Tăng thiết giáp (TTG) đã lập chiến công kỳ diệu-đánh thắng trận đầu ở Tà Mây – Làng Vây.

Theo xu hướng phát triển của cách mạng, Trung đoàn xe tăng đầu tiên của quân đội ta (Trung đoàn 202) được thành lập và ngày 5-10-1959 trở thành ngày truyền thống của Binh chủng TTG. Thời gian huấn luyện, chuẩn bị, chờ đợi ở miền Bắc khá dài, nên cán bộ, chiến sĩ TTG rất mong được vào Nam chiến đấu. Đến cuối năm 1967, Binh chủng đã có sự phát triển mạnh mẽ cả về tổ chức và lực lượng. Đầu năm 1968, khi ta mở chiến dịch Đường 9 – Khe Sanh, Bộ Tổng tham mưu quyết định sử dụng lực lượng TTG tham gia chiến dịch. Đảng ủy Binh chủng Thiết giáp thành lập Tiểu đoàn 198 xe tăng lội nước PT-76, gồm các Đại đội tăng 3 (Tiểu đoàn tăng 1) và Đại đội tăng 9 (Tiểu đoàn tăng 3) thực hiện nhiệm vụ vinh dự này. Đặc biệt, khi được giao nhiệm vụ tăng cường cho sư đoàn bộ binh tiến công địch tại các cứ điểm Tà Mây-Làng Vây, bộ đội TTG đã chuẩn bị rất chu đáo, nhằm bảo đảm đánh chắc thắng, đạt được các mục tiêu chiến dịch.

Qua hơn 50 ngày đêm hành quân, vượt chặng đường dài gần 1.500km (từ Lương Sơn, Hòa Bình), qua nhiều vùng dân cư và nhiều trọng điểm địch đánh phá ác liệt, Tiểu đoàn 198 đã tập kết chiến dịch tại Đường 9-Nam Lào. Địch không hề biết về sự có mặt của tiểu đoàn xe tăng đầu tiên trên chiến trường và không biết bằng cách nào ta có thể đưa được xe tăng vượt núi rừng Trường Sơn trùng điệp, hiểm trở, áp sát căn cứ địch.

Xe tăng 555 tham gia hiệu quả các trận đánh Tà Mây và Làng Vây. Ảnh tư liệu.

Đêm 23, rạng sáng 24-1-1968, Đại đội tăng 3 phối thuộc cho Trung đoàn bộ binh 24, Sư đoàn 304 tiến công tiêu diệt cụm cứ điểm Huội San, do một tiểu đoàn quân ngụy Lào chiếm giữ, trọng tâm là cứ điểm Tà Mây. Hỏa lực trên xe tăng đã bắn sập lô cốt và diệt các hỏa điểm địch, tạo điều kiện cho xe tăng cùng bộ binh, công binh xung phong đánh thẳng vào bên trong, nhanh chóng làm chủ trận địa. Tiếp đó, Bộ chỉ huy chiến dịch quyết định đưa Tiểu đoàn 198 vào tham gia chiến đấu cùng Trung đoàn bộ binh 24 (Sư đoàn 304) và một tiểu đoàn của Sư đoàn 325, thực hiện đánh trận then chốt, tiêu diệt cứ điểm Làng Vây – một cứ điểm mạnh, rất quan trọng trong hệ thống phòng thủ đường 9 của Mỹ-ngụy.

Đúng 17 giờ ngày 6-2-1968, trận tiến công cứ điểm Làng Vây bắt đầu. Trên hướng tiến công chủ yếu, Đại đội tăng 9 lợi dụng dòng sông Sê-pôn, tập kết bí mật ở làng Troài và bất ngờ tiến công cứ điểm Làng Vây. Trên hướng thứ yếu, Đại đội tăng 3 xuất kích theo đường 9, đánh thẳng vào các đại đội biệt kích 102 và 103 của quân ngụy. Sau 4 giờ chiến đấu ngoan cường, dũng cảm, ta đã tiêu diệt gọn một tiểu đoàn ngụy. 3 giờ sáng 7-2-1968, xe tăng và bộ binh ta đã làm chủ cứ điểm Làng Vây.

Trong trận Làng Vây, bất ngờ lớn nhất đối với địch là hướng tiến công vì chúng cho rằng, xe tăng ta chỉ có thể vận động theo Đường 9 (từ hướng Tây), nên đã tập trung lực lượng đánh phá, ngăn chặn. Về phía ta, ngoài hướng tiến công từ phía Tây theo trục Đường 9, ta đã nghiên cứu lợi dụng sông Sê-pôn, bí mật đưa xe tăng vào hướng Nam căn cứ địch, đánh đòn hiểm, khiến địch hết sức bất ngờ, bị động, nhanh chóng bị phá vỡ thế trận. Sau 4 giờ chiến đấu, xe tăng cùng bộ binh đã tiêu diệt gọn một tiểu đoàn ngụy phòng ngự trong công sự vững chắc trên điểm cao, diệt và bắt sống gần 600 tên địch, thu toàn bộ vũ khí trang bị.

Tà Mây-Làng Vây là trận đánh đầu tiên hiệp đồng quân, binh chủng có xe tăng tham gia; hiệp đồng nhịp nhàng, ăn khớp giữa xe tăng với xe tăng, xe tăng với bộ binh, tiêu diệt từng cứ điểm địch; đoàn kết hiệp đồng, lập công tập thể giữa lực lượng TTG và các quân, binh chủng bạn. Nghệ thuật sử dụng TTG rất độc đáo, đó là lợi dụng dòng sông Sê-pôn để cơ động lực lượng và tạo bất ngờ lớn, chứng tỏ bước trưởng thành của bộ đội TTG về tổ chức chỉ huy và khả năng sử dụng VKTB hiện đại; khẳng định sức mạnh đột kích của xe tăng trên chiến trường. Qua trận Tà Mây-Làng Vây tạo cơ sở thực tiễn cho sự hình thành nghệ thuật sử dụng TTG trong chiến dịch, từ tổ chức hành quân đường dài, đến triển khai cơ động lực lượng, giữ bí mật bất ngờ, chọn mục tiêu, chọn hướng, cách đánh, tổ chức hiệp đồng bảo đảm; tiến hành công tác chính trị tư tưởng, hậu cần, kỹ thuật… Nghệ thuật chiến đấu của xe tăng trong trận Làng Vây là “bí mật, bất ngờ, chuẩn bị chu đáo, bảo đảm đầy đủ, mưu trí, sáng tạo, sử dụng tập trung, hiệp đồng chặt chẽ”. Ta đã vận dụng nguyên tắc sử dụng xe tăng tập trung trên hướng chủ yếu, mục tiêu chủ yếu, tham gia đánh trận then chốt chiến dịch, phát huy sức mạnh đột kích của xe tăng, phối hợp hiệp đồng chặt chẽ với bộ binh, thực hành đột phá, thọc sâu, đánh thẳng vào trung tâm đầu não của địch, nhanh chóng phá vỡ thế phòng ngự của chúng.

Chiến thắng Tà Mây-Làng Vây còn bắt nguồn từ thế trận lòng dân. Cấp ủy, chính quyền, nhân dân nhiều địa phương đã phối hợp chặt chẽ, bảo đảm bí mật, che dấu, dẫn đường cho xe tăng cơ động, chiến đấu thắng lợi. Chiến thắng Tà Mây-Làng Vây mở đầu cho truyền thống “Đã ra quân là đánh thắng” của bộ đội TTG, không chỉ có giá trị về nghệ thuật quân sự, mà còn tạo động lực to lớn về mặt tinh thần, cổ vũ, động viên, tạo tiền đề để bộ đội TTG đánh những trận sau giành thắng lợi lớn hơn. Đây cũng là cơ sở thực tiễn đầu tiên về nghệ thuật tác chiến của xe tăng, của chỉ huy tác chiến binh chủng hợp thành có xe tăng tham gia, là bài học quý được vận dụng, phát triển trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước và là nguyên tắc tác chiến cơ bản, xuyên suốt cho hành động chiến đấu và chỉ huy chiến đấu của bộ đội TTG sau này.

Thiếu tướng HOÀNG TRUNG KIÊNTư lệnh Binh chủng Tăng-Thiết giáp
qdnd.vn

Bảo đảm kỹ thuật góp phần quan trọng trong cuộc Tổng tiến công

Kỷ niệm 45 năm cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968

QĐND – Trước tình hình chuyển biến ngày càng có lợi cho ta, sau thắng lợi đánh bại hai cuộc phản công chiến lược của Mỹ trong các mùa khô 1965-1966 và 1966-1967, Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương chủ trương tập trung lực lượng tiến công đồng loạt, bất ngờ vào các đô thị, hướng trọng điểm là Sài Gòn, Huế, Đà Nẵng và sử dụng chủ lực kìm chế, thu hút địch ở các chiến trường rừng núi (Trị Thiên, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ)… Cùng với việc nâng cao khả năng tác chiến của bộ đội chủ lực, Trung ương Đảng, Bộ Quốc phòng tập trung chỉ đạo công tác bảo đảm kỹ thuật cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968.

Để chuẩn bị lực lượng, cơ sở vật chất kỹ thuật cho cuộc Tổng tiến công, Quân ủy Trung ương quyết định đẩy mạnh việc vận tải cơ giới trên tuyến chi viện chiến lược, kéo dài thêm cung vận tải ô tô vào đến Chà Văn chuyển hàng cho Khu 5, đồng thời tăng thêm lực lượng cao xạ, công binh, thông tin, bổ sung thêm xe vận tải cho Đoàn 559 lên đến 5.372 xe, số đơn vị vận tải tăng lên 5 tiểu đoàn. Đoàn 559 thành lập 9 binh trạm, xây dựng 2.959km đường ô tô chính, 445km đường trục phụ, 882km đường trục ngang, 576km đường vòng tránh, 450km đường vào kho. Toàn tuyến bước vào kế hoạch vận tải mùa khô 1967-1968 với khối lượng trên giao là 61.000 tấn, tăng gấp hai lần so với mùa khô 1966-1967.

Dân công Chợ Gạo (Mỹ Tho) tải đạn phục vụ chiến trường trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968. Ảnh tư liệu.

Trên chiến trường Nam Bộ, Trung ương Cục quyết định giải thể Quân khu 7 và Quân khu Sài Gòn – Gia Định để thành lập các phân khu. Mỗi phân khu đều tổ chức Phòng Hậu cần có nhiệm vụ bảo đảm vũ khí, trang bị kỹ thuật, đạn dược cho các LLVT chiến đấu trên địa bàn. Đảng ủy Cục Hậu cần Miền động viên cao độ toàn bộ lực lượng, phương tiện để tập kết vũ khí trang bị đến các địa điểm, bảo đảm thời gian cho các đơn vị theo kế hoạch đã định và chỉ đạo các đoàn hậu cần tích cực tiếp nhận, vận chuyển vũ khí về những địa điểm quy định, để dự trữ. Hậu cần Miền thành lập 8 đại đội vận tải cơ giới với 139 xe ô tô, 10 tiểu đoàn và 10 đại đội vận tải thồ với 4.412 xe đạp, 8 đại đội công binh làm đường. Tại miền Đông Nam Bộ, ta đã xây dựng được 500km đường vận tải cơ giới, 280km đường thồ xe đạp và 350km luồng vận tải đường sông. Tuyến tải 50 giao cho Phân khu 1 được 300 tấn, Phân khu 5: 105 tấn, Đoàn 83: 144 tấn; Tuyến tải 60 giao cho Phân khu 5: 142 tấn, thị xã Biên Hòa: 212 tấn, Sư đoàn 5: 41,5 tấn, tỉnh Bà Rịa: 25 tấn, Đoàn 81: 11,5 tấn; Tuyến tải 70 giao Phân khu 5: 98 tấn, Trung đoàn miền Đông: 21 tấn và để tại kho Đoàn 50: 155 tấn, kho Đoàn 82: 103 tấn. Số lượng vũ khí trên đã bảo đảm biên chế trang bị cho mỗi sư đoàn có 1 tiểu đoàn súng máy phòng không 12,7mm, mỗi trung đoàn có 18 khẩu B41, các đại đội có 9 khẩu B40; mỗi tỉnh được trang bị 70 khẩu B40, các tiểu đoàn tỉnh được trang bị phổ biến là ĐKZ 75, cối 82mm, trọng liên 12,7mm. Hậu cần các phân khu, đặc biệt là Phân khu 6 bí mật đưa vũ khí vào cất giấu ở 25 địa điểm trong nội đô Sài Gòn – Gia Định; riêng đơn vị A10 đã đưa vào nội thành 450kg thuốc nổ, 150 súng K54, AK, 3 khẩu cối 81mm và 1 khẩu ĐKZ với 90 quả đạn bằng 20 chuyến xe bò. Đến trước ngày nổ súng, Bộ tư lệnh Miền và các đoàn hậu cần đã huy động 1.080 người tham gia phục vụ chiến đấu và chuẩn bị được 5.079 tấn vũ khí, đạn dược; các LLVT được bổ sung 50.000 súng bộ binh, nhiều súng chống tăng B40, B41, đạn cối 120mm, đạn hỏa tiễn ĐKB, H12.

Trên chiến trường Khu 5, lực lượng kỹ thuật tiến hành bảo đảm trang bị mới cho Trung đoàn 557 pháo hỏa tiễn ĐKB, Trung đoàn Đặc công 401 độc lập… Lực lượng vận tải hành lang cùng lực lượng vận tải các đơn vị trực tiếp nhận vũ khí đạn tại tuyến chiến lược đưa thẳng về đơn vị. Các mặt trận, địa phương, đơn vị đều có hệ thống kho dự trữ, vũ khí đạn, hệ thống xưởng quân giới sản xuất, sửa chữa vũ khí… Từ các binh trạm hậu cần triển khai trên các địa bàn trước đây, hậu cần chiến trường Tây Nguyên phối hợp chặt chẽ với các tỉnh, các trung đoàn chủ lực tại các địa phương tổ chức tiếp nhận, lập các kho dự trữ vũ khí đạn dược chuẩn bị cho các hướng đánh vào các thị xã, thị trấn. Ở chiến trường Trị – Thiên, được Đoàn 559 trực tiếp chi viện, hậu cần Quân khu 5 đã tổ chức tiếp nhận hàng vạn tấn vũ khí, đạn dược và lập các kho dự trữ ở A Sầu, A Túc, Động Cô Tiên… bảo đảm trang bị cho các đơn vị tham gia chiến đấu (riêng ở Huế trang bị được 8 tiểu đoàn bộ binh, 1 tiểu đoàn ĐKB, 3 tiểu đoàn đặc công và các đơn vị khác).

Ngoài ra, lực lượng kỹ thuật còn tiến hành bảo đảm tốt vũ khí, đạn dược cho bộ đội mở chiến dịch Đắc Tô – Tân Cảnh, chiến dịch Lộc Ninh – Đường 13, bảo đảm cho Sư đoàn 2 mở chiến dịch Quế Sơn. Đặc biệt, Tổng cục Hậu cần tiền phương, Đoàn 559 thực hiện bảo đảm cho chiến dịch Đường 9 – Khe Sanh được 6.800 tấn vũ khí, đạn dược và các loại vật chất trang bị khác.

Đêm Giao thừa Tết Mậu Thân (đêm 30 rạng ngày 31-1-1968) quân và dân miền Nam bất ngờ, đồng loạt tiến công kết hợp với nổi dậy ở 4 thành phố (trọng tâm là Sài Gòn – Gia Định và Huế), 37 thị xã và hàng trăm quận lỵ, thị trấn; tập trung đánh vào nội thành và các cơ quan đầu não, các căn cứ hậu cần, sân bay, bến cảng lớn, nhiều sở chỉ huy cấp quân khu, quân đoàn, sư đoàn của địch… Trong quá trình chiến đấu, lực lượng bảo đảm kỹ thuật dựa vào nhân dân, theo sát các đơn vị chiến đấu tổ chức tiếp tế vũ khí, đạn dược, nhất là lực lượng đặc công, biệt động chiến đấu nhiều ngày trong thành phố, thị xã.

Hoàn thành tốt nhiệm vụ bảo đảm kỹ thuật trong Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 là một đóng góp quan trọng tạo nên sức mạnh chiến đấu cho các lực lượng vũ trang giáng đòn quyết định vào ý chí xâm lược của giới cầm quyền Mỹ, buộc Mỹ phải chấp thuận đàm phán với ta ở hội nghị Pa-ri… Đồng thời để lại nhiều kinh nghiệm về tổ chức, bảo đảm kỹ thuật cho các chiến dịch sau này.

NGÔ NHẬT DƯƠNG
qdnd.vn

Bác Hồ với Tết Mậu Thân 1968

QĐND Online – Giữa năm 1967, cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta xuất hiện tình thế mới, có lợi cho ta. Ngày 28-12-1967, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cùng Bộ Chính trị (Khóa III) họp quyết định một chủ trương hết sức quan trọng: Mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt Tết Mậu Thân 1968 nhằm giáng đòn quyết liệt vào ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ. Ngay sau đó, công tác chuẩn bị được tiến hành chu đáo, công phu, tỉ mỉ và hoàn toàn bí mật. Tháng 1-1968, Hội nghị Trung ương lần thứ 14 (Khóa III) thông qua Nghị quyết Bộ Chính trị tháng 12-1967, khẳng định quyết tâm, mục tiêu và hướng tiến công chiến lược. Ở miền Nam, các binh đoàn chủ lực, theo kế hoạch đang bí mật áp sát vào bàn đạp tiến công. Chỉ thị cụ thể của Bác Hồ cho các chiến trường là:

Kế hoạch phải thật tỉ mỉ
Hợp đồng phải thật ăn khớp
Bí mật phải thật tuyệt đối
Hành động phải thật kiên quyết
Cán bộ phải thật gương mẫu.

Bác Hồ cùng các uỷ viên Bộ Chính trị họp bàn chiến dịch Tết Mậu Thân 1968. Ảnh tư liệu.

Theo lời kể của đồng chí Vũ Kỳ – Thư ký riêng của Bác thì Người đã chuẩn bị thư chúc Tết Mậu Thân 1968 từ độ ba tháng trước đó. Sáng chủ nhật ngày 31-12-1967, Bác ra Phủ Chủ tịch để đọc ghi âm thư chúc Tết. Chị Trần Thị Tuyết ngâm bài thơ chúc Tết vừa để Bác nghe vừa để ghi âm phát lúc giao thừa. Sáng ngày 1-1-1968, Bác gửi Thư Chúc mừng năm mới tới toàn thể cán bộ và đảng viên cả nước. Trong thư, Bác gửi lời chúc mừng đến các nước xã hội chủ nghĩa anh em, các nước bầu bạn và nhân dân toàn thế giới, kể cả nhân dân tiến bộ Mỹ, đã nhiệt liệt ủng hộ cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân ta; chúc kiều bào ta ở nước ngoài, năm mới cố gắng mới, tiến bộ mới! Đối với đồng bào và chiến sĩ cả nước, Bác chúc:

Xuân này hơn hẳn mấy xuân qua,
Thắng trận tin vui khắp nước nhà.
Nam Bắc thi đua đánh giặc Mỹ.
Tiến lên!
Toàn thắng ắt về ta!

Cũng theo đồng chí Vũ Kỳ, chiều 29 Tết, Bác Hồ nhận điện của Bộ Chính trị và Ban Chấp hành Trung ương Đảng chúc tết Bác. Tối đêm giao thừa nơi Bắc Kinh xa xôi, hai Bác cháu ngồi im lặng trong phòng, mở Đài Tiếng nói Việt Nam nghe tin tức, ca nhạc và ngâm thơ Tết, chờ đón giao thừa. Từ khi về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng (năm 1941), đây là lần đầu tiên Bác đón giao thừa ở nước ngoài. Thời gian trôi đi chầm chậm. Rồi, bên ngoài, tiếng pháo nổ vang, tiễn Đinh Mùi và đón mừng Mậu Thân, từ chiếc đài bán dẫn, tiếng nói của Bác Hồ vang lên:

Xuân này hơn hẳn mấy xuân qua,
Thắng trận tin vui khắp nước nhà.
Nam Bắc thi đua đánh giặc Mỹ.
Tiến lên!
Toàn thắng ắt về ta!

Lời thơ chúc Tết của Bác đồng thời cũng là hiệu lệnh mở đầu cuộc tiến công và nổi dậy và truyền đi khắp mọi miền đất nước mà trọng điểm là 3 thành phố lớn: Sài Gòn, Đà Nẵng, Huế. Tại Sài Gòn, quân ta đã đánh thẳng vào Dinh Độc Lập, Tòa Đại sứ Mỹ, Bộ Tổng tham mưu, Đài Phát thanh và rất nhiều mục tiêu chiến lược của địch khác…. Khi đài phát xong câu cuối “Tiến lên! Toàn thắng ắt về ta!”, Bác nói khẽ: “Giờ này, miền Nam đang nổ súng!”.

Trưa mồng một Tết, Bác Hồ rất vui khi nhận được tin chiến thắng : “Đánh khắp miền!”. Mồng 6 Tết, nhằm ngày 3-2-1968, kỷ niệm 38 năm Ngày thành lập Đảng, mới 6 giờ sáng, Bác bảo đồng chí Vũ Kỳ chuẩn bị giấy bút. Bác ngồi cạnh cửa sổ, nhìn ra ngoài trời đầy tuyết trắng, đọc cho đồng chí Vũ Kỳ ghi bài thơ khai bút đầu năm:

Đã lâu chưa làm bài thơ nào
Nay lại thử làm xem sao
Lục khắp giấy tờ vần chẳng thấy
Bỗng nghe vần THẮNG vút lên cao!

Suốt 2 tháng đầu năm Mậu Thân 1968, trên toàn chiến trường miền Nam không lúc nào ngớt tiếng súng. Mục tiêu lớn của chiến dịch đã đạt được, ta đã tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch, phá vỡ một mảng lớn hệ thống chính quyền của chúng, làm giảm ý chí chiến tranh của những kẻ hiếu chiến trong giới lãnh đạo Mỹ. Vần “THẮNG” của cuộc tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 của quân và dân ta buộc Mỹ phải xuống thang chiến tranh, chấm dứt ném bom và đánh phá miền Bắc, thừa nhận chính thức Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, ngồi vào bàn đàm phán tại Paris để giải quyết chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam. Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân năm 1968 là tiền đề quan trọng cho thắng lợi hoàn toàn mùa Xuân năm 1975.

HÀ VY (sưu tầm)
qdnd.vn

Những ngày giải phóng quận lỵ Hướng Hóa

Kỷ niệm 45 năm cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968

QĐND – Đã 45 năm trôi qua, nhưng với Trung tướng Nguyễn Ân, những kỷ niệm khi trên cương vị Trung đoàn trưởng Trung đoàn 66, Sư đoàn 304 chỉ huy đơn vị lần đầu tiên vào chiến trường miền Nam chiến đấu tại Mặt trận Đường 9 thời điểm Tết Mậu Thân năm 1968 vẫn còn nguyên vẹn trong tâm trí về một thời trận mạc… Ông bồi hồi nhớ lại:

Cuối năm 1967, sau hai mùa khô đọ sức quyết liệt với quân viễn chinh Mỹ, ta đã tích lũy nhiều kinh nghiệm, thế trận chiến tranh nhân dân được xây dựng vững chắc. Trên các địa bàn quân và dân ta đã đánh bại một bước cuộc chiến tranh cục bộ của đế quốc Mỹ, dồn chúng vào thế “tiến thoái lưỡng nan” và bắt đầu tụt hạng ở chiến trường. Về thế trận, cho phép ta chuyển cuộc chiến tranh cách mạng sang một thời kỳ mới. Trên cơ sở đó, tháng 12-1967, Bộ Chính trị đã có Nghị quyết lãnh đạo sáng tạo và kiên quyết, xác định: “Nhiệm vụ trọng đại và cấp bách của ta là động viên toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta cả hai miền, đưa cuộc chiến tranh cách mạng lên một bước phát triển mới, bằng phương pháp tổng công kích-tổng khởi nghĩa để giành thắng lợi có ý nghĩa quyết định”.

Trung tướng Nguyễn Ân (bên phải) và đồng đội cũ chụp ảnh lưu niệm.

Để thực hiện quyết tâm chiến lược của Bộ Chính trị, tại mặt trận Đường 9, Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh đã quyết định tăng cường cho Bộ tư lệnh B5, cử Thiếu tướng Trần Quý Hai, Phó tổng tham mưu trưởng làm Tư lệnh, Thiếu tướng Lê Quang Đạo, Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị làm Chính ủy và đưa thêm các Sư đoàn 320, 304, cùng một số binh chủng vào chiến đấu. Trung đoàn 66 do tôi làm Trung đoàn trưởng, trong đội hình Sư đoàn 304 được lệnh hành quân vào chiến trường miền Nam và được giao nhiệm vụ tác chiến trên chiến trường chiến lược Đường 9 – Bắc Quảng Trị, tiêu diệt một bộ phận sinh lực quan trọng của Mỹ-ngụy, chủ yếu là quân Mỹ; thu hút giam chân địch; hiệp đồng chặt chẽ với chiến trường toàn miền Nam, tạo điều kiện thuận lợi cho Trị Thiên-Huế nổi dậy…

Đảng ủy Mặt trận B5 chủ trương tổ chức, sử dụng lực lượng làm hai hướng: Hướng phía Tây, mục tiêu chủ yếu là Khe Sanh, cụm phòng ngự liên hoàn kiên cố nhất của Mỹ-ngụy ở Tây Đường 9 được xác định là hướng chủ yếu, do Sư đoàn 304 và Sư đoàn 325 đảm nhiệm. Hướng phía Đông gồm hệ thống căn cứ hành quân, hỏa lực, hậu cần của địch từ Cửa Việt, Đông Hà đến tận Cù Tu là hướng quan trọng do Sư đoàn 320 và Sư đoàn 324 đảm nhiệm. Lực lượng pháo binh có Trung đoàn 675 và Trung đoàn 45 pháo binh dự bị chiến lược của Bộ tham gia. Về thiết giáp có Tiểu đoàn 198 xe tăng được tăng cường cho hướng trọng điểm Khe Sanh. Đây là lần đầu tiên xe tăng của ta có mặt ở chiến trường miền Nam. Thời gian mở đợt tấn công trên mặt trận Đường 9 xác định vào khoảng cuối tháng 2-1968. Trong thời điểm đối phương tăng cường lực lượng lớn, có lúc lên tới 50 vạn quân Mỹ và chư hầu, chưa kể lực lượng ngụy quân. Việc mở chiến dịch lớn tại Tây Nam giới tuyến quân sự tạm thời, trên địa bàn rộng buộc địch phải điều động lực lượng, trang bị lớn để đánh trả là đòn tấn công chiến lược, tạo điều kiện cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 của quân và dân ta.

Sau khi nhận nhiệm vụ ở mặt trận đêm 14-1-1968. Lúc này ta dự định nổ súng mở màn chiến dịch vào ngày 20-1-1968, sớm hơn so với kế hoạch một tháng. Công tác chuẩn bị chiến đấu hết sức khẩn trương do thời gian chuẩn bị chỉ có 4 đến 5 ngày là rất gấp. Sư đoàn 304 được tăng cường Tiểu đoàn Xe tăng 198, một trung đoàn cao xạ, có nhiệm vụ mở màn chiến dịch giải phóng đoạn từ Khe Sanh đến Lao Bảo. Quyết tâm của Sư đoàn sử dụng Trung đoàn 24 và một số xe tăng đánh chiếm Huội San, sau đó phát triển về tấn công Làng Vây; Trung đoàn 9 sẵn sàng đánh viện; Trung đoàn 66 của chúng tôi có nhiệm vụ đánh chiếm quận lỵ Hướng Hóa. Đây là một thử thách khắc nghiệt ngay từ trận đầu đối với sư đoàn vì trong một thời điểm phải triển khai hai trận đánh công sự vững chắc, với yêu cầu phải bảo đảm thắng lợi để mở màn cuộc tấn công lịch sử.

Nhiệm vụ Trung đoàn 66 là nhanh chóng đưa bộ đội vào tiến công mở màn, trước hết tiêu diệt chi khu quân sự và quận lỵ Hướng Hóa, sau đó chốt giữ không cho địch chiếm lại. Trước khi nổ súng phải có lực lượng chiếm giữ Ku Bốc và Cao điểm 471, sử dụng một tiểu đoàn bám đường 9 chuẩn bị đánh viện. Triển khai nhiệm vụ, 14 giờ ngày 18-1-1968, Đảng ủy, chỉ huy trung đoàn hạ quyết tâm: Sử dụng Tiểu đoàn 7 được tăng cường Đại đội ĐKZ 82, cùng một trung đội vận tải, một trung đội đặc công có nhiệm vụ tiêu diệt địch ở quận lỵ Hướng Hóa. Tiểu đoàn 9 đưa một đại đội chốt ở đồi Ku Bốc, lực lượng còn lại chuẩn bị đánh địch ở Đông Nam đồi Ku Bốc. Cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 66, lần đầu vào chiến trường miền Nam đánh Mỹ, vào ngay khu vực gần giới tuyến giữa miền Nam và miền Bắc, là cửa ngõ đường tiếp tế của quân ta từ Bắc vào Nam; khu vực Khe Sanh – Đường 9, Mỹ-ngụy tăng cường lực lượng phòng thủ chặt chẽ, xa căn cứ thì chúng dùng máy bay B-52 hoặc máy bay chiến thuật rải bom, hoặc dùng pháo tầm gần, tầm xa bắn phá. Ngay ngày đầu đơn vị vào vị trí tập kết đã bị B-52 rải thảm và pháo của chúng kết hợp với nhau bắn phá kéo dài 15-20 phút. Khi bị B-52 rải thảm, lúc đầu chúng tôi còn tranh luận nhau là B-52 rải thảm hay là pháo chúng bắn, vì sau B-52 rải thảm, là pháo của chúng bắn trùm lên…

Mọi công tác chuẩn bị cho trận mở màn, từ khâu nắm địch tới việc điều động lực lượng, kế hoạch chi tiết của từng bộ phận đảm bảo bí mật. Đúng 14 giờ, ngày 20-1-1968, đơn vị vừa nhô ra khỏi công sự thì bị B-52 rải thảm, may không có ai hy sinh, vài người bị thương nhẹ. Do chưa có kinh nghiệm chuẩn bị đường xuất kích, chỉ chuẩn một đường nên khi B-52 rải thảm và pháo bắn, cây cối đổ ngổn ngang lấp hết đường đi, bộ đội mang vác nặng không sao đi nhanh được, trong khi máy bay OV10 bay liệng và pháo sáng liên tục. Nhưng đúng 5 giờ ngày 21-1-1968 theo hiệp đồng đơn vị đã tiếp cận được mục tiêu. Trời vừa sáng, địch đã phát hiện ra ta tiếp cận vị trí của chúng. Tình thế hết sức khẩn trương, tâm trạng chúng tôi lúc này rất căng thẳng, thì bất ngờ pháo binh của ta đồng loạt thực hiện một trận bão lửa mãnh liệt vào sân bay, sở chỉ huy, các trận địa pháo của địch ở Tà Cơn, Hướng Hóa, các điểm cao 832, 471….

Đúng 5 giờ 10 phút, tôi ra lệnh nổ súng, các loại hỏa lực dồn dập chế áp hỏa điểm địch, yểm trợ cho bộc phá viên lên mở cửa. Trung đội bộc phá mở được 4 hàng rào, còn một hàng rào sát lô cốt có một khẩu đại liên bắn ra rất mãnh liệt. Đồng chí Tiểu đoàn trưởng và bộc phá viên bị hy sinh ngay sát hàng rào. Lúc 5 giờ 40 phút, tôi lên quan sát và lệnh cho ĐKZ cơ động vào cửa mở diệt hỏa điểm của địch. Bất ngờ một loạt đạn của địch từ trong bắn ra, một viên trúng vào chiếc mũ sắt của tôi đang đội trên đầu, khiến cho chiếc mũ xoay 180 độ về sau. Tôi choáng váng ngồi xuống và chợt nhớ ra hôm trước khi trinh sát chúng tôi phát hiện có một cửa ngách bên khu gia binh thông vào đồn, không có người canh gác. Tôi quyết định để một bộ phận kiềm chế địch, còn phần lớn lực lượng chuyển hướng sang khu gia binh để đột nhập vào qua cửa ngách, ở đó địch mỏng yếu. Quân ta nhanh chóng tiến công vào bên trong, phát triển chiến đấu rất nhanh, chiếm lĩnh các vị trí khiến cho địch không kịp đối phó.

Cũng thời gian này, đúng như ta đã dự kiến, khi ta tiến công Hướng Hóa, địch điều ngay Đại đội 258 địa phương đổ bộ đường không xuống Ku Bốc. Đại đội 11, Tiểu đoàn 9 của trung đoàn tôi bố trí phục sẵn ở đó, giữ được bí mật, khi máy bay địch lượn khắp cũng không phát hiện ra, nên khi đổ quân xuống liền bị ta tiêu diệt gọn, sau gần 50 phút chiến đấu. Phân đội súng máy 12,7mm của ta còn bắn rơi tại chỗ 3 chiếc trực thăng. Khi bắt được tù binh chúng khai: “Chúng tôi thấy thấp thoáng có lính đội mũ sắt nhưng cho rằng, Việt cộng làm gì có mũ sắt, thế là chúng tôi cứ đổ quân xuống…”. Thật là bất ngờ thú vị, vì lần đầu tiên bộ đội chủ lực miền Bắc được Liên Xô trang bị mũ sắt và nhờ đó ta đã giữ được bí mật tại đây.

Bước vào chiến dịch, chỉ trong 18 ngày, Trung đoàn 66 cùng với các đơn vị trong Sư đoàn 304 đã đánh 3 trận diệt địch trong công sự vững chắc, diệt 3 cứ điểm quan trọng của địch ở Huội San, Hướng Hóa và Làng Vây. Cụm cứ điểm Tà Cơn do quân Mỹ chiếm đóng bị cô lập ở giữa lòng chảo Khe Sanh. Sư đoàn 304 và Sư đoàn 325 được Bộ tư lệnh chiến dịch giao nhiệm vụ chuyển sang bao vây đánh lấn Tà Cơn. Đến ngày 10-2-1968, Trung đoàn 9, Sư đoàn 304 cùng Trung đoàn 95C và Trung đoàn 101Đ của Sư đoàn 325 và bộ đội địa phương Hướng Hóa đã tổ chức được 13 trận vây lấn xung quanh Tà Cơn. Từ hướng Bắc, Tây và Tây Bắc, Trung đoàn 95C và Trung đoàn 101Đ cũng tiến vào vây lấn Tà Cơn. Những trận đánh liên tiếp của các trung đoàn của ta đã trở thành những mũi tiến công sắc nhọn ngày càng cắm sâu vào căn cứ địch. Mỹ đã dùng máy bay chiến lược B-52 thả gần 60.000 tấn bom, bắn hàng chục vạn quả đạn pháo, nhưng các trận địa vây lấn của ta vẫn đứng vững. Báo chí phương Tây và dư luận đã phải nói đến hình ảnh một Điện Biên Phủ mới. Tổng thống Giôn-xơn khi đó yêu cầu tham mưu liên quân “ký bản cam kết rằng Khe Sanh sẽ được giữ vững”.

Những ngày cuối tháng 3-1968, các trận vây lấn của ta khép chặt vòng vây. Trong 50 ngày đêm, các đơn vị tiêu diệt 3000 tên địch, bắt sống 217 tên, bắn rơi và bắn cháy tại sân bay 279 máy bay các loại, phá hủy rất nhiều vũ khí, kho tàng của địch. Tình hình Khe Sanh làm cho bọn hiếu chiến ở Nhà trắng và Lầu Năm Góc đau đầu. Tại Quốc hội Mỹ đã nổ ra cuộc tranh luận rất gay gắt về việc giữ hay không giữ Khe Sanh. Ngày 26-6-1968, địch buộc phải tuyên bố rút khỏi Khe Sanh. Ngày 9-7-1968, cờ giải phóng đã cắm trên cột cờ sân bay Tà Cơn….

45 năm nhìn lại tôi càng thấy rõ hơn tầm chiến lược của Đảng. Thắng lợi trên các chiến trường cùng với thắng lợi của cuộc Tổng tiến công nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 đã làm cho địch “xuống thang”, tạo bước phát triển mới của cuộc chiến tranh, là tiền đề, động lực để quân và dân ta giành những thắng lợi to lớn hơn, tiến tới ngày toàn thắng…

Trung tướng NGUYỄN ÂN (kể) – Xuân Dân (ghi)
qdnd.vn

Sáng tạo độc đáo của nghệ thuật quân sự Việt Nam

Kỷ niệm 45 năm cuộc tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968

QĐND – Thực hiện chủ trương của Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương và của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đúng lúc Giao thừa Tết Mậu Thân 1968, toàn quân và toàn dân ta ở miền Nam đã mở cuộc tổng tiến công và nổi dậy, đồng loạt đánh vào hầu hết các thành phố lớn, đặc biệt là Sài Gòn và Huế, các thị xã, thị trấn, chi khu, quận lỵ, các sân bay và căn cứ hậu cần của Mỹ, quân đội Sài Gòn trên toàn chiến trường miền Nam Việt Nam.

Cuộc tiến công táo bạo bất ngờ đã tiêu diệt bộ phận quan trọng sinh lực cấp cao của Mỹ và chính quyền Sài Gòn, đánh chiếm những mục tiêu hiểm yếu như Đài phát thanh, Tòa đại sứ Mỹ, đánh vào Bộ Tổng tham mưu, Tổng nha Cảnh sát ngụy ở Sài Gòn, đánh vào nội thành và làm chủ trong một thời gian dài ở Cố đô Huế, phá hủy một khối lượng quan trọng các phương tiện chiến tranh và cơ sở hậu cần-kỹ thuật hiện đại nhất của Mỹ và chính quyền Sài Gòn lúc bấy giờ.

Đây là thắng lợi tạo ra bước ngoặt quyết định của cuộc kháng chiến, làm lung lay tận gốc ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ, buộc chúng phải bắt đầu xuống thang chiến tranh, là một sáng tạo độc đáo của nghệ thuật quân sự Việt Nam.

Bộ đội ta tiếp cận mục tiêu tiến công thị xã Bến Tre trong cuộc tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968. Ảnh tư liệu.

Ngay từ đầu năm 1965, trước sự phá sản của chiến lược “chiến tranh đặc biệt”, Mỹ chuyển sang chiến lược “chiến tranh cục bộ”, xuất con chủ bài quân viễn chinh Mỹ, đưa ồ ạt quân Mỹ vào tham chiến trên quy mô lớn ở miền Nam, với tham vọng bẻ gãy xương sống Việt Cộng và chụp bắt cơ quan đầu não kháng chiến của ta, đồng thời đẩy mạnh chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân đối với miền Bắc nước ta. Tham vọng của Mỹ khi tiến hành chiến tranh cục bộ là đánh bại cách mạng miền Nam Việt Nam trong vòng từ 25 đến 30 tháng, với kế hoạch 3 giai đoạn, hai cuộc phản công chiến lược, mà giai đoạn 3 được dự tính là hoàn thành việc tiêu diệt khối chủ lực ta, tiếp tục bình định miền Nam, rút quân Mỹ về nước vào cuối năm 1967.

Trước âm mưu của Mỹ và chính quyền Sài Gòn, Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ta đã đánh giá đúng tình hình chiến lược, tạo sự nhất trí cao trong toàn Đảng, toàn quân, toàn dân quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược. Giữa lúc đế quốc Mỹ ở thế ngập ngừng về chiến lược, giới cầm quyền Mỹ dao động và trong thời điểm rất nhạy cảm của năm bầu cử tổng thống Mỹ, Đảng ta quyết định phải giáng một đòn bất ngờ thật mạnh vào ý chí xâm lược của Mỹ, bằng cách chọn hướng chiến lược hiểm và dùng cách đánh mới, tạo ra một bước ngoặt lớn, làm thay đổi cơ bản cục diện chiến tranh có lợi cho ta, đưa cách mạng và chiến tranh cách mạng miền Nam chuyển sang một thời kỳ mới, thời kỳ giành thắng lợi quyết định.

Sự sáng tạo về nghệ thuật quân sự của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 là ở cách đánh chưa từng diễn ra trong cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ và cả trong lịch sử chiến tranh trên thế giới, khiến cho Mỹ và chính quyền Sài Gòn bị động, bất ngờ.

Đó là sự sáng tạo của phương châm ba vùng chiến lược. Nếu không có ba vùng chiến lược được xây dựng từ nhiều năm với những cơ sở vững mạnh và quần chúng đông đảo ủng hộ thì không thể có chiến tranh ở thành thị, nhất là ở các thành phố trọng điểm Sài Gòn, Huế, Đà Nẵng là những trung tâm chính trị, quân sự. Đánh vào đây là đánh vào các cơ quan đầu não, các trung tâm chỉ huy, đánh vào sinh lực cao nhất của địch, chỗ hiểm yếu, dễ chấn động và nhạy cảm nhất của chúng.

Đó là sự sáng tạo của việc vận dụng hai lực lượng chính trị và quân sự để giành thắng lợi cả chính trị và quân sự, sáng tạo về hình thức tiến công đồng loạt để tạo hiệu lực như một đòn sét đánh. Để đồng loạt tiến công ở 41 thành phố và thị xã thì phải có một thời gian chuẩn bị dài, phải dự trữ một khối lượng vật chất lớn, đặc biệt là phải giữ được bí mật. Chỉ khi nhân dân có giác ngộ chính trị cao, có lòng nồng nàn yêu nước mới sáng tạo ra trăm phương nghìn kế để tạo ra chỗ giấu quân, để đưa hàng trăm tấn vũ khí, đạn dược vào ngay sào huyệt của địch; sẵn sàng hy sinh cả tính mạng và của cải để bảo vệ các lực lượng cách mạng, để tiếp sức cho các LLVT chiến đấu trong thành phố. Mục tiêu cao nhất của cuộc tổng tiến công là đánh vào ý chí của địch, làm cho chúng lung lay tận gốc, làm nản chí cả những kẻ hiếu chiến nhất, làm náo động cả nước Mỹ, đẩy cuộc chiến tranh ngay trong lòng nước Mỹ lên một bước mới. Trong khi đó, ta tranh thủ được sự đồng tình, ủng hộ và giúp đỡ của nhân loại tiến bộ trên toàn thế giới đối với cuộc kháng chiến của nhân dân ta.

Đó còn là sự sáng tạo trong lựa chọn thời cơ chiến lược. Ta tiến hành tổng tiến công và nổi dậy vào lúc số lượng quân Mỹ đông nhất, sau gần 3 năm thực hiện chiến lược chiến tranh cục bộ, đang ở vào thế “tiến thoái lưỡng nan”. Ta chọn thời cơ vào năm bầu cử tổng thống Mỹ, tình hình nước Mỹ rất nhạy cảm về chính trị, áp lực quân sự vào thời điểm này có thể tạo ra hiệu lực lớn. Đây là thời cơ ta lựa chọn đúng lúc, đạt hiệu quả cao. Hai tháng sau cuộc tổng tiến công của ta, ngày 31-3, tổng thống Mỹ Giôn-xơn tuyên bố đơn phương ngừng bắn phá miền Bắc từ vĩ tuyến 20 trở ra, chấp nhận đàm phán với ta ở Hội nghị Pa-ri, không ra ứng cử nhiệm kỳ thứ hai. Trên thực tế, Mỹ đã mặc nhiên thừa nhận một cách đầy đủ sự phá sản của chiến lược chiến tranh cục bộ, tạo ra bước ngoặt mới của cách mạng nước ta.

Đại tá, PGS, TS TRẦN NAM CHUÂN
qdnd.vn

Vừa hành quân, vừa đánh địch

QĐND – Chiều 29-1-1968 (tức ngày 30 Tết), Tiểu đoàn 52 Tỉnh đội Bình Định nhận được lệnh của trên hành quân đến rìa núi xã Phước Long thuộc huyện Tuy Phước nhận nhiệm vụ chiến đấu và khẩn trương làm công tác chuẩn bị để hành quân đến vị trí tập kết đúng giờ quy định.

Đêm 30 Tết, trời tối như bưng, Tiểu đoàn hành quân băng rừng trong ánh đuốc lồ ô. Khi Giao thừa đến, Ban chỉ huy Tiểu đoàn 52 cho bộ đội dừng lại khoảng 5 phút nghe Chủ tịch Hồ Chí Minh chúc Tết. Giọng Bác Hồ ấm áp như tiếp thêm sức mạnh để cán bộ, chiến sĩ tiểu đoàn tiếp tục hành quân vào trận đánh.

Đến vị trí tập kết ở xã Phước Long, Tiểu đoàn 52 được giao nhiệm vụ đánh địch ở vòng ngoài, kìm chân địch, uy hiếp cửa ngõ chính vào thành phố Quy Nhơn để các đơn vị bạn tiến công địch trong thành phố. Dù chưa kịp chuẩn bị, nhưng do thông thạo địa bàn, sáng ngày 31-1-1968 (Mồng Một Tết Mậu Thân), tiểu đoàn nổ súng đánh địch ở xã Phước Long. Bị đánh bất ngờ, lực lượng địch đồn trú ở khu vực ga Diêu Trì nhanh chóng bị tiêu diệt, tiểu đoàn làm chủ đoạn đường sắt đi qua khu vực này. Khoảng 9 giờ sáng, địch huy động một tiểu đoàn lính Nam Hàn phản kích, Tiểu đoàn 52 bám trụ đánh địch, đến 16 giờ, ta mới rút về dãy núi Phước Long để củng cố lực lượng.

Trong đêm Mồng Một và sáng Mồng Hai Tết Mậu Thân, địch tăng cường lực lượng, chặn ven rìa núi đánh chặn quân ta. Ban chỉ huy Tiểu đoàn 52 tổ chức lực lượng đánh địch, vượt qua tuyến ngăn chặn của quân Nam Hàn, tập kích tiêu diệt một đại đội địch ở thôn Lập Lễ (xã Phước Long), khẩn trương xây dựng công sự trụ lại đánh địch. Các chốt của tiểu đoàn đẩy lui nhiều đợt phản kích của địch, tạo điều kiện cho các đơn vị của ta đánh vào thành phố Quy Nhơn.

Khi các đơn vị bạn rút khỏi thị xã Quy Nhơn, Tiểu đoàn 52 được lệnh rút về khu vực núi Mun (Phú Tài). Trên đường về vị trí tập kết, Tiểu đoàn tổ chức tập kích một đại đội bảo an của địch ở Tây Định, sau đó tiến công bọn lính Tân Tây Lan đánh thuê cho Mỹ đóng quân ở Lộc Trung (Phước Sơn), gây cho địch nhiều tổn thất.

Vừa hành quân vừa phối hợp với các đơn vị bạn chiến đấu, Tiểu đoàn 52 đã đánh nhiều trận, tiêu diệt hai đại đội bảo an địch và hàng chục tên lính Nam Hàn, Tân Tây Lan đánh thuê cho Mỹ, góp phần vào thắng lợi của cuộc tổng tiến công Xuân Mậu Thân 1968 ở Bình Định.

QUANG PHÁT
qdnd.vn

Tết Mậu Thân diệt đồn Giồng Ông Đôn

QĐND Online – “Đặc khu rừng Sác”, cái tên đã đi vào lịch sử dân tộc như một bản hùng ca gắn liền với những chiến công oanh liệt của Đoàn 10 trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Người được mệnh danh là “pho sử sống”, từng là “linh hồn” của đặc công rừng Sác chính là Đại tá, Anh hùng LLVT nhân dân Lê Bá Ước (bảy Ước) nguyên Trung đoàn trưởng, kiêm Chính ủy Đoàn 10. Trong hàng nghìn trận đánh của đặc công rừng Sác thì trận tiêu diệt đồn Giồng Ông Đôn, thuộc xã Phú Hữu, huyện Nhơn Trạch (Đồng Nai) diễn ra đúng vào đêm mùng Một Tết Mậu Thân năm 1968, thể hiện rõ bản lĩnh, tài thao lược của vị chỉ huy huyền thoại này.

Trong căn nhà ấm cúng của Đại tá Lê Bá Ước ở phường Quyết Thắng, TP Biên Hòa một ngày giáp Tết Quý Tỵ, chúng tôi có dịp được nghe ông kể về trận đánh năm xưa.

– Trước Tết Mậu Thân mấy ngày, trung đoàn tôi được lệnh của Bộ chỉ huy Miền tổ chức đánh địch theo chỉ đạo tổng tiến công. Vốn là đơn vị đặc công chuyên sử dụng thuốc nổ với kỹ thuật cá nhân là chính, anh em rất ít khi chạm tới súng hay cuốc, xẻng bộ binh. Hơn nữa, chúng tôi hầu như không được trang bị các loại vũ khí và dụng cụ này. Nhưng với tinh thần tổng tiến công, tôi và đồng chí Tám Sơn (lúc bấy giờ là Trung đoàn trưởng) đã bàn bạc, thống nhất tiêu diệt đồn Giồng Ông Đôn, nơi có một đại đội bảo an đóng giữ, thường xuyên đàn áp nhân dân xã Phú Hữu. Sau khi triển khai kế hoạch công đồn, tinh thần bộ đội phấn khởi và đầy khí thế quyết tâm. Có lẽ bởi lính đặc công quen đánh bí mật, nhỏ lẻ, tác chiến độc lập nên khi được đánh trực diện với quân địch anh em háo hức lắm! Các đơn vị từ Cần Giờ, Nhơn Trạch đến Cát Lái đều bám sát ấp chiến lược quên cả ngày Tết, luôn trong tư thế sẵn sàng đợi lệnh. Mặc dù thời gian gấp, chưa điều nghiên kỹ về địch, nhưng với khí thế hừng hực chúng tôi vẫn xốc lại lực lượng, lựa chọn một bộ phận khẩn trương thực thi phương án. Ngày mùng Một Tết, tôi bí mật vào trong dân tìm hiểu thêm tình hình. Bà con Phú Hữu thông báo rõ quy luật hoạt động của tụi bảo an và cho biết chỉ huy đồn Giồng Ông Đôn là tên chuẩn úy Sáu, quê ở Bến Tre. Đột nhiên, tôi nảy ra sáng kiến, ngay đêm hôm đó, trong khi đơn vị triển khai đội hình, tôi nhờ một cụ già ở địa phương dẫn đường đưa tới gần phía trước đồn địch. Lựa chỗ có địa hình thuận lợi, tôi bắc loa kêu gọi dõng dạc: “Chuẩn úy Sáu, tôi biết rõ anh quê ở Bến Tre và đang chỉ huy lực lượng bảo an ở đây. Ngày Tết cổ truyền, cha mẹ, vợ con anh đang mong đợi. Hiện nay, cách mạng đang tổng tiến công mãnh liệt ở mọi nơi, anh hãy buông súng và đưa lính ra đầu hàng ngay thì chúng tôi không tiến công đồn. Bằng không, tất cả sẽ bị tiêu diệt”. Tôi gọi loa mấy lần liên tiếp, trong đêm tối nghe vọng tận tâm can.

Đại tá Lê Bá Ước đang giới thiệu kỷ vật là chiếc đế giầy còn lại của phi công Mỹ sau khi bị cá sấu rừng Sác ăn thịt

– Tụi chúng có phản ứng gì không, thưa chú? – Tôi sốt sắng hỏi chen ngang. Ông Ước cười:

– Lúc đầu tụi chúng im phăng phắc. Dường như lời kêu gọi của tôi đã làm nao núng tinh thần phần đông tụi lính nên chỉ ít phút sau một số thằng bỏ chạy ra bờ ruộng, một số chạy thục mạng về sau, trong đó có cả tên chuẩn úy Sáu.

– Vậy là các chú chưa đánh mà địch đã tự rút khỏi đồn. Tên chỉ huy cũng trốn chạy thì tụi lính còn tâm trạng đâu mà chống đỡ! – Tôi nói như để chia sẻ cùng ông. Đại tá Ước lắc đầu:

– Trong đồn còn thằng chỉ huy phó cùng mấy đứa ác ôn hô nhau bám trụ chống trả. Chúng bắn xối xả về phía tiếng loa. Tôi liền rút nhanh khỏi đó. Đồng chí Tám Sơn ra lệnh cho đơn vị tiến công. ĐKZ 75 và súng máy 12,7 ly của trung đoàn đồng loạt nổ giòn giã. Đặc công xé hàng rào áp sát đồn địch, tiêu diệt mấy lô cốt xung quanh và quá nửa số lính của đại đội bảo an. Nhưng do nắm địch không kỹ địch nên chúng tôi không phát hiện được vị trí khẩu đại liên của chúng. Đến lúc này mới thấy hỏa lực của nó nguy hiểm. Khẩu ĐKZ duy nhất của đơn vị lại hết đạn, 12 ly 7 cũng bị trục trặc. Xung kích 1 đã phát triển vào bên trong, xung kích 2 gặp khó khăn bởi khẩu đại liên bắn quá dữ. Đồng chí Tám Sơn bò tới chỗ tôi, nói: “Anh Bảy, cho xung kích 3 lên thôi”. Tôi lưỡng lự suy tính. Vừa lúc đó tôi nhận được báo cáo, có 2 trường hợp hy sinh sau khi cắt hàng rào lô cốt, trong đó có đồng chí Nguyễn Văn Nở là Chủ nhiệm trinh sát trung đoàn. Cái tin ấy làm tôi thêm dứt khoát, quyết đoán. Tôi nói với đồng chí Trung đoàn trưởng: “Không nên đưa xung kích 3 vào nữa mà tổ chức rút quân ngay bởi bộ đội ta ít kinh nghiệm công đồn theo kiểu bộ binh. Nếu tiếp tục kéo dài sẽ bất lợi, nhất định bọn chúng sẽ gọi hỏa lực chi viện. Nhưng trước khi rút, phải cử người bí mật tiếp cận, dùng lựu đạn tiêu diệt cho được khẩu đại liên bên trong rồi rút về căn cứ”. Đồng chí Tám Sơn nhất trí, hạ lệnh lui quân. Lúc đó là 4 giờ sáng ngày mùng 2 Tết. Đúng như dự tính của tôi, khoảng 30 phút sau, tụi Mỹ cho pháo kích dữ dội xung quanh khu vực đồn rồi ồ ạt đổ quân xuống ứng cứu. Ngồi trên xuồng về cứ, Tám Sơn gật gù: Anh Bảy liệu việc hay dữ!

– Còn khẩu đại liên, các chú có diệt được không? – Tôi băn khoăn hỏi. Ánh mắt vị thủ lĩnh đặc công rừng Sác vụt sáng lên:

– Diệt được chứ, đặc công mà! Tôi xuống xuồng ngồi đợi, chừng hơn chục phút sau thì nghe tiếng lựu đạn nổ. Ngay lập tức tiếng đại liên im bặt, thế là biết nó bị “hạ” rồi. Cho dù chúng có ngụy trang kín đến mấy nhưng khi đã bắn là sẽ lộ mục tiêu. Chỉ cần thế thôi, lính của tôi sẽ có cách bịt miệng nó ngay.

Vậy là, trận tiến công đồn Giồng Ông Đôn, mặc dù đánh không đúng sở trường, nhưng Đoàn 10 đặc công rừng Sác vẫn hoàn thành tốt nhiệm vụ, tiêu diệt và làm mất sức chiến đấu của gần 1 đại đội bảo an. Cũng trong thời điểm ấy, các đơn vị của Đoàn đồng loạt triển khai tiến công ở nhiều nơi trên địa bàn giáp ranh Sài Gòn. Cả đặc khu rừng Sác hừng hực khí thế tổng tiến công đánh vào những mục tiêu trọng yếu làm lung lay tinh thần quân địch, mở đường cho thắng lợi cuối cùng.

Trước khi chia tay, Đại tá Lê Bá Ước bảo tôi: “Trận thắng đầu xuân Mậu Thân 1968 đã tạo đà cho chúng tôi mở rộng địa bàn hoạt động, vận dụng nhiều cách đánh thích hợp để tiêu diệt quân thù. Đây là dấu ấn quan trọng trong nghệ thuật quân sự độc đáo của bộ đội đặc công”. Nói rồi, ông nở nụ cười mãn nguyện nồng nàn hơi ấm mùa xuân.

Bài và ảnh: HOÀNG THÀNH
qdnd.vn

Nhờ thế trận lòng dân

QĐND – Sau khi tiêu diệt cứ điểm Tà Mây, Đại đội tăng 3 (Tiểu đoàn 198) được lệnh quay về tập kết ở vị trí cũ, tại khu vực Cha-ki Phìn. Cả 11 xe tăng của đại đội về vị trí tập kết an toàn, chuẩn bị bước vào trận đánh cứ điểm Làng Vây, một trong những cứ điểm mạnh trong hệ thống phòng thủ Đường 9 của Mỹ và ngụy quân Sài Gòn, đồng thời là cửa ngõ bảo vệ Tà Cơn, án ngữ một vùng biên giới Việt-Lào.

Cùng thời gian này, Đại đội tăng 9 (Tiểu đoàn 198) đã vào tới vị trí tập kết tại Pê-sai bằng đường sông Sê-pôn, nhưng trận đánh bị hoãn lại so với kế hoạch. Toàn đội hình xe tăng nằm cách căn cứ Làng Vây của địch khoảng 3km, nên việc giữ gìn bí mật được đặt ra hết sức nghiêm ngặt. Quá trình chuẩn bị chiến đấu và hành quân vào chiếm lĩnh trận địa, các đơn vị xe tăng và bộ đội ta được đồng bào các dân tộc huyện Hướng Hóa giúp đỡ, che chở. Bà con góp lương thực, thực phẩm giúp bộ đội và còn tham gia ngụy trang, xóa dấu vết xích xe tăng trên đoạn đường hàng chục cây số; tham gia gùi đạn, vật tư kỹ thuật để bảo đảm sửa chữa xe tăng…

Trong số bà con các dân tộc Hướng Hóa, có một cán bộ tên là Khăm-tày Xi-vy-lây thường xuyên đi theo để giúp đỡ bộ đội. Anh thường xuyên theo dõi, nắm chắc tình hình địch, thông thuộc địa hình, nên đã chỉ dẫn cho bộ đội xe tăng những nơi cần phải tránh địch và giúp bộ đội nắm được phong tục, tập quán của đồng bào, vận động người dân tham gia giúp đỡ, giữ bí mật cho bộ đội. Nhờ lòng dân đùm bọc, chở che đã góp phần giúp bộ đội ta, đặc biệt là lực lượng xe tăng giữ bí mật, an toàn, hoàn thành tốt nhiệm vụ, lập nên chiến thắng trận Làng Vây ngày 7-2-1968.

ĐỨC GIANG
qdnd.vn

Tìm đánh máy bay trong sào huyệt của địch

QĐND – Sau cuộc tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 của quân và dân ta, nhằm giành lại ưu thế, địch truy xét gắt gao các cơ sở của ta và đàn áp nhân dân. Để mở rộng vùng giải phóng trên đất bạn Lào, giúp đỡ xây dựng lực lượng vũ trang cho bạn và tập kết, bảo vệ an toàn cho lực lượng của ta, Quân khu Nam Lào quyết định mở mặt trận A – Nam Lào.

Nhằm tăng cường bảo vệ phòng không cho mặt trận, Đoàn 559 điều động Đại đội phòng không 18 cho Quân khu Nam Lào. Đại đội 18 trang bị chủ yếu súng máy phòng không 12,7mm. Nhiệm vụ của đại đội là phải bắn rơi máy bay địch tại sân bay A-ta-pơ nhằm xây dựng niềm tin cho nhân dân các bộ tộc Lào và tạo điều kiện thuận lợi khi làm công tác dân vận.

Sau khi tiến hành trinh sát thực địa tại sân bay, đại đội nhận thấy đây là một sân bay do quân ngụy Lào nắm giữ, nhưng chủ yếu là máy bay của Mỹ với các loại như L19, OV10, AD6, DC4, C47 có nhiệm vụ là vận chuyển hàng hóa, vũ khí, lương thực thực phẩm cho ngụy Lào, cũng như chiến trường Đông Dương của Mỹ. Sân bay được bảo vệ bằng trận địa hỏa lực pháo cối, ĐKZ… Đại đội xác định, vị trí để bắn máy bay là đầu đường băng, nơi địch ít chú ý hơn. Tuy nhiên lực lượng tiếp cận để đánh không thể đông người vì dễ bị lộ. Do vậy đơn vị quyết định sử dụng lực lượng nhỏ đánh nhanh rồi rút, mục tiêu là máy bay vận tải. Điểm ngắm được xác định là bắn theo vật chuẩn chứ không theo cách thông thường của súng 12,7mm.

Cuối tháng 2-1968, Tổ phòng không tầm thấp của đại đội với 2 khẩu đội 12,7mm vào chiếm lĩnh trận địa. Súng được ngụy trang bằng vải dù, cành cây; người ban ngày chỉ có cách nằm im, ban đêm lực lượng tiếp tế của ta mới đưa lương thực vào. Sau hai ngày nằm tại vị trí mà chưa có cơ hội nổ súng vì máy bay chủ yếu là các loại máy bay trinh sát chưa đúng ý định của cấp trên, cơ hội thành công là không cao. Đến ngày thứ ba, khoảng 8 giờ, một chiếc máy bay DC4 hạ cánh xuống và lúc 10 giờ chuẩn bị cất cánh. Toàn tổ được lệnh nổ súng. Khi chiếc máy bay cất cánh bay lên ở độ cao khoảng 50m với vật chuẩn là ngọn cây, cả 2 khẩu đội cùng khai hỏa. Chiếc máy bay DC4 bị trúng đạn chao đảo, phụt khói đen và rơi xuống. Cả 2 khẩu đội khẩn trương rút khỏi trận địa ẩn nấp tại hầm ếch ở khe một con suối cạn.

Bị tiến công bất ngờ, một lúc sau, địch mới dùng hỏa lực bắn dồn dập về vị trí có tiếng súng nhằm tiêu diệt lực lượng của ta. Song chúng đã bắn vào trận địa trống, toàn tổ phòng không đã rút về đơn vị an toàn. Trận đánh táo bạo, vào tận nơi để tiêu diệt máy bay địch đã tạo niềm tin cho nhân dân.

LÊ HỒNG PHI

Ông cha ta đánh giặc

* Liên lạc viên “đặc biệt”

Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, ở mặt trận Thừa Thiên-Huế, cơ quan thông tin Bộ chỉ huy chiến dịch đã tổ chức một phân đội thông tin liên lạc cơ động làm nhiệm vụ triển khai hệ thống thông tin ở Sở chỉ huy tiền phương. Ngoài tổ chức sử dụng hệ thống vô tuyến điện sóng ngắn, hữu tuyến điện và thông tin truyền đạt, để giữ liên lạc với Trung đoàn 6 và các lực lượng của ta tiến công vào thành phố Huế, cơ quan thông tin còn đặt một máy thông tin vô tuyến điện sóng ngắn loại PRC-25 làm nhiệm vụ canh và tiếp chuyển thông tin liên lạc từ Sở chỉ huy chiến dịch đến các đơn vị.

Tuy nhiên, sau khi tiến hành tổng tiến công và nổi dậy ở Thừa Thiên và thành phố Huế, tình hình chiến sự phát triển rất nhanh. Lực lượng thông tin liên lạc phải chia thành nhiều tổ, đội bảo đảm, song chưa đáp ứng yêu cầu khẩn trương của chiến dịch. Bộ chỉ huy chiến dịch trên mặt trận Thừa Thiên-Huế lúc này phải sử dụng lực lượng liên lạc viên là những cơ sở cách mạng, cán bộ Đảng, kể cả Bí thư Huyện ủy dẫn đường cho bộ đội vào tác chiến ở thành phố Huế, các huyện và xã, phường, thị trấn. Nhờ lực lượng liên lạc viên “đặc biệt”, sự giúp đỡ tích cực của cán bộ địa phương, hệ thống giao liên của Đảng, nên Bộ chỉ huy chiến dịch chỉ huy được thông suốt, các đơn vị chiến đấu giành thắng lợi, làm chủ thành phố Huế gần một tháng.

QUANG PHÁT

“Tương kế, tựu kế” phá thủ đoạn phục lót

Sau cuộc Tổng tiến công Xuân Mậu Thân 1968, lợi dụng khó khăn tạm thời của ta, quân đội chính quyền Sài Gòn và chư hầu sử dụng thủ đoạn phục kích, lót sẵn (bộ đội ta gọi là phục lót) rất lì lợm và nham hiểm nhằm đánh phá, ngăn chặn tiếp xúc giữa cán bộ với quần chúng; chặt đứt hành lang giao thông, đảm bảo hậu cần từ đồng bằng lên các căn cứ, thực hiện bao vây, cô lập “tát nước, bắt cá”… gây cho ta một số tổn thất nhất định.

Quyết tâm phá tan âm mưu, thủ đoạn của địch, Huyện ủy Tuy Hòa (Phú Yên) tập trung lãnh đạo đấu tranh bằng nhiều biện pháp, phát huy sức mạnh tổng hợp của các lực lượng vũ trang và quần chúng nhân dân. Tổ chức Đảng các cấp, các đảng viên trung kiên kiên trì bám trụ, bám quần chúng và lãnh đạo các đoàn thể; bộ đội địa phương, du kích tập trung nghiên cứu thủ đoạn và quy luật “phục lót” của địch để đề ra biện pháp khắc chế; trinh sát vũ trang, du kích trừng trị những tên ác ôn có nhiều nợ máu để răn đe… Qua trinh sát, phân tích, ta phát hiện quy luật: Khi phát hiện lực lượng ta, địch sử dụng toán phục kích nhỏ, mỗi tên bí mật cõng một tên; bố trí trận địa phục kích nhiều vòng có chiều sâu nhằm nghi binh và đánh lạc hướng ta…

Đêm 12-8-1969, ta phát hiện 20 tên địch cõng nhau, phủ tăng che kín tổ chức hành quân đi phục lót. “Tương kế, tựu kế”, Huyện đội Tuy Hòa cơ động Đại đội 377 bộ đội địa phương bí mật, bố trí trận địa sẵn tại các địa điểm mà địch thường phục lót. Đúng như dự kiến của ta, tốp địch vừa lọt vào trận địa Bến Sách (Hòa Tân), đại đội bộ đội địa phương Tuy Hòa nổ súng, tiêu diệt tại chỗ 12 tên, 8 tên còn lại lợi dụng đêm tối tháo chạy. Sau trận này, địch hoang mang, không dám sử dụng thủ đoạn phục lót. Trận đánh phản phục lót thể hiện quyết tâm chiến đấu cao, nghiên cứu, nắm chắc tình hình địch; mưu trí, sáng tạo trong sử dụng lực lượng, bố trí trận địa và cách đánh, phá tan thủ đoạn của địch, thúc đẩy tiến trình cách mạng phát triển trong toàn huyện.

TRẦN VĂN
qdnd.vn

Biểu tượng của khí phách kiên cường và sức mạnh sáng tạo

Xã luận

QĐND – Hòa chung khí thế thi đua sôi nổi, hào hứng lập thành tích kỷ niệm 83 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, đón chào năm mới Quý Tỵ 2013, hôm nay, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta phấn khởi, tự hào kỷ niệm 45 năm mở màn cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968. Nhìn lại cuộc Tổng tiến công và nổi dậy 45 năm trước chúng ta càng thấy rõ ý nghĩa và tầm vóc to lớn của nó trong lịch sử dân tộc.

Sau những thắng lợi lớn trong hai cuộc phản công chiến lược mùa khô 1965-1966 và mùa khô 1966-1967, quân và dân ta đã đánh bại một bước quan trọng chiến lược “Chiến tranh cục bộ” của đế quốc Mỹ trên cả hai miền Nam – Bắc. Mỹ và tay sai đã thất bại trong mục tiêu “tìm diệt” và “bình định”, quân và dân ta đã có những chuyển biến vượt bậc, mở ra nhiều khả năng tiến công trên nhiều mặt trận. Đặc biệt ta đang ở thế chủ động cho phép có thể chuyển cuộc chiến tranh cách mạng sang một thời kỳ mới, giành những thắng lợi quyết định.

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 nổ ra và giành thắng lợi là sự kiện có ý nghĩa và tầm vóc to lớn, là một trong những mốc son chói lọi trong lịch sử dân tộc. Thời gian càng lùi xa, thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 ngày càng được khẳng định, trở thành biểu tượng của ý chí quyết chiến quyết thắng, khí phách kiên cường và sức mạnh sáng tạo của chiến tranh nhân dân Việt Nam.

Có nhiều yếu tố tạo nên chiến thắng, nhưng không thể không nói tới một mẫu mực tuyệt vời về nghệ thuật chỉ đạo tác chiến chiến lược, chiến dịch của Đảng ta. Không chỉ tạo ra sự bất ngờ về thời gian tiến hành cuộc tổng tiến công, ta còn tạo ra sự bất ngờ lớn đối với quân địch khi đưa cuộc kháng chiến vào đô thị – sào huyệt cuối cùng, làm cho chúng trở tay không kịp. Quân và dân ta cũng thành công trong nghệ thuật nghi binh, lừa địch. Bằng việc mở chiến dịch Khe Sanh vào ngày 20-1-1968, chúng ta đã thành công trong chiến thuật “điệu hổ ly sơn” khi thu hút hơn 90% lực lượng tinh nhuệ nhất của Mỹ lên vùng rừng núi, rồi sau đó tập trung binh hỏa lực đánh vào những nơi chúng không ngờ tới… Thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 là chiến thắng tiêu biểu của nghệ thuật vận dụng linh hoạt, sáng tạo quan điểm, đường lối quân sự của Đảng. Với đòn tiến công chiến lược ấy, chúng ta đã giáng một đòn quyết định vào ý chí xâm lược của Mỹ, làm đảo lộn thế bố trí chiến lược của chúng. Tác động sâu rộng, mãnh liệt của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 đã buộc Tổng thống Mỹ Giôn-xơn phải đơn phương tuyên bố chấm dứt vai trò trực tiếp của quân Mỹ trên chiến trường miền Nam, ngừng mọi hoạt động trên không, trên biển chống phá nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, chấm dứt ném bom miền Bắc từ Vĩ tuyến 20 trở ra và chấp nhận ngồi vào bàn đàm phán với Việt Nam. Có thể nói thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 đã tạo ra một bước ngoặt chiến lược, có ý nghĩa quyết định tới toàn bộ sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc ta.

Thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 đã để lại cho chúng ta nhiều bài học quý báu. Đặc biệt là bài học vận dụng linh hoạt, sáng tạo đường lối quân sự của Đảng trong chỉ đạo tác chiến chiến lược, chiến dịch. Trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc hiện nay, công tác chỉ đạo chiến lược, chiến dịch phải quán triệt sâu sắc các quan điểm, đường lối của Đảng, nhất là đường lối quân sự trong giai đoạn mới, đó là xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận chiến tranh nhân dân, gắn với thế trận an ninh nhân dân… Để vận dụng linh hoạt, sáng tạo, có hiệu quả các quan điểm đó trong từng nhiệm vụ chúng ta phải chủ động nắm chắc tình hình, bám sát thực tiễn, xuất phát từ thực tiễn để đề ra các chủ trương, giải pháp phù hợp. Trong khi chú trọng phát triển kinh tế, xã hội chúng ta không được chủ quan, lơi lỏng nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, phải luôn luôn đề cao cảnh giác, sẵn sàng đánh thắng mọi loại hình chiến tranh xâm lược của kẻ thù. Cùng với đó phải đánh giá đúng đối tượng chiến lược của cách mạng Việt Nam và đối tượng tác chiến chiến lược của các lực lượng vũ trang nhân dân ta, để từ đó, tích cực chuẩn bị các tiềm lực: Chính trị, tinh thần; kinh tế; quân sự, quốc phòng và an ninh; chuẩn bị hậu phương và căn cứ của cả nước; hậu phương, căn cứ trên từng chiến trường, từng khu vực phòng thủ trên từng hướng chiến lược; củng cố và chấn chỉnh lực lượng vũ trang… Với vai trò nòng cốt của nền quốc phòng toàn dân, đòi hỏi Quân đội nhân dân Việt Nam phải được xây dựng vững mạnh cả về chất lượng chính trị và trình độ và khả năng SSCĐ, đặc biệt là khả năng làm chủ các loại vũ khí trang bị kỹ thuật mới, hiện đại. Mỗi cán bộ, chiến sĩ quân đội phải nhận thức rõ trọng trách của mình để không ngừng rèn luyện, phấn đấu nâng cao bản lĩnh chính trị, lập trường tư tưởng, tinh thần cảnh giác cách mạng, ý thức tổ chức kỷ luật. Đi đôi với xây dựng bộ đội thường trực, chúng ta cần quan tâm đúng mức đến xây dựng, huấn luyện lực lượng dự bị động viên, dân quân tự vệ… Các lực lượng vũ trang phải luôn đoàn kết xứng đáng là lực lượng chính trị tuyệt đối trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân.

Phía trước dẫu còn nhiều chông gai, thử thách nhưng chúng ta tin tưởng chắc chắn rằng, dưới sự lãnh đạo của Đảng, công cuộc đổi mới vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh sẽ tiếp tục đạt được những thành tựu to lớn. Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 mãi mãi xứng đáng với tầm vóc lịch sử của dân tộc.

QĐND
qdnd.vn