Thư viện

Khu di tích lịch sử Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Đá Chông – Phần thứ ba: A

Giải pháp chủ yếu nhằm bảo tồn, tôn tạo và phát huy tác dụng khu di tích lịch sử chủ tịch hồ chí minh tại đá chông

oOo

I. TÌNH HÌNH VÀ TRIỂN VỌNG PHÁT TRIỂN CỦA KHU DI TÍCH

1. Những thuận lợi cơ bản trong quá trình bảo tồn, tôn tạo và phát huy tác dụng của Khu di tích

“Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta và nhân dân thế giới. Người đã trải qua một cuộc đời oanh liệt, đầy gian khổ hy sinh, vô cùng cao thượng và phong phú, vô cùng trong sáng và đẹp đẽ” . Việc bảo tồn, tôn tạo các di tích của Chủ tịch Hồ Chí Minh để giáo dục truyền thống cho các thế hệ luôn được Đảng, Nhà nước quan tâm và bạn bè quốc tế ủng hộ.

Đảng, Nhà nước và nhân dân ta luôn quan tâm giữ gìn, bảo quản các Khu di tích về Chủ tịch Hồ Chí Minh để giáo dục truyền thống cách mạng cho các tầng lớp nhân dân

Di tích được đánh giá như là tài sản văn hoá của quốc gia, tồn tại mãi mãi theo quá trình phát triển của dân tộc. Vì vậy bảo tồn di tích là một nhu cầu tất yếu. “Một nước mất hết di tích thì không còn có ý nghĩa”; “Giữ di tích để sử dụng chúng trong việc giáo dục tư tưởng, động viên quần chúng thi đua yêu nước, nghiên cứu khoa học, xây dựng nền văn hoá mới”; “Phải coi các di tích lịch sử là tài sản quý của quốc gia. Có những chủ trương và biện pháp có hiệu lực bảo tồn lâu dài các di tích lịch sử và giá trị văn hoá để giáo dục nhân dân về lòng yêu nước và tự hào dân tộc, về truyền thống lịch sử văn hoá, tạo điều kiện cho nhiều thế hệ có thể thưởng thức tiếp thu, nghiên cứu các giá trị văn hoá cổ truyền, tiếp tục sáng tạo ra những giá trị văn hoá mới thể hiện tầm cao của thời đại và chiều sâu của truyền thống vừa dân tộc, vừa hiện đại”.

Sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời, với tấm lòng thành kính và biết ơn vô hạn, Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đã tôn tạo, xây dựng nhiều công trình về Người, như: Lăng Bác, các Bảo tàng, Khu di tích và phòng trưng bày Hồ Chí Minh. Theo thống kê của Bảo tàng Hồ Chí Minh, hiện nay có khoảng 663 khu di tích và địa điểm di tích lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh thuộc nhiều tỉnh thành, từ Pắc Bó – Cao Bằng, Sơn Dương – Tuyên Quang, Định Hoá – Thái Nguyên, Hà Nội, Kim Liên – Nghệ An, Thừa Thiên Huế, Dục Thanh – Phan Thiết, Bến Nhà Rồng – Thành phố Hồ Chí Minh. Ngoài ra còn hàng ngàn công trình của nhân dân trong cả nước và kiều bào ta ở nước ngoài đã và đang được xây dựng để tưởng niệm Bác. Những bảo tàng, khu di tích, công trình tưởng niệm Bác sẽ là nơi để tổ chức giáo dục truyền thống: “Làm cho toàn Đảng, toàn dân nhận thức sâu sắc về những nội dung cơ bản và giá trị to lớn của tư tưởng đạo đức và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về ý thức tu dưỡng, rèn luyện và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh sâu rộng trong toàn xã hội, đặc biệt trong cán bộ, đảng viên, công chức, đoàn viên, thanh niên, học sinh… nâng cao đạo đức cách mạng, cần, kiệm, liêm chính, chí công vô tư; đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và các tệ nạn xã hội, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội X của Đảng”, góp phần xây dựng nền tảng tư tưởng, đạo đức cách mạng, tạo động lực phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội của đất nước trong giai đoạn mới.

Thực tế tại Lăng Bác, Khu di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch, Bảo tàng Hồ Chí Minh và Khu di tích Đá Chông cho thấy số lượng nhân dân trong nước và khách quốc tế đến viếng Người và tổ chức sinh hoạt chính trị, văn hoá ngày càng tăng cao. Thống kê số lượng nhân dân và khách quốc tế đến viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh và tham quan khu vực những năm gần đây, năm sau cao hơn năm trước (năm 2000 số lượng hơn 1,8 triệu lượt người, năm 2006 gần 2 triệu lượt người). Sau hơn 32 năm tổ chức lễ viếng, đã có hơn 34 triệu lượt người vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Vào dịp kỷ niệm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5) và ngày mất của Người (2/9) hàng năm, số lượng khách đến viếng Bác mỗi buổi rất đông, có buổi lên tới hơn 3,1 vạn người vào Lăng viếng Bác.

– Chủ tịch Hồ Chí Minh là danh nhân văn hoá thế giới, do đó đwocj bầu bạn quốc tế quan tâm và tạo mọi điều kiện cho việc sưu tầm, giữ gìn các hiện vật gắn bó với quá trình hoạt động cách mạng của Người trên toàn thế giới

Tổ chức giáo dục, khoa học và văn hoá Liên hợp quốc (UNESCO) đã ra Nghị quyết: “Ghi nhận rằng năm 1990 sẽ được đánh dấu bằng lễ kỷ niệm lần thứ 100 ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị Anh hùng giải phóng dân tộc của Việt Nam và là một nhà văn hoá lớn”.

Những nước trước đây Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sống, làm việc và hoạt động đã công bố những tư liệu rất có giá trị để nghiên cứu, sưu tầm về cuộc đời hoạt động của Người. Tại Pháp, Chính phủ đã dặt tượng Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Quảng trường của thành phố Môngtơri. Tại Trung Quốc đặt tượng bia lưu niệm những nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đến thăm và vẫn tôn trọng giữ gìn khu lưu niệm nơi ra đời Tổ chức Thanh niên Cách mạng đồng chí Hội (Quảng Châu – Trung Quốc). Ở Nga, Cu Ba và rất nhiều nước trên thế giới đã đặt tượng Chủ tịch Hồ Chí Minh nơi trung tâm thủ đô. Đặc biệt tại Thái Lan: “Với mong muốn phát triển quan hệ hai nước, ngưỡng mộ Chủ tịch Hồ Chí Minh, Chính phủ Thái Lan đã phê duyệt Dự án làng hữu nghị Việt – Thái tại Bản Mạy, nơi Người từng sống và khơi dậy lòng yêu nước của cộng đồng người Thái gốc Việt xưa”.

Với những đóng góp to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh cho phong trào cách mạng thế giới, ngày càng có nhiều tổ chức, cá nhân nghiên cứu, tìm hiểu về Người: “Dáng dấp của con người đang ngồi trước mặt tôi đây, Nguyễn Ái Quốc cũng đang toả ra một cái gì vừa lịch thiệp và tế nhị… Nguyễn Ái Quốc đã toả ra một thứ văn hoá, không phải văn hoá Âu châu mà có lẽ là một nền văn hoá tương lai”. Tư tưởng, sự nghiệp và đạo đức Hồ Chí Minh luôn là đề tài nghiên cứu của nhiều nhà khoa học trên thế giới và là nhu cầu tìm hiểu của khách quốc tế khi đến Việt Nam tham quan du lịch. Tống kê tại Lăng Bác, Khu di tích Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch và Bảo tàng Hồ Chí Minh cho thấy lượng khách nước ngoài đến viếng, tham quan ngày một tăng cao. Kể từ ngày mở cửa đón khách, đã có hơn 4 triệu lượt khách quốc tế của hầu hết các quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới vào Lăng viếng Bác. Đặc biệt nguyên thủ các nước trên thế giới, đảng cánh tả ở các nước châu Mỹ La Tinh… sang thăm Việt Nam hầu hết đều đến viếng Bác. Đó là cơ sở, là nguồn cổ vũ động viên chúng ta xây dựng và phát huy ý nghĩa các khu di tích về Chủ tịch Hồ Chí Minh.

– Đảng bộ, chính quyền, nhân dân huyện Ba Vì, Hà Tây luôn quan tâm đầu tư phát triển các di tích gắn với các khu du lịch ở địa phương

Những năm gần đây, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân địa phương quan tâm nhiều đến việc đầu tư xây dựng các khu di tích lịch sử. Trong Nghị quyết số 16-NQ/TV ngày 23 tháng 10 năm 2006 của Tỉnh uỷ Hà Tây về lãnh đạo đẩy mạnh công tác văn hoá thể thao của tỉnh đến năm 2010 và những năm tiếp theo khẳng định: “Rà soát , bổ sung hoàn chỉnh quy hoạch tổng thể phát triển văn hoá thể thao đến năm 2020. Trước mắt, tập trung hoàn chỉnh quy hoạch các di tích trọng điểm của tỉnh gắn với phát triển kinh tế du lịch; quy hoạch hệ thống dịch vụ văn hoá trên địa bàn toàn tỉnh, triển khai thực hiện dự án bảo tồn, tôn tạo, phát huy giá trị các di tích của Hà Tây đến năm 2020”. Trên cơ sở đó, Kế hoạch phát triển kinh tế, văn hoá- xã hội nhiệm kỳ 2006- 2010 của Đảng bộ tỉnh Hà Tây đã xác định nhiệm vụ phát triển kinh tế, vùng trọng điểm Ba Vì, Sơn Tây và chú trọng phát triển du lịch gắn liền với tăng trưởng kinh tế và giữ vững tinh hình an ninh chính trị, xã hội của địa phương.

Đặc biệt, đối với Khu di tích Đá Chông, Tỉnh uỷ, UBND tỉnh Hà Tây, Huyện ủy, UBND huyện Ba Vì, các xã, các thôn liền kề và đồng bào các dân tộc quanh Khu di tích luôn xác định việc phối hợp với đơn vị để giữ gìn, bảo vệ tuyệt đối an toàn Khu di tích là tình cảm, trách nhiệm của địa phương; xây dựng và thực hiện nghiêm quy chế bảo vệ, quy định phòng chống cháy rừng, xây dựng hàng rào bảo vệ bao quanh khu vực Đá Chông.

– Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định giữ gìn, bảo vệ, phát huy ý nghĩa chính trị, văn hóa và lịch sử Khu di tích Đá Chông là nhiệm vụ chính trị trọng tâm luôn được quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ

Thường vụ Đảng uỷ Đoàn 969 và Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ, toàn diện các mặt công tác bảo vệ an ninh, phòng chống cháy rừng, đón tiếp tuyên truyền tại Khu di tích Đá Chông. Trên cơ sở Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Đoàn 969 lần thứ VII đã xác định: “Tiếp tục hoàn thiện quy định đón tiếp khách, quy trình tham quan, tưởng niệm Bác, nội dung giới thiệu Khu di tích và những tư liệu về Chủ tịch Hồ Chí Minh tại K84. Cải tạo phòng trưng bày những hiện vật quý về cuộc đời hoạt động của Bác và hiện vật liên quan đến nhiệm vụ giữ gìn lâu dài và bảo vệ tuyệt đối an toàn thi hài Bác trong giai đoạn chiến tranh (1969- 1975)” . Đơn vị sẽ tập trung đầu tư bảo tồn, tôn tạo, xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ công tác đón tiếp, tuyên truyền; xây dựng các công trình phục vụ huấn luyện, rèn luyện bộ đội, phòng chống cháy rừng và tăng gia sản xuất.

– Quá trình bảo tồn, tôn tạo và phát huy ý nghĩa chính trị, văn hóa và lịch sử của Khu di tích luôn nhận được sự quan tâm giúp đỡ của các tổ chức, cá nhân trong phạm vi cả nước. Nhất là cơ quan chuyên ngành và các cán bộ, chiến sĩ đã có thời gian gắn bó với Khu di tích

Các cơ quan chuyên ngành: Bảo tàng Hồ Chí Minh; Khu di tích Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch; Bệnh viện Trung ương Quân đội 108… đã quan tâm, giúp đỡ đơn vị sưu tầm, cung cấp tư liệu, hình ảnh, xây dựng Hồ sơ khoa học về Khu di tích; phối hợp với đơn vị tổ chức hội thảo thống nhất các sự kiện, hiện vật liên quan đến Khu di tích; hướng dẫn đơn vị bố trí, sắp xếp, trưng bày các hiện vật trong Khu di tích khoa học, thuận lợi cho công tác bảo quản, khai thác.

Các cơ quan của tỉnh Hà Tây, huyện Ba Vì, các đơn vị đứng chân trên địa bàn và nhiều tổ chức, cá nhân sẽ đóng góp về tinh thần, vật chất phục vụ quá trình tôn tạo, bảo quản, phát triển Khu di tích.

Đặc biệt, những cán bộ, chiến sĩ tham gia xây dựng, bảo vệ Khu di tích từ những ngày đầu luôn lưu giữ những hình ảnh đẹp nhất về Khu di tích; nhiệt tình, trách nhiệm cung cấp, giúp đỡ đơn vị sưu tầm, làm rõ các sự kiện, hiện vật gắn liền với Khu di tích trong các thời kỳ Bác sống và làm việc, cũng như sau này giữ gìn thi hài Bác trong những năm chiến tranh.

2. Một số khó khăn tác động, ảnh hưởng tới quá trình giữ gìn, bảo quản, tôn tạo Khu di tích Đá Chông

– Công tác sưu tầm đầy đủ các sự kiện, hiện vật gốc phục vụ nhiệm vụ bảo tồn, tôn tạo Khu di tích gặp nhiều khó khăn

Một số nhân chứng, sự kiện, hiện vật gắn liền với những năm tháng Bác Hồ và Trung ương Đảng làm việc, tiếp khách tại đây chưa được làm rõ, gặp khó khăn rất lớn cho việc lập Hồ sơ khoa học về Khu di tích.

Từ năm 1975 trở về trước, đây là khu căn cứ tuyệt mật. Chỉ một số ít người của các cơ quan trực tiếp: Văn phòng Trung ương Đảng, Văn phòng Chủ tịch nước, Văn phòng Tỉnh uỷ, UBND tỉnh Sơn Tây và Đoàn Tân Trào- Công an nhân dân vũ trang được biết. Còn lại, ngay cả chính quyền và nhân dân địa phương cũng không được rõ về nhiệm vụ của Khu di tích, nên mọi công việc, sự kiện diễn ra ở khu vực này không được tuyên truyền, việc lưu giữ, ghi chép rất hạn chế, chủ yếu do kể chuyện lại.

Hiện vật ở đây phần lớn không rõ xuất xứ, một số tài liệu lưu giữ ở Văn phòng Trung ương, Ban Tài chính Quản trị Trung ương, Phủ Chủ tịch… nhưng cũng chưa thật chính xác về số lượng, chủng loại, thời gian, hồ sơ lưu trữ không có. Các công trình: Nhà 2 tầng, nhà kính, nhà phục vụ bản thiết kế ban đầu, hồ sơ hoàn công chưa sưu tầm được.

– Công tác bảo vệ tuyệt đối an toàn, chống sự xâm hại đến Khu di tích trong điều kiện thực tế có những khó khăn phức tạp

Khu di tích Đá Chông diện tích rộng, địa hình phức tạp, có núi, hồ, rừng, giáp sông, đường giao thông, bến sông nằm trong khu vực bảo vệ, gây trở ngại trong việc quản lý, bảo vệ tuyệt đối an toàn Khu di tích. Vào mùa mưa có thể xảy ra lũ hoặc ngập do nước sông Đà dâng cao; mùa khô hanh, việc phòng chống cháy rừng gặp rất nhiều khó khăn.

Nhận thức về vị trí, ý nghĩa của di tích và ý thức trách nhiệm bảo vệ của một bộ phận nhân dân trong khu vực còn hạn chế. Phong trào quần chúng đấu tranh, ngăn chặn các trường hợp vi phạm quy chế bảo vệ Khu di tích chưa sâu rộng. Một số trường hợp xâm hại: phá hàng rào, chăn thả gia súc, săn bắn chim…, làm ảnh hưởng đến yêu cầu bảo vệ tuyệt đối an toàn Khu di tích.

– Tổ chức lực lượng và cơ sở vật chất phục vụ nhiệm vụ tại Khu di tích còn gặp những khó khăn

Khu di tích ở xa trung tâm Bộ Tư lệnh, một số cán bộ, công nhân viên do điều kiện khó khăn về hậu phương gia đình, bản thân chưa thật sự yên tâm, tâm huyết với nhiệm vụ được giao.

Đơn vị chưa có lực lượng chuyên trách, chưa có kinh nghiệm trong công tác bảo tồn, tôn tạo các hiện vật của Khu di tích. Tổ chức lực lượng, trình độ, năng lực của cán bộ, công nhân viên, chiến sĩ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ, đón tiếp tuyên truyền có mặt còn hạn chế cả về kiến thức chuyên ngành và kinh nghiệm truyền đạt, giới thiệu, tuyên truyền phục vụ khách tham quan.

Trang thiết bị phục vụ công tác bảo vệ, phòng chống cháy rừng, đón tiếp, tuyên truyền phục vụ sinh hoạt chính trị, bảo quản hiện vật, chăm sóc cây trồng, rừng cây đang trong quá trình bổ sung, hoàn thiện, chưa đồng bộ.

Yêu cầu công tác đón tiếp, tuyên truyền phải sâu rộng, toàn diện, để nhân dân cả nước, trực tiếp là nhân dân địa phương nhận thức sâu sắc về ý nghĩa lịch sử – văn hoá của Khu di tích.

– Sự chống phá của kẻ thù và các hiện tượng lợi dụng mê tín dị đoan tác động, ảnh hưởng đến quá trình bảo tồn, tôn tạo Khu di tích Đá Chông

Các thế lực thù địch đang tăng cường các hoạt động chống phá tư tưởng Hồ Chí Minh: phủ nhận, xuyên tạc, bôi nhọ, hạ thấp tư tưởng, sự nghiệp – đạo đức Hồ Chí Minh; tách tư tưởng Hồ Chí Minh với đường lối, chính sách của Đảng. Ra sức tuyên truyền xuyên tạc việc giữ gìn thi hài Bác, bảo quản, tôn tạo các công trình của Người là việc làm tốn kém, không thực hiện Di chúc của Người, thực chất là hạ bệ lãnh tụ Hồ Chí Minh; làm phai nhạt niềm tin của nhân dân ta đối với Đảng, với Bác Hồ kính yêu.

Trước đây, khu Đá Chông đã được nhân dân địa phương tuyên truyền là nơi linh thiêng, sau này là nơi yên nghỉ của Bác trong những năm chiến tranh, nên dễ bị một số đối tượng lợi dụng mê tín dị đoan, thần thánh hoá, tuyên truyền xuyên tạc giá trị lịch sử – văn hoá của Khu di tích.

3. Triển vọng phát triển của Khu di tích Đá Chông

– Khu di tích Đá Chông là một di tích lịch sử – văn hoá.

Để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ chính trị, đơn vị sẽ xây dựng các công trình phục vụ, huấn luyện, rèn luyện bộ đội; như xây dựng khu nhà ở, hội trường, sân bãi, thao trường phục vụ huấn luyện, rèn luyện bộ đội; phục vụ nhiệm vụ phòng chống cháy rừng: Như hệ thống phòng chống cháy, bể chứa nước, trạm quan sát, phát hiện cháy rừng; phục vụ nhiệm vụ trồng, chăm sóc rừng và tăng gia sản xuất: Cây trồng, khu vực chăn nuôi, hồ thả cá.

Đặc biệt, các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước và Bộ Quốc phòng, địa phương lên thăm Khu di tích sẽ trồng cây lưu niệm. Nhiều tổ chức, cá nhân có nguyện vọng đóng góp các hiện vật, cây quý tôn tạo cảnh quan, môi trường Khu di tích thêm phong phú.

Một số đơn vị như Bộ Tư lệnh Công binh, Cục Bưu điện Trung ương… trước đây tham gia thiết kế, thi công công trình phục vụ Bác Hồ, phục vụ Trung ương sẽ tôn tạo, xây dựng các công trình trước đây để giáo dục truyền thống.

– Nhiệm vụ của Khu di tích ngày càng phát triển với yêu cầu cao

Trong những năm tới, nhiệm vụ của Khu di tích sẽ tiếp tục phát triển với yêu cầu ngày càng cao: Bảo đảm tuyệt đối an toàn Khu di tích; bảo quản, giữ gìn, tôn tạo các hiện vật tại Khu di tích; đón tiếp, tuyên truyền, phát huy ý nghĩa chính trị, lịch sử – văn hoá của Khu di tích; phục vụ nhiệm vụ huấn luyện, rèn luyện bộ đội, tăng gia sản xuất cho đơn vị.

Để góp phần thực hiện thắng lợi Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, Thường vụ Đảng ủy Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định: “Chủ động tham mưu, đề xuất với các cơ quan của Đảng, Nhà nước, Chính phủ và Bộ Quốc phòng tổ chức các hoạt động đón tiếp, tuyên truyền, phát huy cao nhất ý nghĩa chính trị, văn hoá của công trình Lăng Bác và Khu di tích Đá Chông, góp phần cùng với toàn Đảng, toàn dân và toàn quân thực hiện thắng lợi Cuộc vận động học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”

– Hình thức đón tiếp, tuyên truyền được mở rộng và số lượng cán bộ, nhân dân đến tham quan Khu di tích ngày càng đông

Thời gian qua, các đoàn cán bộ, nhân dân đến tham quan Khu di tích đã có một số hoạt động như: Tưởng niệm Bác, tham quan Khu di tích, trồng cây lưu niệm, đó là những hình thức phổ biến. Tiến tới do nhu cầu sinh hoạt chính trị văn hóa, các hình thức kết nạp Đảng, kết nạp Đoàn, Lễ báo công, tuyên dương công trạng, kết hợp với các nhà nghiên cứu, sưu tầm về Bác, về Đá Chông, về nơi địa linh nhân kiệt sẽ đến tìm hiểu.

Theo khảo sát, hiện nay số lượng khách chủ yếu là nhân dân địa phương và một số cơ quan, đơn vị ở khu vực Hà Nội. Sắp tới phải tăng cường công tác tuyên truyền để nhân dân, các cơ quan, đơn vị trong cả nước sẽ đến tham quan Khu di tích ngày càng nhiều. Có thể mỗi buổi tới hàng ngàn người, hàng năm lên tới hàng chục vạn người. Đặt ra yêu cầu tổ chức lực lượng đón tiếp tuyên truyền và cơ sở hạ tầng phục vụ khách phải phát triển nhanh.

bqllang.gov.vn

Khu di tích lịch sử Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Đá Chông – Phần thứ ba: B

Giải pháp chủ yếu nhằm bảo tồn, tôn tạo và phát huy tác dụng khu di tích lịch sử chủ tịch hồ chí minh tại đá chông (tiếp theo)

oOo

II. YÊU CẦU CÔNG TÁC BẢO TỒN, TÔN TẠO VÀ PHÁT HUY TÁC DỤNG KHU DI TÍCH

Yêu cầu về công tác giữ gìn, bảo quản, tôn tạo và phát huy tác dụng Khu di tích gồm một số nội dung sau đây:

1. Công tác bảo tồn, tôn tạo và phát huy tác dụng Khu di tích đảm bảo tính chân thực, khách quan và khoa học

Tiếp tục tiến hành xác minh, làm rõ các sự kiện gắn với quá trình Bác, Trung ương Đảng lựa chọn, làm việc, tiếp khách quốc tế… và sau này Bộ Chính trị, Đảng ủy Quân sự Trung ương chọn làm nơi giữ gìn thi hài Bác trong những năm chiến tranh. Những sự kiện này phải được tổ chức hội thảo và xác minh rõ tính chân thực, chính xác.

Sưu tầm hồ sơ gốc, những hiện vật khi bắt đầu xây dựng, những đồ dùng lúc Bác đang sống hay phục vụ quá trình giữ gìn thi hài Bác phải được sưu tầm đầy đủ và giữ gìn nguyên vẹn, lâu dài.

Quá trình tôn tạo, bảo quản, giữ gìn và phát huy tác dụng Khu di tích phải bảo đảm khách quan, chính xác từng hiện vật, sự kiện; tuyệt đối không được áp đặt tính chủ quan.

2. Công tác bảo tồn, tôn tạo hiện vật đảm bảo tuyệt đối an toàn, không để hư hỏng, mất mát

Hiện vật tại Khu di tích được gắn liền với cuộc đời hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh và sự nghiệp giữ gìn lâu dài và bảo vệ tuyệt đối an toàn thi hài Bác. Đây là những hiện vật gốc, có giá trị lịch sử. Vì vậy, phải được bảo quản, giữ gìn, bảo vệ tuyệt đối an toàn. Những hiện vật dễ hỏng, dễ vỡ (đồ gỗ, đồ sứ, thủy tinh…) cần có kế hoạch bảo vệ và có phương án trưng bày an toàn, tránh hư hỏng, thất lạc. Một số hiện vật quý nên phục chế, không trưng bày hiện vật gốc.

3. Công tác bảo tồn, tôn tạo hiện vật Khu di tích phải gắn chặt với nhiệm vụ chính trị của đơn vị

Đảng, Nhà nước, trực tiếp là Đảng ủy Quân sự Trung ương và Bộ Quốc phòng giao nhiệm vụ cho Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh quản lý, giữ gìn K84. Vì vậy, các hoạt động của Khu di tích phải tuân thủ những quy định về Khu di tích lịch sử. Những vấn đề đề xuất bảo quản, tôn tạo, phát huy ý nghĩa, giá trị của Khu di tích tuyệt đối không ảnh hưởng đến nhiệm vụ chính trị. Ngược lại, những công trình phục vụ cho yêu cầu nhiệm vụ không được
phá vỡ cảnh quan, môi trường và ranh giới của Khu di tích.

bqllang.gov.vn

Khu di tích lịch sử Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Đá Chông – Phần thứ ba: C

Giải pháp chủ yếu nhằm bảo tồn, tôn tạo và phát huy tác dụng khu di tích lịch sử chủ tịch hồ chí minh tại đá chông (tiếp theo)

oOo

III. CÁC GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM BẢO TỒN, TÔN TẠO VÀ PHÁT HUY TÁC DỤNG KHU DI TÍCH

1. Thường xuyên quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo công tác bảo tồn, tôn tạo và đón tiếp, tuyên truyền

Nâng cao nhận thức, trách nhiệm của lãnh đạo, chỉ huy các cấp, của cán bộ, công nhân viên, chiến sĩ với nhiệm vụ bảo tồn, tôn tạo và phát huy tác dụng Khu di tích

Hiện nay, việc bảo tồn, tôn tạo và phát huy tác dụng Khu di tích Đá Chông là nhiệm vụ quan trọng thường xuyên của Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, là một trong những nhiệm vụ chính trị của Đoàn 285. Do vậy, Thường vụ, Đảng ủy và Bộ Tư lệnh luôn luôn quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra việc thực hiện toàn diện các nhiệm vụ của Đoàn 285. Đồng thời chỉ đạo các cơ quan thường xuyên hướng dẫn, tạo điều kiện giúp đỡ Đoàn 285 hoàn thành tốt công tác bảo tồn, tôn tạo các hiện vật và thực hiện tốt công tác đón tiếp, tuyên truyền nhân dân đến tưởng niệm Bác và tham quan Khu di tích. Bộ Tư lệnh đã giao nhiệm vụ cụ thể cho các cơ quan, đơn vị như sau:

+ Phòng Tham mưu chỉ đạo việc xây dựng tổ chức lực lượng hợp lý; huấn luyện, rèn luyện bộ đội về quân sự, nghi lễ, công tác bảo vệ an ninh địa bàn.

+ Phòng Chính trị chỉ đạo công tác bồi dưỡng, giáo dục nâng cao bản lĩnh chính trị, bảo vệ chính trị nội bộ trong sạch, xây dựng mối đoàn kết quân dân gắn bó; sưu tầm, làm rõ các tài liệu, sự kiện về Khu di tích.

+ Phòng Hậu cần chỉ đạo việc trồng, chăm sóc, bảo vệ, phòng chống cháy rừng, tăng gia sản xuất, lựa chọn cây trồng, vật nuôi phù hợp, hiệu quả; quan tâm nơi ăn ở, sinh hoạt và bảo đảm chế độ, chính sách cho cán bộ, công nhân viên, chiến sĩ.

+ Phòng Kỹ thuật chỉ đạo về công tác bảo quản, tu sửa các hiện vật, sử dụng, vận hành các thiết bị kỹ thuật, xây dựng các công trình liên quan.

+ Cơ quan Văn Phòng tổ chức hướng dẫn, bồi dưỡng nghiệp vụ công tác đón tiếp, tuyên truyền; tiếp nhận và thông báo, trao đổi với Đoàn 285 về các lực lượng đến Khu di tích.

+ Đoàn 275 và các cơ quan, đơn vị có lực lượng tham gia huấn luyện, thi công công trình ở khu vực phải tăng cường giáo dục cán bộ, công nhân viên, chiến sĩ về ý thức, trách nhiệm bảo vệ, giữ gìn Khu di tích.

+ Ban Quản lý Quảng trường Ba Đình, Trung tâm Nghiên cứu ứng dụng khoa học công nghệ và môi trường phối hợp với Đoàn 285 trồng, chăm sóc cây, đầu tư các dự án về tăng gia sản xuất, bảo vệ rừng.

Đối với Đảng ủy, chỉ huy Đoàn 285 luôn quán triệt sâu sắc nhiệm vụ được giao, vừa chủ động tham mưu, đề xuất các giải pháp, vừa tập trung lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức đơn vị làm tốt công tác bảo vệ, giữ gìn tuyệt đối an toàn Khu di tích và thực hiện tận tình, chu đáo nhiệm vụ đón tiếp, tuyên truyền nhân dân đến tưởng niệm Bác, sinh hoạt chính trị và tham quan khu vực.
Thường xuyên bám sát sự lãnh đạo, chỉ đạo của Thường vụ Đảng ủy Đoàn 969, Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng và công tác chỉ đạo, hướng dẫn giúp đỡ của các cơ quan, đơn vị trong quá trình thực hiện nhiệm vụ. Trong quá trình thực hiện, mỗi nội dung công việc luôn có sự biến động và các yếu tố phức tạp nảy sinh (bảo đảm an ninh, phòng chống cháy rừng, xử lý các tình huống…), do vậy lãnh đạo, chỉ huy Đoàn 285 phải thường xuyên quán triệt sâu sắc nhiệm vụ, tích cực chủ động triển khai hoàn thành toàn diện các nội dung công việc theo kế hoạch. Những nội dung đột xuất, phát sinh trong quá trình thực hiện nhiệm vụ phải chấp hành chế độ báo cáo, xin ý kiến chỉ đạo trước khi tiến hành. Riêng những nhiệm vụ, tình huống khẩn trương, yêu cầu nhanh chóng xử lý, sau đó tổng hợp báo cáo kết quả để tiếp tục xin ý kiến chỉ đạo của Thường vụ, Bộ Tư lệnh.

Trước hết phải coi trọng công tác giáo dục chính trị tư tưởng, làm cho cán bộ, công nhân viên, chiến sĩ trong đơn vị nhận thức sâu sắc về niềm vinh dự tự hào gắn với trách nhiệm được Đảng, Nhà nước, Quân đội tin tưởng giao thực hiện nhiệm vụ chính trị đặc biệt. Hoàn thành tốt nhiệm vụ bảo vệ, giữ gìn Khu di tích là góp phần quan trọng vào việc hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ giữ gìn lâu dài và bảo vệ tuyệt đối an toàn thi hài Bác. Làm tốt công tác đón tiếp, tuyên truyền là góp phần quan trọng vào việc phát huy ý nghĩa chính trị, lịch sử – văn hoá của Khu di tích Đá Chông.

Giáo dục để cán bộ, công nhân viên, chiến sĩ nhận thức đầy đủ mục đích, yêu cầu, nội dung công việc bảo tồn, tôn tạo và phát huy ý nghĩa lịch sử – văn hoá của Khu di tích. Muốn hoàn thành tốt nhiệm vụ, phải phối hợp, hiệp đồng chặt chẽ giữa các lực lượng trong đơn vị, giữa đơn vị với địa phương và các cơ quan, đơn vị có liên quan.

Tổ chức phân công, giao nhiệm vụ cụ thể, hợp lý cho các ban, đội, các lực lượng trong Đoàn tham gia thực hiện công tác giữ gìn, bảo quản hiện vật và công tác đón tiếp tuyên truyền. Thường xuyên kiểm tra, hướng dẫn, triển khai thực hiện các nội dung công việc. Quan tâm bảo đảm đời sống vật chất, tinh thần cho cán bộ, công nhân viên chiến sĩ; chăm lo chính sách hậu phương quân đội, ổn định nơi ăn, ở của các đồng chí gắn bó lâu dài với đơn vị.

Trong từng bộ phận, nhất là bộ phận trực tiếp đón tiếp, tuyên truyền phải xác định rõ đây là nhiệm vụ thường xuyên, liên tục, lâu dài, đòi hỏi sự công phu, tỷ mỷ, thận trọng, chu đáo trong sưu tầm, xác minh làm rõ các sự kiện quan trọng, trong giữ gìn, bảo quản các hiện vật quý giá và tận tình, chu đáo trong công tác đón tiếp, tuyên truyền. Mỗi cán bộ, công nhân viên, chiến sĩ trực tiếp làm công tác bảo quản, giữ gìn hiện vật di tích phải luôn yên tâm với nhiệm vụ, yêu nghề, say mê tìm hiểu, học tập nâng cao trình độ nghiệp vụ chuyên môn.

Định kỳ, hàng năm tổ chức sơ kết, tổng kết, rút kinh nghiệm công tác bảo quản, giữ gìn các hiện vật và đón tiếp, tuyên truyền tại Khu di tích. Kịp thời biểu dương, khen thưởng các tập thể, cá nhân hoàn thành tốt nhiệm vụ. Gắn kết quả công tác bảo quản hiện vật, đón tiếp, tuyên truyền với việc đánh giá hoàn thành nhiệm vụ hàng năm của cán bộ, đảng viên, công nhân viên, chiến sĩ.

Đồng thời với quá trình giáo dục về tình cảm, trách nhiệm của mỗi bộ phận, mỗi cán bộ, công nhân viên, chiến sĩ với công việc, cần đấu tranh chống các tư tưởng lệch lạc, đơn giản, chủ quan, cho rằng: Nhiệm vụ bảo tồn, tôn tạo Khu di tích là nhiệm vụ của những nhà chuyên môn khoa học, đơn vị không có chức năng, nhiệm vụ trong công việc này; hay tư tưởng đơn giản, chủ quan trong công tác đón tiếp, tuyên truyền…

– Nghiên cứu đề xuất báo cáo kiện toàn tổ chức lực lượng tại Khu di tích hợp lý.

Đoàn 285 là đơn vị cơ sở thuộc Bộ Tư lệnh bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, có nhiệm vụ bảo đảm tuyệt đối an toàn Khu di tích; tổ chức tăng gia sản xuất tập trung của đơn vị; trồng, chăm sóc, phòng chống cháy rừng và đón tiếp tuyên truyền phục vụ nhân dân đến tưởng niệm Bác Hồ và tham quan Khu di tích.

Để bảo đảm hoàn thành toàn diện các nhiệm vụ, Đoàn 285 được tổ chức biên chế và phân công nhiệm vụ như hiện nay là phù hợp, cân đối. Tuy nhiên, do yêu cầu công tác bảo tồn, tôn tạo các hiện vật và mở rộng công tác đón tiếp, tuyên truyền. Cần điều chỉnh, tăng cường lực lượng và bố trí nơi ăn, ở cho phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ.

– Thường xuyên bồi dưỡng nâng cao phẩm chất, năng lực, trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ, công nhân viên, chiến sĩ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ.

Những cán bộ, công nhân viên, chiến sĩ làm công tác bảo tồn, tôn tạo, giữ gìn các hiện vật và tổ chức đón tiếp, tuyên truyền có vai trò rất quan trọng, trực tiếp tuyên truyền giới thiệu các sự kiện, hiện vật nhằm phát huy ý nghĩa của Khu di tích.

Thời gian qua, cán bộ, nhân viên, chiến sĩ của Đoàn 285 đã hoàn thành tốt nhiệm vụ giữ gìn, bảo quản các hiện vật. Tổ chức tốt công tác đón tiếp, tuyên truyền, giới thiệu để nhân dân hiểu rõ ý nghĩa chính trị, lịch sử – văn hoá của Khu di tích Đá Chông. Song, thời gian tới phát triển thêm nhiệm vụ bảo tồn, tôn tạo Khu di tích và yêu cầu nhiệm vụ công tác đón tiếp, tuyên truyền ngày càng cao; một số cán bộ có kinh nghiệm chuyển công tác, hoặc nghỉ hưu. Chính vì vậy đơn vị cần quan tâm bồi dưỡng nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống và trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ, công nhân viên, chiến sĩ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ.

+ Nội dung bồi dưỡng phải toàn diện, nhưng tập trung bồi dưỡng nghiệp vụ công tác bảo quản, giữ gìn hiện vật và công tác đón tiếp, tuyên truyền.

Công tác bảo quản, giữ gìn các hiện vật yêu cầu rất cụ thể, tỷ mỷ. Do vậy cần bồi dưỡng cán bộ, công nhân viên, chiến sĩ nắm vững những kiến thức về quản lý, giữ gìn, lưu giữ các hiện vật, bảo đảm: Hiện vật phải được quản lý đầy đủ chặt chẽ, khoa học, giữ gìn nguyên vẹn, lâu dài, tránh xuống cấp, đổ vỡ, sai lệch…; phương pháp bảo quản, lau chùi, kiểm kê, điểm nghiệm các hiện vật và cách thức trưng bày, tuyên truyền, giới thiệu các hiện vật truyền thống.

Cán bộ, công nhân viên, chiến sĩ trực tiếp làm công tác đón tiếp, tuyên truyền đòi hỏi phải có bản lĩnh vững vàng, kiến thức toàn diện và phương pháp, nghệ thuật tuyên truyền hấp dẫn, cuốn hút người nghe, muốn vậy phải tập trung bồi dưỡng các nội dung sau:

Tổ chức nghiên cứu, học tập về thân thế, cuộc đời, sự nghiệp cách mạng, tư tưởng và tấm gương đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Mọi người phải nhận thức sâu sắc rằng: Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại. Đạo đức Hồ Chí Minh là tấm gương trọn đời phấn đấu, hy sinh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người và nhân loại; luôn có ý chí và nghị lực tinh thần to lớn, vượt qua mọi thử thách, khó khăn để đạt mục đích cách mạng; tuyệt đối tin tưởng vào sức mạnh của nhân dân, kính trọng nhân dân, hết lòng, hết sức phục vụ nhân dân; nhân ái, vị tha, khoan dung, nhân hậu, hết mực vì con người; là tấm gương cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, đời riêng trong sáng, nếp sống giản dị và đức khiêm tốn phi thường. Chủ tịch Hồ Chí Minh vừa là nhà chính trị kiệt xuất, nhà văn hoá lớn và là nhà quân sự thiên tài.

Tuyên truyền, giáo dục cho cán bộ, công nhân viên, chiến sĩ nhận thức sâu sắc về sự nghiệp giữ gìn lâu dài và bảo vệ tuyệt đối an toàn thi hài Bác, nhất là những năm chiến tranh chống Mỹ vô cùng ác liệt, khó khăn, gian khổ, nhưng cán bộ, chiến sĩ Đoàn 69 đã kề vai, sát cánh với chuyên gia y tế Liên Xô để vượt qua. Đây là nhiệm vụ thiêng liêng, thể hiện truyền thống “Uống nước nhớ nguồn”, tôn vinh và biết ơn công lao trời biển của Hồ Chủ tịch đối với nước với dân. Hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ giữ gìn lâu dài an toàn thi hài Bác, để các thế hệ người Việt Nam và bạn bè quốc tế đến viếng Người, thể hiện quyết tâm mãi mãi đi theo con đường độc lập dân tộc, gắn liền với chủ nghĩa xã hội mà Người đã lựa chọn. Thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh mà Người đã hằng mong đợi.

Bồi dưỡng kiến thức toàn diện về truyền thống lịch sử, văn hoá của dân tộc, của quân đội, trực tiếp là truyền thống của địa phương. Khu vực Sơn Tây, Ba Vì, Hà Tây là nơi “Địa linh nhân kiệt” (Đất thiêng sinh người tài), người làm công tác đón tiếp tuyên truyền cần tìm hiểu sâu lịch sử truyền thống dân tộc; truyền thống quân đội, truyền thống của địa phương. Hiểu rõ quá trình hình thành, phát triển Khu di tích Đá Chông. Sưu tầm những tư liệu, tài liệu của địa phương, trong nhân dân truyền miệng về Khu di tích này. Nắm vững các lực lượng quân đội, địa phương đã tham gia xây dựng, bảo vệ Khu di tích. Hiểu được vị trí chiến lược về quân sự, thuận lợi về giao thông đường không, đường thủy, đường bộ của Khu di tích. Nắm vững mối liên hệ mật thiết giữa di tích Đá Chông với các khu di tích, các khu du lịch trong khu vực… và phong tục, tập quán văn hóa của địa phương.

Học tập nghiệp vụ lễ tân, đón tiếp khách văn minh, lịch sử, tận tình chu đáo, để lại ấn tượng sâu sắc cho nhân dân mỗi khi đến tham quan, tưởng niệm và tổ chức các hoạt động tại Khu di tích. Hiện nay, đội ngũ cán bộ, nhân viên, chiến sĩ của Đoàn 285 cũng như bộ phận trực tiếp làm công tác đón tiếp tuyên truyền phần lớn còn trẻ, chưa được đào tạo cơ bản, kinh nghiệm còn hạn chế. Do vậy để công tác đón tiếp tuyên truyền mang lại hiệu quả thiết thực cần tập trung bồi dưỡng về nghiệp vụ lễ tân.

Mỗi người dân thuộc mọi lứa tuổi, mọi thành phần, mọi địa phương đến với Khu di tích đều xuất phát từ tình cảm kính yêu Bác Hồ, muốn tìm hiểu, học tập cuộc đời thanh tao, giản dị của Bác. Do vậy người làm công tác đón tiếp, tuyên truyền phải thật sự gần gũi, tôn trọng, kính trọng khách, phải tạo mọi điều kiện thuận lợi cho nhân dân thực sự có những phút giây thoải mái, linh thiêng khi đến với Khu di tích của Người.

Bồi dưỡng, giáo dục về tinh thần cảnh giác cách mạng, nhận rõ âm mưu thủ đoạn của kẻ thù, kịp thời phát hiện và làm thất bại mọi ý đồ đen tối của các thế lực thù địch đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh; làm tốt công tác bảo đảm tuyệt đối an toàn cho nhân dân khi đến tham quan, tưởng niệm tại Khu di tích. Chiến lược “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch không từ thủ đoạn nào hòng vô hiệu hóa vai trò lãnh đạo của Đảng, bôi nhọ hình ảnh lãnh tụ Hồ Chí Minh trong lòng nhân dân, chia rẽ Đảng với dân, chia rẽ quân đội với nhân dân… Trong tình hình đó, người làm công tác đón tiếp, tuyên truyền cũng phải hết sức cảnh giác, phát hiện và ngăn chặn kịp thời.

Trước tình hình tiêu cực hiện nay và các tệ nạn xã hội xảy ra ở mọi địa điểm. Những khu di tích, nơi du lịch tập trung đông người là mảnh đất màu mỡ cho bọn trộm cắp cờ bạc, hành nghề mê tín dị đoan hòng lừa bịp khách. Do vậy, đơn vị và những người làm công tác đón tiếp, tuyên truyền phải nắm vững an ninh địa bàn, cảnh giác phát hiện các thủ đoạn lừa bịp khách đến tham quan; chủ động phối hợp với các lực lượng bảo đảm an ninh ở địa phương để xử lý các trường hợp vi phạm.

+ Phương pháp bồi dưỡng là kết hợp chặt chẽ giữa đơn vị tổ chức và từng cán bộ, công nhân viên, chiến sĩ tự giác nghiên cứu, học tập, tích luỹ kinh nghiệm trong quá trình công tác.

Đơn vị phải có kế hoạch tổ chức bồi dưỡng chặt chẽ, khoa học. Thực hiện phương châm: Lấy bồi dưỡng tại đơn vị là chính, thông qua thực tiễn, thông qua công việc hàng ngày để tự bồi dưỡng lẫn nhau, cấp trên bồi dưỡng cấp dưới, cán bộ bồi dưỡng nhân viên, chiến sĩ; động viên những người đi trước truyền thụ kinh nghiệm để dìu dắt các thế hệ tiếp theo. Tổ chức mời các chuyên gia, các nhà nghiên cứu về bảo tàng, di tích, các báo cáo viên về tư tưởng Hồ Chí Minh đến giúp đỡ, nói chuyện với cán bộ, công nhân viên, chiến sĩ. Tổ chức tham quan, học tập các di tích lịch sử, văn hoá trong khu vực. Lựa chọn cán bộ, nhân viên, chiến sĩ có phẩm chất, có triển vọng đi đào tạo chuyên ngành, hoặc bổ túc tại các trường về công tác bảo tồn, tôn tạo các hiện vật và đón tiếp, tuyên truyền. Hàng năm tổ chức hội thi về công tác bảo tồn, tôn tạo và đón tiếp, tuyên truyền để động viên khích lệ kịp thời.

Khuyến khích, động viên mỗi cán bộ, công nhân viên, chiến sĩ tích cực, chủ động tự học tập, rèn luyện nâng cao phẩm chất đạo đức, lối sống, nâng cao trình độ nghiệp vụ công tác bảo tồn, tôn tạo, giữ gìn các hiện vật cũng như công tác đón tiếp, tuyên truyền tại Khu di tích. Tích cực giúp đỡ, ủng hộ, tạo điều kiện về thời gian, bố trí lực lượng hợp lý để mọi người có điều kiện được học tập. Quan tâm động viên khen thưởng những bộ phận, cá nhân có kết quả học tập tốt. Đồng thời kiểm tra, nhắc nhở, phê bình những trường hợp bảo thủ, chậm tiến, lười học tập, rèn luyện.

– Quan tâm đầu tư cơ sở vật chất, phương tiện phục vụ nhiệm vụ bảo tồn, tôn tạo các hiện vật và tổ chức đón tiếp, tuyên truyền tại Khu di tích

Nhiệm vụ bảo tồn, tôn tạo, sưu tầm các hiện vật gốc tại Khu di tích qua nửa thế kỷ rất công phu, tỷ mỷ, trong điều kiện môi trường gặp nhiều khó khăn, phức tạp và công tác đón tiếp, tuyên truyền phải thường xuyên cải tiến, đổi mới nên cần có sự quan đầu tư về cơ sở vật chất và ứng dụng khoa học kỹ thuật trong quá trình thực hiện nhiệm vụ.

Trước hết, đơn vị cần quan tâm đầu tư về cơ sở hạ tầng phục vụ đón tiếp nhân dân. Hiện nay hệ thống đường giao thông, đường đi lại trong Khu di tích, khu nhà chờ, bãi đỗ xe, nơi nhân dân nghỉ khi mưa nắng đã tương đối đầy đủ. Tuy nhiên cần quan tâm đầu tư về các trang thiết bị: Bản đồ, sơ đồ; biển báo chỉ dẫn đường đi để mọi người đi tham quan được thuận lợi.

Để phục vụ quá trình giới thiệu các hiện vật, cần gắn các biển tên đồ vật, cây trồng cho thống nhất. Những đồ vật mới bổ sung, hoặc mới tu sửa, tôn tạo như: Bàn thờ Bác, cầu thang sắt, thềm lên hiên ngôi nhà 2 tầng, máy điều hoà ở phòng Bác nghỉ… cần chú thích rõ thời gian, nguồn gốc để dễ phân biệt với hiện vật gốc.

Do yêu cầu công tác giữ gìn, bảo quản các hiện vật, nên đầu tư các phương tiện, hoá chất nhằm bảo quản, giữ gìn các hiện vật làm bằng vật liệu: gỗ, sắt, thủy tinh, sứ, vải, len dạ… chống xuống cấp.

Vườn cây Bác trồng, các vị khách quốc tế (Bà Đặng Dĩnh Siêu, Anh hùng vũ trụ G.M Ti-tốp trồng) và các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước đã trồng cần đầu tư chăm sóc để phát triển xanh tốt.

Đồng thời, từng bước nghiên cứu, đầu tư về các trang thiết bị, ứng dụng công nghệ hiện đại phục vụ công tác tuyên truyền. Ở những nơi chủ yếu như: Bãi đỗ xe, nhà chờ có hệ thống loa để hướng dẫn khách tham quan và cùng với các khu vực nhà 2 tầng, nhà kính bố trí hệ thống camera quan sát các hoạt động của nhân dân, vừa phục vụ công tác đón tiếp, tuyên truyền, vừa đảm bảo an ninh khu vực.

2. Tiếp tục sưu tầm, bổ sung, hoàn thiện hồ sơ khoa học về Khu di tích để có cơ sở bảo tồn, tôn tạo và tổ chức tốt các hoạt động tuyên truyền, giáo dục

Khu di tích Đá Chông là nơi đã diễn ra nhiều sự kiện lịch sử, có ý nghĩa quan trọng đối với dân tộc, quốc tế và sự nghiệp giữ gìn lâu dài và bảo vệ tuyệt đối an toàn thi hài Bác. Do vậy phải lập hồ sơ khoa học để phục vụ công tác nghiên cứu, sưu tầm, tìm hiểu cũng như bảo quản Khu di tích lâu dài.

– Trước hết phải sưu tầm, tập hợp các tài liệu có liên quan tới di tích

Đây là việc làm lâu dài, thường xuyên, song giai đoạn đầu cần sưu tầm tất cả các tài liệu gắn với quá trình hình thành và phát triển của Khu di tích qua các thời kỳ trước năm 1945, từ năm 1945-1957, từ năm 1957-1969, từ năm 1969-1975 và từ năm 1975-2007. Mỗi thời kỳ phải làm rõ được tập thể, cá nhân, cơ quan, đơn vị quản lý; những sự kiện nổi bật diễn ra trong từng thời kỳ và ý nghĩa lịch sử, văn hoá; mối quan hệ với địa phương như thế nào?

Những tư liệu, tài liệu về các thời kỳ của Khu di tích hiện nay lưu giữ chủ yếu ở Bảo tàng Hồ Chí Minh và một số cơ quan lưu trữ của Trung ương, Hà Tây và quân đội. Giai đoạn sau 1975 đã có một số phương tiện thông tin đại chúng: Thông tấn xã Việt Nam, Báo Quân đội, Báo Tiền phong, Đài Truyền hình Hà Nội, Hà Tây… đưa tin, bài về các hoạt động tại Khu di tích. Những tư liệu, tài liệu này cần được sưu tầm, tập hợp, thống kê khoa học, giữ gìn cẩn thận để phục vụ công tác nghiên cứu, tra cứu cũng như tiếp tục sưu tầm bổ sung sau này.

Tên của khu di tích cũng cần được thống nhất, bởi vì qua các thời kỳ tên gọi của khu di tích có sự khác nhau. Thời kỳ Pháp thuộc (trước năm 1945) là đồn điền Satupô; trong kháng chiến chống Pháp (1946-1954) là khu căn cứ kháng chiến “Ba Vì” của tỉnh Sơn Tây; thời gian xây dựng (1959-1960) được mang mật danh công trường V; thời kỳ Bác và Trung ương làm việc ở đây (1960-1969) được gọi là “Khu căn cứ K9”; từ những năm giữ gìn thi hài Bác (1969) đến nay mang mật danh K84. Do vậy, cần thống nhất tên đầy đủ là “Khu di tích lịch sử Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Đá Chông, Ba Vì, Hà Tây”; có thể gọi tắt là “Khu di tích Đá Chông”.

Trong lý lịch di tích cần xác định rõ điểm phân bố của Khu di tích, xác định rõ những lần Bác Hồ đến Đá Chông và những sự kiện diễn ra tại đây.

Ngoài ra cần làm rõ nội dung lịch sử, loại di tích, khảo tả di tích, các hiện vật trong di tích, giá trị lịch sử, tình trạng bảo quản, phương án bảo vệ, sử dụng di tích.

– Chụp ảnh các hiện vật, nhân chứng và ghi chép lời kể của nhân chứng từng thời kỳ

Do yêu cầu công tác bảo đảm bí mật nên việc ghi chép, lưu giữ các tài liệu liên quan đến các sự kiện, hiện vật tại Khu di tích rất hạn chế. Hiện nay, những hồi ức, kỷ niệm của các thế hệ cán bộ, chiến sĩ trực tiếp gắn bó với Khu di tích có ý nghĩa, giá trị thực tiễn. Do vậy phải thống kê, lập danh sách các nhân chứng qua 2 thời kỳ Bác Hồ, Trung ương làm việc tại Đá Chông (1957-1969) và thời kỳ giữ gìn thi hài Bác trong những năm chiến tranh (1969-1975) để tiến hành chụp ảnh nhân chứng; ghi lời kể của nhân chứng và xin chữ ký, dấu xác nhận của chính quyền địa phương hoặc thủ trưởng cơ quan, đơn vị.

Kết hợp với ghi chép lời kể nhân chứng cần tiến hành ghi âm giọng nói nhân chứng để sau này so sánh chứng thực nội dung kể chuyện của nhân chứng. Do thời gian lâu, tuổi tác, trí nhớ, sức khỏe của nhân chứng bị giảm sút… nên đơn vị phải tổ chức tọa đàm, hội thảo để giám định lời kể của nhân chứng, tạo sự thống nhất về mỗi sự kiện, hiện vật tại Khu di tích Đá Chông.
Những nội dung cần Hội thảo thống nhất một số sự kiện, hiện vật gắn với các thời kỳ. Cụ thể thời kỳ 1957-1969 cần làm rõ: thời điểm đầu tiên Bác Hồ đến với Đá Chông và sau đó Bác đến mấy lần, thời gian, nội dung từng lần và có những ai đi cùng với Bác; xác định rõ các hiện vật ngôi nhà 2 tầng, nhà kính, nhà bếp; các hiện vật như bàn ghế, giường tủ… nguồn gốc, xuất xứ, lý lịch những hiện vật đó.

Thời kỳ 1969-1975 Hội thảo các nhân chứng làm rõ về quá trình xây dựng các công trình phục vụ nhiệm vụ y tế, bảo vệ, thời gian từng lần đón đưa, đón thi hài Bác, thời gian thi hài Bác ở đó diễn ra những sự kiện quan trọng nào, các đồng chí Trung ương Đảng, Trung ương Cục miền Nam lên viếng Bác mấy lần, có những ai…

– Vẽ ghi di tích theo đúng hiện trạng và lập bản đồ khoanh vùng bảo vệ di tích

Những hiện vật của Khu di tích Đá Chông cơ bản được giữ gìn rất tốt. Song một số hiện vật: Nhà 2 tầng nơi Bác họp, tiếp khách và nghỉ ngơi; nhà kính nơi giữ gìn thi hài Bác trong những năm chiến tranh; nhà phục vụ đều không giữ được bản thiết kế ban đầu, theo thực tế đã quét vôi, ve lại các ngôi nhà và tu sửa một số nội dung. Do vậy cần tiến hành vẽ ghi những hiện vật chủ yếu như: Tổng thể Khu di tích, ngôi nhà sàn, nhà kính, nhà bếp bảo đảm đúng thực tế, tỷ mỷ, khoa học, theo yêu cầu của vẽ ghi di tích. Đó là những tài liệu, các bản vẽ để làm tài liệu căn cứ sau này tu sửa, phục chế khi có tình huống xảy ra. Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng có các lực lượng kiến trúc, xây dựng, nếu phát huy được thì sẽ rất thuận lợi trong quá trình tu sửa, bảo quản, sửa chữa sau này.

Theo quy định của Pháp lệnh bảo vệ di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh của Chủ tịch nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam số 14/LCT/HĐNN7 ban hành ngày 4 tháng 4 năm 1984; Nghị định 288/HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) ngày 31 tháng 12 năm 1985 và Thông tư hướng dẫn thi hành của Bộ Văn hóa – Thông tin số 206/VHTT ngày 22 tháng 7 năm 1986 thì mỗi di tích lịch sử – văn hóa nên có từ 2 đến 3 khu vực bảo vệ: Khu vực I là khu vực bất khả xâm phạm, giữ nguyên yếu tố gốc; Khu vực II là khu vực bao quanh trực tiếp và Khu vực III là khung cảnh thiên nhiên của di tích.

Như vậy, đề nghị đơn vị báo cáo với Bộ Quốc phòng và trao đổi với huyện Ba Vì, với tỉnh Hà Tây về lập biên bản khoanh vùng bảo vệ di tích Đá Chông. Với hiện trạng toàn bộ khu vực Đá Chông đơn vị đang quản lý, nên phân chia thành 3 khu vực, bao gồm: Khu vực I (Di tích Đá Chông) có phạm vi không gian như sau: Bắc đến đường lên, đầu nhà kính số 2, Nam là ngoài vị trí thắp hương tại 3 hòn Đá Chông, Đông là đến đường dạo ven hồ Khu B, Tây là theo đường dạo mới làm quanh di tích, có 3 công trình trọng tâm: Nhà 2 tầng Bác Hồ ở, nhà kính giữ gìn thi hài Bác và nhà phục vụ số 1.

Khu vực II: Là diện tích xung quanh Khu di tích, có phạm vi không gian như sau: Bắc đến hết sân bay, sân quần vợt, phía Nam giáp hàng rào bảo vệ dọc sông Đà, phía Tây…, phía Đông giáp khu vực tăng gia tập trung của đơn vị; trọng tâm của khu vực này có các công trình: Nhà 2 tầng trước đây các đồng chí Trung ương nghỉ; sân bay trực thăng; công trình huấn luyện, phòng chống cháy rừng.

Khu vực III: Là toàn bộ diện tích còn lại 234ha do đơn vị đang quản lý.

– Lập sổ thống kê hiện vật và kiểm kê các hiện vật có trong di tích

+ Giữ nguyên các yếu tố gốc là yêu cầu đầu tiên trong công tác bảo tồn, tôn tạo di tích. Từ thực trạng hiện nay, các nhân chứng sẽ có cơ sở để suy nghĩ, hồi tưởng lại những thay đổi so với thời gian trước, đề xuất giải pháp bảo tồn, phục chế các hiện vật gốc. Do vậy đơn vị cần quan tâm xây dựng kế hoạch bảo quản, tôn tạo Khu di tích. Trong kế hoạch cần xác định rõ những hiện vật nào cần giữ nguyên, hiện vật nào cần tôn tạo, hiện vật nào cần phục chế để có giải pháp tổng thể.

Giữ nguyên toàn bộ môi trường, cảnh quan vốn có của Khu di tích như: sân, vườn, cây trồng, hàng rào.

Giữ lại toàn bộ đồ dùng hiện có trong từng căn phòng, từng ngôi nhà của Khu di tích. Giữ nguyên vị trí của từng đồ dùng có trong các phòng, các nhà
di tích.

Tiến hành quay phim, chụp ảnh toàn cảnh, từng hiện vật trong từng ngôi nhà, từng căn buồng, nhằm lưu giữ các hiện vật, bố trí các hiện vật, khi tu sửa ngôi nhà, hoặc bàn giao các thế hệ, người trông coi có tài liệu để làm căn cứ.

Đầu tư cơ sở vật chất, phương tiện, công nghệ để giữ nguyên hiện trạng các hiện vật. Hiện nay những hiện vật tại Khu di tích rất đa dạng: Gỗ, sắt, sứ, hiện vật đơn chiếc, đa chiếc, máy móc, phương tiện vận tải… cần đầu tư công nghệ bảo quản đồ gỗ, chống mối mọt, sơn chống gỉ, điều hòa bảo đảm không khí, môi trường vệ sinh xung quanh…

Lập sổ thống kê hiện vật và ghi số kiểm kê tạm thời các hiện vật đang lưu giữ tại Khu di tích theo số liệu kiểm kê thường xuyên.

Tổ chức ghi chép chặt chẽ, khoa học, chính xác, đúng các nội dung về hiện vật theo quy định; tiến hành lập phiếu ghi chép hiện vật theo mẫu của Bộ Văn hoá – Thông tin.

Đơn vị phối hợp mời chuyên gia về: khảo cổ, di tích, bảo tàng tổ chức kiểm tra, đánh giá thực trạng các hiện vật tại Khu di tích.

Có kế hoạch sưu tầm nguồn gốc, xuất xứ các hiện vật có giá trị tại Khu di tích như: Nhà 2 tầng, nhà kính, bàn ghế, giường tủ Bác Hồ dùng và tiếp khách.

Ghi sổ kiểm kê bước đầu theo mẫu.

Ghi ký hiệu kiểm kê cho hiện vật.

Trên cơ sở thống kê, phân loại, mời chuyên gia về hiện vật xác định, thẩm định thực trạng hiện vật thành các nhóm để quản lý:

+ Hiện vật nguyên gốc, đủ số lượng, bảo đảm chất lượng;

+ Hiện vật đã tu sửa, hoặc hư hỏng, xuống cấp để có kế hoạch tôn tạo, phục chế theo bản gốc;

+ Hiện vật còn thiếu tiến hành sưu tầm, bổ sung đầy đủ.

Theo thống kê, hiện nay đơn vị đang quản lý 176 hiện vật. Đề nghị nghiên cứu lập hồ sơ khoa học 100 hiện vật. Tập trung vào các khu vực như:

+ Hiện vật gắn với thời kỳ Bác Hồ và Trung ương làm việc tại đây: Nhà 2 tầng, đồ dùng trong ngôi nhà, hầm trú ẩn, hòn non bộ, đường “Rèn luyện sức khoẻ”;

+ Cây trồng trong vườn: Đặc biệt là những cây quý được Bác và các vị khách trồng từ trước; cây vải trước ngôi nhà 2 tầng Bác đã nghỉ trưa dưới gốc cây; nơi 3 mỏm Đá Chông Bác đã nghỉ và ăn cơm trưa.

+ Hiện vật sau này phục vụ nhiệm vụ giữ gìn thi hài Bác: Những chiếc xe làm nhiệm vụ di chuyển thi hài Bác, phòng để thi hài Bác tại Đá Chông; hòm kính và các dụng cụ y tế phục vụ nhiệm vụ này.

– Tổ chức bố trí, trưng bày các hiện vật bảo đảm khoa học, thuận lợi cho công tác đón tiếp, tuyên truyền.

Hiện vật hiện nay ở Khu di tích chủ yếu được giữ nguyên như hiện trạng ban đầu, đều là những hiện vật gốc, có giá trị thực tiễn rất lớn trong công tác nghiên cứu, tìm hiểu. Có các hiện vật gắn liền với lúc Bác sống, lúc giữ gìn thi hài Bác và sau này các tổ chức, cá nhân trao tặng. Cần tiến hành những công việc sau:

+ Bố trí sắp xếp hiện vật ở: Nhà 2 tầng gồm những hiện vật sinh thời Bác Hồ đã sử dụng: Giường tủ, bàn ghế… Những cây trồng giữ nguyên vị trí như ban đầu.

Công việc bố trí sắp xếp các hiện vật tại nhà bếp cần phối hợp với Bảo tàng Hồ Chí Minh để bảo đảm tính khoa học, thẩm mỹ, dễ bảo quản, giới thiệu tuyên truyền.

Những hiện vật, cây trồng sau này bổ sung, tôn tạo, trồng mới ghi biển chú thích nói rõ xuất xứ để khách tham quan dễ nhìn, dễ thấy.

+ Trưng bày những hiện vật mà trước đây đã dùng phục vụ Bác nghỉ, tiếp khách, các tập thể, cá nhân trao tặng Bác; những hiện vật phục vụ quá trình giữ gìn thi hài Bác: 3 chiếc xe ô tô, các dụng cụ y tế; hoặc những hiện vật các tập thể, cá nhân trao tặng đơn vị phục vụ nhiệm vụ giữ gìn Khu di tích tổ chức trưng bày tại ngôi nhà phục vụ số 1 để khách tham quan, theo dõi được thuận lợi.

– Tiến hành bảo quản thường xuyên các hiện vật.

Hiện vật, cây trồng tại Khu di tích rất đa dạng, đơn vị cần phân loại các dạng hiện vật để có chế độ bảo quản thường xuyên hợp lý.

+ Đối với toàn bộ Khu di tích, hàng ngày đều phải tiến hành quét dọn trong nhà, cầu thang, ngoài sân, đường dạo cho sạch sẽ. Hàng tuần tiến hành tổng vệ sinh toàn bộ khu vực.

+ Những hiện vật trong khu vực nhà 2 tầng, nhà trưng bày, nhà xe, nhà kính hàng tuần lau chùi, vệ sinh sạch sẽ.

Việc bảo quản các hiện vật nên giao cho người chuyên trách. Nhân viên bảo quản cũng cần được trang bị kiến thức bảo quản cần thiết để có thể sử dụng đúng phương tiện (từng chổi, giẻ lau, bàn chải cứng hay mềm…) hoặc hoá chất, đơn giản phục vụ cho việc bảo quản hàng ngày.

+ Những hiện vật thuộc thiết bị kỹ thuật, ô tô có chế độ vận hành định kỳ và bảo dưỡng hợp lý.

+ Cây trồng trong vườn có chế độ chăm sóc: tưới nước, bón phân, diệt trừ sâu bọ thường xuyên.

+ Hàng năm, tổ chức kiểm tra, đánh giá công tác bảo quản, tôn tạo hiện vật và hiệu quả công tác đón tiếp, tuyên truyền tại Khu di tích.

Ghi nhật ký di tích hằng ngày để tiện theo dõi hoạt động, tổng hợp số lượng đoàn, số lượng khách và những nội dung công việc quan trọng. Phân công cán bộ (nhân viên) ghi nhật ký hàng ngày. Ghi tóm tắt công việc diễn ra trong ngày tại di tích. Ghi cụ thể các đoàn, thuộc cơ quan, đơn vị, địa phương nào, số lượng người, phương tiện đến, nội dung, chương trình hoạt động tại Khu di tích. Những Đoàn lãnh đạo Đảng, Nhà nước cần ghi cụ thể, chi tiết tên người đứng đầu, tổng số người trong đoàn, nội dung hoạt động, thời gian đoàn ở lại Khu di tích và cán bộ của đơn vị đón dẫn đoàn.

Chú ý ghi chi tiết những công việc đột xuất xảy ra, hoặc việc di chuyển hiện vật hay tu sửa, thay thế vật liệu xây dựng trong ngôi nhà di tích. Nhật ký đóng thành quyển, ngoài bìa ghi tên di tích và thời gian bắt đầu ghi đến kết thúc.

– Nghiên cứu, đề xuất giải pháp tôn tạo cảnh quan, môi trường Khu di tích và các khu vực xung quanh, vừa bảo đảm nguyên trạng vừa có bước phát triển

Trên cơ sở quy hoạch tổng thể toàn bộ khu vực Đá Chông của đơn vị, để có giải pháp tu sửa, tôn tạo các khu vực cho phù hợp.

+ Quy hoạch Khu vực I (Khu di tích), với yêu cầu mọi yếu tố gốc còn lại trong di tích phải được bảo vệ nguyên trạng như hiện nay. Nghiêm cấm mọi sự di chuyển địa điểm thay đổi, bổ sung. Đề nghị trưng bày các hiện vật tại nhà phục vụ số 1. Trong khu vực này nên bố trí thêm ghế đá để phục vụ khách vừa tham quan, vừa nghỉ ngơi được thuận tiện; đồng thời quy hoạch các khu vực trồng, chăm sóc cây do lãnh đạo Đảng, Nhà nước trồng, tạo cảnh quan môi trường đẹp.

+ Quy hoạch Khu vực II, là khu vực điều chỉnh xây dựng để bảo vệ không làm ảnh hưởng đến giá trị, vẻ đẹp của di tích. Trong Khu vực II xây dựng các công trình phục vụ huấn luyện, rèn luyện bộ đội và phòng chống cháy rừng. Yêu cầu các công trình phải đảm bảo phù hợp với không gian tổng thể, nhằm mục đích tôn tạo khu vực di tích.

+ Quy hoạch Khu vực III, các khu vực khác trong phạm vi đơn vị quản lý cần xây dựng, bố trí hệ thống giao thông, điện, điện thoại tạo điều kiện thuận lợi cho khách tham quan. Đồng thời quy hoạch xây dựng các khu đồi cây, vườn cây, khu tăng gia sản xuất, chăn nuôi, hồ cá phù hợp để tôn vẻ đẹp và đảm bảo môi trường cho Khu di tích.

+ Hàng năm, Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng phối hợp với các cơ quan, đơn vị, địa phương tổ chức phát động “Tết trồng cây đời đời nhớ ơn Bác”, tạo nên phong trào trồng cây, chăm sóc cây và bảo vệ rừng tại Khu di tích.

3. Thường xuyên cải tiến, đối mới công tác đón tiếp, tuyên truyền nhằm phát huy tác dụng Khu di tích.

– Xây dựng quy chế đón tiếp khách, quy định bảo vệ Khu di tích, làm cơ sở cho việc triển khai thực hiện chặt chẽ, thống nhất.

Hiện nay, quy định tổ chức đón tiếp các đoàn đến tưởng niệm Bác và tham quan Khu di tích đã quy định rõ: Các đoàn muốn đến Khu di tích phải đăng ký trước. Trong đó, cơ quan Văn phòng tiếp nhận, đăng ký các đoàn của địa phương, các bộ, ban, ngành; Đoàn 285 tiếp nhận các đoàn của huyện Ba Vì, thị xã Sơn Tây và lãnh đạo tỉnh Hà Tây giới thiệu. Trường hợp có đoàn do không nắm vững quy định mà đã đến Khu di tích thì Chỉ huy Đoàn 285 nắm cụ thể và giải quyết. Về cơ bản, quy trình tiếp nhận các đoàn đã từng bước đi vào nền nếp.

Tuy nhiên, để tạo điều kiện thuận lợi cho công việc đăng ký của các đoàn, đề nghị tuyên truyền, phổ biến rộng rãi nội dung quy chế, quy định trong đơn vị, nhân dân địa phương để triển khai thực hiện.

Trong quy chế cần quy định cụ thể thời gian, phạm vi, đối tượng được đến tham quan Khu di tích. Quy định nội dung tưởng niệm Bác, sinh hoạt chính trị, trồng cây, đóng góp giúp đỡ vật chất, tinh thần cho Khu di tích.

Riêng với quy chế bảo vệ khu vực xây dựng chưa đầy đủ, cần bổ sung, hoàn chỉnh để triển khai thực hiện thống nhất. Trong quy định bảo vệ khu vực cần quy định rõ chế độ khen thưởng, xử phạt các trường hợp vi phạm công tác bảo đảm an toàn cho Khu di tích.

+ Phối hợp các lực lượng, các phương tiện tuyên truyền rộng rãi quy chế, quy định, trước mắt là đối với các đoàn đến tham quan tại Khu di tích.

Làm tốt công tác giáo dục nhân dân địa phương thấy rõ trách nhiệm bảo vệ tuyệt đối an toàn Khu di tích là trách nhiệm của địa phương, là góp phần bảo đảm trật tự an ninh xã hội của địa phương.

Phối hợp với các lực lượng trong, ngoài đơn vị, cấp ủy, chính quyền địa phương và nhân dân tuyên truyền về quy chế bảo vệ, tham quan Khu di tích. Có kế hoạch thông qua các tổ chức Đảng, đoàn thể, trường học ở địa phương để phối hợp tuyên truyền, phổ biến rộng rãi các quy định bảo vệ Khu di tích.

– Tổ chức đón tiếp chặt chẽ, khoa học các đoàn đến thăm Khu di tích

+ Tổ chức đón tiếp

Khu di tích Đá Chông cách Hà Nội khoảng 70km, đường giao thông đi lại chưa thật thuận lợi. Do vậy cần phối hợp với địa phương tổ chức các biển báo giới thiệu cho khách đến Khu di tích được thuận lợi. Phối hợp các lực lượng của địa phương bảo đảm an ninh, an toàn, thuận lợi cho các đoàn đến tham quan Khu di tích.

Phối hợp các lực lượng: Cơ quan Văn phòng, huyện Ba Vì và thị xã Sơn Tây, tổ chức tiếp nhận, trả lời đề nghị của các đoàn đến tham quan Khu di tích.

Phân công lực lượng đón tiếp, phục vụ các đoàn đến tham quan Khu di tích tận tình, chu đáo.

+ Do yêu cầu nhiệm vụ và phạm vi phục vụ, hiện nay các đoàn lên tham quan và tổ chức các hoạt động tại Khu di tích rất đa dạng. Để thuận lợi cho công tác đón tiếp, tuyên truyền, đề nghị: Các đoàn lãnh đạo Đảng, Nhà nước và các bộ, ban, ngành của Trung ương, lãnh đạo các địa phương do Thủ trưởng Bộ Tư lệnh dẫn và giới thiệu. Một số đoàn thuộc các cơ quan của Đảng, Nhà nước, Chính phủ, Bộ Quốc phòng, được Thủ trưởng Bộ Tư lệnh ủy quyền do thủ trưởng các cơ quan dẫn. Các đoàn còn lại do Thủ trưởng Đoàn 285 mà thường xuyên, trực tiếp là cán bộ, nhân viên làm nhiệm vụ hướng dẫn viên và giới thiệu.

– Chủ động nghiên cứu, xây dựng nội dung tuyên truyền phù hợp về Khu di tích

Khu di tích Đá Chông mới đi vào hoạt động, hiện nay có nhiều lực lượng tham gia tuyên truyền, giới thiệu cho các đoàn: Thủ trưởng Bộ Tư lệnh; cán bộ, nhân viên, chiến sĩ của Đoàn 285 và một số cán bộ của các cơ quan trong Bộ Tư lệnh. Do vậy cần biên soạn nội dung đề cương giới thiệu để bảo đảm tính chính xác, chân thực, thống nhất, đầy đủ, toàn diện.

Đề cương tuyên truyền, giới thiệu nên kết hợp giữa ngôn ngữ nói với bản đồ, sa bàn và các hiện vật thực tế trong Khu di tích.

Đề cương tuyên truyền nên bố cục theo quy trình các đoàn đến tưởng niệm Bác, tham quan toàn bộ Khu di tích. Nội dung tuyên truyền nên khái quát toàn bộ quá trình hình thành, phát triển của Khu di tích qua các thời kỳ. Khẳng định rõ vị trí chiến lược của Khu di tích mà Bác Hồ và Trung ương đã chọn làm căn cứ; giới thiệu được cơ bản những lần Bác Hồ lên làm việc, tiếp khách tại Khu di tích và thời gian giữ gìn thi hài Bác trong những năm chiến tranh tại đây; giới thiệu làm nổi bật những sự kiện, hiện vật gắn liền với Bác Hồ khi Người còn sống và giữ gìn thi hài sau khi Người qua đời.

Ngoài đề cương tuyên truyền chung, nên mở rộng các nội dung: Như sưu tầm những chuyện kể về sự quan tâm của Bác Hồ và những lần Bác lên thăm Khu di tích; những tình cảm của nhân dân địa phương tham gia xây dựng, bảo vệ, giữ gìn Khu di tích; những câu chuyện vượt khó khăn vất vả của cán bộ, chiến sĩ Đoàn 69 trong những năm tháng chiến tranh; tình cảm của chuyên gia Liên Xô với Việt Nam, với Bác Hồ và với cán bộ, nhân viên y tế Việt Nam.

Tại Khu di tích sẽ diễn ra rất nhiều hoạt động. Do vậy cần xây dựng thêm những nội dung tuyên truyền chuyên đề cho các hoạt động: tham quan; lễ báo công, phát động thi đua; trồng cây lưu niệm.

Xây dựng nội dung tuyên truyền phù hợp với từng đối tượng: Lão thành cách mạng, bộ đội, nhân dân, các cháu học sinh…

Đơn vị đầu tư xây dựng phim tài liệu, ấn phẩm văn hoá giới thiệu, tuyên truyền về các hoạt động của Khu di tích cho khách đến tham quan.

Thông qua trang tin điện tử trên hệ thống Internet của Ban Quản lý Lăng, tổ chức tuyên truyền, giới thiệu cho nhân dân cả nước về ý nghĩa lịch sử – văn hoá của Khu di tích; hướng dẫn các đoàn đến các địa điểm đăng ký tham quan và tổ chức các hoạt động tại Khu di tích Đá Chông. Đồng thời bố trí lực lượng, phương tiện trả lời, giải đáp những ý kiến muốn tìm hiểu về Khu di tích Đá Chông.

– Tích cực cải tiến, đổi mới các nội dung, hình thức đón tiếp, tuyên truyền sinh động, phong phú, phát huy ý nghĩa chính trị, văn hoá tại Khu di tích

Tổ chức đón tiếp, tuyên truyền giới thiệu cho nhân dân nhận thức sâu sắc ý nghĩa chính trị, lịch sử, văn hoá là mục đích, là kết quả của cả quá trình bảo tồn, tôn tạo Khu di tích Đá Chông. Để thực hiện được mục tiêu này đơn vị phải tích cực cải tiến, đổi mới hình thức, phương pháp tuyên truyền sinh động, tạo sự hấp dẫn, cuốn hút nhân dân đến tham quan Khu di tích.

Trước hết, phải cải tiến, đổi mới hình thức tuyên truyền. Kết hợp chặt chẽ giữa tuyên truyền bằng thuyết minh như hiện nay là chủ yếu với tuyên truyền bằng trực quan sinh động. Thông qua những hiện vật, cây trồng, cảnh quan, môi trường của Khu di tích, cán bộ, nhân viên đón tiếp, tuyên truyền giới thiệu cụ thể về ý nghĩa lịch sử, tầm quan trọng chiến lược của Khu di tích mà Bác Hồ đã chọn, tái hiện lại những công việc, sinh hoạt của Bác Hồ, các đồng chí Trung ương Đảng; giới thiệu cho mọi người thấy sự khó khăn, vất vả của cán bộ, chiến sĩ Đoàn 69 cùng chuyên gia y tế Liên Xô trong thực hiện nhiệm vụ giữ gìn tuyệt đối an toàn thi hài Bác ở nơi này.

Tại khu đón tiếp ban đầu (bãi đỗ xe), nên có hệ thống bản đồ, sơ đồ giới thiệu khái quát về toàn cảnh cũng như quá trình hình thành, phát triển của Khu di tích. Ở đây và dọc đường dạo quanh hồ Khu B nên bố trí có hệ thống: pa nô, khẩu hiệu, tranh ảnh giới thiệu về nhiệm vụ, cảnh quan, môi trường của Khu di tích. Trong khu vực nhà 2 tầng nên có bảng ảnh phản ánh những hoạt động sinh hoạt chính trị, văn hoá của các đoàn tại Khu di tích.

Đồng thời phải nắm vững nhu cầu, nguyện vọng của các đoàn đến với Khu di tích để lựa chọn nội dung, hình thức tuyên truyền cho phù hợp.

+ Đối với các đoàn nhân dân đến tưởng niệm Bác và tham quan Khu di tích, tổ chức hướng dẫn, tuyên truyền, giới thiệu theo quy trình. Từ bãi đỗ xe, quanh đường dạo hồ Khu B, lên nhà 2 tầng, dâng hương tưởng niệm Bác, tham quan ngôi nhà, vườn cây, hòn non bộ, khu vực 3 hòn Đá Chông – theo đường dạo đến nơi 3 chiếc xe – nhà trưng bày, nhà kính nơi giữ gìn thi hài Bác – xuống đường dạo quanh hồ, về khu vực ban đầu. Thời gian khoảng 1 giờ đến 1 giờ 30 phút. Riêng đoàn có các cụ già, thương binh, người khuyết tật ưu tiên cho xe của khách đưa, đón tại vọng gác số 2.

Đối với các đoàn là khách của Bộ Tư lệnh tổ chức đón tiếp tại phòng khách thuộc nhà kính số 2 để giới thiệu khái quát về toàn cảnh của Khu di tích và nhiệm vụ đơn vị. Sau đó lên dâng hương, tưởng niệm Bác và thực hiện quy trình tham quan bình thường.

+ Đối với các đoàn đến sinh hoạt chính trị: Tổ chức lễ báo công, trao phần thưởng, kết nạp Đảng, kết nạp Đoàn, kết nạp Đội… phải hiệp đồng trước về nội dung, thời gian tiến hành, số người tham dự. Đơn vị giúp đỡ về âm thanh, chụp ảnh lưu niệm, hướng dẫn về nghi lễ bảo đảm trang trọng và tổ chức tại sân sỏi cuội, trước ngôi nhà 2 tầng. Sau đó dâng hương tưởng niệm Bác và tiến hành quy trình tham quan bình thường.

+ Đối với các đoàn có nhu cầu tham quan chuyên đề; tổ chức giới thiệu thêm về khu vực đặt tổng đài điện thoại; sân bay trực thăng, công trình huấn luyện, phòng chống cháy rừng tại Khu di tích.

+ Đối với các tập thể, cá nhân có nguyện vọng đến trồng cây, đóng góp hiện vật phục vụ công việc sưu tầm hiện vật, bảo quản, giữ gìn và tôn tạo Khu di tích, chỉ huy đơn vị bố trí thời gian đón tiếp, tiếp nhận trang trọng, chu đáo.

Quá trình tổ chức đón tiếp, tuyên truyền, cán bộ, công nhân viên, chiến sĩ phải luôn lắng nghe, giải thích, đáp ứng nguyện vọng của khách nhằm tìm hiểu các sự kiện, hiện vật, cây trồng tại Khu di tích. Đồng thời phải thực sự cầu thị, vui vẻ tiếp thu sự đóng góp xây dựng của mọi người để cải tiến, đổi mới nội dung, hình thức nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác đón tiếp, tuyên truyền tại Khu di tích.

4. Phối hợp với các cấp, các ngành, các lực lượng và địa phương trong công tác bảo tồn, tôn tạo, tuyên truyền, quảng bá và phát huy tác dụng Khu di tích

– Thường xuyên bám sát sự chỉ đạo của các cơ quan Đảng, Nhà nước, Chính phủ và Bộ Quốc phòng về mọi mặt hoạt động của Khu di tích

Trên cơ sở kế hoạch dài hạn và ngắn hạn, hàng năm, đơn vị chủ động đề nghị các cơ quan Trung ương và Quân đội quan tâm đầu tư xây dựng các công trình phục vụ các nhiệm vụ tại Khu di tích.

Mọi công việc tôn tạo, đón tiếp, tuyên truyền, của Khu di tích Đá Chông phải xin ý kiến chỉ đạo, hướng dẫn của các cơ quan Trung ương và Bộ Quốc phòng.

Quá trình tổ chức thực hiện nhiệm vụ, những vấn đề mới phát sinh liên quan đến yêu cầu nhiệm vụ chính trị cần kịp thời báo cáo xin ý kiến chỉ đạo của trên để triển khai thống nhất.

– Phối hợp với cấp ủy, chính quyền, nhân dân địa phương và các cơ quan, đơn vị ở địa bàn trong bảo vệ an ninh phục vụ công tác bảo tồn, tôn tạo và phát huy tác dụng Khu di tích

Cấp ủy, chính quyền và nhân dân trong khu vực luôn xác định việc phối hợp với Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng, với Đoàn 285 trong công tác giữ gìn, bảo vệ tuyệt đối an toàn Khu di tích Đá Chông là tình cảm, là trách nhiệm của địa phương. Do vậy, trên cơ sở Quy chế về phối hợp bảo vệ Khu di tích và Quy định phòng chống cháy rừng đã được ký kết giữa Huyện ủy, ủy ban nhân dân huyện Ba Vì với Thường vụ, Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng, cần tổ chức sơ kết, tổng kết, đánh giá kết quả để có cơ sở bổ sung hoàn thiện cho phù hợp với thực tiễn. Đồng thời nghiên cứu, đề xuất việc xây dựng một số quy định, phương án phối hợp bảo vệ an ninh địa bàn… Có quy định về biểu dương, khen thưởng tập thể cá nhân thực hiện tốt và xử lý kỷ luật những trường hợp vi phạm.

Để nâng cao nhận thức, trách nhiệm về công tác bảo vệ, giữ gìn Khu di tích, cần tổ chức tốt các hoạt động tuyên truyền, giáo dục trong các tầng lớp nhân dân. Thông qua hệ thống tổ chức đảng, chính quyền thôn, xã, huyện, các tổ chức Đoàn Thanh niên, Hội Phụ nữ, Hội Cựu chiến binh, thông qua các trường học đối với các cháu thanh thiếu niên. Đặc biệt là các xã liền kề (Minh Quang, Ba Trại, Thuần Mỹ của huyện Ba Vì, Hà Tây và xã Đồng Luận của huyện Thanh Thủy, Phú Thọ) và các cơ quan, đơn vị đứng chân trong địa bàn.

Trong quá trình triển khai thực hiện các quy chế, quy định về phối hợp, phải coi trọng việc tổ chức xây dựng lực lượng (đơn vị, địa phương và các cơ quan, trường học trong địa bàn), phương án phối hợp, hiệp đồng xử lý các trường hợp vi phạm quy định bảo vệ Khu di tích và vi phạm quy định bảo đảm an ninh – xã hội trong địa bàn, phòng chống cháy rừng. Duy trì nền nếp chế độ giao ban, thông tin, thông báo tình hình khu vực giữa đơn vị, địa phương và các cơ quan trong địa bàn.

Nhân dân đến tưởng niệm Bác và tham quan Khu di tích còn có nhu cầu tìm hiểu phong tục, tập quán, nét văn hoá của địa phương. Do vậy, cần vận động nhân dân và các cơ quan, đơn vị trong địa bàn chủ động tham gia làm tốt công tác tuyên truyền cho nhân dân đến với Khu di tích. Động viên nhân dân địa phương tham gia công tác tuyên truyền từ việc tiếp nhận, giải thích, liên hệ các đoàn đến với Khu di tích. Xây dựng thái độ văn minh, lịch sự phục vụ khách đến với Khu di tích cũng như khách đến với quê hương Ba Vì, Hà Tây giàu truyền thống văn hoá, hiếu khách.

Phối hợp chặt chẽ với các cơ quan Lâm sinh, Lâm trường, Công an, Kiểm lâm trong địa bàn để tích cực bảo vệ, chăm sóc rừng cây, tôn vẻ đẹp và môi trường trong lành cho Khu di tích.

– Phối hợp với các cơ quan, đơn vị, các lực lượng và các cá nhân liên quan trong công tác bảo tồn, tôn tạo, tuyên truyền, quảng bá và phát huy tác dụng Khu di tích

Khu di tích Đá Chông đang trong quá trình hoàn thiện, đơn vị chưa có nhiều kinh nghiệm, do vậy cần phối hợp chặt chẽ với các cơ quan, đơn vị chuyên ngành của Bộ Quốc phòng, Tổng cục Chính trị, Bảo tàng Hồ Chí Minh, Khu di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch, Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Hà Tây để triển khai các nội dung: Xây dựng Hồ sơ khoa học sưu tầm, làm rõ nguồn gốc, xuất xứ các sự kiện, hiện vật, tổ chức trưng bày hiện vật… làm phong phú các hoạt động đón tiếp, tuyên truyền tại Khu di tích.

Để thực hiện tốt nội dung này, cần chủ động liên hệ, trao đổi, gặp gỡ, đề nghị các nhân chứng kể lại, chép lại những hồi ức, kỷ niệm của bản thân, của đơn vị mình đã phục vụ Bác Hồ, phục vụ Trung ương Đảng trong giai đoạn 1957-1969 và tham gia nhiệm vụ giữ gìn thi hài Bác trong những năm chiến tranh từ năm 1969 đến năm 1975.

Định kỳ tổ chức gặp mặt cán bộ, công nhân viên, chiến sĩ trực tiếp gắn bó với Khu di tích để ôn lại truyền thống, cung cấp thêm tư liệu và trao đổi các biện pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác bảo tồn, tôn tạo, đón tiếp, tuyên truyền tại Khu di tích.

Với vị trí quan trọng và ý nghĩa đặc biệt của Khu di tích, sẽ có nhiều tập thể, cá nhân có nguyện vọng đóng góp vật chất, tinh thần (trao tặng hiện vật, tặng giống cây quý, góp ý kiến…) phục vụ công việc bảo tồn, tôn tạo các hiện vật tại Khu di tích, cũng như các hoạt động giáo dục, tuyên truyền, phát huy tác dụng Khu di tích. Do vậy, đơn vị cần có kế hoạch tổ chức tiếp nhận sự đóng góp thật trang trọng, ý nghĩa.

Thường xuyên phối hợp chặt chẽ với các cơ quan thông tấn, báo chí ở Trung ương và địa phương trong việc tuyên truyền, quảng bá về Khu di tích và các hoạt động diễn ra tại Khu di tích.

Tổ chức tuyên truyền sâu rộng cho cán bộ và nhân dân cả nước, trọng tâm là các cơ quan, đơn vị, trường học trong địa bàn nắm vững những quy định đến tham quan và tổ chức các hoạt động tại Khu di tích. Thông tin đầy đủ, kịp thời, cụ thể những nội dung được làm và những nội dung không được làm tại Khu di tích. Có biện pháp ngăn chặn kịp thời việc lợi dụng tổ chức tham quan để tiến hành các hoạt động mê tín, dị đoan trong Khu di tích. Quá trình tuyên truyền, thông tin rộng rãi, thuận lợi, tránh phiền hà cho nhân dân trong việc liên hệ và tổ chức tham quan Khu di tích.

bqllang.gov.vn

Khu di tích lịch sử Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Đá Chông – Phần kết luận

Kết luận

oOo

1. Khu di tích lịch sử Đá Chông đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh lựa chọn làm căn cứ của Người và Trung ương. Trong những năm 1957-1969, Bác Hồ và các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước đã nhiều lần lên thăm, làm việc họp bàn, quyết định những vấn đề hệ trọng của đất nước và tiếp khách quý. Sau này Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương đã chọn làm nơi giữ gìn thi hài Bác trong những năm chiến tranh. Cán bộ, chiến sĩ Đoàn 69 (đơn vị tiền thân của Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh) đã kề vai, sát cánh cùng với chuyên gia y tế Liên Xô vượt qua mọi khó khăn thử thách, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ thiêng liêng, tạo tiền đề cơ bản cho sự nghiệp giữ gìn lâu dài và bảo vệ tuyệt đối an toàn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh.

2. Trong những năm qua, được sự giúp đỡ của các ngành, các cấp ở Trung ương và quân đội; các cơ quan, đơn vị chuyên ngành; trực tiếp là Đảng bộ, chính quyền và nhân dân địa phương, đơn vị đã giữ gìn, bảo vệ tuyệt đối an toàn Khu di tích, từng bước mở rộng đón tiếp, tuyên truyền, phục vụ chu đáo các đoàn khách trong nước đến tưởng niệm Bác và tham quan Khu di tích; đầu tư xây dựng các công trình phục vụ các nhiệm vụ của đơn vị và góp phần bảo vệ, tôn tạo cảnh quan, môi trường Khu di tích.

Trên cơ sở đánh giá khách quan, khoa học, có thể khẳng định: Khu di tích Đá Chông có giá trị lịch sử, văn hoá đặc biệt; góp phần tuyên truyền, giáo dục, nghiên cứu, tìm hiểu về tư tưởng, cuộc đời, thân thế, sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh; tìm hiểu về sự nghiệp giữ gìn lâu dài và bảo vệ tuyệt đối an toàn thi hài Bác.

3. Từ đánh giá thực trạng công tác giữ gìn, bảo quản hiện vật và hoạt động đón tiếp, tuyên truyền tại Khu di tích; để dự báo được triển vọng của Khu di tích trong những năm sắp tới. Đồng thời cũng đề ra những yêu cầu và giải pháp nhằm bảo tồn, tôn tạo, phát huy tác dụng Khu di tích. Những giải pháp được đề xuất trong là những nội dung cơ bản, mang tính định hướng cho lãnh đạo, chỉ huy trong việc quản lý, tổ chức các hoạt động của đơn vị và Khu di tích.

4. Hoạt động của Khu di tích phải gắn liền với yêu cầu nhiệm vụ chính trị của đơn vị. Di tích lịch sử phải được bảo vệ, giữ gìn nguyên hiện trạng ban đầu. Những khu vực lân cận được sử dụng phục vụ yêu cầu nhiệm vụ chính trị của đơn vị phải được bố trí hài hòa, tuyệt đối không được phá vỡ cảnh quan, môi trường Khu di tích.

5. Cuốn sách ra đời được sự giúp đỡ tận tình của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, cán bộ, công nhân viên, chiến sĩ qua các thời kỳ đã có vinh dự được làm nhiệm vụ tại Khu di tích Đá Chông và đặc biệt là bộ phận lưu trữ hồ sơ, tài liệu của Bảo tàng Hồ Chí Minh; Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Hà Tây. Sự cung cấp tư liệu, hồ sơ của các tập thể, cá nhân là cơ sở khách quan, khoa học để công trình “Khu di tích lịch sử Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Đá Chông” hoàn chỉnh và xuất bản.

Tuy vậy, trong tình hình thực tiễn, với những khó khăn khách quan, chủ quan, cuốn sách chưa đáp ứng được đầy đủ những vấn đề đặt ra của lãnh đạo, chỉ huy và nguyện vọng của cán bộ, công nhân viên, chiến sĩ trong đơn vị. Hy vọng ở những công trình nghiên cứu sau này sẽ có đầy đủ những tư liệu, số liệu về Khu di tích lịch sử đặc biệt – K9 – K84 – Đá Chông.

bqllang.gov.vn

Tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh và Quảng trường mang tên Người tại Matxcơva.

Tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh là một trong những bức tượng đồng có tầm cỡ ở Matxcơva. Cuối năm 1969, sau khi Người tạ thế, khu Công viên Akademichexki rộng hơn một hec-ta được đặt hòn đá đầu tiên chuẩn bị cho việc dựng tượng.

Đây là một vị trí rất đẹp của Thành phố. Công viên là điểm cắt của hai con đường lớn, đường Đmitria Ulianôpva và đường 60 năm Tháng Mười, xung quanh là những ngôi nhà cổ và nhà bằng gạch cao từ tám đến mười tầng, không che mất tầm nhìn. Lúc này, Nhà hàng Hà Nội đang tồn tại, án ngữ phía Tây như là một biểu tượng của văn hóa ẩm thực Việt Nam… Chín năm sau, tượng Bác bằng đồng cao 5 mét được đặt trên bệ cũng bằng đồng khối có chiều dài 6 mét, dày nửa mét; diện tích khuôn viên là 676m2, có ba chiếu nghỉ và 8 bậc thang rộng được khánh thành. Hàng chữ “Không có gì quý hơn Độc lập, Tự do” bằng tiếng Nga, khắc sâu vào mặt trước của tượng đài, cách vài ba trăm mét vẫn có thể đọc được. Trước nhà số 1/24 và số 2/22 của hai phố Đmitria Ulianôpva và phố Công đoàn đều có hai tấm bảng bằng đá khổ 1m x 1m20 ghi rõ “Quảng trường Hồ Chí Minh” và tóm tắt thân thế và sự nghiệp của Người.

Quảng trường, khu tượng Bác là nơi nghỉ ngơi, giải trí của khu dân cư, lao động khu vực Viện Hàn lâm. Những hàng ghế gỗ màu xanh kê dọc các lối đi, không lúc nào vắng bóng các cụ già dừng chân, những đôi gái trai ngồi tâm sự. Những ngày đẹp trời, các em bé rải vụn bánh mì cho hàng đàn bồ câu và chim sẻ.

Vì chỉ nằm cách lối vào Metrô Viện Hàn lâm chưa đầy 100 mét, nên ngày ngày trước tượng Bác lúc nào cũng cuồn cuộn dòng người qua lại. Vào những ngày thứ Bảy, Chủ Nhật, ngày lễ, hàng chục thanh niên Nga lại tụ tập trước tượng Bác chơi đến tận khuya.

Đã thành một truyền thống, các Đoàn đại biểu cấp cao từ trong nước sang thăm hữu nghị chính thức nước bạn đều đến thành kính đặt hoa trước tượng đài Hồ Chủ tịch và cũng thành thông lệ hàng năm, vào ngày 19-5 và ngày 2-9, đúng mười giờ sáng, cán bộ Đại Sứ quán, đại biểu Cộng đồng người Việt làm ăn và sinh sống ở Matxcơva và những người bạn Nga lại xếp hàng làm lễ dâng hoa trước tượng Người. Những người Nga sống quanh khu vực vừa ngạc nhiên, vừa trân trọng tình cảm thành kính của người Việt Nam và cả bạn bè Nga yêu mến Việt nam đối với lãnh tụ Hồ Chí Minh.

Chủ tịch QH Nguyễn Phú Trọng và Đoàn Đại biểu Quốc hội Việt nam tại Tượng đài Hồ Chủ tịch tháng 4 năm 2009

Hầu như trong chương trình những đám cưới của người Việt, bao giờ các đôi trai gái cũng mang hoa đến đặt trước tượng Bác và Đài Liệt sĩ vô danh tại điện Kremli như là một nghĩa cử và một nếp sống văn hóa. Những điều này, hầu như một người Việt nào ở Nga cũng biết….

40 năm kể từ khi Tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh và Quảng trường mang tên Người được khởi công, giờ đây sự hiện hữu của công trình tưởng niệm Người lớn nhất và sớm nhất ở nước ngoài này đã trở thành một biểu tượng của tình hữu nghị giữa hai dân tộc, hai đất nước, niềm tự hào của mỗi người Việt nam, đặc biệt đối với những ai đã từng học tập làm việc, công tác tại Liên xô trước đây nói chung và Thủ đô Matxcova nói riêng với Lãnh tụ Hồ Chí Minh, anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hoá thế giới .

Vladimir Efimovich Tsigal tác giả tượng đài Hồ Chủ tịch ở Matxcova

Sinh năm 1917, tác giả bức tượng đài Hồ Chí Minh ở Matxcơva, Nghệ sĩ điêu khắc Nhân dân Liên Xô và LB Nga V.E. Tsigal đã bỏ bao công sức sáng tạo nên, đã làm ấm lòng biết bao người Việt xa xứ, khiến họ cảm thấy gần gũi nhau hơn mỗi khi đặt chân tới quảng trường Hồ Chí Minh ở Matxcơva.

Nghệ sĩ điêu khắc Nhân dân Liên Xô và LB Nga Vladimir Efimovich Tsigal

V.E.Tsigal luôn tự hào rằng Quảng trường Hồ Chí Minh cùng bức chân dung Người bằng đồng đã trở thành địa chỉ gần gũi không những đối với người Việt đang học tập, làm ăn, sinh sống tại LB Nga, mà còn đối với nhiều người dân Matxcơva. Không chỉ vào dịp sinh nhật Người, mà vào ngày lễ tết, nhiều người Việt Nam luôn tới đây đặt hoa tưởng nhớ vị lãnh tụ vĩ đại đã mang lại độc lập, tự do cho dân tộc. Cô dâu chú rể người Việt trong ngày hạnh phúc cũng không quên đến bên Người, coi đây là địa điểm dừng chân mang ý nghĩa lớn trong khoảnh khắc đặc biệt của cuộc đời. Các đoàn đại biểu Việt Nam sang thăm và làm việc tại LB Nga cũng coi việc tới đặt vòng hoa tại Quảng trường Hồ Chí Minh là một phần không thể thiếu trong chương trình nghị sự… Và khi tới đây, không ít khách tham quan chắc hẳn đều nhắc tới ông – người nghệ sĩ đã góp phần đáng kể tạo nên một địa điểm gặp gỡ mang ý nghĩa văn hóa xã hội rất lớn .Cái tên Vladimir Efimovich Tsigal, người được vinh dự nhận giải thưởng Lênin và nhiều giải thưởng quốc gia Liên Xô – LB Nga, viện sĩ Viện hàn lâm mỹ thuật Liên Xô, đã trở nên thân quen, và Quảng trường Hồ Chí Minh đã trở thành địa điểm gắn liền với nhiều sự kiện lớn góp phần tăng cường tình đoàn kết hữu nghị, thúc đẩy sự hợp tác giữa hai nước Việt Nam và LB Nga.

Là một trong số 6 tượng đài Hồ Chí Minh được đặt ở nước ngoài gồm Cuba, Hungary, Pháp, Ấn Độ, Madagascar, tượng đài Hồ Chí Minh ở Matxcơva được tọa lạc trong một không gian có thể nói là rộng lớn nhất. Đặt chân tới đây, chắc hẳn không ai bỏ qua cơ hội ngắm nhìn thật kỹ bức chân dung bằng đồng của Bác. Từ trên cao, với nụ cười hiền hậu, vầng trán cao và chòm râu bạc, Người như đang mỉm cười với mỗi người khách tới thăm Quảng trường.

Nhớ lại cách đây 4 năm, chúng tôi đã có dịp được nhà điêu khắc V.E. Tsigal đón tiếp tại nhà riêng ở Matxcơva. Khi đó, mặc dù đã 88 tuổi, nhưng V.E. Tsigal vẫn nhanh nhẹn và đặc biệt ông có trí nhớ thật tuyệt vời. Trong căn phòng bài trí nên thơ với những bức tranh vẽ phong cảnh nước Nga và tĩnh vật mang phong cách cổ điển, V.E. Tsigal ngồi trầm ngâm và lục tìm trong trí nhớ những ký ức về hai chuyến thăm Việt Nam, về quá trình sáng tạo nên bức phù điêu chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh và về quãng thời gian ông miệt mài với từng đường nét trên bức chân dung và toàn bộ bố cục của tượng đài. Có lẽ thời gian ông giành cho bức tượng đài rất dài, nên ông không thể nhớ cụ thể đã mất bao nhiêu năm để hoàn thành tác phẩm. Ông nhớ rằng, khi lần đầu sang thăm Việt Nam năm 1985, ông đã mang theo dự án đầu tiên về bức phù điêu Hồ Chí Minh. Khi đó, theo tư duy của ông, Hồ Chí Minh là vị lãnh tụ vĩ đại, là học trò của Các Mác và Lênin, là người đã mang lại tự do cho dân tộc Việt Nam, vì vậy ý tưởng ban đầu của nhà điêu khắc là muốn tạo hình tượng Hồ Chí Minh theo cách truyền thống – ở tư thế đứng, tay đặt trên quyển sách, tượng trưng cho những tác phẩm của Mác và Lênin.

“Nhưng khi thực hiện chuyến đi xuyên Việt bằng ôtô, có cơ hội tìm hiểu cuộc sống, tính cách, phong tục tập quán của những người dân sống ở những vùng quê dọc theo đất nước Việt Nam, tôi nhận ra rằng Việt Nam mà tôi tận mắt thấy hoàn toàn khác với Việt Nam trong trí tưởng tượng của tôi và tôi đã quyết định bỏ dự án thứ nhất và bắt tay vào soạn thảo dự án thứ hai với những cảm xúc hoàn toàn mới” – V.Tsigal tâm sự. Để có tư liệu phục vụ cho dự án thứ hai của bức tượng đài Hồ Chí Minh, nhà điêu khắc đã ghi nhớ và sâu chuỗi từng chi tiết nhỏ khi tới thăm nhà sàn, ao cá Bác Hồ, khi xem những bức ảnh chụp về cuộc đời hoạt động của Bác và khi nghe ông Vũ Kỳ – nguyên Giám đốc Viện Bảo tàng Hồ Chí Minh, kể về Người. Ngoài ra, V.Tsigal còn đọc những tác phẩm viết về Bác, nghiên cứu di chúc của Bác viết trước lúc đi xa. Ông đã cố gắng hết sức mình không chỉ để tìm hiểu con người, tính cách của Chủ tịch Hồ Chí Minh, mà còn tìm hiểu cuộc sống của đất nước, con người Việt Nam. “Người Việt Nam sống ra sao, họ nghĩ gì và quan tâm đến điều gì? Tất cả những kiến thức đó rất cần cho tôi” – V.Tsigal khẳng định.

Nếu có dịp được chiêm ngưỡng bức phù điêu Hồ Chí Minh ở Matxcơva, chắc hẳn bất cứ ai cũng có thể nhận thấy phong cách thể hiện ý tưởng và cấu trúc của tác phẩm là độc nhất vô nhị, không giống với những bức tượng đài khác. Đó cũng chính là mục đích hướng tới của nhà điêu khắc tài năng V.Tsigal: “Tôi muốn bức phù điêu Hồ Chí Minh thu hút sự chú ý và sẽ để lại ấn tượng sâu sắc cho bất cứ ai từng một lần đứng trước tác phẩm này”.

Để bức phù điêu Hồ Chí Minh được công chúng tiếp nhận như một tác phẩm điêu khắc “có một không hai”, tác giả V.Tsigal đã gửi gắm vào tác phẩm tình cảm và suy tư của ông về lịch sử đất nước, con người Việt Nam, về Chủ tịch Hồ Chí Minh – vị lãnh tụ đã được UNESCO công nhận là danh nhân thế giới và năm 1990 – năm khai trương bức phù điêu, cũng là Năm Quốc tế Hồ Chí Minh. Từ khi khánh thành đến nay, Quảng trường Hồ Chí Minh với bức chân dung Người được khắc nổi trên tấm đồng tròn khổng lồ cùng câu nói nổi tiếng của Người được dịch sang tiếng Nga “Không có gì quí hơn độc lập tự do”, với hình tượng chàng trai Việt Nam ở thế chuẩn bị bật dậy, hình tượng cây tre, đã trở thành điểm du lịch tôn thêm vẻ đẹp của thành phố vốn nổi tiếng với nhiều bức tượng mang tính nghệ thuật cao là Matxcơva.“Vòng tròn là hình tượng mặt trời của Việt Nam, tiềm ẩn mơ ước về một Việt Nam với tương lai tươi sáng – V.Tsigal miêu tả ý tưởng sáng tạo bức tượng đài – Ở mặt sau của hình tròn là hai cây tre – loài cây luôn sẵn sàng gồng mình chống chọi với bão tố. Tôi xây dựng hình tượng cây tre cũng là xuất phát từ sự hiểu biết về loài cây đặc trưng của Việt Nam: cây có thể bị uốn cong, nhưng khó bị bẻ gẫy, giống như ý chí và sức mạnh Việt Nam vậy”.

Đối với nhà điêu khắc, lịch sử Việt Nam là lịch sử của những cuộc đấu tranh giành độc lập và tự do cho đất nước. Người Việt Nam đã trải qua bao đau thương và mất mát mới giành được nền độc lập của hôm nay. Bởi vậy ban đầu, ý tưởng thiết kế hình tượng chàng trai Việt Nam ở phía dưới chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh là chàng trai cầm khẩu súng máy trong tay. “Nhưng sau đó tôi đã suy nghĩ lại, – V.Tsigal nhớ về thời kỳ cuối những năm 80 khi ông bắt tay đúc bức phù điêu, – Tôi đã tự hỏi mình: Tại sao lại gắn hình ảnh vị lãnh tụ Việt Nam bên cạnh vũ khí như vậy? Hãy để đất nước này sống trong hòa bình, không bao giờ còn biết tới những khẩu súng. Và tôi đã bỏ khẩu súng đó ra khỏi bố cục của bức tượng”. Giờ đây, chàng trai Việt Nam trong tác phẩm của ông là một chàng trai với sức vóc khỏe mạnh, đang trong tư thế chuẩn bị xuất phát trên con đường đến với tương lai. Và cho tới nay, ông nhận thấy ý tưởng loại bỏ khẩu súng trong tay chàng trai thật đúng với hiện thực: Việt Nam đang vươn mình đi lên xây dựng tương lai no ấm trong hòa bình.

Và không chỉ bức phù điêu bằng đồng khổng lồ mang ý nghĩa sâu xa, mà cả bệ đá hoa cương mà bức phù điêu trụ trên đó cũng hàm chứa nhiều ý nghĩa. “Chắc có nhiều người đặt câu hỏi: tại sao không phải là 3 hay 5 bậc đá hoa cương dẫn tới tượng đài, mà lại là 8 bậc? – Tác giả Tsigal dường như tự hỏi mình – Con số 8 mang ý nghĩa tượng trưng, bởi tôi nhận thấy bông sen – loài hoa được người Việt Nam coi là biểu tượng của sự thanh tao, thường có 8 cánh”.

Có thể nói, mỗi chi tiết điêu khắc thể hiện trên bức phù điêu Hồ Chí Minh đều mang ý nghĩa sâu xa xuất phát từ sự hiểu biết, từ tấm lòng ngưỡng mộ của tác giả đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh, với lịch sử đất nước và con người Việt nam. Và như cảm tưởng của nhiều vị khách từng đến với Quảng trường Hồ Chí Minh, thì đây là địa điểm mang đậm phong cách và tinh thần Việt Nam. Phong cách và tinh thần Việt Nam ấy đã được nghệ sĩ điêu khắc tài năng V.E.Tsigal chuyển tải một cách tài tình và đầy sức thuyết phục. Phát biểu cảm tưởng của mình về Chủ tịch Hồ Chí Minh, V.E. Tsigal đã nói: “Đó là vị Chủ tịch giản dị nhất trong số các vị Chủ tịch và Tổng thống mà tôi từng được biết. Có vị Tổng thống nào mà trong túi luôn có kẹo để phân phát cho trẻ nhỏ! Đó là con người thật thông minh, phúc hậu”.

Nhà điêu khắc còn ghi nhớ từng sự kiện nhỏ liên quan tới quá trình sáng tác bức tượng đài Hồ Chí Minh .Ông biết rằng Chủ tịch Hồ Chí Minh từng mơ ước được gặp V.I.Lênin . Khi ông đúc bức phù điêu Hồ Chí Minh trong một xưởng điêu khắc rất lớn ở Matxcơva, thì cùng thời điểm đó, một nhà điêu khắc khác cũng đang đúc tượng V.I.Lênin. “Và đôi lúc tôi cảm thấy rất vui vì dường như mình đã góp phần tạo điều kiện để hai con người vĩ đại đó gặp gỡ nhau trong lĩnh vực điêu khắc”./-

Theo vtv4.vn
Tâm Trang (st)

bqllang.gov.vn

Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh nơi hội tụ tình cảm của nhân dân Việt Nam và bầu bạn Quốc tế

Ngày 2/9/1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị lãnh tụ kiệt xuất, Anh hùng giải phóng dân tộc, người chiến sĩ cộng sản quốc tế lỗi lạc, Danh nhân văn hoá của nhân loại đã đi vào cõi vĩnh hằng, để lại niềm tiếc thương vô hạn cho toàn thể nhân dân Việt Nam và bầu bạn quốc tế.

Thể theo nguyện vọng thiết tha của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân, Bộ Chính trị Trung ương Đảng đã quyết định: “Với tấm lòng kính yêu vô hạn và đời đời nhớ ơn Hồ Chủ tịch, chúng ta phải thực hiện đến mức tốt nhất nhiệm vụ giữ gìn lâu dài thi hài Hồ Chủ tịch và xây dựng Lăng mộ của Người”.

Quyết định của Bộ Chính trị vừa phù hợp với truyền thống, phong tục tốt đẹp của dân tộc Việt Nam, một dân tộc từ lâu đời đã có truyền thống thờ phụng ông bà, tổ tiên, xây dựng Lăng mộ để tưởng nhớ những người có công trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; đồng thời cũng đáp ứng với nguyện vọng của mọi người dân Việt Nam được tận mắt trông thấy Người, được thường xuyên đến viếng thăm Người, được thể hiện tấm lòng tôn kính và đời đời biết ơn công lao to lớn của Người đối với dân tộc. Đặc biệt là tình cảm của đồng bào, chiến sĩ miền Nam đang ngày đêm trực tiếp đối mặt với quân thù, chưa một lần được gặp Bác.

“Dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta đã sinh ra Hồ Chủ tịch, người Anh hùng dân tộc vĩ đại và chính Người đã làm rạng rỡ dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta”…

Chủ tịch Hồ Chí Minh là kết tinh của những giá trị tinh thần cao quý của dân tộc và thời đại. Nhân dịp kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Người, tổ chức giáo dục, khoa học và văn hoá của Liên hợp quốc (UNESCO) đã công nhận Hồ Chí Minh là Anh hùng giải phóng dân tộc của Việt Nam và là nhà văn hoá lớn của nhân loại. Nghị quyết của UNESCO khẳng định: “Chủ tịch Hồ Chí Minh là một biểu tượng kiệt xuất về quyết tâm của cả một dân tộc đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc của Việt Nam, góp phần vào cuộc đấu tranh chung của các dân tộc vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội”.

Với công lao to lớn của Người, với tư tưởng đạo đức cách mạng và nhân cách trong sáng của Người, Chủ tịch Hồ Chí Minh mãi mãi xứng đáng là một con người vĩ đại nhất của dân tộc Việt Nam anh hùng. Tấm gương hy sinh cả cuộc đời vì dân, vì nước; tư tưởng, đạo đức, tác phong của Người luôn cổ vũ, động viên các thế hệ người Việt Nam vững bước đi theo con đường mà Người và dân tộc đã lựa chọn. Giữ gìn lâu dài thi hài và xây dựng Lăng của Người là góp phần giữ gìn tư tưởng, đạo đức, sự nghiệp cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng thời là giữ gìn một di sản vô giá của dân tộc và toàn nhân loại.

Thấm thoắt đã 38 năm Người đi xa và 32 năm khánh thành công trình Lăng vĩ đại. Ngày nối ngày, trên Quảng trường Ba Đình, nhân dân trong nước và khách quốc tế lại về bên Người. Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn ung dung, giản dị như vừa chợp mắt sau một ngày làm việc…

Ba hai năm đã qua kể từ ngày khánh thành Lăng đến nay đã có hơn 33 triệu lượt người, trong đó hàng triệu lượt người nước ngoài của hầu hết các quốc gia và tổ chức quốc tế vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Những năm gần đây, thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, kinh tế trong nước tăng trưởng, hệ thống giao thông được mở mang, đời sống nhân dân có nhiều cải thiện… nhân dân vào Lăng viếng Bác mỗi ngày một tăng, năm sau cao hơn năm trước; nhất là những ngày nghỉ, ngày lễ; đặc biệt vào dịp kỷ niệm 19/5 và 2/9 mỗi ngày có tới hàng vạn người vào Lăng viếng Bác. Đối với khách nước ngoài, theo đánh giá của Tổng cục Du lịch, hầu như 100% khách du lịch khi đến Hà nội đã vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh và hiện nay, số lượng khách quốc tế vào Lăng viếng Bác tăng từ 3 đến 4 lần so với các năm trước đây.

Về Lăng viếng Bác, đối với mỗi người dân Việt Nam như một nhu cầu tình cảm, một phong tục tập quán mới, một sinh hoạt truyền thống biết ơn cội nguồn, hướng về gốc rễ trước mỗi bước đi lên. Từ cụ già đến các cháu thiếu nhi; từ người dân bình thường đến cán bộ, công chức nhà nước, tuy mỗi người có một tâm trạng khác nhau nhưng khi về bên Bác đều thấy thanh thảnh, bình yên. Nhiều người nước ngoài khi đến Việt Nam, đứng trước Lăng của Người đã có cảm nhận: Hiếm có lãnh tụ nào trên thế giới được nhân dân mến mộ như Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Ngoài hoạt động phục vụ thăm viếng, trước Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh và Quảng trường Ba Đình còn diễn ra các sinh hoạt văn hoá, chính trị. Những lễ báo công, giao ước thi đua, kết nạp Đảng, kết nạp Đoàn… và những năm gần đây, nam nữ thanh niên đã hình thành nên phong tục tập quán mới đó là đặt hoa trước Lăng Bác trong ngày cưới. Từ ngày 19/5/2001, nghi lễ chào cờ hàng ngày đã được tiến hành trang trọng trước Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Hình ảnh của Tổ quốc với lãnh tụ được hoà quyện vào nhau, càng tôn thêm giá trị văn hoá, tinh thần và ý nghĩa chính trị của công trình Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Những năm tới, trong bối cảnh đất nước hội nhập, mở rộng quan hệ giao lưu quốc tế số lượng người nước ngoài đến Việt Nam sẽ nhiều hơn và khách đến viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh dự kiến sẽ cao hơn so với trước. Tình hình đó đòi hỏi công tác bảo đảm an ninh phải được quan tâm, lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ.

Mặt khác, thực hiện Chỉ thị số 23 của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khoá IX) về việc tăng cường học tập tư tưởng Hồ Chí Minh và Chỉ thị số 06 của Bộ Chính trị (khoá X) về triển khai cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, khu vực Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, Quảng trường Ba Đình sẽ diễn ra nhiều hoạt động phong phú, thu hút với số lượng lớn nhân dân và khách quốc tế. Để góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả các hoạt động đón tiếp, tuyên truyền và phát huy ý nghĩa chính trị, văn hoá của công trình Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, xin đề xuất một số nội dung sau đây:
– Một là, thường xuyên chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ các cấp, các ngành, các địa phương trong việc tổ chức để nhân dân được về Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh thuận tiện, chu đáo.

Thực tế hiện nay, nhu cầu tình cảm của nhân dân các địa phương trong cả nước được về Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh rất lớn. Mặc dù Đảng, chính quyền, các ngành của địa phương, nhất là ngành lao động, thương binh và xã hội, những năm qua đã có nhiều cố gắng để tổ chức cho các đoàn chính sách, các Mẹ Việt Nam anh hùng… được về Lăng viếng Bác, nhưng số lượng còn quá ít ỏi so với nhu cầu. Vì vậy vấn đề đặt ra là cần có một kế hoạch cụ thể để phối hợp chặt chẽ các ngành, các địa phương trong việc tổ chức để nhân dân được về thủ đô Hà Nội và vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Vấn đề này, ngành lao động, thương binh và xã hội nên chủ trì và phối hợp với ngành du lịch, giao thông vận tải và các tổ chức quần chúng khác để lập kế hoạch phối hợp với Ban quản lý Lăng tổ chức để nhân dân, nhất là các gia đình chính sách được về Lăng viếng Bác.

– Hai là, thường xuyên chú trọng nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác đón tiếp, tuyên truyền phục vụ nhân dân và khách quốc tế khi về Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh và tham gia các hoạt động văn hoá, chính trị trong Cụm di tích Lịch sử – Văn hoá Ba Đình.

Cụm di tích Lịch sử – Văn hoá Ba Đình gồm các công trình, di tích lịch sử: Lăng Bác, Khu di tích Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch, Bảo tàng Hồ Chí Minh và Đài tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ. Hàng ngày, trên khu vực Quảng trường Ba Đình, thường xuyên có hàng nghìn người đến viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh và tham gia các hoạt động văn hoá, chính trị. Đây là lực lượng quần chúng đông đảo, tự giác đến để được nghe tuyên truyền, học tập về cuộc đời, sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh và tấm gương đạo đức cách mạng, trong sáng của Người. Vì vậy, cần có sự quan tâm, chỉ đạo chặt chẽ của Ban Tuyên giáo Trung ương và Bộ Văn hoá – Thông tin trong việc giáo dục tuyên truyền, định hướng tư tưởng cho nhân dân và khách quốc tế đến tham quan khu vực. Mặt khác, đối với các lực lượng làm nhiệm vụ trực tiếp tại Lăng Bác, Khu di tích Phủ Chủ tịch và Bảo tàng Hồ Chí Minh cần chủ động đề xuất và tích cực cải tiến nội dung, hình thức giáo dục, tuyên truyền, nhất là hình thức trực quan sinh động để tạo ấn tượng hấp dẫn phong phú cho nhân dân và khách quốc tế đến với khu vực Quảng trường Ba Đình lịch sử.

– Ba là, phối hợp chặt chẽ các lực lượng làm nhiệm vụ bảo đảm an ninh trong khu vực, nhất là hai lực lượng nòng cốt bộ đội và công an trong tình hình hiện nay.

Tổ chức đón tiếp nhân dân và khách quốc tế đến viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh và tham gia các hoạt động trong khu vực vừa thuận lợi, chu đáo; vừa tuyệt đối an toàn là yêu cầu lớn nhất đối với các lực lượng làm nhiệm vụ trong Cụm di tích Lịch sử – văn hoá Ba Đình. Trong tình hình hiện nay, kẻ địch có thể lợi dụng bất cứ sự sơ hở nào của chúng ta để gây mất ổn định chính trị, tạo cớ để vu khống, phá vỡ sự bình yên của đất nước. Chính vì thế, các lực lượng bộ đội và công an cần phải có kế hoạch, phương án cụ thể và hợp đồng chặt chẽ để chủ động ứng phó với mọi tình huống, tuyệt đối không để bị động bất ngờ. Bên cạnh việc tăng cường các biện pháp bảo đảm an ninh, cần chú trọng làm tốt công tác đón tiếp, hướng dẫn nhân dân và khách quốc tế, để mọi người đều cảm nhận được sự thoải mái, chu đáo khi về Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh và tham quan khu vực, không vì nhiệm vụ bảo đảm an ninh mà ảnh hưởng đến công tác đón tiếp, tuyên truyền. Mỗi suy nghĩ, mỗi việc làm của cán bộ, chiến sĩ, công nhân viên phải thấm nhuần tư tưởng nhân ái, yêu thương con người như sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nhắc nhở. Làm tốt những điều đó chính là góp phần vào việc tuyên truyền, học tập tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh trong mọi tầng lớp nhân dân và tuyên truyền quảng bá hình ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với nhân dân và bầu bạn quốc tế. Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh sẽ mãi mãi trường tồn cùng với dân tộc và là nơi hội tụ tình cảm của nhân Việt Nam và bầu bạn quốc tế.

TS. Đặng Nam Điền

bqllang.gov.vn

Những đền thờ Bác ở miền sông nước

Cổng đền thờ Bác ở xã An Thạnh Nhất - Cù Lao Dung - Sóc Trăng.

Trong tình cảm thẳm sâu đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh, đền thờ Bác là biểu trưng độc đáo về lòng kính yêu lãnh tụ của đồng bào Nam Bộ. Đi dọc ngang sông nước, tôi được nghe nhiều về các đền thờ Bác Hồ trên các địa danh anh hùng, khắp miền Tây Nam Bộ đâu đâu cũng có đền thờ Bác Hồ. Đây là cái gốc tình cảm, là chiều sâu tâm linh con người. Ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long hiện có 7 trong số 13 tỉnh, thành phố xây dựng 30 đền thờ, phủ thờ Chủ tịch Hồ Chí Minh. Mỗi ngôi đền thờ Bác dựng trên đất sông nước miền Tây là một huyền thoại diệu kỳ, một câu chuyện cảm động về lòng kính yêu Bác Hồ.

Đền thờ Bác ở vùng đất mũi

Cà Mau là địa phương có nhiều đền thờ Bác nhất cả nước (15 đền thờ – phủ thờ) được dựng lên rất trang nghiêm để hương khói thờ cúng Bác, thể hiện tình cảm kính yêu Bác Hồ sâu sắc hòa quyện chung trong tình yêu nước của nhân dân nơi đây, chưa kể các hình thức thờ Bác của nhân dân, đặc biệt có 8 ngôi đền được chính quyền và nhân dân xây cất xong ngay trong năm Bác mất (1969) dưới làn mưa bom, bão đạn của kẻ thù. Nhưng chiến tranh tàn phá, hiện nay chỉ còn 5 đền thờ: Đền thờ ở xã Viên An – Đất Mới (huyện Ngọc Hiển); Tân Hưng Tây (huyện Phú Tân); Trí Lực (Thới Bình); Cái Nước (Cái Nước); Đầm Dơi (Đầm Dơi). Ngoài ra, Cà Mau mới xây dựng nhà sàn Bác Hồ tại Công viên văn hóa thành phố Cà Mau theo mô hình nhà sàn của Bác tại Thủ đô Hà Nội. Hiện nay, Bảo tàng tỉnh đã và đang khảo sát những địa phương có đền thờ Bác Hồ trong thời kháng chiến để xây dựng lại.

Ngôi đền thờ Bác xây cất đầu tiên trên đất mũi Cà Mau dựng bằng gỗ đước ở ấp Biện Trượng, xã Viên An – Đất Mới (Ngọc Hiển) do Tỉnh đội Cà Mau và tổ Đảng cùng nhân dân địa phương hợp sức thi công, hoàn thành vào trung tuần tháng 9/1969. Những năm chống Mỹ, nhiều lần bọn giặc tìm cách phá, dân trong vùng ra sức bảo vệ, hàng chục người đã hy sinh trong các cuộc đấu tranh với giặc để giữ đền thiêng.

Sau năm Bác mất (1969), xuất phát từ tình cảm thiêng liêng của nhân dân Thới Bình đối với Bác Hồ, Huyện ủy Thới Bình (Cà Mau) xây dựng Phủ thờ Bác tại xã Trí Lực. Còn Phủ thờ Bác hiện nay được xây dựng trên khuôn viên nền Phủ thờ Bác trước đây với 3 căn, 1 chái theo kiểu hình chóp, xây dựng trên diện tích hơn 4.000m2 với mặt bằng có nhiều hố bom sâu của địch trút xuống cùng các hạng mục công trình: Phủ thờ Bác khung sườn nhà chủ yếu là cây tràm, cây mắm và mái lợp tôn thiếc đơn sơ mà trang nghiêm, tôn kính. Bệ thờ xây gạch hình tam cấp đặt ảnh Bác họa bằng nước sơn trên nền vải, khung gỗ cao 1,2m và rộng 1m; phía trên có dòng chữ “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”. Sau nhiều lần trùng tu, sửa chữa và nâng cấp nhưng vẫn giữ cốt cách, kiểu dáng, nét đặc trưng của phủ thờ cũ trước đây; tái tạo hố bom xưa; xây mới nhà truyền thống; nhà nghỉ du khách, chòi nghỉ chân, sân tập đa năng, cầu tàu, bờ kè, đường nội bộ, cây xanh… Nơi đây trở thành trung tâm sinh hoạt chính trị, văn hóa, giáo dục truyền thống cách mạng cho thế hệ trẻ và đón du khách đến tham quan của huyện Thới Bình.

Cổng đền thờ Bác ở Châu Thới - Vĩnh Lợi - Bạc Liêu.

Những tấm lòng với Bác

Không riêng gì Cà Mau, khắp miền sông nước Nam Bộ đâu đâu cũng có đền thờ Bác Hồ: xã Long Đức (Thị xã Trà Vinh – Trà Vinh); Lương Tâm (Long Mỹ – Hậu Giang), An Thạnh Nhất (Cù Lao Dung – Sóc Trăng)… là nơi tôn nghiêm nhất. Mỗi đền thờ là một huyền thoại diệu kỳ.
Đền thờ Bác ở xã Long Đức (thị xã Trà Vinh – Trà Vinh) cách trung tâm thị xã Trà Vinh khoảng 5km về phía Bắc và ban đầu chỉ được dựng tạm đơn sơ bằng tre, lá. Đền thờ khởi công xây dựng cuối tháng 3/1970 dưới tầm đạn pháo của địch. Công việc phải làm vào ban đêm, bất chấp bom đạn, sự đánh phá ngăn cản của địch, du kích cùng nhân dân địa phương chia ra làm nhiều tổ, vừa bảo đảm vận chuyển nguyên vật liệu vào khu vực xây đền, qua mắt các căn cứ quân sự của Mỹ – ngụy chung quanh, vừa phải trực chiến chống càn, bảo vệ nhân dân và khu vực xây dựng đền. Vào đúng ngày 30 Tết Nguyên đán năm 1971, trong niềm vui của nhân dân, ngôi đền rộng 16m2 được làm bằng các vật liệu thiên nhiên, thiết kế kiểu hình khối vuông, nóc bánh ú, mái lợp lá, khung sườn bằng loại gỗ tạp, vách tôn, nền tráng xi-măng, phía trước đền khoảng 10m có một đài liệt bằng tôn, hình tháp.

Sự tồn tại của ngôi đền bên cạnh các cơ quan đầu não ngụy quyền trong tỉnh và giữa hệ thống đồn, bốt dày đặc của địch khiến chúng ngày đêm điên cuồng đánh phá, tổ chức hàng chục cuộc hành quân càn quét cấp đại đội rồi tiểu đoàn cùng hàng trăm trận sử dụng hỏa lực hủy diệt bằng pháo binh, máy bay, tàu chiến. Gần 5 năm bảo vệ ngôi đền, quân dân Long Đức đã anh dũng bám từng bờ tre, bụi cỏ chiến đấu, quyết tử giữ đền, loại khỏi vòng chiến hàng trăm tên địch. Nhiều chiến sỹ và nhân dân đã hy sinh anh dũng nhưng khu vực đền vẫn được giữ vững và nhanh chóng xây dựng lại sau mỗi lần bị địch phá hủy, đốt cháy. Còn các chiến sỹ ta, trước mỗi trận đánh đều đến đền dâng hương, hạ quyết tâm xung trận “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh” trước bàn thờ Bác Hồ và Tổ quốc. Cuộc chiến đấu bảo vệ đền không chỉ thể hiện tấm lòng người dân Long Đức với lãnh tụ kính yêu của dân tộc mà còn trở thành biểu tượng cho ý chí sắt đá, quyết tâm thống nhất Tổ quốc, là pháo đài niềm tin của nhân dân Trà Vinh với con đường Bác Hồ và Đảng đã chọn. Nhân dân trong vùng vẫn còn lưu truyền câu chuyện về những người lính ngụy sau khi phải tuân lệnh cấp trên vào càn quét khu vực đền, khi rút lui đã để lại bức thư gửi những người bảo vệ đền, nội dung thể hiện sự hối hận vì bị bắt buộc phải làm chuyện đại nghịch, xin Cụ Hồ và mọi người xá tội, đồng thời gói trong bức thư tiền đóng góp để trùng tu lại đền thờ.
Đền thờ Bác Hồ ở xã Châu Thới (huyện Vĩnh Lợi – Bạc Liêu) cách trung tâm thị xã Bạc Liêu hơn 8km về hướng Đông Bắc, ban đầu được xây dựng với vật liệu đơn sơ tre, lá. Nhưng việc hình thành giữ gìn đền thờ là một câu chuyện ly kỳ của Đảng bộ và nhân dân xã Châu Thới anh hùng. Dù đã hơn 40 mùa xuân Bác đi vào trong cõi vĩnh hằng, nhưng đối với chú Nguyễn Đăng Khoa, nguyên là Đội trưởng Đội bảo vệ đền thờ Bác, từng quyết tử để bảo vệ đền, vẫn luôn nhớ mãi những ngày cùng đồng đội đi nhặt những trái pháo lép của địch, lấy trộm những trái lựu đạn mang về chế tạo lại để dùng làm “chướng ngại vật” ngăn chặn giặc phá đền thờ Bác. Sau ngày giải phóng, chú Khoa tiếp tục làm công việc bảo vệ chăm sóc đền thờ Bác đến nay. Với tình cảm sâu nặng đối với Bác, chú Khoa đã tìm thấy được niềm vui và hạnh phúc trong công việc.

Còn với cô Lê Thị Đầm – nguyên Bí thư xã Châu Thới, từ khi Bác mất đến nay, năm nào cô cũng làm một mâm cơm giản dị cúng Bác vì biết rằng “nếu làm sang trọng, lãng phí quá Bác sẽ không vui”. Đó là ngày gia đình quây quần bên nhau, mỗi lần như thế là một câu chuyện về Bác Hồ sẽ được cô Đầm kể cho các cháu nghe. Mâm cơm cúng Bác bao giờ cũng có chén mắm nêm và đĩa cà pháo vì đó là món ăn dân dã mà Bác thích.

Bà Lê Thị Đầm thờ Bác tại gia đình.

Những câu chuyện về tấm lòng người dân miền sông nước đồng bằng Sông Cửu Long đối với Bác Hồ như việc xây cất đền thờ, phủ thờ, vừa là di sản văn hóa của địa phương, vừa là di tích lịch sử văn hóa mãi mãi trường tồn cùng non nước Việt Nam; việc thờ Bác ở gia đình, việc chiến đấu kẻ thù bảo vệ đền thờ, trông nom và chăm sóc đền, học tập tư tưởng Hồ Chí Minh và làm theo lời dạy của Người là một việc làm đầy ý nghĩa, vừa là trách nhiệm của mọi người dân Việt Nam. Có về thăm đền thờ Bác Hồ, nhìn những hiện vật đơn sơ nhưng chan chứa tình cảm, rồi nghe người dân nơi đây kể chuyện mới thấm thía hết ý nghĩa của câu: “Bác Hồ sống mãi trong trái tim miền Nam”. Dù cho Người chưa có dịp vào thăm, dù cho niềm mong mỏi của cán bộ nhân dân miền Nam, trong đó có người dân vùng sông nước miền Tây không bao giờ thành hiện thực, nhưng trong mỗi trái tim người dân vẫn luôn khắc ghi hình bóng và lời dạy của Người, nhất là trong giai đoạn hiện nay “Học tập và làm theo tấm gương Chủ tịch Hồ Chí Minh”.

Trong những ngày lễ lớn của dân tộc, cùng với những di tích lịch sử cách mạng khác trên khắp cả nước, đền thờ Bác Hồ tại các tỉnh sông nước miền Tây Nam Bộ đón tiếp hàng vạn lượt khách đến viếng, tham quan. Cũng tại đây, hàng năm sinh nhật, lễ giỗ Bác Hồ được người dân địa phương tổ chức đúng vào ngày 19/5 và 2/9, thu hút hàng ngàn bà con từ khắp nơi về tham dự, thắp nén nhang trước tượng Bác uy nghiêm, nhân từ chắc chắn ai cũng tưởng nhớ đến vị lãnh tụ của đất nước và nhìn lại bản thân mình để nỗ lực phấn đấu sống theo gương của Người.

Theo Phương Nghi
Suckhoedoisong.vn
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Khánh thành đặt tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch

(ĐCSVN)Chiều 15/6, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Việt Nam và Đảng Lao động Mê-hi-cô đã tổ chức lễ khánh thành đặt tượng đài “Bác Hồ ngồi làm việc trong vườn hoa Phủ Chủ tịch” tại Phủ Chủ tịch.

Tham dự buổi lễ có các đồng chí: Trương Tấn Sang, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư; Alberto Anaya Gutíerrez, Tổng Bí thư Đảng Lao động Mê-hi-cô; Lê Khánh Hải, Thứ trưởng Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch cùng lãnh đạo Bộ Công an, Ban Đối ngoại Trung ương, Ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội; cán bộ nhân viên Đại sứ quán Mê-hi-cô tại Việt Nam và đông đảo cán bộ Khu Di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch và một số cơ quan ban, ngành Trung ương và Hà Nội.

Bức tượng là quà tặng của Đảng Lao động Mê-hi-cô trao tặng nhân dân Việt Nam nhân kỷ niệm 121 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, 100 năm ngày Người ra đi tìm đường cứu nước.

Bức tượng “Bác Hồ ngồi làm việc trong vườn hoa Phủ Chủ tịch” là tác phẩm của nhà điêu khắc Mê-hi-cô Pedro Ramirez Ponzanell- tác giả của tác phẩm tượng đài có kích thước thực Chủ tịch Hồ Chí Minh được đặt tại Trung tâm lịch sử Thành phố Mê-hi-cô (năm 2009). Dù chưa một lần đặt chân đến Việt Nam, chưa một lần được gặp Bác Hồ, song với lòng kính yêu sâu sắc, nhà điêu khắc Mê-hi-cô Pedro Ramirez Ponzanell đã khắc họa được thần thái, cốt cách, tác phong làm việc của Bác.

Lễ khánh thành đặt tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch.

Bức tượng được đặt trang trọng ngay tại địa danh lịch sử “Vườn hoa Phủ Chủ tịch”, nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh thường ngồi làm việc và tiếp khách. Bức tượng được sáng tác phỏng theo ảnh tư liệu chụp tại vị trí Vườn hoa Phủ Chủ tịch khi Bác Hồ còn sống. Tượng được làm bằng đồng, cao 1,09m, rộng 0,7m, khắc họa chân dung “Bác Hồ ngồi làm việc trong vườn hoa Phủ Chủ tịch”, tay phải cầm bút, tay trái cầm điếu thuốc, trước mặt là quyển sách, dựa theo bức ảnh cùng tên của tác giả Đinh Đăng Định. Cùng với bức tượng còn có bàn làm việc và 2 ghế mây bằng thép.
Phát biểu tại lễ khánh thành đặt tượng, đồng chí Alberto Anaya Gutíerrez, Tổng Bí thư Đảng Lao động Mê-hi-cô bày tỏ niềm vinh dự và tự hào được thay mặt Đảng Lao động Mê-hi-cô trao tặng nhân dân Việt Nam bức tượng đồng “Bác Hồ ngồi làm việc trong vườn hoa Phủ Chủ tịch”. Đồng chí nhấn mạnh: Chủ tịch Hồ Chí Minh là người anh hùng giải phóng dân tộc, người chiến sĩ quốc tế có những đóng góp to lớn cho phong trào cộng sản và công nhân thế giới. 100 năm trước, Người đã ra đi tìm đường cứu nước. Con đường Người lựa chọn cho cách mạng Việt Nam và tư tưởng Hồ Chí Minh đã, đang và mãi mãi là định hướng cho sự phát triển của dân tộc Việt Nam. Bức tượng “Bác Hồ ngồi làm việc trong vườn hoa Phủ Chủ tịch”- món quà nhỏ nhưng đó là tấm lòng của những người lao động Mê-hi-cô với Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Thay mặt Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch, Thứ trưởng Lê Khánh Hải đã cảm ơn món quà mang ý nghĩa lớn mà Đảng Lao động Mê-hi-cô trao tặng nhân dân Việt Nam; cảm ơn những tình cảm quí báu của những người lao động Mê-hi-cô, của đất nước và nhân dân Mê-hi-cô dành cho Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhân dân Việt Nam. Sự kiện Đảng Lao động Mê-hi-cô trao tặng Việt Nam bức tượng Chủ tịch Hồ Chí Minh là một sự kiện có ý nghĩa lớn lao, góp phần vào phát triển quan hệ hữu nghị và hợp tác, đối tác toàn diện giữa hai nước.

Vương Hà

cpv.org.vn

Dựng tượng Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Mexico

Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân đồng ý với kiến nghị của Bộ VHTT-DL về việc dựng tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh tại thành phố Acapulco, Mexico.

Phó Thủ tướng yêu cầu Bộ VHTT-DL chủ trì phối hợp với Bộ Ngoại giao và các cơ quan liên quan khẩn trương triển khai xây dựng tượng Bác Hồ tại thành phố trên vừa bảo đảm sự tôn nghiêm, trang trọng vừa bảo đảm chất lượng kỹ thuật, mỹ thuật.

aTượng đài Bác Hồ tại công viên bến Ninh Kiều, Cần Thơ. Ảnh DT

Công trình này phấn đấu kịp khánh thành nhân dịp kỷ niệm 120 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 – 19/5/2010).

Dự kiến, tượng đài sẽ được đặt gần tượng đài Mahatma Gandhi, vị anh hùng dân tộc Ấn Độ, tại đại lộ Miguel Aleman, đại lộ chính của thành phố Acapulco.

Hiện nay, theo số liệu thống kê thì từ năm 1990 đến nay đã có 60 công trình tưởng niệm mà bạn bè thế giới làm về Hồ Chí Minh như dựng tượng đài, dựng biển, đặt bia, đặt tên đường phố, tên trường học, tên quảng trường…

(Theo Chinhphu.vn)
bee.net.vn

Tóc Bác Hồ qua các thời kỳ

Có một hiện vật độc nhất vô nhị đã gây xúc động cho mọi người xem tại một triển lãmdo Bộ công An tổ chức tại Thành phố Cần Thơ, đó là ” Tóc của Bác Hồ qua các thời kỳ” do cán bộ chiến sĩ cảnh vệ phục vụ Bác từ năm 1954 đến khi Bác qua đời (1969) còn lưu giữ lại.

Đây là một trong số gần 1.000 hiện vật, tư liệu, hình ảnh trưng bày triển lãm về lịch sử 60 năm chiến đấu, xây dựng và trưởng thành của Lực lượng Công an Nhân dân Việt Nam, tổ chức tại Thành phố Cần Thơ từ 27/ 4 đến tháng 5/5/2005 vừa qua.

Tóc của Bác đuợc cất giữ cẩn thận trong một chiếc hộp vuông thuỷ tinh và trưng bày trong một chiếc tủ đặt bên trái cửa ra vào nhà triển lãm. Trong tủ còn các hiện vật khác như tông-đơ, dao cạo, kéo tỉa tóc, chổi quét tóc, áo choàng và khăn mặt (2 hiện vật áo và khăn đã ngả màu).

Trong hộp tóc có nhiều lớp tóc từ nhóm tóc còn đen đến hoa râm và lớp tóc phía trên cùng đã bạc hẳn. Chị Nguyễn Lương Hồng, cán bộ Bảo tàng cho biết: Bộ hiện vật này là hiện vật gốc độc nhất do các đồng chí cảnh vệ phục vụ Bác trong Phủ chủ Tịch trao lại cho bảo tàng hồi đầu năm nay.

Mỗi lần cắt tóc cho Bác, các đồng chí đều cẩn thận giữ tóc lại để làm kỷ niệm. Hiện vật đã được triển lãm tại các tỉnh Đăk Lăk, Đồng Nai và sau triển lãm này sẽ đưa lên triển lãm tại Điện Biên.

Đối với đồng bào miền Nam, những ai chưa một lần gặp mặt Bác, nhìn tóc Bác mà tiếc thương không xiết bởi tất cả những gì thuộc về bác Hồ đều trở nên thiêng liêng đối với cả dân tộc Việt Nam trong đó có đồng bào Miền Nam.

Triển lãm kết thúc đã để lại nhiều ấn tượng khó phai, chúng tôi muốn nói lời cảm ơn đến các thế hệ cán bộ chiến sĩ cảnh vệ trong Phủ Chủ Tịch đã trân trọng giữ gìn tất cả những kỷ vật thuộc về Bác – những kỷ vật tưởng như thường tình mà cũng rất thiêng liêng.

Theo Trần Khánh Linh
TTXVN
dantri.com.vn

Sẽ có thêm một di tích lịch sử về Bác Hồ tại Thái Lan

Theo tờ Phuchatcan (Thái Lan), số ra ngày 7/5, tỉnh Udon Thani của Thái Lan đã có kế hoạch xây dựng địa điểm nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh từng sống và làm việc tại làng Nong Han, xã Chieng Poen, huyện Muong, thành một địa chỉ du lịch lịch sử.

Trong chuyến thăm di tích vừa qua, Tỉnh trưởng tỉnh Udon Thani, ông Charuk Prinyapol, cho biết sẽ dùng ngân sách của Chính phủ, cấp cho các tỉnh trưởng điều hành theo qui chế toàn quyền, để góp phần hoàn chỉnh dự án nói trên.

Theo ông Charuk, việc tu bổ và xây dựng di tích lịch sử này còn nhằm thu hút du khách Việt Nam tới tham quan, học tập.

Người dân địa phương cho biết Hồ Chủ tịch đã từng sống và làm việc tại đây trong vòng 3 tháng, vào khoảng năm 1928. Tại khu di tích rộng khoảng 14.400m2 vẫn còn lưu giữ một số hiện vật mà Người đã sử dụng trong thời gian lưu lại.

Trong thời gian hoạt động bí mật tại Thái Lan dưới bí danh Thầu Chín vào những năm 1928-1929, Hồ Chủ tịch đã di chuyển qua nhiều tỉnh như Phit Chit, Phisanulok, Udon Thani, Nong Khai, Nakhon Phano và cả Băng Cốc, tổ chức nhiều lớp huấn luyện cán bộ và tuyên truyền giáo dục tinh thần yêu nước trong cộng đồng người Việt Nam tại Thái Lan.

Năm 2004, Thái Lan đã khánh thành Khu lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh và làng Hữu nghị Thái-Việt, tại Ban Na Chok, tỉnh Nakhon Phanom. Vừa qua, Bảo tàng Hồ Chí Minh đã trao tặng Khu lưu niệm một bức ảnh ghi hình Bác cùng đại diện Việt kiều tại Thái Lan tình nguyện hồi hương vào năm 1960. Một em bé có mặt trong tấm hình đó nay đã là Tổng Lãnh sự Việt Nam tại Khỏn Kèn (trung tâm Đông Bắc Thái Lan).

Năm 2005 là năm kiều bào Việt Nam tại Thái Lan kỷ niệm 45 năm ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh đón những kiều bào đầu tiên hồi hương về trực tiếp tham gia chiến đấu, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đầu những năm 60, theo thỏa thuận giữa hai Hội chữ Thập Đỏ Thái Lan và Việt Nam, khoảng 70.000 kiều bào tại Thái Lan đã tình nguyện hồi hương về miền Bắc. Ngày 10/1/1960, Bác Hồ đã ra tận cảng Hải Phòng đón 922 kiều bào đầu tiên về nước.

Đến tháng 4/1964, các chuyến hồi hương phải tạm ngừng do nguy cơ Mỹ leo thang chiến tranh, đánh phá miền Bắc. Tính đến thời điểm đó, đã có 46.563 kiều bào từ Thái Lan hồi hương về miền Bắc.

Theo TTXVN
dantri.com.vn