Thư viện

Học Bác làm báo

Sự nghiệp cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh gắn liền với hoạt động báo chí. Ngay từ lúc mới ra đi tìm đường cứu nước cách đây gần một thế kỷ Bác đã tìm đến một phương tiện thông tin phổ biến, nhiều tác dụng là báo chí.

Đến khi trở thành người đứng đầu Nhà nước, Bác đặc biệt quan tâm đến sự nghiệp phát triển báo chí cách mạng Việt Nam và việc đào tạo đội ngũ cán bộ làm báo. Bằng chính kiến thức và kinh nghiệm của mình, Bác tận tâm chỉ dẫn nghiệp vụ cho các nhà báo như một đồng nghiệp, một người bạn, người thầy.

Tại Đại hội lần thứ III Hội Nhà báo Việt Nam tháng 9.1962, Bác thẳng thắn phê bình những khuyết điểm của báo chí nước nhà: “Bài báo thường quá dài, “dây cà ra dây muống”, không phù hợp với trình độ và thời gian của quần chúng. Thường nói một chiều và đôi khi thổi phồng thành tích, mà ít hoặc không nói đúng mức đến khó khăn và khuyết điểm của ta. Đưa tin tức hấp tấp, nhiều khi thiếu thận trọng. Thiếu cân đối: tin nên dài thì viết ngắn, nên ngắn thì viết dài, tin để sau thì để trước, nên trước lại để sau. Lộ bí mật – có khi quá lố bịch. Khuyết điểm nặng nhất là dùng chữ nước ngoài quá nhiều và lắm khi dùng không đúng”. Nhưng Bác luôn khẳng định giá trị to lớn của báo chí: “Báo chí là công cụ tuyên truyền, cổ động, tổ chức, lãnh đạo…”, “Báo chí là vũ khí sắc bén, nhanh nhạy, đại chúng, phục vụ kịp thời…”. Về vai trò quan trọng của báo chí cách mạng, Bác nói: “Tờ báo Đảng như những lớp huấn luyện giản đơn, thiết thực và rộng khắp. Nó dạy bảo chúng ta những điều cần biết làm về tuyên truyền, tổ chức, lãnh đạo và công tác. Hàng ngày nó giúp nâng cao trình độ chính trị và năng suất công tác của chúng ta. Nếu ai cắm đầu làm việc mà không xem, không nghiên cứu báo Đảng thì khác nào nhắm mắt đi đêm, nhất định sẽ lúng túng, vấp váp, hỏng việc. Vì vậy, cán bộ trong Đảng và ngoài Đảng, toàn thể đảng viên và cốt cán cần phải xem báo Đảng”. Bác đánh giá và khuyên dạy: “Báo chí của ta đã có một địa vị quan trọng trong dư luận thế giới… Cho nên làm báo phải hết sức cẩn thận về hình thức, về nội dung, về cách viết”.

Suốt hơn nửa thế kỷ gắn bó với báo chí, Bác để lại một sự nghiệp đồ sộ với trên 2.000 bài viết với 53 bút danh khác nhau của Bác đã được đăng ở nhiều báo trong, ngoài nước bằng tiếng Việt, Pháp, Hán, Nga, Anh… Không chỉ là người khai sinh ra nền báo chí cách mạng Việt Nam, Bác còn đưa ra các tư tưởng, phương pháp báo chí mới mẻ, tiến bộ mà phù hợp với phong trào báo chí cách mạng, báo chí hiện đại trên thế giới.

Bảo Lâm
baobinhdinh.com.vn

“Dưới cờ Tổ quốc, em hứa làm theo lời Bác”

Đó là chủ đề hoạt động kể, đọc một mẩu chuyện về Bác vào mỗi sáng thứ Hai, sau lễ chào cờ của học sinh (HS) Trường Tiểu học Ngô Mây (Quy Nhơn). Những câu chuyện có thật về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh được HS kể lại, với giọng diễn cảm, trầm bổng, khiến cả sân trường im phăng phắc lắng nghe. Không chỉ dừng lại ở kể chuyện mà từ chuyện kể về tấm gương Hồ Chí Minh, từng lớp học, từng HS, từng thầy cô trong Trường đã thi đua làm theo gương Bác.

Cuộc thi bắt đầu từ năm học 2007-2008. Trường có 24 lớp, từ lớp 1 đến lớp 5, đều đăng ký chỉ tiêu dự thi về học tập, đạo đức và thực hành tiết kiệm kèm đề cương thực hiện cụ thể. Giáo viên chủ nhiệm là người kiểm tra HS lớp mình thực hiện chỉ tiêu đăng ký. Nhờ vậy mà 3 năm qua, phong trào thi đua dạy tốt – học tốt ở Trường đạt kết quả cao.

Phong trào thi đua nâng cao chất lượng học tập được chú trọng và có nhiều hình thức sáng tạo giúp HS học tập tốt hơn như: hình thành các CLB học tập, đôi bạn học tập, sáng tác thơ văn, giải toán khó, đố vui để học, sân chơi kiến thức… Nhờ vậy, chất lượng học tập của HS được nâng lên. Bình quân trong 3 năm qua, tỷ lệ HS lên lớp thẳng đạt 97,8%, trong đó, HS đạt danh hiệu HS giỏi tiên tiến chiếm gần 60 %. Trường có 49 HS đoạt giải Kỳ thi HS giỏi cấp tỉnh, 1 HS đoạt giải Olympic tiếng Anh cấp tỉnh…

Trường Tiểu học Ngô Mây cũng chú trọng đến công tác tuyên truyền, giáo dục truyền thống, đạo đức và pháp luật cho HS; các hoạt động như: mít-tinh, thi tìm hiểu, nghe nói chuyện truyền thống, tham quan các di tích lịch sử, tu tạo nghĩa trang liệt sĩ, phát thanh măng non… được duy trì.

Thầy Phạm Quảng, Hiệu trưởng Trường Tiểu học Ngô Mây, cho biết: “Từ khi triển khai Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, chất lượng học tập của học sinh ngày càng vững chắc. Nhà trường tổ chức kiểm tra khá chặt chẽ, khoa học, nên điểm số của từng HS phản ánh đúng chất lượng dạy và học”.

Bên cạnh đó, Trường đã xây dựng được một tập thể giáo viên có ý thức trách nhiệm, nỗ lực trong giảng dạy và hoạt động ngoại khóa… 3 năm qua, Trường có 1 giáo viên đạt danh hiệu dạy giỏi cấp quốc gia, 3 giáo viên dạy giỏi cấp tỉnh và 11 giáo viên dạy giỏi cấp thành phố.

Với những thành tích trên, những năm qua, Trường đã nhận Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ và Cờ đơn vị dẫn đầu phong trào thi đua toàn tỉnh bậc tiểu học… và đang được đề nghị Thành ủy TP Quy Nhơn khen thưởng vì có thành tích xuất sắc trong 4 năm thực hiện Cuộc vận động Học tập và lèm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.

Hồng Phúc
baobinhdinh.com.vn

Học tập phương pháp tuyên truyền Hồ Chí Minh

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nêu: “Tuyên truyền là đem một việc gì nói cho dân hiểu, dân nhớ, dân theo, dân làm”(1). Phương pháp tuyên truyền Hồ Chí Minh là sự tổng hợp những cách thức, là khoa học và nghệ thuật mà Người đã tiếp thu, kế thừa, vận dụng một cách sáng tạo học thuyết Mác – Lênin, tinh hoa văn hoá của dân tộc và nhân loại, để giải thích, chứng minh, cổ vũ, động viên mọi tầng lớp nhân dân thực hiện chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước, đóng góp vào sự nghiệp xây dựng vảo bảo vệ Tổ quốc Việt Nam.Chủ tịch Hồ Chí Minh là một nhà tuyên truyền giàu kinh nghiệm, Người đã vận dụng nhiều phương pháp tuyên truyền khác nhau một cách sáng tạo và hiệu quả, phục vụ thiết thực cho sự nghiệp cách mạng. Có thể khái quát các phương pháp tuyên truyền Hồ Chí Minh như sau:

Nội dung ngắn gọn, sâu sắc, thiết thực, cụ thể

Theo Người, nội dung ngắn gọn có nghĩa là “Phải viết gọn gàng, rõ ràng, vắn tắt. Nhưng vắn tắt không phải là cụt đầu, cụt đuôi mà phải có đầu, có đuôi, có nội dung… Nói ít nhưng nói cho thấm thía, nói cho chắc chắn thì quần chúng thích hơn”(2). Ngắn gọn trong cách nói, cách viết theo Chủ tịch Hồ Chí Minh về mặt nội dung thì phải cô đọng, hàm súc, ý nhiều lời ít, không có lời thừa, ý thừa, chữ thừa, mỗi câu, mỗi chữ có một ý nghĩa, có một mục đích, không phải rỗng tuếch. Tuy nhiên, theo quan điểm của Hồ Chí Minh, không phải nhất thiết cái gì cũng ngắn mới tốt, mà mục đích của việc nói ngắn, viết ngắn là để chữa cái bệnh “nói dài, viết rỗng”, tức là tùy thuộc điều kiện hoàn cảnh, đối tượng cụ thể quy định nói, viết ngắn hay dài, nhưng phải có nội dung. Mỗi câu, mỗi chữ phải chứa một ý nghĩa, mang một nội dung nhất định, không dư thừa; nói đúng tư tưởng, phản ánh đúng nhu cầu, lợi ích, nguyện vọng của quần chúng nhân dân. Trong bài nói tại hội nghị tuyên giáo miền núi, Bác đã nói: “Công tác tuyên truyền phải cụ thể, thiết thực. Tuyên truyền cái gì? Tuyên truyền cho ai? Tuyên truyền để làm gì? Tuyên truyền cách thế nào? đó là những vấn đề các chú phải tự hỏi, tự trả lời. Chứ không phải chờ trên gửi tài liệu xuống, rồi theo một, hai, ba, bốn mà làm”(3).

Hình thức diễn đạt dễ hiểu, dễ thực hiện

Tính dễ hiểu theo quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh là: “…muốn cho người xem hiểu được, nhớ được, làm được, thì phải viết cho đúng trình độ của người xem…”(4). Người cho rằng, tuyên truyền bằng ngôn ngữ nói hay ngôn ngữ viết thì mỗi câu, mỗi chữ có một ý nghĩa, một mục đích. Người tuyên truyền khi nói ra, khi viết ra cốt là “để giáo dục, giải thích, cổ động, phê bình. Để phục vụ quần chúng”(5). Nếu cán bộ tuyên truyền khi nói, viết “người xem mà không nhớ được, không hiểu được, là không viết đúng, nhằm không đúng mục đích”(6).

Theo Hồ Chí Minh, không có cách nào làm cho nhân dân hiểu nhanh nội dung tuyên truyền bằng cách so sánh giữa hình tượng này với hình tượng khác. Người căn dặn cán bộ tuyên truyền: “Đặc điểm rõ nhất trong tư tưởng của dân chúng là họ hay so sánh… Phải đem cách nhân dân so sánh, xem xét, giải quyết các vấn đề, mà hóa thành cách chỉ đạo nhân dân”(7).

Với mục đích cao nhất là diễn đạt nội dung tuyên truyền một cách thực sự dễ hiểu, dễ thực hiện, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sử dụng linh hoạt, uyển chuyển, đa đạng, phong phú các hình thức tuyên truyền. Chẳng hạn, khi sử dụng phương pháp tuyên truyền bằng lời nói trực tiếp, Hồ Chí Minh đã dùng những hình thức như: lên lớp, diễn giảng, giải thích, nói chuyện, kể chuyện, hướng dẫn, mạn đàm, trao đổi, thảo luận… Khi sử dụng phương pháp tuyên truyền bằng ngôn ngữ viết, Hồ Chí Minh dùng các hình thức như: viết truyện, viết ký, viết văn chính luận, viết tiểu phẩm, viết kịch, làm thơ, viết thư khen, thư thăm hỏi và lời kêu gọi… tất cả đều mang lại hiệu quả thiết thực.

Dân chủ, gợi mở vấn đề

Quan điểm của Hồ Chí Minh về thực hiện dân chủ trong phương pháp tuyên truyền là: “Việc gì cũng phải học hỏi và bàn bạc với dân chúng, giải thích cho dân chúng… Đưa mọi vấn đề cho dân chúng thảo luận và tìm cách giải quyết”(8). Tuy nhiên, Người cũng chỉ rõ, nghe dân, học dân, trao đổi thảo luận với dân nhưng không phải nhân dân nói gì cũng nhắm mắt làm theo, mà phải: “Đem các ý kiến khác nhau để so sánh kỹ, phân tích kỹ các nội dung của các tầng lớp xã hội có cái ý kiến đó. Xem rõ cái nào đúng, cái nào sai. Chọn lấy ý kiến đúng, đưa ra cho dân chúng bàn bạc, lựa chọn lại, để nâng cao dần dần sự giác ngộ của dân chúng”(9). Tính dân chủ trong phương pháp tuyên truyền Hồ Chí Minh được biểu hiện trong toàn bộ hoạt động tuyên truyền của Người. Đại tướng Võ Nguyên Giáp kể lại, khi về nước (năm 1941) trực tiếp lãnh đạo công cuộc kháng chiến, kiến quốc, khi xây dựng chương trình huấn luyện: “Bác phân công mỗi người làm từng mục: tuyên truyền, tổ chức, huấn luyện, đấu tranh. Khi mỗi người phác xong, tất cả họp lại thông qua đề cương, rồi mới viết. Viết xong lại họp lại, đọc chung và sửa. Cách làm việc của Bác kiên nhẫn, chu đáo”(10). Đây là cách làm việc hết sức dân chủ của Người, đó là không phân biệt cấp bậc, chức vụ cao hay thấp mà hướng vào việc sửa chữa những sai xót cá nhân.

Nghiên cứu phương pháp tuyên truyền Hồ Chí Minh chúng ta dễ dàng nhận thấy những vấn đề mà Người khêu gợi đã tác động sâu sắc tới tất cả mọi tầng lớp, mọi lứa tuổi trong xã hội. Những câu hỏi mà Người đặt ra bao giờ cũng phù hợp với sự băn khoăn, thắc mắc mà trong thực tế nhân dân đang tìm lời giải đáp và hướng dẫn nhân dân hành động theo đường lối của Đảng.

Nội dung, hình thức tuyên truyền phù hợp với đặc điểm tâm lý, xã hội của đối tượng

Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: “Dân ở đó sinh hoạt thế nào, ta cũng phải sinh hoạt như họ. Nếu dân dậy sớm mà mình ngủ trưa, dân đang làm việc mà mình nằm ngủ lì, thì sẽ bị dân ghét và ảnh hưởng xấu đến việc tuyên truyền. Thấy dân làm việc gì, bất kỳ to nhỏ, ta cũng ra tay làm giúp. Đó là cách gây cảm tình tốt nhất, nó sẽ giúp cho việc tuyên truyền kết quả gấp bội”(11). Theo Hồ Chí Minh, để đạt hiệu quả tuyên truyền, cán bộ tuyên truyền cần nắm vững đối tượng và phân loại đối tượng. Người chỉ rõ: “Dân chúng không nhất luận như nhau, trong dân chúng cũng có nhiều tầng lớp khác nhau, trình độ khác nhau, ý kiến khác nhau, có lớp tiên tiến, có lớp lừng chừng, có lớp lạc hậu”(12) và “bất kỳ nơi nào có quần chúng, thì nhất định có ba hạng người: hạng hăng hái, hạng vừa vừa, và hạng kém. Mà trong ba hạng đó, hạng vừa vừa, hạng ở giữa, nhiều hơn hết, hạng hăng hái và hạng kém đều ít hơn”(13). Vì vậy, cán bộ tuyên truyền không thể sử dụng một nội dung, một phương pháp cho mọi đối tượng.

Tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung, phương pháp tuyên truyền Hồ Chí Minh nói riêng là tài sản tinh thần vô giá của Đảng và dân tộc ta, là kim chỉ nam cho cán bộ làm công tác tuyên giáo các cấp. Vận dụng linh hoạt, sáng tạo phương pháp tuyên truyền Hồ Chí Minh vào thực tiễn công tác vừa góp phần nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền, vừa là việc làm thiết thực trong học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.

——————————-

(1) HCM toàn tập, NXBCTQG, HN, 2002, tập 5, tr.162. (2), (4), (5), (6). Sách đã dẫn, tập 7, tr.120-121, 119, 117, 119.(3). Bác Hồ với đồng bào các dân tộc thiểu số, NXB Thông tấn, HN, 2007, tr.97. (7) (8) (9) (11) (12) (13) Sđd, tập 5, tr.295-298, 297, 297, 400, 296, 289. (10) Võ Nguyên Giáp, Những chặng đường lịch sử, NXB Văn học, HN, 1977, tr.40.

Nguyễn Bá Thắng
xaydungdang.org.vn

Người thương binh nặng làm theo lời Bác

Cách trung tâm Thủ đô Hà Nội chừng 10 km về phía Tây, có một Trang trại du lịch sinh thái được nhiều người tìm đến và bị “hút hồn” bởi vẻ đẹp của nó. Chủ nhân của trang trại ấy là anh Phạm Công Cường – thương binh hạng ¼ mất sức 83%. Tuy là thương binh nặng, nhưng anh Cường vẫn luôn làm theo lời dạy của Bác Hồ “thương binh tàn nhưng không phế”.

Năm 1967, mới 17 tuổi, Cường trốn gia đình đi bộ đội, làm lính đặc công ở Sư đoàn 304 chiến đấu tại Quảng Trị. Tháng 10 năm 1971, trong 1 trận đánh, anh bị thương vào đầu, cột sống và đứt dây chằng cổ chân phải.

Rời chiến trường về với thương tật hạng ¼ mất sức 83%, nhưng anh quyết tâm không để mình là gánh nặng cho gia đình và xã hội. Được tổ chức sắp xếp làm trong Viện nghiên cứu Vật liệu xây dựng – Bộ kiến trúc, sau đó, anh tham gia học tại chức Khoa Sinh hoá Trường Đại học Tổng hợp. Nhờ duyên trời xe, người thương binh ấy trở thành con rể của “vua lốp” Hà Nội Nguyễn Văn Chẩn. Được ông bố vợ giúp đỡ, cùng với kiến thức học được trong trường đại học, anh đã thành lập Tổ hợp cao su Quyết Thành chế tạo săm lốp cao su từ đồ phế thải. Vốn là người thông minh và có ý chí, anh không ngừng nghiên cứu tìm tòi và đã cho ra đời nhiều sản phẩm có giá trị. Năm 1983, anh đã chế tạo thành công bạc bơm dầu (gioăng chịu dầu) góp phần quan trọng phục hồi máy biến áp của Sở Điện lực Hà Nội đã bị vô hiệu hoá vì thiếu phụ tùng ngoại nhập. Năm 1990, bằng vật tư trong nước, anh lại chế tạo thành công sản phẩm phíp – ba kê lít, một loại vật liệu cách điện rắn dùng trong biến thế của ngành năng lượng, thay thế hàng nhập ngoại. Sản phẩm này được cấp Bằng sáng chế tại Hội chợ triển lãm năm 1992.

ngươi thuong binh nang lam theo loi bac

Thương binh Phạm Công Cường

Rồi đến năm 1995, người thương binh ấy lại bắt tay vào cải tạo và làm hồi sinh vùng đất bị bỏ hoang rộng 18.000m2 ở quê hương mình (thôn An Trai – xã Vân Canh – Hoài Đức – Hà Nội).

Kể về những ngày gian khó ấy, anh bồi hồi nhớ lại: Những năm 90, trong một vài lần về quê ăn giỗ, thấy đầu làng có khu đất vốn là các lò gạch bỏ hoang, cỏ dại mọc đầy, lổn nhổn những hố hộc. Người làng kể rằng đó là hậu quả của những lò gạch thủ công trước đây đã để lại một vùng đất nghèo dinh dưỡng, cây cối không sống được do đất bị “gạch hoá” khiến nền đất rất cứng. Nơi này đã từng có 2 trẻ con chết đuối và không mấy người dám bén mảng tới làm khu đất hoang hoá càng âm u. Cùng lúc ấy, Nhà nước có chính sách khuyến khích phát triển mô hình kinh tế trang trại. Anh bàn với vợ mạnh dạn xin xã đấu thầu khu đất ấy. Mọi người đều khuyên anh nên nghĩ lại bởi biết sẽ gặp muôn vàn khó khăn. Chính ông Trần Xuân Đính – Chủ tịch xã Vân Canh và Bí thư Đảng uỷ xã Nguyễn Thế Cử đều khuyên thật lòng: “Vợ chồng chúng tôi khoẻ mạnh, có 3 sào ruộng khoán nục nạc mà còn làm còng lưng vẫn phải chân le chân vịt mới đủ sống. Anh là thương binh nặng, chị là con gái Hà Thành làm sao làm nổi…”

Nhưng anh suy nghĩ và lý giải: Người ta còn tìm mua đất Trang trại ở Ba Vì, Phú Thọ còn được, thế mà quê mình ngay sát Hà Nội lại có vùng đất bỏ hoang là sao? Với quyết tâm cải tạo vùng đất ấy, anh đã mạnh dạn xin Uỷ ban xã cho đấu thầu. Tháng 10 năm 1995, khu đất hoang hoá rộng 18.000m2 được chính thức giao cho vợ chồng anh Cường sử dụng trong vòng 13 năm. Một cuộc chinh phục cải tạo “vùng đất chết” bắt đầu. Nó cam go không kém gì trận đánh ngoài mặt trận. Những ngày đầu tiên, vợ chồng anh mất hàng năm trời thuê thợ đắp ao, tạo gò. Hàng trăm xe đất phù sa được chở đến cùng với phân trâu bò để bón cho cây, cải tạo đất. Trong 2 năm đầu lấy ngắn nuôi dài, vợ chồng anh làm mô hình V.A.C gồm chuồng trại, vườn cây, ao cá giống. Chỉ sau 2 năm, trong chuồng thường xuyên có khoảng 100 đầu lợn, ao cá mỗi năm xuất từ 7- 8 tấn cá thịt và nhiều loại gia cầm khác. Anh đã giải quyết việc làm cho khoảng 10 lao động quanh năm. Và cơ bản anh đã giúp bà con nhìn nhận đúng về cách quy hoạch mô hình V.A.C ở nông thôn. Đến nay, vùng đất của anh đã được “quy hoạch” đâu ra đấy. Anh chia 10.000m2 đất làm 3 ao nuôi cá giống, xây tường bao kiên cố, 2 hồ lớn nuôi cá thịt và làm dịch vụ câu cá. Xen giữa ao hồ là chuồng trại, vườn sinh thái với đủ loại cây ăn quả. Bao quanh trang trại là 1 con kênh đào rộng 2m với gần 1000 gốc tre làm bờ rào. Trong vườn có khoảng 200 gốc nhãn lồng, 100 gốc vải thiều, hơn 1000 gốc cau cảnh, gần 200 giò phong lan và nhiều loại cây khác. Chị Quyết – vợ anh – thường nói vui: trong nhiều năm qua, vợ chồng anh chị đã “vứt bạc tỉ xuống đất để nhặt lên từng đồng”. Nhưng rồi đất chẳng phụ người. Đến nay anh chị đã có một cơ ngơi khang trang bề thế.

Tiếng lành đồn xa. Nhiều khách du lịch và cựu chiến binh đã về đây tham quan. Có những thương binh nặng không thể đi tham quan khắp trang trại, anh xây hẳn một nhà để các anh có chỗ dừng xe nghỉ chân uống nước. Nhân kỷ niệm 56 năm Ngày Thương binh – Liệt sỹ 27/7/2003, đồng chí Nguyễn Đức Triều – Ủy viên Trung ương Đảng, Chủ tịch Hội nông dân Việt Nam và Thiếu tướng Hoàng Đan – Thủ trưởng cũ của anh đã đến thăm Trang trại và trồng cây lưu niệm. Trang trại của anh cũng đã từng được đó tiếp Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp Lê Huy Ngọ về thăm và động viên.

Khi được hỏi xuất phát từ động lực nào mà anh lại nảy sinh quyết tâm hồi sinh “vùng đất chết” ở quê nhà, anh Cường tâm sự: “Tôi làm vậy trước hết là theo lời dạy của Bác, muốn khẳng định rằng những thương binh như tôi không phải là gánh nặng cho xã hội, mà còn làm giàu cho quê hương đất nước. Mặt khác, để xã hội nhìn nhận chúng tôi là những người “tàn mà không phế”. Hơn nữa, tôi bắt tay vào cải tạo ngay mảnh đất bỏ hoang ở quê mình cũng là vì sự giàu đẹp của quê hương, chứ nếu chỉ nghĩ cho gia đình thì với số tiền ấy đem gửi tiết kiệm cũng đủ sống mà các con vẫn được học hành tử tế…”. Tuy nhiên, anh cũng bộc lộ băn khoăn bởi hợp đồng ký thuê đất là 13 năm (từ ngày 25/10/1995 và kết thúc ngày 01/01/2009). Từ đó đến nay, Uỷ ban nhân dân xã Vân Canh đã làm việc với vợ chồng anh 3 lần nhưng vẫn chưa được ký hợp đồng mới theo quy đinh của pháp luật. Bởi một điều giá thuê đất của hợp đồng cũ (thời điểm 1995) là 0,111kg thóc/m2 tương đương 40 kg /sào/năm, trong khi giá của dự thảo hợp đồng mới đã bị đẩy lên là 3.000 đồng/m2/tháng (thời hạn chỉ 5 năm). Anh mong muốn có một chính sách nào thoả đáng để anh chị bõ công bỏ mồ hôi công sức trên vùng đất hoang hoá được đền đáp xứng đáng khi tận hưởng nguồn thu.

Nhìn cơ ngơi của anh chị, có ai nghĩ cách đây vài chục năm nơi này đã từng bị gọi là “vùng đất chết”. Với bàn tay khối óc và ý chí nghị lực của người lính Cụ Hồ, anh thương binh Cường đã bắt đất phải hồi sinh, trả lại màu xanh cho mành đất ở quê hương. Anh thật xứng đáng với cái tên gọi Bộ đội Cụ Hồ. Bởi lời dặn của Bác “Thương binh tàn nhưng không phế” đã luôn khắc ghi trong tâm khảm của người thương binh nặng ấy.

Thực hiện lời căn dặn của Bác, đến nay, nhiều thương binh như anh Cường đã vượt lên khó khăn, không những không trở thành gánh nặng của xã hội, mà còn làm giàu cho quê hương đất nước. Thật cảm phục biết bao trước những con người đầy nghị lực và ý chí phi thường ấy đã từng đổ máu xương bảo vệ nền độc lập của Tổ quốc, nay lại mang công sức của mình nguyện là một viên gạch hồng xây dựng quê hương. Các anh mãi mãi là tấm gương để chúng ta học tập và noi theo, mãi mãi là những người “tàn mà không phế”, luôn được xã hội kính phục và tôn vinh.

Nguyễn Thị Diệp
Theo tuyengiao.vn
Thu Hiền (st)

Thương binh Đặng Sỹ Ngọc -Tấm gương học tập và làm theo lời Bác.

Sau năm tháng tham gia chiến tranh, trở về với cuộc sống đời thường với mức thương tật 1/4, ông Đặng Sỹ Ngọc ở khối Trung Đông, phường Hưng Dũng vẫn luôn phát huy phẩm chất anhBộ đội Cụ Hồ, thương binh tàn nhưng không phế.

Năm ấy, chàng thanh niên Đặng Sỹ Ngọc vừa tròn 18 tuổi, nghe theo tiếng gọi thiêng liêng của tổ quốc  đã viết đơn tình nguyện bằng máu để xung phong vào bộ đội. Tháng 6 năm 1967, Đặng Sỹ Ngọc được biên chế vào đơn vị Đại đội 2, Tiểu đoàn 9, Trung đoàn 90, Sư đoàn 324 chiến đấu tại chiến trường Quảng Trị. Những ngày lăn lộn trên chiến trường, ông thường ghi lại cuộc chiến tranh vĩ đại, những góc cạnh khốc liệt của chiến tranh. Trang nhật ký chiến trường của ông, đến năm 2006 đã được Nhà xuất bản Công an nhân dân cho ra mắt cuốn nhật ký “Trời xanh không biên giới”. Đây là một trong những cuốn nằm trong tủ sách “Mãi mãi tuổi 20”.

Trong 6 năm tham gia chiến đấu trên chiến trường Quảng Trị, có đến 7 lần ông bị thương có những lúc ông tưởng chừng như không sống nổi, nhưng bằng nghị lực phi thường của người lính Cụ Hồ, sau khi lành vết thương ông lại tiếp tục vào chiến trường tham gia chiến đấu. Đến lần bị thương thứ 7, ông bị thương nặng ở ổ bụng và chân, ông được đơn vị cho về điều trị và an dưỡng tại Trại điều dưỡng Thương binh nặng thuộc Đoàn 202 Quân khu IV. Tại đây, ông đã gặp bà Nguyễn Thị Vân và hai người nên duyên vợ chồng. Rồi ba đứa con lần lượt ra đời. Để nuôi dạy con khôn lớn, hai vợ chồng phải vật lộn với cuộc sống đời thường. Ông làm đủ nghề như tham gia vào tổ thương binh quản lý thu phí tại chợ, rồi chuyển sang nghề làm xe lai.

Ông Đặng Sỹ Ngọc – Thương binh 1/4 ở khối Trung Đông, Phường Hưng Dũng, thành phố Vinh tâm sự: Là người lính của Bác, sau khi bị thương được Bác nhắc nhủ thương binh tàn nhưng không phế bản thân không ngừng trau dồi đạo đức, phấn đấu trong công việc để góp phần xây dựng quê hương và gia đình…

Được trở về với cuộc sống đời thường, người thương binh ấy vẫn không nguôi khi nhớ đến đồng đội đã ngã xuống. Ông Đặng Sỹ Ngọc đã cùng đồng đội thăm lại chiến trường xưa, nơi mà ông đã xem như một phần máu thịt của mình. Trong sự xô bồ của cuộc sống đời thường, nhưng người thương binh ấy vẫn luôn phát huy phẩm chất anh Bộ đội Cụ Hồ. Ngày ngày không kể nắng hay mưa, ông Ngọc lại rong ruổi trên đường làm nghề xe lai. Sau một ngày làm việc mệt nhọc, việc đầu tiên khi ông trở về nhà là bỏ một ít tiền vào ống tiết kiệm. Với số tiền ông bỏ vào ống tiết kiệm, ông đã mua quần áo trực tiếp trao tận tay cho các hộ nghèo có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, thăm lại chiến trường xưa và đi tìm mộ đồng đội. Mặc dù sức khỏe yếu, trong mỗi chuyến đi gặp nhiều khó khăn, vất vả. Nhưng cứ nghĩ đến đồng đội đã hy sinh xương máu cho tổ quốc, lại tiếp thêm sức mạnh trong mỗi lần ông đi tìm mộ liệt sỹ. Từ những trang nhật ký trong chiến trường ông đã tìm được ba liệt sỹ và một số đồng đội của mình. Đến nay, ông đã tìm được 6 mộ kiệt sỹ, tặng hàng trăm bộ quần áo cho hộ nghèo. Ở bất cứ hoàn cảnh nào, ông vẫn luôn là một con người mẫu mực, sống có nghĩa có tình. Noi theo tấm gương của cha, các con ông luôn chăm lo học tập. Giờ đây, các con của ông đều tốt nghiệp đại học và đã có việc làm ổn định.

Ông Nguyễn Đức Trung – Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch Hội đồng nhân dân phường Hưng Dũng – thành phố Vinh cho biết: Thương binh, cựu chiến binh Ông Đặng Sỹ Ngọc, Đảng bộ và nhân dân Hưng Dũng đều biết đến. Bởi ở Đặng Sỹ Ngọc luôn toát một điều sâu sắc nhất đó là học tập và làm theo lời Bác. Mặc dù là thương binh trở về với đời thường với mức thương tật cao nhưng thương binh, cựu chiến binh Đặng Sỹ Ngọc luôn phấn đấu lao động, tham gia các hoạt động xã hội. Có thể nói bằng những việc làm cụ thể  thương binh Đặng Sỹ Ngọc luôn là tấm gương tiêu biểu trong cuộc vận động học tập và làm theo lời Bác.

Chiến tranh đã lùi xa nhưng ký ức về một thời khói lửa vẫn còn nguyên vẹn trong ông. Ông Đặng Sỹ Ngọc vẫn luôn lưu giữ trang viết, những tấm ảnh, Huy hiệu, Huy chương, mấy mảnh bom, viên đạn… Thấy những việc làm của ông, có thể có người sẽ cho ông Ngọc là gàn nhưng việc làm của ông chính là tấm lòng biết yêu thương, biết sẻ chia. Ghi nhận những việc làm ý nghĩa của ông, ông đã được tặng thưởng nhiều Bằng khen, đặc biệt là Bằng khen của Thủ tướng chính phủ vì đã có thành tích trong thực hiện cuộc vận động học tập và làm theo lời Bác.

Theo Lam Hà/vinhcty.gov.vn
Kim Yến
 (st)

 

 

 

Hướng về nhân dân

Hướng tới nhân dân là định hướng hành động suốt cuộc đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Xây dựng một Nhà nước vì nhân dân phục vụ là một trong những tư tưởng chính trị đạo đức lớn của Người.

Ngay từ 1941, khi mới về nước, thành lập thí điểm Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh Hội, Bác Hồ đã có chủ trương: “Chính quyền cách mạng của nước dân chủ mới, không phải thuộc quyền riêng của giai cấp nào mà là của chung, của toàn thể dân tộc, chỉ trừ bọn tay sai của đế quốc Pháp, Nhật và những bọn phản quốc…”. Khi thời cơ đến, chuẩn bị tổng khởi nghĩa, Bác Hồ tính đến việc thành lập Chính phủ lâm thời bằng một Quốc dân Đại hội ở Tân Trào.

Ngay sau ngày “Tuyên ngôn độc lập” 2.9.1945, ngày 3.9 Bác chủ trì phiên họp Chính phủ để giải quyết hàng loạt những khó khăn cực kỳ phức tạp được ví như “ngàn cân treo sợi tóc”. Chính việc tổ chức Tổng tuyển cử bầu ra Nghị viện nhân dân Quốc hội khóa I và việc thông qua bản Hiến pháp đầu tiên của dân tộc ta đã khẳng định địa vị pháp lý đầy đủ của Nhà nước Dân chủ nhân dân Việt Nam.

Nhà nước Dân chủ nhân dân Việt Nam ra đời là thành quả của cả dân tộc ta trong quá trình kháng chiến chống ngoại xâm dựng nước và giữ nước, đặc biệt là sự chiến đấu hy sinh anh dũng của đồng bào, cán bộ đảng viên, Đảng ta từ khi Đảng ra đời và lãnh đạo sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta.

Nhân ngày Tổng tuyển cử, bầu ra Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Bác đã chỉ rõ: “Việc xây dựng Nhà nước do đó là trách nhiệm, là nghĩa vụ, là quyền lợi của mỗi người dân Việt Nam”. Theo tư tưởng của Bác, Nhà nước được xây dựng trên đất nước ta là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân: “Tất cả quyền bính đều thuộc về nhân dân, những vấn đề quan hệ đến vận mệnh quốc gia do nhân dân phán quyết”. Dân bầu ra người đại diện cho mình và có quyền bãi miễn nếu họ không còn xứng đáng. “Nếu Chính phủ làm hại dân thì dân có quyền đổi Chính phủ”. Bác còn chỉ rõ: Phải xây dựng một nền chính trị liêm khiết, kiên quyết đấu tranh với 3 thứ giặc nội xâm là tham ô, lãng phí, quan liêu.

Một nhà nước pháp quyền và đạo đức theo tư tưởng Hồ Chí Minh là một nhà nước mà ở đó: “Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân. Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân. Sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc là công việc của dân/Chính quyền từ xã, đến Chính phủ, Trung ương do dân cử ra. Đoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức nên. Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”. Đó là một nhà nước hướng tới bảo vệ và phục vụ lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân, đồng thời với việc trừng trị một cách nghiêm khắc những hành vi xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của dân tộc, của nhân dân.

  • Hoàng Mai

baobinhdinh.com.vn

Tôi đã làm theo lời Bác dạy

Kết quả Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” trong lực lượng dân quân tự vệ đã xuất hiện nhiều cá nhân, tập thể điển hình tiên tiến, một trong những gương mặt đó là anh Lê Trung Thứ, Xã đội phó xã Mỹ An (Phù Mỹ).

Sinh ra ở một vùng đất “chưa nóng đã khô, chưa mưa đã úng”, Lê Trung Thứ là con thứ 10 trong một gia đình nghèo. Tuổi thơ chìm trong gian lao, vất vả đã hình thành trong anh tính tiết kiệm tự bao giờ. Tốt nghiệp THPT anh xung phong lên đường làm nghĩa vụ quân sự và được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam.

Anh Lê Trung Thứ

Sau khi rời quân ngũ, anh được cấp ủy, chính quyền địa phương quan tâm gửi đi đào tạo ở Trường Quân sự tỉnh và được bổ nhiệm chức vụ Xã đội phó. Trên cương vị mới, anh luôn trăn trở suy nghĩ phải làm cách nào để cùng với Chi bộ quân sự tập trung xây dựng lực lượng dân quân tại chỗ vững mạnh, làm nòng cốt cho cấp ủy, chính quyền, địa phương. Được phân công phụ trách công tác huấn luyện dân quân, hàng năm phải chuẩn bị vật chất huấn luyện lên đến vài ba triệu đồng, trong khi ngân sách đầu tư của địa phương có hạn, anh đã tận dụng những tấm tôn méo mó cải tạo thành bia phục vụ cho huấn luyện bắn súng, nhờ vậy, hàng năm đã tiết kiệm được hơn 1 triệu đồng.

Cơ sở vật chất đã thiếu thốn, quân trang lại càng khó khăn hơn, tiêu chuẩn 5 năm/bộ/người, nếu bảo quản không tốt thì không có quần áo cho anh em huấn luyện. Anh khắc phục bằng cách, sau mỗi đợt huấn luyện thì thu về một mối, trực tiếp chỉ đạo cho anh em giặt sạch quần áo, giày, mũ rồi là phẳng từng bộ một, bộ nào rách thì khâu lại, bảo quản thật kỹ cho những đợt huấn luyện sau. Sự miệt mài, cẩn thận của anh luôn được chỉ huy các cấp khen ngợi. Kết quả huấn luyện của lực lượng dân quân xã luôn dẫn đầu cụm 6 xã phía bắc của huyện.

Không chỉ tận tụy với công việc, anh Thứ còn sáng tạo trong cách làm giàu. Với số tiền ít ỏi được hỗ trợ học nghề sau khi xuất ngũ, anh đã vay mượn thêm và đầu tư vào nuôi bò lai, hàng năm cho thu nhập hơn 50 triệu đồng. Tấm gương của anh đã góp phần giáo dục cho lực lượng dân quân về thực hành tiết kiệm và sự vượt khó vươn lên làm giàu từ hai bàn tay trắng.

Là đảng viên trẻ nhất được Đảng ủy xã biểu dương tại Hội nghị sơ kết Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” năm 2009, anh Thứ tâm sự: “Tôi chỉ là một trong hàng triệu người dân Việt Nam đã làm theo lời Bác dạy”.

  • Phan Văn Hổ

baobinhdinh.com.vn

Quyền hành là ở nơi Dân

Trong Báo cáo chính trị tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng, năm 1951, khi nói về thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám 1945, Bác viết: “Chẳng những giai cấp lao động và nhân dân Việt Nam ta có thể tự hào, mà giai cấp lao động và những dân tộc bị áp bức nơi khác cũng có thể tự hào rằng: lần này là lần đầu tiên trong lịch sử cách mạng của các dân tộc thuộc địa và nửa thuộc địa, một Đảng mới 15 tuổi đã lãnh đạo cách mạng thành công, đã nắm chính quyền toàn quốc”.

Và trong Di chúc- tác phẩm cuối cùng của đời mình, khi nói về Đảng, một lần nữa Bác viết: “Đảng ta là một đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”.

Năm 1947, trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”, Bác Hồ viết: “Đảng không phải là một tổ chức để làm quan phát tài. Nó phải làm tròn nhiệm vụ giải phóng dân tộc, làm cho Tổ quốc giàu mạnh, đồng bào sung sướng”.

Năm 1960, trong bài nói tại lễ kỷ niệm 30 năm Ngày thành lập Đảng, Người nhấn mạnh: “Đảng ta vĩ đại, vì ngoài lợi ích của giai cấp, của nhân dân, của dân tộc, Đảng ta không có lợi ích gì khác”.

Quan điểm xuyên suốt trong các tác phẩm của Bác là Đảng và cán bộ, đảng viên “phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”. Muốn vậy, Đảng và cán bộ, đảng viên phải không ngừng rèn luyện, nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân.

Năm 1953, trong thư gửi Lớp chỉnh Đảng Liên khu 5, Bác viết: “Mục đích chỉnh Đảng là để dùi mài cán bộ và đảng viên thành những chiến sĩ xứng đáng là người đầy tớ của nhân dân”.  Bởi theo Bác: “Một dân tộc, một Đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân”.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng, nói chung và về Đảng cầm quyền nói riêng luôn được Đảng ta trung thành, vận dụng sáng tạo và phát triển. Quyền lực của Đảng, xét cho cùng, là tư tưởng Bác Hồ từng nêu lên trong bài báo “Dân vận” viết cách đây 61 năm: “Nước ta là nước dân chủ. Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân… Chính quyền từ xã đến Chính phủ Trung ương đều do dân cử ra… Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”.

Đại hội X của Đảng, khi đề cập nhiệm vụ đổi mới và chỉnh đốn Đảng, đã đặt lên hàng đầu nhiệm vụ “Nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền, hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách; tổ chức thực hiện có hiệu quả đường lối”. Cương lĩnh năm 1991 của Đảng, trong khi nêu lên những bài học lớn, đã khẳng định: “Sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam”. Đảng không có lợi ích nào khác ngoài việc phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Mọi đường lối, chủ trương của Đảng phải xuất phát từ thực tế, tôn trọng quy luật khách quan. Phải phòng và chống những nguy cơ lớn: sai lầm về đường lối, bệnh quan liêu và sự thoái hóa, biến chất của cán bộ, đảng viên.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng và về Đảng cầm quyền sẽ tiếp tục được làm sáng tỏ hơn nữa trong các văn kiện Đại hội XI của Đảng sắp tới.

  • Trần Thanh

baobinhdinh.com.vn

Tiết kiệm theo gương Bác

Với các cán bộ, công chức Kho bạc Nhà nước (KBNN) tỉnh – đơn vị có nhiệm vụ quản lý Quỹ ngân sách Nhà nước trên địa bàn tỉnh – tiêu chí trọng tâm và xuyên suốt được lựa chọn để hưởng ứng Cuộc vận động Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh chính là thực hành tiết kiệm, chống lãng phí.

Với nội dung học tập này, KBNN tỉnh đã có những biện pháp hữu hiệu và có sự phối hợp nhịp nhàng giữa cấp ủy, chính quyền và các đoàn thể để triển khai nhằm tạo sự đồng thuận cao trong ý thức và việc tổ chức thực hiện của tập thể đơn vị. Cụ thể, để thực hành tiết kiệm, KBNN tỉnh đã ban hành Quy chế quản lý tài chính, tài sản nội ngành. Theo đó, hệ thống KBNN tỉnh chú trọng các hình thức giao khoán đến từng đơn vị, từng phòng, bộ phận và có hình thức động viên, khuyến khích các đơn vị tiết kiệm kinh phí hoạt động. Bình quân hàng năm, các cơ quan, đơn vị trong hệ thống KBNN tỉnh tiết kiệm trên 500 triệu đồng (tương đương 2% tổng kinh phí hoạt động).

Số tiền tiết kiệm này là từ việc sử dụng điện, nước, điện thoại, xăng xe… hiệu quả. Ví dụ, để sử dụng xăng xe tiết kiệm, KBNN tỉnh đã xây dựng quy chế sử dụng xe công. Theo đó, việc đi công tác của các phòng phải có chương trình cụ thể và được lãnh đạo thông qua; phải có sự phối hợp giữa các phòng để có tối thiểu 4 người cùng đi mới được sử dụng xe công. Đối với việc tiết kiệm trong thông tin, báo cáo, ngoài việc giao khoán định mức sử dụng điện thoại, KBNN tỉnh yêu cầu cán bộ trong ngành sử dụng thành thạo mạng nội bộ (intranet) và mạng internet, coi đây là một trong những tiêu chí đánh giá năng lực của cán bộ… Những khoản tiết kiệm này được bổ sung vào quỹ thi đua khen thưởng, hỗ trợ các đoàn thể, bổ sung thu nhập… nên được sự đồng thuận cao của các tập thể và cá nhân trong đơn vị.

Với KBNN tỉnh, học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí cũng là tiêu chí để các đơn vị trong hệ thống ngành xây dựng các đoàn thể chính trị vững mạnh và xây dựng người cán bộ công chức “Trung thành, sáng tạo, tận tụy, gương mẫu”, phấn đấu hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ được giao.

  • Minh Khương

baobinhdinh.com.vn

“Dân là gốc”

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, phải thực hiện dân chủ với dân để phát huy tinh thần làm chủ của dân là cốt lõi của vấn đề “dân là gốc”. Người thường nói: “Chế độ ta là chế độ dân chủ, tức là nhân dân làm chủ”.

Biểu hiện trước hết của dân là gốc là phải tin ở dân, gần gũi dân, biết dựa vào dân. Muốn hoàn thành nhiệm vụ, muốn biến đường lối chủ trương của Đảng thành phong trào quần chúng, thành sức mạnh cách mạng thì Đảng phải có đường lối đúng đắn; cán bộ đảng viên “phải liên lạc mật thiết với dân chúng, xa rời dân chúng là cô độc. Cô độc thì nhất định thất bại”. Cán bộ, đảng viên còn phải học hỏi dân, “nếu không học hỏi dân thì không lãnh đạo được dân”, mà “muốn hiểu biết, học hỏi dân thì ắt phải có nhiệt thành, có quyết tâm”. Người cũng yêu cầu: người làm chủ trước hết phải làm tròn bổn phận công dân, tức là phải tuân theo kỷ luật lao động; giữ gìn trật tự chung; nộp thuế đúng kỳ, bảo vệ tài sản công cộng; bảo vệ Tổ quốc. “Phải chăm lo việc nước như việc nhà”, “phải biết tự mình lo toan gánh vác, không ỷ lại, không ngồi chờ”; “làm chủ sao cho ra làm chủ, không phải làm chủ là muốn ăn bao nhiêu thì ăn, làm bao nhiêu thì làm”.

Từ thực tiễn cuộc sống, Hồ Chí Minh lưu ý: “Bất kỳ nơi nào có quần chúng thì nhất định có ba hạng người: hạng hăng hái, hạng vừa vừa và hạng kém… Người lãnh đạo phải dụng hạng hăng hái làm trung kiên cho sự lãnh đạo, do hạng hăng hái đó mà nâng cao hạng vừa vừa và kéo hạng kém lên”. Phải học hỏi dân chúng, nhưng “không phải dân chúng nói gì, ta cũng cứ nhắm mắt theo”; phải “tìm ra mâu thuẫn trong những ý kiến khác nhau, xem cái nào đúng, cái nào sai” để vận dụng.

Do đó, thiết thực nhất của việc bồi dưỡng “cái gốc” là phải thường xuyên chăm lo đời sống cho dân, chăm lo lợi ích chính đáng của dân. Người thường nhắc tới những câu của người xưa “có thực mới vực được đạo”, “dân dĩ thực vi thiên”. Người nhắc nhở cán bộ, đảng viên: “Đối với nhân dân không thể lý luận suông”. Chính sách của Đảng và Chính phủ là phải hết sức chăm lo đời sống của dân. Nếu “dân đói”, “dân rét”, “dân dốt”, “ dân ốm” là “Đảng và Chính phủ có lỗi”.

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm dân là gốc là quan điểm khoa học, toàn diện. Đó là sự kế thừa những tinh hoa dân tộc, là sự vận dụng sáng tạo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin vào thực tiễn cách mạng Việt Nam.

  • Hòa Thanh

baobinhdinh.com.vn

Đoàn kết là sức mạnh

Nhân ngày Quốc tế lao động 1.5.1946, Bác Hồ viết lời kêu gọi nhân dân: “Đoàn kết để giữ vững tự do dân chủ. Đoàn kết để kiến thiết nước nhà. Đoàn kết để xây dựng một đời sống mới”. Đoàn kết cũng là nội dung được Người đặc biệt quan tâm trong suốt sự nghiệp hoạt động cách mạng.

Vấn đề cốt lõi của tinh thần đoàn kết trong tư tưởng Hồ Chí Minh là xây dựng một khối đoàn kết mạnh mẽ nhưng có tổ chức, cương lĩnh, nguyên tắc; có phương châm hành động đúng đắn, cụ thể và phù hợp với từng giai đoạn cách mạng. Vấn đề đó đã được đặt ra ngay từ khi có Đảng, với những tổ chức đoàn kết các thành phần lao động như: Công hội đỏ, Nông hội đỏ, Phụ nữ, Thanh niên… Và ngày 18.11.1930, theo Chỉ thị của Thường vụ Trung ương Đảng, “Hội Phản đế đồng minh Đông Dương” đã được thành lập, giương cao ngọn cờ đại đoàn kết dân tộc chống lại thực dân Pháp xâm lược và bọn phong kiến tay sai bán nước.

Có thể nói rằng, Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đã suốt đời phấn đấu cho sự nghiệp đại đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế, coi sự đoàn kết là sức mạnh vô địch chiến thắng mọi kẻ thù cho dù chúng nham hiểm đến đâu. Giải nghĩa vấn đề “Vì sao phải lấy dân làm gốc”. Người nói thật đơn giản: “Dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong”. Hoặc hình ảnh của sức mạnh đoàn kết được Người thể hiện rất cụ thể, sinh động: Trong một bài thơ kêu gọi đoàn kết, Người ví công việc khó khăn như “hòn đá to, hòn đá nặng”, nếu chỉ một người thì “vác chẳng đặng” nhưng có nhiều người “sẽ vác đặng”. Trong tất cả các bài viết, bài nói của Bác hầu như không có bài nào, trang nào Người không nhắc tới từ “đoàn kết”. Và chính bản thân Người, qua cách sống, làm việc, ứng xử… là tấm gương sáng ngời của tinh thần đoàn kết, khoan dung, nhân hậu, vị tha. Tư tưởng đại đoàn kết của Bác đã được Đảng ta quán triệt sâu sắc trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, đưa nhân dân ta, dân tộc ta đi đến thắng lợi…

Học tập những lời dạy về đại đoàn kết của Bác, chúng ta cùng nhau phấn đấu thực hiện lời Di huấn thiêng liêng của Người trước lúc đi xa: “Điều mong muốn cuối cùng của tôi là: Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”.

  • Tùng Quân

baobinhdinh.com.vn

Có lỗi thì phải sửa

Sinh thời, Bác Hồ luôn giáo dục, nhắc nhở mọi cán bộ, đảng viên phải luôn ghi nhớ thật sâu sắc nhiệm vụ của mình. Đó là “vào Đảng là để phục vụ nhân dân, phục vụ giai cấp, phục vụ cách mạng”. Người chỉ rõ: “Mỗi người đảng viên, mỗi người cán bộ từ trên xuống dưới đều phải hiểu rằng: mình vào Đảng là để làm đầy tớ cho nhân dân chứ không phải làm “quan” nhân dân”. Và để làm tốt nhiệm vụ của mình thì mỗi cán bộ, đảng viên phải gương mẫu đi đầu trong mọi công việc, “nói” phải đi đôi với “làm”. Đặc biệt cần tránh các sai lầm, khuyết điểm.

Tuy nhiên, Người cũng nói rõ “Người đời ai cũng có khuyết điểm có làm việc thì có sai lầm”, do đó không loại trừ cán bộ, đảng viên mắc sai lầm, khuyết điểm. “Đảng ta không phải từ trên trời sa xuống. Nó ở trong xã hội mà ra. Vì vậy, tuy nói chung, thì đảng viên phần nhiều là những phần tử tốt, nhưng vẫn có một số chưa bỏ hết những thói xấu tự tư, tự lợi, kiêu ngạo, xa hoa… Những thói xấu đó họ mang từ xã hội vào Đảng. Cũng như những người hàng ngày lội bùn, mà trên mình họ có hơi bùn, có vết bùn. Như thế thì có gì là kỳ quái?”. Theo Bác, điều quan trọng là ở chỗ “chúng ta không sợ sai lầm, chỉ sợ phạm sai lầm mà không quyết tâm sửa chữa”. Bởi vì, “trừ những người cố ý phá hoại, ngoài ra không ai cố ý sai lầm, sai lầm là vì không hiểu, không biết. Vì vậy, đối với cán bộ sai lầm ta quyết không nên nhận rằng họ muốn như thế. Sự sửa đổi khuyết điểm một phần cố nhiên là trách nhiệm của cán bộ đó”. Theo Bác, để sửa chữa khuyết điểm thì người có khuyết điểm phải thành tâm, thành ý, thật sự cầu thị để tiến bộ. Việc xử lý Bác cũng lưu ý rất cặn kẽ “lỗi lầm có việc to, việc nhỏ”, do đó việc xử phạt phải “có tình, có lý” vì “nếu nhất luật không xử phạt thì sẽ mất cả kỷ luật, thì sẽ mở đường cho bọn cố ý phá hoại”. Song phải lấy giáo dục, thuyết phục, cảm hóa làm căn bản, gốc rễ. Đặc biệt, phải phân biệt nguyên cớ của sai lầm, khuyết điểm, “phải xét kỹ lưỡng việc nặng hay nhẹ, phải dùng xử phạt cho đúng”. Bác nhắc nhở, trong việc xử lý “không vì công mà quên lỗi, không vì lỗi mà quên công”. Bác cũng đặc biệt lưu ý “người lãnh đạo phải biết tìm cách đúng để giúp đỡ cán bộ sửa chữa sai lầm và khuyết điểm”.

  • Bằng An

baobinhdinh.com.vn