Thư viện

Nhân tố con người

Để trả lời câu hỏi “chủ nghĩa xã hội là gì?”, Chủ tịch Hồ Chí Minh trả lời thật gọn gàng, sáng tỏ: “Xã hội ngày càng tiến, vật chất ngày càng tăng, tinh thần ngày càng tốt, đó là chủ nghĩa xã hội”. Tuy nhiên, xuất phát từ điều kiện lịch sử cụ thể của đất nước ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng chỉ ra một cách rõ ràng: “Cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa là một cuộc biến đổi khó khăn nhất và sâu sắc nhất… Chúng ta phải biến một nước dốt nát, cực khổ thành một nước văn hóa cao và đời sống tươi vui hạnh phúc”.

Từ tư duy biện chứng như vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa ra những chỉ dẫn thiết thực và quý báu về những động lực chủ yếu để thúc đẩy công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Theo Người, động lực quan trọng và mang tính quyết định nhất của xây dựng chủ nghĩa xã hội chính là nhân tố con người. Do đó, muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, trước hết cần có những con người xã hội chủ nghĩa. Đặc biệt, truyền thống yêu nước của dân tộc, sự cố kết cộng đồng, gắn lao động sáng tạo của nhân dân là sức mạnh tổng hợp tạo nên động lực vô cùng to lớn. Chính vì vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn chăm lo xây đắp khối đại đoàn kết dân tộc. Người khẳng định: “Đoàn kết, đại đoàn kết toàn dân là nguồn sức mạnh vô địch”.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, văn hóa là động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và có vai trò ngày càng lo lớn trong sự phát triển của nhân loại. Người cho rằng, văn hóa phải chỉ đường cho quốc dân đi. Do đó phải chăm lo cho văn hóa, đầu tư cho con người ngày càng có trình độ văn hóa cao. Đó chính là nguồn vốn, nguồn của cải quý báu nhất của quốc gia.

Đất nước ta đang bước vào công cuộc hội nhập ngày càng sâu rộng với thế giới và đang nỗ lực phấn đấu đưa đất nước trở thành một nước công nghiệp vào năm 2020 với mục tiêu: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, văn minh. Đó cũng chính là mục tiêu của chủ nghĩa xã hội như định nghĩa của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Việc tiếp thu và làm theo các tư tưởng vô cùng sâu sắc của Người sẽ cho chúng ta cách làm và bước đi đúng.

Khắc Quân
baobinhdinh.com.vn

Thu hút, trọng dụng người hiền tài

Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đặc biệt quan tâm đến việc thu hút những người hiền tài, đào tạo bồi dưỡng nhân tài cho lực lượng cách mạng. Xác định: “Kiến quốc cần có nhân tài. Nhân tài nước ta dù chưa có nhiều lắm nhưng nếu chúng ta khéo lựa chọn, khéo phân phối, khéo dùng thì nhân tài ngày càng phát triển, càng thêm nhiều”, Bác thực sự mong mỏi những người tài năng ra giúp dân, giúp nước. Người nói: “ … Chúng tôi mong rằng đồng bào ai có tài năng, có sáng kiến về những công việc đó, lại sẵn lòng hăng hái giúp ích nước nhà thì xin gửi kế hoạch rõ ràng cho Chính phủ. Chúng tôi sẽ nghiên cứu kế hoạch ấy một cách kỹ lưỡng có thể thực hiện được thì thực hiện ngay”.

Đánh giá rất cao lực lượng trí thức, Người nói: “Đảng và Chính phủ ta rất quý trọng những người trí thức của dân, vì dân”. Với tính cách là một bộ phận trong lực lượng cách mạng, Bác mong muốn những người trí thức “Luôn luôn nâng cao tình yêu Tổ quốc, tuyệt đối trung thành với sự nghiệp cách mạng, triệt để tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, sẵn sàng nhận bất cứ nhiệm vụ nào mà Đảng và nhân dân giao cho”. Bác khẳng định: “Trí thức là vốn quý của dân tộc!”. Theo Người “Cách mạng rất cần trí thức… Trí thức đáng trọng là trí thức hết lòng phục vụ nhân dân”.

Theo Tư tưởng Hồ Chí Minh, con đường hình thành và phát triển đội ngũ trí thức là: Đào tạo trí thức mới, cải tạo trí thức cũ. Do đó ngay từ những ngày đầu cách mạng, Đảng và Bác Hồ đã sớm chú ý đào tạo những người lao động, con em công, nông để bổ sung vào đội ngũ trí thức mới. Chính nhờ sự sáng suốt của Bác, chúng ta đã đào tạo được đội ngũ tri thức, nhân tài xuất thân từ giai cấp công nhân, nông dân trở thành cán bộ lãnh đạo, cán bộ khoa học tài giỏi, có nhiều đóng góp cho sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc.

Điểm nổi bật trong Tư tưởng Hồ Chí Minh về thu hút nhân tài là lòng thiết tha, thực sự cầu hiền, mong muốn nhân tài ra giúp dân, giúp nước với cách làm rất cụ thể, công khai. Bác cho rằng: Để phát huy sự sáng tạo của trí thức cần phải đưa họ vào phong trào cách mạng, đi vào đời sống nhân dân, coi đó là trường học lớn để học tập, rèn luyện và trưởng thành. Người đòi hỏi trí thức cách mạng phải là người vừa có tài, vừa có đức. Cán bộ lãnh đạo và quản lý phải được đào tạo và bồi dưỡng thường xuyên để có tri thức sâu rộng trên nhiều lĩnh vực, nhất là lĩnh vực mình đang phụ trách, có như vậy mới có thể hoàn thành công việc ngày càng tốt, và cống hiến ngày càng nhiều cho Tổ quốc, cho nhân dân.

Tư tưởng của Bác về trí thức và nhân tài luôn là kim chỉ nam cho chúng ta làm tốt hơn nữa công tác đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng cán bộ, đáp ứng yêu cầu mới của sự nghiệp xây dựng đất nước.

Hồng Phương
baobinhdinh.com.vn

Bác Hồ – Một tình thương bao la !

Chủ tịch Hồ Chí Minh là người sáng lập và rèn luyện Đảng ta, Người kiến trúc nên Nhà nước Cách mạng Việt Nam. Nói đến Bác là chúng ta nhớ ngay đến tấm gương đạo đức cách mạng sáng ngời của Người. Thủ tướng Phạm Văn Đồng, người học trò xuất sắc và người cộng sự gần gũi nhất của Bác Hồ đã nói: “Ở gần Bác, tôi thấy một nét nổi bật của Bác là rất coi trọng phẩm chất con người, suốt đời chăm lo bồi dưỡng đạo đức cách mạng cho cán bộ nhân dân”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sáng lập ra thời đại mới của dân tộc Việt Nam, hình thành con người Việt Nam mới với những giá trị tư tưởng và tinh thần cao quý.

Đạo đức cách mạng Hồ Chí Minh được thể hiện bằng tấm lòng nhân ái, yêu thương con người. Nhận được quà biếu của đồng bào, dù là chiếc áo len hay chai mật o­ng… Bác đều gửi biếu lại các cán bộ ở gần Bác, hoặc biếu các chú thương binh. Nhận được điện thoại gọi đến, biết người quen Bác đều hỏi thăm sức khỏe rồi mới bàn công việc. Bác không bao giờ dùng chữ cho, chỉ nói tôi biếu các cụ hoặc tặng các cháu nhỏ.

Song điều làm ta phải suy nghĩ và xúc động là Bác dặn dò cả việc đối với những nạn nhân của xã hội cũ như trộm cắp, gái điếm, cờ bạc, buôn lậu… thì Nhà nước ta vừa phải giáo dục, vừa phải dùng pháp luật để cải tạo họ, giúp họ trở nên người lương thiện. Có thể nói trong muôn vàn tình thương yêu của Người, Bác Hồ không để sót một ai, không quên một ai, có quên chăng là chỉ quên mình!

Trong Di chúc của Người, ngoài việc dặn dò mọi người phải đoàn kết chặt chẽ, đoàn kết nhất trí, đoàn kết thống nhất, Bác căn dặn: “Đảng ta là một đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ trung thành của nhân dân”.

Cách đây gần 1 năm, nhân dịp kỷ niệm 77 năm ngày thành lập Đảng (3.2.2007), Bộ Chính trị đã quyết định tổ chức cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” trong toàn Đảng, toàn dân. Học tập đạo đức Hồ Chí Minh là một chủ trương lớn, vừa mang tính cấp bách trong bối cảnh tình hình hiện nay, vừa có ý nghĩa lâu dài đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Hà Nhiên
baobinhdinh.com.vn

Hàng ngày tự mình phải tu dưỡng

Trong tác phẩm “Đường kách mệnh”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đưa phần giáo dục đạo đức lên hàng đầu. Trong đó, Người nhấn mạnh trước hết phải xử lý mối quan hệ với chính mình, phải tu dưỡng cá nhân. Bởi vì, chỉ có ra sức học tập và rèn luyện thì mới trở thành người tốt hơn, đạo đức hơn, mới răn dạy được người khác. Do đó, cá nhân phải thường xuyên tự tu dưỡng đạo đức. Bởi vì, “đạo đức cách mạng không phải trên trời sa xuống. Nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hằng ngày mà phát triển và củng cố. Cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong”.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, việc tu dưỡng đạo đức như chuyện rửa mặt hằng ngày, phải gắn với thực tiễn cách mạng, bởi đạo đức cách mạng là nhằm giải phóng con người và là đạo đức của những con người được giải phóng. Điều này càng hết sức quan trọng và cần thiết đối với cán bộ, công chức, bởi vì theo tinh thần Hồ Chí Minh, đã là cán bộ, công chức thì dù ít, dù nhiều đều có quyền hành. Cấp cao thì quyền to, cấp thấp thì quyền nhỏ. Có quyền mà không chịu tu dưỡng, rèn luyện thì dễ trở nên hủ bại, dễ biến thành sâu mọt của dân, dễ “dĩ công vi tư”.

Tham nhũng, vì vậy, cần được hiểu là bệnh của cán bộ, công chức không chịu tu dưỡng đạo đức cá nhân. Quyền lực một khi được trao vào tay cán bộ, công chức không có đạo đức, thì quyền lực đó sẽ làm tha hóa con người, biến con người trở thành nô lệ của quyền lực.

Tư tưởng và tấm gương tu dưỡng, rèn luyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh là bài học mẫu mực, trong sáng về việc nâng cao đạo đức cách mạng cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, ý thức tổ chức kỷ luật, ý thức trách nhiệm, phục vụ nhân dân, đấu tranh, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống như chủ nghĩa cá nhân, quan liêu, tham nhũng, lãng phí và các tệ nạn xã hội.

Mỗi cán bộ, đảng viên nhận thức được điều đó ở Bác, nỗ lực phấn đấu tạo được sự chuyển biến mạnh mẽ về ý thức tu dưỡng, rèn luyện và thật sự làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh là điều có ý nghĩa quyết định nhất để Đảng ta thật sự trong sạch, vững mạnh như mong muốn của Người.

Dương Minh
baobinhdinh.com.vn

Tự mình nêu gương

Bác Hồ từng nhắc nhở cán bộ, đảng viên “trước mặt quần chúng, không phải ta cứ viết lên trán hai chữ “cộng sản” mà ta được họ yêu mến”, vì “quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách đạo đức”. Tuy nhiên, tư cách đạo đức mà Bác đề cập không phải là cao siêu để “kính nhi viễn chi”, mà là những điều hết sức cụ thể “hô hào dân tiết kiệm, mình phải tiết kiệm trước đã. Đồng chí ta phải học lấy bốn đức cách mạng: cần, kiệm, liêm, chính”.

Không chỉ thường xuyên nhắc nhở cán bộ, đảng viên phải chăm lo giữ gìn đạo đức trong cuộc sống và công tác, tự mình, Bác đã nêu một tấm gương vô cùng trong sáng về đạo đức của người lãnh đạo. Người thường nói “đời sống của dân ta còn khổ, người cách mạng không thể có cuộc sống khác” và đã thực hiện đúng như vậy. Ở Bắc Bộ phủ, Bác không ăn riêng mà yêu cầu cùng ăn cơm với anh em bảo vệ, cấp dưỡng, lái xe. Bữa ăn thường đạm bạc, phần nhiều là rau, đậu và một ít thịt, cá. Nếu đang bữa ăn có cán bộ đến báo cáo công việc là Người kéo vào cùng ăn với mình, vừa ăn vừa tranh thủ trao đổi công việc, nghe báo cáo tình hình…

Mặc dù rất bận rộn với công việc ở Trung ương, Bác vẫn cố gắng thu xếp thời gian để tranh thủ thăm hỏi, gặp gỡ nhân dân ở các địa phương. Bất cứ khi nào có dịp gặp gỡ nhân dân là Người tranh thủ tối đa để tìm hiểu thật kỹ về đời sống, tâm tư của bà con. Khi Tết đến, xuân về Bác thường đến thăm những gia đình công nhân, nông dân hết sức bình thường. Xuống nông thôn Bác thường thăm hỏi các cụ già, em nhỏ…

Bằng cuộc sống của chính mình, Bác Hồ đã nêu một tấm gương sáng về đạo đức của người lãnh đạo. Tấm gương cao đẹp của Người đã được nhiều thế hệ cán bộ nối tiếp học tập và làm theo. Đó chính là ngọn cờ vẫy gọi, là động lực to lớn để Đảng ta vượt qua mọi khó khăn trong sự đồng tình ủng hộ của nhân dân. Đó cũng là điều mà mỗi cán bộ, đảng viên hôm nay, dù ở bất cứ cương vị nào, làm nhiệm vụ gì cũng phải ghi nhớ và noi theo. Vì như Bác đã nói, trước mặt quần chúng “không phải ta cứ viết lên trán hai chữ “cộng sản” mà ta được họ yêu quý”.

Lê Chí Dân
baobinhdinh.com.vn

Quét sạch chủ nghĩa cá nhân

Sinh thời, không chỉ một lần mà rất nhiều lần, Bác Hồ đề cập đến mối nguy hại của chủ nghĩa cá nhân. Theo Người, “Chủ nghĩa cá nhân là kẻ thù nguy hiểm mà mỗi chúng ta phải luôn tỉnh táo để phòng và kiên quyết tiêu diệt”. Biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân là “việc gì cũng chỉ lo cho lợi ích của riêng mình, không quan tâm đến lợi ích chung của tập thể. “Miễn là mình béo mặc thiên hạ gầy”. Nó là mẹ đẻ ra tất cả mọi tính tư tật xấu… Nó là kẻ thù hung ác của đạo đức cách mạng”…

Bác phân tích rõ: “Một dân tộc, một đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân”. Đặc biệt, chủ nghĩa cá nhân chính là kẻ thù có sức tàn phá ghê gớm đối với đạo đức của mỗi người. Đó là việc e ngại khó khăn gian khổ, ham hố địa vị quyền hành, tham ô trục lợi, hủ hóa xa hoa, độc đoán chuyên quyền… Và hậu quả tất yếu là, “họ xa rời quần chúng, xa rời thực tế, mắc bệnh quan liêu mệnh lệnh. Họ không có tinh thần cố gắng vươn lên, không chịu học tập để tiến bộ”. Đặc biệt là “không chấp hành đúng đường lối, chính sách của Đảng và của Nhà nước, làm hại đến lợi ích của cách mạng, của nhân dân”.

Từ chỗ xác định “do chủ nghĩa cá nhân mà phạm nhiều sai lầm” của cán bộ, đảng viên, Bác chỉ rõ việc cần phải làm: “Chúng ta phải lập tức sửa đổi ngay. Chúng ta không sợ có khuyết điểm. Chúng ta chỉ sợ không có quyết tâm sửa đổi”; “phải thực hành phê bình và tự phê bình nghiêm chỉnh trong Đảng. Phải hoan nghênh và khuyến khích quần chúng thật thà phê bình cán bộ, đảng viên. Chế độ sinh hoạt chi bộ phải nghiêm túc. Kỷ luật của Đảng phải nghiêm minh. Công tác kiểm tra của Đảng phải chặt chẽ”. Trong Di chúc trước lúc đi xa, Bác căn dặn: “Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”.

Để thực hiện đúng những lời căn dặn của Bác, điều mà mỗi cán bộ, đảng viên phải luôn luôn thực hiện chính là “quét sạch chủ nghĩa cá nhân – nâng cao đạo đức cách mạng”.

Hà Lâm
baobinhdinh.com.vn

Chủ nghĩa xã hội là dân giàu, nước mạnh

Nói về xã hội chủ nghĩa, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói một cách hết sức giản dị và rõ ràng: “Xã hội ngày càng tiến, vật chất ngày càng tăng, tinh thần ngày càng tốt, đó là chủ nghĩa xã hội”. Có thể nói rằng đây là một sự khái quát hết sức sâu sắc và khoa học, được thể hiện một cách vô cùng dễ hiểu và có sức cảm hóa rất lớn đối với nhân dân. Người còn cụ thể hóa khái niệm chủ nghĩa xã hội một cách rõ ràng hơn: “Chủ nghĩa xã hội là tất cả mọi người các dân tộc ngày càng ấm no, con cháu chúng ta ngày càng sung sướng”, “Chủ nghĩa xã hội là làm sao cho dân giàu, nước mạnh…”.

Xuất phát từ bản chất tốt đẹp của chủ nghĩa xã hội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến trọng trách của Đảng với nhân dân, nhất là khi Đảng đã trở thành Đảng cầm quyền. Người luôn lấy cuộc sống của nhân dân làm thước đo hiệu quả, làm căn cứ đánh giá công việc của Đảng và Nhà nước. Theo Người, bản chất ưu việt của chủ nghĩa xã hội có được bộc lộ, phản ánh đúng đắn hay không chính là ở chỗ đó. Người chỉ rõ: “Chính sách của Đảng và Chính phủ là phải hết sức chăm nom đến đời sống của nhân dân. Nếu dân đói, Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân rét là Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân dốt là Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân ốm là Đảng và Chính phủ có lỗi”. Rõ ràng, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn mong muốn và đòi hỏi rất cao sự tận tụy hy sinh, sự mẫu mực trong sáng của Đảng và Nhà nước, của từng cán bộ, đảng viên, nhất là những công chức trong bộ máy chính quyền dứt khoát phải là “công bộc của dân”.

Xác định “đạo đức là gốc”, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đòi hỏi việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng của từng cán bộ, đảng viên để hoàn thành sứ mạng dẫn dắt công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội của nhân dân ta. Người nhấn mạnh: “Muốn giải phóng cho dân tộc, giải phóng cho loài người là một công việc to tát, mà tự mình không có đạo đức, không có căn bản, tự mình đã hủ hóa, xấu xa thì còn làm nổi việc gì”. Người khẳng định “Tư tưởng xã hội chủ nghĩa là chống tư tưởng cá nhân chủ nghĩa”, xác định rõ cho mỗi cán bộ, đảng viên nhận thức sâu sắc rằng, chủ nghĩa cá nhân là một kẻ thù nguy hiểm, một trở lực lớn cho sự thành công của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, cần phải kiên quyết loại trừ.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra cho chúng ta một cách rõ ràng về chủ nghĩa xã hội với tư cách là một chế độ xã hội. Đó là một chế độ xã hội có khả năng thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, đem lại tự do và hạnh phúc cho nhân dân.

Hà Dương
baobinhdinh.com.vn

Gần dân, chăm lo dân

Là một trong những người Việt Nam tìm đến với “Cương lĩnh giải phóng các dân tộc thuộc địa”, Bác Hồ cũng chính là người đã thực hiện cương lĩnh giải phóng nông dân bằng việc lãnh đạo thuộc địa thắng lợi cuộc Cách mạng Tháng Tám lịch sử ở nước ta. Suốt cả cuộc đời hoạt động cách mạng và trong suốt thời gian là người đứng đầu Nhà nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đặc biệt quan tâm đến người nông dân bằng một cách thức rất đặc biệt: gần dân để hiểu dân, chăm lo cho dân tốt hơn.

Một lần, dự Hội nghị sản xuất nông nghiệp ở Nam Định, điều mà Bác quan tâm là chị em ở đây còn phải đội phân ra đồng nữa không. Khi biết là vẫn còn (do thói quen), Bác liền căn dặn cán bộ ở đây “Nên tìm cách cải tiến vận chuyển bằng xe đổ cho chị em lâu dài”. Lần khác, Bác đến một khu dân cư ở Thanh Hóa để hỏi thăm xem đồng bào ăn tết có vui không. Một cụ già cho biết gia đình cụ ăn tết không vui vì nhà bị tháo dỡ để mở đường nhưng địa phương lại không có bồi thường, cũng không chỉ cho gia đình chuyển đi đâu. Bác lắng nghe sự việc và yêu cầu lãnh đạo ở đây điều tra làm rõ sự việc. Bác bảo “làm người cán bộ như vậy là không xứng đáng, không khác gì bọn cường hào xưa”. Sau đó vị chủ tịch huyện ra lệnh dỡ nhà của người dân kia đã bị kỷ luật. Người dân ở đây rất phấn khởi nhắc mãi câu chuyện Cụ Hồ xử lý cán bộ “công bình, chính trực”. Một lần khác, khi đê sông Hồng ở Hưng Yên, Thái Bình bị vỡ, Bác đã đích thân xuống kiểm tra việc khắc phục hậu quả tận nơi. Bác đã tìm hiểu cặn kẽ tình hình, số người bị nạn và chỉ đạo phải lo cho người dân cái ăn, nơi ở đồng thời tập trung nhân tài, vật lực để đắp lại con đê bị vỡ để ổn định đời sống cho dân. Bốn tháng sau, Bác đã trở lại để kiểm tra việc đắp đê và lo cho người dân đã được thực hiện như thế nào…

Mặc dù bận rất nhiều công việc, nhưng hàng năm Bác đều dành nhiều thời gian để đi thăm nhân dân ở các địa phương, nhất là bà con nông dân. Ở đâu Bác cũng thực hiện “ba cùng” với bà con nông dân hết sức thân mật, tự nhiên. Tự đáy lòng mình Bác luôn muốn thật gần dân để hiểu dân và chăm lo thật tốt, thật đúng cho dân. Đó là bài học rất quý đối với mỗi chúng ta.

Huy Văn
baobinhdinh.com.vn

Kiên trì lý tưởng, mục tiêu Cách mạng Tháng Mười

Từ khi còn là một thanh niên, Bác Hồ đã một mình bôn ba đến nhiều quốc gia trên thế giới, với một mong muốn cháy bỏng tâm can: Quyết tìm ra con đường giải phóng dân tộc khỏi ách nô lệ của thực dân, phong kiến. Khi được nhìn thấy thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917, được đọc “Luận cương về các vấn đề dân tộc và thuộc địa” của Lê-nin, Bác đã nhận ra ánh sáng chân lý của con đường giải phóng dân tộc mình và đặt trọn niềm tin vào đó. Sau này, Người nhớ lại: “Ngồi một mình trong buồng mà tôi nói to lên như đang nói trước quần chúng đông đảo: “Hỡi đồng bào bị đọa đầy đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta””.

Tiếp thu tư tưởng của Lê-nin và Cách mạng Tháng Mười, Bác Hồ đã kiên trì mục tiêu, lý tưởng giải phóng dân tộc Việt Nam và đã lãnh đạo cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, từ Cách mạng Tháng Tám năm 1945 lập nên Nhà nước Dân chủ Cộng hòa đầu tiên ở Đông Nam Á đến chiến thắng Điện Biên Phủ “chấn động địa cầu” và đỉnh cao là đại thắng Mùa Xuân năm 1975 thống nhất đất nước, đưa nước ta tiến lên Chủ nghĩa xã hội.

Với Lê-nin, Bác Hồ đã dành trọn niềm tin yêu, kính phục đối với vị lãnh tụ vĩ đại của giai cấp công nhân toàn thế giới. Khi Lê-nin mất, Bác viết “Khi còn sống, Người là người cha, thầy học đồng chí và cố vấn của chúng ta. Ngày nay, Người là ngôi sao sáng chỉ đường cho chúng ta đi tới cách mạng xã hội”. Bác cũng nói rõ: “Không phải chỉ thiên tài của Người, mà chính là tính coi khinh sự xa hoa, tinh thần yêu lao động, đời tư trong sáng, nếp sống giản dị, tóm lại là đạo đức vĩ đại và cao đẹp của người thầy, đã ảnh hưởng lớn lao tới các dân tộc châu Á”…, “đối với các dân tộc châu Á, cũng như các dân tộc khác trên toàn thế giới đang đấu tranh cho hòa bình, độc lập, dân chủ và chủ nghĩa xã hội, học thuyết của Lê-nin khác nào mặt trời đưa lại nguồn sống tươi mở”.

Với Cách mạng Tháng Mười, Bác khẳng định: “Giống như mặt trời chói lọi, Cách mạng Tháng Mười chiếu sáng khắp năm châu, thức tỉnh hàng triệu, hàng triệu người bị áp bức, bóc lột trên trái đất. Trong lịch sử loài người chưa từng có cuộc cách mạng nào có ý nghĩa to lớn và sâu xa như thế”. Thực tế vận động của lịch sử nhân loại cho đến nay đã chứng minh cho nhận định của Bác Hồ về Cách mạng Tháng Mười từ những năm 1920 – “Đó là thắng lợi vĩ đại của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và các dân tộc bị áp bức do giai cấp công nhân và đội tiên phong của họ là Đảng Bôn-sê-vích lãnh đạo” – là hoàn toàn đúng đắn.

Nhân kỷ niệm 90 năm Cách mạng Tháng Mười thắng lợi (1917 – 2007), chúng ta càng nhận thức sâu sắc hơn vì sao Bác Hồ của chúng ta lại tìm đến với Cách mạng Tháng Mười, đến với Chủ nghĩa Mác – Lê-nin. Đó là con đường đúng đắn, khoa học và cách mạng để giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta với mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh”. Chúng ta tiếp tục vững bước theo lý tưởng, mục tiêu mà Bác Hồ kính yêu đã chọn lựa cho dân tộc.

Hướng Dương
baobinhdinh.com.vn

Học cái hay, tránh cái dở

Bác Hồ quan niệm, “mỗi con người đều có thiện và ác ở trong lòng. Ta phải biết làm cho phần tốt ở trong mỗi con người nảy nở như hoa mùa xuân và phần xấu bị mất dần đi”. Đảng ta gồm những người có tài, có đức nhưng “không phải là người người đều tốt, việc việc đều hay”. Do vậy, trong Đảng luôn luôn thực hiện tự phê bình và phê bình để cho dần dần hết khuyết điểm, đồng thời làm cho ưu điểm ngày càng nhiều thêm.

Tự phê bình và phê bình liên quan đến vấn đề đoàn kết trong Đảng. Do vậy, mục đích của tự phê bình và phê bình còn nhằm tăng cường sức mạnh đoàn kết, như Bác nói: “Muốn đoàn kết chặt chẽ là phải thật thà tự phê bình, thành khẩn phê bình đồng chí và những người xung quanh, phê bình, tự phê bình để cùng nhau tiến bộ, để đi đến càng đoàn kết. Đoàn kết, phê bình, tự phê bình thật thà để đi đến đoàn kết hơn nữa”.

Nhưng, muốn đạt được mục đích thì cần có phương pháp phù hợp. Theo Bác, phương pháp phù hợp nhất là phải thành khẩn, trung thực, kiên quyết và phải có văn hóa trong tự phê bình và phê bình. Bác cho rằng, tự phê bình và phê bình phải “ráo riết”, triệt để, thật thà, không nể nang, không thêm bớt. Nếu không kiên quyết thực hiện tự phê bình và phê bình thì cũng giống như giấu giếm tật bệnh ở trong người, không dám uống thuốc và như vậy làm cho bệnh nặng thêm, nguy đến tính mạng.

Bác nhấn mạnh: Tự phê bình và phê bình phải có “tính chất xây dựng”, “không mỉa mai, nói xấu nhau”, “chớ phê bình lung tung không chịu trách nhiệm”, không được trù dập người phê bình mình. Bác còn nói: “Phê bình chứ không phải là chửi”, nghĩa là phê bình phải có văn hóa. Trong phê bình, phải đặc biệt thực hành dân chủ. Bác nói: “Có gì cứ bình tĩnh bảo nhau, bàn với nhau. Càng cáu càng khó nghe”. “Muốn dân chủ tốt, kỷ luật cao, cán bộ phải gương mẫu phê bình và tự phê bình”. “Mục đích phê bình và tự phê bình là để học cái hay, tránh cái dở, chứ không phải để nói xấu nhau”. “Phải phê bình những thói hư tật xấu, để tiến bộ bằng cách làm cho cái phần thiện trong con người nảy nở để đẩy lùi phần ác, chứ không phải đập cho tơi bời”…

Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, chúng ta cần nhớ lời căn dặn của Bác trong Di chúc: “Trong Đảng thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình là cách tốt nhất để củng cố và phát triển sự đoàn kết và thống nhất của Đảng”.

Yên Chi
baobinhdinh.com.vn

Để cho “dân tiếc”, “dân mong”…

Tại lớp Huấn luyện chính trị cho những thanh niên Việt Nam yêu nước ở Quảng Châu, khi giảng về Tư cách người cách mệnh, Bác đã chỉ rõ: “Tự mình phải: Cần kiệm. Hòa mà không tư. Cả quyết sửa lỗi mình. Cẩn thận mà không nhút nhát. Hay hỏi. Nhẫn nại. Chịu khó. Hay nghiên cứu, xem xét. Vị công vong tư. Không hiếu danh, không kiêu ngạo. Nói thì phải làm. Giữ chủ nghĩa cho vững. Hy sinh. Ít lòng ham muốn về vật chất. Bí mật”. Theo Người, “Tự mình phải; Đối người phải; Làm việc phải” trong tác phẩm “Đường Kách mệnh” là hệ tiêu chuẩn thuộc về tư cách đạo đức cách mạng mà người cán bộ, đảng viên nhất định phải có.

Khi Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, Đảng Cộng sản từ hoạt động bí mật đã trở thành Đảng cầm quyền, để củng cố và bảo vệ chính quyền cách mạng còn non trẻ, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn các cán bộ, đảng viên, phải làm việc theo nguyên tắc “Hết sức nghe mệnh lệnh của Chính phủ”. Người chỉ rõ rằng “các cơ quan của Chính phủ từ toàn quốc cho đến các làng, đều là công bộc của dân, nghĩa là để gánh vác công việc chung cho dân” nên “việc gì có lợi cho dân ta phải hết sức làm, việc gì hại đến dân ta phải hết sức tránh… Phải yêu dân, kính dân thì dân mới yêu ta, kính ta”.

Phẩm chất đạo đức, tư cách của người cán bộ, đảng viên nhất quán và xuyên suốt trong tư tưởng Hồ Chí Minh là những con người dám xả thân cho cách mạng, đi tiên phong trong phong trào quần chúng, phải biết “làm việc”, biết “sửa đổi lối làm việc” và luôn luôn phải rèn luyện đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân. Như sông có nguồn thì mới có nước, như cây phải có gốc, vì nếu không có gốc thì cây chết, người cán bộ, đảng viên phải có đạo đức cách mạng, vì nếu không có đạo đức cách mạng, thì “dù tài giỏi đến đâu cũng không thể lãnh đạo được nhân dân”.

Đạo đức cách mạng, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh là đạo đức hành động vì nhân dân, thể hiện bản lĩnh chính trị, phẩm chất cách mạng vững vàng, tự tin và dám chịu trách nhiệm trước bất kỳ khó khăn nào. Người cán bộ, đảng viên phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, phải thật sự cần, kiệm, liêm, chính, để lòng mình hướng đến “chí công, vô tư”, để “khi đi thì dân tiếc, sắp đến thì dân mong”.

Yên Chi
baobinhdinh.com.vn

Miệng nói, tay làm

Đảng viên đi trước – làng nước theo sau, trở thành câu nói cửa miệng của nhân dân ta. Đi trước ở đây được hiểu là sự tiên phong, gương mẫu trong cả lời nói và hành động của cán bộ, đảng viên.

Là người lãnh đạo cao nhất của Đảng, Nhà nước nhưng Bác luôn gương mẫu. Bác đi đầu trong việc hưởng ứng các phong trào bằng hành động cụ thể. Bác nói: “Hô hào người ta tiết kiệm thì trước hết mình phải tiết kiệm trước đã” và Bác đã gương mẫu thực hiện. Một chiếc phong bì Bác sử dụng hai lần và dặn cán bộ đảng viên “Việc đáng tiêu thì hàng nghìn, hàng vạn cũng tiêu, việc không đáng tiêu thì một xu, một cắc cũng không tiêu, bởi vì đồng tiền ở đâu mà ra, đều do nhân dân đóng góp mà có. Cho nên, tiết kiệm trong chi tiêu, trong sử dụng công quỹ chính là sự góp phần làm cho mọi người đều có cơm no, áo ấm và được học hành”.

Sau Cách mạng Tháng Tám thành công, nạn đói năm 1945 đe dọa đồng bào miền Bắc, cùng với các biện pháp khuyến khích tăng gia sản xuất lương thực, thực phẩm, Bác Hồ kêu gọi nhân dân cả nước: “Mười ngày, nhịn ăn một bữa, một bữa một bơ” và dùng số gạo tiết kiệm đó cứu giúp những người thiếu đói. Một hôm, Bác Hồ phải đi dự tiệc với tướng Tiêu Văn (Trung Quốc), suất gạo bữa đó Bác đã bỏ vào quỹ cứu đói nhưng Bác vẫn đề nghị với nhà bếp “nhịn bù” vào bữa tối. Bác nói: “Mình khuyên dân mười ngày nhịn ăn một bữa, mà chính đến ngày nhịn lại cứ chén thì nghe sao được”? và Bác đã nhịn bữa ăn tối hôm đó. Bác kêu gọi đồng bào tham gia đóng góp quỹ “Mùa đông binh sĩ” và chính Bác đã góp vào quỹ một chiếc áo ấm của mình. Bác khuyên mọi người sống giản dị, khiêm tốn. Vì vậy, đôi dép cao su, chiếc áo ka-ki sờn vai cùng với những đồ dùng sinh hoạt hàng ngày đơn sơ, ít ỏi của Bác đã trở thành huyền thoại về đức tính, phong cách sống giản dị của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tại chiến khu Việt Bắc trong những năm đầy gian khổ của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Bác kêu gọi các cơ quan, đơn vị bộ đội tận dụng đất hoang nơi đóng quân tăng gia sản xuất cải thiện đời sống. Nói rồi Bác làm trước, cứ buổi sáng sớm và cuối giờ chiều, Bác mang cuốc ra làm đất, đánh luống trồng rau, nuôi gà góp phần cùng cơ quan cải thiện bữa ăn.

Tấm gương đạo đức “nói đi đôi với làm” của Bác Hồ luôn có sức mạnh to lớn trong việc giáo dục cán bộ, đảng viên học tập và noi gương.

Đ.B.P
baobinhdinh.com.vn