Thư viện

Điều quan trọng nhất là làm theo gương Bác

Bác Hồ là tấm gương sáng tuyệt vời, ai cũng cố gắng học tập và tự hào được làm theo Bác. Lần này, bước vào Cuộc vận động, mỗi người đều thấy mình tiến bộ thêm một bước: Chăm đọc và làm theo sách báo của Ðảng, quan tâm hơn đến những vấn đề chung của đất nước, quê hương; gắng sức làm việc tốt để góp phần nhỏ bé của mình vào công tác xây dựng Ðảng, chính quyền, đoàn thể từ địa phương lên; sống với nhau thêm tình nghĩa chân thành, học tập nhau phát huy mặt mạnh và giúp nhau khắc phục yếu kém.

Nghiêm túc học tập tấm gương Bác là điều không dễ và làm theo Bác lại càng khó hơn. Nhưng nếu có tấm lòng trong sáng và quyết tâm bền vững, ai cũng đều có thể học và làm theo Bác được. Có người cho rằng mình bận công việc tối ngày, khó có thời gian và điều kiện làm những việc như Bác là không đúng. Dù bận việc nước, việc dân, Bác vẫn có thời gian chăm lo đến những việc nhỏ nhất, chan hòa tình thương đến mọi người, không sót một ai!

Mọi người đều có thể học và làm theo Bác từ những việc hằng ngày mà ai cũng thấy ở mọi lúc mọi nơi, rất đỗi bình thường giản dị và chính sự bình thường giản dị ấy càng tôn thêm tầm vĩ đại của Bác. Bác thường xuống cơ sở, đến với dân không báo trước, không bố trí nơi đón rước linh đình mà Bác đến thẳng nơi ăn ở, trong bếp núc, nơi làm việc, chỗ vệ sinh của công nhân, nông dân, bộ đội, thanh niên xung phong, nhà trẻ… xem tận nơi, quan tâm thiết thực đến đời sống mỗi người.

Các buổi lễ lớn, Bác thường xuất hiện từ phía sau vào hội trường rồi những ai đang đón rước ở bên ngoài, ở phía trước tự giải tán vào theo Bác. Bác thường không chỉ nghe báo cáo viết sẵn, trình bày một chiều mà Bác đã bằng nhiều cách quan sát thực tiễn, hiểu rõ những nét cơ bản nhất, chân thật nhất của tình hình rồi mới đọc và nghe báo cáo. Nên không thể có báo cáo sai sự thật, “làm láo báo cáo hay”, sa vào “bệnh thành tích” để chủ quan tự sai lầm.

Ai cũng thấy Bác tiết kiệm từng thứ nhỏ nhất trong nếp sống và làm việc hằng ngày. Không chỉ vì nghèo mới tiết kiệm mà tiết kiệm là đức tính thuộc về bản chất, truyền thống của dân tộc ta. Nhất là tiết kiệm thời giờ của mình và của mọi người, vì “của cải nếu hết còn có thể làm thêm, khi thời giờ đã qua rồi không bao giờ kéo nó trở lại được!”. Bác không bao giờ để những cuộc họp vô bổ kéo dài phí thời giờ của nhiều người.

Ai cũng tự xác định cho mình suốt đời học tập và làm theo gương Bác để không ngừng tiến bộ, thiết thực làm mọi việc ích nước lợi dân, tránh được những sai lầm dù nhỏ.

Báo Nhân dân

bqllang.gov.vn

Nguyên tắc đạo đức “Nói thì phải làm” của Bác Hồ

Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”

Chủ tịch Hồ Chí Minh đi vào cõi vĩnh hằng gần 40 năm, nhưng Người đã để lại cho muôn đời con cháu mai sau một di sản tinh thần vô giá, đó là hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh về các vấn đề: Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; về Đảng Cộng sản Việt Nam; về đại đoàn kết; về quân sự; Nhà nước của dân, do dân,vì dân; về văn hoá và đạo đức…

Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh, các nhà khoa học đã thống nhất và rút ra những nội dung cơ bản của văn hoá đạo đức Hồ Chí Minh, đó là: Trung với nước, hiếu với dân, phẩm chất đạo đức quan trọng nhất, bao trùm nhất là tình yêu thương đối với con người; là cần kiệm liêm chính, chí công vô tư và tinh thần quốc tế trong sáng, đồng thời cũng khẳng định ba nguyên tắc đạo đức của Người: Nói thì phải làm; xây đi cùng với chống và tu dưỡng đạo đức suốt đời. Trong bài viết này chúng tôi xin đi sâu vào nguyên tắc đầu tiên của đạo đức trong tư tuởng Hồ Chí Minh là “Nói thì phải làm”.

Ngay từ những năm 20, khi còn bôn ba hoạt động cách mạng ở nước ngoài, tại lớp huấn luyện chính trị ở thành phố Quảng Châu, tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc, nơi đào tạo cán bộ cho cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh (lúc ấy lấy bí danh là Lý Thuỵ) đã có bài giảng về “Tư cách một người cách mệnh”. Trong bài giảng của mình, Hồ Chí Minh đã nêu lên những đức tính cần phải có của một người cách mạng, đó là: Đối với mình, đối với người và đối với công việc, trong đó đối với mình được Người đặt lên hàng đầu, bởi cái khó nhất của con người là phải đấu tranh với chính bản thân mình. Từ cuối cùng của cả ba vấn đề mà Bác nêu lên trong bài giảng này đều là từ “phải”, một từ có ý nghĩa bắt buộc trong việc rèn luyện tư cách đạo đức, phong cách, lối sống và công việc của mỗi người. Bác viết:

“Tự mình phải: Cần kiệm. Hoà mà không tư. Cả quyết sửa lỗi mình. Cẩn thận mà không nhút nhát. Hay hỏi. Nhẫn nại (chịu khó). Hay nghiên cứu, xem xét. Vị công vong tư. Không hiếu danh, không kiêu ngạo. Nói thì phải làm. Giữ chủ nghĩa cho vững. Hy sinh. Ít lòng tham muốn về vật chất. Bí mật”(1).

Có thể nói đạo đức là một trong những vấn đề quan tâm hàng đầu của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trong sự nghiệp cách mạng của mình, Bác có nhiều tác phẩm cũng như bài nói, bài viết về vấn đề này như: “Sửa đổi lối làm việc”, “Đạo đức cách mạng”, “Chớ kiêu ngạo, phải khiêm tốn”, “Cần kiệm liêm chính”, “cần tẩy sạch bệnh quan liêu mệnh lệnh” v.v…

Từ những ngày đầu cách mạng chuẩn bị cho công cuộc giải phóng dân tộc, giải phóng đất nước thì “Tư cách một người cách mệnh” tuy ngắn gọn nhưng đầy đủ về những chuẩn mực của tư cách đạo đức, tác phong lối sống, đối nhân xử thế và cách làm việc. Bài báo cuối cùng Bác viết về đạo đức là “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân”, nhân dịp kỷ niệm ngày thành lập Đảng (3-2-1969) khi sức khỏe của Người đã giảm sút.

“Nói thì phải làm”, chỉ với bốn từ đơn giản tưởng chừng như rất dễ thực hiện ấy, nhưng suốt cả cuộc đời mình Chủ tịch Hồ Chí Minh đã không ngừng phấn đấu làm gương cho sự thống nhất giữa tư tưởng, lời nói với hành động và hiệu quả. Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam quanh vinh và Bác Hồ vĩ đại, nhân dân ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác trong cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, giành độc lập tự do cho dân tộc, xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh. Một trong những yếu tố quan trọng làm nên thắng lợi đó có vai trò to lớn của đạo đức cách mạng. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Đại đa số chiến sỹ cách mạng là người có đạo đức: Cả đời hết lòng hết sức phục vụ nhân dân, sinh hoạt ngày thường thì làm gương mẫu: gian khổ, chất phác, kính trọng của công… Đạo đức ấy có ảnh hưởng lớn đến sự nghiệp đổi xã hội cũ thành xã hội mới và xây dựng mỹ tục thuần phong”(2). Và với bản thân mình, Bác đã làm đúng như khi trả lời các nhà báo nước ngoài năm 1946: “Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”(3).

Đối với mỗi người để thực hiện được việc thống nhất giữa lời nói với hành động, lời nói đi đôi với việc làm là điều không dễ, nó đòi hỏi cần phải có sự cố gắng, bền bỉ và một quyết tâm, bởi bất kỳ công việc nào, nhiệm vụ gì, dù lớn hay bé, khó hay dễ, phức tạp hay giản đơn, nhưng nếu không ra sức phấn đấu thì cũng không thể thành công được. Kết quả công việc là thước đo của mỗi người. Với các cán bộ, đảng viên và những người làm công tác lãnh đạo thì lời nói với việc làm lại càng quan trọng và cần thiết, vì cán bộ là gốc của mọi công việc, là những tấm gương để quần chúng noi theo. Trong đạo đức việc nêu gương là vô cùng cần thiết vì “… Một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”(4). Lời nói đi đôi với việc làm, nói được làm được, sẽ mang lại những hiệu quả lớn, được nhiều người hưởng ứng và làm theo. Để làm được điều đó, khi đề ra công việc tránh cách nói chung chung, đại khái và khó hiểu, cần phải cụ thể, thiết thực, từ nhỏ đến lớn, từ thấp đến cao, từ dễ đến khó. Ngược lại nói nhiều làm ít hoặc nói mà không làm thì sẽ chỉ mang lại những kết quả phản tác dụng. Nếu chính mình tham ô mà bảo người khác liêm khiết thì không được. Nếu rói rằng phải cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, mà bản thân mình lại lười biếng, không hoàn thành những công việc được giao, không tiết kiệm, sống hoang phí, xa hoa trong khi cuộc sống của đại đa số nhân dân còn nhiều thiếu thốn , luôn tìm cách tham ô tiền của Nhà nước và nhân dân… thì những lời nói đó sẽ không có tác dụng giáo dục.

Với trình độ giác ngộ và dân trí ngày càng cao, không phải cứ nghe cán bộ nói là quần chúng sẽ làm theo mà họ xem việc cán bộ làm. Bác Hồ đã chỉ ra rằng nhân dân chỉ quý mến những người có phẩm chất và tư cách đạo đức tốt, vì vậy muốn hướng dẫn họ thì mình phải làm mực thước “Cần phải óc nghĩ, mắt trông, tai nghe, chân đi, miệng nói, tay làm. Chứ không phải chỉ nói suông, chỉ ngồi viết mệnh lệnh… Phải thật thà nhúng tay vào việc”(5).

Mỗi người, mỗi ngành, mỗi giới, mỗi tầng lớp nhân dân đều có những công việc, nhiệm vụ, cách làm và trách nhiệm riêng. Do đó khi gặp các đồng chí lãnh đạo của từng ngành Bác đều chỉ ra cách làm sao cho thiết thực, nhanh, gọn và đạt hiệu quả cao. Với cán bộ và chiến sỹ trong lực lượng vũ trang, Bác căn dặn: “Các đồng chí cán bộ của Đảng ở các cấp phải cố gắng tiến bộ hơn, để lãnh đạo bộ đội. Từ việc lớn đến việc nhỏ, cán bộ đều phải làm kiểu mẫu. Giữ gìn kỷ luật, học tập kỹ thuật, luyện quân lập công, xung phong hãm trận, thân ái đoàn kết, nói tóm lại, mỗi việc trong bộ đội, cán bộ đều phải làm gương. Như thế thì quân đội ta sẽ là một quân đội vô địch, và kháng chiến nhất định thành công”(6).

Còn với công nhân, những người trực tiếp làm ra của cải vật chất cho xã hội, thì Bác nhắc: “Phải nâng cao kỷ luật lao động. Tình trạng muốn làm thì làm, không muốn làm thì thôi, nghỉ sớm, không ốm cũng cáo ốm để nghỉ, đều là thiếu kỷ luật lao động. Bộ đội không có kỷ luật, đánh giặc nhất định thua; nhà máy không có kỷ luật lao động, không phải là nhà máy tốt. Kỷ luật lao động không phải Bác đưa ra hay ở đâu đưa đến, mà chính là các cô, các chú bàn bạc, thông qua, tự giác thi hành. Thông qua rồi, ai không theo không được”(7). Các cán bộ cần phải đi sâu đi sát, kiểm tra đôn đốc kết quả của việc thực hiện những công việc đã đề ra, không thể làm theo lối quan liêu, như cách “Tỉnh gửi giấy về huyện, huyện gửi giấy về xã. Giấy không thể che rét cho trâu bò được”(8).

Lực lượng thanh niên, những chủ nhân tương lai của nước nhà, những người có vai trò rất lớn trong sự thịnh vượng hay suy yếu của đất nước, Bác đã chỉ ra cho họ những việc cần phải làm, những đức tính tự mình phải rèn luyện để có thể đảm đương được các trọng trách đó. Theo Bác mỗi thanh niên, nhất là mỗi cán bộ phải kiên quyết làm cho bằng được những điều sau đây:

a) Các sự hy sinh khó nhọc thì mình làm trước người ta,còn sự sung sướng thanh nhàn thì mình nhường người ta hưởng trước…
b) Các việc đáng làm, thì có khó mấy cũng cố chịu quyết làm cho kỳ được.
c) Ham làm những việc ích quốc lợi dân. Không ham địa vị và công danh phú quý.
d) Đem lòng chí công vô tư mà đối với người, đối với việc.
e) Quyết tâm làm gương về mặt: siêng năng, tiết kiệm, trong sạch.
f) Chớ kiêu ngạo, tự mãn, tự túc. Nói ít làm nhiều, thân ái đoàn kết”(9).

Năm 1959, khi nói chuyện với giáo viên tại lớp học chính trị về nhiệm vụ vẻ vang của các thầy cô giáo trong công tác giáo dục đào tạo thế hệ trẻ, Bác nhấn mạnh: “Giáo viên phải chú ý cả tài, cả đức, tài là văn hoá, chuyên môn, đức là chính trị. Muốn cho học sinh có đức thì giáo viên phải có đức.Ví như bảo học trò phải dậy sớm mà giáo viên thì trưa mới dậy. Cho nên thầy giáo, cô giáo phải gương mẫu, nhất là đối với trẻ con”(10).

Cả cuộc đời mình Bác rất quan tâm đến việc rèn luyện tư cách đạo đức, tác phong của các cán bộ, đảng viên, đến lời nói phải đi đôi với việc làm và bản thân Bác là một tấm gương sáng ngời về đạo đức cách mạng, về kiệm liêm chính để chúng ta học tập và noi theo.

Sinh thời Bác sống rất giản dị, từ lời nói đến việc làm, tác phong làm việc, từ cách ăn mặc cho đến những sinh hoạt hàng ngày, ngay cả khi Người đã là Chủ tịch nước. Tác phong giản dị ấy mang lại một sự gần gũi, một ấn tượng khó quên với những ai đã được gặp Bác dù chỉ một lần. Vì Bác của chúng ta cao mà không xa, mới mà không lạ, lớn mà không làm ra vĩ đại, toả sáng mà không choáng ngợp, gặp lần đầu mà như thân thuộc từ lâu, bình dị, khiêm nhường trong công việc và trong khi giao tiếp với mọi người.

Bác ăn mặc rất giản dị và tiết kiệm: “Chỉ có hai bộ áo quần ka-ki, một cái khăn tay vải to và hai đôi bít tất. Khi ở Pa-ri về, người ta thấy Hồ Chủ tịch mặc một bộ ka-ki đã vá. Có người yêu cầu Chủ tịch thay bộ áo quần khác. Chủ tịch đáp: “Nhiều đồng bào ta, nếu được bộ áo quần như thế này cũng là tốt lắm. Thế thì việc gì tôi phải thay”(11). Đôi dép cao su của Bác, bộ quần áo ka ki sờn Bác vẫn dùng hàng ngày, khi biết các đồng chí phục vụ định thay, Bác không đồng ý. Chiếc bút chì mòn vẹt Bác dùng để theo dõi tin tức trên báo. Những trang bản thảo được Bác viết ở mặt sau của những tờ tin tham khảo của VNTTX. Chiếc ô tô Bác đi công tác, đi thăm đồng báo chiến sỹ trong cả nước cũng chỉ là loại xe bình thường, Bác không dùng điều hoà nhiệt độ do các đồng chí cán bộ ngoại giao đang công tác ở ngoài biếu, mặc dù ngôi nhà Bác đang ở lúc đó (nhà 54, lúc này Bác chưa chuyển sang nhà sàn) rất nóng. Bác đề nghị chuyển chiếc điều hoà nhiệt độ ấy cho các đồng chí thương bệnh binh đang điều trị tại các Trại điều dưỡng hoặc Quân y viện. Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, trên Chiến khu Việt Bắc, Bác ở trong ngôi nhà sàn đơn sơ, giản dị và đến khi cách mạng thành công, trở về Thủ đô, Bác cũng chỉ ở trong ngôi nhà nhỏ của một người thợ điện, sau đó chuyển sang ở nhà sàn, chứ không ở ngôi nhà to, sang trọng của Toàn quyền Đông Dương. Bác dành ngôi nhà sang trọng đó làm nơi đón tiếp khách của Đảng và Nhà nước. Những bữa ăn thanh đạm của Người “Thường là dưa cà, đôi khi có thịt”.

Sự tiết kiệm của Bác không chỉ thể hiện ở tác phong hay lối sống mà còn thể hiện trong việc sử dụng đội ngũ cán bộ. Là Chủ tịch nước, nhưng những năm tháng sống trên Chiến khu Việt Bắc, đi theo Bác cũng chỉ là tổ công tác có ít người nhưng kiêm đủ mọi công việc. Cách mạng tháng Tám thành công, trở về Thủ đô, nhưng các đồng chí phục vụ Bác ở Phủ Chủ tịch cũng rất ít. Những khi đi công tác xa, Bác thường tạo điều kiện để các đồng chí phục vụ được về thăm gia đình, điều này thể hiện sự quan tâm của Bác và cũng là một hình thức tiết kiệm sức người, tiết kiệm thời gian. Bác luôn luôn đòi hỏi các cán bộ, đảng viên phải tin yêu, quý trọng con người, phải kính già yêu trẻ và Bác là tấm gương mẫu mực về tôn trọng con người. Với đồng bào, chiến sỹ cả nước và bạn bè quốc tế ở khắp năm châu Bác dành trọn vẹn những tình cảm thương yêu, tình đồng chí, tình bạn và tình người thân thiết. Bác đã từng khẳng định: Lòng thương yêu của tôi đối với nhân dân và nhân loại không bao giờ thay đổi.

Gần tám mươi năm trôi qua, bài giảng về tư cách một người cách mạng, về đạo đức cách mạng, về “Nói thì phải làm” của Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn còn nguyên giá trị. Trong kháng chiến cũng như trong công cuộc bảo vệ và xây dựng đất nước hôm nay, nhiều cán bộ, đảng viên, nhiều người đã làm tốt những lời Bác dạy, đã có rất nhiều tấm gương tiêu biểu về sự hy sinh, lòng nhân ái, về cần kiệm liêm chính, chí công vô tư… Đó là những con người luôn luôn đi đầu trong chiến đấu, lao động sản xuất và nghiên cứu khoa học. Họ đã biết mang đức và tài của mình ra để cống hiến cho đất nước ngày càng nhiều hơn về vật chất lẫn tinh thần. Song bên cạnh đó chúng ta cũng nhận thấy rằng còn có không ít những cán bộ, đảng viên, đặc biệt một số cán bộ có chức, có quyền vẫn chưa làm đúng những lời dạy của Bác. Nạn tham ô, tham nhũng, hối lộ, lãng phí, xa xỉ, quan liêu, công thần, cửa quyền… ngày càng nhiều. Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên sa sút về tư tưởng, chính trị và đạo đức, bị tha hoá về lối sống. Tình trạng đạo đức giả, nói mà không làm, nói nhiều làm ít, nói một đằng làm một nẻo, không phải là ít. Tình trạng đó đã gây nên sự giảm sút lòng tin và uy tín của Đảng và Nhà nước trong cán bộ, đảng viên và nhân dân.

Để có một xã hội ngày càng tốt đẹp, nhân dân thực sự được hưởng một cuộc sống ấm no, hạnh phúc, đất nước ngày càng mạnh giàu, hơn lúc nào hết lối sống mình vì mọi người, mọi người vì mình, phương châm và nguyên tắc sống “Nói thì phải làm” cần phải được thực hiện rộng rãi trong cán bộ, đảng viên và nhân dân. Làm đựơc như vậy là chúng ta đã làm tốt những điều mà lúc còn sống Bác Hồ luôn mong muốn và căn dặn./.

——————————-

1. Hồ Chí Minh Toàn tập, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000, t.2, tr.260.
2. Sdd, t.7, tr.568
3. Sdd, t.4, tr.161
4. Sdd, t.1, tr. 263
5. Sdd, t.5, tr. 699
6. Sdd, t.5, tr. 394
7. Sdd t.8, tr.341
8. Sdd, t.12, tr. 213
9. Sdd, t.5, tr.185-186.
10.Sdd, t.9, tr. 492
11. Trần Dân Tiên: Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1975; tr: 148.

Theo Tiến Linh, Baotanghochiminh.vn
Tâm Trang (st)

bqllang.gov.vn

Phong trào thi đua “Học tập và làm theo lời Bác” của tuổi trẻ Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh

Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh là đơn vị vinh dự được Đảng, Nhà nước, quân đội giao nhiệm vụ giữ gìn lâu dài và bảo vệ tuyệt đối an toàn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh, tổ chức Lễ viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh và tưởng niệm các AHLS tại Đài tưởng niệm Liệt sỹ Bắc Sơn. 33 năm đã trôi qua kể từ ngày đầu tiên mở cửa Lăng, các thế hệ cán bộ, công nhân viên, chiến sĩ đơn vị đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, xây dựng nên truyền thống “Trung hiếu vẹn toàn, đoàn kết hiệp đồng, tự lực tự cường, chủ động sáng tạo”. Thành tích đó có sự đóng góp không nhỏ của tuổi trẻ đơn vị.

Từ khi Đảng ta phát động Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, Đoàn thanh niên xác định đây là cơ hội rất lớn để tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền giáo dục truyền thống, lý tưởng cách mạng cho đoàn viên thanh niên, góp phần thực hiện tốt phong trào “Tuổi trẻ Việt Nam học tập và làm theo lời Bác” do Trung ương Đoàn phát động.

Với phương châm triển khai Cuộc vận động thiết thực, cụ thể, tránh phô trương hình thức, gắn với việc hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị, xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện, tuổi trẻ Bộ Tư lệnh đã thể hiện quyết tâm thực hiện Cuộc vận động, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ tích cực trong nhận thức và hành động. Bám sát vào hướng dẫn của trên, Đoàn Thanh niên Bộ Tư lệnh xác định tiến hành triển khai Cuộc vận động qua hai giai đoạn: Giai đoạn đầu từ tháng 4/2007 đến tháng 7/2007, các tổ chức Đoàn tập trung tổ chức học tập, nghiên cứu 2 chuyên đề về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh cho toàn thể cán bộ, đoàn viên. Giai đoạn tiếp theo là triển khai hành động, cán bộ đoàn viên làm theo lời Bác, trong đó tập trung gắn việc thực hiện 5điều Bác Hồ dạy thanh, thiếu niên với những công việc thường ngày của từng đoàn viên.

Là đơn vị trực tiếp làm nhiệm vụ tại Lăng, đây chính là yếu tố thuận lợi cơ bản nhất để Đoàn thanh niên triển khai các hoạt động giáo dục tuyên truyền về ý nghĩa, nội dung, yêu cầu của Cuộc vận động. Với phương châm không máy móc, dập khuôn và mang sắc thái của tuổi trẻ, nhiều tổ chức Đoàn trong đơn vị đã có những cách làm sáng tạo, đổi mới hình thức tuyên truyền giáo dục như: Chi đoàn Cơ quan Văn phòng với mô hình “ngày đọc sách thanh niên”; các chi đoàn của Đoàn cơ sở H75 phát huy tác dụng của “hộp sách, báo thao trường”, khai thác, sử dụng hiệu quả Phòng Hồ Chí Minh. Đã chủ động phối hợp với thư viện Quân đội tổ chức 1 buổi giới thiệu sách về Chủ tịch Hồ Chí Minh cho cán bộ, đoàn viên thanh niên. Ngoài ra, Đoàn thanh niên của BTL còn phối hợp chặt chẽ với tuổi trẻ các lực lượng trong cụm Di tích Lịch sử Văn hoá Ba Đình tổ chức cho đoàn viên thanh niên tham gia các hoạt động sinh hoạt chính trị, học tập, tham quan tại Lăng, khu Di tích Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch và Bảo tàng Hồ Chí Minh. Trong dịp kỷ niệm 117 năm ngày sinh của Bác, Đoàn thanh niên đơn vị đã phối hợp với Quận đoàn Ba Đình tổ chức cho cán bộ, đoàn viên giao lưu với các cán bộ lão thành cách mạng đã có thời gian làm việc bên Bác Hồ, được nghe những nhân chứng lịch sử kể lại những câu chuyện cảm động về tấm gương đạo đức của Bác. Thông qua các hoạt động giáo dục, tuyên truyền đó đã định hướng cho mỗi đoàn viên thanh niên, mọi suy nghĩ, hành động, việc làm đều gắn với tinh thần của Cuộc vận động.

Qua hơn một năm tổ chức thực hiện Cuộc vận động “Tuổi trẻ Việt Nam học tập và làm theo lời Bác” các tổ chức đoàn và đoàn viên thanh niên trong đơn vị đã sáng tạo triển khai nhiều cách làm bước đầu có hiệu quả. Đặc biệt, đoàn viên thanh niên là những nhân tố điển hình và tham gia tích cực vào Hội thi kể chuyện tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh ở cấp cơ sở và cấp Bộ Tư lệnh do Thường vụ Đảng uỷ Đoàn 969 tổ chức năm 2007. Nhân dịp kỷ niệm 118 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đoàn thanh niên Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng đã tổ chức Hội thi kể chuyện “Bác Hồ với thanh niên, thanh niên với Bác Hồ” từ cấp cơ sở đến cấp BTL. Đã có hàng chục lượt cán bộ, đoàn viên thanh niên trong đơn vị tham gia với những câu chuyện cảm động sâu sắc, thể hiện tình cảm của Bác Hồ, những lời dạy của Bác đối với thanh niên và những tấm gương thanh niên tiêu biểu xuất sắc thực hiện tốt lời Bác Hồ dạy.

Từ thực tế phong trào thi đua, đã xuất hiện nhiều điển hình tiên tiến và các tấm gương tiêu biểu, có thành tích xuất sắc trong thực hiện nhiệm vụ. Mô hình “Chi đoàn làm theo lời Bác” của Đoàn cơ sở H75 đã phát huy tốt hiệu quả. Các chi đoàn đã tổ chức quán triệt nội dung Cuộc vận động đến từng đoàn viên, tổ chức đăng ký quyết tâm thi đua trong từng phân đoàn, lấy đây làm căn cứ để đánh giá chất lượng đoàn viên. Trong thực hiện nhiệm vụ chính trị và công tác xây dựng đơn vị, đoàn viên phát huy tốt tinh thần trách nhiệm, chấp hành nghiêm kỷ luật quân đội, quy định của đơn vị; thực hiện nhiệm vụ nghi lễ quán triệt sâu sắc quan điểm đúng, đều, mạnh, đẹp, trang nghiêm trong thực hiện nhiệm vụ tiêu binh danh dự và nghi lễ chào cờ Quốc gia hàng ngày trước Lăng Bác; đón tiếp, phục vụ ân cần, chu đáo đồng bào và khách quốc tế tới viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh và tưởng niệm các Anh hùng Liệt sĩ. Xây dựng mô hình “Vọng gác thanh niên, ca gác, ca trực kiểu mẫu”.. . đã tạo ra sự chuyển biến tích cực, góp phần bảo đảm tuyệt đối an toàn an ninh khu vực Lăng Bác và tạo được ấn tượng về hình ảnh của người chiến sĩ tiêu binh bên Lăng Bác Hồ trong lòng đồng bào và du khách quốc tế.

Tháng 7 vừa qua, trong khi đang thực hiện nhiệm vụ tại khu vực Lăng, binh nhất Nguyễn Văn Phúc, đoàn viên thuộc Chi đoàn 4, Đoàn cơ sở H75 đã nhặt được một túi hành lý của khách đi viếng Bác đánh rơi, trong túi có tiền và một số hiện vật có giá trị, anh đã kịp thời báo cáo với chỉ huy đơn vị thông báo và trả lại người đánh mất. Việc làm của anh đã được chỉ huy đơn vị biểu dương và tổ chức Đoàn trong đơn vị lấy đó là tấm gương để mọi đoàn viên noi theo. Khi được hỏi vì sao anh lại có nghĩa cử cao đẹp như vậy, Phúc khiêm tốn trả lời: “Là người chiến sĩ cận vệ bên Lăng Bác, mình phải là những người gương mẫu học tập tấm gương đạo đức của Người. Ở vào hoàn cảnh của tôi, tất cả các đoàn viên trong đơn vị đều làm như vậy thôi”. Đó chỉ là một trong nhiều tấm gương tiêu biểu trong Cuộc vận động “Tuổi trẻ Việt Nam học tập và làm theo lời Bác” của đoàn viên thanh niên Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Đánh giá về kết quả thực hiện Cuộc vận động của tuổi trẻ Bộ Tư lệnh trong thời gian qua, Đại tá Đặng Nam Điền, Phó Chính uỷ Bộ Tư lệnh cho biết: “Thực hiện Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, tuổi trẻ Bộ Tư lệnh đã có nhiều hoạt động thiết thực cả nội dung và hình thức; góp phần xứng đáng vào việc hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị và xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện”

Để tiếp tục thực hiện Cuộc vận động có hiệu quả, trong thời gian tới, Đoàn thanh niên BTL Lăng xác định một số nhiệm vụ trọng tâm:

Một là: Tích cực cải tiến, đổi mới nội dung, hình thức nâng cao chất lượng hiệu quả công tác tuyên truyền giáo dục, làm cho mọi cán bộ, đoàn viên nhận thức đúng đắn, sâu sắc hơn về Cuộc vận động; tự giác, tích cực học tập, rèn luyện tu dưỡng theo lời dạy của Bác. Thực hiện tốt tiêu chuẩn đạo đức, lối sống của cán bộ, đoàn viên làm nhiệm vụ tại Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Xây dựng thành nề nếp, chế độ việc học tập và làm theo lời Bác Hồ dạy trong nội dung sinh hoạt Đoàn hàng tuần, tháng.

Hai là: Tiếp tục thực hiện hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị của đơn vị: đón tiếp, tuyên truyền, phát huy ý nghĩa chính trị của công trình Lăng góp phần cùng toàn Đảng, toàn dân và toàn quân thực hiện tốt Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” do Đảng ta phát động.

Ba là: Phát huy vai trò, trách nhiệm của Ban chấp hành Đoàn các cấp trong việc triển khai, kiểm tra, tổ chức thực hiện Cuộc vận động trong đoàn viên thanh niên; tích cực tham mưu với cấp uỷ, chỉ huy và Ban Chỉ đạo Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gưong đạo đức Hồ Chí Minh” của đơn vị để góp phần thực hiện có hiệu quả Cuộc vận động lớn này.

Học tập và làm theo lời Bác là việc làm thường xuyên, liên tục, lâu dài và có ý nghĩa quan trọng đối với tuổi trẻ cả nước nói chung và tuổi trẻ Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng nói riêng. Thực hiện có hiệu quả Cuộc vận động do Trung ương Đoàn phát động sẽ tạo động lực lớn, thúc đẩy phong trào hành động cách mạng của tuổi trẻ Việt Nam dành được những kết quả tốt, xây dựng một thế hệ trẻ vừa “hồng”, vừa “chuyên” như Bác Hồ căn dặn trong Di chúc của Người trước lúc đi xa: “… Bồi dưỡng đạo đức cách mạng cho đời sau là một việc làm rất quan trọng và cần thiết…”

Trần Duy Hưng

bqllang.gov.vn

Video clip được trích trong bản tin thời sự tổng hợp 19h ngày 28/9/2011 của đài truyền hình Thông tấn xã Việt Nam.

Clip nguồn: avnews.vnanet.vn

Vững bước trên con đường Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chọn

(VOV) – Vững bước trên con đường Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chọn để tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa- hiện đại hóa đất nước

Hội thảo khoa học “Chủ tịch Hồ Chí Minh– Hành trình tìm đường cứu nước” tổ chức sáng 31/5 tại TP HCM nhận được 133 tham luận khoa học. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng có bài tham luận “Vững bước trên con đường Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chọn tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa- hiện đại hóa đất nước”. VOV giới thiệu toàn văn bài tham luận.

Hôm nay, tại thành phố mang tên Bác, chúng ta long trọng tổ chức Hội thảo để kỷ niệm 100 năm ngày Người ra đi tìm đường cứu nước.

Tròn 100 năm trước, ngày 5/6/1911, từ bến cảng Nhà Rồng, Bác Hồ- lúc đó là người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành đã bắt đầu cuộc hành trình 30 năm (1911 – 1941) tìm con đường giải phóng dân tộc, giải phóng đất nước.

Vào thời điểm đó, không một ai biết rằng vận mệnh của dân tộc Việt Nam đã gắn liền với quyết định ra đi của một con người mà lịch sử đã chứng tỏ là sáng suốt phi thường ấy.

Trên suốt chặng đường bôn ba qua nhiều châu lục, cuộc sống lao động đầy gian khổ đã không làm Người chùn bước, trái lại, càng tôi luyện, hun đúc lòng yêu nước nồng nàn và mục tiêu giải phóng dân tộc kiên định, thôi thúc Người tranh thủ mọi cơ hội để học hỏi, nghiên cứu các học thuyết cách mạng, hòa mình vào thực tiễn đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động ở các nước tư bản và thuộc địa.

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trình bày tham luận tại hội thảo

Chính chủ nghĩa yêu nước cùng với những năm tháng tìm tòi không mệt mỏi về lý luận và hoạt động trong phong trào công nhân quốc tế đã dẫn dắt người thanh niên Việt Nam Nguyễn Tất Thành bất chấp mọi hiểm nguy, đến với chủ nghĩa Marx- Lenin, trở thành nhà hoạt động cách mạng quốc tế xuất sắc Nguyễn Ái Quốc.

Sớm nhận thức được xu thế phát triển của lịch sử và tính chất của thời đại mới mà Cách mạng tháng Mười Nga mở ra, Người đã khám phá ra chân lý “chỉ có chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ”.

Khi đọc bản Luận cương của Lenin về vấn đề dân tộc và thuộc địa, Người đã vui mừng reo lên “Đây là cái cần cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta”.

Người nhận thức sâu sắc rằng cách mạng giải phóng dân tộc muốn thắng lợi phải đi theo con đường cách mạng vô sản do Đảng của giai cấp công nhân lãnh đạo và con đường phát triển tất yếu của cách mạng giải phóng dân tộc là tiến lên cách mạng xã hội chủ nghĩa. Hoàn thành cách mạng giải phóng dân tộc là điều kiện tiên quyết để xây dựng chủ nghĩa xã hội. Ngược lại, chỉ có làm cách mạng xã hội chủ nghĩa mới giữ vững và phát huy được những thành quả của sự nghiệp giải phóng dân tộc.

Trong điều kiện cụ thể của Việt Nam, đó là con đường cách mạng dân tộc dân chủ do Đảng tiên phong của giai cấp công nhân lãnh đạo đánh đổ đế quốc, thực dân, giành độc lập dân tộc, thực hiện người cày có ruộng, sau đó tiến lên thực hiện cách mạng xã hội chủ nghĩa. Độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội là sự vận dụng sáng tạo học thuyết Marx- Lenin, thể hiện tính quy luật của sự phát triển lịch sử của xã hội Việt Nam, trở thành quan điểm xuyên suốt trong toàn bộ tư tưởng và sự nghiệp cách mạng của Nguyễn Ái Quốc- Hồ Chí Minh. Đó chính là Đường kách mệnh cho dân tộc ta mà Người đã chọn.

Dưới ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, trong suốt hơn 80 năm qua, cách mạng Việt Nam đã vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách, giành được những thắng lợi vĩ đại, có ý nghĩa lịch sử. Đó là thắng lợi của chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam dưới ngọn cờ tư tưởng Hồ Chí Minh.

II./. Ngay sau khi Cách mạng thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ “…nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”.

Người khẳng định “Đời sống nhân dân chỉ có thể thật dồi dào khi chúng ta dùng máy móc để sản xuất một cách thật rộng rãi, dùng máy móc trong công nghiệp và trong nông nghiệp… Đó là con đường phải đi của chúng ta. Con đường công nghiệp hóa nước nhà” và “công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa là mục tiêu phấn đấu chung, là con đường no ấm thật sự của nhân dân ta”.

Trong điều kiện cả nước phải dồn sức cho công cuộc giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, Ðảng ta đã kiên định con đường mà Người đã chọn– thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược: Hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ ở miền Nam và đưa miền Bắc quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Công nghiệp hóa, hiện đại hóa được xác định là nhiệm vụ trung tâm của cả thời kỳ quá độ.

Đại hội lần thứ III của Đảng năm 1960 đã đề ra đường lối tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội. Đại hội xác định “xây dựng một nền kinh tế xã hội chủ nghĩa cân đối và hiện đại kết hợp công nghiệp với nông nghiệp và lấy công nghiệp nặng làm nền tảng, ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý, đồng thời ra sức phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ, nhằm biến nước ta từ một nước nông nghiệp lạc hậu thành một nước có công nghiệp hiện đại và nông nghiệp hiện đại”.

Trong điều kiện chiến tranh, đất nước bị chia cắt, cơ chế kế hoạch hoá tập trung và chủ trương công nghiệp hoá thay thế nhập khẩu, ưu tiên công nghiệp nặng đã góp phần quan trọng trong việc huy động và tập trung nguồn lực cho công cuộc giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

Tuy nhiên, khi đất nước hoàn toàn độc lập, toàn cầu hoá kinh tế, hòa bình, hợp tác và phát triển trở thành những xu thế lớn của thời đại thì mô hình này trở nên lạc hậu, kém hiệu quả, kìm hãm sự phát triển.

Tại Đại hội lần thứ VI năm 1986, Đảng ta đã phát động công cuộc Đổi mới, phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, mở cửa thu hút đầu tư nước ngoài, tạo ra xung lực phát triển mới, đưa nước ta thoát khỏi tình trạng khủng hoảng kinh tế – xã hội, đi vào quỹ đạo tăng trưởng kinh tế và hội nhập quốc tế.

Đại hội lần thứ VIII của Đảng năm 1996 đề ra chủ trương đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước với mục tiêu phấn đấu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp, có cơ sở vật chất – kỹ thuật hiện đại, có cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được nâng cao, quốc phòng an ninh vững chắc, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh.

Qua 25 năm thực hiện đường lối Đổi mới, đất nước ta đã giành được những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử. Đặc biệt, trong mười năm thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế- xã hội 2001 – 2010, công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã đạt được những thành tựu rất quan trọng, duy trì tốc độ tăng trưởng bình quân 7,26%/năm, giá trị sản xuất công nghiệp tăng cao, đạt gần 15%/năm. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực; năng lực sản xuất và tiềm lực kinh tế của đất nước không ngừng tăng lên, tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2010 tăng gấp 3,26 lần năm 2000, góp phần đưa nền kinh tế vượt qua tác động nặng nề của khủng hoảng tài chính – tiền tệ châu Á (1997 – 1998) và khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu (2008 – 2009). Đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được cải thiện rõ rệt; hệ thống an sinh xã hội được coi trọng và từng bước mở rộng, công cuộc xóa đói giảm nghèo đạt được những thành tựu nổi bật, tỷ lệ hộ nghèo giảm 2 – 3%/năm; thu nhập thực tế bình quân theo đầu người tăng hơn 2 lần. Đến năm 2010 nước ta đã hoàn thành phần lớn các mục tiêu thiên niên kỷ mà Liên hiệp quốc đề ra cho năm 2015. Việt Nam đã ra khỏi tình trạng kém phát triển, bước vào nhóm nước có thu nhập trung bình.

III./. Chiến lược Phát triển kinh tế- xã hội 2011 – 2020 vừa được thông qua tại Đại hội lần thứ XI của Đảng, nhằm tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phấn đấu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại, đã đưa ra một hệ thống các quan điểm, mục tiêu và các giải pháp lớn, gắn kết với nhau hình thành một chỉnh thể phát triển. Tôi xin trình bày một số nội dung cốt lõi của Chiến lược được soi rọi bởi tư tưởng Hồ Chí Minh.

1. Phát triển nhanh gắn với phát triển bền vững, phát triển bền vững là yêu cầu xuyên suốt trong chiến lược

Khi xác định con đường phải đi là công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn “công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa phải tiến hành từng bước”, “Phải bảo đảm chất lượng– Không nên chỉ dốc sức vào số lượng nhưng không bảo đảm chất lượng, không tiết kiệm được nguyên liệu, vật liệu, không hạ được giá thành …”.

Người nhấn mạnh “Tiến nhanh, tiến mạnh không phải là phiêu lưu, làm ẩu. Phải thiết thực đi từng bước, phải tiến vững chắc. Phải nắm vững quy luật phát triển của cách mạng, phải tính toán cẩn thận những điều kiện cụ thể, những biện pháp cụ thể. Kế hoạch phải chắc chắn, cân đối. Chớ đem chủ quan của mình thay cho điều kiện thực tế”.

Như vậy, quan điểm phát triển bền vững đã được Hồ Chủ tịch và Đảng ta đặt ra từ rất sớm, nhưng trên thực tế quan điểm đó có lúc có nơi chưa được nhận thức đầy đủ và quán triệt sâu sắc trong hành động, vì vậy, kinh tế phát triển còn kém bền vững, chất lượng tăng trưởng, năng suất, hiệu quả, sức cạnh tranh thấp.

Đây là nguyên nhân sâu xa tác động tiêu cực đến ổn định kinh tế vĩ mô, làm giảm khả năng chống chịu của nền kinh tế nước ta trước những tác động từ bên ngoài trong một thế giới toàn cầu hóa và biến động không ngừng. Đó là khuyết điểm lớn mà chúng ta, trước hết là những người lãnh đạo, quản lý – những học trò của Hồ Chủ tịch phải nghiêm túc khắc phục. Phải quán triệt sâu sắc, kiên trì thực hiện tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đại hội XI về phát triển bền vững.

2. Tái cấu trúc nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng

Phát triển bền vững được đo bằng nhiều tiêu chí, bảo đảm sự gắn kết hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hoá, tiến bộ và công bằng xã hội, cải thiện đời sống nhân dân, bảo vệ môi trường.

Để phát triển bền vững, trước hết phải bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô – yếu tố quan trọng hàng đầu cho tăng trưởng bền vững; đồng thời, tăng trưởng bền vững sẽ tạo điều kiện để ổn định kinh tế vĩ mô vững chắc. Vì vậy, vấn đề không chỉ là tăng trưởng mà quan trọng hơn là cách thức tạo ra tăng trưởng. Trong thời kỳ chiến lược 2001-2010, tăng trưởng kinh tế của nước ta chủ yếu dựa vào tăng vốn đầu tư và nguồn lao động giá rẻ, chất lượng thấp. Điều này là khó tránh khỏi khi bắt đầu quá trình công nghiệp hóa. Khuyết điểm của chúng ta là duy trì quá lâu mô hình này. Đã đến lúc phải chuyển mạnh sang tăng trưởng theo chiều sâu dựa trên việc ứng dụng các thành tựu về khoa học công nghệ, nguồn nhân lực chất lượng cao và kỹ năng quản lý hiện đại nhằm tăng năng suất và hiệu quả sử dụng vốn, tạo ra nhiều sản phẩm có hàm lượng nội địa cao, giá trị gia tăng lớn, có sức cạnh tranh để có thể tham gia vào mạng sản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu. Đây là quá trình vừa tiệm tiến, vừa cách mạng. Tiệm tiến bởi không thể có ngay mọi điều kiện đáp ứng yêu cầu phát triển theo chiều sâu ở tất cả các lĩnh vực được lựa chọn; tiệm tiến cũng còn là sự tích lũy về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất. Cách mạng là để tận dụng được ưu thế của nước đi sau, thực hiện chiến lược tiến nhanh, bắt kịp ở những lĩnh vực mà khoa học công nghệ phát triển cao và chúng ta có điều kiện.

Trên tinh thần này, Chiến lược xác định “Chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ chủ yếu phát triển theo chiều rộng sang phát triển hợp lý giữa chiều rộng và chiều sâu, vừa mở rộng quy mô vừa chú trọng nâng cao chất lượng, hiệu quả, tính bền vững”.

Chuyển đổi mô hình tăng trưởng trước hết phải được triển khai trong các ngành công nghiệp và dịch vụ. Bởi lẽ đây là những ngành chiếm tỷ trọng lớn trong nền kinh tế, lại là những ngành có điều kiện chuyển đổi nhanh. Định hướng cơ bản là cơ cấu lại các ngành sản xuất công nghiệp cả về ngành, vùng và giá trị mới; phát triển mạnh công nghiệp hỗ trợ; ưu tiên phát triển các sản phẩm có khả năng cạnh tranh; phát triển phù hợp các ngành công nghiệp sử dụng nhiều lao động. Tập trung phát triển một số ngành dịch vụ có lợi thế, có hàm lượng tri thức và công nghệ cao; hình thành một số trung tâm dịch vụ, du lịch tầm cỡ khu vực và quốc tế; hiện đại hoá và mở rộng các dịch vụ giá trị gia tăng cao. Đồng thời, cần nhận thức sâu sắc hơn vai trò quan trọng và thế mạnh của nông nghiệp nước ta trong tiến trình công nghiệp hoá gắn với đô thị hoá để tập trung sức xây dựng một nền nông nghiệp đa chức năng; gắn phát triển nông nghiệp với xây dựng nông thôn mới và không ngừng nâng cao đời sống nông dân. Phải tìm tòi những mô hình tổ chức sản xuất phù hợp, có cơ chế để thực hiện mô hình ấy, hình thành những vùng sản xuất hàng hoá lớn làm cơ sở đưa công nghiệp tác động vào nông nghiệp, áp dụng những tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất, tạo ra nền nông nghiệp sạch, năng suất cao, chất lượng tốt; bảo đảm gắn kết chặt chẽ  giữa sản xuất, chế biến, lưu thông trong một chuỗi giá trị, phân phối lợi ích hợp lý giữa các công đoạn trong chuỗi giá trị đó. Đây chính là điều kiện để phát triển nền nông nghiệp bền vững, bảo đảm lợi ích của nông dân.

Tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong một thế giới mà toàn cầu hóa và liên kết kinh tế ngày càng sâu sắc, cạnh tranh kinh tế diễn ra rất quyết liệt, các mô hình công nghiệp hóa thay thế nhập khẩu hoặc hướng về xuất khẩu không còn nguyên ý nghĩa kinh điển của nó. Điều đó càng đòi hỏi chúng ta phải có tư duy toàn cầu và hành động quốc gia để có cách làm sáng tạo. Ở đây, một lần nữa tư tưởng Hồ Chí Minh về sự phát triển lại tỏa sáng. Trong quá trình tìm đến chân lý cách mạng, ngay từ năm 1924 Người đã nói “Dù sao thì cũng không thể cấm bổ sung “cơ sở lịch sử” của chủ nghĩa Marx bằng cách đưa thêm vào đó những tư liệu mà Marx ở thời mình không thể có được.

Marx đã xây dựng học thuyết của mình trên một triết lý nhất định của lịch sử, nhưng lịch sử nào? Lịch sử châu Âu. Mà châu Âu là gì? Đó chưa phải là toàn thể nhân loại”.

Tư tưởng đó của Người đòi hỏi chúng ta phải trên cơ sở những bài học lịch sử về tiến trình công nghiệp hóa mà các nước đi trước đã trải qua và những đặc điểm kinh tế của thời đại, chúng ta phải tìm ra cách đi phù hợp với những điều kiện cụ thể của nước ta. Không ai có thể nhìn rõ mọi vấn đề một lúc, nhất là trong bối cảnh thế giới biến đổi nhanh chóng và khó lường như thời đại hiện nay. Điều cốt yếu là phải bám sát sự vận động của thực tiễn và kịp thời điều chỉnh, mà thực tiễn thì luôn luôn cụ thể và sinh động. Lê-nin từng nói “Lấy trừu tượng mà thay thế cho cụ thể, đó là một trong những lỗi lầm lớn nhất và nguy hại nhất trong thời kỳ cách mạng”.

3. Phát huy nhân tố con người, coi con người là động lực, là mục tiêu của sự phát triển

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi trọng yếu tố con người, lấy dân làm gốc. Người nêu luận điểm nổi tiếng “Muốn xã hội chủ nghĩa phải có người xã hội chủ nghĩa” và “vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người”.

Thực tiễn khẳng định nguồn lực con người là yếu tố nội sinh năng động, là lợi thế cạnh tranh dài hạn của một quốc gia. Điều này đặc biệt đúng trong điều kiện khoa học công nghệ phát triển nhảy vọt trong thời đại chúng ta. Đây là nguyên lý cứng, là yếu tố bất biến trong một thế giới toàn cầu hoá và biến đổi không ngừng. Hơn nữa, mục tiêu của phát triển kinh tế là vì con người và cho con người.

Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 2011 – 2020 đã nêu rõ quan điểm “Phát huy tối đa nhân tố con người; con người là chủ thể, nguồn lực chủ yếu và là mục tiêu của phát triển”; và nhấn mạnh yêu cầu “nâng cao năng lực và tạo cơ chế để nhân dân thực hiện đầy đủ quyền làm chủ, nhất là dân chủ trực tiếp để phát huy mạnh mẽ mọi khả năng sáng tạo và bảo đảm sự đồng thuận cao trong xã hội, tạo động lực phát triển đất nước”; coi phát triển nguồn nhân lực là một trong ba đột phá chiến lược.

Thời gian càng lùi xa, chúng ta càng hiểu sâu sắc hơn vì sao trong điều kiện nước sôi lửa bỏng của những ngày đầu kháng chiến, Bác Hồ lại phát động phòng trào “chống giặc dốt” cùng với chống giặc đói và giặc ngoại xâm, càng thấy tầm nhìn rất chiến lược của Bác và càng bồi hồi xúc động nhớ lại lời căn dặn của Người trước khi vĩnh biệt chúng ta bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết. Thế hệ cách mạng cho đời sau chính là thế hệ thực hiện công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo con đường xã hội chủ nghĩa nhằm xây dựng đất nước ta “đàng hoàng hơn, to đẹp hơn” như Bác hằng mong muốn.

4. Nâng cao chất lượng thể chế, giải phóng mọi nguồn lực cho phát triển

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất coi trọng việc xây dựng hệ thống pháp luật và hoàn thiện thể chế. Người viết “trăm điều phải có thần linh pháp quyền”.

Ngay sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ, Người nêu nhiệm vụ cấp bách là “phải có một hiến pháp dân chủ” và chính Người đã chủ trì soạn thảo bản hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa – Hiến pháp năm 1946, đạo luật cơ bản, khuôn khổ thể chế quan trọng nhất của nhà nước ta.

Tư tưởng dân chủ, dân quyền của bản Hiến pháp này đến nay vẫn còn nguyên giá trị. Trong Di chúc Người viết Đảng phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và văn hoá, nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân. Chúng ta cần hiểu kế hoạch mà Bác viết ở đây với cái nghĩa sâu rộng của cụm từ này. Nó bao gồm chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển và một hệ thống thể chế, chính sách nhằm huy động nguồn lực cho sự phát triển đó.

Thực tiễn phát triển ở nhiều nước cho thấy thể chế chứ không phải tài nguyên thiên nhiên và vị trí địa kinh tế là yếu tố quyết định sự phát triển. Một hệ thống thể chế phù hợp, có chất lượng cao là điều kiện để huy động mọi tiềm năng sáng tạo của con người cho phát triển, và chính hệ thống đó lại tạo ra môi trường rèn luyện năng lực và bản lĩnh con người.

Chính vì vậy, Chiến lược xác định “hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, trọng tâm là tạo lập môi trường cạnh tranh bình đẳng và cải cách hành chính” là một đột phá. Thực hiện tốt đột phá chiến lược này là điều kiện cần để các chủ thể kinh doanh phát huy lợi thế so sánh sẵn có và không ngừng tạo ra lợi thế so sánh mới, biến lợi thế so sánh thành lợi thế cạnh tranh, tạo nên hiệu quả và sự phát triển bền vững.

5. Hoàn thiện bộ máy nhà nước, giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa nhà nước và thị trường

Mối quan hệ giữa Nhà nước và thị trường luôn là một trong những vấn đề trung tâm của các học thuyết kinh tế. Về mối quan hệ này, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng có những chỉ dẫn quý báu. Người nói “Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân” và “đem tài dân, sức dân, của dân làm lợi cho dân… Chính phủ chỉ giúp kế hoạch, cổ động”.Trong Thư gửi các giới công – thương Việt Nam ngày 13/10/1945, Bác viết “Trong lúc các giới khác trong quốc dân ra sức hoạt động để giành lấy nền độc lập hoàn toàn cho nước nhà thì giới Công- Thương phải hoạt động để xây dựng một nền kinh tế và tài chính vững vàng và thịnh vượng. Chính phủ nhân dân và tôi sẽ tận tâm giúp đỡ giới Công – Thương trong công cuộc kiến thiết này”. Như vậy, Bác đã xác định rõ mối quan hệ giữa Nhà nước và các chủ thể  kinh doanh trên thị trường, theo đó, giới doanh nghiệp và nhân dân đóng vai trò quyết định, nhà nước “giúp kế hoạch”, tạo môi trường và “tận tâm phục vụ” cho hoạt động kinh doanh của họ. Quán triệt tư tưởng đó của Người và từ các bài học của những cuộc khủng hoảng đã xảy ra trong thế kỷ 20 và thập niên đầu của thế kỷ 21, Đại hội XI của Đảng đã đề ra các định hướng cơ bản trong việc hoàn thiện bộ máy nhà nước, mối quan hệ giữa nhà nước với thị trường và khẳng định “Nhà nước quản lý điều hành nền kinh tế bằng pháp luật, quy hoạch, kế hoạch và các công cụ điều tiết trên cơ sở tôn trọng các quy luật thị trường. Tăng cường công tác giám sát, nhất là giám sát thị trường tài chính, chủ động điều tiết, giảm các tác động tiêu cực của thị trường, không phó mặc cho thị trường hoặc can thiệp làm sai lệch các quan hệ thị trường”.

Phải tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong việc xây dựng bộ máy nhà nước trong sạch, vững mạnh, hiệu lực hiệu quả, thực hiện tốt các chức năng và nhiệm vụ của mình, giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa nhà nước và thị trường, đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh và bền vững của đất nước.

IV./.Lịch sử có những sự trùng hợp thú vị. Từ thành phố này, Bác Hồ đã ra đi tìm đường cứu nước. Và thành phố này cũng là một nơi khởi phát mạnh mẽ những tìm tòi con đường đổi mới, đưa nước ta thoát ra khỏi khủng hoảng kinh tế xã hội vào cuối những năm 70, đầu những năm 80 của thế kỷ 20, dẫn đến quyết định lịch sử của Đại hội Đảng lần thứ VI.

Trong 25 năm qua, TP HCM luôn giữ được vai trò tiên phong trong tiến trình đổi mới theo đường lối của Đảng. Là trung tâm lớn về kinh tế, văn hoá, khoa học công nghệ, đầu mối giao lưu quốc tế, thực hiện Nghị quyết số 01 và Nghị quyết số 20 của Bộ Chính trị, Đảng bộ và quân dân thành phố đã phát huy truyền thống cách mạng kiên cường, phấn đấu bền bỉ, năng động, sáng tạo, vượt qua nhiều khó khăn thách thức, đạt được những thành tựu to lớn trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh, đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Trong 10 năm qua, tốc độ tăng trưởng kinh tế của thành phố luôn ở mức 2 con số, đạt bình quân 11,2%/năm, đóng góp khoảng 30% ngân sách Nhà nước, 20% GDP và 30% sản lượng công nghiệp của cả nước. TP HCM thực sự đóng vai trò đầu tàu trong phát triển kinh tế – xã hội của cả nước.

Bước vào thời kỳ phát triển mới, thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước trong bối cảnh toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế với những cơ hội và thách thức đan xen rất phức tạp, TP HCM cần phấn đấu với quyết tâm cao hơn nữa, năng động và sáng tạo hơn nữa. Tôi muốn nhấn mạnh rằng quá trình tái cấu trúc nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng, thường bắt đầu từ những địa bàn có chất lượng nguồn nhân lực cao, là trung tâm khoa học công nghệ, từ đó lan toả ra các địa bàn khác. Đây là vấn đề có tính quy luật. TP HCM cần nhận thức sâu sắc quy luật đó để phát huy tốt nhất lợi thế của mình, tiếp tục đi đầu trong sự nghiệp rất khó khăn nhưng cũng đầy hào khí cách mạng này. Cần hiểu đúng phương châm chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ chủ yếu theo chiều rộng sang kết hợp hợp lý giữa chiều rộng với chiều sâu, vừa mở rộng quy mô, nâng cao chất lượng hiệu quả và tính bền vững không phải được thực hiện dàn đều trên mọi địa bàn.

Với vị thế của TP HCM, Hà Nội và các trung tâm kinh tế lớn, phát triển theo chiều sâu phải là hướng đi chủ yếu. Cần tập trung phát triển các ngành công nghiệp công nghệ cao, thân thiện với môi trường, các dịch vụ có giá trị gia tăng lớn, xây dựng nền nông nghiệp sạch, đi đôi với đầu tư phát triển nhanh kết cấu hạ tầng và tăng cường chất lượng quản lý đô thị, tập trung giải quyết có hiệu quả những vấn đề xã hội bức xúc. Đồng thời, thành phố phải rất coi trọng đào tạo nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao để đi đầu trong việc chuyển đổi mô hình tăng trưởng và phát triển kinh tế tri thức. Từ đó, tạo tác động lan toả, góp phần thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu, chuyển đổi mô hình tăng trưởng ở cả khu vực phía nam và trong cả nước. Đây là sứ mệnh rất vẻ vang của Đảng bộ và quân dân thành phố mang tên Bác. Chúng ta tin tưởng rằng TP HCM sẽ phát huy truyền thống tốt đẹp, làm tốt hơn nữa vai trò tiên phong của mình trong tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

Chín năm sau khi rời Bến Nhà Rồng đi tìm đường cứu nước, Bác Hồ của chúng ta đã đến với Luận cương của Lenin về vấn đề dân tộc và thuộc điạ, bắt đầu quá trình hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về con đường cách mạng Việt Nam.

Là bậc Đại nhân, Đại trí, Đại dũng, trải qua “cuộc đời hoạt động oanh liệt, đầy gian khổ hy sinh, vô cùng cao thượng và phong phú, vô cùng trong sáng và đẹp đẽ”, tư tưởng đó không ngừng được Người bổ sung, phát triển đạt đến tầm cao minh triết, trở thành “tài sản tinh thần vô cùng to lớn và quý giá của Đảng và dân tộc ta.” Dưới ánh sáng của tư tưởng Hồ Chí Minh, lớp lớp thế hệ người Việt Nam đã vững bước theo con đường mà Người đã chọn. Đó là con đường của độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, con đường mang tầm nhìn vượt thời gian, đưa đất nước và dân tộc ta vượt qua biết bao khó khăn, thử thách, đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước, thực hiện công cuộc đổi mới, tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa, thoát khỏi tình trạng nước kém phát triển, từng bước tiến lên “sánh vai các cường quốc năm châu”, thực hiện dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Dưới sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, kết hợp sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và sức mạnh của thời đại, với sự quản lý điều hành có hiệu quả của Nhà nước và sự nỗ lực phấn đấu của toàn xã hội, chúng ta sẽ vững bước trên con đường Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chọn, tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, thực hiện thành công Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XI, đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Nhiệm vụ đặc biệt quan trọng trước mắt là toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta cần tập trung mọi nỗ lực để kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, duy trì sản xuất, bảo đảm an sinh xã hội, phấn đấu thực hiện thắng lợi Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội năm 2011./.

Nguyễn Tấn Dũng – Ủy viên Bộ Chính trị – Thủ tướng Chính phủ

vov.vn

Học và làm theo gương Bác là nhiệm vụ thường xuyên của các cấp uỷ, của mỗi cán bộ, đảng viên*

(ĐCSVN)Ngày 17/8, đồng chí Lê Hồng Anh, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư Trung ương Đảng đã tới dự và phát biểu khai mạc Hội nghị quán triệt, triển khai thực hiện Chỉ thị 03-CT/TW của Bộ Chính trị và Kế hoạch 03-KH/TW của Ban Bí thư về tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh (khu vực phía Bắc). Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam trân trọng giới thiệu toàn văn bài phát biểu.

Hôm nay, trong không khí cả nước chuẩn bị kỷ niệm 66 năm Cách mạng Tháng 8 và Quốc khánh 2/ 9, tôi rất vui mừng đến dự và khai mạc Hội nghị cán bộ chủ chốt các đảng ủy, đảng đoàn, ban cán sự đảng các bộ, ngành, đoàn thể Trung ương, các tỉnh ủy, thành ủy khu vực phía Bắc quán triệt, triển khai thực hiện Chỉ thị 03-CT/TW của Bộ Chính trị và Kế hoạch 03-KH/TW của Ban Bí thư về tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Thay mặt Bộ Chính trị, Ban Bí thư Trung ương Đảng, tôi xin gửi tới các đồng chí lời chúc sức khỏe, hạnh phúc và thành công.

Tư tưởng và đạo đức Hồ Chí Minh là kết tinh những truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta và tinh hoa văn hóa của nhân loại, là tài sản tinh thần vô giá của Đảng và nhân dân ta, là tấm gương sáng để mọi người Việt Nam học tập và noi theo. Trong những năm qua, thực hiện Nghị quyết Đại hội X của Đảng, Bộ Chính trị (khóa X) đã phát động Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” trong toàn Đảng và toàn xã hội. Cuộc vận động đã nhận được sự hưởng ứng, sự tham gia tích cực của đông đảo cán bộ, đảng viên và nhân dân, nhờ đó đã đạt được kết quả bước đầu quan trọng. Kết quả thực hiện Cuộc vận động đã khẳng định: việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh vừa có ý nghĩa cấp bách, trước mắt, vừa có ý nghĩa cơ bản, lâu dài đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta. Trên cơ sở đó, Đại hội XI của Đảng đã quyết định đưa việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh thành nhiệm vụ thường xuyên trong Đảng và xã hội.

Thực hiện Nghị quyết Đại hội, ngày 14/5/2011, Bộ Chính trị (khóa XI) đã ban hành Chỉ thị 03-CT/TW về “Tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Chỉ thị xác định rõ mục đích của việc tiếp tục đẩy mạnh học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh là: Phát huy kết quả đã đạt được, khắc phục những hạn chế trong việc thực hiện Cuộc vận động Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trong thời gian qua, tiếp tục làm cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân nhận thức sâu sắc những nội dung cơ bản và giá trị to lớn của tư tưởng, đạo đức và phong cách Hồ Chí Minh; tạo chuyển biến mạnh mẽ và sâu rộng hơn nữa về ý thức tu dưỡng, rèn luyện, nâng cao đạo đức cách mạng, đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, thực dụng, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và các tệ nạn tham nhũng, tiêu cực; góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XI của Đảng. Chỉ thị yêu cầu tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh phải trở thành nhiệm vụ thường xuyên, là trách nhiệm của các cấp ủy, tổ chức đảng, của mỗi cán bộ, đảng viên.

Để đạt được mục đích, yêu cầu đó, Bộ Chính trị yêu cầu cấp ủy đảng, trực tiếp là ban thường vụ cấp ủy, đồng chí bí thư cấp ủy phải trực tiếp chỉ đạo thực hiện, không thành lập ban chỉ đạo như trước đây. Ở Trung ương, chỉ đạo việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trong toàn Ðảng và xã hội là nhiệm vụ của Ban Bí thư Trung ương Ðảng và đồng chí Tổng Bí thư; trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo đòi hỏi phải đồng bộ, chặt chẽ, kết hợp việc tổ chức học tập, làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh với công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, các cuộc vận động và các phong trào đang triển khai trong Đảng và trong xã hội; kết hợp giữa xây và chống với đẩy mạnh thực hiện nhiệm vụ chính trị của từng ngành, địa phương, cơ quan, đơn vị, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XI của Đảng.

Căn cứ vào nội dung Chỉ thị của Bộ Chính trị, Ban Bí thư Trung ương đã ban hành Kế hoạch số 03-KH/TW, xác định các công việc cần thực hiện trong nhiệm kỳ khóa XI của Đảng, tập trung vào 8 nhóm công việc cụ thể:

Một là, tiếp tục tổ chức học tập tư tưởng và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, bao gồm cả việc học tập và làm theo tác phong, phong cách của Bác, thể hiện cụ thể trong công việc thường ngày, trong quan hệ với nhân dân, đồng chí, đồng nghiệp… Đặc biệt nhấn mạnh việc làm theo qua những hành vi thiết thực, cụ thể.

Hai là, tiếp tục xây dựng và tổ chức thực hiện những chuẩn mực đạo đức theo tư tưởng và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, phù hợp với đặc điểm hoạt động của từng ngành, từng địa phương, cơ quan, đơn vị trong giai đoạn hiện nay.

Ba là, quy định rõ trách nhiệm tự giác đi đầu, gương mẫu của cán bộ lãnh đạo chủ chốt, người đứng đầu các cấp, của cán bộ, đảng viên. Xây dựng cơ chế kiểm tra, giám sát của tổ chức đảng và nhân dân đối với việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức của cán bộ, đảng viên.

Bốn là, đưa việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh vào sinh hoạt thường xuyên của tổ chức đảng, chính quyền, đoàn thể. Xây dựng và tổ chức thực hiện tốt chương trình hành động của tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị; chương trình tu dưỡng, rèn luyện của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức. Lấy kết quả học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh là một trong những tiêu chuẩn đánh giá, bình xét, phân loại đảng viên, tổ chức đảng hằng năm.

Năm là, tiếp tục chỉ đạo việc biên soạn chương trình, giáo trình về đạo đức Hồ Chí Minh để giảng dạy ở các cấp học, bậc học thuộc hệ thống giáo dục quốc dân và đào tạo, bồi dưỡng cán bộ ở các học viện, trường chính trị, trường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ các cấp.

Sáu là, coi trọng việc giáo dục đạo đức, lối sống cho thế hệ trẻ. Cấp ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và đoàn thể các cấp có biện pháp cụ thể để tổ chức, chỉ đạo thực hiện tốt việc giáo dục đạo đức, lối sống cho thế hệ trẻ theo tấm gương đạo đức Bác Hồ.

Bảy là, định kỳ tổ chức kiểm tra, đôn đốc, sơ kết, tổng kết, phát hiện và biểu dương các điển hình tiên tiến trong học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Phê bình, uốn nắn các nhận thức lệch lạc, những việc làm thiếu gương mẫu, nói không đi đôi với làm. Đấu tranh với các quan điểm sai trái, các biểu hiện quan liêu, tham nhũng, lãng phí.

Tám là, tiếp tục đẩy mạnh việc tuyên truyền về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, về các điển hình tiên tiến trong học tập và làm theo tấm gương đạo đức Bác Hồ bằng nhiều hình thức phong phú và sinh động.

Ban Tuyên giáo Trung ương, cơ quan được Bộ Chính trị giao là thường trực thực hiện nhiệm vụ này, đã ban hành hướng dẫn số 12- HD/BTGTW để triển khai thực hiện Chỉ thị của Bộ Chính trị, Kế hoạch của Ban Bí thư. Sau đây, lãnh đạo Ban Tuyên giáo Trung ương sẽ trình bày cụ thể hơn với Hội nghị về những nội dung quan trọng của các văn bản, cũng như hướng dẫn về việc tổ chức triển khai thực hiện Chỉ thị của Bộ Chính trị, Kế hoạch của Ban Bí thư.

Thực hiện thắng lợi Chỉ thị của Bộ Chính trị, để đưa việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trở thành công việc thường xuyên trong Đảng và xã hội, có vai trò và tác động lớn trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta, trực tiếp góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XI của Đảng trong những năm tới. Nhằm tạo sự thống nhất về nhận thức và triển khai thực hiện có kết quả Chỉ thị của Bộ Chính trị, Ban Bí thư tổ chức Hội nghị cán bộ chủ chốt các cơ quan, tổ chức đảng trực thuộc Trung ương để quán triệt và triển khai thực hiện, chia làm hai khu vực. Hội nghị khu vực phía Nam đã tổ chức ngày 12/8/2011 tại Thành phố Hồ Chí Minh. Hội nghị của chúng ta hôm nay là Hội nghị thứ hai dành cho các tỉnh, thành phố khu vực phía Bắc và các đảng ủy, đảng đoàn, ban cán sự đảng các bộ, ngành, Mặt trận, đoàn thể ở Trung ương.

Để hội nghị có kết quả thiết thực, tôi đề nghị các đồng chí nghiên cứu, quán triệt kỹ mục đích, yêu cầu và các nội dung cơ bản trong Chỉ thị của Bộ Chính trị và Kế hoạch thực hiện của Ban Bí thư; trao đổi, thảo luận về trách nhiệm của Ban cán sự đảng, đảng đoàn, thường vụ cấp ủy các cấp trong thực hiện Chỉ thị của Bộ Chính trị, Kế hoạch của Ban Bí thư; các nhiệm vụ, phương thức chủ yếu để triển khai Chỉ thị có hiệu quả; góp phần nâng cao nhận thức, củng cố niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân trong học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.

Tôi tin rằng, với nhận thức sâu sắc về ý nghĩa, tầm quan trọng của việc “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, với trách nhiệm trước Đảng và nhân dân, nhất định Chỉ thị của Bộ Chính trị, Kế hoạch của Ban Bí thư sẽ được các cấp ủy, tổ chức Đảng thực hiện có kết quả tốt./.

——————–
* Đầu đề do Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam đặt

cpv.org.vn

Bác Hồ với thương binh, liệt sĩ

Suốt 24 năm trên cương vị người đứng đầu nhà nước, trực tiếp lãnh đạo hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, Chủ tịch Hồ Chí Minh dành sự quan tâm đặc biệt đến thương binh, liệt sĩ là những người cống hiến xương máu, hy sinh tính mạng để bảo vệ độc lập, tự do cho Tổ quốc, hạnh phúc của nhân dân.

Từ sau Cách mạng Tháng Tám đến khi Người đi xa, hầu như năm nào Bác cũng gửi thư, tặng quà tới thương binh và gia đình liệt sĩ. Trong giáo dục lòng yêu nước, Bác Hồ thường căn dặn cán bộ, đảng viên, các tầng lớp nhân dân, nhất là thế hệ trẻ “ăn quả phải nhớ người trồng cây”, phải chăm lo đền ơn thương binh, liệt sĩ, những người bỏ thân vì nước và đồng bào, máu đào của các liệt sĩ ấy đã làm cho lá cờ cách mạng thêm đỏ chói. Sự hy sinh của các liệt sĩ đã chuẩn bị cho đất nước nở hoa độc lập, kết quả tự do.

Dù bận nhiều công việc, Bác Hồ vẫn dành cho thương binh, bệnh binh những tình cảm yêu thương, quý trọng sâu nặng. Trong kháng chiến, sau các chiến dịch, chỉ đạo việc quân, Bác Hồ thường quan tâm chăm sóc thương, bệnh binh. Đến các nơi chữa bệnh, nuôi dưỡng thương binh, Người ân cần thăm hỏi, tặng quà từ tiền tiết kiệm và đồ dùng của mình để thêm phần chăm sóc cho thương binh. Bác nêu gương, biểu dương, khuyến khích, tặng huy hiệu của Người cho những thương binh khắc phục đau yếu, thương tật “tàn nhưng không phế” có nghị lực vươn lên trong cuộc sống và động viên anh, chị em thương binh tuy đã suy giảm sức khoẻ mà vẫn cố gắng học tập, làm việc, cống hiến cho xã hội. Người còn căn dặn thương, bệnh binh phải khiêm nhường, biết ơn sự săn sóc của đồng bào, không được ra vẻ công thần, cần cố gắng tự lực, cánh sinh…

Cảm động biết bao, trước khi “từ biệt thế giới này”, tháng 5 năm 1968, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết thêm mấy điểm vào bản Di chúc lịch sử. Trong mấy điểm ấy, Người căn dặn toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta: Ngay sau khi cuộc chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta đã hoàn toàn thắng lợi, công việc đầu tiên đối với con người là chăm lo cho thương binh và những người có công trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước. Nội dung của những việc này là phần chủ yếu, quan trọng trong tư tưởng Hồ Chí Minh về người có công mà Người đã “viết thêm” vào Di chúc, tuy “không đi sâu vào chi tiết” nhưng rất sâu sắc, thể hiện đạo lý, truyền thống nhân văn cao cả của dân tộc “uống nước nhớ nguồn”.

60 năm qua, kể từ khi Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ thị chọn “Ngày thương  binh” và 32 năm cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước thắng lợi hoàn toàn, toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta ra sức thực hiện tư tưởng Hồ Chí Minh, gắng sức đền ơn, đáp nghĩa người có công với nước. Các chính sách, chỉ thị, pháp lệnh của Đảng và Nhà nước về chăm sóc thương binh, gia đình liệt sĩ, người có công đã phát huy cao độ truyền thống “uống nước nhớ nguồn”, lòng yêu nước của đồng bào cả nước và làm nảy nở ở các địa phương, các ngành, các đơn vị, nhiều phong trào đền ơn đáp nghĩa người có công, làm xúc động tâm can đồng chí, đồng bào. Từ năm 1994, khi Nhà nước ban hành Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng, quỹ đền ơn đáp nghĩa ra đời, số tiền do nhân dân đóng góp đến nay lên đến hơn 1000 tỷ đồng. Các bà mẹ Việt Nam Anh hùng còn sống được nhận phụng dưỡng suốt đời. Hàng trăm nghìn ngôi nhà tình nghĩa được xây mới. Nhiều phong trào có ý nghĩa thiêng liêng, thể hiện tình cảm biết ơn vô hạn của toàn dân, toàn quân ta với các thương binh như tặng sổ tiết kiệm, vườn cây “đền ơn đáp nghĩa”. Nhiều việc hiếu nghĩa được tiếp tục đẩy mạnh như tìm mộ liệt sĩ, nhiều cựu chiến binh trở lại chiến trường xưa để đi tìm đồng đội; quy tập hài cốt liệt sĩ, xây đài tưởng niệm, chăm sóc các nghĩa trang liệt sĩ, xây mộ, dựng bia, tu bổ, tổ chức các sinh hoạt giáo dục thế hệ trẻ tại các nghĩa trang Quảng Trị, Trường Sơn, Bến Dược, Củ Chi… Đúng như Đại hội X của Đảng tổng kết: Các phong trào đền ơn đáp nghĩa, chăm sóc người có công, Bà mẹ Việt Nam Anh hùng, thương binh, gia đình liệt sĩ… thu hút sự tham gia rộng rãi của các tầng lớp nhân dân đã góp phần quan trọng nuôi dưỡng, chăm sóc các Bà mẹ Việt Nam Anh hùng, xây dựng hàng chục nghìn ngôi nhà tình nghĩa, đỡ đần các nạn nhân chất độc da cam, con liệt sĩ, thương binh…

Sau hơn 20 năm đổi mới, nước ta vẫn còn là nước nghèo, dù cố gắng rất lớn thực hiện chính sách và pháp lệnh người có công, song trên cả nước vẫn còn  khoảng 55 nghìn hộ gia đình chính sách đang sống trong những ngôi nhà tranh tre nứa lá (gọi là nhà tạm) và cùng với nơi ở tạm bợ, đời sống hàng ngày của nhiều hộ gia đình chính sách, nhất là ở các vùng căn cứ kháng chiến, vùng sâu, vùng cao, vùng xa còn rất nhiều khó khăn, vất vả, cả đời sống vật chất và đời sống văn hóa. Chương trình hành động của Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội  hướng tới kỷ niệm 60 năm Ngày thương binh, liệt sĩ được cả nước hưởng ứng góp phần cải thiện một bước quan trọng đời sống người có công trong cả nước, phấn đấu không còn hộ chính sách nghèo, 95% số gia đình  chính sách có mức sống bằng hoặc cao hơn mức sống trung bình của người dân ở khu dân cư. Thực hiện mục tiêu này, cao hơn trách nhiệm, nghĩa vụ là tinh thần “đền ơn, đáp nghĩa” của toàn Đảng, toàn dân, của cả hệ thống chính trị, các tổ chức kinh tế, xã hội với tấm lòng tri ân những thương binh, liệt sĩ đã không tiếc xương máu bảo vệ độc lập, tự do, hoà bình và hạnh phúc cho nhân dân.

Phạm Văn Khánh

baobacgiang.com.vn

Thường xuyên Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh

Bác Hồ mãi mãi là tấm gương cho thế hệ thanh thiếu niên Việt Nam học tập và noi theo ( Nguồn: Ảnh tư liệu)

Hơn bốn năm qua, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo thường xuyên, chặt chẽ của các cấp ủy, tổ chức đảng, Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” đã được triển khai sâu rộng trong hệ thống chính trị và toàn xã hội, làm cho toàn Ðảng, toàn dân nhận thức sâu sắc hơn về những nội dung cơ bản và giá trị to lớn của tư tưởng và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.

Cống hiến trọn đời mình cho lý tưởng cao cả: Giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người, Chủ tịch Hồ Chí Minh là biểu tượng trọn vẹn cho ý chí kiên cường, bất khuất của dân tộc ta suốt hàng nghìn năm lịch sử. Người là hiện thân của khối đoàn kết toàn Ðảng, toàn dân tộc, đoàn kết quốc tế. Tư tưởng và tấm gương đạo đức của Người mãi mãi ngời sáng ý chí cách mạng kiên cường, tinh thần độc lập, tự chủ, lòng yêu nước, yêu nhân dân thắm thiết; sáng ngời phẩm chất cách mạng: hết lòng hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân; suốt đời cần, kiệm, liêm chính, chí công vô tư. Tấm gương đạo đức của Người là sự kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam, tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhân loại. Thực hiện cuộc vận động lớn, chúng ta đã tạo được những chuyển biến về nhận thức và ý thức rèn luyện, tu dưỡng đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên và nhân dân, góp phần vào công tác xây dựng, chỉnh đốn Ðảng, thực hiện thắng lợi Nghị quyết Ðại hội X của Ðảng. Tuy nhiên như Báo cáo Chính trị của BCH T.Ư Ðảng khóa X tại Ðại hội lần thứ XI của Ðảng đã chỉ rõ: ‘Cuộc vận động Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh chưa thực sự đi vào chiều sâu, ở một số nơi còn mang tính hình thức, hiệu quả chưa cao, làm theo chưa đạt yêu cầu’.

Ngày 14-5 vừa qua, Bộ Chính trị đã ban hành Chỉ thị số 03-CT/T.Ư về tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Chỉ thị nhấn mạnh, việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Người là rất quan trọng và cần thiết, chẳng những đáp ứng yêu cầu cấp bách trước mắt, mà còn có ý nghĩa cơ bản, lâu dài đối với sự nghiệp cách mạng của Ðảng và nhân dân ta.

Ðể đưa việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh thành nền nếp thường xuyên đạt hiệu quả ngày càng cao, đòi hỏi cấp ủy đảng các cấp, trực tiếp là ban thường vụ cấp ủy, đồng chí bí thư cấp ủy cần tập trung lãnh đạo, chỉ đạo việc quán triệt sâu sắc, đầy đủ và tổ chức thực hiện nghiêm túc Chỉ thị của Bộ Chính trị về học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh theo đúng Kế hoạch số 03-KH/T.Ư ngày 1-7-2011 của Ban Bí thư về triển khai thực hiện Chỉ thị số 03-CT/T.Ư ngày 14-5-2011 của Bộ Chính trị từ nay đến năm 2015. Trong bối cảnh của tình hình và nhiệm vụ mới, chúng ta quyết tâm làm cho toàn Ðảng, toàn dân và toàn quân ta nhận thức sâu sắc những nội dung cơ bản và giá trị to lớn của tư tưởng, đạo đức và phong cách Hồ Chí Minh; tạo sự chuyển biến sâu sắc hơn nữa ý thức tu dưỡng, rèn luyện nâng cao đạo đức cách mạng, đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, cơ hội thực dụng, đẩy lùi suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống và các tệ nạn tham nhũng, tiêu cực, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Ðại hội XI của Ðảng. Phải coi việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Người là việc làm hằng ngày, là trách nhiệm và là lợi ích thiết thân của mọi cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân; gắn kết chặt chẽ với công tác xây dựng, chỉnh đốn Ðảng, các cuộc vận động đang triển khai; các phong trào thi đua yêu nước; tạo nên động lực thúc đẩy việc hoàn thành nhiệm vụ chính trị ở từng địa phương, đơn vị. Ðây là công việc đòi hỏi ý thức tự tu dưỡng tự rèn luyện của từng người. Cán bộ, đảng viên giữ chức vụ càng cao, càng phải gương mẫu cho cấp dưới và các tầng lớp nhân dân học theo, noi theo, kể cả tác phong, phong cách công tác lãnh đạo, chỉ đạo.

Ðiều quan trọng có ý nghĩa quyết định là phải xây dựng cho được những chuẩn mực đạo đức theo tư tưởng và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh phù hợp thực tiễn hoạt động của từng ngành nghề, cơ quan, đơn vị, phù hợp từng đối tượng; theo phương châm: dễ hiểu, dễ nhớ, dễ vận dụng. Xây dựng và thực hiện nghiêm túc các quy định, quy chế về trách nhiệm tự giác gương mẫu của cán bộ chủ chốt, người đứng đầu cơ quan, đơn vị; quy định về đưa việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Bác Hồ vào sinh hoạt thường xuyên của tổ chức đảng, chính quyền, đoàn thể và nhân dân. Tiếp tục xây dựng và thực hiện chương trình giảng dạy và học tập tư tưởng, tấm gương đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh cho học sinh, sinh viên, cán bộ, đảng viên. Cùng với đó là các quy định, quy chế kiểm tra, giám sát đồng bộ, chặt chẽ của cấp ủy đảng, chính quyền và đoàn thể để việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh là nhiệm vụ hằng ngày, thường xuyên, tiến tới trở thành nhu cầu tự thân của từng tập thể và cá nhân, nhất là đội ngũ cán bộ, đảng viên.

Ðội ngũ những người làm văn học, nghệ thuật, báo chí cần tiếp tục sáng tạo nhiều hơn nữa những tác phẩm có giá trị tư tưởng và nghệ thuật cao về tư tưởng đạo đức và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh; động viên, cổ vũ, tôn vinh những tập thể, cá nhân kiên trì, bền bỉ học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Người.

Tư tưởng Hồ Chí Minh mãi mãi soi đường cho chúng ta đi tới tương lai tươi sáng! Ðạo đức của Người là tấm gương để chúng ta suốt đời học tập và làm theo!

(Theo báo Nhân dân)

cpv.org.vn

Ra sức học tập và làm theo đạo đức, phong cách báo chí Hồ Chí Minh

Chủ tịch Hồ Chí Minh (Ảnh tư liệu)

(ĐCSVN) – Chủ tịch Hồ Chí Minh là lãnh tụ thiên tài của cách mạng Việt Nam và là nhà báo cách mạng vĩ đại. Suốt đời Bác tận tụy, hết lòng, hết sức phục vụ cách mạng, phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, những người làm báo cần ra sức làm theo tinh thần, trách nhiệm phục vụ nhân dân và học tập phong cách báo chí của Người.Nhà báo lỗi lạc Hồ Chí Minh

Trong cuộc đời hoạt động cách mạng, Hồ Chí Minh có 50 năm viết báo, làm báo. Điều đặc biệt có ý nghĩa là Bác Hồ đã khởi đầu xây dựng sự nghiệp báo chí cách mạng Việt Nam ngay khi tìm thấy con đường giải phóng dân tộc, dùng báo chí để tuyên truyền cách mạng. Sự kiện ấy đã xảy ra cách nay 86 năm, Người đã sáng lập Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên và xuất bản tờ Thanh Niên làm công cụ tuyên truyền chủ nghĩa Mác – Lênin, giác ngộ những người yêu nước, dẫn dắt họ trong cuộc đấu tranh cách mạng để giành độc lập cho dân tộc, tự do cho nhân dân. Báo Thanh Niên là tờ báo cách mạng đầu tiên do Bác Hồ sáng lập và làm chủ bút đã làm tròn sứ mệnh là chuẩn bị về lý luận, tổ chức, tập hợp những lực lượng yêu nước và cách mạng tiến tới thành lập Đảng Cộng sản Việt nam.

Những người làm báo Việt Nam thật vinh dự và tự hào có Chủ tịch Hồ Chí Minh là một nhà báo cách mạng vĩ đại và là người thầy của báo chí cách mạng.

Sự nghiệp cách mạng và cuộc đời hoạt động cách mạng của Bác Hồ luôn gắn với báo chí. Sinh thời Bác từng nói, Người có duyên nợ với báo chí. Ngay từ những năm tháng gian khó của cuộc hành trình tìm đường cứu nước ở nước ngoài, Bác Hồ học viết báo, học làm báo để vừa kiếm sống vừa tuyên truyền cách mạng, giác ngộ quần chúng, tố cáo tội ác của chủ nghĩa thực dân. Từ năm 1941, ngay khi về nước trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng, Bác đã trực tiếp sáng lập các tờ báo và viết báo để tổ chức và giáo dục cán bộ, đảng viên, nhân dân làm cách mạng giải phóng dân tộc, mà đỉnh cao là Cách mạng tháng Tám năm 1945. Khi Đảng có chính quyền, Bác viết báo phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân, tổ chức và giáo dục cán bộ, đảng viên, nhân dân kháng chiến, kiến quốc…Bác viết báo để phát động các phong trào thi đua yêu nước, phong trào Tết trồng cây, thực hành tiết kiệm, chống tham ô lãng phí, sửa đổi lối làm việc của Đảng và chính quyền, nâng cao đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân, chăm sóc thiếu niên nhi đồng…Tất cả các bài báo của Bác luôn gắn với các phong trào cách mạng, gắn với nhân dân vì nhân dân. Đã có lần Bác nói với các nhà báo rằng, đề tài viết báo của Bác là tuyên truyền độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, với ham muốn tột bậc của Người là làm cho nước ta được độc lập, dân ta được tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành. Bác đã dùng báo chí làm phương tiện đấu tranh cách mạng và phục vụ nhân dân, đoàn kết nhân dân và nhân loại để giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng con người. Là người từng trải nghiệm công việc làm báo, Bác truyền lại cho các thế hệ những người làm báo Việt Nam nhiều bài học kinh nghiệm quý giá. Người thường dạy, báo chí là một nghề, cho nên người làm báo cách mạng cần được bồi dưỡng lập trường cách mạng vững vàng, thường xuyên rèn luyện đạo đức, được đào tạo nghề nghiệp tinh thông, biết ngoại ngữ…Những người làm báo cần ra sức trau đồi kiến thức, học tập lý luận, lăn lộn trong thực tiễn và gắn bó với nhân dân. Bác nói với các nhà báo mà như tâm tình với bạn đồng nghiệp: Nếu các bạn viết báo mà quần chúng hiểu, quần chúng ham đọc, quần chúng khen hay – thế là các bạn tiến bộ. Trái lại – là các bạn chưa thành công .

Học tập đạo đức, phong cách làm báo của Bác

Đạo đức và sự nghiệp báo chí của Bác là tài sản tinh thần quý giá của Đảng và của nhân dân. Đội ngũ những người làm báo có vinh dự và trách nhiệm lớn được kế thừa và phát triển tài sản, sự nghiệp báo chí của Bác. Học tập và làm theo Bác, những người làm báo cần ra sức nghiên cứu đường lối chính sách của Đảng, luật pháp của nhà nước, đi sát cuộc sống của nhân dân, không ngừng tu dưỡng, rèn luyện để nâng cao đạo đức và chuyên môn, tinh thông nghề nghiệp, tận tụy phục vụ nhân dân, góp phần tích cực trong công cuộc đổi mới, trong cuộc đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, thực hành tiết kiệm… xứng đáng với chỉ dạy của chủ tịch Hồ Chí Minh: nhà báo là chiến sĩ trên mặt trận văn hoá, cây bút, trang giấy là vũ khí trong đấu tranh phò chính, trừ tà, phục vụ lợi ích cách mạng, phục vụ nhân dân.

Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, những người làm báo cần ra sức làm theo tinh thần và trách nhiệm phục vụ nhân dân của Người. Trước tiên là quan điểm làm báo của Bác “mục đích viết làm gì? Viết cho ai xem?” . Quan điểm báo chí phục vụ nhân dân của Chủ tịch Hồ Chí Minh cần thấm nhuần trong từng trang viết, từng bài báo, từng tin, từng ảnh, không chạy theo thị hiếu tầm thường và tránh thương mại hoá . Vì lợi ích của nhân dân, lợi ích của đất nước, những người làm báo cần suy tư, trăn trở để làm cho các ấn phẩm báo chí đáp ứng tốt nhất nhu cầu thông tin, định hướng dư luận, động viên khích lệ các tầng lớp nhân dân hăng hái sản xuất, kinh doanh, phát triển kinh tế, văn hoá, đảm bảo an sinh xã hội, xây dựng đời sống văn hoá, bảo vệ toàn vẹn chủ quyền Tổ quốc. Đồng thời, các cơ quan báo chí cũng cần có những bộ phận tiếp nhận những ý kiến đóng góp ý kiến của các tầng lớp nhân dân để tờ báo, tạp chí thật sự là diễn đàn của nhân dân, tiếp thu sự phê bình của nhân dân, làm cầu nối Đảng với nhân dân, chính quyền với nhân dân.

Báo chí hiện nay cần học Bác trong việc tuyên truyền người tốt viêc tốt góp phần giáo dục toàn dân, chăm lo xây dựng con người mới , phát triển nguồn nhân lực trong tiến trình CNH,HĐH đất nước. Thông qua tuyên truyền người tốt việc tốt, báo chí cần tham gia tích cực vào sự nghiệp trồng người, nhất là đối với cán bộ, đảng viên thì đấy còn là cách giáo dục lẫn nhau có tác dụng thiết thực như Bác dạy. Như có lần nói chuyện về làm và xuất bản sách “người tốt, việc tốt”, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: Làm cán bộ tức là suốt đời làm đày tớ trung thành của nhân dân. Mấy chữ a, b, c này không phải ai cũng thuộc đâu, phải học mãi, học suốt đời mới thuộc được. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, tuyên truyền người tốt việc tốt có ý nghĩa giáo dục sâu sắc với cán bộ ,đảng viên. Bởi lẽ, muốn là cán bộ, đảng viên tốt, trước hết phải là người tốt, phải làm việc tốt, phải tự rèn luyện và phấn đấu, tu dưỡng đạo đức, phải nêu gương tốt trước quần chúng, trước nhân dân, nếu có khuyết điểm thì phải thật thà sửa chữa khuyết điểm, làm việc, công tác phải dựa vào nhân dân, đặt quyền lợi của nhân dân lên trên … Hiện nay báo chí cần thật sự thấm nhuần lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: Tuyên truyền người tốt việc tốt còn có ý nghĩa xây dựng con người mới, trong việc phát huy nhân tố con người để cả dân tộc ta là một vườn hoa đẹp. Phải chăm lo xây dựng con người mới vì con người là lực lượng sản xuất hàng đầu, là nhân tố quyết định nhất trong CNH, HĐH và xây dựng xã hội dân giàu nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Báo chí, những người làm báo cần phải làm tốt vai trò cổ vũ, động viên những con người mới, những nhân tố mới, những tấm gương tiêu biểu trong sự nghiệp đổi mới. Theo Hồ Chí Minh thì xây dựng con người mới phải dựa trên những “vật liệu quý” đó, những cán bộ không biết làm việc hoặc có cái nhìn không đúng chính là không thấy được tầm quan trọng của những tấm gương tập thể, cá nhân làm “những việc nhỏ, bình thường thôi, nhưng ích nước lợi dân”.

Trong tiến trình hội nhập, mở cửa thị trường, mở rộng giao lưu quốc tế, thực hiện CNH, HĐH, báo chí cần thực hiện chức năng giám sát xã hội và cổ vũ những người dũng cảm tố cáo, đấu tranh chống các hành vi vi phạm pháp luật cùng các tiêu cực xã hội khác. Thông qua các thông tin trên báo chí tạo nên các làn sóng dư luận xã hội, góp phần ngăn chặn, đẩy lùi tiêu cực, tham nhũng và loại bỏ những cán bộ, công chức, viên chức thoái hoá, biến chất để xây dựng Đảng, chính quyền ngày càng trong sạch, vững mạnh, phục vụ nhân dân tốt hơn như điều mong muốn của Chủ tịch Hồ Chí Minh./.

Phạm Văn Khánh

cpv.org.vn

Thi đua là yêu nước…

Cách đây tròn 60 năm, đúng dịp kỷ niệm 1000 ngày kháng chiến toàn quốc (11.6.1948), Chủ tịch Hồ Chí Minh chính thức phát động Phong trào thi đua yêu nước: “Mỗi người dân Việt Nam, bất kỳ già, trẻ, gái, trai; bất kỳ giàu, nghèo, lớn, nhỏ đều cần phải trở nên một chiến sĩ tranh đấu trên mặt trận: quân sự, kinh tế, chính trị, văn hóa. Thực hiện khẩu hiệu: Toàn dân kháng chiến, / Toàn diện kháng chiến… / Vừa kháng chiến, / Vừa kiến quốc…

Thi đua yêu nước sẽ ăn sâu, lan rộng khắp mọi mặt và mọi tầng lớp nhân dân, và sẽ giúp ta dẹp tan mọi nỗi khó khăn và mọi âm mưu của địch để đi đến thắng lợi cuối cùng”.

Đặc biệt, Người nhắc nhở mọi người: “Thi đua là yêu nước, yêu nước thì phải thi đua. Và những người thi đua là những người yêu nước nhất”; đồng thời chỉ rõ bản chất tốt đẹp của thi đua yêu nước: không chỉ tạo ra tiềm lực tinh thần, vật chất mang lại lợi ích to lớn cho đất nước, mà còn có tác dụng cải tạo người lao động, cải tạo con người, giúp loại trừ những tư tưởng lạc hậu, bảo thủ, “Thi đua không phải là tranh đua…, không giấu nghề, người đi trước hiểu biết, dẫn người đi sau, làm cho mọi người cùng tiến bộ”. Người lưu ý những người làm công tác thi đua phải đi sát cơ sở, nằm ở cơ sở để chỉ đạo phong trào, không nên xuống cơ sở theo kiểu “chuồn chuồn đạp nước”; phong trào cần liên tục và có nội dung thiết thực, không nên chỉ có hình thức, càng không nên “đầu voi đuôi chuột”.

Thi đua cũng là biện pháp tích lũy và truyền đạt kinh nghiệm mọi mặt để nâng cao năng suất lao động, hiệu quả chiến đấu, phục vụ kháng chiến, phục vụ dân tộc. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Sáng kiến và kinh nghiệm là của quý chung cho cả dân tộc. Chúng ta phải ra sức làm cho nó dồi dào thêm và lan rộng mãi… Sáng kiến và kinh nghiệm cũng như những con suối nhỏ chảy vào sông to, những sông to chảy vào bể cả. Không biết quý trọng sáng kiến và phổ biến kinh nghiệm tức là lãng phí của dân tộc”.

Quán triệt sâu sắc vai trò lãnh đạo của Đảng, vai trò xây dựng, động viên của tập thể đối với phong trào thi đua, trong việc xây dựng các điển hình tiên tiến, phong tặng các danh hiệu anh hùng, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Có anh hùng là vì có tập thể anh hùng, có tập thể anh hùng là vì có nhân dân anh hùng, dân tộc anh hùng, Đảng anh hùng”.

Không chỉ là người khởi xướng, kiến tạo phong trào thi đua yêu nước, bản thân Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng là người thực hiện xuất sắc nhiệm vụ của phong trào thi đua, là tấm gương sáng của phong trào thi đua yêu nước Việt Nam.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về thi đua yêu nước kết hợp với thực tiễn phong trào thi đua yêu nước hơn 60 năm qua đã để lại cho chúng ta nhiều bài học, kinh nghiệm quý báu về cả lý luận và thực tiễn, phục vụ đắc lực công cuộc xây dựng đất nước ngày nay.

  • Vĩnh Ngôn

baobinhdinh.com.vn