Thư viện

Quán triệt và thực hiện lời Bác Hồ căn dặn về “Dân vận”

Kỷ niệm 81 năm ngày truyền thống công tác Dân vận của Đảng (15/10/1930 – 15/10/2011)

Công tác dân vận của Đảng đã tạo sự đồng thuận cao trong xã hội. (Ảnh minh hoạ).

(TCTG) – Hồ Chí Minh từng nói nhiều và viết nhiều về vấn đề dân vận và nhiệm vụ của Đảng về công tác quần chúng. Với thời gian, tư tưởng của Người về “Dân vận” (thể hiện rõ trong bài viết ngày 15/10/1949, đăng trên báo Sự Thật, số 120) vẫn còn nguyên giá trị thời sự.

1. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu rõ: cách mạng là sự nghiệp của quần chúng bởi: “Cách mệnh là việc chung cả dân chúng chứ không phải việc một hai người”(1). Tuy nhiên, muốn nhân dân giác ngộ, tự nguyện làm tốt bổn phận và trách nhiệm của mình, thì Đảng phải tiến hành công tác tuyên truyền, vận động, phải làm tốt công tác dân vận: “Việc dân vận rất quan trọng. Dân vận kém thì việc gì cũng kém. Dân vận khéo thì việc gì cũng thành công”(2).

Hồ Chí Minh từng nói nhiều và viết nhiều về vấn đề dân vận và nhiệm vụ của Đảng về công tác quần chúng, nhưng cùng với thời gian, tư tưởng của Người về “Dân vận” (thể hiện rõ trong bài viết ngày 15/10/1949, đăng trên báo Sự Thật, số 120) vẫn còn nguyên giá trị thời sự. Trong bài viết đó, Hồ Chí Minh chỉ rõ rằng:

Nước ta là nước dân chủ
Bao nhiêu lợi ích đều vì dân.
Bao nhiêu quyền hạn đều của dân.
Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân.
Sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc là công việc của dân.
Chính quyền từ xã đến Chính phủ trung ương do dân cử ra.
Ðoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức nên.
Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”(3).

Theo đó, “quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân” chính là: chính quyền từ xã đến Chính phủ Trung ương đều do toàn thể quốc dân tự do lựa chọn những người có tài, có đức gánh vác công việc nước nhà; nhân dân tự phát huy quyền làm chủ của mình trong mọi lĩnh vực đời sống xã hội và Nhà nước chỉ can thiệp khi quyền lợi của dân hay pháp luật bị vi phạm. Trong Nhà nước, mọi qui định của hệ thống pháp luật đều nhằm bảo vệ những lợi ích chính đáng và tạo điều kiện sống thuận lợi cho nhân dân và “phải chú ý giải quyết hết những vấn đề dầu khó đến đâu mặc lòng, những vấn đề có quan hệ tới đời sống của nhân dân. Nói tóm lại, hết thảy những việc có thể nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của dân phải được ta đặc biệt chú ý”(4).

Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: làm cách mạng tức là đổi xã hội cũ thành xã hội mới. Đó là một công việc lâu dài, khó khăn, gian khổ, nên đòi hỏi phải có sức mạnh “dời non lấp bể” của sự đồng tâm, hợp lực, nhất trí của toàn dân tộc; không phân biệt giai cấp, tầng lớp, không phân biệt già, trẻ, gái, trai, dân tộc, tôn giáo, giàu, nghèo…Với ý nghĩa đó, để đưa cuộc cách mạng đến thắng lợi, thì tất yếu: Đảng Cộng sản – đội tiền phong của giai cấp và dân tộc phải làm tốt công tác “Dân vận”. “Dân vận” bao hàm là “vận động tất cả mọi người dân, không để sót một người nào”… tập hợp lại, đoàn kết lại, thực hiện những công việc chung. Nhưng “Dân vận” còn là phải hiểu rõ năng lực, tâm tư, nguyện vọng hoàn cảnh cụ thể của từng đối tượng, để từ đó có hình thức và phương pháp vận động cho phù hợp, chứ không chỉ là “dùng báo chương, sách vở, mít-tinh, khẩu hiệu, truyền đơn, chỉ thị mà đủ”. Và “Dân vận” theo Hồ Chí Minh là “tất cả cán bộ chính quyền, tất cả cán bộ đoàn thể và tất cả hội viên của các tổ chức nhân dân (Liên Việt, Việt Minh v.v…) đều phải phụ trách dân vận”.

Không chỉ lãnh đạo nhân dân ta tiến hành thắng lợi cuộc cách mạng giải phóng dân tộc Tháng Tám năm 1945, Đảng còn lãnh đạo nhân dân ta tiến hành thắng lợi sự nghiệp kháng chiến, bảo vệ nền độc lập dân tộc và tiến hành công cuộc xây dựng CNXH. Trong những năm tháng gian lao đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn rằng: “Việc kiến thiết nước nhà phải làm dần dần, không thể một tháng một năm mà làm được hết. Song ngay từ bước đầu, chúng ta phải làm theo đúng phương châm: Chúng ta phải hiểu rằng các cơ quan của chính phủ từ toàn quốc cho đến các làng đều là công bộc của dân, nghĩa là để gánh vác việc chung cho dân. Việc gì lợi cho dân, ta phải hết sức làm. Việc gì hại đến dân, ta phải hết sức tránh, chúng ta phải yêu dân, kính dân thì thì dân mới yêu ta, kính ta”(5).

Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nhấn mạnh: “Kinh nghiệm trong nước và các nước cho chúng ta biết: có lực lượng dân chúng việc to tát mấy, khó khăn mấy cũng làm được. Không có, thì việc gì làm cũng không xong”(6), nên làm dân vận không chỉ là tuyên truyền suông bằng sách báo, mít tinh, khẩu hiệu, mà phải bằng hành động cụ thể, thiết thực. Người luôn quán triệt: công tác dân vận là một bộ phận quan trọng trong công tác của Đảng, nếu thiếu, hoặc làm không tốt, Đảng sẽ không tập hợp được quần chúng làm cách mạng; không những không phát huy được sức mạnh của khối toàn dân đoàn kết, mà còn bị kẻ thù lợi dụng, chống phá, xuyên tạc, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân. Theo Người, nếu có quần chúng mà không có Đảng lãnh đạo, thì mọi phong trào của quần chúng chỉ là phong trào tự phát, nhưng Đảng muốn hoàn thành vai trò lãnh đạo, tiền phong của mình thì tất yếu phải làm tốt công tác dân vận, và mọi thành công của Đảng ta trong tiến trình cách mạng chính “là ở nơi Đảng ta đã tổ chức và phát huy lực lượng cách mạng vô tận của nhân dân”(7).

2. Không chỉ nói về “Dân vận” và “công tác dân vận”, Hồ Chí Minh còn là một tấm gương về “Dân vận” và “tiến hành dân vận”. Người từng nhấn mạnh, trong mọi công việc của Đảng: cán bộ, đảng viên muốn xứng đáng là “người lãnh đạo, người đày tớ thật trung thành của nhân dân” thì phải luôn gần dân, gắn bó với dân, được nhân dân tin yêu và kính trọng và luôn phải tự mình làm gương cho quần chúng, vì việc nêu gương có một tác dụng rất to lớn. Tự mình làm gương cũng chính là biểu hiện rõ nét nhất của “lời nói đi đôi với việc làm”, nên trong khi thực hành “Dân vận”, Người luôn quán triệt nguyên tắc “óc nghĩ, mắt trông, tai nghe, chân đi, miệng nói, tay làm”. Thống nhất giữa lời nói và việc làm, vì Tổ quốc và nhân dân phục vụ, Hồ Chí Minh là một mẫu mực của tấm gương đạo đức người cách mạng, vị lãnh tụ “gần dân, thân dân”. Trong trái tim mỗi người dân Việt Nam và bạn bè quốc tế, Hồ Chí Minh là “Người luôn luôn quan tâm tới lợi ích của nhân dân, nghĩ những điều dân nghĩ, lo những điều dân lo, hiến dâng cả đời mình cho nhân dân, không hề quan tâm tới bản thân. Người cư xử nhiệt tình, khiêm tốn, gần gũi, bình dị, giữ mối liên hệ thân mật không cách bức với quần chúng. Quyết tâm và dũng khí đấu tranh của Người xuất phát từ tấm lòng yêu mến nhân dân, sức mạnh và uy tín to lớn của Người cũng bắt nguồn từ sự giúp đỡ và ủng hộ của nhân dân”(8).

Thấm nhuần tư tưởng Hồ Chí Minh về dân vận, Đảng ta luôn xác định đúng đắn vị trí, vai trò quan trọng của nhân dân, của công tác dân vận đối với sự nghiệp cách mạng, coi công tác dân vận là một trong những nội dung quan trọng trong hoạt động của Đảng. Nhờ đó, Đảng đã tập hợp được đông đảo quần chúng, phát huy được sức mạnh của toàn dân tộc, tiến hành thắng lợi cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, giành lại độc lập, tự do và thống nhất đất nước.

Kiên định con đường đã lựa chọn, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH, trong 25 năm tiến hành công cuộc đổi mới, nhờ làm tốt công tác dân vận, Đảng đã lãnh đạo nhân dân ta giành được những thành tựu to lớn về mọi mặt. Đất nước, con người Việt Nam đều đổi mới. Niềm tin của nhân dân vào Đảng, vào chế độ ngày càng được củng cố.

3. Thấm nhuần quan điểm: “Cách mạng là sự nghiệp của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân”(9) và “Dân vận và công tác dân vận là nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lược đối với toàn bộ sự nghiệp cách mạng nước ta; là điều kiện quan trọng bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng và củng cố tăng cường mối quan hệ máu thịt giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân. Công tác dân vận là trách nhiệm của tất cả các tổ chức chính trị, của mọi cán bộ, đảng viên, công chức, đoàn viên, hội viên các đoàn thể nhân dân, cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang”(10), trong 81 năm qua, công tác Dân vận của Đảng (15-10-1930 – 15-10-2011) đã đạt được nhiều thành tích, đã luôn đồng hành cùng với những thắng lợi của sự nghiệp cách mạng.

Tuy nhiên, từ thực tiễn, có thể thấy rõ, bên cạnh những thuận lợi, những thành tựu, công tác dân vận của Đảng cũng đang đứng trước những khó khăn, thách thức; vẫn còn bộc lộ những hạn chế, những tồn tại cần phải khắc phục. Đâu đó vẫn còn một số cấp ủy đảng, chính quyền chưa thực sự quan tâm đầy đủ đối với công tác dân vận, còn xem nhẹ công tác vận động quần chúng; chưa thật sự đầu tư thỏa đáng cho công tác dân vận. Ở các cấp, còn thiếu những cán bộ có năng lực, phẩm chất tốt và nhiệt thành làm công tác dân vận. Nội dung, phương thức vận động, tập hợp quần chúng còn chậm đổi mới, chưa theo kịp thực tiễn. Ở một số nơi, một số địa bàn cơ sở, cán bộ, đảng viên vẫn chưa thật sự gần dân, lắng nghe ý kiến của dân, dựa vào dân để xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền trong sạch, vững mạnh…, nhất là “một số tổ chức Đảng, chính quyền, mặt trận và đoàn thể nhân dân chưa quan tâm đúng mức công tác dân vận. Nội dung, phương pháp vận động, tập hợp quần chúng vẫn nặng tính hành chính”.

Vì vậy, để xây dựng mối quan hệ mật thiết gắn bó giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân, tạo ra sức mạnh tổng hợp, thực hiện thắng lợi mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, và để “toàn bộ hoạt động của Đảng phải xuất phát từ lợi ích và nguyện vọng chính đáng của nhân dân. Sức mạnh của Đảng là ở sự gắn bó mật thiết với nhân dân” (11) như Nghị quyết Đại hội XI của Đảng đã chỉ rõ, thì công tác dân vận phải đổi mới, phát huy quyền làm chủ của nhân dân theo phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”, tiến tới thực hiện quy chế “nghe dân nói, nói dân hiểu, làm dân tin”, và thi đua thực hiện phong trào “Dân vận khéo”.

Luôn quán triệt tinh thần các văn kiện của Đảng và tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác dân vận, từ đó mỗi cán bộ, đảng viên, mỗi tổ chức cơ sở Đảng phải có chuyển biến nhận thức sâu sắc về vai trò, mục đích, qui trình, nội dung và phương thức tiến hành công tác dân vận trong giai đoạn mới, coi thực hành dân chủ là phương thức cơ bản của công tác dân vận. Thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở trên tinh thần: giải thích cho dân hiểu, bàn với dân, tổ chức để dân thi hành, cùng dân kiểm thảo lại công việc theo tư tưởng Hồ Chí Minh và 4 phương châm: dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra mà Đảng đã khẳng định. Trong mọi nội dung về dân vận và công tác dân vận phải luôn thấm nhuần lời Bác dặn “dân vận khéo thì việc gì cũng thành công”.

Coi công tác dân vận là công việc của cả hệ thống chính trị, của toàn Đảng, toàn dân; kịp thời đổi mới, kiện toàn tổ chức bộ máy, đi liền cùng với việc xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác dân vận ở các cấp, các ngành, hướng tới mục tiêu đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN. Từ cảnh báo của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong bài “Dân vận” cách đây 62 năm (15-10-1949 – 15-10-2011): “Khuyết điểm to ở nhiều nơi là xem khinh việc dân vận. Cử ra một ban hoặc vài người, mà thường cử những cán bộ kém rồi bỏ mặc họ. Vận được thì tốt, vận không được cũng mặc. Những cán bộ khác không trông nom, giúp đỡ, tự cho mình không có trách nhiệm dân vận. Ðó là sai lầm rất to, rất có hại”, công tác dân vận cần phải được quan tâm đặc biệt. Cán bộ làm công tác dân vận tốt thì nhất định “phải thật thà nhúng tay vào việc”; phải cùng ăn, cùng ở, cùng làm việc để biết sinh hoạt của quần chúng thế nào, biết nguyện vọng của quần chúng ra sao, rồi từ đó kiên trì, giải thích cho quần chúng hiểu rõ đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước….

Trong mọi mặt của đời sống xã hội, mỗi cán bộ, đảng viên phải thiết thực học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh theo tinh thần Chỉ thị 03 của Bộ Chính trị, nhất là phong cách dân vận của Người thông qua trước tác của Người, những câu chuyện kể về Người …Trong mọi thời điểm, mọi hoàn cảnh, mọi địa bàn, phải thông qua Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức, các đoàn thể chính trị -xã hội tiến hành tốt công tác “Dân vận”, thực hiện và phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân, trên cơ sở “đồng tâm”, “đồng sức”, “đồng lòng”, “đồng thuận”, vì đại cục./.

Lâm Tùng
Đại học Giao thông

____________________________

(1) – Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb.CTQG, H, 2000, t.2; tr.262.
(2) – Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb.CTQG, Sđd, t.5, tr.700.
(3) – Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb.CTQG, Sđd, t.5, tr.648.
(4) – Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb.CTQG, Sđd, t.4, tr.48.
(5) – Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb.CTQG, Sđd, t.4, tr.57.
(6) – Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb.CTQG, Sđd, t.5, tr.295.
(7) – Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb.CTQG, Sđd, t.10, tr.197.
(8) – Hội thảo quốc tế về Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nxb.KHXH, H.1990, tr.120.
(9) – Nghị quyết TƯ 8B/NQ/HNTW, ngày 27-3-1990: “Đổi mới công tác quần chúng của Đảng, tăng cường mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân”.
(10) – Quyết định số 290-QĐ/TƯ, ngày 25-2-2010: “Quy chế công tác dân vận của hệ thống chính trị”.
(11) – ĐCSVN: Văn kiện ĐHĐBTQ lần thứ XI, Nxb. CTQG, H, 2011, tr.65.

tuyengiao.vn

Khắc sâu lời Bác dạy

Ðảng bộ Công ty CP Than Ðèo Nai là đơn vị duy nhất của Ðảng bộ than Quảng Ninh được Tỉnh ủy Quảng Ninh tặng Bằng khen về những thành tích xuất sắc trong học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, sau hơn hai năm triển khai thực hiện cuộc vận động.

Ngày 30/3/1959, thật vinh dự cho cán bộ công nhân thợ mỏ Công ty than Đèo Nai (Quảng Ninh) đã được Bác Hồ về thăm. Đến thăm nơi ăn, ở của công nhân Đèo Nai, Bác nói: “ Muốn cải thiện đời sống phải đào nhiều than, phải tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm, phải đoàn kết giữa công nhân và cán bộ, giữa công nhân với công nhân. Công nhân là giai cấp lãnh đạo, là chủ mỏ thì phải làm sao cho xứng đáng với vai trò làm chủ. Muốn làm những người chủ xứng đáng thì phải thi đua tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm. Bây giờ chúng ta làm cho mình, cho nhân dân và cho con cháu chúng ta nữa”.

Hơn 50 năm kể từ ngày Bác Hồ về thăm, các thế hệ cán bộ và công nhân Công ty than Đèo Nai luôn luôn khắc sâu lời dạy của Bác, ra sức xây dựng đơn vị ngày càng lớn mạnh, trở thành con chim đầu đàn của Tập đoàn Than và Khoáng sản, được Nhà nước tặng danh hiệu cao quý “Anh hùng trong thời kỳ đổi mới”.

Bí thư Đảng uỷ Công ty cổ phần Than Ðèo Nai, Nguyễn Văn Thuỵ tự hào cho biết, từ nhiều năm qua, lãnh đạo, công nhân viên công ty luôn ý thức thực hiện tốt lời Bác dạy nên sản xuất luôn đạt và vượt chỉ tiêu năm của tập đoàn giao. Năm 2001, công ty khai thác được 920 nghìn tấn than, lợi nhuận đạt 5,4 tỷ đồng, thu nhập bình quân đạt 1,2 triệu đồng/người/tháng, đến năm 2011, công ty khai thác được 3 triệu tấn than, doanh thu đạt hơn 3 nghìn tỷ đồng, thu nhập bình quân của người lao động đạt 7,2 triệu đồng/người/tháng. Để có được kết quả ấn tượng này, Bí thư Đảng uỷ Công ty than Đèo Nai cho biết thêm: Công ty đã phát động sâu rộng phong trào học và làm theo Bác, ngay từ việc nhỏ nhất tới tất cả đảng viên cán bộ công nhân viên, đặc biệt coi trọng việc học theo Bác để áp dụng vào trong công việc sản xuất, sinh hoạt hàng ngày. Phong trào học và làm theo Bác, đã khơi dậy được tinh thần sáng tạo trong sản xuất của công ty, đã có nhiều sáng kiến cải tiến kỹ thuật làm lợi cho công ty nhiều tỷ đồng.

Khi được hỏi về việc tiết kiệm chi phí trong quá trình sản xuất, anh Phạm Công Hoan, phân xưởng sữa chữa ôtô hồ hởi cho biết: Với việc rất nhỏ là giảm điều hoà nhiệt độ trên xe, dừng xe là tắt máy, vận hành phương tiện ra vào “ăn than” nhịp nhàng, phân xưởng vận tải đã tiếp kiệm bình quân mỗi tháng được hơn 40 nghìn lít dầu. Anh Nguyễn Quang Tùng, Chánh văn phòng Công ty Than Đèo Nai khẳng định, phong trào tiết kiệm trong sản xuất được hưởng ứng mạnh nhất thông qua hình thức khoán chi phí, hạch toán chi phí sản xuất đến các công trường, phân xưởng đã xây dựng được ý thức tiết kiệm, chống lãng phí và không ngừng nâng cao ý thức làm chủ của người lao động trong quá trình sản xuất, trong năm 2011, công ty đã tiếp kiệm trong quá trình sản xuất được 10 tỷ đồng. Thông qua các phong trào này đã góp phần nâng cao đời sống, bảo đảm việc làm và thu nhập ổn định cho người lao động.

Từ những hành động nhỏ của đội ngũ công nhân cho thấy việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh tại Công ty cổ phần Than Đèo Nai đã đi vào thực chất và có sức lan toả mạnh mẽ. Để việc học tập được thường xuyên liên tục, Đảng bộ công ty đẩy mạnh công tác tuyên truyền giáo dục thông qua nhiều hình thức sinh động như tổ chức văn nghệ, thi kể chuyện về Bác, tuyên truyền qua hệ thống truyền thanh của công ty…Vào mỗi kỳ sinh hoạt, đảng uỷ công ty yêu cầu các chi bộ phải đánh giá, rút kinh nghiệm để từ đó có sự điều chỉnh, uốn nắn đối với từng đảng viên trong quá trình học tập tấm gương đạo đức của Bác. Nhờ đó mà tác phong lề lối làm việc của cán bộ, công nhân viên công ty chuyên nghiệp hơn, ý thức trách nhiệm được nâng lên, kỷ cương, kỷ luật được giữ vững kể cả trong công việc lẫn trong cuộc sống hàng ngày.

Ðảng bộ Công ty CP Than Ðèo Nai là đơn vị duy nhất của Ðảng bộ than Quảng Ninh được Tỉnh ủy Quảng Ninh tặng Bằng khen về những thành tích xuất sắc trong học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, sau hơn hai năm triển khai thực hiện cuộc vận động. Những ngày đầu xuân Nhâm Thìn, Công ty cổ phần Than Đèo Nai đang nỗ lực tập trung cao độ khai thác lập thành tích chào mừng ngày sinh nhật Bác 19/5, bằng việc hoàn thành công trình hạ móng vỉa chính để khai thác một triệu tấn than – một nhiệm vụ không dễ dàng trong điều kiện khai thác ngày càng khó khăn, khai trường sâu, rộng.

Với truyền thống vẻ vang được Bác Hồ về thăm, cộng với đội ngũ thợ mỏ được luyện rèn, có tinh thần đoàn kết, kỷ luật, đồng tâm, chắc chắn rằng Công ty cổ phần Than Đèo Nai sẽ hoàn thành xuất sắc kế hoạch sản xuất năm 2012./.

Mạnh Khánh

tuyengiao.vn

Ðẩy mạnh cuộc thi viết về đề tài “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”

nullChiều 6-2, Ban Biên tập Báo Nhân Dân phối hợp Công ty cổ phần PVI (Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam) tổ chức cuộc họp sơ kết về tình hình triển khai cuộc thi viết về đề tài “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” trong thời gian qua.

Dự cuộc họp, có các đồng chí lãnh đạo Báo Nhân Dân và lãnh đạo Công ty cổ phần PVI, các thành viên Ban chỉ đạo, Ban tổ chức cuộc thi.

Thực hiện Chỉ thị 03 và Kế hoạch 03 của Bộ Chính trị và Ban Bí thư về tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, Báo Nhân Dân phối hợp Tổng công ty cổ phần Bảo hiểm Dầu khí, nay là Công ty cổ phần PVI (Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam) tổ chức cuộc thi viết về đề tài “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Cuộc thi được phát động từ ngày 1-5-2011 trên ấn phẩm Báo Nhân Dân cuối tuần. Cuộc thi đã thu hút đông đảo bạn đọc, bạn  viết  trên  mọi  miền Tổ quốc tham gia. Nhiều tập thể, cá nhân, nhất là những người dân bình thường với những việc làm thiết thực, nhiều ý nghĩa theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh được các tác giả phản ánh trong các bài dự thi; góp phần cổ vũ, động viên cán bộ, đảng viên, các tầng lớp nhân dân học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.

Tại cuộc họp, các đồng chí trong Ban chỉ đạo, Ban tổ chức cuộc thi đều đánh giá cao kết quả bước đầu triển khai cuộc thi viết về đề tài “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” trong thời gian qua; đồng thời nêu lên các giải pháp đẩy mạnh thực hiện cuộc thi này trong thời gian tới.

Nhằm đáp ứng yêu cầu của người dự thi ngày càng đông và nâng cao chất lượng các bài viết dự thi, Ban tổ chức cuộc thi quyết định đăng các bài viết dự thi trên Báo Nhân Dân từ ngày 7-3-2012 và tiếp tục đăng bài viết dự thi trên ấn phẩm Báo Nhân Dân cuối tuần. Việc triển khai cuộc thi trong thời gian tới gắn với việc triển khai Nghị quyết T.Ư 4 (khóa XI). “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Ðảng hiện nay”; với ba vấn đề cấp bách: thứ nhất, kiên quyết đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp để nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Ðảng, củng cố niềm tin của đảng viên và của nhân dân đối với Ðảng; thứ hai, xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, nhất là cấp trung ương, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế; thứ ba, xác định rõ thẩm quyền, trách nhiệm người đứng đầu cấp ủy, chính quyền trong mối quan hệ với tập thể cấp ủy, cơ quan, đơn vị; tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Ðảng.

Ðể nâng cao chất lượng bài viết dự thi, Ban tổ chức cuộc thi viết về đề tài “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” chọn lọc đăng các bài viết dự thi của bạn đọc, bạn viết cả nước nêu những tấm gương tập thể, cá nhân học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, nhất là những cá nhân, người đứng đầu cấp ủy có những việc làm ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên; những cá nhân kiên quyết đấu tranh với tệ nạn tham nhũng, lãng phí; người đứng đầu cấp ủy, cơ quan đơn vị phát huy vai trò tự nêu gương để cán bộ, đảng viên, các tầng lớp noi theo; những người bình dân, người lao động bình thường có nhiều việc làm tốt, nghĩa cử cao đẹp được cộng đồng tôn vinh, khen ngợi; những tập thể đoàn kết thống nhất, thực hiện nghiêm các chủ trương, chính sách của Ðảng và Nhà nước, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị, có nhiều sáng kiến, cách làm hay trong phát triển kinh tế-xã hội. Ðồng thời phê bình, nhắc nhở các địa phương, đơn vị chưa thực hiện nghiêm túc Chỉ thị 03, Kế hoạch 03 của Bộ Chính trị và Ban Bí thư về tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh…

Ban tổ chức cuộc thi hy vọng tiếp tục nhận được ngày càng nhiều bài viết dự thi của bạn đọc, bạn viết trong và ngoài nước. Bài viết dự thi xin gửi về Ban Xây dựng Ðảng, Báo Nhân Dân, 71 Hàng Trống, Hoàn Kiếm, Hà Nội; địa chỉ email: xaydungdang@gmail.com. Thời hạn nhận bài dự thi đến ngày 1-5-2012. Ban tổ chức cuộc thi sẽ trao giải cho các tác phẩm chất lượng cao vào dịp 19-5-2012.

 Theo Nhân Dân

tuyengiao.vn

“Nói thì phải làm” Chuẩn mực đạo đức cơ bản của người cán bộ cách mạng

“Tư cách một người cách mệnh”(1) là một trong những vấn đề quan trọng đầu tiên được Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh đề cập trong tác phẩm “Đường Kách mệnh”. Cuốn sách bao gồm 3 mối quan hệ đạo đức, với 23 chuẩn mực cụ thể. Đây chính là những chuẩn mực đạo đức rất sinh động, thiết thực và cụ thể được Người soạn thảo để giảng dạy trong các lớp huấn luyện chính trị của Hội Việt Nam Thanh niên cách mạng, tổ chức tại Quảng Châu (Trung Quốc) giai đoạn những năm 1925 – 1926.

Tuy rằng, nội dung tư cách người cách mạng trong thời điểm hiện nay không hoàn toàn giống như giai đoạn cách mạng trước, nhưng trong lúc này, trước sự suy thoái về đạo đức ở một bộ phận cán bộ, đảng viên, kể cả người có chức, có quyền, làm xói mòn lòng tin của nhân dân đối với Đảng thì những chuẩn mực đạo đức của người cách mạng mà Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh nêu ra lần đầu tiên cách đây hơn 80 năm vẫn mang tính thời sự nóng hổi. Đó vẫn là những chuẩn mực mà Đảng ta dựa vào đó để phát động cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, để xác định nội dung những phẩm chất và năng lực của người cán bộ, đảng viên trong giai đoạn hiện nay. Trong bất kỳ hoàn cảnh nào thì theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, tiêu chuẩn đầu tiên và không thể thiếu được của người cán bộ cách mạng vẫn là đạo đức cách mạng. “Sức có mạnh mới gánh được nặng và đi được xa. Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng, mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang”(2).

Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu ra nhiều chuẩn mực đạo đức cách mạng, nhưng chuẩn mực: “Nói thì phải làm” là một trong những chuẩn mực đạo đức hết sức cơ bản của người cách mạng và lúc sinh thời Người luôn nhắc nhở chúng ta phải thực hiện nghiêm túc, bởi lẽ lời nói và việc làm của cán bộ, đảng viên có quan hệ rất chặt chẽ đến sự nghiệp cách mạng, ảnh hưởng lớn đến quần chúng.

Theo quan niệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, tư cách người cách mạng bao gồm 3 mối quan hệ đạo đức (quan hệ với bản thân, với người khác và với công việc). Chuẩn mực: “Nói thì phải làm” thuộc loại quan hệ với bản thân. Theo cách nói của Người, tức là: “Tự mình phải: Cần kiệm/ Hoà mà không tư/ Cả quyết sửa lỗi mình/ Cẩn thận mà không nhút nhát/ Hay hỏi/ Nhẫn nại (chịu khó)/ Hay nghiên cứu, xem xét/ Vị công vong tư/ Không hiếu danh, không kiêu ngạo/ Nói thì phải làm/ Giữ chủ nghĩa cho vững/ Hy sinh/ Ít lòng tham muốn về vật chất/ Bí mật”(3). Đây là một chuẩn mực thuộc nhóm đạo đức – ý chí trong quan hệ đạo đức của người cách mạng đối với chinh bản thân mình. Có thể nói, nếu “Đạo đức là cái gốc” thì quan hệ đạo đức đối với bản thân phải là cái gốc của mọi cái gốc. Bởi lẽ, điều cốt lõi trong nhân cách đạo đức của người cách mạng trước hết phải được thể hiện trong quan hệ ứng xử đối với chính bản thân mình.

Vì lẽ đó, chúng ta thấy được chuẩn mực: “Nói thì phải làm” là một lời dạy có giá trị to lớn về mặt lý luận và thực tiễn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, là phương châm chỉ đạo mọi hoạt động của người cách mạng.

Là người luôn nhất quán với quan điểm về sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, chúng ta thấy trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn xem “nói” và “làm” là hai mặt của một quá trình thống nhất có mối quan hệ biện chứng với nhau. “Nói thì phải làm” là yêu cầu có tính nguyên tắc, nhất quán không những chỉ trong hoạt động thực tiễn cách mạng mà cả trong cuộc sống đời thường của Người.

Ngay từ cuối năm 1945, trên cương vị là vị Chủ tịch đầu tiên của Nhà nước dân chủ nhân dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặc biệt chú ý ngay tới việc giáo dục đạo đức cách mạng, đặc biệt là việc thực hiện chuẩn mực “Nói thì phải làm” cho những người cán bộ cách mạng để họ luôn xứng đáng là những “công bộc” của nhân dân.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, “Nói thì phải làm” trước hết phải xuất phát từ lợi ích thiết thực của mọi giai tầng trong xã hội và lợi ích của quốc gia và dân tộc. Người luôn căn dặn cán bộ, đảng viên phải luôn luôn chú ý khi nói, khi viết điều gì thì phải làm sao để: “Mỗi tư tưởng, mỗi câu nói, mỗi chữ viết, phải rõ cái tư tưởng và lòng ước ao của quần chúng”. Người yêu cầu cán bộ, đảng viên phải nói và làm trước hết vì lợi ích của nhân dân: “Việc gì lợi cho dân, ta phải hết sức làm. Việc gì hại đến dân, ta phải hết sức tránh”(4).

Thực tế cho thấy, đối với người cán bộ cách mạng, muốn nói hay, viết giỏi đã là việc khó, nhưng để làm được như nói lại là việc khó hơn rất nhiều lần. Vì vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn yêu cầu cán bộ cách mạng phải là những người nói được, viết được và làm được. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn khuyến khích cán bộ cách mạng phải là những người dám nói và dám làm, bất luận trong hoàn cảnh nào họ cũng phải là những người luôn gương mẫu để làm gương cho kẻ khác: “Mình phải làm gương cho đồng bào, phải siêng năng, hăng hái. Tôi lấy thí dụ như trong việc cứu nạn đói, mình bảo người ta 10 ngày nhịn ăn một bữa mà chính đến ngày nhịn, mình lại cứ chén tỳ tỳ thì nghe sao được. Đáng lý dân nhịn một bữa mình nhịn hai bữa mới phải. Về việc khuyến nông cũng vậy, bảo người ta đào đất trồng ngô, trồng khoai mà lúc người ta làm mình lại ngủ thì sao được? Miệng nói tay phải làm mới được”(5) hay “Nói miệng, ai cũng nói được. Ta cần phải thực hành. Kháng chiến, kiến quốc, ta phải cần kiệm. Nhưng tự mình phải cần và kiệm trước đã. Trước hết, mình phải làm gương, gắng làm gương trong anh em, và khi đi công tác, gắng làm gương cho dân. Làm gương về cả ba mặt: tinh thần, vật chất và văn hóa”(6). Hoặc “Nếu miệng thì tuyên truyền bảo người ta siêng làm, mà tự mình thì ăn trưa, ngủ trễ; bảo người ta tiết kiệm, mà tự mình thì xa xỉ, lung tung, thì tuyên truyền một trăm năm cũng vô ích”(7).

Trong rất nhiều bài nói, bài viết của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhiều lần phê phán những người cán bộ cách mạng thường “nói nhiều làm ít”, hoặc “nói mà không làm”, hay “nói một đằng, làm một nẻo”, thụ động, máy móc, ỷ lại… Người nghiêm khắc phê phán: “Có đồng chí học thuộc lòng một số sách vở về chủ nghĩa Mác – Lênin. Họ tự cho mình là hiểu biết chủ nghĩa Mác – Lênin hơn ai hết. Song khi gặp việc thực tế, thì họ hoặc là máy móc, hoặc là lúng túng. Lời nói và việc làm của họ không nhất trí”(8).

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, “Nói thì phải làm” còn là một tiêu chí cơ bản để đánh giá năng lực, trình độ và phẩm chất của người cán bộ cách mạng. Người chỉ rõ: “Chẳng những xem xét cách viết, cách nói của họ, mà còn phải xem xét việc làm của họ có đúng với lời nói, bài viết của họ hay không… Không nên chỉ xem công việc của họ trong một lúc, mà phải xem cả công việc của họ từ trước đến nay”(9).

Là người đầu tiên đề ra “Tư cách một người cách mệnh”, suốt cả cuộc đời hoạt động cách mạng vẻ vang và trong cuộc sống đời thường của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn là một tấm gương mẫu mực, sáng ngời và sinh động nhất trong việc tuân thủ nghiêm túc những chuẩn mực đạo đức đó, đặc biệt là chuẩn mực “Nói thì phải làm”. Người là sự hiện thân thống nhất biện chứng giữa lời nói và việc làm. Năm 1945, trước nạn đói đang hoành hành, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết bài kêu gọi đồng bào ta “Sẻ cơm nhường áo” bằng cách: “Cứ mười ngày nhịn ăn một bữa, mỗi tháng nhịn 3 bữa. Đem gạo đó (mỗi bữa một bơ) để cứu dân nghèo”(10), thì chính Người đã xung phong thực hiện trước tiên.

Trong các bài nói, bài viết của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhắc nhở những người cán bộ cách mạng phải thực hiện cần, kiệm, liêm, chính để xứng đáng là những “người đầy tớ thật trung thành của nhân dân” thì chính Người đã làm gương bằng chính cuộc sống hết mực khiêm tốn, giản dị, tiết kiệm và thanh bạch của mình. Cuộc sống đó của Người đã thể hiện được điều mà Người luôn tâm niệm là: “Cơm chúng ta ăn, áo chúng ta mặc, vật liệu chúng ta dùng, đều do mồ hôi nước mắt của nhân dân mà ra. Vì vậy chúng ta phải đền bù xứng đáng cho nhân dân. Muốn làm như vậy, chúng ta phải cố gắng thực hiện cần, kiệm, liêm, chính”(11).

Nhờ sự quan tâm, giáo dục và tấm gương tuyệt vời của Người trong việc thực hiện chuẩn mực “Nói thì phải làm”, chúng ta thấy tuyệt đại đa số cán bộ, đảng viên đã thực hiện tốt chuẩn mực này trong quá trình rèn luyện, tu dưỡng đạo đức cách mạng và đã góp phần đắc lực cho sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc.

Tuy nhiên hiện nay, sau hơn 20 năm tiến hành công cuộc đổi mới đất nước theo nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, ngoài những thành tựu vô cùng to lớn về mặt kinh tế – xã hội, chúng ta phải thừa nhận một cách nghiêm túc rằng, mặc dù đã có rất nhiều cuộc vận động, nhiều chỉ thị, nghị quyết của Đảng đã được phát động và ban hành nhằm không ngừng nâng cao đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên, thế nhưng trong thực tế thì những chuẩn mực đạo đức cách mạng, đặc biệt là chuẩn mực “Nói thì phải làm” đã có đề ra nhưng chưa được thực thi như mong muốn. Đây là một sự thật hết sức đau lòng. Đảng ta đã thẳng thắn thừa nhận: “Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, bệnh cơ hội, chủ nghĩa cá nhân và tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí trong một bộ phận cán bộ, công chức diễn ra nghiêm trọng”(12). Đặc biệt, Đảng ta đã chỉ rõ một “căn bệnh nan y” hiện nay của không ít cán bộ, đảng viên và đang làm xói mòn dần niềm tin của nhân dân vào đội ngũ cán bộ, đó là tình trạng cán bộ, đảng viên “Chưa thực sự coi trọng đổi mới phong cách, lề lối làm việc, thực hiện nói đi đôi với làm; tình trạng nói nhiều làm ít, né tránh, đùn đẩy trách nhiệm còn diễn ra ở nhiều nơi”(13). Họ chính là những người mà khi viết, khi thuyết giảng trước dân về các vấn đề thì “như ông thánh” nhưng trong thực tế cuộc sống lại chính là những người luôn coi thường kỷ cương, phép nước, thoái hóa, biến chất, chiếm dụng, lãng phí tiền bạc của dân, của nước, sống xa hoa, trụy lạc, luôn tìm mọi cách để mưu lợi cá nhân. Đối với một bộ phận cán bộ có chức, có quyền này, chuẩn mực đạo đức “Nói thì phải làm” chỉ còn là mỹ từ để giúp họ che giấu bộ mặt thật của mình trước cơ quan, đoàn thể, truớc nhân dân.

Đứng trước thực trạng trên, để xây dựng một đội ngũ cán bộ đáp ứng được yêu cầu cho sự nghiệp xây dựng đất nước trong giai đoạn mới, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng đã chú ý đặc biệt tới việc nâng cao đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên, đó là: “Lấy đạo đức làm gốc, đồng thời bồi dưỡng về kiến thức, trí tuệ, năng lực để làm tròn nhiệm vụ người lãnh đạo, người đi tiên phong trong các lĩnh vực công tác được giao”(14). Để thực hiện được ý tưởng nói trên, Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” mà Đảng ta phát động từ năm 2007 cho đến năm 2011, chúng ta nên lấy chuẩn mực “Nói thì phải làm” làm tiêu chí cơ bản nhất để đánh giá, tổng kết kết quả cuộc vận động đối với mỗi cán bộ, đảng viên và các tổ chức đảng và đoàn thể. “Nói thì phải làm” phải trở thành một hành động thể hiện lương tâm, trách nhiệm của người cán bộ cách mạng trước vận mệnh của Đảng và dân tộc.

Giờ đây, khi mà trình độ dân trí ngày càng được nâng cao, việc lấy lại lòng tin của nhân dân đối với người cán bộ cách mạng như trước đây, việc làm sao để cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” đạt hiệu quả thiết thực nhất, không có cách nào khác là phải chứng minh bằng những hành động cụ thể của mỗi cán bộ, đảng viên trong công việc và trong cuộc sống đời thường chứ không phải bằng những bài viết, bài nói khuếch trương và hoa mỹ. Trong dân ta có câu nói: “Đảng viên đi trước, làng nước theo sau”. Người cán bộ cách mạng có cương vị càng cao thì đòi hỏi việc thực hiện chuẩn mực “Nói thì phải làm” lại càng phải hơn người bình thường. Tôi tin chắc là chúng ta có thể làm được như thế, xứng đáng là đảng viên của Đảng do Bác Hồ sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện”.

Để “xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, góp phần vào sự nghiệp cách mạng thế giới” như “điều mong muốn cuối cùng” của Chủ tịch Hồ Chí Minh, chúng ta không có con đường nào khác là phải tiến hành thường xuyên việc xây dựng nền đạo đức mới xã hội chủ nghĩa cho tất cả mọi người, nhất là đối với cán bộ, đảng viên – những tinh hoa của xã hội. Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, người dân đang có nhiều bức xúc khi chứng kiến một bộ phận cán bộ, đảng viên có chức, có quyền nói hay mà làm dở thì việc tuân thủ một cách thực sự nghiêm túc chuẩn mực “Nói thì phải làm” lại càng có ý nghĩa vô cùng quan trọng để củng cố lại niềm tin của nhân dân đối với Đảng, với những người cán bộ cách mạng mà lúc sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh gọi họ là “cái gốc của mọi công việc”. Nhớ Bác, làm theo lời Bác, chúng ta – những người cán bộ cách mạng thế hệ hôm nay và mãi mãi mai sau hãy ghi lòng tạc dạ lời dạy sau đây của Người: “Cán bộ, đảng viên, đoàn viên phải gương mẫu, phải thiết thực, miệng nói tay làm để làm gương cho nhân dân. Nói hay mà không làm thì vô ích. Đó là một tật xấu”(15).

___________________

1, 3. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, H,2000, t.2, tr.260.
2, 8. Sđd, t.9, tr.283, 292.
4, 5, 6, 10. Sđd, t.4, tr.56-57, 101-102, 150, 31.
7, 9. Sđd, t.5, tr.108, 281-282.
11. Sđd, t.7, tr.392
12. Văn kiện Đại hội X của Đảng. Nxb CTQG, H, 2006, tr.65
13. Sđd, tr.273
14. Sđd, tr.133
15. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2000, t.11, tr.136

Theo mattran.org.vn
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Thêm bầu bạn, bớt kẻ thù là để đoàn kết hơn

Hoạt động chính trị là sự tham gia của các chủ thể vào các công việc của Đảng, Nhà nước, Mặt trận và các đoàn thể nhân dân. Theo quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, tham gia vào hoạt động chính trị là để đạt tới mục tiêu giành độc lập cho dân tộc, tự do hạnh phúc cho nhân dân và sự tiến bộ cho toàn thể nhân loại. Để thực hiện mục tiêu cao cả này, Người yêu cầu mỗi tổ chức, cá nhân tham gia vào hoạt động chính trị phải luôn đoàn kết và biết tập hợp mọi lực lượng về phe cách mạng gắn với cuộc đấu tranh kiên quyết chống lại kẻ thù là các thế lực chống đối ngăn cản con đường thực hiện mục tiêu đó. Điều này cũng có nghĩa là phải thực hiện thêm bạn, bớt thù.

Theo Hồ Chí Minh, trong sự nghiệp cách mạng cũng như trong đời sống có nhiều loại kẻ thù khác nhau cần phải được nhận diện, phân định rõ để có các biện pháp loại trừ. Xét về hành vi biểu hiện và sự nguy hiểm nói chung, Người xác định rõ đã là kẻ thù thì chúng đều là những loại “giặc”. Đó là các loại “giặc ngoại xâm”, “giặc nội xâm”, “giặc ở trong lòng”, “giặc đói”, “giặc dốt”, “giặc lụt”,… Xét về giới hạn, phạm vi hoạt động, Người phân biệt thành “kẻ thù trên thế giới, trong nước và trong mình”, “kẻ thù bên trong”, “kẻ thù bên ngoài”. Xét về vị trí, mức độ tác hại chống đối của kẻ thù để từ đó tìm ra các biện pháp loại trừ, Người phân ra các loại “kẻ thù trước mắt”, “kẻ thù lâu dài”, “kẻ thù chính”, “kẻ thù số một”, “kẻ thù nguy hiểm”… Nếu trong cách mạng giải phóng dân tộc, kẻ thù chính là chủ nghĩa thực dân, chủ nghĩa đế quốc thì trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, kẻ thù chính lại không phải là những “tên đế quốc” như trước nữa mà đó là “chủ nghĩa cá nhân”. Nó còn được coi là “kẻ thù bên trong”, kẻ thù “ở trong lòng” ẩn nấp kín đáo không dễ gì phát hiện và nhận thấy để loại trừ. Chủ nghĩa cá nhân chính là căn nguyên đẻ ra các “chứng bệnh” hay các “kẻ địch” nằm ngay bên trong mỗi cán bộ, đảng viên và mỗi người dân. Tính nguy hiểm và sự tác hại của các “chứng bệnh” này đã được Hồ Chí Minh xác định rõ: “Mỗi chứng bệnh là một kẻ địch. Mỗi kẻ địch bên trong là bạn đồng minh của kẻ địch bên ngoài. Địch bên ngoài không đáng sợ. Địch bên trong đáng sợ hơn, vì nó phá hoại từ trong phá ra”(1).

Cùng với việc xác định kẻ thù, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra những “bầu bạn” trong quá trình đấu tranh cách mạng, xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đó là những lực lượng, phong trào, là một quốc gia, dân tộc và cá nhân những người yêu nước, tiến bộ, yêu chuộng hoà bình với phẩm chất đạo đức trong sáng. Theo Người, muốn làm cách mạng thắng lợi thì không những phải biết phân biệt rõ ai là bạn, ai là thù, mà điều quan trọng hơn, đó là “phải thực hiện thêm bầu bạn, bớt kẻ thù”(2). Điều này cũng có nghĩa là ở trong nước thì phải biết tập hợp, đoàn kết mọi giai cấp, lực lượng, thành phần xã hội; biết tranh thủ lôi kéo về phe cách mạng mọi đối tượng, lực lượng có thể tranh thủ, kể cả kẻ thù. Trong chính sách đối ngoại, phải biết thu phục, tranh thủ sự đồng tình và ủng hộ của nhân dân tiến bộ, biết cô lập, phân hoá chuyển hoá kẻ thù thành bầu bạn, làm sao để trên thế giới này ngày càng bớt đi kẻ thù bên ngoài, không còn “giặc ngoại xâm”, thực hiện quan hệ hợp tác, đoàn kết hữu nghị với các nước và nhân dân thế giới theo tinh thần:

“Quan sơn muôn dặm một nhà
Vì trong bốn biển đều là anh em”(3).

Để thực hiện chủ trương thêm bạn bớt thù, trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, đặc biệt khi ở cương vị lãnh đạo Đảng và Nhà nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiến hành chỉ đạo nhiều biện pháp cụ thể, thiết thực nhằm thực hiện chính sách đại đoàn kết, hoà hợp dân tộc, tập hợp mọi giai cấp, tầng lớp nhân dân, ngay cả đối với những người trước đó từng là kẻ thù nhưng sau đó tán thành hoà bình, thống nhất, độc lập dân tộc, dân chủ. Việc thành lập và phát triển Mặt trận Dân tộc Thống nhất Việt Nam để tập hợp đoàn kết mọi giai cấp, mọi lực lượng và toàn dân là một minh chứng rõ ràng và sinh động nhất về việc thêm bè bạn, bớt kẻ thù.

Ngày nay, những chủ trương biện pháp thêm bầu bạn, bớt kẻ thù của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được Đảng và Nhà nước ta vận dụng một cách sáng tạo vào công cuộc đổi mới đất nước. Trong chính sách đối ngoại thời kỳ đổi mới, Đảng và Nhà nước ta đã thực hiện theo phương châm: “làm bạn với tất cả mọi nước dân chủ và không gây thù oán với một ai”(4). Tại Đại hội toàn quốc lần thứ X, Đảng ta đã khẳng định: “Việt Nam là bạn, đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế và khu vực”(5). Việc Việt Nam tích cực chủ động hội nhập quốc tế và khu vực, thắt chặt mối quan hệ hợp tác hữu nghị với nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là sự kiện được bầu vào ghế uỷ viên không thường trực Hội đồng bảo an Liên hợp quốc mới đây với số phiếu ủng hộ rất cao (183/190) là một minh chứng của việc Đảng ta đã vận dụng sáng tạo chủ trương đoàn kết, thêm bầu bạn, bớt kẻ thù của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong chính sách đối ngoại.

Trong chính sách đối nội, vấn đề đầu tiên mà Đảng và Nhà nước ta thực hiện chủ trương thêm bầu bạn, bớt kẻ thù là “thực hiện chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc, củng cố và mở rộng Mặt trận Dân tộc Thống nhất, tập hợp mọi lực lượng phấn đấu vì sự nghiệp dân giàu nước mạnh”(6). Mặt trận đã trở thành một nhân tố quan trọng trong việc thực hiện chủ trương đó. Qua hơn 20 năm đổi mới, Mặt trận ngày càng một lớn mạnh hơn. Đến nay, Mặt trận đã trở thành một tổ chức liên minh chính trị tập hợp của 44 tổ chức thành viên, với cơ cấu Uỷ viên Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam có đủ 54 dân tộc, 6 tôn giáo lớn và nhiều cá nhân tiêu biểu trong các tầng lớp nhân dân. Mặt trận đã thể hiện là một biểu tượng của tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc với vai trò một tổ chức liên minh chính trị của tất cả các giai cấp, các tầng lớp, các dân tộc, các tôn giáo, các tổ chức khác nhau trong xã hội vì một mục đích là thực hiện dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

Còn phải kể đến chủ trương thêm bầu bạn, bớt kẻ thù vào thời kỳ đổi mới là Đảng và Nhà nước ta đã quyết tâm thực hiện đẩy lùi “giặc đói”. Ngoài các Chương trình mục tiêu quốc gia về xoá đói giảm nghèo, Chương trình phát triển kinh tế – xã hội các xã đặc biệt khó khăn miền núi và vùng sâu, vùng xa (Chương trình 135) và các chương trình mục tiêu khác (chương trình việc làm, xuất khẩu lao động…) nhằm giảm đói nghèo của Nhà nước, Mặt trận và các đoàn thể nhân dân đã tiến hành thực hiện sâu rộng “phong trào xoá đói giảm nghèo” trong toàn quốc, coi đây là một mặt trận chống “giặc đói”, bớt kẻ thù đói nghèo theo tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Với nhiều nỗ lực về phát triển kinh tế trong nông nghiệp, thực hiện sâu rộng phong trào xoá đói giảm nghèo bằng các chương trình nêu trên cùng các cuộc vận động “Ngày vì người nghèo”, các chương trình xây tặng “Nhà đại đoàn kết”, “Những tấm lòng từ thiện”, “Nối vòng tay lớn”, “Quỹ tình thương”, “Một thế giới – một trái tim”… của Mặt trận và các đoàn thể mà tỉ lệ hộ nghèo ở Việt Nam giảm nhanh từ 17,5% năm 2001 xuống còn khoảng dưới 7% năm 2005, tỉ lệ nghèo đói (tính theo chuẩn quốc tế) đã giảm từ 58,1% năm 1993 xuống còn 19% vào cuối năm 2006. Với thành tựu này, Việt Nam đã được cộng đồng quốc tế đánh giá cao và ghi nhận là một trong những nước thành công nhất trong phát triển kinh tế, xoá đói giảm nghèo, nâng cao mức sống của người dân.

Cùng với đẩy lùi giặc đói, vào thời kỳ đổi mới, Đảng và Nhà nước ta đã thực hiện được một bước đáng kể trong việc đẩy lùi “giặc dốt”. Qua 20 năm với sự cố gắng nỗ lực của các cấp, các ngành và của toàn dân trong việc thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia chống nạn mù chữ – phổ cập giáo dục tiểu học và sau đó là phổ cập giáo dục trung học cơ sở, đến nay trong cả nước tỉ lệ học sinh trong độ tuổi đi học ở bậc tiểu học đã đạt 97,5%, đến hết năm 2005 có 31 tỉnh đã đạt tiêu chuẩn phổ cập trung học cơ sở. Thành tựu này tuy chưa khẳng định được “giặc dốt” đã bị đẩy lùi hẳn, nhưng điều đó đã chứng tỏ sự quyết tâm của toàn Đảng, toàn dân, bớt đi được rất nhiều loại “kẻ thù” đã tồn tại bao đời nay ở nước ta.

Một mặt trận được coi là khó khăn, quyết liệt nhất chống kẻ thù vào thời kỳ đổi mới, đó là chống loại “giặc ở trong lòng”, mà biểu hiện cụ thể của nó là chủ nghĩa cá nhân, là quan liêu, tham nhũng và các hiện tượng tiêu cực, xấu xa khác. Ngay từ những năm đầu thực hiện công cuộc đổi mới đến nay, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương thể hiện sự quyết tâm đẩy lùi loại kẻ thù nguy hiểm này. Đặc biệt, tại Hội nghị Trung ương ba (khoá X) tháng 7-2006, Đảng đã ra Nghị quyết chuyên đề “Về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí”, trong đó Đảng chỉ đạo thành lập các cơ quan chuyên trách phòng, chống tham nhũng, đề ra các biện pháp cụ thể và phát động toàn dân trong cuộc chiến này. Cùng với Đảng, Nhà nước ta đã ban hành các văn bản pháp quy về phòng, chống tham nhũng, như: Ban hành Luật Phòng, chống tham nhũng; Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; xây dựng các đề án chống tham nhũng… Cùng với các biện pháp trên, hiện nay Đảng và Nhà nước ta đang triển khai sâu rộng cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” trong cả nước. Đây chính là một biện pháp thiết thực và có ý nghĩa rất lớn nhằm thực hiện bớt đi kẻ thù “ở trong lòng” là chủ nghĩa cá nhân, loại kẻ thù nguy hiểm nhất, thực hiện lời chỉ dẫn của Người: “ta phải làm cho phần tốt ở trong mỗi con người nảy nở như hoa mùa xuân và phần xấu bị mất dần đi, đó là thái độ của người cách mạng”(7).

Để đẩy lùi được các loại kẻ thù nói trên, đòi hỏi Đảng và Nhà nước không chỉ có ý chí quyết tâm cao, mà còn phải thật kiên trì, tăng cường và thực hiện một cách đồng bộ có hiệu quả nhiều biện pháp hơn nữa, đặc biệt đối với cuộc chiến chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí thì cần phải khéo dùng lực lượng của quần chúng nhân dân, bởi như Người đã từng nói: “phong trào chống tham ô, lãng phí, quan liêu ắt phải dựa vào lực lượng quần chúng thì mới thành công”(8).

_______________

1, 4. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2002, t.5, tr.220, 238-239.
2. Sđd, t.10, tr.605
3. Sđd, t.8, tr.362.
5. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb CTQG, H, 2006, tr.112, 153.
6. Đảng Cộng sản Việt Nam, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Nxb ST, H, 1991, tr.10.
7. Hồ Chí Minh: Sđd, t.12, tr.558.
8. Hồ Chí Minh: Sđd, t.6, tr.495.

Theo TS. Nguyễn Hữu Đổng
Viện Chính trị học, Học viện Chính trị – Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh.
(mattran.org.vn)
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Học tập quan điểm nhân dân, quan điểm quần chúng của Hồ Chủ tịch

Chủ tịch Hồ Chí Minh với công nhân. Ảnh: Tuấn Anh

Ngày 19-5-1950, mừng Hồ Chủ tịch 60 tuổi và chúc Hồ Chủ tịch sống lâu, chúng ta cần nhắc nhở cái gì của Hồ Chủ tịch, học tập cái gì của Hồ Chủ tịch? Nhân ngày vui mừng hôm nay của quốc dân đồng bào, những điều chúng ta cần nhắc nhở, học tập của Hồ Chủ tịch rất nhiều, nhưng theo ý tôi trong giai đoạn chuẩn bị tổng phản công này, chúng ta cần hơn hết nhắc nhở và học tập quan điểm nhân dân, quan điểm quần chúng của Hồ Chủ tịch, vì đó là bài học trọng yếu hơn hết, quý báu hơn hết trong sự nghiệp cách mạng của Người.

Quan điểm nhân dân, quan điểm quần chúng của Hồ Chủ tịch là gì?

Đó là điều cốt yếu hơn hết của sự nghiệp cách mạng của Hồ Chủ tịch.

Đời sống của Hồ Chủ tịch là một đời hy sinh chiến đấu cho cách mạng. Trải qua hơn 40 năm nay bôn ba khắp bốn phương, thu nhặt tinh hoa của tư tưởng tiến bộ nhất thế giới ngày nay: Lý luận Mác – Lênin, Hồ Chủ tịch luôn luôn nhằm mục đích giải phóng dân tộc Việt Nam. Cách mạng Tháng Tám là một bước thành công lớn lao trong sự nghiệp cách mạng của Hồ Chủ tịch và thành công được là nhờ Hồ Chủ tịch đã đoàn kết nhân dân Việt Nam, đông đảo quần chúng lao khổ Việt Nam và dìu dắt họ chiến đấu anh dũng.

Cách mạng thành công, Hồ Chủ tịch sáng lập nước Việt Nam dân chủ cộng hoà là Nhà nước của nhân dân Việt Nam, vì nhân dân Việt Nam và do nhân dân Việt Nam. Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà là của nhân dân Việt Nam, nghĩa là nó không phải của thực dân Pháp, hay của một số ít người nào có quyền lợi địa vị chống với nhân dân; mà là của tất cả người Việt Nam yêu nước, trong đó đại đa số là quần chúng lao khổ công nông và tiểu tư sản thành thị. Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà là vì nhân dân Việt Nam, nghĩa là nhà nước ấy phục vụ nhân dân Việt Nam chứ không phải vì kẻ nào khác, phục vụ kẻ nào khác. Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà là do nhân dân Việt Nam nghĩa là do tất cả người Việt Nam yêu nước, do đông đảo quần chúng công, nông, tiểu tư sản thành thị lập nên nó, theo dõi nó, kiểm soát nó. Tóm lại, chế độ Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà là một chế độ dân chủ nhân dân.

Chính vì Hồ Chủ tịch lãnh đạo thắng lợi cuộc Cách mạng Tháng Tám và sáng lập nước Việt Nam dân chủ cộng hoà của dân, vì dân, do dân cho nên thực dân Pháp muốn đặt lại ách thống trị của chúng trên đất nước Việt Nam, bắt nhân dân Việt Nam quay về cuộc đời nô lệ cũ, đã nhờ phản động quốc tế giúp sức, gây ra cuộc chiến tranh hiện tại. Để chống lại, Hồ Chủ tịch kêu gọi nhân dân đoàn kết kháng chiến, phát động những phong trào quần chúng rộng rãi như tăng gia sản xuất, bình dân học vụ, thi đua ái quốc, v.v. để kiên quyết bảo vệ chiến quả của cuộc Cách mạng Tháng Tám, bảo vệ chế độ dân chủ cộng hoà đã thành lập. Nếu không phải là một cuộc chiến tranh nhân dân vô cùng sâu rộng, vô cùng mạnh mẽ, vô cùng oanh liệt thì cuộc kháng chiến đã thất bại.

Nội dung quan điểm quần chúng của Hồ Chủ tịch

 

Quan điểm nhân dân, quan điểm quần chúng của Hồ Chủ tịch nghĩa là quan điểm nhân dân, quan điểm quần chúng của chủ nghĩa Mác – Lênin, gồm mấy điều cốt yếu sau này:

1. Tin tưởng sức mạnh, năng lực sáng tạo, năng lực cách mạng của nhân dân, của quần chúng. Lịch sử cách mạng nước ta mấy năm gần đây chứng minh điều này đầy đủ và rõ ràng. Từ việc to đến việc nhỏ, từ toàn quốc đến địa phương, mọi ngành, mọi việc đều như thế.

Đặc biệt Hồ Chủ tịch đã dạy chúng ta không biết bao nhiêu về điều cốt yếu này. Mỗi một chủ trương, mỗi một lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch là một bài học cho chúng ta.

2. Phải biết huy động, tổ chức, lãnh đạo quần chúng nhân dân. Sức mạnh của nhân dân, quần chúng là vô cùng, làm gì cũng được. Nhưng chúng ta phải biết huy động nó, tổ chức nó, lãnh đạo nó để thực hiện những nhiệm vụ cách mạng thích hợp với từng giai đoạn, từng địa phương, từng ngành công tác. Ai ở gần Hồ Chủ tịch cũng biết Hồ Chủ tịch rất chú trọng công tác này, và mỗi khi giao nhiệm vụ cho một cán bộ làm, Người căn dặn rất chu đáo, tỉ mỉ về công tác này. Cả kinh nghiệm của cuộc kháng chiến đã chứng tỏ điểm này rất đúng…

3. Phải luôn luôn sát nguyện vọng của quần chúng nhân dân, nghe ngóng để hiểu biết nguyện vọng của quần chúng nhân dân, tìm tòi phát huy sáng kiến của quần chúng nhân dân, rồi căn cứ vào đó mà chủ trương cho đúng và kịp thời sửa chữa những chủ trương sai lầm.

4. Vì nhân dân, vì quần chúng mà hy sinh chiến đấu. Ba điều trên mật thiết liên quan với điều này. Có tin tưởng quần chúng nhân dân thì mới vì quần chúng nhân dân mà hy sinh chiến đấu để mưu lợi ích cho quần chúng nhân dân, thì mới nghe ngóng nguyện vọng, phát huy sáng kiến của quần chúng nhân dân vào như thế thì mới lãnh đạo được quần chúng nhân dân vào thực hiện nhiệm vụ cách mạng. Trái lại, kẻ nào không tin tưởng quần chúng nhân dân, thiếu tinh thần phục vụ quần chúng nhân dân thì quần chúng nhân dân cũng không tin tưởng mình, còn nói gì lãnh đạo?

Nhân dân Việt Nam tin Hồ Chủ tịch, nghe Hồ Chủ tịch, theo Hồ Chủ tịch, là vì suốt đời Hồ Chủ tịch rất tin tưởng nhân dân Việt Nam, hy sinh chiến đấu vì lợi ích của nhân dân Việt Nam. Hiện nay và sau này, trên con đường cách mạng, Hồ Chủ tịch hy sinh chiến đấu đưa nhân dân tiến đến thắng lợi thì nhân dân lại càng tin tưởng. Đây cũng là trường hợp và kinh nghiệm riêng của mỗi một người chúng ta đối với quần chúng nhân dân.

Chúng ta lãnh đạo quần chúng nhân dân nhưng đồng thời cũng học tập quần chúng nhân dân, chúng ta là thầy dạy nhưng cũng là học trò của quần chúng nhân dân. Chúng ta muốn lãnh đạo thì phải học tập, muốn làm thày dạy thì phải làm học trò quần chúng nhân dân và chúng ta càng học được nhiều bao nhiêu thì càng lãnh đạo vững vàng sáng suốt bấy nhiêu.

*
*     *

Đó là nội dung quan điểm nhân dân, quan điểm quần chúng của Hồ Chủ tịch.

Mỗi một chủ trương, mỗi một lời tuyên bố với quốc dân của Hồ Chủ tịch biểu lộ quan điểm ấy rất rõ rệt, thế mà một số cán bộ chúng ta không nhìn thấy hoặc không làm theo.

Đáng để ý nhất là chỉ thị của Hồ Chủ tịch về việc chuẩn bị tổng phản công là việc rất gian khổ, vì quân thù càng thấy chúng yếu đi, ta mạnh lên thì lại càng nỗ lực, quyết liệt, hung ác liều mạng. Cho nên, chúng ta quyết không được kinh địch, chủ quan. Trái lại, cần đem lời căn dặn của Hồ Chủ tịch giải thích cho sâu rộng, đem kinh nghiệm của địa phương và tình hình toàn quốc mà chứng minh, để huy động, tổ chức, lãnh đạo quần chúng nhân dân đoàn kết rộng rãi, chặt chẽ hơn nữa, hy sinh chiến đấu mạnh mẽ, oanh liệt hơn nữa.

Quân thù đang cố gắng bội phần và phản động quốc tế cũng đang tiếp viện cho nó bội phần.

Chính phủ ra lệnh tổng động viên chính là để tăng cường gấp bội và gấp bội lực lượng chiến đấu của chúng ta về mọi mặt.

Muốn đối phó sự cố gắng của phe địch, và chuyển sang tổng phản công, chúng ta phải nhờ cậy vào đâu? Hiển nhiên là chúng ta nhờ cậy vào sức lực của nhân dân, của đông đảo quần chúng lao khổ: công, nông, tiểu tư sản thành thị. Chính phủ đã ra lệnh tổng động viên. Đó là lệnh của chính quyền. Đó là pháp luật của Nhà nước. Nhưng cốt yếu căn bản là chúng ta phải có sự đồng tình, sự tham dự hăng hái của nhân dân…

Kịp thời sửa chữa khuyết điểm

 

Muốn làm được sự việc ấy, chúng ta cần sửa chữa kịp thời những khuyết điểm khá nặng sau đây:

1. Kém giải thích

 

Ở Hội đồng Chính phủ, mỗi khi có chủ trương một việc gì mà nhân dân phải làm thì Hồ Chủ tịch nhắc phải nhở dân vận. Dân vận trước hết và cốt yếu là giải thích, và đó là trách nhiệm của cán bộ các ngành, chứ không phải chỉ là trách nhiệm của cán bộ tuyên truyền và dân vận.

Không giải thích đầy đủ cho nhân dân hiểu để nhân dân đồng tình và hăng hái tham dự, chỉ dùng mệnh lệnh mà gọi người đi làm đường, đưa giấy đến bắt buộc bán thóc thì làm sao nhân dân khỏi liên tưởng đến những chuyện như thế ngày xưa, thì làm sao tránh những lời nói, những cử chỉ đáng tiếc của nhân dân trong lúc nhà neo gạo kém, mà nguyên nhân là vì không hiểu. Làm như thế là quan liêu, nặng chút nữa là quân phiệt. Và làm như thế lại không được việc. Trái lại nếu chúng ta biết giải thích đầy đủ cho nhân dân hiểu thì nhân dân sẽ vui lòng đi làm đường, vui lòng bán thóc cho Chính phủ, vì đó là để chuẩn bị tổng phản công. Tổng phản công đánh đuổi thằng giặc thực dân, người Việt Nam nào lại không thích, người Việt Nam nào sau mấy năm kháng chiến mà lại không sẵn sàng đóng góp tất cả khả năng sức lực của mình để chuẩn bị mau chóng đầy đủ, để mau “chuyển”.

2. Không biết cùng nhân dân bàn bạc

 

Dân chủ, nghĩa là cùng với nhân dân thương lượng bàn bạc, nhờ nhân dân giúp chúng ta làm kế hoạch thích hợp để thi hành.

Nếu cán bộ chúng ta biết làm như thế thì chúng ta đã tránh cái tệ người ở hướng Đông phải đi năm ngày để sửa đường ở hướng Tây trong lúc người ở hướng ấy cũng phải đi năm ngày để sửa đường ở hướng Đông. Nếu chúng ta biết làm như thế thì chúng ta đã tránh chi tệ nhà thừa thóc thì không ai động đến trong lúc nhà thiếu ăn cứ chạy thóc, bán cho Chính phủ.

Chính chỗ này là chỗ cần nhớ đến, hiểu đúng và biết đúng quan điểm nhân dân, quan điểm quần chúng. Trước khi làm việc gì bao giờ chúng ta cũng có kế hoạch, kế hoạch ấy chúng ta đã cố gắng căn cứ đúng sức lực của nhân dân. Nhưng chỉ đến lúc thi hành cùng với nhân dân bàn bạc thì mới thấy rõ kế hoạch ấy đúng chừng nào. Do đó, chúng ta sửa chữa, làm cho đầy đủ, cụ thể, chi tiết hơn.

Ỷ vào mệnh lệnh, chỉ biết căn cứ vào kế hoạch làm trong bàn giấy rồi nhắm mắt bắt nhân dân làm, không biết giải thích cho nhân dân hiểu, không cùng nhân dân bàn bạc, là quan liêu, nặng chút nữa là quân phiệt, là trái với giáo huấn của Hồ Chủ tịch, là hại nước, hại dân, là phải phản đối, phải bài xích, phải đánh đổ. Có người nói Chính phủ đã ra lệnh tổng động viên, đã giao kế hoạch làm đường, mua thóc cho địa phương thi hành thì địa phương phải thi hành. Đúng, địa phương phải thi hành, nhưng Chính phủ đã căn dặn, Đoàn thể đã căn dặn, Hội nghị kháng chiến hành chính toàn quốc lần thứ ba đã căn dặn: phải giải thích, bàn bạc với nhân dân, động viên tinh thần cách mạng của nhân dân, phát huy sức hy sinh chiến đấu của nhân dân để thi hành lệnh tổng động viên nhân lực, vật lực, tài lực, để thực hiện kế hoạch làm đường và thu thóc.

Muốn thi hành đầy đủ lệnh tổng động viên này, dân vận là cần thiết. Có thể nói hơn nữa: Không có dân vận thì không thể thi hành được.

Cho nên, người nào không biết dân vận – không giải thích cho nhân dân hiểu, không cùng nhân dân bàn bạc – mà không thi hành được lệnh tổng động viên hoặc nếu thi hành được mà nhờ cưỡng bức và làm nhân dân oán trách, thì người ấy có lỗi, thậm chí có tội.

Đáng lỗi, đáng tội nhất là những người vì quyền lợi cá nhân, ích kỷ của mình mà cưỡng bức nhân dân đóng góp quá sức trong lúc bản thân mình trốn tránh mọi sự đóng góp và dung túng bà con, bè bạn mình trốn tránh mọi sự đóng góp. Đặc biệt cán bộ chính quyền, cán bộ đoàn thể trong nhân dân mà lại lợi dụng quyền bính, uy tín để làm những việc trái pháp luật kể trên thì chúng ta quyết không dung thứ.

Hồ Chủ tịch nói: Chí công vô tư. Công là của Chính phủ, của đoàn thể, công là của nhân dân. Bọn sâu mọt kể trên chỉ coi trọng quyền lợi cá nhân, ích kỷ của mình và bà con thân thuộc và vì đó mà làm sai lạc ý nghĩa tác dụng chủ trương của Chính phủ, của Đoàn thể, làm hại đến quyền lợi của cuộc kháng chiến thần thánh. Bọn sâu mọt này cũng vì chỉ biết quyền lợi cá nhân ích kỷ của mình mà đã phạm nhiều sự sai lầm trong việc thi hành giảm tô, trong việc mua thóc khao quân, nay trong lúc thi hành tổng động viên này, nếu chúng ta không kịp thời sửa chữa kẻ nào còn sửa chữa được, đồng thời thanh trừ và trừng phạt xứng đáng kẻ có tội, thì chúng sẽ làm hại công cuộc của chúng ta không ít.

Lại còn một số cán bộ khác mà nhân đây, cũng cần vạch mặt ra mà bảo cho họ biết: Các anh cũng là người làm trái hẳn giáo huấn của Hồ Chủ tịch. Đó là những người không cần kiệm liêm chính, những người xoay giấy tờ, sổ sách để có tiền ăn xài, tiệc tùng xa xỉ. Nhân dân đã thốt ra câu: Xôi thịt lối mới. Đúng. Trong lúc nhân dân vì thiên tai, vì địch phá, vì đóng góp cho bộ đội phải thắt cái bụng lại, ăn độn, ăn thiếu, thế mà có những cán bộ dám bỏ ra hàng vạn để chi tiêu vào những việc xa xỉ hoặc không ích lợi lắm. Trong số này, phần lớn là vô ý thức – cố nhiên vô ý thức vẫn có lỗi, còn một số thì đích đáng là kẻ gian, cần thanh trừ và trừng phạt.

Hồ Chủ tịch dạy chúng ta: Chí công vô tư, cần kiệm liêm chính và suốt đời hy sinh tất cả để phục vụ nhân dân, quần chúng. Đó cũng là một mặt của quan điểm nhân dân, quan điểm quần chúng của Hồ Chủ tịch. Tôi tưởng chúng ta nên chú trọng mặt này, vì nó có ảnh hưởng nhiều đến cả quan điểm nhân dân, quan điểm quần chúng nói rõ ở trên. Nếu cán bộ chúng ta, cán bộ quân, dân, chính mà không chí công vô tư, không cần kiệm liêm chính, nghĩa là tự tư tự lợi, tham ô nhũng lạm thì còn nói gì làm việc nước, việc dân, làm sao kêu gọi nhân dân, giải thích cho nhân dân, bàn bạc với nhân dân đóng góp tất cả khả năng nhân lực, vật lực, tài lực của mình để chuẩn bị tổng phản công. Hồ Chủ tịch thường nhắc chúng ta: cán bộ phải làm gương mẫu. Ý nghĩa câu ấy là như thế.

Chúng ta luôn luôn hô khẩu hiệu: Hồ Chủ tịch muôn năm, như thế chưa đủ, chúng ta còn phải học tập thấm nhuần cả tác phong của Hồ Chủ tịch, đặc biệt là quan điểm nhân dân, quan điểm quần chúng của Hồ Chủ tịch…

Phạm Văn Đồng
(Bài viết nhân kỉ niệm lần thứ 60 Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, năm 1950, sách “Phạm Văn Đồng: Hồ Chủ tịch, lãnh tụ của chúng ta”.)

Hochiminhhoc.com
Tâm Trang (st)

bqllang.gov.vn

‘Học Bác thì phải làm theo Bác’

“Học Bác đã quan trọng, làm theo Bác càng quan trọng hơn. Càng là cán bộ lãnh đạo thì càng phải làm theo để làm gương cho cấp dưới”, ông Nguyễn Đình Hương, nguyên Ủy viên trung ương Đảng, Phó trưởng Ban Tổ chức Trung ương mở đầu cuộc trò chuyện với Đất Việt.

80 tuổi, gần 50 năm làm công tác cán bộ của Đảng, ông Nguyễn Đình Hương tâm sự: “Có rất nhiều điều mà chúng ta phải học tập Bác. Riêng tôi, là một đảng viên, tôi thấm thía nhất ba bài học lớn: đoàn kết, thương yêu nhau trong nội bộ Đảng, giữ gìn đạo đức cách mạng và phải biết dựa vào dân, thực sự là đầy tớ của dân”. Hằng năm, cứ đến ngày 21/7 âm lịch, ngày giỗ Bác, ông lại cùng bạn bè cùng thời đến thắp hương cho Người rồi lại cùng nhau ngồi hàn huyên những kỷ niệm về Người, bài học của Người.

– Thưa ông, vì sao bài học giữ gìn sự đoàn kết, thương yêu nhau trong nội bộ Đảng lại khiến ông tâm đắc?

– Dưới sự lãnh đạo của Đảng, dân tộc ta đã đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Chúng ta đã đánh và thắng bao nhiêu kẻ thù hùng mạnh, nếu không đoàn kết, liệu có thắng được không? Trong Di chúc, Bác đã nói: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết –  Thành công, thành công, đại thành công”. Điều mà Bác quan tâm trước hết là đoàn kết trong nội bộ Đảng, trước hết là Ban Chấp hành Trung ương, trong Bộ Chính trị.

Tôi được gần gũi nhiều với anh Vũ Kỳ, thư ký của Bác. Có lần, anh Kỳ kể với tôi là cứ chiều thứ bảy hằng tuần, Bác lại mời cơm các anh trong Bộ chính trị. Nhưng Bác mời cơm không phải là đến để bàn thời cuộc, bàn công việc. Mục đích của Bác là sau một tuần làm việc, các anh ấy gần gũi nhau, có gì mắc mứu thì thông cảm, chia sẻ với nhau. Câu chuyện chỉ như vậy, nhưng có thể thấy Bác quan tâm từng ly từng tý tới sự đoàn kết trong nội bộ Đảng, mà Bác là tấm gương, là trung tâm. Không phải ngẫu nhiên mà trong di chúc, Bác lại nhắc nhở cán bộ, đảng viên: “Phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau”.

Bác Hồ tại nhà sàn Việt Bắc năm 1947. (Ảnh tư liệu).

– Nếu không có tình đồng chí thương yêu nhau thì cũng không thể có đoàn kết, thưa ông?

– Đúng. Bây giờ tôi với anh không thương yêu nhau thì làm gì có đoàn kết, bao dung, tha thứ. Anh có hoàn cảnh của anh, tôi có hoàn cảnh của tôi. “Ai nên khôn mà chẳng dại đôi lần”. Trong cuộc đời cách mạng, đâu phải ai cũng sáng suốt mà không mắc sai lầm nào. Tôi thấy trong hai cuộc kháng chiến, tình đồng chí thật trong sáng, chia nhau từng điếu thuốc, từng bát cơm, thương yêu nhau lắm. Còn bây giờ điều kiện vật chất khá hơn nhưng tình đồng chí lại không được như trước.

–  Ông nghĩ thế nào vầ câu Bác Hồ đã viết trong Di chúc: “Các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình”?

– Có một lần, anh Tố Hữu kể với tôi, trong một lúc thư giãn, một cán bộ cấp cao hỏi Bác: “Thưa Bác, bây giờ Bác sợ cái gì nhất?”. Bác Hồ bảo: “Chú hỏi câu đó, thì Bác trả lời chú là, đế quốc Mỹ Bác không sợ, không sợ ai hết. Điều làm Bác sợ là các chú mất đoàn kết”.

Cho nên, Bác nhắc tới sự đoàn kết và phải có tình đồng chí thương yêu nhau trong di chúc là như thế. Vì để đoàn kết được là không đơn giản. Anh có chức có quyền, anh có nhà lầu xe hơi, còn anh lại chẳng có gì, thì ngồi với nhau, thống nhất với nhau khó lắm. Đó là chưa kể đến chuyện anh hống hách, quan liêu, coi thường ý kiến của người khác. 

Ông Nguyễn Đình Hương. Ảnh: Như Ý.

– Vậy còn bài học về đạo đức cách mạng?

– Bác Hồ đã nói rồi, Đảng ta là Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Bây giờ, nếu xem xét tiêu chuẩn một bộ trưởng, một bí thư, chúng ta không nên nói chung chung là có đức có tài, mà phải xem là họ có thật sự cần kiệm liêm chính hay chưa, thật sự chí công vô tư hay chưa.

Tôi còn nhớ một câu chuyện, có một cán bộ cấp cao làm một cái nhà rất to. Khi đến tai Bác, Bác rất nhẹ nhàng chứ không phê phán gì. Bác mời cơm vị cán bộ này và trong bữa cơm, Bác chỉ nói đúng một câu: “Người dân người ta khổ hơn mình, mà nghe nói chú làm cái nhà to lắm”. Chỉ một câu như thế mà vị cán bộ này về trả nhà ngay. Cứ so sánh với bây giờ mà tôi thấy băn khoăn quá. Nhiều cán bộ, đảng viên mua biệt thự, sắm xe hơi hàng tỷ đồng, nhiều người còn có mấy cái nhà lầu, ba bốn xe ô tô. Nếu chỉ với đồng lương nhà nước, liệu họ có thể mua được những thứ đó?.

Bác Hồ vẫn luôn căn dặn cán bộ, đảng viên phải xứng đáng là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân. Tư tưởng của Bác về vấn đề này là rất sâu sắc. Khi Đảng có những sai lầm, thậm chí là sai lầm nghiêm trọng, Bác gọi mấy anh lãnh đạo đến và bảo: “Bây giờ các chú phải về xin lỗi dân. Nếu dân tha thứ cho thì không sợ. Nước yên thì thuyền yên”. Còn như hiện nay, tôi thấy nhiều cán bộ, đảng viên không xứng đáng là đầy tớ của dân. Trong khi đời sống của người dân còn không ít khó khăn, mà “đầy tớ” cứ chiều chiều lại đi chơi tennis, đánh golf, xông hơi, xe đưa rước…

– Cuộc vận động Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh qua hai năm thực hiện đã thu được kết quả bước đầu. Ông có đề xuất gì vào việc tiếp tục thực hiện để góp phần đẩy lùi những suy thoái, tiêu cực trong một số cán bộ, đảng viên và để họ thực sự là đầy tớ của dân như lời Bác dạy?

– Tôi cho rằng, học Bác đã khó, làm theo Bác càng khó hơn. Quan trọng nhất vẫn là làm theo Bác. Càng là cán bộ cấp cao càng phải làm theo để làm gương cho cấp dưới, cho đảng viên. Phải nói thực là hiện nay vẫn còn không ít cán bộ, đảng viên học Bác nhưng lại không làm theo Bác. Biểu hiện rõ nhất là họ chưa đoàn kết, chưa thương yêu nhau, không giữ gìn đạo đức cách mạng và không thực sự là đầy tớ của dân. Đó là điều rất đáng buồn.

Vì thế, tôi nghĩ, để cuộc đấu tranh giữa tích cực và tiêu cực, giữa trung thực và cơ hội, giữa cái thẳng thắn với xun xoe xu nịnh trong Đảng đạt kết quả, chúng ta càng cần đẩy mạnh cuộc vận động. Phải học tập và làm theo một cách thực chất, chứ không phải là hình thức. Chỉ có thực chất, Đảng mới trong sạch, vững mạnh, mới không còn những người cơ hội, lợi dụng chức quyền để vun vén cá nhân.

– Xin trân trọng cảm ơn ông!

Lê Vỵ – Ngọc Trung (thực hiện)

baodatviet.vn

Thống nhất nhận thức, đồng lòng, đồng thuận, đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh

Bác Hồ thăm Hợp tác xã Hùng Sơn, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên năm 1954, một hình ảnh hết sức gần gũi giữa một vị lãnh tụ và nhân dân - ảnh minh họa

Ngày 15/10/1949, trên tờ Báo Sự thật số 120 đã đăng bài “Dân vận” của tác giả X.Y.Z, một trong 150 bút danh của Chủ tịch Hồ Chí Minh – Lãnh tụ kiệt xuất của Đảng và của dân tộc Việt Nam.

Về hình thức: Đây là một bài viết rất ngắn gọn, từ đầu đề (chỉ vỏn vẹn 2 từ), đến dung lượng (chỉ có 573 từ); được diễn đạt bằng ngôn ngữ giản dị, gần gũi với quần chúng; văn phong súc tích, có tính khái quát cao; cùng một kết cấu mạch lạc, chặt chẽ, sáng rõ, dễ nhớ, dễ thuộc và dễ làm theo.

Về nội dung: Bài báo “Dân vận” thể hiện đầy đủ và sâu sắc những quan điểm, tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về vai trò to lớn của nhân dân và phương châm hành động trong công tác dân vận. Dù bài báo đã trải qua 62 năm, nhưng soi rọi vào thực tiễn hôm nay, vẫn còn nguyên giá trị và nóng hổi tính thời sự.

Trong bài báo, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói rõ về quyền lợi, nghĩa vụ, vai trò, trách nhiệm của nhân dân trong công cuộc xây dựng đất nước: “Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân. Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân. Chính quyền từ xã đến Chính phủ Trung ương do dân cử ra. Đoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức nên…”.

Thực tế đã chứng minh tư tưởng đúng đắn của Chủ tịch Hồ Chí Minh: Ở địa phương nào thực hiện tốt Quy chế dân chủ cơ sở, thực hiện tốt phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”, tổ chức công khai, minh bạch để dân bàn bạc góp ý tìm biện pháp tốt, công khai cho dân biết lợi ích của việc phải làm, phát triển mạnh, khai thác được nội lực, thì địa phương ấy nhanh chóng thay đổi theo chiều hướng ngày càng tốt hơn, mang lại kết quả thiết thực.

Ngược lại, nơi nào vì lý do gì đó, có thể là ảnh hưởng đến quyền lợi của một ai đó mà không dám công khai, minh bạch thì những chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước chậm được triển khai thực hiện, hoặc thực hiện không hiệu quả, tình hình mọi mặt của địa phương đó trì trệ, tụt hậu. Mặt khác, nếu trong quá trình thực hiện chủ trương, chính sách có liên quan đến quyền lợi, lợi ích chính đáng, hợp pháp của người dân … mà không tổ chức bàn bạc dân chủ, không công khai minh bạch, sẽ phát sinh tình trạng gây thắc mắc, bất bình trong dân, dẫn đến khiếu kiện, khiếu nại sẽ ảnh hưởng đến ổn định xã hội, làm giảm lòng tin của nhân dân đối với vai trò lãnh đạo của cấp ủy đảng và chính quyền ở cơ sở, địa phương đó.

Trong công tác vận động nhân dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu rõ: “…Dân vận là vận động tất cả lực lượng của mỗi một người dân, không để sót một người dân nào, góp thành lực lượng toàn dân…”. Cụ thể hơn, Người chỉ ra phương pháp, nội dung để vận động nhân dân:“…tìm mọi cách giải thích cho mỗi một người dân hiểu rõ ràng: Việc đó là lợi ích cho họ và nhiệm vụ của họ, họ phải hăng hái làm cho kỳ được…” , “bất cứ việc gì đều phải bàn bạc với dân, hỏi ý kiến và kinh nghiệm của dân, cùng với dân đặt kế hoạch cho thiết thực với hoàn cảnh địa phương, rồi động viên và tổ chức toàn dân ra thi hành…”.

Vai trò to lớn của nhân dân được Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh ở đoạn văn trên. Đúng với ý tứ mà Người thường nhắc đi, nhắc lại: “Dễ trăm lần không dân cũng chịu. Khó vạn lần dân liệu cũng xong”. Bản chất của công tác dân vận chính là nhằm “vận động tất cả lực lượng của mỗi một người dân không để sót một người dân nào, góp thành lực lượng toàn dân, để thực hành những công việc nên làm, những công việc Chính phủ và đoàn thể đã giao cho…”. Nghĩa là phải tập hợp và huy động cho được sức mạnh của toàn dân (mọi người, mọi nhà, mọi đối tượng) vào các phong trào cách mạng.

Thực tế là như thế. Không có sức mạnh nào bằng sự đồng thuận, nhất trí cao của nhân dân khi đã nhận thức thấu đáo nội dung, ý nghĩa của vấn đề khi đi vào thực hiện. Việc thực hiện không đốt pháo, đội mũ bảo hiểm khi tham gia giao thông được toàn dân thực hiện là một minh chứng sinh động nhất trong sự đồng thuận xã hội của nước ta. Nếu chủ trương, chính sách nào cũng được nhân dân bàn bạc, thảo luận thấu đáo chắc chắn khi đưa vào thực hiện sẽ thuận lợi và đạt kết quả.

Để đạt được kết quả cao trong công tác dân vận, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Tất cả cán bộ chính quyền, tất cả cán bộ đoàn thể và tất cả hội viên của các tổ chức nhân dân đều phải phụ trách dân vận…” và người làm công tác dân vận phải “…óc nghĩ, mắt trông, tai nghe, chân đi, miệng nói, tay làm. Chứ không phải chỉ nói suông, chỉ ngồi viết mệnh lệnh…”.

Về tầm quan trọng của công tác dân vận: Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Dân vận kém thì việc gì cũng kém. Dân vận khéo thì việc gì cũng thành công”. Từ đó, chúng ta hiểu: Dân vận là cái gốc, là điểm xuất phát của mọi phong trào cách mạng của quần chúng và là sự khởi đầu của mọi thành công. Muốn sự nghiệp cách mạng thành công, trước hết phải biết tuyên truyền và vận động nhân dân – chính là làm tốt công tác dân vận.

Ngày nay, mỗi năm, cả hệ thống chính trị của nước ta tổ chức kỷ niệm ngày truyền thống công tác dân vận của Đảng (15/10) và ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh viết bài báo “Dân vận” (15/10/1949). Đó là sự nhận thức của một quá trình kế thừa, chiêm nghiệm và thông qua thực tiễn trong quá trình tổ chức vận động nhân dân thực hiện bảo vệ và xây dựng đất nước, thực hiện các phong trào hành động cách mạng.

Thiết nghĩ, nếu đồng lòng, đồng thuận, thống nhất nhận thức, đẩy mạnh học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, chắc chắn đất nước ta, dân tộc ta sẽ trường tồn, giàu mạnh, sánh vai cùng các cường quốc năm châu như lòng mong muốn của Chủ tịch Hồ Chí Minh./.

Theo Xuân Triệu
(ubmttq.hochiminhcity.gov.vn)
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Bài học cốt tử: Học dân để lãnh đạo dân

Đảng và Nhà nước đang tiến hành tổng kết Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Từ dân đến cán bộ đều học tập Bác Hồ để trở thành công dân tốt, cán bộ tốt. Có những bài học cho cả triệu người như Cần – Kiệm – Liêm – Chính. Lại có bài học chủ yếu cho lãnh đạo cấp cao, đứng đầu các Bộ, ngành ở Trung ương, đó là chống quan liêu. Tham ô, lãng phí, quan liêu được Bác Hồ chỉ đích danh là nội xâm.

Quan liêu nguy hiểm nhất như Bác đã nhận xét: “Quan liêu đã ấp ủ, dung túng, che chở tham ô, lãng phí. Vì vậy muốn trừ sạch nạn tham ô, lãng phí thì trước mắt phải tẩy sạch bệnh quan liêu”. (Hồ Chí Minh toàn tập, tập 6, trang 490).

Tết Âm lịch năm 1963, Bác muốn đến chúc tết một gia đình nghèo ở Hà Nội. Bác căn dặn anh em bảo vệ không được báo cho chính quyền thành phố biết, anh em phải khéo léo tìm ra gia đình cực nghèo và chỉ có Bác và mấy người đến thôi. Xem báo thấy lãnh đạo thăm gia đình nghèo, đi theo còn có lãnh đạo tỉnh, huyện, lại có nhà báo quay phim, chụp ảnh, Bác thấy khi chuyến thăm còn dùng để tuyên truyền thì cái nghèo của gia đình chẳng thể còn nguyên vẹn. Chuyện về một cô giáo không còn được Đảng bộ xã công nhận là đối tượng cảm tình Đảng, Bác cũng biết. Tội chỉ vì lãnh đạo xã căn dặn phải cho học sinh ăn mặc áo quần mới, ít nhất cũng lành lặn, chân các em đừng đi đất để đón lãnh đạo Trung ương về thăm nhưng cô giáo không chấp hành, lại còn nói phải để Trung ương biết tận nơi các em khổ như thế nào thì Trung ương mới giải quyết. Những chuyện thế này, Bác Hồ đều kể cho anh em cảnh vệ nghe để Bác đi công tác bất cứ đâu cũng không cho nơi đó biết trước. Cục trưởng Cục Cảnh vệ Huỳnh Hữu Kháng được đi theo bảo vệ Bác 6 năm kể lại: Có lần, ông báo cho nơi Bác Hồ sắp đến thăm biết trước, Bác đã phê bình ông nghiêm khắc, Bác nói rõ nếu để xảy ra lần nữa Bác không cho đi theo bảo vệ Bác nữa.

Lãnh đạo Trung ương về cơ sở, thực tế không còn nguyên vẹn vì đã được bố trí, sắp xếp, tô vẽ, có nơi gọi là thực tế đã bị “luộc” và như vậy “lợi bất cập hại” vì lãnh đạo vẫn tưởng nơi mình đến công tác tận nơi mắt, thấy tai nghe hẳn hoi là tốt đẹp thật. Lãnh đạo về cơ sở không chỉ nâng cao dân trí mà còn là nâng cao chính bản thân mình, nâng cao “quan trí”. Dân là nguồn trí tuệ là kho sáng kiến của Đảng và Nhà nước và những sáng kiến ấy cần được lãnh đạo trên cơ sở phát hiện, nâng lên, hoàn chỉnh thành những luật, những chính sách của Đảng và Nhà nước. Nhờ nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của dân, có khi sáng kiến của dân được nâng lên, hoàn chỉnh thành phương án đổi mới. Khoán hộ từ sự sáng tạo của nông dân được ông Kim Ngọc và Tỉnh ủy Vĩnh Phú phát hiện, ủng hộ sau đó đã toàn quốc hóa rất nhanh, dù còn phải làm “chui” dân cũng vẫn dám làm. Đổi mới, dân và Đảng là đồng tác giả là như vậy, với điều kiện tiên quyết thường xuyên có lãnh đạo bộ, ban, ngành bám cơ sở. Chúng ta càng hiểu sâu xa tại sao Bác Hồ đòi hỏi rất nghiêm ngặt cán bộ nhà nước dù giữ chức vụ gì cũng không bao giờ được quên rằng mình là cán bộ dân vận. Gặp dân không chỉ qua máy tăng âm hiện đại nói chuyện với hàng trăm, hàng nghìn người mà lại phải dành thời gian về sống trong dân, tâm tình trò chuyện với dân như Bác Hồ dặn dò rất cụ thể “một người nói với một người, từ miệng sang tai”.

Báo Sự thật số 140, ngày 2-9-1950 đăng bài “Phải tẩy sạch bệnh quan liêu” của Bác Hồ ký bút danh “X. Y. Z”. Câu hỏi “Bệnh quan liêu là thế nào?” được Bác giải thích: “Nguyên nhân của nó vì xa cách quần chúng, không hiểu biết quần chúng, không học hỏi quần chúng, sợ dân chúng phê bình. Một thí dụ: Các cán bộ ấy, người thì cả đời chỉ loanh quanh trụ sở. Có người thì bao giờ “sấm ra đá kêu” mới gặp dân chúng một lần, khi gặp dân chúng thì đút tay vào túi quần mà ‘huấn thoại”, nói hàng giờ, nói bao la thiên địa, song những việc thiết thực cần kíp của địa phương, những điều dân chúng cần biết thì không nói đến. Chỉ biết dự hội nghị, viết nghị quyết, ra chỉ thị chứ không biết điều tra, nghiên cứu, đôn đốc, giúp đỡ, khuyến khích, kiểm tra”. Trong bài báo, Bác khẳng định: “Không học hỏi dân thì không lãnh đạo được dân”. (Hồ Chí Minh toàn tập, tập 6, trang 80).

Lãnh đạo học dân là hết sức cần thiết vì thực tế cuộc sống đã chứng minh đầy sức thuyết phục là không học dân thì sẽ lạc hậu hơn dân, lãnh đạo dân sao nổi? Bù giá vào lương, xóa bỏ tem phiếu là mong muốn khắc khoải của mọi người và nơi đầu tiên đã dám làm việc này là tỉnh Long An. Lãnh đạo hầu hết bộ, ban, ngành ở Trung ương đều không ủng hộ Long An, cho là Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh tập trung chuyên gia kinh tế, giáo sư, tiến sĩ còn chưa dám làm và đòi hỏi Chính phủ phải loại bỏ ngay cơ chế Long An… Cũng may, Tổng Bí thư Lê Duẩn đề nghị cứ để Long An làm thí điểm. Long An tồn tại rất khó khăn vì hầu hết bộ, ngành ở Trung ương coi thường…Còn dân và cán bộ Long An rất tín nhiệm lãnh đạo vì họ sống thoải mái hơn trước nhờ không còn tem phiếu, thị trường chỉ còn một giá. Một số tỉnh đến tìm hiểu cách làm ăn mới của Long An, rồi cũng chuyển sang xóa bỏ tem phiếu như Long An, dần dần Long An không còn đơn độc và tới năm 1985, Đảng và Nhà nước chính thức công nhận Long An là ngọn cờ xóa bỏ tem phiếu của cả nước.

Khoán hộ trong nông nghiệp còn gian nan, cơ cực hơn cơ chế Long An nhiều. Ra đời từ năm 1966, mãi đến năm 1988, nghĩa là 22 năm sau mới được công nhận hợp pháp. 22 năm bị cấm, coi là bất hợp pháp, một số đảng viên cơ sở lãnh đạo nông dân “làm chui” đã bị khai trừ khỏi Đảng. Một nghịch lý nổi bật: Nông dân tuyệt đại đa số ít học nhưng rất nhạy bén với cái mới, kiên quyết loại bỏ cách làm ăn cũ là khoán việc chỉ mang lại đói khổ cho nông dân. Ngược lại, các viện, các trường, các cơ quan Trung ương tập trung nhiều cán bộ được bồi dưỡng nhiều, học trong nước, ngoài nước lại chỉ bảo vệ cách làm ăn cũ đã quá lỗi thời, ra sức ủng hộ khoán việc, cho khoán việc thì nông dân mới đi lên chủ nghĩa xã hội. Lãnh đạo các bộ, ngành, các cơ quan Trung ương không chịu về nông thôn học nông dân và tìm hiểu tại sao nông dân mọi nơi không chấp nhận cách làm ăn do chủ quan áp đặt.

Học dân để lãnh đạo dân là bài học cốt tử Bác Hồ đã nêu lên từ năm 1950. Hơn 30 năm sau, bước vào công cuộc đổi mới càng thấy giá trị lớn lao của bài học này. Khi lãnh đạo không chịu là học trò dân, chỉ muốn làm thầy dân, đất nước đã phải trả giá quá đắt. Và cái giá quá đắt ấy nhân dân ta sẽ tiếp tục còn phải trả nếu lãnh đạo các bộ, ban, ngành ở Trung ương vẫn chưa thấy sát cơ sở, gần dân, học dân là vấn đề sống còn.

Theo Daidoanket.vn
Tâm Trang (st)

bqllang.gov.vn

Học tập phương pháp giáo dục lý luận chính trị của Chủ tịch Hồ Chí Minh

(ĐCSVN) – Lý luận giáo dục học cho chúng ta thấy rằng, nội dung giáo dục quyết định phương pháp giáo dục. Để chuyển tải tốt nội dung đòi hỏi nhà giáo dục phải biết kết hợp có hiệu quả nhiều phương pháp giáo dục phù hợp.

Trong di sản tư tưởng Hồ Chí Minh, tư tưởng về giáo dục luôn có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam. Tư tưởng về giáo dục lý luận chính trị của Hồ Chí Minh không bó hẹp trong việc giáo dục tri thức cho người học, mà còn có tính bao quát, sâu xa nhưng vô cùng sinh động, thiết thực nhằm đào tạo đội ngũ cán bộ toàn diện, vừa hồng vừa chuyên, có chuyên môn, lý tưởng cách mạng, đạo đức cách mạng, sức khỏe, thẩm mỹ…

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: Học hỏi là một việc phải tiếp tục suốt đời. Suốt đời phải gắn liền lý luận với công tác thực tế. Không ai có thể tự cho mình đã biết đủ rồi, biết hết rồi. Thế giới ngày ngày đổi mới, nhân dân ta ngày càng tiến bộ cho nên chúng ta phải tiếp tục học và hành để tiến bộ kịp nhân dân. Người yêu cầu: Tất cả các đảng viên phải cố gắng học tập, coi việc học tập lý luận và chính trị là một nhiệm vụ quan trọng của mình.

Để giáo dục lý luận chính trị đạt kết quả tốt, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu một số phương pháp cơ bản, chủ yếu trong giáo dục lý luận chính trị.

Thứ nhất, Người xác định: Dạy và học lý luận chính trị“phải nâng cao và hướng dẫn việc tự học”, “phải biết tự động học tập”, phải“lấy tự học làm cốt. Do thảo luận và chỉ đạo mà giúp vào”. Hồ Chí Minh đề cao vấn đề tự học trong công tác giáo dục lý luận chính trị. Người nói: “Bác thường nghe nói có đồng chí mới 40 tuổi mà đã cho mình là già, cho nên ít chịu học tập. Nghĩ như vậy là không đúng, 40 tuổi chưa phải là già. Bác đã 76 tuổi nhưng vẫn cố gắng học thêm. Chúng ta phải học và hoạt động cách mạng suốt đời” [Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, Tập 12, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.92]. Phải dành nhiều thời gian cho khâu tự học của học viên, bao gồm tự nghiên cứu làm đề cương, thảo luận, tranh luận, sinh hoạt tập thể theo nhóm, tổ hay cả lớp với những chủ đề thích hợp theo sự hướng dẫn của giảng viên.

Hai là, trong giáo dục và học lý luận chính trị, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn lưu ý phải thực hành phương pháp “nêu cao tác phong độc lập suy nghĩ ”. Hồ Chí Minh dạy: “Phải khiêm tốn, thật thà. …, cái gì biết thì nói biết, không biết thì nói không biết. Kiêu ngạo, tự phụ, tự mãn là kẻ thù số một của học tập” [Sđd, T.8, tr.499]. Đối với phương pháp này, Người không chỉ yêu cầu đối với người học mà còn đòi hỏi đối với người dạy phải độc lập suy nghĩ, đào sâu hiểu kỹ, suy nghĩ chín chắn mới có thể hiểu sâu lý luận, nâng cao tư tưởng, giữ vững lập trường. Hồ Chí Minh yêu cầu trong giảng dạy cần xác định nội dung cốt lõi trong toàn hệ thống. Chỉ có trên cơ sở bao quát toàn bộ thì mới xác định được vấn đề cốt lõi, nội dung chính, trọng tâm cần nắm vững và vận dụng; có như vậy mới khắc phục được tình trạng phiến diện, nhìn cây mà không thấy rừng hoặctình trạng chung chung, đại khái, chỉ biết rừng mà không biết các loại cây cụ thể. Đồng thời, trong huấn luyện phải chú ý vào rèn luyện phương pháp, kỹ năng, tạo cho người học nắm được bản chất của các quan điểm lý luận, có thể độc lập, tự chủ xử trí đúng công việc trong bất cứ hoàn cảnh nào.

Ba là, công tác đào tạo lý luận chính trị phải thiết thực, cụ thể, phù hợp với đối tượng, với thực tiễn. Hồ Chí Minh cho rằng, công tác giảng dạy phải xuất phát từ tình hình cụ thể, phù hợp với từng đối tượng cán bộ… Nhằm “cốt yếu là phải làm cho người học hiểu thấu vấn đề. Nhưng hiểu thấu cũng có nhiều cách: có cách hiểu thấu thật tỉ mỉ, nhưng dạy theo cách đó thì phải tốn nhiều thì giờ. Trái lại cũng có cách dạy bao quát mà vẫn làm cho người học hiểu thấu được” [Sđd, T.6, tr.47]. Giảng viên cần hiểu rõ và nắm chắc nhu cầu nhận thức của người học và mối liên hệ giữa nội dung học tập với chức trách, nhiệm vụ của người học và thực tiễn địa phương, đơn vị công tác của họ.

Bốn là, xây dựng đội ngũ cán bộ giảng dạy. Điều kiện có ý nghĩa quyết định hiệu quả công tác giáo dục lý luận chính trị là đội ngũ và chất lượng giảng viên. Đội ngũ này phải đủ về số lượng, đảm bảo về chất lượng, phải được lựa chọn cẩn thận, đòi hỏi phải được đào tạo cơ bản, có hệ thống, được bồi dưỡng thường xuyên, được tổ chức và quản lý chặt chẽ; phải đảm bảo về phẩm chất đạo đức và năng lực chuyên môn. Người giảng viên lý luận chính trị phải là những người trung thành với đường lối chính trị của Đảng, tận tụy phục vụ lợi ích của nhân dân, có khả năng tổ chức và vận động thuyết phục quần chúng, có trình độ sư phạm.

Năm là, tổ chức quản lý học viên trong quá trình đào tạo. Muốn huấn luyện lý luận chính trị trước hết phải có tổ chức, có lãnh đạo sâu sát, tỉ mỉ và chu đáo. Tổ chức huấn luyện phải bám sát cả yêu cầu số lượng và chất lượng; đồng thời, Hồ Chí Minh quan tâm đến cách thức tổ chức lớp. “Đông quá thì dạy và học ít kết quả vì trình độ lý luận của người học chênh lệch, nên thu nhận không đều. Trình độ công tác thực tế của người học cũng khác nhau, nên chương trình không sát” [Sđd, tr.52].

Người phê phán việc mở lớp lung tung, chồng chéo lẫn nhau, tốn sức, tốn của của Đảng, Nhà nước và nhân dân, rời rạc không đâu vào đâu. Người cho rằng: “Vì mở nhiều lớp nên thiếu người giảng. Thiếu người giảng thì học viên đâm chán nản. Thiếu người giảng thì phải đi “bắt phu”, vì thế người đến giảng khi nào cũng hấp tấp, lướt qua lớp này một chút, lớp khác một chút như “chuồn chuồn đạp nước”, dạy không được chu đáo. Thiếu người giảng thì thường khi lại phải “bịt lỗ”, người “bịt lỗ” năng lực kém, nói sai, có hại cho học sinh, nghĩa là có hại cho Đoàn thể. Rốt cuộc chỉ tốn gạo mà học thì học táp nhoang” [Sđd, tr.52]. Các lớp huấn luyện phải được tổ chức thường xuyên; chương trình, giáo trình phải có tính hệ thống theo từng mức độ từ thấp đến cao, từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp.

Sáu là, phương tiện, trang thiết bị, cơ sở vật chất phục vụ giảng dạy và học tập của đội ngũ giảng viên và học viên của trường. Ngoài nguồn lực con người như là nhân tố quyết định, hiệu quả giáo dục lý luận chính trị còn phụ thuộc vào phương tiện, trang thiết bị, cơ sở vật chất kỹ thuật trực tiếp phục vụ cho việc dạy và học; là các loại tài liệu, giáo khoa, giáo trình, lớp học, bàn ghế, đồ dùng dạy học v.v… Đặc biệt, về tài liệu, Hồ Chí Minh cho rằng: “Trước hết phải lấy những tài liệu về chủ nghĩa Mác-Lênin làm gốc. Nhưng tài liệu phải lựa chọn, xếp đặt lại, vì trình độ người học không đều nhau, cần có tài liệu thích hợp với từng hạng. Tài liệu không thích hợp thì học không có ích lợi gì” [Sđd, T.6, tr.49]; các nhà kinh điển mácxít đã để lại một kho tàng kinh điển đồ sộ thông qua những bài nói, bài viết và những tác phẩm phản ánh những vấn đề – những nguyên lý cơ bản trên mặt trận lý luận, tư tưởng nhưng không phải là một bộ sách giáo khoa hay một bài giảng có sẵn. Vì vậy, sử dụng như thế nào cho có hiệu quả, cần phải có sự nghiên cứu, chọn lọc; nhưng không thể có chung một loại tài liệu cho mọi đối tượng.

Bác Hồ là người đã vận dụng tốt vấn đề này, tiêu biểu là việc Người biên soạn tác phẩm Đường Cách mệnh trong những năm 1925-1927 để huấn luyện các lớp đào tạo cán bộ đầu tiên của Đảng; một quyển sách vừa ngắn gọn, vừa dễ hiểu, vừa có sức thuyết phục phù hợp cách mạng Việt Nam. Bên cạnh đó, ngoài những tài liệu về chủ nghĩa Mác-Lênin, Bác còn đề cập đến một loại tài liệu khác, đó là: “Những chỉ thị, nghị quyết, luật, lệnh của Đoàn thể và Chính phủ” [Sđd, tr.50].

Trong công tác giáo dục lý luận chính trị, cán bộ không nên viết dài, nói dài, trừu tượng, mà phải nói và viết cho ngắn gọn, cô đọng, dễ hiểu, súc tích và sinh động thì người học mới tiếp thu được. Người dặn: “Viết dài mà rỗng, thì không tốt. Viết ngắn mà rỗng, cũng không hay. Chúng ta phải chống tất cả những thói rỗng tếch. Nhưng trước hết phải chống thói đã rỗng lại dài” [Sđd, T.5, tr.300].

Để nâng cao chất lượng giáo dục lý luận chính trị theo tư tưởng Hồ Chí Minh còn nhiều vấn đề cần phải bàn và cần phải làm rất nhiều công việc mới có thể biến phương pháp của Người thành hiện thực. Thiết nghĩ, cần phải nghiên cứu học tập tư tưởng Hồ Chí Minh về phương pháp giáo dục lý luận chính trị, tập trung đẩy mạnh đổi mới công tác giáo dục lý luận chính trị, tư tưởng trong Đảng, trước hết cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo và quản lý chủ chốt các cấp; đổi mới nội dung, phương pháp học tập và giảng dạytrong hệ thống Học viện Chính trị – Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, các trường chính trị, trong hệ thống giáo dục quốc dân; không ngừng nâng cao tính thiết thực và hiệu quả của chương trình học tập các môn lý luận chính trị. Có như vậy mới xây dựng được đội ngũ đảng viên thật sự tiên phong, gương mẫu, có phẩm chất, đạo đức cách mạng, có ý thức tổ chức kỷ luật và năng lực hoàn thành nhiệm vụ; kiên định lập trường giai cấp công nhân, phấn đấu cho mục tiêu lý tưởng của Đảng; năng động, sáng tạo, vững vàng trước mọi khó khăn, thử thách;đào tạo nguồn nhân lực có tay nghề cao, tận tụy, sáng tạo./.

Theo http://www.cpv.org.vn
Tâm Trang (st)

bqllang.gov.vn

Học và hành theo tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hoá cầm quyền

Nói văn hóa cầm quyền là nói tới cái đẹp, cái giá trị của Đảng cầm quyền, của Chính phủ và cá nhân nhà lãnh đạo, quản lý. Văn hóa cầm quyền là nguồn lực nội sinh vô tận, to lớn của Đảng và hệ thống chính trị, chìa khóa sự phát triển của Đảng, Nhà nước, thấm sâu và tạo dấu ấn khai sáng trong quá trình phát triển của Đảng, Nhà nước.

Hồ Chí Minh nói “Đảng ta là đạo đức, là văn minh”. Trong Di chúc, Người lại viết: “Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng”… Đó là tư tưởng, tinh thần Hồ Chí Minh về văn hóa cầm quyền. Văn hóa cầm quyền bàn tới ở đây là nói tới văn hóa lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam khi Đảng đã trở thành Đảng cầm quyền. Đương nhiên, khi nói tới đảng cầm quyền thì không thể không nói tới chính quyền nhà nước mà trực tiếp là Chính phủ, cơ quan hành pháp với ý nghĩa “kéo dài” sự lãnh đạo của Đảng. Theo tinh thần của Lê-nin, khi Đảng trở thành Đảng cầm quyền thì văn hóa của đảng phải tương đối khác so với khi Đảng chưa cầm quyền. Văn hóa cầm quyền là biến lý luận thành thực tiễn, thông qua tổ chức, xây dựng, thể hiện mối quan hệ giữa Đảng với các thành tố trong hệ thống chính trị; đạo đức của đảng cầm quyền; văn hóa ứng xử của Đảng, Chính phủ với nhân dân và văn hóa dùng người.

1. Văn hóa cầm quyền – nguồn lực nội sinh vô tận, chìa khóa sự phát triển của Đảng

Nói văn hóa cầm quyền là nói tới cái đẹp, cái giá trị của Đảng cầm quyền, của Chính phủ và cá nhân nhà lãnh đạo, quản lý. Văn hóa cầm quyền là nguồn lực nội sinh vô tận, to lớn của Đảng và hệ thống chính trị, chìa khóa sự phát triển của Đảng, nhà nước, thấm sâu và tạo dấu ấn khai sáng trong quá trình phát triển của Đảng, nhà nước. Hồ Chí Minh nói “Văn hóa không thể đứng ngoài mà đứng trong kinh tế và chính trị”, điều đó có nghĩa là tổ chức chính trị, hoạt động chính trị, đảng chính trị và cá nhân nhà chính trị phải thấm nhuần văn hóa. Năng lực chính trị thực chất và cốt tủy là năng lực văn hóa.

Văn hóa cầm quyền thuộc dòng văn hóa chính trị. Trong những năm gần đây, dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh, trong khi khẳng định sự phát triển của xã hội dựa trên thế của “kiềng ba chân”: Gắn kết giữa nhiệm vụ phát triển kinh tế là trung tâm, xây dựng Đảng là then chốt và phát triển văn hóa – nền tảng tinh thần của xã hội”, Đảng ta “đặc biệt coi trọng nâng cao văn hóa lãnh đạo, quản lý”(1), “Nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền”(2). Nâng cao năng lực cầm quyền của Đảng, năng lực quản lý của nhà nước thực chất sâu xa và cốt tủy là nâng cao văn hóa cầm quyền của Đảng và văn hóa quản lý của nhà nước; đồng thời nâng cao văn hóa lãnh đạo, quản lý của từng cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu.

Trên nền tảng chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng ta kiên trì mục tiêu vì dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh.

Muốn thực hiện được mục tiêu đó, trước hết Đảng phải đề ra được một cương lĩnh cách mạng xuất phát từ thực tiễn Việt Nam, đáp ứng được nguyện vọng của nhân dân, phù hợp với xu thế vận động của thời đại. Điểm chung của thực tiễn Việt Nam từ xưa đến nay là văn hóa, lịch sử, con người Việt Nam. Đó là một thực tiễn hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước với sự đắp bồi nhiều giá trị tinh thần truyền thống Việt Nam. Những giá trị đó là nguồn lực vô tận để nhân dân Việt Nam thực hiện khát vọng ngàn đời của mình là độc lập dân tộc và sống đời hạnh phúc. Việt Nam ngày nay đang trong quá trình hội nhập vào thế giới toàn cầu hóa với bao điều mới mẻ của cách mạng khoa học và công nghệ, kinh tế tri thức, kinh tế thị trường, biến đổi môi trường… Việt Nam phải phát triển bền vững trong quỹ đạo và xu thế của thế giới là hòa bình, hợp tác, dân chủ và đa dạng văn hóa. Xuất phát từ thực tiễn Việt Nam, sải bước cùng thời đại là một tiêu chí của văn hóa cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Thước đo văn hóa cầm quyền của Đảng là lòng dân. Đảng cầm quyền nhưng dân là chủ. Đảng cầm quyền để dân làm chủ. Đảng cầm quyền nhưng dân là gốc. Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân; trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân. Bài học quý giá Hồ Chí Minh để lại cho Đảng ta ngày nay là: “Dân chúng đồng lòng, việc gì cũng làm được. Dân chúng không ủng hộ, việc gì làm cũng không nên”(3).

Trong đường lối lãnh đạo và cương lĩnh của Đảng, tức là về mặt lý thuyết, Đảng đã khẳng định rõ ràng, dứt khoát tất cả mọi hoạt động của Đảng là vì hạnh phúc của nhân dân. Nhưng cái khó nhất, cũng là văn hóa cao nhất của Đảng cầm quyền lại không phải nằm ở lý luận mà phải nằm ở thực tiễn. Hành động để đem lại hiệu quả thật sự cho dân chúng từ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội đến “tương, cà, mắm, muối” và lấy hiệu quả đó làm thước đo mới là điều khó nhất của một đảng cầm quyền. Bác thường dạy: “Nói thì dễ, làm thì khó”. Cái khó trong khi làm không phải là khó khăn, vất vả, mệt nhọc mà cái chính là không vượt qua được chính mình để thực hiện quan điểm quần chúng. Ví dụ: “Miệng thì nói dân chủ nhưng làm việc thì họ theo lối “quan” chủ. Miệng thì nói “phụng sự quần chúng”, nhưng họ làm trái ngược với lợi ích của quần chúng”(4). “Làm theo lối “quan” chủ” tức là lãnh đạo thiếu văn hóa, lãnh đạo bằng quyền lực, “làm việc theo cách quan liêu. Cái gì cũng dùng mệnh lệnh. Ép dân chúng làm”(5). Làm như vậy thì dân oán. Mà “dân oán, dù tạm thời may có chút thành công, nhưng về mặt chính trị, là thất bại”(6) (người trích nhấn mạnh). Chính trị thất bại tức là không được lòng dân. Mà cái nguy hiểm nhất là mất lòng dân. Bởi vì, mất tiền và của cải thì còn làm lại được, còn đã mất lòng tin, đặc biệt là mất lòng tin của dân là mất tất cả. Nâng cao văn hóa cầm quyền là Đảng phải có sự lựa chọn sáng suốt, có tầm nhìn, trí tuệ và bản lĩnh văn hóa giữa việc lấy cái căn bản quy tụ của lòng dân và lợi ích lâu dài thay vì lợi ích và thành tích trước mắt mang mầm bệnh. Văn hóa cầm quyền là phải “sao cho được lòng dân”(7).

2. Đảng phải tôn trọng chính quyền, hoạt động trong khuôn khổ của Hiến pháp và pháp luật

Nói đến Đảng cầm quyền là phải nói tới quản lý của nhà nước. Trong văn hóa cầm quyền thì văn hóa lãnh đạo và văn hóa quản lý thâm nhập vào nhau. Giá trị, uy tín, quyền uy tạo sức mạnh của đảng cầm quyền không chỉ trong khuôn phép của Đảng mà được cân, đong, đo, đếm bằng văn hóa quản lý. Nói cách khác, văn hóa quản lý là một thước đo của văn hóa lãnh đạo của đảng cầm quyền, trong đó “Chính phủ là công bộc của dân” như Hồ Chí Minh dạy là tiêu chí hàng đầu.

Trên cơ sở nhận thức nhà nước là vấn đề cơ bản của mọi cuộc cách mạng, văn hóa của đảng cầm quyền là Đảng phải tôn trọng chính quyền, tôn trọng nhà nước. Đảng cầm quyền nhưng không thể và không được đứng trên nhà nước, đứng trên và đứng ngoài pháp luật. Xã hội xã hội chủ nghĩa mà chúng ta xây dựng là một xã hội có nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo. Đây là một nhận thức rất quan trọng trong cấu trúc quyền lực của hệ thống chính trị đương đại. Với nhà nước đó thì Quốc hội là cơ quan có quyền lực cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những việc quan hệ đến vận mệnh quốc gia sẽ đưa ra nhân dân phúc quyết. Nhân dân có quyền bãi miễn các đại biểu Quốc hội nếu những đại biểu ấy tỏ ra không xứng đáng với sự tín nhiệm của nhân dân. “Nếu Chính phủ làm hại dân thì dân có quyền đuổi Chính phủ”(8). “Bãi miễn các đại biểu” là tinh thần của “văn hóa từ chức” theo cách nói ngày nay. Nghĩa là, các vị đại diện khi được dân bầu – tức là dân ủy thác quyền lực – thì phải làm hết trách nhiệm “như một người lính vâng lệnh quốc dân ra trước mặt trận”; khi dân không còn tín nhiệm nữa thì phải vui vẻ từ chức theo lời dạy của Bác Hồ “khi nào đồng bào cho tôi lui thì tôi rất vui lòng lui”. Đảng cầm quyền, mọi tổ chức và cá nhân đều bình đẳng trước pháp luật và tuân thủ hiến pháp và pháp luật mà không có một ngoại lệ nào. Tất cả họ phải hành xử theo đúng hiến pháp và pháp luật.

Khi Đảng trở thành đảng cầm quyền, việc giải quyết mối quan hệ giữa Đảng với nhà nước là giá trị văn hóa hàng đầu, vì Đảng phải hoàn thành sứ mệnh “hai vai”. Là người lãnh đạo nhà nước, Đảng phải xứng danh lãnh đạo với một chiều sâu trí tuệ, một bề dày đạo đức, sự vững chắc về bản lĩnh chính trị và phương thức lãnh đạo trọng dân, tin dân, gần dân, hiểu dân, học dân, hỏi dân, theo đúng đường lối quần chúng. Là một thành tố của hệ thống chính trị, Đảng phải hành xử phù hợp với hiến pháp và luật pháp, không được lạm quyền, coi khinh dư luận.

3. Đảng, Chính phủ phải luôn luôn tự phê bình và hoan nghênh nhân dân phê bình mình

Đảng luôn luôn tự phê bình, hoan nghênh nhân dân và đảng viên phê bình mình. Đảng phải nâng cao dân trí, bồi dưỡng ý thức làm chủ, nâng cao tính tích cực công dân, tự do ngôn luận, khuyến khích nhân dân tham gia vào các công việc của nhà nước, khắc phục mọi thứ dân chủ hình thức.

Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Làm sao cho nhân dân biết hưởng quyền dân chủ, biết dùng quyền dân chủ của mình, dám nói, dám làm”(9). Phải khiến cho cán bộ cả gan nói, cả gan đề ra ý kiến. Nếu cán bộ không nói năng, không đề ý kiến, không phê bình, thậm chí lại tâng bốc mình, thế là một hiện tượng rất xấu. Thế là mất hết dân chủ trong Đảng. Thế là nội bộ của Đảng âm u, cán bộ trở nên những cái máy, trong lòng uất ức, không dám nói ra, do uất ức mà hóa ra oán ghét, chán nản. “Nếu đào tạo một mớ cán bộ nhát gan, dễ bảo “đập đi, hò đứng”, không dám phụ trách. Như thế là một việc thất bại cho Đảng”(10).

Văn hóa truyền thống, phía sau cái mạnh trọng tình, bộc lộ cái hạn chế duy tình, thiếu văn hóa tranh luận, mà thực chất là giấu giếm khuyết điểm và thích khen, không thích chê, trở thành bệnh thành tích. “Nếu ai nói chúng ta không dân chủ, thì chúng ta khó chịu. Nhưng nếu chúng ta tự xét cho kỹ, thì thật có như thế”(11). Nâng cao văn hóa của đảng cầm quyền là thể hiện một đảng văn minh như cách nói của Bác Hồ. Ngược lại, “một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng. Một Đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó, rồi tìm kiếm mọi cách để sữa chữa khuyết điểm đó. Như thế là một Đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính”.

Trên nền tư duy “Chính phủ là công bộc, đầy tớ của dân”, Hồ Chí Minh chỉ ra rằng “khi dân dùng đày tớ làm việc cho mình, thì phải giúp đỡ Chính phủ. Nếu chính phủ sai thì phải phê bình, phê bình nhưng không phải là chửi… Xin đồng bào hãy phê bình, giúp đỡ giám sát công việc Chính phủ”(12).

Khuyết điểm, sai lầm là xấu, là phản văn hóa, nhưng nếu nhận ra khuyết điểm, sai lầm và tìm mọi cách khắc phục, sửa chữa sai lầm, khuyết điểm thì đó là một hành vi mang giá trị văn hóa. Nhân dân chính là người mang lại giá trị văn hóa lãnh đạo, văn hóa quản lý cho Đảng và Chính phủ. Nhận thức rõ điều đó, Hồ Chí Minh thường xuyên nhắc nhở “Chính phủ mong đồng bào giúp đỡ, đôn đốc, kiểm soát và phê bình để làm tròn nhiệm vụ của mình là người đầy tớ tận tụy của nhân dân”.

Tư duy Hồ Chí Minh là Đảng và Chính phủ phải luôn luôn tạo điều kiện để nhân dân phê bình mình. Bởi vì, dân chúng thông minh, sáng tạo “biết giải quyết nhiều vấn đề một cách giản đơn, mau chóng, đầy đủ, mà những người tài giỏi, những đoàn thể to lớn, nghĩ mãi không ra”.

“Dám nói” theo quan điểm Hồ Chí Minh là một giá trị văn hóa đỉnh cao. Chỉ có một đảng cách mạng chân chính, đạo đức, văn minh thì mới đủ trí tuệ, bản lĩnh tạo điều kiện cho dân dám nói. Và chỉ khi nào dân chúng và cán bộ đảng viên dám nói, dám phê bình, kiểm soát hoạt động của Đảng và Chính phủ thì Đảng và Chính phủ mới làm việc tốt hơn và cán bộ, viên chức các cơ quan chính phủ mới thật sự là công bộc của dân. Vì vậy, “cần phải có biện pháp khác, biện pháp nghiêm ngặt hơn, để trừng trị loại cán bộ tha hóa, biến chất. Phải gây nên một đạo đức để ngăn ngừa, gây nên một phong trào quần chúng gớm ghét, bao vây lũ giặc ấy. Biện pháp ấy là gây nên một cuộc vận động trong công nông chống tiêu cực, làm cho những kẻ “chạy” không sống còn được”(13).

4. Văn hóa cầm quyền – văn hóa dùng người

Văn hóa của đảng cầm quyền, văn hóa lãnh đạo đạo, quản lý có một nội dung căn cốt là văn hóa dùng người. Con người sáng tạo ra văn hóa và cũng là sản phẩm của văn hóa. Cán bộ là gốc của mọi công việc. Mọi việc thành hay bại đều liên quan tới cán bộ tốt hay kém.

Một trong những phương thức lãnh đạo của đảng cầm quyền là thông qua cán bộ và công tác cán bộ. Hiện nay chúng ta đang phải đối mặt với nhiều thách thức trong công tác cán bộ, đó là nạn chạy chức, chạy quyền, chạy tội, chạy dự án, chạy bằng cấp, chạy tuổi, chạy huân huy chương… Lại có một dạng thách thức khác, đó là năng lực, bản lĩnh, đạo đức, phương pháp công tác của cán bộ không tương xứng với vị trí, chức vụ quản lý, lãnh đạo. Một thực tế đáng buồn đang diễn ra ở những mức độ khác nhau ở tất cả các loại cán bộ, các ngành, các cấp, các địa phương là có một loại cán bộ không chịu rèn đức, luyện tài mà chỉ rèn “công nghệ” xu nịnh, luồn cúi, a dua, “đi nhẹ, nói khẽ, hay cười và chạy…”, “thấy xôi nói xôi ngọt, thấy thịt nói thịt bùi”, theo gió bẻ buồm, không có khí khái. Còn một bộ phận thuộc loại cán bộ được Đảng, nhà nước giao cho trọng trách làm công tác cán bộ lại thích người chạy và kẻ khéo nịnh hót mình, ghét người chính trực. Nhưng nguy hiểm nhất là những cái đó đang dần dần có xu hướng trở thành “giá trị” trong cơ cấu quyền lực của hệ thống chính trị, của xã hội và được một bộ phận xã hội đồng tình, chưa bị sức mạnh văn hóa, đạo đức của xã hội, của nhân dân đánh bại. Những ai chỉ chăm chú rèn đức, luyện tài, phát biểu trung thực thẳng thắn, vì sự thật thà đoàn kết và phát triển của đơn vị mà lại thiếu những “tố chất chạy”, lại thường bị coi là những người “xa lạ”, không thức thời. Nói tóm lại, một nguy cơ lớn là sự đảo lộn giá trị. Một đơn vị mà đa số cán bộ thuộc loại kém và trung bình, mang tư tưởng “dĩ hòa vi quý, chín bỏ làm mười”, còn thiểu số là tích cực, trung thực, thẳng thắn, thật sự tu dưỡng hồng, chuyên thì nguyên tắc “thiểu số phục tùng đa số” sẽ không mang lại kết quả tích cực như mong muốn.

Trước tình trạng đó, một đảng độc quyền lãnh đạo, nếu không có trí tuệ, tầm nhìn và bản lĩnh văn hóa trong việc dùng người thì nhất định thất bại. Đảng phải tìm thấy giá trị trong các mối quan hệ giữa người già và người trẻ; người trong Đảng và người ngoài Đảng; người có bằng cấp và không có bằng cấp, doanh nhân và trí thức, nhà lãnh đạo, quản lý và nhà khoa học… Trí tuệ văn hóa thể hiện bản lĩnh văn hóa của đảng cầm quyền là phải thấy thanh niên là người chủ tương lai của đất nước, thế hệ mới chắc chắn sẽ vượt thế hệ cũ (và có như thế thì đất nước và dân tộc mới có phúc). Có nhiều người không có bằng cấp nhưng có tài, có đức, cần phát hiện, trọng dụng và có chế độ đãi ngộ xứng đáng. Không phải đã lãnh đạo, quản lý là giỏi. Một người lãnh đạo, quản lý mất đi có người thay thế được ngay, còn một nhà khoa học, thật sự khoa học (đầu ngành hay chuyên ngành) mất đi, rất khó tìm người thay thế (thậm chí không có được người thay thế). Trong Đảng cũng có những người kém, người xấu. Hồ Chí Minh dạy: “Đảng ta không phải trên trời sa xuống. Nó ở trong xã hội mà ra. Vì vậy, tuy nói chung, thì đảng viên phần nhiều là những phần tử tốt, nhưng vẫn có một số chưa bỏ hết những thói xấu tự tư tự lợi, kiêu ngạo, xa hoa… Trong Đảng ta chưa hoàn toàn tránh khỏi một vài kẻ vu vơ, những việc không chính đáng”(14). Vì vậy, văn hóa của đảng cầm quyền là đủ khả năng phân định có chất lượng khoa học và cách mạng một cách rõ ràng thật – giả, vàng – thau, tốt – xấu, đúng – sai… Đảng không chọn được những người có đức, có tài, quyết tâm, suốt đời, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân thì đó là thất bại cho Đảng, cũng là thất bại cho cách mạng.

5. Phải thật sự thấm nhuần văn hóa đạo đức

Trong điều kiện cầm quyền, cùng với việc Đảng xây dựng đường lối khoa học, đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng. Nếu học và hành theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh không tốt thì đó là nguy cơ lớn của Đảng. Cuộc vận động xây dựng Đảng về đạo đức trong những năm qua chưa đạt yêu cầu đặt ra. “Có những tổ chức đảng tê liệt, mất sức chiến đấu… Bệnh cơ hội, chủ nghĩa cá nhân trong một bộ phận cán bộ, đảng viên có chiều hướng gia tăng; vẫn còn tình trạng “chạy chức”, “chạy quyền”, “chạy tội”, “chạy bằng cấp”. Thoái hóa biến chất về chính trị, tư tưởng, về đạo đức, lối sống; tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, sách nhiễu dân trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên diễn ra nghiêm trọng, kéo dài chưa được ngăn chặn, đẩy lùi…, làm giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng. Đó là một nguy cơ lớn liên quan đến sự sống còn của Đảng, của chế độ(15). Như vậy là rất rõ ràng. Nếu Đảng cầm quyền thiếu văn hóa đạo đức thì Đảng sẽ mất lòng tin của dân, sẽ cô độc. Mà “cô độc thì nhất định thất bại”(16).

…Mấu chốt là ở chỗ, “Đảng có vững cách mạng mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thì thuyền mới chạy” như Hồ Chí Minh đã dạy. Văn hóa chính trị mà cốt lõi là văn hóa cầm quyền sẽ thật sự đem lại cho Đảng những tố chất trong sạch, vững mạnh. “Đảng vững” theo tư tưởng Hồ Chí Minh là Đảng đạo đức, văn minh. Tăng cường xây dựng văn hóa cầm quyền, văn hóa lãnh đạo – quản lý là xây dựng năng lực, trí tuệ, đạo đức, bản lĩnh, phương pháp, phong cách của Đảng, Chính phủ, của đảng viên, cán bộ, nhất là người đứng đầu.

Người Trung Quốc quan niệm cầm quyền là sự nghiệp, ý nghĩa của sự nghiệp là cống hiến. Cầm quyền là khoa học, giá trị của khoa học là ở cầu sự chân thực. Cầm quyền là nghệ thuật, sức sống của nghệ thuật là ở sáng tạo. Cầm quyền là thách thức, mấu chốt của ứng đối là ở bản thân. Nếu nói rằng, địa vị cầm quyền của Đảng không phải sinh ra đã có thì chúng ta cũng có thể nói rằng, địa vị cầm quyền của Đảng luôn đi cùng với sự cống hiến và hy sinh. Nếu nói rằng, địa vị cầm quyền của Đảng không phải có rồi sẽ tồn tại mãi mãi, thì cũng có thể khẳng định rằng, chỉ cần Đảng một lòng vì công thì Đảng có thể đứng vững lâu dài; chỉ cần Đảng một lòng vì dân thì Đảng có thể cầm quyền tốt đẹp; chỉ cần Đảng kiên trì tôn chỉ và tính chất của mình, không ngừng tăng cường xây dựng mình, thì Đảng có thể vĩnh viễn đứng ở vị trí chiến thắng (17)./.

(1), (15) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb CTQG, H, 2006, tr.213, 263-264.
(2) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Sđd, tr.279.
(3), (5), (6), (8), (10), (11), (12), (14), (16) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, H, 1995, t.5, tr.293, 293,293, 61, 281, 243, 60-61, 238.
(4), (13) Sđd, t.6, tr.292, 501
(7) Sđd, t.4, tr.47.
(9)Sđd, t.12, tr.223.
(17) Xem Tôn Chí Cương: Suy nghĩ về tăng cường xây dựng năng lực cầm quyền của Đảng, trong Những vấn đề chính trị- xã hội, Học viện CTQG Hồ Chí Minh, số 13, 2006, tr.1-13.

Theo tuyengiao.vn
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Nhớ mãi những việc Bác làm, những lời Bác dạy

Bác Hồ trong chuyến đi Pháp năm 1945

Cách đây 66 năm, sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, ngày 2-9-1945 nhà nước công nông đầu tiên ở khu vực Đông Nam châu Á ra đời, đất nước ta phải đối mặt với bao nguy cơ, thử thách, thế nước trong tình trạng “ngàn cân treo sợi tóc”. Trong hoàn cảnh đặc biệt khó khăn đó, với tầm nhìn xa trông rộng, với trí tuệ và bản lĩnh chính trị tuyệt vời của mình, Bác Hồ kính yêu của chúng ta vẫn vững tay chèo lái con thuyền cách mạng, vượt qua bao sóng gió, lãnh đạo toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta giữ vững nền độc lập, tự do. Hơn nửa thế kỷ trôi qua, nhưng những việc Bác làm, những lời Bác dạy giữa mùa thu lịch sử ấy vẫn còn in đậm trong ký ức của mỗi một người con dân đất Việt.

Những ngày đó, trước vận mệnh dân tộc, với tinh thần trách nhiệm cao cả, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định: Phận sự của tôi như một người cầm lái, phải chèo chống thế nào để đưa chiếc thuyền Tổ quốc vượt khỏi những cơn sóng gió mà an toàn đi tới bến bờ hạnh phúc của nhân dân. Người đã nhanh chóng đề ra những chủ trương sáng suốt về đối nội và đối ngoại nhằm giải quyết những yêu cầu cấp bách của tình hình lúc đó. Các tác phẩm viết trong thời kỳ này của Người đã phản ánh sâu sắc những quan điểm đúng đắn về chiến lược và sách lược, đồng thời thể hiện cụ thể sự lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức tài tình của Người.

Ngay sau ngày tuyên bố độc lập, ngày 3-9-1945, Bác Hồ triệu tập họp phiên đầu tiên của Hội đồng Chính phủ và nêu ra 6 nhiệm vụ cấp bách của chính quyền cách mạng. Giữa lúc nạn ngoại xâm, nạn đói đang đe dọa dân tộc hàng ngày, hàng giờ, Bác đã sớm nhận ra nhiều loại giặc cũng cực kỳ nguy hiểm không kém, trong đó phải kể đến giặc dốt và giặc “nội xâm”. Với tầm nhìn văn hóa rộng lớn, Người chỉ rõ: Kẻ dốt là kẻ hèn, là kẻ nô lệ. Còn “giặc nội xâm” là kẻ thù còn nguy hiểm hơn cả giặc ngoại xâm bởi không có sự phân biệt rạch ròi chiến tuyến để dễ bề nhận biết, mà lại nằm ngay trong hàng ngũ của ta, trong chính con người ta và được ngụy trang cực kỳ tinh vi, thủ đoạn.

Với các tầng lớp nhân dân, Người nhắc nhở, người làm chủ đất nước phải chứng tỏ tinh thần và sức mạnh của mình, thiết thực góp sức vào công cuộc bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ chế độ, xây dựng chính quyền vững mạnh. Điều đó chứng tỏ rằng, Người rất chú ý coi trọng sự tham gia của nhân dân vào công cuộc kiến thiết đất nước và quản lý nhà nước. Người động viên: Đồng bào ta ai có tài năng và sáng kiến về những công việc đó (tức kiến thiết ngoại giao, kiến thiết kinh tế, kiến thiết quân sự, kiến thiết giáo dục), lại sẵn sàng hăng hái giúp ích nước nhà thì xin gửi kế hoạch rõ ràng cho Chính phủ. Chính phủ sẽ nghiên cứu kế hoạch ấy một cách kỹ lưỡng, có thể thực hành được thì sẽ thực hành ngay…

Với cán bộ, đảng viên, Người dạy không được làm việc trái phép, cậy quyền cậy thế, hủ hóa, tư túng, chia rẽ, kiêu ngạo. Bởi mắc phải những lỗi lầm đó sẽ nảy sinh hiện tượng: Ăn muốn cho ngon, mặc muốn cho đẹp, càng ngày càng xa xỉ… lấy của công làm việc tư, quên cả thanh liêm đạo đức; kéo bè, kéo cánh, bà con bạn hữu mình không tài năng gì cũng chức này, chức nọ. Người có tài, có đức nhưng không vừa lòng mình thì đẩy ra ngoài… Từ đó mà dẫn đến việc coi khinh nhân dân, cử chỉ lúc nào cũng vác mặt “quan cách mệnh” lên. Thái độ kiêu ngạo đó sẽ làm mất lòng tin cậy của dân, sẽ hại đến oai tín của Chính phủ. Người cho rằng: “Muốn cho dân yêu, muốn được lòng dân, việc gì có lợi cho dân phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân phải hết sức tránh. Phải chú ý giải quyết hết các vấn đề dẫu khó đến đâu mặc lòng, những vấn đề quan hệ đến đời sống của dân. Phải chấp đơn, phải xử kiện cho dân mỗi khi người ta đem tới. Ngoài ra, đối với tất cả mọi người trong các tầng lớp dân chúng, ta phải có một thái độ mềm dẻo, khôn khéo, biết nhân nhượng, biết trọng nhân cách người ta. Phải tỏ cho mọi người biết rằng công việc là công việc chung, thiếu người ra gánh vác thì mình ra, nếu có người thay, mình sẽ nghỉ để làm việc khác, sẵn sàng nhường lại cho ai muốn làm và làm được” (Sao cho được lòng dân – Báo Cứu quốc, ngày 12-10-1945).

Người từng phê phán các Ủy ban nhân dân làm việc chưa khoa học, chia công việc không khéo thành ra bao biện. Trong một Ủy ban, có nhiều người rất rỗi rãi, cả ngày chỉ chạy ra chạy vào cho có việc; có người lại bù đầu rối óc vì một mình phải kiêm đến mấy việc. Cán bộ nhiều người chưa có tính chủ động, sáng tạo trong công việc. Từ thực tiễn đó, Bác chỉ rõ rằng: Cán bộ chăm chỉ làm việc chưa đủ, cần phải biết làm việc cho có phương pháp,… có mắt ta phải trông, có óc ta phải nghĩ, có tay ta phải làm… Phải biết rằng, tình hình khách quan thay đổi hàng giờ, hàng phút, một chủ trương của ta hôm nay đúng, hôm sau đã không kịp thời, nếu ta không tỉnh táo kiểm điểm những hành vi của ta để bỏ đi những cái quá thời, sai hỏng, nhất định ta sẽ không theo kịp tình hình, ta sẽ bị bỏ rơi … Muốn được thích hợp với tình thế, ta phải cần nhận thức và tự giáo dục không ngừng, cần phải có sự thành thực tự vạch ra những khuyết điểm sai lầm để bồi bổ và sửa đổi đi.

Người chỉ rõ: “Chỉ có chế độ của chúng ta mới thật sự phục vụ lợi ích của nhân dân, trước hết là nhân dân lao động, bảo đảm mọi quyền lợi của nhân dân, mở rộng dân chủ để nhân dân thật sự tham gia quản lý nhà nước. Vì vậy cho nên nhân dân ta đưa hết khả năng làm tròn nhiệm vụ người chủ nước nhà để xây dựng chủ nghĩa xã hội, làm cho nước ta mạnh, dân ta giàu”. Hơn nữa, chính quyền nhà nước của ta là một chính quyền “phải nhằm vào mục đích duy nhất là mưu cầu tự do, hạnh phúc cho mọi người. Cho nên Chính phủ nhân dân bao giờ cũng phải đặt quyền lợi dân lên hết thảy” (Báo Cứu quốc, số 46, ngày 19-9-1945). Đặc biệt, trong “Thư gửi các Ủy ban nhân dân các bộ, tỉnh, huyện và làng”, Người đã nêu: “… Chính phủ và nhân dân phải đoàn kết thành một khối”; “… Nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do thì độc lập cũng không có nghĩa lý gì”; “ … Các cơ quan của Chính phủ, từ toàn quốc cho đến các làng đều là đầy tớ của dân, nghĩa là để gánh việc chung cho dân, chứ không phải để đè đầu dân …”; “Việc gì lợi cho dân, ta phải hết sức làm. Việc gì hại cho dân, ta phải hết sức tránh”. Tư tưởng trên quán xuyên suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của Người. Không những thế, ngay trong những ngày đầu mới lập nước, Người đã nhận ra và nghiêm khắc cảnh báo cán bộ ta về những căn bệnh nguy hiểm mà mỗi cán bộ, đảng viên cần phải khắc phục để xứng đáng với vai trò và nhiệm vụ lịch sử của Đảng mình. Những việc làm và lời dạy của Bác lúc đó đều nhằm một mục đích duy nhất là kiến tạo nền móng của chính quyền nhân dân, tiến tới hoàn chỉnh việc xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN – một nhà nước của dân, do dân và vì dân. Lời Người hôm nay vẫn nóng hổi tính thời sự đối với những “công bộc” của nhân dân.

Hiện nay, ở một số địa phương vẫn có những lời ca thán về thái độ phục vụ nhân dân của không ít cán bộ, đảng viên. Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết trong buổi tiếp xúc cử tri hồi tháng 7-2007 cũng đã thẳng thắn phê phán rằng nhiều đơn thư của dân, trong đó có cả đơn do Chủ tịch nước chuyển về các cơ quan chức năng cũng bị “mất hút”, không thấy ai giải quyết, trả lời. Tại kỳ họp Quốc hội năm 2009, trong khi thảo luận ở tổ, có đại biểu Quốc hội bức xúc: Chính phủ luôn đánh giá bộ máy hành chính còn cồng kềnh, hiệu lực, hiệu quả còn thấp. Trong khi cải cách hành chính thực hiện hàng chục năm. Chúng ta đã cử nhiều cán bộ ra nước ngoài học tập, nâng cao trình độ. Nhưng kết quả vẫn vậy, cán bộ từ cơ sở đến trung ương vẫn có vấn đề về năng lực, trình độ và phẩm chất đạo đức.

66 năm qua, phần lớn cán bộ, đảng viên đã nghiêm túc thực hiện theo lời răn dạy của Người, nhưng cũng còn đó “những con sâu” đã và đang lợi dụng chức quyền để tác oai, tác quái bất chấp dư luận và luật pháp, làm xói mòn lòng tin của nhân dân vào Đảng và Chính phủ, “làm cho nền đoàn kết lay động”. Những kẻ đó, bất kể là ai và ở cấp bậc nào, “nếu không tự sửa chữa” thì cần “Chính phủ sẽ không khoan dung”.

Đọc lại lời Người, chúng ta cảm thấy như Người vẫn bên cạnh, ân cần chỉ ra những tồn tại, những thiếu sót trong vấn đề dân sinh, dân nguyện đang gây nên những bức xúc trong cuộc sống hôm nay. Đất nước đang từng bước phát triển và trưởng thành, thời cơ, thuận lợi có nhiều nhưng những khó khăn và thử thách phía trước cũng không phải là ít. Để đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp cách mạng trong giai đoạn mới – giai đoạn hội nhập, phát triển, CNH và HĐH đất nước, việc lựa chọn những “công bộc” của dân, do dân, vì dân là vấn đề rất quan trọng. Theo tư tưởng, tiêu chí lựa chọn của Chủ tịch Hồ Chí Minh thì đó phải là những người có công tâm, trung thành, sốt sắng với quyền lợi dân chúng, có năng lực làm việc, được đông đảo nhân dân tín nhiệm. Không thể nhờ tiền tài hay một thế lực gì khác mà chui vào lọt… Lời Bác Hồ 66 năm trước, những người làm công tác tổ chức cán bộ hôm nay xin hãy khắc ghi!

Theo Tạp chí Xây dựng Đảng
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn