Thư viện

Một bộ máy, hai tên gọi

Quân ủy Trung ương Trung Quốc

QĐND – Tạp chí “Quân sự sử lâm”của Viện Bảo tàng Quân sự Trung Quốc có bài viết về “Tiến trình diễn biến của Quân ủy Trung ương”, nội dung tóm tắt như sau: Quân ủy Trung ương là tên gọi tắt Hội đồng quân sự Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc và Hội đồng quân sự Trung ương nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, thực chất đó là “Cơ quan chỉ huy quân sự và quyết sách quân sự cao nhất của Đảng Cộng sản Trung Quốc”, là Bộ thống soái tối cao lãnh đạo LLVT nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa.

Sự ra đời và những năm tháng chiến tranh

Năm 1931, Trung ương cục Khu xô viết của Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) thành lập tại Thụy Kim, tỉnh Giang Tây, bên dưới có thành lập Hội đồng quân sự cách mạng Trung ương. Các nhà lãnh đạo chủ yếu của Khu xô viết Trung ương là Hạng Anh, Mao Trạch Đông, Chu Đức lần lượt làm Chủ tịch. Tháng 11 cùng năm, Chính phủ Trung ương lâm thời nước Cộng hòa xô viết Trung Hoa thành lập, Chu Đức nhậm chức Chủ tịch Hội đồng quân sự cách mạng Trung ương; Bành Đức Hoài, Vương Gia Tường nhậm chức Phó chủ tịch; 15 người, bao gồm Mao Trạch Đông, Chu ân Lai, Diệp Kiếm Anh… làm ủy viên. Quân ủy cách mạng Trung ương trong lịch sử Hồng quân bắt đầu từ đó.

Ảnh 11 thành viên Quân ủy Trung ương Trung Quốc hiện nay

Tháng 5-1933, Chính phủ Trung ương lâm thời quyết định: Bổ sung Tần Bang Hiến (Bác Cổ), Hạng Anh làm ủy viên Quân ủy cách mạng Trung ương. Trong thời gian Chu Đức chỉ huy tác chiến tại tiền phương, Hạng Anh đảm nhiệm Quyền chủ tịch. Trong Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ hai của nước Cộng hòa xô viết Trung Hoa, Chu Đức lại được bầu làm Chủ tịch Quân ủy cách mạng Trung ương; Chu ân Lai, Vương Gia Tường được bầu làm Phó chủ tịch.

Sau Hội nghị Tuân Nghĩa năm 1935, Mao Trạch Đông, Chu ân Lai, Vương Gia Tường tổ chức Tổ quân sự ba người, trở thành Cơ quan quyết sách quân sự tối cao trong cuộc Vạn lý trường chinh, mà thành viên của Quân ủy cách mạng Trung ương không thay đổi. Tháng 6, Hồng quân Trung ương hội sư với Phương diện quân 4 Hồng quân tại Mạo Công, Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc triệu tập “Hội nghị Lưỡng Hà Khẩu” nổi tiếng. Hội nghị quyết định Trương Quốc Đào đảm nhiệm Tổng chính ủy Hồng quân, Phó chủ tịch Quân ủy cách mạng Trung ương. Tháng 9, Quân ủy cách mạng Trung ương thực hành chế độ Đoàn chủ tịch 7 người do Mao Trạch Đông đứng đầu.

Sau khi Hồng quân cải tổ biên chế thành Bát Lộ quân, nhằm bảo đảm sự lãnh đạo tuyệt đối của Đảng Cộng sản Trung Quốc đối với quân đội trong tình hình mới kháng Nhật, ngày 22-8-1937, Trung ương ĐCSTQ quyết định thành lập Hội đồng quân sự cách mạng Trung ương của Đảng, Mao Trạch Đông làm Chủ tịch; Chu Đức, Chu ân Lai làm Phó chủ tịch; Bành Đức Hoài, Nhiệm Bật Thời, Hạ Long, Lâm Bưu, Lưu Bá Thừa, Trương Hạo, Diệp Kiếm Anh, Từ Hướng Tiền là ủy viên. Như vậy, Quân ủy Trung ương trở thành bộ máy lãnh đạo chỉ huy quân sự thuộc Trung ương ĐCSTQ.

Thời kỳ đầu thành lập nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa

Ngày 1-10-1949, nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa ra đời. Cùng ngày, Hội đồng quân sự cách mạng nhân dân của Chính phủ nhân dân Trung ương cũng tuyên bố thành lập, Mao Trạch Đông làm Chủ tịch. Ngày 19-10, Chính phủ nhân dân Trung ương bổ nhiệm Chu ân Lai, Chu Đức, Lưu Thiếu Kỳ, Bành Đức Hoài, Trình Tiềm làm Phó chủ tịch Hội đồng quân sự cách mạng nhân dân; 22 người gồm Hạ Long, Trần Nghị, Từ Hướng Tiền, Lâm Bưu… là ủy viên. Chu ân Lai chủ trì công tác hàng ngày.

Ngày 26-9-1959, Bộ Chính trị Trung ương ĐCSTQ quyết định Quân ủy Trung ương do Mao Trạch Đông làm Chủ tịch; Lâm Bưu. Hạ Long, Nhiếp Vinh Trăn làm Phó chủ tịch; Lâm Bưu chủ trì công tác hàng ngày của Quân ủy.

Mùa hè năm 1965, Quân ủy Trung ương bãi bỏ chế độ quân hàm.

Ngày 8-1-1966, 4 vị nguyên soái Trần Nghị, Lưu Bá Thừa, Từ Hướng Tiền, Diệp Kiếm Anh được bầu bổ sung làm Phó chủ tịch Quân ủy Trung ương.

Trong thời gian “Cách mạng văn hóa”

Do sự phá hoại nghiêm trọng của Lâm Bưu, Giang Thanh, công tác hàng ngày của Quân ủy Trung ương bị hạn chế, Hội đồng Quốc phòng trên thực tế cũng bị đình chỉ công tác hàng ngày.

Tháng 8-1967, Quân ủy Trung ương quyết định Tổ thường trực Quân ủy gồm Ngô Pháp Hiến, Diệp Quần, Khưu Hội Tác, Trương Tú Xuyên; Tháng 9, giao quyền Tổng Tham mưu trưởng Dương Thành Vũ làm Tổ trưởng.

Tháng 3-1968, Hoàng Vĩnh Thắng, Tư lệnh quân khu Quảng Châu được điều về làm Tổng tham mưu trưởng kiêm Tổ trưởng thường trực Quân ủy.

“Một bộ máy hai tên gọi”

Tháng 7-1977, tại Hội nghị toàn thể Ban Chấp hành Trung ương lần thứ ba khóa 10 ĐCSTQ, Hoa Quốc Phong được bầu là Chủ tịch Ban chấp hành Trung ương, Chủ tịch Quân ủy Trung ương; Đặng Tiểu Bình được khôi phục các chức vụ lãnh đạo, trong đó bao gồm Phó chủ tịch Quân ủy Trung ương kiêm Tổng tham mưu trưởng.

Từ ngày 12 đến 18-8-1977, Đại hội 11 ĐCSTQ họp, Hoa Quốc Phong được bầu làm Chủ tịch Quân ủy Trung ương; Diệp Kiếm Anh, Đặng Tiểu Bình, Lưu Bá Thừa, Từ Hướng Tiền, Nhiếp Vinh Trăn làm Phó chủ tịch.

Tháng 6-1981, tại Hội nghị Trung ương lần thứ sáu khoá 11 ĐCSTQ, Hoa Quốc Phong từ chức Chủ tịch Ban Chấp hành Trung ương và Chủ tịch Quân ủy Trung ương; Hồ Diệu Bang và Đặng Tiểu Bình lần lượt được bầu làm Chủ tịch Ban chấp hành Trung ương và Chủ tịch Quân ủy Trung ương.

Ngày 4-12-1981, bộ Hiến pháp thứ tư trong lịch sử nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa ra đời tại Hội nghị lần thứ 5 của Quốc hội Trung Quốc khóa 5. Bộ Hiến pháp quy định: Nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa thiết lập Hội đồng quân sự Trung ương thống lĩnh lực lượng vũ trang toàn quốc, gồm Chủ tịch, Phó chủ tịch, một số ủy viên; Thực hành chế độ Chủ tịch phụ trách.

Ngày 18-6-1983, tại Hội nghị Trung ương lần thứ nhất khóa 6 ĐCSTQ, Đặng Tiểu Bình được bầu làm Chủ tịch Hội đồng quân sự Trung ương nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa. Ngày 20-6, theo đề nghị của Đặng Tiểu Bình: Diệp Kiếm Anh, Từ Hướng Tiền, Nhiếp Vinh Trăn, Dương Thượng Côn làm Phó chủ tịch Quân ủy Trung ương.

Đây là lần thứ ba trong lịch sử, Quân ủy Trung ương trở thành cơ quan chức năng chung của Ban Chấp hành Trung ương ĐCSTQ và Chính quyền quốc gia. Thiết lập Quân ủy quốc gia là một cải cách trọng đại của ĐCSTQ đối với thể chế quốc gia và thể chế quân đội. Trong điều kiện lịch sử mới, Quân ủy Trung ương và Quân ủy quốc gia trên thực tế là “một bộ máy, hai danh xưng” (lưỡng cá bài tử, nhất thao nhân mã).

Ngày 1-11-1987, Đại hội 13 ĐCSTQ thông qua Dự án sửa đổi một số điều của Điều lệ Đảng, trong đó quy định “Thành viên của Hội đồng quân sự Trung ương do Ban Chấp hành Trung ương quyết định”, điều quy định này liên tục kéo dài đến Điều lệ Đảng mới thông qua tại Đại hội 16.

Ngày 2-11-1987, Đặng Tiểu Bình lại được bầu làm Chủ tịch Quân ủy Trung ương, Triệu Tử Dương làm Phó chủ tịch thứ nhất, Dương Thượng Côn làm Phó chủ tịch thường trực.

Ngày 8-4-1988, tại Hội nghị lần thứ nhất Quốc hội Trung Quốc khóa 7, Đặng Tiểu Bình được bầu làm Chủ tịch Hội đồng quân sự Trung ương nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa. Ngày 9-4, Triệu Tử Dương, Dương Thượng Côn được bầu làm Phó chủ tịch.

Từ ngày 6 đến ngày 9-11-1989, tại Hội nghị Trung ương lần thứ năm, khóa 13 ĐCSTQ, Đặng Tiểu Bình từ chức Chủ tịch Quân ủy Trung ương, Giang Trạch Dân lên thay; Dương Thượng Côn được bầu Phó chủ tịch thứ nhất, Lưu Hoa Thanh làm Phó chủ tịch Quân ủy.

Từ ngày 12 đến ngày 18-10-1992, Đại hội 14 của Đảng Cộng sản Trung Quốc bầu Giang Trạch Dân làm Chủ tịch Quân ủy Trung ương ĐCSTQ; Lưu Hoa Thanh, Trương Chấn được bầu làm Phó chủ tịch Quân.

Ngày 28-3-1993, Giang Trạch Dân được bầu làm Chủ tịch Hội đồng quân sự Trung ương nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, đồng thời đề nghị Lưu Hoa Thanh, Trương Chấn làm Phó chủ tịch.

Từ ngày 19 đến 22-9-1999, Hội nghị Trung ương lần thứ tư khóa 15 ĐCSTQ bầu bổ sung Hồ Cẩm Đào làm Phó chủ tịch Quân ủy Trung ương.

Quân ủy Trung ương Trung Quốc hiện nay gồm 12 thành viên: Chủ tịch Hồ Cẩm Đào; 3 Phó chủ tịch: Tập Cận Bình, Quách Bá Hùng, Từ Tài Hậu; 8 ủy viên: Lương Quang Liệt, Trần Bỉnh Đức, Lý Kế Nại, Liêu Tịch Long, Thường Vạn Toàn, Đoan Chí Viễn, Ngô Thắng Lợi, Hứa Kỳ Lượng.

Cấp bậc của các thành viên Quân ủy Trung ương Trung Quốc

Chủ tịch Quân ủy Trung ương thông thường do Tổng bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc kiêm Chủ tịch nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa đảm nhiệm, không mang quân hàm.

Phó chủ tịch Quân ủy Trung ương, cấp bậc Thượng tướng, quân hàm cao nhất Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc hiện nay. Vị trí lãnh đạo và quyền lực tương đương ủy viên thường vụ Bộ Chính trị, Phó chủ tịch nước, Phó chủ tịch Quốc hội, Phó thủ tướng.

Ủy viên Quân ủy Trung ương, cấp bậc Thượng tướng, quân hàm cao nhất trong Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc hiện nay, vị trí và quyền lực tương đương ủy viên Quốc vụ viện; cao hơn Thủ trưởng 4 cơ quan Bộ tổng (Tham mưu, Chính trị, Hậu cần, Trang bị) của Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc; cao hơn Tư lệnh Đại quân khu. Cho nên, ủy viên Quân ủy Trung ương tuy không phải là một chức danh, một bậc thang lãnh đạo trong hệ thống Đảng, Chính quyền, Quân đội ở Trung Quốc, nhưng có vị trí và thực quyền.

Vũ Phong Tạo
qdnd.vn

Bác Hồ ở ATK

Văn học và sự kiện

QĐND – Có một đoạn phim tài liệu về Bác Hồ ở Việt Bắc làm xúc động lòng người: Sau khi tắm suối xong, cùng đồng chí công vụ, Bác mặc quần đùi, cởi trần, còn áo may ô và khăn mặt thì phơi lên đầu mút cây sào, giống như thiếu nhi nông thôn rước cờ lá chuối, vừa đi về nhà vừa tranh thủ phơi khăn áo! Cảm động vì thấy Bác vô cùng giản dị và sinh hoạt của Bác ở chiến khu hồi đó thật thiếu thốn; hơn nữa, tính Bác lạc quan, hóm hỉnh, tìm niềm vui từ những chuyện nhỏ hàng ngày. Dòng suối mà Bác tắm đó có tên là Khuôn Tát, thuộc bản Nà Lọm, xã Phú Đình, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên.

Chúng ta biết rằng, trước cách mạng Tháng Tám, Bác và Trung ương ở Tân Trào, Tuyên Quang, và từ đó về giành chính quyền ở Hà Nội. Mùa xuân năm 1947, sau khi rút khỏi Thủ đô, Bác và Trung ương trở lại Tân Trào, nhưng chỉ một thời gian ngắn thì sang Định Hóa, Thái Nguyên. Mặc dù Tân Trào và Định Hóa thuộc hai tỉnh, nhưng khá gần nhau, chỉ cách một đèo De và núi Hồng, hai địa danh khá quen thuộc trong bài thơ Việt Bắc của nhà thơ Tố Hữu. Sở dĩ Bác và Trung ương chọn nơi đây vì “địa lợi, nhân hòa” như Bác từng tổng kết:

“Trên có núi, dưới có sông
Có đất ta trồng, có bãi ta chơi
Tiện đường sang Bộ Tổng
Thuận lối tới Trung ương
Nhà thoáng, ráo, kín mái
Gần dân không gần đường”.

Bác Hồ đi công tác ở chiến khu Việt Bắc. Ảnh tư liệu.

Ngày đó, dân ở bản Nà Lọm chỉ có chín gia đình của người Tày và người Dao. Dân thưa, địa hình heo hút, xa trục đường giao thông, ít người qua lại nên dễ giữ được bí mật. Hơn nữa nếu có bị lộ thì cũng nhanh chóng rút qua đèo De, vào núi Hồng, sang Tuyên Quang, nhưng thực tế chuyện đó đã không xảy ra, mà Trung ương và Bác đã ở đây cho đến ngày về tiếp quản Thủ đô Hà Nội.

Hiện nay, ở khu này có hai mái nhà đã trở thành di tích lịch sử cấp quốc gia: Đó là lán Tỉn Keo và ngôi nhà Bác ở những năm đó. Lán Tỉn Keo là nơi hội họp của cơ quan đầu não của ta, trong đó có nhiều cuộc thật quan trọng như ngày 6-12-1953, Bác đã chủ trì cuộc họp của Bộ Chính trị, quyết định mở Chiến dịch Điện Biên Phủ. Có một chi tiết ở lán này làm khách tham quan cảm động là hai cây bông bụt Bác trồng cạnh lán với mục đích làm vợi bớt nỗi nhớ quê nhà, vì ở Kim Liên quê Bác, bông bụt là cây rất quen thuộc, từ cổng vào tận nhà. Lán Tỉn Keo là lán đất, còn nơi ở của Bác trên đồi Nà Đình là nhà sàn nhỏ, nằm dưới rừng cây cổ thụ, đặc biệt có những cây phách rất cao, lá nhỏ, rụng lá cuối hè đầu thu mà trong bài thơ Việt Bắc có nhắc tới: “Ve kêu rừng phách đổ vàng…”. Cạnh lán, có một đoạn hầm ngầm dài mấy chục thước, không chỉ đề phòng làm nơi ẩn nấp khi bị máy bay bắn phá, mà còn là đường rút lui bí mật nếu gặp những cuộc càn của giặc. Ở đoạn phim tài liệu đã nhắc trên kia, khi Bác và người công vụ từ suối Khuôn Tát đi lên là để về lán này đấy. Lán này là nơi ở, đồng thời là nơi Bác làm việc hàng ngày, kể cả tiếp khách đến thăm. Hồi đó vì bí mật, khách nói chung cũng chỉ có nội bộ mà thôi. Ngày 15-1-1954, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã đến chào Bác trước khi lên đường đi Chiến dịch Điện Biên Phủ. Ở lán này, Bác đã căn dặn Đại tướng nhiều điều, trong đó có ý nghĩa của bốn chữ “tướng quân tại ngoại” và đặc biệt Bác nhấn mạnh hai chữ “chắc thắng”.

Thời gian đã trôi qua gần hai phần ba thế kỷ, những người từng biết Bác ở Nà Lọm không còn mấy, ngoài bà cụ Ma Thị Tôm. Ngày Bác ở Nà Lọm, cụ Tôm còn ở tuổi thiếu nhi, ngày đi lấy củi, chăn trâu đôi khi gặp Bác, nhưng cũng không chú ý nhiều, vì “ông ké” này cũng mặc áo chàm như người trong bản. Có khác là thấy Ké tập võ dưới bóng đa cùng những người khác. Riêng có điều cụ Tôm không quên được, đó là tiếng ho từ nơi Ké ở vọng vào đêm vắng trong những đợt gió mùa đông bắc…

Đã mấy năm nay, trên đỉnh đèo De được dựng lên khu tưởng niệm Bác Hồ. Hàng ngày có nhiều đoàn khách khắp nước đến thăm, thắp hương cắm vào lư hương lớn trong công trình xây dựng hiện đại này mà lòng lại nhớ về một dòng suối trong, hai ngôi lán nhỏ, một cây đa cổ thụ dáng dấp cây đa ở Tân Trào, tán tỏa ôm ấp một khoảng đất rộng… từng gắn bó mật thiết với Bác ở chiến khu Việt Bắc.

Về thăm ATK, nghe lời giới thiệu cùng những mẩu chuyện kể, lòng người dâng trào cảm xúc và thương Bác. Thơ văn không chỉ là công cụ hữu hiệu ghi lại cảm xúc mà còn có thể làm sống lại một phần sự kiện lịch sử. Tôi hy vọng điều đó khi sáng tác bài thơ này.

ÔNG KÉ BẢN NÀ LỌM

Bản Nà Lọm có chín mái sàn
Người Tày, người Dao nói riêng thứ tiếng
Dòng Khuôn Tát chín nhà cùng uống.

Một mùa đông, Nà Lọm thêm mái sàn
Nhỏ hơn chín mái sàn đã có
Trong nhà chỉ một mình ông Ké.

Gặp người Tày, Ké nói tiếng Tày
Gặp người Dao, Ké nói tiếng Dao
Dáng gầy, mắt hiền, vầng trán cao.

Ké xắn quần, cuốc đất tăng gia
Vui tắm suối, tập võ dưới bóng đa
Buồn, lặng ngồi bên cây bông bụt.

Ké thức khuya, mặc đêm đông giá rét
Trong gió mùa nghe khúng khắng tiếng ho
Người Tày, người Dao bản Nà Lọm cùng lo.

Quê Ké phương nào, không ai biết
Con cháu Ké đâu, chẳng ai hay
Người gặp Ké hàng ngày thường thưa Bác.

Bảy năm chiến khu, là Ông Ké Nà Lọm
Chỉ biết thật tên khi đất nước hòa bình
Ngày tiễn về Thủ đô, trẻ già cùng khóc
Vẫy xe gọi hoài Bác Hồ Chí Minh!

Vương Trọng
qdnd.vn

Nhật ký Điện Biên Phủ

QĐND – Đoạn Nhật ký sau đây của Bi-gia, sĩ quan dù (Pháp) ở Điện Biên Phủ được trích trong cuốn sách “Cuộc chiến tranh Đông Dương của tôi”, NXB Pháp Hachetle, 1994. Đầu bài do chúng tôi đặt. Bi-gia sau này là Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Pháp, từng tháp tùng Tổng thống Mít-tơ-răng thăm Việt Nam năm 1994.

Ngày 19-11-1953: Brát-sơ – sĩ quan và tôi được gọi đến Sở chỉ huy lục quân Bắc Việt. Tướng Bô Đê phụ tá của Na-va lệnh cho chúng tôi nhảy dù xuống Điện Biên Phủ. “Chẳng có vấn đề gì. Nếu vấp phải sự phản công mạnh mẽ thì rút sang Lào”.

7 giờ sáng trong ngày, tôi và các sĩ quan: Lê-pa-giơ Tráp, Ma-gi-clat, Oai-đơ, Buốc Goa, Ale… đã có mặt ở sân bay Cát Bi. 8 giờ 30 phút, lệnh xuất phát. 9 giờ máy bay Đa-cô-ta cất cánh. Gió mạnh. Một số người đang bị ốm. Sau 300 ki-lô-mét bay, 10 giờ chúng tôi đã nhảy xuống Điện Biên. Tôi nghe tiếng rít của đạn bắn bên tai. Quân Việt đã có mặt? Các đại đội dù đã không tập trung được đúng như quy định. Với 800 quân, tôi có cảm tưởng như đã mất một nửa…

13 giờ 30 phút, chúng tôi bắt đầu một cuộc tấn công với sự yểm trợ của máy bay, cối 81mm. Cuộc chiến đấu diễn ra trong 2 giờ. Quân Việt đã phải lùi ra xa…

Sầm Sơn – Thanh Hóa, tháng 9-1954. Trao trả tù binh Pháp. Tù binh Pháp mặc quân phục Quân đội nhân dân Việt Nam, mang khẩu hiệu “Tình hữu nghị giữa các dân tộc muôn năm”.

Sáng ngày 5-1-1954: Một cuộc thăm dò sang phía Tây. Quân Việt bắn dữ dội. 20 người của chúng ta bị loại ra vòng chiến đấu. Vấn đề đã rõ: Quân Việt đã ở phía Bắc, phía Nam, đang bao vây quân Pháp. Đông và Tây cũng bị chiếm rồi. Thăm dò phía nào cũng đụng độ với quân Việt. Tôi liên tục gọi đến tướng không quân Phrăng Ki: “Tướng quân có thể yểm trợ, tăng cường không quân cho chúng tôi?”. Câu trả lời là: “Chưa phải lúc. Hãy đứng vững!”.

Cuối tháng 2-1954: Trong 2 tháng tướng Giáp tăng cường lực lượng xung quanh lòng chảo Điện Biên Phủ. Ông ấy biết rằng quân Pháp không thể thoát ra khỏi nơi đây. Quân Việt đã ở quá gần. Bộ Tham mưu Pháp lại không hiểu điều này và đã bị cài vào bẫy mà tướng Giáp đã bày ra.

Tôi được tướng Cô-nhi giao nhiệm vụ trở về Hà Nội, gặp Trung tá Bru-nê ở sân bay Cát Bi, Hải Phòng, đảm bảo việc tiếp tế cho Điện Biên Phủ. “Điện Biên Phủ không giữ được nếu không có không quân tiếp tế. 140.000 người trong khu vực này, tương đương 5 sư đoàn, chỉ có thể trông chờ vào không quân. Chắc chắn là quân Việt sẽ phá hủy số lớn máy bay trên mặt đất.

Đêm 12, 13-3: Tôi được tin quân Việt đã mở màn cuộc tấn công. Các tướng lĩnh Pháp hy vọng sẽ đập tan quân Việt của tướng Giáp trong lòng chảo này. “Thật là sai lầm”…

Trung tá Bi-gia (người đầu tiên từ trái sang), trong thời gian ở trại tù binh tháng 9-1954.

Ngày 15-3: Cô-nhi nói với tôi: “Tình hình trở nên xấu rồi. Hai cứ điểm Ga-bri-en và Bê-a-trít (Him Lam) đã mất. Hai tiểu đoàn bị tiêu diệt, pháo binh ta bị vô hiệu hóa. Ngày mai, anh lại nhảy xuống Điện Biên?

16-3: Tôi đã có mặt ở Điện Biên Phủ. Mây đen trên trời, pháo binh Việt bắn dữ dội… Tôi gặp Trung tá La-lăng, đầu đội mũ sắt, trong sở chỉ huy. Đêm 13 chỉ huy Bê-a-trít (Him Lam) đã chết trong hầm vì đạn pháo. Chẳng ai tin là quân Việt lại có trọng pháo. Nếu quân Việt tấn công, cứ điểm sẽ không giữ được.

25-3: Đã 9 ngày tôi ở đây. Đờ Cát-xtơ-ri gọi tôi đến Sở chỉ huy: “Bi-gia này, Hà Nội yêu cầu bảo đảm phía tây cho quân nhảy dù. Cậu có toàn quyền làm sao cho pháo phòng không của quân Việt im đi”…

6 giờ sáng ngày 26-3: Tập trung cao độ pháo binh Pháp bắn vào các cứ điểm quân Việt. Tiểu đoàn dù 6 và 8 lao vào cuộc chiến. Đến 15 giờ phía Pháp mất 20 người, trong đó có 2 sĩ quan, 70 bị thương, 2 xe tăng bị phá hủy.

Ngày 30-3: Cuộc chiến đấu để chiếm đóng 5 đồi còn lại bắt đầu. Cuối ngày, 3 ngọn đồi đã mất. 8 giờ sáng 31-3, mất 2 đồi nữa. Ê-li-an 2 (đồi A1-NV) còn trụ được”. 15 giờ trong ngày, Hà Nội điện “Không có quân tiếp viện”. Bọn “xà lù”(1) chúng nó muốn để chúng tôi gục ngã.

20 giờ ngày 5-4: Quán triệt tiếp tục tấn công. 4 tiểu đoàn Việt bắn dữ dội vào 100 lính lê dương. Trong số 12 nghìn người ở Điện Biên Phủ, có lẽ chỉ còn không đủ 3000 người tiếp tục chiến đấu. Số còn lại, bị chết, bị thương. Rất nhiều lính bỏ trốn, chui trong hầm hào chờ đêm xuống đi cướp dù thả thức ăn. Những “con chuột” của sông Nậm Rốm!

Bi-gia bên cột ki-lô-mét “Đ. Biên 0km” – tháng 6-1994.

Ngày 10-4: Đến ngày này tôi vẫn còn hy vọng đứng được thêm 1 ngày, 1 ngày nữa. Họ không thể để chúng tôi ngã quỵ. Người Mỹ sẽ đến. Họ sẽ ném bom xuống quân Việt…

15-4: Đờ Cát-xtơ-ri được thăng cấp tướng. Lăng-le, La-lăng đại tá, tôi trung tá… Hà Nội biết chúng tôi không thể thoát nên trấn an chúng tôi. Lăng-le nhiều giờ đã kêu nài cấp trên: “Gửi thêm quân cho chúng tôi. Đừng để chúng tôi chết”. Mỗi đêm, cũng có được vài người lính. Họ còn chưa đến 20 tuổi, là quân tình nguyện. Chúng tôi như một cây nến mà người ta để cho cháy tàn lụi. Điện Biên Phủ chỉ có 12 nghìn quân sĩ, toàn Đông Dương có số quân gấp 20 lần. Vấn đề là ở chỗ, trên chiến trường Điện Biên Phủ đều có mặt tất cả những đơn vị thiện chiến… Nếu chúng tôi sụp đổ, sẽ là một thảm họa.

25-4: Chúng tôi thiếu thốn mọi thứ, và trước hết không có quân số bổ sung, tại một số cứ điểm chẳng còn gì. Người ta phải cân nhắc khi ném một quả lựu đạn. Và phải đếm xem còn bao nhiêu đạn. Chúng tôi chỉ còn một nhúm người…

Ngày 7-5, ngày cuối cùng: 57 ngày chống cự ròng rã. Một ảo giác kỳ lạ! Chẳng còn gì sót lại, chỉ còn vài con ma. Bệnh viện đầy ắp thương binh, người chết. Không còn một cứ điểm nào tồn tại. Tôi như người bị bóng đè. Trước đó, chúng tôi cũng dự định một cuộc tháo chạy. Hai đội hình, một lính dù, một lê dương. Nhưng các sĩ quan đều nói là không làm được, binh sĩ không còn sức để đi bộ dù là vài ki-lô-mét.

12 giờ trưa ngày 7-5: Đờ Cát-xtơ-ri báo cho chúng tôi biết Hà Nội ra lệnh ngừng bắn. Chúng tôi không có cờ trắng. 17 giờ, Lăng-le đốt chiếc bê-rê đỏ của mình, đội lên đầu một cái mũ chết người ngự trị trên chiến hào… 18 giờ, quân Việt kia kìa, hàng nghìn, hàng nghìn ngập trong các chiến hào. Quân Việt đưa chúng tôi ra ngoài sở chỉ huy. Một lá cờ đỏ sao vàng được cắm trên hầm chỉ huy của Đờ Cát-xtơ-ri. Họ đã thắng. Chúng ta đã thua. Tôi không bao giờ tin rằng điều ấy sẽ xảy ra. Người ta đã bỏ rơi chúng tôi. Hàng nghìn tù binh, tiểu đoàn dù của tôi với 800 người nay chỉ còn không đủ 40. Số còn lại đã chết, mất tích. Họ đã chiến đấu chẳng vì điều gì cả.

18-6-1954: Tất cả tù binh Pháp được tập hợp trên bờ một con suối. Tướng Đờ Cát-xtơ-ri dẫn đầu, rồi đến các sĩ quan, binh lính “diễu hành” để một người quay phim Xô viết lia máy. Chúng tôi ra đi 12.000 người, còn lại 4000…

Cuối tháng 7-1954: Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết. Hết chiến tranh. Một hôm, trại trưởng tù binh mời chúng tôi lên trao đổi về các cuộc chiến đấu.

Cuối tháng 8: Chúng tôi rời trại giam.

Ngày 4-9-1954: Được trả tự do. Phía Việt tổ chức một “tiệc liên hoan”, có cơm, rượu, thịt nướng… Chúng tôi-một số sĩ quan được xe đưa về Hà Nội. Vài ngày sau, chúng tôi vào Sài Gòn rồi trở về Pháp. Phải giở sang một trang sử mới. Ngày 25-9, tôi đã xuống sân bay Oóc-li (Pa-ri).

Võ Nguyên Giáp là một vị tướng vĩ đại. Ông còn là một nhà tư tưởng. Sức mạnh của một quân đội trước hết là do tinh thần chiến đấu và do lý tưởng chứ không phải là trang bị kỹ thuật, vũ khí. Đó là những điều mà các nhà chính trị, các vị tướng Pháp không hiểu được. Binh lính Pháp chiến đấu đã bị bỏ rơi.

Ngày 28-6-1994: tôi đã trở lại Điện Biên Phủ, chụp ảnh tại cột km 80, Quốc lộ 279 với biển số ghi Đ. Biên 0km. Tôi đã gặp tướng Trần Văn Quang, Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt Nam. Tôi đã đến đài kỷ niệm “Để tưởng nhớ những người đã hy sinh cho nước Pháp” do cựu lính lê dương Rolf Rodel cùng các bạn chiến đấu dựng lên ở Điện Biên Phủ… Những quân nhân Pháp ở Điện Biên Phủ trở về Pháp mà không có được một ai đón chào (còn ở trên mảnh đất Việt Nam này lại có một đài kỷ niệm tưởng nhớ họ).

(1) Câu chửi của người Pháp: Xà-lù (salaud)

Thủy Trường (Lược dịch từ nguyên văn tiếng Pháp)
qdnd.vn

Chuyện đời người con nuôi của Xta-Lin

QĐND – Ác-chi-om Xéc-gê-ép là con trai độc nhất của nhà cách mạng Phê-đô Xéc-gê-ép. Năm 1921, Phê-đô hy sinh khi thực thi nhiệm vụ, cậu con trai Ác-chi-om đang trong bụng mẹ về sau được gia đình Xta-lin đưa về nuôi dưỡng. Lớn lên, Ác-chi-om cùng người con trai thứ hai của Xta-lin là Va-xi-li vào học trường quân sự. Suốt đời ông giấu kín việc mình là con nuôi Xta-lin. Ông cho rằng nhờ đó mà ông được sống yên ổn cho tới ngày nghỉ hưu với hàm Trung tướng.

Tìm hiểu về câu chuyện “kín tiếng” này, tờ “Tin nhanh” của Liên bang Nga đã được vị Trung tướng 87 tuổi trả lời nhiều chi tiết thú vị.

Không bao giờ “lộ diện” là con nuôi của vị lãnh tụ tối cao

Trong ngôi nhà vườn nhỏ nhưng thoáng đãng, ông già vẻ mặt phúc hậu, hiền từ nhưng còn phong độ ở tuổi 87 giới thiệu với khách:

– Đây là nơi trước đây một cán bộ ngành đường sắt lập trang trại chăn nuôi. Mẹ tôi đã mua lại với giá 5 nghìn rúp cách nay khá lâu. Tôi cảm thấy nơi đây thật tuyệt vời, tránh được sự ồn ào, náo nhiệt nơi phố phường,…

– Thưa ông, vì sao cho tới nay hầu như không ai biết gì về ông là con nuôi của lãnh tụ Xta-lin?

– Thật đơn giản thôi, vì tôi chưa bao giờ kể với ai rằng tôi là con nuôi Xta-lin, rằng tôi được gia đình Xta-lin nuôi dưỡng nên người. Mẹ tôi thì đặc biệt im lặng về điều đó. Do đó mà ngay cả đội trưởng đội bảo vệ Xta-lin là Vla-xích cũng cho rằng mẹ tôi đã chết từ lâu.

– Nhưng dù sao thì sự thật đã xảy ra: Một cậu bé được gần gũi Xta-lin, sống trong gia đình họ, được kết bạn với con trai lãnh tụ, được họ nuôi dưỡng… Vậy mà chẳng ai chú ý tới điều đó sao?

– Vì chỉ đơn giản cậu đó là Ác-chi-om, con trai nhà cách mạng nổi tiếng Phê-đô Xéc-gê-ép thôi.

Rồi Ác-chi-om Xéc-gê-ép kể lại việc mình trở thành con nuôi lãnh tụ như thế nào:

– Xta-lin và bố tôi là bạn chiến đấu thân nhau từ năm 1906, khi còn hoạt động bí mật. Cả hai đều cùng mấy lần bị tù đày, đều là đại biểu của các đại hội đảng trước cách mạng. Từ năm 1917 họ luôn sát cánh làm việc cùng nhau cho tới ngày bố tôi bị một tai nạn bất ngờ khi thực thi nhiệm vụ. Khi họ cùng đi dự Đại hội 10 của Đảng, rồi đi trấn áp cuộc nổi loạn ở Cron-xtát (tháng 3-1921), bố tôi đã đề nghị với Xta-lin rằng, nếu bố tôi có mệnh hệ gì thì nhờ ông chăm gia đình tôi, lúc ấy tôi còn trong bụng mẹ. Vào lúc đó, con trai thứ hai của Xta-lin – Va-xi-li ra đời. Vậy là từ 5 tháng tuổi tôi được gia đình Xta-lin nuôi dưỡng. Tôi sống cùng một phòng với Va-xi-li cho tới năm 16 tuổi.

– Thật khó hiểu, bởi chính ông không chỉ là một thành viên của gia đình vị đứng đầu Đảng và Nhà nước một thời, mà còn là một vị tướng quân đội Xô viết nữa. Đó có phải là cái kim trong đụn cỏ khô đâu?

– Tôi đã suốt đời phục vụ quân đội mà không cần “ô dù” để thăng cấp, thăng chức. Tôi đóng quân ở xa Mát-xcơ-va. Vào năm 1937, 1938 tôi vào học trường quân sự, đi lính rồi vào trường Sĩ quan pháo binh Lê-nin-grát số 2. Sau khi tốt nghiệp (năm 1940) tôi được chỉ huy một trung đội. Khi chiến tranh xảy ra, tôi được chỉ huy một trung đội pháo từ ngày 28-6-1941. Cuộc chiến ác liệt, không cân sức. Chúng tôi bị quân Đức đông gấp bội bắn phá, ném bom hủy diệt. Sau khi xe pháo của chúng tôi bị đánh tan, tôi được chỉ huy một đại đội bộ binh. Đơn vị chúng tôi bị quân thù bao vây chặt và tiến công liên tục. Chúng tôi thoát được trận đó và tập hợp số còn lại để lập một đội du kích. Chúng tôi số nhiều bị chết, tôi và vài đồng chí bị quân Đức bắt trong tình thế không còn đường thoát. Bị chúng đưa vào trại tập trung, rồi bị đưa vào nhà tù Orsa. Tôi mấy lần bí mật tìm cách thoát thân thì may quá – một lần chạy thoát được. Nếu như lúc đó có ai đó biết rõ lý lịch của tôi thì tôi làm sao thoát được! Trở về sau nhiều đêm ngày nhịn đói khát, mò mẫm tìm đường, tôi xin nhập vào các đơn vị mới để tiếp tục chiến đấu. Hết trận này tới trận khác, tôi luôn ở trên các mặt trận nóng bỏng. Và ơn trời, tôi vẫn được sống sót cho tới hết đời binh nghiệp.

Về các nhân vật lớn qua ký ức Ác-chi-om

– Là con nuôi Xta-lin, lại được nhiều năm sống trong gia đình lãnh tụ, ông thấy Xta-lin thế nào? Hình thức của Xta-lin như thế nào?

– Xta-lin không bao giờ tô điểm gì, sống rất tự nhiên. Ông có khuôn mặt bình dị, hiền hậu, không có tì vết gì. Chỉ có một ít sẹo nhỏ nhưng không rõ nét. Nét mặt ông sống động, thông minh nhưng giản dị. Có một phụ nữ từng bị hại trong những năm “trấn áp phản cách mạng” là Ki-ra Páp-lốp-na khi được hỏi về Xta-lin cũng đã trả lời: “Nói thật ra, ông ta là một người khả ái”.

– Thế Xta-lin nuôi dạy ông như thế nào?

– Bố nuôi tôi là một người cha ân cần, dịu dàng và mẫu mực. Ông không cho phép đứa trẻ tự coi mình là người không biết suy nghĩ. Ông thường nói chuyện với Va-xi-li, với con gái út Xvét-lan-na và với tôi về những vấn đề nghiêm túc một cách rõ ràng và dễ hiểu. Thi thoảng, ông thường đưa chúng tôi ra làm gương cho nhau trong sinh hoạt, trong đối xử.

Ác-chi-om Xéc-gê-ép (ngoài cùng, bên phải) cùng đồng đội chuẩn bị trận đánh. Ảnh tư liệu.

Trong các món quà Xta-lin kỷ niệm cho tôi có hai cuốn truyện hay. Ông viết đề tặng tôi trong cuốn “Rô-bin-sơn Cru-sô” của Đa-ni-en Đơ-phô: “Tặng Tô-míc thân yêu của tôi, chúc con lớn lên và thành người Bôn-sê-vích giác ngộ, kiên định và dũng cảm”.

Ông gọi tôi là Tô-míc để kỷ niệm cha tôi thời hoạt động cách mạng ở nước ngoài theo cách gọi của người bản địa lúc đó.

Do quá bận rộn với công việc nhà nước nên ông ít khi có dịp chơi cùng con cái. Ông chỉ có dịp trò chuyện với chúng tôi khi có chút rỗi rãi, hay khi đi làm về mà chúng tôi chưa đi ngủ.

– Thế ông thấy Bê-ri-a thế nào?

– Tôi có ấn tượng không thích. Mỗi khi có ông Ne-xtô Lô-cô-ba, bạn chiến đấu của Xta-lin tới nhà Xta-lin thì không khí thật ấm áp; còn khi Bê-ri-a tới thì thật nặng nề khó chịu. Tuy nhiên Bê-ri-a là một nhân vật to tát, có vai vế; tất cả năng lượng nguyên tử là ở ông ta. Không phải vô cớ mà nhà bác học I-go Cu-tra-tốp, trưởng nhóm nghiên cứu nguyên tử đã mạnh mẽ khuyên chính phủ để cho Bê-ri-a thay Mô-lô-tốp đứng đầu dự án nguyên tử…

Về người bạn, người anh em Va-xi-li

– Ông sống ở gia đình Xta-lin như thế nào?

– Từ 1923–1927 tôi và Va-xi-li cùng được nuôi dạy ở nhà trẻ. Ngoài chúng tôi – những đứa con mà cha mẹ không có thì giờ và điều kiện nuôi dưỡng vì quá bận rộn công việc quốc gia, còn một số khác là mồ côi cha mẹ, không nhà cửa nương thân. Tất cả là 50 người, gọi vui là “Nhà trẻ 50”. Các bà bảo mẫu chăm sóc và dạy dỗ tận tình, chu đáo, không phân biệt đó là con Xta-lin hay trẻ vô gia cư, trẻ mồ côi. Về sau tất cả bọn tôi đều được học trường phổ thông, rồi vào trường thiếu sinh quân, trường quân sự. Khi chiến tranh nổ ra, tất cả chúng tôi đều lập tức ra mặt trận.

– Khi nào thì ông và Va-xi-li gặp nhau lần cuối?

– Chúng tôi vẫn còn được gặp nhau khi Va-xi-li bị bắt và vào nằm điều trị ở quân y viện. Cuối năm 1953, rất nhiều bạn bè (cả bạn cùng chơi thể thao) đều thăm anh. Anh vẫn tiếp tục làm nhiệm vụ của mình, khá bận rộn với sự nghiệp thể thao. Sau đó anh bị dẫn tới trại cải tạo Vla-đi-mia-xki, rồi bị đi đày. Anh mất ở thành phố Ca-dan năm 1961. Tôi biết tin buồn này khá muộn, do mẹ tôi gọi điện báo cho tôi. Những năm cuối này Va-xi-li sống thật cô đơn…

Tham gia chiến tranh cứu nước, Va-xi-li được thưởng 4 huân chương. Các bạn cùng lứa, cùng hoàn cảnh với nhau thì được thưởng nhiều hơn. Ở đây có nhiều điểm thiếu công bằng. Một lần, đội bay ném bom của Đức ồ ạt tấn công sâu vào hậu phương của ta. Khi phát hiện thấy chúng, Va-xi-li lập tức phóng máy bay lên chặn đánh cản phá giặc, mặc dù máy bay của anh chưa kịp trang bị đầy đủ vũ khí. Bộ chỉ huy ở mặt đất chứng kiến hành động mưu trí và dũng cảm đó đã ghi danh để phong anh hùng. Tuy nhiên, khi đã biết đó là con trai Xta-lin thì họ hạ xuống một bậc: Chỉ thưởng Huân chương Cờ đỏ…

Về Va-xi-li đã có nhiều bài viết không đúng sự thật, thậm chí còn vu khống. Ngày nay người ta vẫn còn cố tình bóp méo hình ảnh của anh. Nếu ở anh vẫn còn có gì đó khiếm khuyết là do bản tính anh còn nông nổi, không biết tự kiềm chế…

– Xin hỏi thật tình: Xta-lin với anh như một người cha thật sự chứ?

– Vâng, tôi rất tự hào với hai người cha của mình. Tôi tự hào vì cả hai đều đã hiến trọn đời mình cho đất nước. Tự hào vì cả hai đều được an táng ở bức tường điện Crem-li. Những ngày sinh và ngày mất của họ tôi đều mang những bó hoa tươi thắm đến dâng trước mộ họ.

Nguyễn Hữu Dy
qdnd.vn

Tập Trọng Huân mở đường cho cải cách mở cửa ở Quảng Đông, Trung Quốc

QĐND – Ông Tập Trọng Huân (15-10-1913/24-5-2002), cố Phó thủ tướng nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa là phụ thân của nhà lãnh đạo Tập Cận Bình, Ủy viên thường vụ Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Phó chủ tịch nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, Phó chủ tịch Quân ủy Trung ương, Hiệu trưởng Trường Đảng Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc.

Đầu mùa xuân năm 1979, Tập Trọng Huân và Dương Thượng Côn nhận được thông tri của Trung ương, yêu cầu tham dự Hội nghị công tác Trung ương.

Khi ấy, Tập Trọng Huân là Bí thư thứ nhất Tỉnh ủy Quảng Đông; Dương Thượng Côn (5-7-1907/14-9-1998) là Chính ủy thứ nhất, Bí thư thứ nhất Đảng ủy Quân khu Quảng Đông.

Tập Trọng Huân cảm thấy bị áp lực chưa từng có. Ông vừa đến được một năm, còn chưa am hiểu tình hình Quảng Đông, song tình thế thúc ép con người, không chỉ sự chuyển biến lớn sau Hội nghị toàn thể Ban Chấp hành Trung ương lần thứ ba khóa 11 có ý nghĩa vạch thời đại khiến cho tinh thần ông phấn chấn. Hơn nữa tiếng kêu gọi cấp thiết yêu cầu đổi mới của cấp trên và cấp dưới trong toàn tỉnh Quảng Đông, càng khiến ông cảm thấy thời cơ lớn bội phần không thể để mất.

Tập Trọng Huân (1913-2002). Ảnh do Vũ Phong Tạo cung cấp.

Ngày 8-4-1979, lần phát biểu thứ nhất tại Tổ Trung Nam ở Hội nghị công tác Trung ương, Tập Trọng Huân đã chính thức đề xuất quan điểm và thỉnh cầu của Quảng Đông với Trung ương. Ông thay mặt tỉnh ủy nhiệt liệt yêu cầu Trung ương cho Quảng Đông được hưởng chính sách đặc thù trong cải cách mở cửa, xin Trung ương trao quyền hoặc nới quyền, để Quảng Đông đi trước một bước, phóng tay làm, tại khu vực lân cận Hồng Công và vùng ven biển, khoanh ra một số khu vực chuyên môn đối ngoại hợp tác trao đổi và thu hút vốn bên ngoài đầu tư, lợi dụng ưu thế gần với Hồng Công, Ma Cao, giao lưu quốc tế sôi động thuận tiện nhanh chóng, để phát triển nhanh hơn trong “bốn hiện đại hóa”.

Khi báo cáo với Thường vụ Bộ Chính trị Trung ương Đảng, Tập Trọng Huân phân tích ưu thế phát triển đặc biệt độc đáo của Quảng Đông, mạnh dạn đề xuất ý kiến của mình: “Quyền lực hiện tại của Trung ương quá ư tập trung mà tại địa phương cảm thấy rất khó làm. Không có quyền, làm việc rất khó”.

Chủ trì hội nghị, Hoa Quốc Phong hỏi: “Đồng chí Trọng Huân, rốt cuộc Quảng Đông các anh muốn đòi quyền gì nào?”. Không khí hội nghị bèn căng thẳng lên.

Đến nước này, Tập Trọng Huân nói thẳng: “Tôi thay mặt tỉnh ủy, thỉnh cầu Trung ương cho phép tại Thâm Quyến, Chu Hải giáp ranh với Hồng Công, Ma Cao và thành phố Sán Đầu, khoanh ra một khu vực, xây dựng khu hợp tác mậu dịch”.

Cuối cùng, ông quyết định nói dứt khoát: “Nếu như Quảng Đông là một quốc gia độc lập, có thể chỉ mấy năm sẽ làm xong xuôi, nhưng với thể chế hiện tại, thì không dễ dàng làm được”.

Lời lẽ “kiểu vượt rào” thẳng thắn không biết sợ của ông, khiến cho một số người mà đầu óc khi ấy vẫn chưa chuyển biến, nghe thấy mà phát hoảng.

Tập Trọng Huân té nước theo mưa, tiếp tục nói: “Quảng Đông hy vọng Trung ương cho thể chế và chính sách mới, như vậy Quảng Đông mấy năm sẽ có thể làm được. Quảng Đông là một tỉnh lớn, nhưng quyền cơ động địa phương của tỉnh hiện tại quá nhỏ, quốc gia và các ngành Trung ương thống nhất quản lý chết cứng, không lợi cho kinh tế quốc dân phát triển. Chúng tôi hy vọng, Trung ương trao cho một chút quyền, để Quảng Đông đi trước một bước, phóng tay làm tới. Thực hiện như vậy, có lợi cho địa phương, cũng có lợi cho Trung ương đấy”.

Tập Trọng Huân biết, tuy Đặng Tiểu Bình chưa chủ trì hội nghị, song mọi người đều nhận định ông ấy là bộ óc chủ yếu, là bộ xương sống của cải cách mở cửa, nên ông bèn ra hiệu với Nguyên soái Diệp Kiếm Anh muốn trưng cầu ý kiến Đặng Tiểu Bình nhân lúc hội nghị giải lao.

Đặng Tiểu Bình lặng lẽ nghe, liên tục hút thuốc, thỉnh thoảng lại nói xen một câu: “Cải cách mở cửa ở Trung Quốc, đầu tiên phải làm từ khu vực ven biển đông nam. Cải cách mở cửa của vùng ven biển đông nam, phải bắt đầu từ Quảng Đông, Phúc Kiến; Cải cách mở cửa ở Quảng Đông cũng phải nắm chắc một đột phá khẩu, làm công trường thí nghiệm, phóng mạnh tay làm, vạn nhất thất bại, cũng không quan trọng, một địa phương nhỏ như vậy quan hệ không lớn”.

Trong lần nói chuyện ấy, Đặng Tiểu Bình còn nói với Tập Trọng Huân một số câu có ý mở đường: “Biên khu Thiểm Cam Ninh ngày xưa cũng gọi là đặc khu mà, anh chẳng phải là Quyền bí thư của Đặc khu ủy Thiểm Cam Ninh đó sao? Tại Quảng Đông các anh khoanh ra một địa phương, cũng xây dựng một đặc khu! Có thể không?”.

Tiếp theo, Đặng Tiểu Bình nói: “Trung ương không có tiền, các anh tự làm lấy, mở ra một con đường máu mà đi!”.

Từ tháng 1 đến tháng 5-1979, nạn vượt biển trốn ra bên ngoài phát sinh tại tỉnh Quảng Đông theo thống kê chính thức của chính quyền lên đến 119.000 người, vượt qua con số phát sinh trong toàn năm 1962 cao nhất trong lịch sử.

Sau khi nhận được báo cáo, Tập Trọng Huân khẩn trương đến Thâm Quyến, khi ấy cao trào lớn vượt biên đã lắng xuống, song vẫn gặp một số người trốn sang Hồng Công.

Tập Trọng Huân lập tức triệu tập bí thư một số Công xã tọa đàm. Bí thư Công xã nói giữ không nổi, bởi vì tuyến bờ biển dài, đời sống của nhân dân giữa Hồng Công và nội địa quá ư chênh lệch. Một ngày lao động của một nông dân phía Bảo An trên tuyến biên cảnh Thâm Quyến chỉ có khoảng 7 hào, mà thu nhập một ngày lao động của một nông dân Hồng Công là 60 – 70 đô-la Hồng Công, chênh lệch đôi bên đến gấp 100 lần!

Gia đình Tập Trọng Huân (ảnh chụp ngày 15-10-2000).

Ông đi quan sát tuyến biên phòng và cảm thấy: Lập nước đã 30 năm rồi, thực hiện bế quan tỏa cảng, cộng với sự ảnh hưởng của cách mạng văn hóa, kinh tế ngày càng trì trệ, đời sống quần chúng khó khăn, lại không sửa đổi chủ trương chính sách, cải thiện đời sống nhân dân, vượt biên chạy trốn là không thể ngăn chặn.

Tập Trọng Huân nhận định: Đề phòng nạn trốn chạy vượt biên chỉ là một biện pháp điều trị phần ngọn, điều trị tận gốc vẫn phải dựa vào phát triển sản xuất. Sản xuất phát triển, đời sống nhân dân cải thiện, quần chúng nhìn thấy tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa, biên cảnh sẽ ổn định, người ta mới không còn chạy trốn ra ngoài.

Đối mặt với tình thế nghiêm trọng, Tập Trọng Huân đầu tiên đề ra nhiệm vụ “Trốn chạy ra ngoài” cho huyện ủy, ông chỉ rõ: “Thâm Quyến là vùng tiền duyên của mặt trận chống người trốn ra ngoài, các anh nhất định phải đồng tâm hiệp lực, tăng cường phòng tuyến hơn nữa, đề phòng nhiều người trốn ra ngoài. Trốn ra ngoài tổn thương quốc thể, ảnh hưởng quốc tế không tốt, hơn nữa trực tiếp ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp”.

Sóng gió trốn ra ngoài cuối cùng đã được chặn đứng. Thông qua chiến dịch này, Tập Trọng Huân càng thêm kiên định quyết tâm đẩy nhanh tốc độ xây dựng đặc khu, phát triển toàn diện lực lượng sản xuất của Quảng Đông, cải thiện đời sống nhân dân, đây mới là chính sách điều trị tận gốc.

Ông lại tổ chức thêm một chuyến đặc biệt đến thăm Thâm Quyến, tìm hiểu thấy cán bộ địa phương vẫn còn lo ngại “đất bay theo” những người dân đã vượt biên sang canh tác ở phía Hồng Công. Ông bèn nói với cán bộ huyện Bảo An và thị trấn Sán Đầu về vấn đề cho các nhà tư bản Hồng Công vào đầu tư thiết bị khai thác cát xuất khẩu, thu nhập chia đôi; Vấn đề thu hút vốn bên ngoài làm công nghiệp gia công; Vấn đề khôi phục mậu dịch nhỏ vùng biên… “Tiến hành làm sẽ có lợi cho phát triển sản xuất, gia tăng thu nhập của quần chúng, bảo đảm dân sinh, tại sao lại không dám làm chứ?”.

Ông ủng hộ và khuyến khích các đồng chí Bảo An: “Chỉ cần có thể phát triển sản xuất là làm, không nên trước tiên xem họ theo chủ nghĩa gì. Họ là chủ nghĩa tư bản, song có phương pháp tốt là chúng ta phải học tập”.

Nhằm đẩy nhanh tốc độ sáng lập đặc khu, Tập Trọng Huân đã “mở ra một con đường máu”, lao tâm khổ tứ, bạc trắng cả đầu, tạo dựng uy tín rất cao tại Quảng Đông và trong cả nước.

Một năm sau, ông lại tiến vào bộ máy lãnh đạo Trung ương, trở thành một trong những nhà lãnh đạo cao cấp của Đảng và Nhà nước Trung Quốc.

Vũ Phong Tạo trích dịch (Theo sách “Vận mệnh quốc gia – Nam Phương ký sự”, của Lã Lôi và Triệu Hồng, NXB Văn học nhân dân Trung Quốc ấn hành).
qdnd.vn

Vì sao “chiến tranh cục bộ” thất bại?

QĐND – Năm 2004, Nxb Penguin phát hành cuốn: “Những nhà ái quốc: Cuộc chiến tranh Việt Nam được hồi tưởng từ mọi phía” (Patriots: The Vietnam War Remembered from All Sides). Tác giả Grít-chi-an Áp-py (Christian Appy) đã mất nhiều năm đi lại giữa Mỹ và Việt Nam, để phỏng vấn hàng trăm nhân chứng từ các phía, viết nên cuốn sách lịch sử truyền khẩu (oral history) này.

Ký ức đầu tiên được tác giả Áp-py chọn đăng trong sách là của Trung tướng Mỹ hồi hưu, Béc-na Trây-nơ (Bernard Trainor). Viên tướng này nghỉ hưu đầu những năm 1980 để trở thành phóng viên chiến tranh cho tờ Nữu Ước thời báo (The New York Times), rồi giảng dạy tại Viện Ken-nơ-đi (Kenedy) trực thuộc chính phủ Mỹ (Kennedy School of Government). Tướng Trây-nơ thường xuất hiện trên truyền hình như một nhà phân tích quân sự, nhưng có lẽ ông ta nổi tiếng hơn do từng phục vụ ở Việt Nam hai tua, đều vào giai đoạn cuối, của cả hai loại hình Chiến tranh đặc biệt và Chiến tranh cục bộ.

Năm 1965, khi số lượng binh sĩ Mỹ ở Nam Việt Nam tăng từ 23 nghìn lên gần 200 nghìn người, Trây-nơ được giao chỉ đạo chương trình tối mật gồm các cuộc tiến công bằng biệt kích Sài Gòn lên các vùng duyên hải thuộc miền Bắc Việt Nam. Năm 1970, Trây-nơ quay lại Việt Nam đảm nhiệm một vai trò chiến tranh quy ước hơn, là Tiểu đoàn trưởng Lính thủy đánh bộ (LTĐB) Mỹ.

Từ “tốc chiến”

Hồi ức của Trây-nơ trong sách được đặt tên là “Hóa ra Thị trưởng Đà Nẵng là người của Việt cộng”.

Trây-nơ cho hay trước khi sang tham chiến ở Triều Tiên đầu những năm 1950, ông đã “nghiên cứu” về cách đánh của Pháp ở Đông Dương. Tới đầu Chiến tranh đặc biệt của Mỹ, ông ta làm các đặc vụ như phát triển các chiến thuật do thám chuyên dùng cho vùng Đông Nam Á. Trây-nơ kể:

“Vào năm 1965 tôi được chỉ định sang Nam Việt Nam với chức danh cố vấn thuộc nhóm Nghiên cứu và quan sát. Đây là mật danh của một chiến dịch ngầm khởi động bởi CIA. Chúng tôi hoạt động tại căn cứ bí mật ở núi Khỉ, gần Đà Nẵng. Chúng tôi dùng các tàu phóng ngư lôi do Bắc Âu sản xuất, trang bị động cơ Rôn-xơ Roi-xơ (Rolls Royce) công suất lớn để xâm nhập bờ biển phía Bắc. Thuyền trưởng và thủy thủ đoàn đều là người Việt. Họ thường xuyên bị phát hiện, do miền Bắc kiểm soát ven biển khá chặt chẽ.

Bìa cuốn sách “Những nhà ái quốc: Cuộc chiến tranh Việt Nam được hồi tưởng từ mọi phía”.

Nhưng người Mỹ không được chính thức giao nhiệm vụ tháp tùng các toán biệt kích – tôi không muốn nói rằng thỉnh thoảng quy tắc này đã không bị vi phạm – bởi vì biệt kích Sài Gòn nếu hoạt động không có cố vấn Mỹ kèm sẽ bị thiếu một bàn tay sắt, đẩy họ vào thế phải hung hãn hơn”.

Trây-nơ kể rằng có lần được lệnh tấn công một mục tiêu được cho là trại an dưỡng của “cán binh Việt cộng”, có chỉ huy biệt kích Sài Gòn đã nói đó là một bệnh viện của dân thường. Tuy nhiên cố vấn Mỹ vẫn phái một toán biệt kích tới đó, bắn giết nhiều người, nhưng hóa ra là dân. Theo Trây-nơ, sự kiện này đã làm cho người Mỹ bị mất tín nhiệm ghê gớm đối với các biệt kích Sài Gòn. “Sau đó, nhiều toán chúng tôi cử ra Bắc đã không bao giờ lên bờ, viện cớ lặt vặt… Các biệt kích đã mất tin tưởng vào chúng ta”, Trây-nơ khẳng định.

“Bất chấp những đổ bể như trên, tôi cho rằng các chiến dịch của chúng tôi vẫn khá có kết quả. Về căn bản đây là một chiến dịch tâm lý chiến thôi, và có vẻ chúng tôi đã gây được nhiều rối loạn cho đối phương hơn là phía Mỹ tự đánh giá”. Trây-nơ rời Việt Nam năm 1966, mãn nguyện vì đã đóng góp vào “cuộc thánh chiến linh thiêng chống cộng sản vô thần và tạo cho mầm dân chủ ở miền Nam một cơ hội bén rễ”.

… đến “mã hồi”

Trây-nơ viết tiếp: “Khi tôi trở lại làm nhiệm kỳ thứ hai, năm 1970, tôi mất tất cả mọi thứ ấy (cuộc thánh chiến chống cộng, “mầm” dân chủ kiểu Mỹ. ND) bởi vì sau ngần ấy năm can thiệp, chúng ta nhận thấy rằng “nền dân chủ đang chớm nở” của Nam Việt Nam ngập trong đồi bại và tham nhũng. Tôi cũng đã nhận thấy rằng đối phương của chúng ta, ngoài chuyện là cộng sản, còn chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa dân tộc (nationalistic) và tư tưởng chống thuộc địa.

Giữa hai nhiệm kỳ (1966 – 1970), tôi dạy trường Cao đẳng Chỉ huy tham mưu. Ở đó anh có thể nhận thấy sự ngán ngẩm và buồn rầu của các sĩ quan Mỹ ở Việt Nam về chiến lược tìm diệt của Oét-mo-len (Westmoreland). Mỹ tìm diệt quân Bắc Việt Nam, nhưng cũng hủy diệt dân thường và chính quân Mỹ cũng bị tiêu diệt.

Các CCB Mỹ từ Việt Nam về dẫn đầu một đoàn tuần hành chống chiến tranh (Oa-sinh-tơn, 1967). Ảnh: ABOUT.COM.

Từ năm 1970 tôi chỉ huy tiểu đoàn 1/5 LTĐB Mỹ. Chúng tôi thực hiện các chiến dịch phản ứng linh hoạt tại đồi 34 gần Đà Nẵng. Chúng tôi lĩnh một cơ số phi vụ trực thăng vận/ngày và dựa trên các báo cáo tình báo, đến lùng sục các khu vực được biết là có, hoặc nghi là có quân đối phương. Tư tưởng chỉ đạo của tôi là nếu không có chạm súng, đơn vị tôi sẽ rút nhanh ra và bay về căn cứ qua một trong nhiều bãi đáp trực thăng không ấn định trước. Tôi không muốn quân của mình bị phục kích trong bụi rậm, mắc vào các cạm bẫy, bãi mìn.

Tôi muốn hoàn thành nhiệm vụ một cách chuyên nghiệp, với thương vong ít nhất. Cơ-lác Giớt-giơ (Clark Judge), chỉ huy Trung đoàn 5 Lính thủy đánh bộ Mỹ bảo tôi: “Anh biết đấy, chúng ta sang đây không phải để tham chiến, chúng ta sang đây để hành quân thôi”.

Nếu anh tham chiến, anh cần phải làm mọi chuyện để thắng cuộc chiến tranh ấy. Còn ngụ ý “hành quân” của Giớt-giơ là liên tưởng chuyện quân đội thực dân Anh thế kỷ 19 từng ngược mãi lên phía tây bắc của Ấn Độ (1), trong khi cố xoay xở trong thế trận không thể thắng. Theo hướng tư duy này, lính Mỹ chúng tôi chỉ cố nhùng nhằng kéo dài thời gian cho tới khi bị ép phải rút khỏi Việt Nam.

Cuộc thẩm vấn dở dang

Chỉ huy cấp trên không ưa cách đánh đấm của Trây-nơ, cho rằng “không đủ độ hung hãn” (wasn’t being aggressive enough). Sư đoàn trưởng, Tướng Uýt-đếch-cơ (Widdecke), gọi Trây-nơ về hậu cứ, thẩm vấn “Hãy giải thích rõ anh đang làm cái gì?”. Tướng Trây-nơ kể tiếp:

“Rõ ràng là nếu cấp trên không ưa câu trả lời của tôi, tôi sẽ bị đưa về hậu phương và không bao giờ có thể lên tướng. Mọi người sẽ lý giải: “Trây-nơ ngại giao tranh với đối phương. Anh ta vào trận một tý, rồi bỏ chạy”. Đường binh nghiệp của tôi thế là hết.

May quá, đang thẩm vấn thì một vô tuyến điện viên đến, báo cáo: “Trung tá Trây-nơ, đơn vị của ông chạm địch”… Tôi trở lại với đơn vị và tình hình bỗng biến chuyển thành một kết quả đặc biệt, hoàn toàn xóa bỏ mọi nguy cơ làm tôi bị mất chức”.

Lính sư đoàn I Lính thủy đánh bộ Mỹ trong một trận đánh ở rìa phía nam khu phi quân sự, 1966. Ảnh: Larry Burrows.

Trong cuộc hành quân “tìm diệt” đó, sử dụng các trực thăng chiến đấu Cobra, máy bay A4 thả bom 250 pound (hơn 1 tạ) và bom na-pan, quân của Trây-nơ bỗng phát hiện được một hang dùng làm căn cứ của đối phương và bắt được một danh sách “Việt cộng nằm vùng” giấu trong một cái bình quân dụng cũ của quân Mỹ. Qua đó, Mỹ phát hiện được viên thị trưởng Đà Nẵng là “tay trong” của Mặt trận giải phóng (2). Theo Trây-nơ, “đây là phát hiện về tình báo lớn nhất ở vùng chiến thuật I trong suốt cuộc chiến tranh”…

Lý giải cuộc chiến trên nền… lịch sử Mỹ

Nay nhìn lại, tướng Trây-nơ so sánh cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam với cuộc đấu tranh giành độc lập của Mỹ:

“Nhiều người nói rằng chúng ta phải ném bom để đưa miền Bắc về lại thời kỳ đồ đá. Ở mức độ nhất định, chúng ta đã đạt được hiệu quả này, nhưng họ vẫn tiếp tục chiến đấu. Có ném bom nữa cũng không ăn thua gì. Tôi thấy cuộc kháng chiến của Việt Nam có nét tương đồng với cuộc cách mạng của Mỹ. Cũng như các nhà cách mạng Mỹ thời đó, người Việt quyết chiến đến cùng. Những người dân Mỹ hồi đó đã đi tới một quyết định rằng độc lập là thiết yếu. Họ đặt cược tính mạng và của cải của mình vào sự nghiệp giành độc lập. Nhờ ơn trời, họ đã không buông xuôi, không chịu chấp nhận sự bóc lột và thân phận nhục nhã dưới ách đô hộ của Anh.

Trây-nơ tiếp tục so sánh cuộc kháng chiến của Việt Nam với cả cuộc nội chiến ở Mỹ.

“Hy vọng ban đầu của chúng tôi là thu phục trái tim khối óc của người dân, nhưng hy vọng này đã bị tan tành bởi thất bại của chính quyền Sài Gòn trong việc giành tín nhiệm của dân và chiến lược tìm – diệt của Oét-mo-len. Về cơ bản đây là chiến lược tiêu hao sinh lực, vì thế liên tưởng lại dẫn chúng ta về với cuộc nội chiến của Mỹ. Khi đó tướng Iu-lít-xơ Gran-tơ (Ulysses Grant) đã tìm được chìa khóa giành thắng lợi trong cuộc chiến tranh chống miền Nam bằng cách dùng tiềm lực to lớn về nhân lực và công nghiệp để đè bẹp quân đội Liên minh (của miền Nam nước Mỹ lúc đó). Chỉ việc chất đống quân lực và vũ khí, rồi bóp vụn quân địch. Đây cũng là cách mà Oét-mo-len xúc tiến ở Việt Nam. Một cách làm võ biền. Có thể nói, Quân Giải phóng đã xoay triết lý chiến tranh tiêu hao chống lại chính Oét-mo-len. Chiến lược của người Việt là nhằm làm sao xói mòn lực của quân Mỹ, cho tới khi công luận Mỹ xoay chuyển, chống lại cuộc chiến tranh. Chiến lược này đã thành công…”.

————-

(1) Điển cố “cuộc chơi lớn” (Great Game) nói về sự kình địch của hai đế quốc Nga Anh ở khu vực Trung Á giáp Ẫn Độ (khi đó còn gồm cả đất Pa-ki-xtan hôm nay).

(2) Trên thực tế, các thị trưởng Đà Nẵng là Đại tá Lê Chí Cường (thị trưởng Đà Nẵng từ 1966 đến 1969), Nguyễn Văn Thiện (Đại tá, thị trưởng Đà Nẵng thăng Chuẩn tướng tử trận năm 1970, Đại tá Nguyễn Ngọc Khôi (thị trưởng Đà Nẵng đến 1972), đều trung thành với chế độ Mỹ – Thiệu. Ở đây chắc Trây-nơ nói đến Trần Ngọc Châu, dân biểu Sài Gòn, chuyên gia về bình định của Mỹ – Thiệu, bị bắt bỏ tù năm 1970 do “liên hệ với Việt Cộng”… Trần Ngọc Châu làm thị trưởng Đà Nẵng thời kỳ 1965, khi Trây-nơ làm cố vấn cho biệt kích quân đội Sài Gòn đóng ở gần Đà Nẵng. Trên thực tế, Châu trước và sau khi bị bắt đều trung thành với lợi ích của Mỹ.

Grít-chi-an Áp-py

Lê Đỗ Huy (lược dịch)
qdnd.vn

Chí nhân thay cường bạo

Trong mắt người nước ngoài

QĐNDLTS: Báo chí và nhiều nguồn thông tin khác của Mỹ chỉ rõ tính tổ chức chặt chẽ và tình người của Quân đội nhân dân Việt Nam trong chăm sóc, chữa trị thương binh, bệnh binh, chính sách đối với thương binh, tử sĩ, kể cả đối với tù binh của đối phương…

Từ đầu cuộc chiến tranh tổng lực của Mỹ giữa thập kỷ 60 thế kỷ 20, tác giả Ku-nô Knô-bơn (Kuno Knoebl) trong cuốn “Việt Cộng: Bộ mặt của cuộc kháng chiến ở Việt Nam” (Victor Charlie: The face of war in Viet Nam, Nxb Frederick A.Praeger, 1967), cảnh báo: “Kẻ thù của cách mạng miền Nam (quân đội Mỹ) điều hành một bộ máy chiến tranh hiện đại, yểm trợ đường không với trực thăng, máy bay ném bom, yểm hộ pháo binh và tiếp tế vô cùng dồi dào. Một lính Mỹ bị thương có được mọi cơ may để tới một quân y viện nhanh chóng và có một cơ hội lớn hơn so với thương binh Quân Giải phóng để có thể sống sót, dù bị thương nặng đến mức nào. Đối với chiến sĩ Quân Giải phóng, cùng lắm cơ hội sống chỉ đến khi được đưa về căn cứ gần nhất trong rừng, hoặc làng nào gần nhất có người dân theo cách mạng, thông thường đều nằm cách mặt trận nhiều cây số. Nhiều thương binh bị chết do không được cấp cứu đúng lúc. Các cơ hội để cho cán binh Quân Giải phóng bị vây thoát chết là gần như không có”.

Ku-nô Knô-bơn nhấn mạnh rằng, trong khi các đơn vị của quân đội Mỹ có thể sửa sai nhiều lần, bất chấp thương vong, các lực lượng Giải phóng “thua xa” đối phương về vũ khí, trang bị, quân số, nên đã chọn cách đánh hiệu quả, tiết kiệm sinh lực, trang bị, “góp gió thành bão”. Tác giả viết: “Họ (Mặt trận giải phóng) bù chỗ yếu bằng chiến lược và bằng lập kế hoạch vô cùng tỉ mỉ… Họ thỉnh thoảng mắc sai lầm, nhưng không bao giờ lặp lại hai lần…

Trang 225 thuật lại một cuộc trao đổi của Ku-nô Knô-bơn với một đại diện của Mặt trận Giải phóng. Câu hỏi vì sao Quân Giải phóng hiếm khi để lại thương binh, xác tử sĩ tại chiến trường, có một câu trả lời là: Cần cố mang theo “xác đồng chí của mình và chôn cất họ càng gần quê cha đất tổ của họ càng tốt”, theo ước nguyện của các chiến sĩ trước khi vào trận đánh.

Một mặt trận tranh đấu mất còn

Trong sách “Bộ đội Việt Nam – một thiên chính sử” (Inside the VC and the NVA the real story of North Armed Forces, Nxb Ballantine Books, 1993), chương 8, các tác giả Mai-cơn Li Lan-ninh (Michael Lee Lanning) và Đan Crác (Dan Cragg) viết khá tỉ mỉ về hệ thống quân y của Quân Giải phóng.

“Cung cấp về y tế là vô cùng gay go đối với các đơn vị Quân Giải phóng, thường hoạt động trong rừng, thường xuyên phải vận động chiến, hành quân xa vất vả. Bộ đội thường bị Quân đội Mỹ và Quân đội Sài Gòn tấn công trên bộ và từ trên không, tồn tại với một suất ăn tối thiểu, dễ bị các bệnh truyền nhiễm nhiệt đới tại các vùng địa hình khác nhau thuộc Đông Nam Á. Hiện chưa có số liệu về sự thiếu thốn thuốc men ở miền Bắc, nhưng yêu cầu phục vụ chiến đấu và phòng, chống tật bệnh trong điều kiện chiến trường miền Nam đã đặt đội ngũ y, bác sĩ Quân Giải phóng vào tình thế vô cùng khó khăn cho thực hiện chức trách của mình.

Ngoài sự hết lòng vì thương binh, bệnh binh, các giải pháp được áp dụng là tận dụng tất cả các nguồn cung cấp thuốc men từ viện trợ các nước “phe cách mạng” (các nước XHCN), giúp đỡ nhân đạo từ một số nước thứ ba (thường ở bán đảo Scandinavia), mua tại các thị trường tạm bị chiếm ở Nam Việt Nam, mua ở Lào và Cam-pu-chia. Cơ sở vật chất tại chỗ được tận dụng theo phương châm Đông-Tây y kết hợp”.

Chăm sóc thương binh trong Quân y viện dã chiến, năm 1969. Ảnh: Lưu trữ Đông Dương, Hoa Kỳ.

Tài liệu Hậu cần cộng sản tại chiến trường miền Nam (của Bộ Tổng tham mưu Quân đội Sài Gòn in năm 1970), nêu các nguồn cung cấp thuốc vào miền Nam cho Mặt trận Giải phóng, như những mục tiêu cần ngăn chặn, kiềm tỏa. Quân đội Sài Gòn cũng theo sát các xưởng dược của Trung ương Cục, Chiến khu Dương Minh Châu, Khu ủy các Khu, các trường đào tạo dược sĩ, dược tá của Miền và các nguồn “xâm nhập” của chuyên gia y dược vào miền Nam. Tài liệu này khái toán chi phí mua thuốc của Mặt trận năm 1966 lên tới 200 triệu đồng tiền Việt Nam Cộng hòa, tương đương với 2,5 triệu USD.

Quân Mỹ – Sài Gòn thường chú trọng tìm các bệnh xá, trạm xá quân dân y, các kho – xưởng, cơ sở bào chế thuốc để đánh vào. Theo các sách được dịch sang Anh ngữ, như cuốn Nhật ký của liệt sĩ, bác sĩ Đặng Thùy Trâm về một trạm xá bị quân Mỹ – Sài Gòn tìm diệt như một mục tiêu quan trọng bậc nhất. Một tác phẩm khác được những người đọc phương Tây chấm 5 sao là bút ký “Tây Nguyên ngày ấy” của cố GS, bác sĩ Lê Cao Đài, đã làm rung động tâm tưởng độc giả trên từng trang sách, trên từng số phận của thương binh, bệnh binh và những người chăm sóc họ trong quân y viện trong rừng. Các trạm xá, bệnh xá, quân y viện… đều cố gắng tồn tại, trụ bám bằng mọi giá, để làm “điểm chờ” cho hy vọng bảo tồn sinh mạng của đồng đội bị thương.

Thầy thuốc như mẹ hiền

Mai-cơn Li Lan-ninh và Đan Crác viết tiếp: “Một yếu tố cực kỳ quan trọng để đảm bảo tinh thần chiến đấu trong bất kỳ quân đội nào là chất lượng điều trị… Nhiều người Mỹ trong chiến tranh Việt Nam coi hệ thống y tế của “Việt Cộng” là cực kỳ nguyên thủy. Điều này không đúng. Một bác sĩ Mỹ viết năm 1966, “xu hướng hạ thấp quy mô và hiệu quả của hoạt động y tế của “Việt Cộng” là cần tránh… Nếu toàn bộ sự thật được công bố, tất cả chúng ta sửng sốt vì chất lượng y tế mà họ cung cấp được cho bệnh binh và thương binh của mình”.

Một quân y sĩ Quân Giải phóng cho biết cương lĩnh của nghề mình: “Lương y như từ mẫu. Có nghĩa là các chiến sĩ ở xa cha mẹ họ, nên quân y sĩ phải thay mặt cha mẹ của chiến sĩ. Người quân y sĩ có nhiệm vụ làm giảm nỗi đau khi chiến sĩ đau ốm, phải an ủi chiến sĩ khi họ không vui, phải cư xử như bạn tâm tình của chiến sĩ”.

Buồng mổ trong mùa nước nổi tại quân y viện dã chiến Nam Bộ. Sách: “Chân trần chí thép: Những ký ức từ bên kia chiến tuyến” (Bare Feet, Iron Will ~ Stories from the Other Side of Vietnam’s Battlefields), tác giả James G.Zumwalt, Nxb Forits Publishing, 2010.

Sơ cứu được thực hiện nhờ các thứ thuốc trong túi thuốc cá nhân, có thể gồm cả các thuốc kháng sinh, vi-ta-min, các vị thuốc đông y. Khi việc cứu chữa tại chỗ không giải quyết được, thương binh, bệnh binh được chuyển tới các quân y viện. Các quân y viện như thế thường được triển khai một cách có cân nhắc, chẳng hạn, thuộc một Binh trạm trên đường Trường Sơn, tại một vùng đất biên giới Cam-pu-chia”.

Các tác giả tiếp tục mô tả một bệnh viện dã chiến có 3 phòng mổ nằm dưới mặt đất, có khá nhiều thuốc men, nằm trên diện tích khoảng 0,4ha. Dưới bệnh viện là hệ thống địa đạo. Địa đạo khá rộng, sâu tới 2m, dài hơn 20m, rộng khoảng 15m, có thể mắc võng…

Một bệnh viện dã chiến tuyến trên có thể được xây trên mặt đất, có ba khoa, trên chu vi một chiều 200m, chiều kia 100m, chứa được 70-80 giường mỗi khoa. Viện có máy X quang, khoảng 4 bác sĩ và nhiều quân y sĩ, y tá, có thể giải phẫu và điều trị nhiều bệnh và thương tật.

Nhưng việc sơ tán thương binh khỏi chiến trường là rất khó khăn. Có trường hợp thương binh nặng phải chuyển lên tuyến trên bằng thuyền mất đôi ba ngày đường. Nhưng điều kiện điều trị là tốt. Một thương binh kể: “Thức ăn ở quân y viện có dinh dưỡng cao. Hàng ngày, bệnh nhân nhận được khẩu phần có cả sữa, chanh, thịt lợn, gà, bò… Bác sĩ phẫu thuật chính được thương binh, bệnh binh yêu mến vì ông luôn coi cưa cắt là phương án cuối cùng, luôn cố cứu, không để thương binh bị tàn phế”.

Sách cũng mô tả một quân y sĩ Quân Giải phóng là giàu lòng nhân ái và gương mẫu, so với chuẩn mực của bất kỳ bên nào.

Chí nhân thay cường bạo

Theo hồ sơ lưu trữ “Khó khăn, bất cập trong thực hiện chính sách và thực tiễn của Việt Cộng” (Contradictions between offial policy and VC, năm 1967) của tình báo Mỹ, Quân Giải phóng phải đảm bảo chữa trị, đối xử tốt với tù binh đã bị thương của phe Mỹ.

Nhiều tác giả phương Tây, như W.Bớc-sét (Wilfred Burchett) đã viết, bất kỳ cán bộ, chiến sĩ cách mạng nào, dù bị thương, đau ốm, “nếu bị quân đội Mỹ bắt, sẽ nhất định bị tra tấn ngay lập tức”. Từ 1965, sách “Việt Cộng: Bộ mặt của cuộc kháng chiến ở Việt Nam” đã tả cảnh một chiến sĩ Quân Giải phóng bị thương, bị bắt và bị tra tấn dã man. Phía Mỹ cho rằng, người lính này khẳng định chỉ chiến đấu vì lòng yêu nước. Nhưng tác giả Ku-nô Knô-bơn đã nhận thấy khuôn mặt của người lính Quân Giải phóng đã bừng sáng khi tên anh hùng giải phóng dân tộc Hồ Chí Minh được nhắc đến. Từ chối cung khai “tổ chức biên chế của Việt Cộng”, người thương binh đã hy sinh tại trận vì cực hình tàn khốc của kẻ thù.

Lê Đỗ Huy
qdnd.vn

Những phụ nữ đi qua khói lửa Trường Sơn

Từ nhiều năm nay, cứ vào mỗi dịp kỷ niệm Ngày truyền thống của Bộ đội Trường Sơn, những cựu thanh niên xung phong, bộ đội Trường Sơn ở tỉnh Bắc Giang lại có dịp cùng nhau ôn lại một thời khói lửa nơi chiến trường xưa.

Cô y sĩ giàu lòng trắc ẩn

Đó là tên gọi thân quen, trìu mến mà các thương binh và y, bác sĩ ở Đội điều trị của Binh trạm 32 (Đoàn 559) dành cho nữ y sĩ trẻ Bùi Tú Loan, quê ở thành phố Bắc Giang (tỉnh Bắc Giang) trong những ngày chiến đấu ở Trường Sơn năm xưa.

Năm 1968, sau khi học xong lớp y tế sơ cấp, bà Loan nhập ngũ và được điều về Đội điều trị của Binh trạm 32. Cô gái trẻ 19 tuổi, lần đầu thấy thương binh vừa sợ, vừa thương cảm. Mỗi khi thấy các anh đau đớn vì vết thương là bà lại không cầm lòng nổi, chạy ra một góc khuất khóc một mình.

Khi bác sĩ buộc phải cắt bỏ một phần cơ thể của thương binh do vết thương bị hoại tử, nhiễm trùng là bà lại thấy như chính da thịt mình đang phải chịu những mũi dao kia. Những tình cảm ấy khiến bà càng tận tâm, hết lòng cho công việc với mong muốn phần nào giúp thương binh bớt đau đớn và mau lành thương tật.

Hơn 1 năm sau, bà Loan trở thành một y sĩ “cứng” của đội, thường được giao nhiệm vụ như một bác sĩ bởi tay nghề vững. Những năm tháng phục vụ chiến trường, bà Loan được tặng thưởng Huân chương chiến sĩ vẻ vang và Huân chương kháng chiến hạng Ba.

Kỷ niệm về Trường Sơn mà bà Loan nhớ nhất là vào cuối năm 1968, khi đơn vị bà di chuyển đến địa bàn tỉnh Khăm Muộn của Lào. Vừa dựng lán trại xong thì máy bay Mỹ ập tới. Tình hình nguy cấp, các các bộ, y sĩ trong Đội điều trị buộc phải nhanh chóng chuyển tất cả thương binh cùng các dụng cụ y tế, thuốc men tới một hang đá cách đó khoảng 700m để đảm bảo an toàn.

Mặc dù bé nhỏ nhất đội, lại bị sốt rét mới khỏi, nhưng lúc ấy bà Loan vẫn gắng sức cùng đồng đội cõng thương binh (nhiều người nặng gần gấp đôi bà ) chạy về phía hang đá trong mưa bom, bão đạn. Giữa sự sống và cái chết, lúc ấy bà chỉ nghĩ mình có thể hy sinh nhưng phải cứu bằng được thương binh. Tinh thần đó đã tiếp thêm cho bà một sức mạnh phi thường để cùng đồng đội đưa toàn bộ thương binh về nơi an toàn.

Sau khi nước nhà thống nhất, bà Loan trở về quê hương và công tác tại Phòng y tế huyện Yên Dũng (Bắc Giang). Hiện bà đã nghỉ hưu và sống cùng gia đình tại khu tập thể của Công ty Phân đạm và hóa chất Hà Bắc, thành phố Bắc Giang.

Như để luôn nhớ lại những năm tháng không thể nào quên ở chiến trường, mỗi khi con cháu tề tựu đông đủ, bà lại kể cho các cháu nghe những câu chuyện mình từng trải qua ở Trường Sơn năm xưa.

Thoát chết trong gang tấc

Năm nay 65 tuổi, tóc cũng đã bạc trắng nhưng bà Nguyễn Thị Tuế, ở khu Chi Li, phường Trần Phú (thành phố Bắc Giang) vẫn nhớ như in khi lái xe cùng hơn 20 thương binh thoát chết trong gang tấc tại khu vực đèo Đá Đẽo, tỉnh Quảng Trị.

Năm 1964, khi cả nước “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”, bà Tuế tham gia thanh niên xung phong làm đường giao thông ở khu vực Quảng Bình, Quảng Trị. Tháng 9/1968, cùng với 20 thanh niên xung phong dũng cảm nhất trong đơn vị, bà được chọn vào Đại đội nữ lái xe mang tên nữ anh hùng Nguyễn Thị Hạnh, có nhiệm vụ bám trụ trên tuyến đường Trường Sơn để chở thương, bệnh binh ra Bắc chữa trị và chở lương thực, thực phẩm, đạn dược, khí tài vào chi viện cho chiến trường miền Nam.

Cuối năm Mậu Thân 1968, bà lái xe chở thương binh từ chiến trường miền Nam quay ra Bắc. Khi xe đến đèo Đá Đẽo, nơi được coi là khó có xe nào qua được do tại địa điểm máy bay Mỹ cứ 15 phút rải bom một lần và thường xuyên bắn pháo sáng để phát hiện mục tiêu đánh phá, phát hiện thấy xe của bà Tuế, máy bay Mỹ đuổi theo bắn phá dữ dội.

Tiếng bom nổ chát chúa đằng trước, đằng sau kèm theo ánh pháo sáng địch bắn trên trời liên tục khiến khu vực đèo trông rõ như ban ngày. Với suy nghĩ nếu dừng xe lại thì không chỉ bản thân mà tính mạng của hơn 20 thương binh trên xe ngay lập tức sẽ gặp nguy hiểm, bà Tuế vẫn tiếp tục cho xe lao thẳng về phía trước.

Đến đỉnh đèo bỗng nhiên chiếc xe khựng lại. Với vốn chuyên môn ít ỏi vì mới được học lái xe không lâu, bà Tuế loay hoay mãi mà không biết tại sao xe chết máy. Rất may trong số thương binh có người là lái xe đã xuống kiểm tra giúp và phát hiện xe bị hỏng màng bơm xăng nhưng lại không có phụ tùng thay thế.

Chợt nhớ trong chuyên môn có hướng dẫn nếu làm mát động cơ bằng nước thì xe có thể khởi động tiếp được, bà Tuế cùng người y tá đi nhanh chóng lấy nước và may thay, ôtô đã khởi động lại được. Ngay sau đó, bà cho ôtô lao xuống dốc đèo.

Lúc ấy, một chiếc dù pháo sáng của địch trùm lên thùng xe của bà nên địch phát hiện ra mục tiêu và tiếp tục cho máy bay đuổi theo ném bom. Xe chạy trước, bom đuổi đằng sau. Khi tới chân đèo và thoát khỏi vùng nguy hiểm, chiếc xe vẫn còn dính nhiều mảnh bom nhưng rất may là mọi người đều an toàn.

Người nữ tài xế dũng cảm năm xưa giờ đang sống hạnh phúc với chồng cũng là cựu chiến sỹ bộ đội Trường Sơn và thường xuyên tham gia các hoạt động từ thiện, giúp đỡ các gia đình chính sách trong phường.

Năm 2008, bà cùng Đại đội nữ lái xe Trường Sơn năm xưa vinh dự được Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết gặp gỡ, trò chuyện. Bà Tuế tâm sự rằng đại đội nữ lái xe của bà năm xưa có gần 60 người, nay chỉ còn lại hơn 40 người. Dù cuộc sống hôm nay vẫn không ít khó khăn, nhưng điều quý giá nhất là các bà, các chị còn may mắn lành lặn trở về.

Hai vợ chồng bà hiện là thành viên Câu lạc bộ văn nghệ của Ban liên lạc bộ đội Trường Sơn tỉnh Bắc Giang, vẫn thường xuyên tham gia tổ chức biểu diễn ở các địa phương trong tỉnh, góp phần động viên đồng đội vững tin hơn trong cuộc sống hôm nay./.

(TTXVN/Vietnam+)
vietnamplus.vn