Thư viện

Điểm quyết chiến chiến lược

Buôn Ma Thuột

QĐND – LTS: Chiến thắng Buôn Ma Thuột (tháng 3-1975), trận mở màn, then chốt của chiến dịch Tây Nguyên trong mắt các học giả phương Tây một lần nữa khẳng định quan điểm kinh điển rằng “ai làm chủ Tây Nguyên sẽ làm chủ Đông Dương”.

Giải phóng Buôn Ma Thuột ngày 11-3-1975.

Chuẩn bị chiến trường hoàn hảo

Trong sách Đường mòn Hồ Chí Minh – con đường dẫn tới tự do (History of the Ho Chi Minh Trail: The Road to Freedom), tác giả Vớc-gi-ni-a Mo-rít-xơ (Virginia L.Morris) nêu bật quá trình chuẩn bị trận đánh do Bộ đội Trường Sơn tiến hành:

“Cuối năm 1974, khi phe cộng sản bắt đầu lập kế hoạch cho trận đánh Buôn Ma Thuột, họ vẫn trù tính là sẽ phải tranh đấu hai năm liền nữa cho tới toàn thắng. Để bảo đảm mọi mặt về hậu cần, tướng Đinh Đức Thiện soạn thảo hai phương án. Phương án thứ nhất, rất tỉ mỉ, cho phép giành thắng lợi sau trận đánh dài ngày, còn kế hoạch thứ hai mang tính thời cơ và dùng khi xuất hiện khả năng chính quyền Sài Gòn lung lay, sắp đổ. Khi kế hoạch tác chiến của chiến dịch Tây Nguyên đã ở giai đoạn hoàn thành, Binh đoàn Trường Sơn được lệnh vận chuyển đến địa điểm tập kết nửa triệu tấn hàng hóa và vũ khí, dành cho mùa khô năm 1974-1975.

Chỉ tiêu này được đưa ra để kiểm nghiệm khả năng vận chuyển “thần tốc” tại điểm cực đại, vì 5000 xe vận tải sẽ được huy động tham gia vào mạng lưới đường của Đoàn 559 (Bộ đội Trường Sơn), vào cùng một giờ xuất hành, làm cho vấn đề ùn tắc trở thành nguy cơ nghiêm trọng. Ở tuyến Đông Trường Sơn, đã mở đường từ huyện Ngọc Hồi (Kon Tum) đến Bù Gia Mập, còn tuyến đường ống dẫn dầu đã được nối dài thêm, từ Plây Khốc về phía nam. Các cứ điểm của quân đội Sài Gòn dọc theo biên giới với Cam-pu-chia cũng bị vây đánh, bảo đảm cho tuyến đường vận tải từ Đắc Min đi Lộc Ninh luôn thông suốt.

Vào ngày 15-12-1974, khi Binh đoàn Trường Sơn được lệnh xây dựng các kho tích hàng cho trận Buôn Ma Thuột và suốt hai tháng tiếp theo, nhiều chỉnh sửa trong kế hoạch bảo đảm đã được thực hiện. Sở chỉ huy (SCH) của Sư đoàn công binh 470 trở thành SCH của Binh đoàn Trường Sơn. Một số đơn vị của Bộ đội Trường Sơn cũng chuyển tới Sa Thầy, các đơn vị khác cũng chuyển tới đóng quân ở Bù Đốp và Lộc Ninh. Tuyến đường ống dẫn dầu được nối dài thêm tới Đắc Đam, bởi Trung đoàn đường ống 537. Trung đoàn 575 mở thêm 60km của gói đường, lấy tên là Đường 48, 50, và 50B. Tới đầu tháng 3-1975, Binh đoàn Trường Sơn đã thông đường chỉ còn cách Buôn Ma Thuột có 20km…

Trong giai đoạn chuẩn bị, yêu cầu tối hậu là phải bảo đảm bí mật tuyệt đối cho trận đánh Buôn Ma Thuột sắp tới. Buôn Ma Thuột là vị trí xung yếu, án ngữ cả miền Trung của Việt Nam, phía đông của đồng bằng sông Mê Kông, Trung và Hạ Lào, lẫn miền Bắc Cam-pu-chia…

Với quyết tâm cao, vào ngày 9-3, Trung đoàn 575 công binh đã thông đường 50B và hai đường nhánh mang tên 50C, cho phép chuyển quân thẳng tới Buôn Ma Thuột. Sư đoàn BB 968 được vận chuyển tới tác chiến tại đông nam Plây-cu, tạo nên mũi nghi binh. Các lực lượng trực thuộc Binh đoàn Trường Sơn trực tiếp tham gia trận Buôn Ma Thuột còn có Sư đoàn phòng không 377 và hai Trung đoàn phòng không 232 và 546…”.

Phạm Văn Phú, Tư lệnh Quân đoàn 2 Quân đội Sài Gòn (ngoài cùng bên phải) tiếp Nguyễn Văn Thiệu tại Plei-cu trước khi trận Buôn Ma Thuột nổ ra. Ảnh tư liệu

Cài thế trận

Trong bài Tổng tiến công Xuân 1975: Trận pháp đánh đòn kết thúc chiến tranh(1) có một không hai trong lịch sử (North Vietnam’s Final Offensive: strategic endgame nonpareil) đăng trên tập san Pa-ra-mi-tơ (Parameter) của Mỹ, số Mùa Đông 1999-2000, Mớc-lơ Prai-bơ-nao (Merle L.Pribenow), cựu chuyên viên về Đông Dương của CIA, viết:

“Buôn Ma Thuột là thủ phủ của người thiểu số Tây Nguyên, có dân số chừng một vạn. Ở đây có sở chỉ huy và hậu cứ của Sư đoàn 23 Quân đội Sài Gòn, trong đó có tổng kho Mai Hắc Đế với một số lượng đạn pháo lớn. Thị xã này là một đầu mối với hai “mặt tiền” trên hai quốc lộ giao nhau, đó là đường 14 chạy từ Kon Tum xuống phía Nam về giáp mạn Bắc Sài Gòn, cắt với đường 21 chạy sang phía đông về thành phố lớn Nha Trang miền duyên hải. Nếu Quân đội nhân dân (QĐND) lấy được Buôn Ma Thuột, nhanh chóng kéo lên đánh chiếm Plây-cu, cắt Việt Nam làm đôi. Quân đội Sài Gòn không thể để mất một vị trí chiến lược như vậy và buộc phải phản kích để chiếm lại… Quân phòng thủ Buôn Ma Thuột lại chỉ gồm một trung đoàn tăng cường (Trung đoàn 53), một tiểu đoàn thiết giáp và một tiểu đoàn pháo cùng một số đơn vị địa phương đảm nhiệm, nên một cuộc tiến công áp đảo và bất ngờ sẽ làm thị xã này nhanh chóng rơi vào tay đối phương. QĐND sẽ tổ chức ngay trận địa đón lõng và tiêu diệt viện quân của Sài Gòn ngơ ngác vừa tới, còn trơ trọi giữa đồng không mông quạnh…

Chiến dịch Tây Nguyên của QĐND khá táo bạo và đầy sáng tạo, tựa như một ánh xạ của binh pháp Lít-đeo Han-lơ (B.H. Liddell Hall) về mưu lược. Đòn đánh của QĐND không nhằm vào chỗ mạnh nhất của đối phương mà trái lại, vào một cứ điểm có vai trò chiến lược nhưng yếu về phòng thủ, đồng thời kẻ địch không thể để mất. Kế hoạch hội tụ mọi yếu tố của phép dùng binh: Tập trung binh lực, thần tốc, bất ngờ và nghi binh. Về tổng quan, chiếm được Buôn Ma Thuột, QĐND tất đoạt được quyền lựa chọn rộng rãi để thực hiện đòn đánh tiếp sau. Còn Quân đội Sài Gòn vốn dĩ đã bị kéo căng, dàn mỏng, lại phải ra sức phán đoán trận tới sẽ diễn ra ở đâu. Kịch tính của chiến cuộc này là ở chỗ sẽ đặt Sài Gòn vào thế trận mà nhà quân sự Lít-đeo Han-lơ rất hài lòng gọi là “thế tiến thoái lưỡng nan”…

Một số cuốn sách về trận Buôn Ma Thuột xuất bản ở phương Tây.

Vào cuối tháng 2-1975, các sư đoàn chủ công (gồm các Sư đoàn 10, 320 và 316) của QĐND đã chiếm lĩnh trận địa tiến công. Ngày 1-3, Sư đoàn 968 ở Lào về đánh một số đồn bốt nhỏ phía Tây Plei-cu để tiếp tục thu hút sự chú ý của đối phương vào hướng này. Ngày 4-3, QĐND “phát bóng trước”(2), bằng chỉ một đòn đánh của Trung đoàn 95 A, họ quét sạch một loạt cứ điểm nhỏ của quân Sài Gòn canh giữ trục đường 14 trên đoạn đèo Mang Giang, cắt đứt đường tiếp tế cho Cao nguyên Trung phần (Tây Nguyên-ND). Ở phía đông Quốc lộ 19, Sư đoàn 3 Quân giải phóng miền Nam tiến công cắt đứt con đường huyết mạch này, đánh quỵ luôn Sư đoàn 22 của Sài Gòn. Ngày hôm sau Trung đoàn 25 QĐND cắt nốt Quốc lộ 21, con đường ven biển còn lại, nối Buôn Ma Thuột với Nha Trang… Mồng 8-3, Sư đoàn 320 tràn ngập một huyện lỵ bắc Buôn Ma Thuột, cắt đứt đoạn đường 14 nối với Plei-cu. Đến lúc này, khi Buôn Ma Thuột đã bị cô lập hoàn toàn, chính quyền Sài Gòn vẫn chưa có phán đoán gì ngoài nguy cơ Tây Nguyên sẽ bị cạn kiệt lương thảo. Nhằm đánh lạc hướng, không để cho Sài Gòn tăng quân cho Tây Nguyên, một ngọn trào tấn công của quân cộng sản đã dâng lên: Ngày 5-3 đặc công và du kích đánh vào vùng xuôi ở Quảng Trị-Thừa Thiên; còn vào ngày 8-3 Sư đoàn 324 đánh mạnh vào tuyến phòng thủ quân Sài Gòn ở tây nam thành Huế. Cùng ngày 8, một loạt công kích đã diễn ra ở khu vực Sài Gòn và Đồng bằng sông Cửu Long, mà đỉnh điểm là đánh chiếm một huyện lỵ ở Tây Bắc Sài Gòn. Rõ ràng phe cộng sản sắp đánh lớn đến nơi rồi, nhưng trên toàn Miền đâu là mặt trận chính? Đáp án của Thiệu và các tướng, tá là mối đe dọa sẽ đến với đô thành Sài Gòn. Kế hoạch nghi binh của QĐND quả là vô cùng hoàn hảo…”.

Tạo thế “chẻ tre”

Trong sách Việt Nam chiến sử 1946-1975 (Vietnam at war The History 1946-1975), của tướng Phi-líp Đê-vít-xơn (Phillip Davidson), tác giả nhấn mạnh các yếu tố thiên – địa – nhân trong việc Buôn Ma Thuột trở thành “quyết chiến điểm”.

“Như thường lệ, cuộc tiến công vào Buôn Ma Thuột của QĐND có “sự hỗ trợ” từ chính lãnh đạo của Quân đội Sài Gòn. Sách lược cứng nhắc của Thiệu là chốt giữ mọi nơi đã trói quân họ vào số phận bi đát của cách phòng ngự phân tán, dàn trải, vào đúng lúc đội quân này thiếu năng lực không vận, dẫn tới việc Sài Gòn không thể cơ động được quân dự bị chiến lược, một lực lượng thực ra cũng không còn tồn tại, tới các khu vực bị đe dọa tiến công. Viên tư lệnh Quân đoàn 2, tướng Phạm Văn Phú còn “đóng góp” thêm phần mình vào việc “giúp” chỉ huy của đối phương. Bất chấp những đánh giá của tình báo Quân đoàn, của J-2 (Nha Kỹ thuật, cơ quan tình báo của quân đội Sài Gòn), Phú vẫn chắc mẩm đến phút cuối là Plei-cu hoặc Kon Tum mới là mục tiêu chính của quân Bắc Việt ở Tây Nguyên. Tới tận 1-3-1975, Phú mới không vận Trung đoàn 23 về Buôn Ma Thuột…”.

Tướng Đê-vít-xơn cũng không tiếc lời ca ngợi hệ thống bảo đảm hậu cần của QĐND cho chiến cuộc Xuân 1975, lần đầu tiên trong suốt cuộc chiến tranh, đã đạt trình độ hiện đại, ưu đẳng, cực kỳ chu đáo. Ở cuối sách, trả lời câu hỏi vì sao Việt Nam cộng hòa sụp đổ nhanh chóng, tướng Đê-vít-xơn viết:

“Chính cuộc tiến công Buôn Ma Thuột đã đẩy nhanh Thiệu vào việc chấp nhận kế hoạch khốc hại, là “xén bớt” lãnh thổ (bỏ các khu vực không còn năng lực chốt giữ để thích ứng với cắt giảm của viện trợ Mỹ-ND) và cuộc truy kích của quân cộng sản tại các vùng chiến thuật I và II đã hủy hoại tinh binh của quân đội Sài Gòn… Miền Bắc đã giành được những chiến công như thế là nhờ không chỉ đưa vào trận một lực lượng áp đảo về số lượng, mà còn nhờ đạt được độ thăng hoa cả về chỉ huy, huấn luyện lẫn tinh thần chiến đấu…”.

Lê Đỗ Huy
qdnd.vn

(1) Chữ trong nguyên văn là nước cờ chiếu hết (endgame)
(2) Thuật ngữ bóng đá, bóng ném (kick-off) dùng chỉ trận mở màn chiến dịch.

Nguyễn Công Trứ: Vị quan làm lợi cho nước, cho dân

QĐND – Nhìn lên bản đồ Việt Nam, huyện Tiền Hải (Thái Bình) và huyện Kim Sơn (Ninh Bình), mặc dù về mặt hành chính thuộc hai tỉnh (đến thời Nguyễn Công Trứ chưa có địa danh Thái Bình, mà thuộc hai tỉnh Nam Định và Ninh Bình), nhưng về địa lý lại nằm trong vùng hạ lưu châu thổ sông Hồng, một vùng đất màu mỡ được hình thành bởi phù sa bồi tụ của sông Hồng và sông Trà Lý.

Đến cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX, vùng đất bãi bồi ven biển mênh mông hàng nghìn mẫu này hầu như chưa được khai phá bao nhiêu, chỉ mới xuất hiện một số làng tự phát, nhà cửa lèo tèo như Đại Hoàng, Lạc Thành… bên tả ngạn sông Hồng, vẫn trong tình trạng “thủy thăng kiến thủy, thủy giáng kiến thổ”, nghĩa là khi thủy triều lên chỉ mênh mông thấy nước, khi thủy triều xuống thì thấy đất. Vùng đất mọc đầy sú vẹt, lau sậy, cỏ lác này là nơi lui tới của đám hải tặc và trong những năm 1826-1827 là căn cứ của cuộc khởi nghĩa nông dân Phan Bá Vành. Trong những năm làm quan ở Bắc thành, Nguyễn Công Trứ đã để ý đến vùng đất này, đặc biệt khi ông làm tham tán quân vụ trong đạo quân của Phạm Văn Lý đánh dẹp cuộc khởi nghĩa Phan Bá Vành, ông đã đến tận nơi và bằng mắt mình chứng kiến vùng đất và con người nơi đây. Ông suy tư về mối liên hệ giữa vùng đất bãi bồi chưa được khai phá và những toán hải tặc và đặc biệt những người nông dân nghèo khổ tham gia cuộc khởi nghĩa của Phan Bá Vành. Trước đó, được Minh Mệnh khích lệ “sau này có việc gì khẩn yếu, cho được làm tờ nói thực, niêm phong tâu thẳng”(1), nên trong một lần về Kinh, Nguyễn Công Trứ đã mạnh dạn dâng sớ tâu ba việc lớn, trong đó có việc thứ ba liên quan trực tiếp đến việc khai hoang lấn biển. Đại Nam Thực lục có ghi:

Nguyễn Công Trứ (1778-1858). Ảnh tư liệu.

“Vỡ ruộng hoang cho dân nghèo. Đời làm ăn xưa chia ruộng định của, dân có nghiệp thường ở yên, nơi làng mạc không có gian tà. Ngày nay, những dân nghèo túng, ăn dưng chơi không, khi cùng thì họp nhau trộm cướp, cái lệ không ngăn cấm được. Trước thần đến Nam Định thấy ruộng vỡ hoang ở các huyện Giao Thủy, Chân Định mênh mông bát ngát. Ngoài ra, còn không biết mấy trăm nghìn mẫu, hỏi ra thì dân địa phương muốn khai khẩn, nhưng phí tổn nhiều, không đủ sức làm. Nếu cấp cho tiền công thì có thể nhóm họp dân nghèo mà khai khẩn, nhà nước phí tổn không mấy mà mối lợi tự nhiên sẽ đến vô cùng. Vả lại bãi Tiền Châu ở huyện Chân Định hoang rậm, trộm cướp thường tụ họp ở đấy làm sào huyệt, nay khai phá ra, không những có thể cho dân nghèo làm ăn, lại còn dứt được đảng ác…”(2).

Vua Minh Mệnh chuyển sớ cho đình thần bàn bạc và hết thảy đều cho là “Điều khai khẩn ruộng hoang thì thực được ý nghĩa chăm nghề nông làm gốc”(3) nên Minh Mệnh quyết định phong chức mới cho Tả Thị lang Hình bộ Nguyễn Công Trứ là Dinh điền sứ để thực thi công việc quan trọng đó. Trong cuộc yết kiến Vua lần đó, Nguyễn Công Trứ mạnh dạn bộc bạch những suy nghĩ của mình về việc thu nhận những thân phận nông dân khốn khổ đã từng đi theo Phan Bá Vành vào công cuộc khai hoang lấn biển. Nghe xong, Minh Mệnh hạ lệnh cấp cho Nguyễn Công Trứ “một viên Tư vụ, 10 người bát cửu phẩm và một vị nhập lưu thư lại đi theo để sai phái”(4).

Hành trang buổi ban đầu khai hoang lấn biển của ông chỉ có vậy.

Sau khi nhậm chức Dinh điền sứ, Nguyễn Công Trứ nhanh chóng trở lại vùng đất bãi bồi thuộc hai huyện Chân Định và Giao Thủy tức khắc triển khai công việc. Với tư cách người tổ chức và chỉ đạo công cuộc khai hoang lấn biển, vấn đề ông quan tâm trước tiên là thu hút lực lượng vào công việc. Như trong Sớ khai hoang trình vua Minh Mệnh đã nói ở trên, có 4 đối tượng mà ông muốn thu hút vào dự án mở đất của mình:

– Những người địa phương giàu có, những người đồng hương với ông (Nghệ-Tĩnh), những thầy đồ có uy tín. Số người này đóng vai trò tập hợp và tổ chức các đơn vị khai hoang như lý, ấp, trại, giáp;

– Nông dân vùng châu thổ sông Hồng không có ruộng đất;

– Dân du đãng;

– Những người đã tham gia khởi nghĩa của Phan Bá Vành.

Những người tham gia khai hoang thuộc 4 nhóm đó được phân ra thành nhiều hạng, tùy vào công việc và thời gian tham gia. Những người đầu tiên đứng ra tập hợp và tổ chức lực lượng khai hoang được gọi là chiêu mộ hay nguyên mộ. Họ là những người có uy tín, giàu có như chủ đất, thầy đồ, con cháu các danh gia vọng tộc ở những vùng quê lân cận hoặc đồng hương Nghệ Tĩnh. Sau nguyên mộ là thứ mộ, những người góp phần hoàn chỉnh các đơn vị khai hoang. Cuối cùng, lực lượng đông đảo nhất, đến sau gọi là tân mộ hay tòng mộ. Việc phân những người khai hoang thành ba cấp độ như vậy liên quan mật thiết tới quyền lợi ăn chia ruộng đất và địa vị xã hội mà họ được hưởng khi công việc hoàn tất.

Trong công cuộc khai hoang lấn biển lập huyện Tiền Hải (1828) và Kim Sơn (1829), Nguyễn Công Trứ nổi lên như một người có đầu óc tổ chức tuyệt vời.

Trên cơ sở những thông tin thu nhận được qua các cuộc khảo sát điền dã về thế đất và đặc điểm địa lý từng vùng, Nguyễn Công Trứ đã vạch quy hoạch cư trú không giống nhau cho mỗi vùng. Tiền Hải có sông Long Hầu chảy theo hướng Bắc-Nam, chia thành hai vùng khác nhau căn bản: vùng đất phía tây sát vùng đất cũ ít nhiều đã được khai phá, còn vùng phía đông là đất bãi bồi chưa được khai phá nên ông quy hoạch thành hai kiểu làng: Làng xa biển và làng sát biển. Làng xa biển, Nguyễn Công Trứ thường chọn nguyên mộ là người sở tại, lực lượng khai hoang chủ yếu là “dân làng cựu” tách ra, đã có kinh nghiệm thâm canh ruộng đất. Kiểu làng sát biển, phần lớn nằm ở phía đông sông Long Hầu, lực lượng khai hoang phần lớn tập hợp nhiều nơi tới. Còn ở Kim Sơn chỉ có một kiểu làng giống nhau theo hướng Tây-Đông (chiều dài), phía tây giáp với huyện Yên Khánh, chạy ra tới biển. Các làng ở Kim Sơn đều có biển, nên khả năng mở rộng làng còn rất lớn.

Ở Tiền Hải cũng như Kim Sơn, Nguyễn Công Trứ rất chú ý tới việc kết hợp hài hòa giữa hệ thống thủy lợi và giao thông vận tải trong khi quy hoạch các đơn vị dân cư. Chẳng hạn như các làng sát biển ở Tiền Hải, do đất nhiễm mặn nặng nên việc đắp đê, đào sông, xây dựng hệ thống thủy nông có ý nghĩa quyết định đối với sự thành bại của công cuộc khai hoang lấn biển. Nguyễn Công Trứ tiến hành cho đắp đê sông Lân, tiếp đó là đê sông Long Hầu, sông Trà Lý. Ranh giới của các làng là những con sông đào mà dân địa phương gọi là “sông chái” hay “sông dọc”. Những sông đào này rộng 4-5m, sâu 3m, thuyền lớn có thể đi lại dễ dàng. Trên đất Kim Sơn, do gặp khó khăn trong việc lợi dụng địa hình, Nguyễn Công Trứ cho đào một con sông từ đầu huyện đến cuối huyện, nối sông Côn với sông Đáy, gọi là sông Ân, dài 13.500m, rộng 12m, sâu 4m, bờ tây con sông này là đê Hồng Ân, dài 435 trượng, mặt rộng 3 thước, đáy rộng 7 thước, cao 3 thước. Lợi dụng chế độ thủy triều ổn định của vùng này, Nguyễn Công Trứ cho quy hoạch một mạng lưới thủy nông tự tiêu-tưới. Hệ thống sông dào, kênh mương chằng chịt ở Tiền Hải, Kim Sơn đóng vai trò thau chua rửa mặn, tưới tiêu, đồng thời đảm nhiệm chức năng giao thông vận tải nông thôn rất hữu hiệu và điều hòa khí hậu tiểu vùng trong vùng đất nắng gió, mặn mòi buổi ban đầu này.

Trong công cuộc khai hoang lấn biển do Dinh điền sứ Nguyễn Công Trứ chủ trương và tổ chức thực hiện quyết liệt trong hai năm đã lập nên hai huyện Tiền Hải và Kim Sơn. Huyện Tiền Hải khi thành lập có 7 tổng, gồm 47 ấp, lý, trại, giáp với 2.300 suất đinh và hơn 18.970 mẫu. Còn huyện Kim Sơn khi mới thành lập có 16.400 mẫu, chia cấp cho 1.260 suất đinh, tổ chức thành 7 tổng với 63 làng, ấp, trại, giáp. Thành tựu khai hoang lấn biển không chỉ góp phần làm tăng diện tích đất canh tác của đất nước, mà còn góp phần không nhỏ vào việc ổn định tình hình chính trị nông thôn vùng châu thổ sông Hồng vốn đầy biến động và không mấy bình yên lúc mới thành lập vương triều Nguyễn. Công lao đó trước hết thuộc về Nguyễn Công Trứ và những người đi theo tiếng gọi đổi đời của ông. Công lao đó không chỉ được triều đình Huế ghi nhận, mà còn được tạc vào lòng dân bằng việc dân đưa ông vào thờ như thành hoàng làng trong các làng thuộc hai huyện khi Nguyễn Công Trứ còn sống. Và mới đây, trong dịp Tết Nhâm Thìn, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang thăm và làm việc ở Ninh Bình, ông đã về thắp hương đền thờ Nguyễn Công Trứ ở Kim Sơn, như một lần nữa ghi nhận công ơn đối với người có công mở nước.

——

Các trích dẫn trên đều lấy trong Đại Nam Thực lục, tập 2, Nxb Giáo Dục, các trang 579, 710-720 và 721.
qdnd.vn

Bản anh hùng ca ở thế kỷ thứ nhất – Kỳ 1

QĐND – “Bản anh hùng ca ngắn ngủi”- đó là lời Giáo sư Viện sĩ Nguyễn Khánh Toàn, chủ biên bộ quốc sử chính thức của thời kỳ kháng chiến chống Mỹ “Lịch sử Việt Nam” nói về phong trào đấu tranh do Hai Bà Trưng lãnh đạo, diễn ra từ mùa xuân năm Canh Tý 40 đến mùa đông năm Quý Mão 43.

Đúng là “ngắn ngủi”, vì cộng thêm cả năm Kỷ Hợi 39 với những diễn biến của lịch sử trực tiếp dẫn đến sự bùng nổ của phong trào vào mùa xuân năm Canh Tý 40 và cộng thêm cả năm Giáp Thìn 44 là thời gian hung tướng Mã Viện sau khi dìm phong trào đấu tranh của Hai Bà Trưng vào biển máu còn nán lại nước Việt để xử lý các vấn đề hậu chiến, thì tất cả cũng chỉ có 6 năm.

Nhưng đây rõ ràng là những năm tháng đầy ắp các sự kiện trọng đại, những ý nghĩa lớn lao, những bài học quý giá, mà sự hiểu biết và lưu truyền thì lại có nhiều mờ tỏ hoặc bất cập.

Cho nên dưới đây chúng ta sẽ bàn bạc mấy điều-chủ yếu là về phương diện quân sự học-nhân dịp ngày 8-3 mà hằng năm vẫn thường được kết hợp kỷ niệm luôn “Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng”.

Chính thuật ngữ “Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng” này đang được sử dụng chính thức trong nhiều dịp lễ nghi, nhiều văn bản, thậm chí sách giáo khoa… là điều cần được “chính danh” đầu tiên.

Bởi vì phong trào đấu tranh do Hai Bà Trưng lãnh đạo, không chỉ là một “Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng”! Lịch sử phong trào này cho dù 4 hoặc 6 năm thì cũng đã diễn ra, với cấu trúc và theo trình tự:

1. Khởi nghĩa – mùa xuân năm 40; 2. Xây dựng quốc gia độc lập năm 41 và 42; 3. Kháng chiến năm 43. Vì thế, gọi cả phong trào đấu tranh do Hai Bà Trưng lãnh đạo, bằng thuật ngữ “Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng” là đã-về mặt quân sự học-“bỏ qua” mất một thành phần hữu cơ trong cấu trúc và một công trình lớn lao trong sự nghiệp của phong trào đấu tranh do Hai Bà lãnh đạo. Tức thị, cho dù có thể là muốn “nói gọn”, “gọi tắt”, thì cũng là gọi thiếu và do đó: Gọi sai sự thực và giá trị lịch sử của phong trào.

Vì thế, tiếp theo việc xác định tên gọi ta sẽ bàn trước mấy điều về cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng, với vị thế lịch sử là bước khởi đầu (bùng nổ) của phong trào. Sau đó vì những năm tháng xây dựng quốc gia độc lập của Hai Bà, không nhiều vấn đề quân sự học, nên ta sẽ bàn tiếp ngay mấy điều về cuộc kháng chiến do Hai Bà lãnh đạo, với vị thế là sự kết thúc vẻ vang, oanh liệt của phong trào.

Mấy vấn đề về cuộc khởi nghĩa mùa xuân năm 40 do Hai Bà Trưng lãnh đạo

Sử liệu xuất hiện gần nhất với thời gian khởi nghĩa các sách: “Hậu Hán thư”, “Thủy Kinh chú” (thế kỷ 5, 6) của Trung Quốc nói niên đại bùng nổ cuộc khởi nghĩa là: Giữa mùa xuân năm Canh Tý (40 sau Công nguyên). Vì thế, các bộ chính sử của ta như “Đại Việt sử ký toàn thư”, “Khâm định Việt sử thông giám cương mục” (xuất hiện muộn hơn vào các thế kỷ 15, 19)-mới chép niên đại đó, cụ thể là: Tháng hai (âm lịch) năm 40. Và xuất phát từ “sự kiện Mê Linh-Chu Diên”.

Lễ rước tượng voi chiến từ đình làng Hạ Lôi tới Đền thờ Hai Bà Trưng (Mê Linh, Hà Nội). Ãnh: Tuấn Tú.

+ Mê Linh: Còn được chép vào sử cũ bằng những ký tự na ná: “My Linh”, “Ma Linh”… Rõ ràng đó là những từ phiên âm Hán-Việt của một từ ngữ Việt Cổ, phát âm gần như “M’ling” và ngữ nghĩa thì có thể là tên một loài chim thiêng, “vật tổ” của cộng đồng cư dân và đất đai xa xưa ở giữa hai triền núi Ba Vì và Tam Đảo-trung tâm “Văn Lang” của đất nước từ thời Hùng Vương.

Còn Chu Diên là từ dịch nghĩa Hán-Việt của “diều hâu đỏ” trong tiếng (chữ) Nôm, là địa danh của miền đất dọc sông Hồng (sông Cái) và sông Đáy (sông Hát), kề cận mạn nam Mê Linh (ở Hạ Mỗ, thuộc huyện Đan Phượng “phượng hoàng đỏ”, gần nghĩa với “diều hâu đỏ”)-quê hương Thái úy Tô Hiến Thành, trên bờ sông Đáy (nay ở Tây Bắc trung tâm Hà Nội)-có “thành cổ Ô Diên”, cũng mang ngữ nghĩa là “diều hâu” (diên) nhưng là “đen” (ô) như vậy).

Hai Bà Trưng là dòng dõi của lạc tướng (người đứng đầu một “bộ” hoặc “bộ lạc” ở thời Hùng Vương) Mê Linh. Thi Sách là con trai lạc tướng Chu Diên. Cuộc hôn nhân Trưng Trắc-Thi Sách, theo hình thức phong tục mà khoa dân tộc học gọi là “hôn nhân vọng môn cư” (vợ chồng lấy nhau, nhưng vẫn người nào ở lại tại nhà người nấy một thời gian). Tàn dư từ thời “mẫu hệ” chuyển sang thời “phụ hệ”, cho đến đầu thế kỷ 20 vẫn thấy còn trong phong tục hôn nhân ở nhiều làng trung du và Đồng bằng Bắc Bộ, trong đó có Đình Bảng-Bắc Ninh. Thực chất chính là một cuộc liên minh thế lực giữa hai miền đất và người ở trung tâm đồng bằng châu thổ sông Hồng-“Cái nôi của dân tộc Việt”, để tạo ra nguồn lực trọng yếu và chủ yếu của cuộc khởi nghĩa. Thái thú Tô Định của nhà Hán đô hộ nhận ra nguy cơ từ cuộc liên minh đó, nhưng vì chưa dám động đến “đất chủ” Mê Linh nên đã giết Thi Sách để bẻ gãy “vây cánh” của liên minh. Do đó, tạo “cớ” cho cái “nguyên” của sự bùng nổ cuộc khởi nghĩa mà 4 “Lời thề sông Hát” của Hai Bà Trưng (xin xem lại Sự kiện và Nhân chứng số 1-2012) đã nói rõ ở lễ xuất quân tại Hát Môn.

+ Hát Môn: Là “Cửa (sông) Hát” (tức sông Đáy), chỗ dòng sông này giao nước với sông Hồng, nay thuộc huyện Phúc Thọ, Hà Nội. Đây chính là điểm tiếp giáp giữa hai miền Mê Linh và Chu Diên xưa. Chọn nơi này làm chỗ tập kết lực lượng và cử hành lễ ra quân đánh giặc-như các sử liệu cũ đều thống nhất nói, là chọn đúng địa bàn biểu tượng (tượng trưng) cho sự liên kết Mê Linh-Chu Diên. Đấy là nói về mặt chính trị. Còn về mặt quân sự thì chỗ ngã ba của hai dòng sông huyết mạch này chính là một đầu mối chiến lược rất thuận cho mọi hướng đi-về, dồn quân và ra quân. Đặc biệt, nếu nhằm vào đầu não giặc ở Liên Lâu mà tiến công thì Hát Môn là căn cứ xuất phát lý tưởng nhất của quân ta.

+ Liên Lâu: Còn được ghi vào sử cũ bằng những ký tự: “Ly Lâu”, “Luy Lâu”… Đây là những từ phiên âm Hán-Việt, của một tiếng Việt cổ đa âm tiết, mà về sau được “đơn âm tiết hóa”, thì thành (nói gọn) là: “Dâu”. Với ngữ nghĩa có thể là: Tên của một miền đất đai và cộng đồng cư dân, từ thời Hùng Vương, đã lấy cây dâu (nuôi tằm) làm nghề nghiệp và biểu tượng. Hiện vẫn đang còn các thực thể và tên gọi: Chùa Dâu, sông Dâu… ở miền này (Thuận Thành, Bắc Ninh). Nhà Hán xâm lược đã lấy nơi đây làm đầu não cai trị, không chỉ là của một “quận” trung tâm tên là Giao Chỉ, với chức Thái thú đứng đầu, mà còn là của cả một “châu”-Giao Châu, gồm nhiều “quận” hợp thành: Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam (trên đất Việt Nam bây giờ) và Nam Hải, Thương Ngô, Uất Lâm, Hợp Phố (ở Hoa Nam ngày nay), có quan thứ sử cai trị, đóng dinh, xây thành lũy (chính là tòa thành Liên Lâu, vẫn đang còn rõ dấu vết trên thực địa).

Đánh thẳng vào đầu não của giặc và nhanh chóng chiếm thành, đuổi tướng, khiến cho “các thái thú, thứ sử chỉ còn biết lo việc giữ lấy mạng sống”, như lời sử cũ chép là cách đánh biểu hiện khí thế ngất trời của cuộc khởi nghĩa. Đồng thời, đấy cũng là chủ lực thúc đẩy nên hiện tượng kỳ vĩ: “các quận Nam Hải, Hợp Phố… đều hưởng ứng, lấy được đến 65 thành ở Lĩnh Nam” như lời sách “Đại Việt sử ký toàn thư” đã chép.

+ 65 thành ở Lĩnh Nam: Lĩnh Nam là miền đất ở phía nam núi Ngũ Lĩnh. Ngũ Lĩnh là cửa ngõ ra vào miền Hoa Nam (Quảng Đông, Quảng Tây). Thế kỷ 3 trước Công nguyên, nhà Tần đưa 50 vạn quân đi “bình định Bách Việt”, đã đánh qua Ngũ Lĩnh. Thế kỷ 11, danh tướng Lý Thường Kiệt, trong chiến dịch triệt phá các căn cứ chuẩn bị xâm lược nước Việt của nhà Tống ở châu Khâm, châu Liêm và đặc biệt là châu Ung (miền Nam các tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây bây giờ) đã đưa quân lên Ngũ Lĩnh, chẹn đánh các đạo quân cứu viện của nhà Tống. Khoảng trước sau Công nguyên, khi nhà Hán lập ra Giao Châu để đô hộ, thì đó chính là miền Lĩnh Nam.

Cuộc khởi nghĩa giữa mùa xuân năm 40 do Hai Bà Trưng lãnh đạo, có sự hưởng ứng nổi dậy của các quận Nam Hải, Hợp Phố… (bây giờ là miền Nam Quảng Đông, Quảng Tây), lấy (chiếm) được đến 65 thành ở Lĩnh Nam, có nghĩa là đã thắng lợi ở cả trên miền đất phía bắc Giao Châu (phía bắc biên giới Việt-Trung bây giờ). Nhưng 65 thành là những thành nào? Vì hiểu “thành” là “huyện thành” tức: Mỗi “huyện” có một “thành” nên đã có sự thống kê: Quận Nam Hải có 7 huyện nên có 7 thành, Thương Ngô: 11, Uất Lâm: 11, Hợp Phố: 5, Giao Chỉ: 12, Cửu Chân: 5, Nhật Nam: 5, tổng cộng: 56 thành. Do đấy, đã có chủ trương: Con số 65 thành, là do sử cũ viết lộn con số 56 này. Nhưng lại cũng đã có sự hiểu khác về “thành”. Đó chỉ là một vùng (miền) đất! Do vậy, 65 thành ở Lĩnh Nam là 65 đơn vị đất đai ở Quảng Đông, Quảng Tây và miền Bắc, miền Trung Việt Nam ngày nay.

Điều này phản ánh tính rộng khắp (toàn dân) của cuộc khởi nghĩa mùa xuân năm 40 do Hai Bà Trưng lãnh đạo. Trong loạt bài trả lời phỏng vấn của nhà báo, nhà sử học Alain Ruscio về cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 45, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã có phần giải thích cặn kẽ tính chất toàn dân của cuộc Tổng khởi nghĩa này. Và nói rõ: Đây là công trình có truyền thống từ hàng nghìn năm trước của dân tộc Việt Nam. Chính là truyền thống từ cuộc khởi nghĩa mùa xuân năm 40.

(Còn tiếp)

Kỳ sau: Mấy vấn đề về cuộc kháng chiến năm 43 do Hai Bà Trưng lãnh đạo

GS Lê Văn Lan
qdnd.vn

Bản anh hùng ca ở thế kỷ thứ nhất – Kỳ 2

Chuyên án H86 một bài học cảnh giác

QĐND – Ông Nguyễn Trung Tín năm nay 88 tuổi sống ở thành phố Quy Nhơn, nguyên Bí thư tỉnh ủy Bình Định thời chống Mỹ (từ 1967). Sau ngày nước nhà thống nhất, ông là Bí thư Tỉnh ủy Lâm Đồng, rồi về lại quê hương Bình Định làm Bí thư Tỉnh ủy thêm một thời gian nữa; là Ủy viên Trung ương Đảng khóa 6. Bài viết dưới đây dựa trên tư liệu do ông kể lại và đã được công bố một phần trong hai tập hồi ký ngót 1000 trang “Ở lại với dòng sông” (NXB Văn học, Hà Nội, năm 2008). Chuyên án H86 diễn ra cách đây gần 30 năm, song bài học về tinh thần cảnh giác, liên tục tấn công địch trong cuộc chiến đấu thầm lặng làm trong sạch nội bộ còn mang nhiều ý nghĩa thời sự cho hôm nay.

Từ năm 1983 tôi về Lâm Đồng đảm trách Bí thư tỉnh ủy, kiêm trưởng ban Ban 04 (gọi tắt theo Chỉ thị 04/CT-TW ngày 2-2-1977 của Ban Bí thư về phát triển toàn diện kinh tế-xã hội, gắn với vấn đề Phun-rô ở các tỉnh Tây Nguyên). Lúc đó qua thực tế các cơ sở, tôi biết Phun-rô đã bị ta đánh liên tục, tan rã, ra hằng ngày càng nhiều. Nhưng tại sao quân báo tỉnh lại báo cáo “quân Phun-rô mở nhiều trận đánh, lực lượng chúng còn mạnh?”. Có lần quân báo đưa tin: Địch về điểm X, đến nơi chúng đã mất tăm. Cũng có lần ta đang hành quân bị địch phục kích gây thương vong. Đối với những tin thất thiệt, có người biện hộ là nghề tình báo, trăm tin đúng cũng có một tin sai chứ! Song thâm tâm tôi vẫn nghi có vấn đề nội bộ mà không tiện nói ra. Trong một lần giao ban giữa ba ngành, đại diện quân báo, Đại úy Nguyễn Văn Hai báo cáo là hiện có khoảng một trăm tên Phun-rô đã về Đức Trọng, trong khi đại diện công an nói là chưa nắm được gì. Anh đại úy quân báo to khỏe đẹp trai này, trong lý lịch thì ghi tham gia cách mạng từ khi còn rất trẻ, được kết nạp Đảng trong thời chống Mỹ, hiện luôn tỏ ra năng nổ, có biệt danh “Át chủ bài đánh Phun-rô”. Nhân thân như vậy thoạt nghe không tin cậy sao được. Thế rồi có một lá thư nặc danh gửi tới tôi, tố cáo “Ông Hai trước làm trưởng ban Diệt trừ sốt rét của ngụy; từng là Chủ tịch hội đồng Đà Lạt; là tay chân đắc lực cho tỉnh trưởng Tuyên Đức Nguyễn Hợp Đoàn… mà sao bây giờ làm đến đại úy quân đội ta?”. Bức thư chữ viết to, rõ ràng bằng mực tím trên trang giấy học trò. Xâu chuỗi lại sự kiện, rõ ràng những báo cáo gần đây của Hai là không chính xác, kết hợp với thư tố cáo kia, dẫu là nặc danh cũng cần phải xác minh ngay.

Cuối năm 1988, Chuyên án H86 đã kết thúc thắng lợi, tình hình xã hội của Lâm Đồng ổn định. Nhân chuyến công tác, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đến thăm nhà riêng của Bí thư Tỉnh ủy Nguyễn Trung Tín (người ngồi đối diện với Thủ tướng) ở thành phố Quy Nhơn. Ảnh tư liệu

Đầu năm 1984, chúng tôi họp với đại diện Quân khu 5, có Đại tá Long Ba, Phó chủ nhiệm Cục Chính trị quân khu dự, những điều nghi vấn về Hai đã được đưa ra với các tài liệu có liên quan. Giở nhiều nguồn hồ sơ lý lịch thì phát hiện có nhiều mâu thuẫn, mờ ám trong các bản kê khai. Chẳng hạn, ghi quê Sông Bé, nhưng Bến Tre mới thực là quê gốc. Phòng Bảo vệ quân khu về Bến Tre xác minh, anh ta rời địa phương từ khi mười bốn, mười lăm tuổi, biệt tích không về quê suốt hai chục năm; tên gọi lúc bé của anh ta theo tiếng Tây là “Paul”. Một điều nữa: Người mà Hai khai trong lý lịch, cấp ủy giới thiệu vào Đảng, thực chất là một tên ác ôn bị cách mạng xử tử hình vắng mặt, phải trốn về Sài Gòn từ năm 1963 và hắn không có quan hệ gì với Hai. Một tài liệu khác cho thấy hắn là con nuôi của Thiếu tướng ngụy Trần Tử Oai, phụ trách Trung tâm huấn luyện Quang Trung, sau làm Tổng quản trị Nha Diệt trừ sốt rét của ngụy. Trong tàng thư của Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công an) còn phát hiện từ tháng 1-1966 Hai làm mật báo viên cho cảnh sát đặc biệt tỉnh Tuyên Đức. Vậy là những tố cáo trong thư nặc danh có cơ sở. Trong quá trình xác minh lý lịch của Hai còn phát hiện thêm một cái tên khác có liên quan cũng có thời gian phục vụ trong quân đội đó là Phan Thành Lợi. Lợi sinh năm 1927, là cán bộ kháng chiến, sau Hiệp định Giơ-ne-vơ 1954 được giao ở lại hoạt động bí mật, cuối năm đó bị địch bắt tù 3 năm ở Côn Đảo, rồi khám Chí Hòa. Điều đáng nói là khi anh ta bị bắt, các đầu mối trong cơ sở đều bị địch phát hiện, bắt hoặc giết. Sau khi được tha, anh ta tham gia Quân giải phóng, rồi vào mạng lưới điệp báo A22 của Quân khu 6. Vậy là Lợi có tới 8 năm không sinh hoạt Đảng, đột nhiên nối lại sinh hoạt khi về A22. Anh này trong thời gian hoạt động trong A22 đã làm giấy giới thiệu giả, tạo lý lịch tốt cho Hai để được vào Đảng. Việc đưa thêm Lợi vào diện “hiềm nghi” cũng có nghĩa là có thêm một đầu mối dễ cho công tác điều tra. Sau Tết Bính Dần (1986), đoàn cán bộ của Cục bảo vệ an ninh quân đội vào, thông báo ý kiến của lãnh đạo Tổng cục Chính trị: Đây là vụ án lớn, cần khẩn trương làm rõ ngay, phải phá án bằng cách bắt bí mật đối tượng. Ban chuyên án H86 ra đời do Quân khu 5 chủ trì, dưới sự chỉ đạo nghiệp vụ của Bộ Nội vụ và Cục Bảo vệ. Đã có thêm nhiều chứng cứ xác định được tội danh của Hai là hoạt động gián điệp, của Lợi là đầu hàng, phản bội làm tay sai cho giặc. Cũng có ý kiến: Cần có thời gian để điều tra thêm, củng cố chứng cứ cho chắc, song tôi cùng anh Huỳnh Minh Nhựt, Phó bí thư tỉnh ủy thì cho rằng, đã đến lúc khẩn trương bắt chúng để đề phòng hậu họa. Anh Long Ba đảm nhận trực tiếp bắt tên Hai. Cuộc họp của ban chuyên án hôm ấy căng thẳng và kéo dài đến 2 giờ, khi tan họp, phố phường Đà Lạt im ắng, ngủ ngon trong làn sương lạnh đầu xuân, vậy mà về đến nhà tôi vẫn thao thức không ngủ được, liệu phương án bí mật bắt tên gián điệp đó có thông đồng bén giọt?

Phương án bắt Hai khá chu đáo, tỉ mỉ: Dựng lên cuộc hội nghị bàn về chống Phun-rô các tỉnh Tây Nguyên tại TP Hồ Chí Minh, thành phần dự ngoài chỉ huy quân sự các tỉnh còn có cán bộ bảo vệ và quân báo. Đoàn Lâm Đồng về họp trên một chiếc xe Von-ga đen, Hai được xếp ngồi giữa anh Kha, Thiếu tướng, chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy quân sự tỉnh và anh Loan, Trưởng ban an ninh, trước đó đã tung tin, Hai đi dự họp hội nghị cấp cao lần này sau đó được Quân khu đưa ra Đà Nẵng báo cáo điển hình chiến sĩ thi đua với thành tích chống Phun-rô. Điều này hẳn làm hắn vững dạ, dẫu bị ngồi kẹp giữa hai “thủ trưởng” trên suốt hành trình. Đến nơi, anh Long Ba thông báo, đồng chí Phó tư lệnh Quân khu 5 mời gặp riêng chỉ huy trưởng bộ chỉ huy quân sự tỉnh và trưởng ban an ninh. Khi hai người vừa ra khỏi nhà thì các chiến sĩ an ninh ập vào đọc quyết định bắt Hai. Lập tức hai tay Hai bị tra vào còng số 8, người y mềm nhũn, khụy xuống. Khám trong người y có khẩu súng ngắn K59, đạn đã lên nòng. Súng không bao, dắt vào thắt lưng, rõ ràng con cáo già này đã chột dạ, nếu không bắt bí mật, bất ngờ ắt hắn sẽ hành động trước. Về sau khai thác, được biết: Bà mẹ một công an viên trong chuyên án vô tình tiết lộ vài công việc của người con với hắn khi gặp ngoài chợ, nên hắn đã linh cảm được phần nào mối nguy hiểm bị lộ thân phận, luôn giắt súng trong người. Cùng thời điểm bắt Hai, tên Lợi đang là phó bí thư chi bộ một phường ở Đà Lạt, cũng bị công an giam lỏng, khai thác tại một địa điểm khác.

Nguyễn Văn Hai vào nhà giam Chí Hòa. Suốt mấy tháng trời đấu tranh, lúc đầu hắn cúi đầu nhận tội, sau lại phản cung, khi ta đưa ra những bằng chứng hắn đành nhận tội, nhưng chỉ nhận tội thuộc phạm vi hình sự chứ không phải chính trị, chống phá cách mạng. Vụ án được mở rộng ra nhiều đối tượng khác, trên nhiều địa bàn các tỉnh phía Nam tập trung vào thời gian 20 năm của cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ cùng hàng chục năm sau ngày giải phóng. Cuộc đấu tranh đó diễn ra gay go phức tạp hơn nhiều so với dự kiến khi phá án. Trong bản cung khai cuối năm 1986, Hai đã thú nhận: “Tôi dấn thân vào con đường phản cách mạng từ khi được Thiếu tướng Trần Tử Oai, phụ trách Trung tâm huấn luyện Quang Trung tin dùng, nâng đỡ, đào tạo tình báo, do CIA đài thọ, chi phối…”. Đáng lẽ vụ án kết thúc trong năm 1987, song với bản chất lật lọng, ngoan cố, hai tên Hai và Lợi lại đồng loạt phản cung. Chỉ đến khi có thêm sự việc của hai chỉ huy Phun-rô đã ra đầu thú là Konso Linit và Hà Siêng, có chứng cớ hiển nhiên về hoạt động tình báo của Hai, hắn mới chịu nhận tội. Ngày đó anh Long Ba đã cùng ba cán bộ Phòng Bảo vệ Quân khu bí mật luồn rừng suốt hai ngày đêm đến được hang đá trú ẩn của Linit ở giáp giới tỉnh Đắc Lắc, mang về những vật chứng quý giá, trong đó có lá thư viết tay của Hai vạch kế hoạch cho Phun-rô chống phá, cùng việc y chủ mưu trong việc giết một đồng bọn để bịt đầu mối. Tháng 5-1988, chúng tôi nhận được chỉ thị của Ban Bí thư, chuyên án H86 tiếp tục chuyển sang giai đoạn hai. Chuyên án mới do đồng chí Bùi Thiện Ngộ, Ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Nội vụ (sau này là Bộ trưởng) làm trưởng ban, Thiếu tướng Nguyễn Như Kính, Cục trưởng Cục bảo vệ an ninh quân đội làm phó trưởng ban, tôi làm ủy viên.

Nhìn lại, những năm tiến hành Chuyên án H86, đã diễn ra khá phức tạp, nhưng cuối cùng đã hoàn toàn thắng lợi, chặn đứng được âm mưu hoạt động của Phun-rô trên địa bàn Lâm Đồng. Hai, Lợi và một số tên khác tuy chưa giữ những chức vụ lớn, song nếu không phát hiện kịp thời, chúng sẽ còn luồn sâu, leo cao thì càng nguy hiểm. Đây thực sự là bài học quý báu trong thời hậu chiến để rà soát lại công tác cán bộ, làm trong sạch nội bộ, tỉnh táo đề phòng những hoạt động chống phá của kẻ địch từ bên trong.

Phạm Quang Đẩu
qdnd.vn

Trận đánh ngoạn mục trên bãi đá Mung Bua

QĐND – Thứ Ba, 20/03/2012, 17:43 (GMT+7)

QĐND – Một giờ sáng “mật lệnh” được ban ra. Những mái đầu xanh có, bạc có của Phòng phòng chống tội phạm (PCTP) ma túy, Bộ đội Biên phòng (BĐBP) tỉnh Điện Biên và Đội 1, Đoàn 1, Cục PCTP ma túy chụm lại vào bản đồ tác chiến. Kế hoạch phá án mang bí số 016L để bóc gỡ đường dây ma túy từ Pa Hốc qua địa bàn đồn Tây Trang về thị trấn Mường Ẳng nhanh chóng được thông qua. Rất nhanh, gần 20 cán bộ, chiến sĩ lên xe trong đêm tối, tiến thẳng về bãi đá Mung Bua…

Lộ diện một đường dây ma túy xuyên quốc gia

Trời tối như bưng. Chiếc U-oát oằn mình, rồ ga lao đi trong đêm tối. Ngồi trên xe, Đại tá Lê Quang Đán, Trưởng phòng PCTP ma túy tỉnh Điện Biên (Phó ban chuyên án) tranh thủ trao đổi thông tin với chúng tôi: Điện Biên là một trong những tỉnh các đối tượng trong đường dây ma túy xuyên quốc gia lợi dụng vận chuyển ma túy từ Lào vào Việt Nam tiêu thụ. Từ nhiều năm nay, BĐBP tỉnh Điện Biên đã xác lập nhiều chuyên án lớn, bắt nhiều đối tượng mua bán, vận chuyển trái phép chất ma túy. Tuy nhiên, hoạt động mua bán, vận chuyển ma túy qua biên giới ngày càng diễn biến phức tạp, với nhiều thủ đoạn tinh vi. Nhiều đường dây, đối tượng cầm đầu ở sâu trong nội địa, dân cư trú tại khu vực biên giới chỉ là những tay cửu vạn trung thành. Vì vậy, chủ trương của lãnh đạo, chỉ huy đơn vị là bên cạnh việc “vươn ra” ngoại biên, lực lượng PCTP ma túy phải “với” vào nội địa. Chuyên án 016L là “hiện thực” hóa chủ trương đó. Nhiệm vụ của chuyên án là triệt phá đường dây vận chuyển ma túy từ Pa Hốc qua địa bàn đồn Tây Trang vào thị trấn Mường Ẳng đi các tỉnh nội địa.

Bộ đội Biên phòng tỉnh Điện Biên trên đường tuần tra, mật phục. Ảnh chụp lại

Tháng 6-2009, trinh sát nắm được thông tin hoạt động mua bán, vận chuyển ma túy của một số đối tượng từ Pa Hốc, qua địa bàn Đồn Biên phòng Tây Trang về Mường Ẳng. Trong đó, nổi lên 3 đối tượng: Lường Văn Huyên, trú tại Khối 11, thị trấn Mường Ẳng; Lường Văn Tài, trú tại bản Ca Hâu, xã Na Ư, huyện Điện Biên và Tòng Văn Thơi, trú tại thị trấn Chiềng Sinh, huyện Tuần Giáo. Sau gần một tháng điều tra, xác minh, manh mối của một đường dây mua bán, vận chuyển ma túy từ bản Pa Hốc, tỉnh Phông Xa Lỳ (Lào) qua địa bàn đồn cửa khẩu Tây Trang về tập kết tại thị trấn Mường Ẳng bán cho các đối tượng ở một số tỉnh nội địa đã được hé lộ. Đường dây này gồm 7 đối tượng, trong đó có 2 đối tượng là người dân tộc Mông Lào (trú tại bản Pa Hốc, huyện Mường Mày), một đối tượng trú tại xã Na Ư, huyện Điện Biên, 2 đối tượng trú tại thị trấn Mường Ẳng và một đối tượng trú tại thị trấn Chiềng Sinh, huyện Tuần Giáo. Cầm đầu đường dây này là 2 tên: Lường Văn Tài và Lường Văn Huyên. Thủ đoạn của các đối tượng hết sức tinh vi: Chân tay của Huyên, Tài thường vượt biên sang Pa Hốc mua hàng; cũng có khi móc nối, liên lạc trước với số đối tượng người Lào để nhận hàng tại khu vực biên giới, mang về Mường Ẳng cất giấu và móc nối bán cho các đối tượng ở dưới xuôi. Địa điểm giao nhận hàng cũng được các đối tượng chọn rất kỹ lưỡng, thường là khu vực hang đá, bãi đá tại các đoạn đường đèo dốc quanh co rất tiện cho việc “đón khách”, canh gác bảo vệ, dễ tháo chạy khi bị vây bắt.

Ngày 20-6-2009, Bộ chỉ huy BĐBP tỉnh Điện Biên đã họp, nhận định tình hình và báo cáo Cục PCTP ma túy chỉ đạo lực lượng PCTP ma túy của tỉnh và của Cục xác lập chuyên án 016L đấu tranh nhằm triệt xóa đường dây này.

Hai “ông chủ” và chuyện chơi gỗ lũa

Ngày 26-6, Ban chuyên án quyết định cử Thượng úy L.X.T, trợ lý Phòng PCTP ma túy tỉnh Điện Biên, Trung úy N.N.K, trinh sát viên Đội 1, Đoàn 1, Cục PCTP ma túy đảm nhận nhiệm vụ trinh sát nội tuyến (đóng vai là 2 ông chủ có tên là Tùng, Tuấn từ Hà Nội lên “ăn hàng”). Mục đích là làm rõ vai trò, vị trí của các đối tượng trong đường dây và khả năng cung cấp “hàng” của chúng.

Cuối tháng đó, thông qua đặc tình (T7) của ta, Tùng, Tuấn được Tài “mời” sang Pa Hốc chén chú, chén anh. Vừa bước chân vào quán rượu, Tùng ngắm nghía gốc gỗ lũa chỏng chơ bên chiếc bàn ăn và trầm trồ:

– Hình dáng tự nhiên, toàn thân đồng nhất. Các mắt hốc trơn tròn mà không bóng thế này thì đúng là gốc tự nhiên rồi.

Tuấn xen vào:

– Anh có vẻ thông thạo cái món này gớm nhỉ?

– À, thì trước đây mình cũng đã phất lên nhờ cái món này đấy. Khúc gỗ do người gọt đẽo và khúc gỗ do thiên nhiên bào mòn khác nhau hẳn. Có khúc được gọt với các đường nét trơn tròn, hốc mắt tự nhiên nhìn là thấy ngay. Nhưng mà có thể nhầm. Đấy là các gốc cây thường do con người tạo ra. Các khúc cây đó nhìn qua thì cũng thấy hình thù kỳ dị, nhưng nhìn kỹ thì sẽ thấy còn nguyên dấu vết cành que, rễ, vỏ, thân. Thân thường bóng, không đồng nhất và ruột lại xốp và rỗng. Các gốc này thường là gốc chết của sú, vẹt, đước ở vùng đất ngập mặn, tuy có giống lũa về sự hình thành nhưng quá trình xảy ra nhanh trong vài năm và gỗ đó không bền và giá trị thẩm mỹ không cao.

Nghe thấy Tùng phán hay quá, Tài cũng tham gia:

– Thế tại sao nó lại không bị mục ruỗng hay mối mọt hả anh?

Được thể Tùng tiếp tục trổ tài:

– Có thể là do tập trung Xen-lu-lô quá dày đặc, hoặc do nhựa cây lúc còn sống tiết ra khiến mối mọt, nước và thời gian cũng chịu thua.

Tài đang ngơ ngác thì Tùng phán tiếp:

– Chơi lũa cũng như chơi đá. Lũa mang dấu ấn của tự nhiên nhưng thể hiện tính biểu cảm cô đọng và thẩm mỹ, đặc biệt là trên lũa còn thể hiện sự trải nghiệm của thời gian do lũa được hình thành qua nhiều năm. Chơi lũa bình thường thì lũa có thể mô phỏng các hình thù có thật như con thú, núi đá, hang hốc… nhưng chơi đến đỉnh cao thì lại thể hiện những khái niệm, triết lý trừu tượng, thần thái. Nếu chú mày muốn kiếm chút ít lúc “chờ mối hàng trắng” thì sai đệ sưu tầm cho anh ít gỗ lũa cũng được nhưng nhớ là phải thử đấy nhé.

– Thử thế nào hả anh? Tài sốt sắng.

– Gỗ lũa ít mùn, không phai trong nước càng bị lũa nhiều thì thịt gỗ đanh, phần bị bào mòn có thể tạo nên những khoảng rỗng và phần còn lại thịt gỗ có đặc tính là chắc, đanh và nặng, chỉ cần ngâm trong nước vài ngày sẽ tự chìm. Chứ không như ở dưới xuôi, bọn thương lái thường xử lý bằng cách luộc đến 3 ngày, để cho ngấm nước đồng đều, rồi lại sấy khô, rồi lại luộc để lũa chìm nhằm đánh lừa mấy thằng mới vào nghề.

Đến đây thì Tài đã thực sự bị “ngã gục” bởi sự từng trải của ông chủ tên Tùng. Tài nghĩ bụng “Đúng là dân Hà Nội!”. Sau vài ba ly “sơn cước tửu”, Tài đã thổ lộ muốn “làm ăn” với Tùng, Tuấn. Cá đã cắn câu, Ban chuyên án tiếp tục chỉ đạo Tùng, Tuấn đi vào đường dây. Sau gần một tháng “hẹn hò”, Tùng, Tuấn và T7 đã làm rõ được đường dây và thiết kế một cuộc trao đổi “hàng” theo ý đồ của ta.

Cất vó

Mọi công tác chuẩn bị để “cất vó” đã hoàn tất. Ban chuyên án ra lệnh cho các mũi lên đường đến “điểm hẹn”. Sau 3 giờ hành quân, đến 4 giờ, toàn bộ lực lượng chuẩn bị cho trận đánh đã có mặt tại địa điểm tập kết. Trời mưa như trút nước.

Mũi 1 (tổ đánh bắt chính) gồm 13 người do đồng chí L.B.L, Phó đồn trưởng 429, tổ trưởng lập tức bơi qua sông, tiến sát khu vực bãi đá để mai phục. Dòng Mung Bua sau những trận nước lũ cuối mùa cuồn cuộn như muốn đẩy bay những trinh sát biên phòng đang ngâm mình trong dòng nước xoáy. Hơn chục con người chia làm 2 cánh quân mò mẫm trườn trong bóng tối để áp sát mục tiêu.

Mũi 2 (tổ trinh sát ngoại tuyến) gồm 4 người do Thượng úy N.V.C, trợ lý Phòng PCTP ma túy, tổ trưởng nhanh chóng bố trí đội hình thuận lợi để theo dõi mọi hoạt động của đối tượng. Mũi này có nhiệm vụ sau khi lực lượng đánh bắt chính bắt giữ được đối tượng cùng tang vật thì lập tức triển khai lực lượng vây bắt đối tượng còn lại.

Đúng 7 giờ, Lường Văn Huyên, Lường Văn Tài liên lạc bằng điện thoại cho Tùng, Tuấn với nội dung đã kiểm tra kỹ địa điểm giao nhận tiền hàng và yêu cầu Tùng, Tuấn mang tiền lên để trao đổi. Tùng, Tuấn nói đang đổi tiền do vậy cứ xem kỹ địa điểm giao hàng đi. Đến 9 giờ, Tài lại điện cho Tùng, Tuấn thông báo đang có một bánh, khẩn trương lên khu vực Khối 11, thị trấn Mường Ẳng nhận hàng. Khi đến địa điểm hẹn, Huyên ra đón Tùng, Tuấn và yêu cầu Tùng ở lại cùng Huyên còn Tuấn tiếp tục đi lên khoảng 1km nữa để xem hàng. Nhưng Tùng lấy lý do địa điểm xem hàng gần chỗ công an thị trấn Mường Ẳng sợ bị bắt, do vậy đi lên khu bãi đá Mung Bua. Đến 16 giờ 30 phút đối tượng đã mang hàng ra cho Tùng, Tuấn xem. Giờ “G” đã điểm, 6 trinh sát trong trang phục “bố bản” từ dưới sông lên bãi đá. Nhanh như chớp, một cú đá quét làm Huyên ngã lăn ra bãi đá với một bánh hê-rô-in vẫn còn trong túi áo. Tài, Thơi bỏ chạy như bị trúng tên. Chúng nhảy xuống dòng Mung Bua đang chảy xiết hòng thoát thân nhưng “lưới trời” đã mắc sẵn, 2 đối tượng nằm gọn trong gọng kìm của trinh sát biên phòng. Chưa hết bàng hoàng thì chiếc còng số 8 đã giơ sẵn chờ chúng. Đó là lúc 16 gờ 55 phút ngày 3-8-2009.

Chuyên án 016L kết thúc thành công, không tốn một viên đạn. Đường dây mua bán ma túy từ Pa Hốc (Lào) qua địa bàn Tây Trang về thị trấn Mường Ẳng đã bị triệt phá…

Phạm Long
qdnd.vn

Huỳnh Thúc Kháng với Viện Dân biểu Trung Kỳ

QĐND – Sau Chiến tranh thế giới lần thứ nhất, thực dân Pháp, bắt đầu từ Toàn quyền Đông Dương An-be Xa-rô (nhiệm kỳ hai), cho thực thi chính sách Pháp – Việt đề huề, Pháp-Nam hợp tác để tạo môi trường thuận lợi hút vốn khai thác Việt Nam. Các phương tiện thông tin đại chúng hết lời ca ngợi, quảng bá và cổ vũ cho chính sách này. Sinh hoạt chính trị và văn hóa trên đất nước, đặc biệt ở Trung Kỳ mà trước hết tại Huế có những thay đổi lớn. Ngoài hai cơ quan quyền lực có từ trước là Khâm sứ và Nam triều, thực dân Pháp cho lập thêm một cơ quan mới gọi là Viện Dân biểu Trung Kỳ như một thứ trang trí cho chủ nghĩa Pháp – Việt đề huề của họ.

Dù không hy vọng nhiều vào cơ quan dân biểu này của thực dân Pháp, nhưng những người đã từng trăn trở với vận mệnh đất nước coi đó như là một diễn đàn công khai có thể bảo vệ lợi ích của nhân dân, chí ít, cũng vạch trần sự lừa bịp của chúng trước dư luận. Cụ Huỳnh Thúc Kháng, một chính trị phạm bị giam tại Nhà tù Côn Đảo, được trả tự do năm 1921, ra ứng cử tại đơn vị bầu cử Tam Kỳ, Thăng Bình, Tiên Phước của tỉnh Quảng Nam, được cử tri quý mến, nên trúng cử với số phiếu rất cao (640/700 phiếu). Trong Diễn văn đọc tại buổi tiệc trà ở Tam Kỳ ngày 10-7-1926 sau khi trúng cử vào Viện Dân biểu Trung Kỳ, cụ Huỳnh Thúc Kháng đã bày tỏ: “Năm 1920, đặt ra cuộc tư vấn, năm ngoái tuyên bố hiệp ước mới, năm nay lại đổi tư vấn ra làm nhân dân đại biểu, mới mẻ thay giữa đất Trung Kỳ mà nay có bốn chữ nhân dân đại biểu xuất hiện, nay chưa nói nội dung thế nào, chưa nói hiệu quả thế nào, mà chỉ trông thấy bốn chữ danh nghĩa đường đường quang minh chính đại, thì đã sinh lòng tin cậy” (viết đậm trong nguyên văn – PX). Ở một chỗ khác trong diễn văn đó, cụ Huỳnh xác định trách nhiệm của mình trước cử tri và nhân dân Trung Kỳ: “Cái gánh nặng anh em giao cho tôi đã chất nặng lên vai tôi rồi, chưa biết có theo được như lòng tôi không? Nhà nước có chừa cho tôi chỗ cụ cựa, đặng khỏi mất cái lòng tín nhiệm của anh em không? Tôi chưa dám nói trước…”. Rồi cụ cảnh báo: “Họa may cái chính thể này nêu một bài thuốc hay, bắt đầu chữa bệnh cho nòi giống mình, đừng để thành ra bánh vẽ, mà làm cho nhà nước bảo hộ mang tiếng”.

Chính phủ Lâm thời Việt Nam dân chủ cộng hòa. Cụ Huỳnh Thúc Kháng (mặc áo đen, đeo kính) đứng cạnh Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ảnh tư liệu.

Tháng 7-1926, cụ Huỳnh Thúc Kháng được bầu làm Viện trưởng Viện Dân biểu Trung Kỳ. Ngày 7-8 năm đó, Viện Dân biểu Trung Kỳ họp phiên đầu tiên. Trong bầu không khí chính trị buổi ban đầu đó, cụ Huỳnh và những nghị viên cùng chí hướng tạo thành một phái chủ đạo, sau thành phái đối lập, đã nêu ra những kiến nghị sửa đổi Chương trình và Thể lệ của viện, về sửa luật và thông dụng chữ quốc ngữ, về thuế muối, thuế rượu và tinh giảm gạch võ. Nhưng cũng từ phiên họp đầu tiên đó, cụ Huỳnh đã sớm nhận ra trò “bánh vẽ phỉnh trẻ con” của viện. Sau hơn một năm thành lập, Viện Dân biểu chỉ là một cái tên suông, không có nhà cho Ban Trị sự đặt Văn phòng làm việc. Những sự kiện trên được phản ánh trên báo chí xuất bản ở trong nước, sau đó gửi sang Pháp. Những tờ báo đó đến được Mát-xcơ-va, Nguyễn Ái Quốc đọc và bình luận trong một bài viết có tựa đề “Sự thống trị của đế quốc Pháp ở Đông Dương”, đăng trên tập san Inprekorr của Quốc tế Cộng sản, trong đó có một đoạn như sau:

“Tất cả những “vị dân biểu” này chỉ có tiếng nói tư vấn thôi. Các vị dân biểu Trung Kỳ thì mỗi năm họp một lần và lúc nào họp là do Khâm sứ quyết định. Thậm chí họ không có lấy một phòng họp hay một phòng để làm việc. Mỗi một kỳ họp đều do một viên công chức người Pháp chủ tọa…”.

Rồi đi tới nhận định: “Viện “ Đuma” An Nam (không phải do đầu phiếu phổ thông, mà chỉ do những kỳ mục, địa chủ và thương gia bầu ra) không thể xoa dịu được người An Nam, mà còn đưa lại cho họ cơ hội để tỏ rõ tinh thần phản kháng của mình”(1).

Theo Thể lệ, nhiệm kỳ của Viện Dân biểu Trung Kỳ là 3 năm, mỗi năm họp một phiên thường kỳ và cũng có thể có những phiên bất thường do Khâm sứ và Viện trưởng triệu tập. Phiên họp đầu tiên năm 1926 đã xuất hiện những bất đồng. Đến phiên họp thường niên năm 1927, Viện Dân biểu Trung Kỳ đứng đầu là Viện trưởng Huỳnh Thúc Kháng tiếp tục gửi thỉnh cầu lên Tòa Khâm nhắc lại những yêu cầu trong kỳ họp trước chưa được giải quyết và đề đạt những yêu cầu mới. Tất cả đều bị bác bởi những suy nghĩ thiển cận, thô bạo mang tính thực dân rằng, Nghị viện chưa chịu hợp tác với chính phủ và rằng, người Việt Nam chưa đủ trình độ tham dự vào các hội đồng… Những mâu thuẫn đó tích tụ lại theo năm tháng và bùng nổ tại phiên họp thường niên năm 1928, kỳ họp cuối cùng của nhiệm kỳ đầu. Báo Tiếng Dân đã dự phần vào sự bùng nổ đó. Chúng ta đều biết, Tiếng Dân ra số đầu vào ngày 10-8-1927, đúng vào dịp Viện Dân biểu Trung Kỳ họp phiên thường niên thứ hai và ngay lập tức định hướng dư luận trong sinh hoạt chính trị của nhân dân Huế và Trung Kỳ bằng những tin, bài phản ánh cuộc đấu tranh vì nền dân chủ đang diễn ra ngày một mạnh mẽ trong Viện Dân biểu.

Thời gian trôi dần về kỳ họp thường niên cuối cùng năm 1928 của nhiệm kỳ I. Nhân đó, Tiếng Dân đăng một loạt bài dạo đầu trước công luận, trong đó có ba bài đáng lưu ý: Cùng các ông đại biểu, ký tên: Trung ngôn – Một người dân Trung Kỳ, số ra ngày 15-8-1928; Gửi cho mấy ông đại biểu, thơ của Tha Sơn Thạch, bút danh của Đào Duy Anh, số ra ngày 18-8-1928 và Mấy lời ngỏ cùng chánh phủ bảo hộ, ký tên: Một bọn dân Trung Kỳ, số ra ngày 29-9-1928.

Trong bài thơ của mình, Tha Sơn Thạch đã gửi gắm:

Sân khấu đã ra tranh một ghế/ Vai tuồng cũng phải hát đôi câu/ Cơ quan hợp tác chừng ta thế! Chánh thể văn minh thực ra đâu? Biết chăng tấm lòng dân ước mỏi/ Đã qua năm trước ngóng năm sau”.

Hoặc trong bài đăng trên Tiếng Dân số 117, ngày 29-9-1928, trước khi khai mạc Hội nghị thường niên năm 1928 mấy ngày, tác giả đã bộc lộ sự phản ứng: “Đã bị thất vọng kỳ bầu cử 1926 thì không lẽ cứ nhắm mắt bịt tai để hy vọng cho cuộc bầu cử 1929 nữa. Nằm im không đành lòng mà bước tới thời đã hết nhiệt huyết, cái thảm tình chúng tôi thật nhiều nỗi bối rối. Đứng địa vị quốc dân trong thời hợp tác, không phải chỉ theo chánh phủ mà tán tụng, mà cũng nên xem chánh phủ như người bạn để thở ngắn than dài”.

Sóng gió bắt đầu nổi lên từ việc Khâm sứ Trung Kỳ tự ý thay đổi ba lần ngày họp và càng mạnh lên trong ngày khai mạc 1-10-1928, Khâm sứ thay đổi trình tự phát biểu. Nếu như các kỳ họp trước, Khâm sứ đọc diễn văn khai mạc như chỉ đạo cho hội nghị bàn thảo, thì lần này, Khâm sứ quyết định Viện trưởng Huỳnh Thúc Kháng đọc diễn văn trước, rồi mới đến Khâm sứ như là sự phủ định diễn văn của Viện trưởng.

Trong Diễn văn, cụ Huỳnh bày tỏ một tâm trạng: “Chúng tôi đã từng nghe những câu trong dân gian phê bình Viện chúng tôi: “Tên là nhân dân đại biểu mà thật là một quan trường mới”(in đậm trong nguyên văn – PX). Chúng tôi ở vào địa vị dở dang bỡ ngỡ này, đối với chính phủ đã không làm được gì và đối với nhân dân cũng không thể cầm hai chữ đại biểu suông mà đáp lại cái lòng mong mỏi của họ, đêm nằm tự nghĩ cứ thẹn lại buồn…”(2).

Tiếp đó, Quyền Khâm sứ Giabui đăng đàn công kích Huỳnh Thúc Kháng thuộc “đám người không toại chí”, “nóng nảy” và thái độ Viện “cũng tiêm nhiễm cái ảnh hưởng ấy nên chỉ đối với chính phủ Nam triều hay là chính phủ bảo hộ, Viện này ra mặt phản kháng, khi nào cũng công kích, khi nào cũng hoài nghi cái ý tưởng hay của bảo hộ cho đến nỗi quên hẳn cái phạm vi chức vụ theo thể lệ đã đặt cái Viện này ra…”(3).

Mâu thuẫn đối kháng không thể điều hòa ấy cuối cùng đã dẫn tới đỉnh điểm: Chiều ngày 2-10-1928, Huỳnh Thúc Kháng đưa đơn từ chức nghị viện và nghị trưởng và 8 giờ sáng ngày hôm sau, cụ Lê Văn Huân, Hoàng Đức Trạch, Lương Quý Di cũng đưa đơn từ chức nghị viện.

Sự đối kháng dẫn tới sự tẩy chay và bất hợp tác của phái đối lập trong Viện Dân biểu Trung Kỳ đã chứng minh cho tính chất “vật trang trí” hay “cái bánh vẽ” của nó mà cụ Huỳnh đã mường tượng từ khi có chủ trương lập viện của thực dân Pháp. Dẫu vậy, điều thú vị là, qua Báo Tiếng Dân, cuộc đấu tranh của phái đối lập trong Viện Dân biểu Trung Kỳ được nhân dân Huế, Trung Kỳ và cả nước biết tới và dành nhiều thiện cảm và lòng quý mến cho cụ Viện trưởng Huỳnh Thúc Kháng, người đứng mũi chịu sào. Điều đó, ta có thể đi tới một kết luận không gượng ép rằng, chính cụ Huỳnh Thúc Kháng là người khởi động tiến trình dân chủ hóa ở xứ bảo hộ gián tiếp Trung Kỳ và góp một phần lớn vào tiến trình lịch sử tư tưởng nước ta. Và cũng từ chính cụ Huỳnh khơi mào “văn hóa từ chức” và tiếp đó, một người đồng hương của cụ, ông Phan Thanh, tiếp nối ở Hà Nội, Bắc Kỳ khi cảm thấy không thể làm được những việc theo kỳ vọng và lòng tin cậy của nhân dân. Ở một nước thuộc địa như chúng ta không thể có kiểu “hợp tác giữa con trâu và người đi cày” như nhà yêu nước vĩ đại Nguyễn An Ninh đã từng thốt lên.

(1). Hồ Chí Minh Toàn tập. Xuất bản lần thứ ba, tập 2. Nxb Chính trị Quốc gia-sự thật, Hà Nội, 2011.

(2). Tiếng Dân, số 119, ngày 6-10-1928.

(3). Tiếng Dân, số 120, ngày 10-10-1928.

PGS.TS Phạm Xanh
qdnd.vn

Một trung đoàn “đáng sợ”

QĐND – Năm 1954, trong một tài liệu của địch mà ta thu thập được, chỉ huy Pháp ở Đông Dương đã thú nhận: “Trung đoàn 66 là một trung đoàn đáng sợ”. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, Trung đoàn 66 – Trung đoàn chủ lực Ký Con tiếp tục có nhiều trận đánh chấn động và là đơn vị vào Dinh Độc Lập, bắt sống nội các Dương Văn Minh trong ngày 30-4-1975 lịch sử…

“Đơn vị đánh nhiều, diệt gọn”

Theo Thượng tá, Trung đoàn trưởng Hoàng Mạnh Hùng thì sức mạnh của Trung đoàn 66 khiến kẻ thù phải khiếp sợ được thể hiện cô đọng từ truyền thống “Đoàn kết, kiên cường, trung dũng, đánh thắng” của đơn vị. Ngay trong ngày thành lập (20-3-1947), Trung đoàn 66 đã lập công lớn trong trận tiến công địch ở Hà Đông giữa ban ngày, phá tan âm mưu tuyên truyền về “Kết quả công cuộc bình định của quân đội Pháp”. Tiếp đó, trung đoàn đã có cuộc hành quân thần tốc, nhổ hàng loạt vị trí quan trọng và làm nòng cốt cho thắng lợi của Chiến dịch Đường 12 vào dịp Tết năm 1948. Chỉ vào lá cờ truyền thống mang dòng chữ “Trung đoàn chủ lực Ký Con” do Bộ tư lệnh Liên khu 3 trao tặng, Thượng tá Hoàng Mạnh Hùng cho biết: “Đơn vị chính thức mang tên “Trung đoàn Ký Con” và nhận lá cờ truyền thống này từ sau những chiến thắng giòn giã trong Chiến dịch Lê Lợi vào cuối năm 1949. Đặc biệt là trận công đồn Đồng Bến. Đây là cứ điểm kiên cố của địch, nằm trên Đường số 7, cách Hòa Bình hơn 20km. Sau 3 tháng làm công tác chuẩn bị, rạng sáng ngày 26-11, Tiểu đoàn Lê Lợi của trung đoàn đã nổ súng tiến công đồn Đồng Bến. Chỉ sau hơn một giờ, trận đánh kết thúc thắng lợi, toàn bộ sĩ quan và binh lính địch bị ta diệt gọn. Đây là lần đầu tiên, bộ đội ta tiêu diệt gọn đại đội địch trong căn cứ có công sự, lô cốt vững chắc”.

Tên tuổi của Trung đoàn 66 trong cuộc kháng chiến chống Pháp còn được biết đến qua các trận đánh của Chiến dịch Trần Hưng Đạo, nhất là hoạt động ở khu vực phía nam Phủ Lý, đánh vào hệ thống phòng ngự của địch trên tuyến đê ven sông Đáy, san phẳng căn cứ Hồi Trung (Kim Bảng). Kết thúc chiến dịch, trung đoàn được Bộ tư lệnh Đại đoàn 304 đánh giá là: “Đơn vị đánh nhiều, diệt gọn”. Khi Chiến dịch Hòa Bình nổ ra, Trung đoàn 66 đã tiến hành trận phục kích cầu Dụ – Hang Đá nổi tiếng. Trong thời gian chưa đầy 20 phút, đơn vị đã phá hủy 34 xe địch, diệt phần lớn địch trên xe, bắt sống nhiều sĩ quan Pháp và lính Âu Phi…

Trung đoàn phó Phạm Xuân Thệ (ngoài cùng bên phải) cùng cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 66 và các lực lượng liên quan dẫn ông Dương Văn Minh từ Dinh Độc Lập đến Đài Phát thanh Sài Gòn. Ảnh tư liệu

“Dấu ấn 66” và cái “duyên” trong ngày lịch sử

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, Trung đoàn Ký Con tiếp tục là nỗi khiếp sợ cho đối phương bằng các trận đánh lớn trong nhiều chiến dịch. Theo ông Nguyễn Mạnh Hùng, cựu chiến binh của đơn vị thì “dấu ấn 66” được thể hiện ngay trong Chiến dịch Plây-me, trung đoàn đã phối hợp với các đơn vị bạn đánh bại lực lượng tinh nhuệ nhất của đế quốc Mỹ khi chúng vừa đặt chân lên miền Nam Việt Nam – đó là Sư đoàn kỵ binh bay số 1. Tiếp đó, do yêu cầu nhiệm vụ, từ một Trung đoàn 66 đã phát triển thành các trung đoàn 66A, 66B, 66C… Dấu chân của “lính 66” đã in trên các chiến trường từ Bắc vào Nam và làm nhiệm vụ quốc tế ở Lào, Cam-pu-chia. “Tôi nhớ nhất là trận đánh Động Cô Tiên. Khi đó Đại đội 10, Tiểu đoàn 9 chúng tôi nằm trong đội hình của Trung đoàn 66 được giao tổ chức tập kích tiêu diệt địch ở cao điểm này. Trước ngày nổ súng, tôi bị sốt cao nhưng vẫn kiên quyết xin đi. Khi vào chiếm lĩnh trận địa, anh Khôi, Tiểu đoàn trưởng đưa cho tôi và anh Nhân, đại đội trưởng 2 cái đồng hồ Pôn-zôt. Anh Nhân giao nhiệm vụ cho tôi: “Cậu chờ tôi ở vị trí tập kết, tôi và cậu Hợp (chiến sĩ liên lạc) sẽ lên trước. Khi nào Hợp quay lại, cậu dẫn đơn vị vào chỗ tôi ở sát hàng rào để mở cửa, đánh chiếm đầu cầu”. Nằm chờ ở dưới, mệt quá tôi ngủ thiếp đi. Khoảng hơn 1 tiếng sau, tôi giật mình tỉnh dậy, nhìn đồng hồ đã quá 11 giờ. Không biết thông tin về anh Nhân và Hợp thế nào. Tôi báo cáo chính trị viên và “liều” dẫn đại đội lên. May sao không bị lạc và vào đúng vị trí đại đội trưởng đang chờ. Trận đó, đơn vị thắng giòn giã, nhanh gọn và được anh em tặng cho danh hiệu “Cơn lốc Động Cô Tiên”. Chỉ có điều, đại đội trưởng Nhân đã mãi mãi không trở về…” – cựu chiến binh Nguyễn Mạnh Hùng ngậm ngùi nhớ lại kỷ niệm.

Trong vòng tay của đồng đội cũ, Trung tướng Phạm Xuân Thệ, nguyên Trung đoàn phó Trung đoàn 66 trong những ngày tháng 4-1975 lịch sử tâm sự rằng, việc ông và Trung đoàn 66 có mặt và bắt nội các chính quyền Sài Gòn ngày đó là may mắn và là cái “duyên” của lịch sử. “Để có được cơ hội vào dinh làm nhiệm vụ, biết bao đồng đội của chúng tôi đã mất đi mạng sống, có nhiều người hy sinh ngay trước giờ toàn thắng. Họ mới xứng đáng được nhắc đến và vinh danh nhiều nhất. Lá cờ truyền thống của Trung đoàn 66 – Trung đoàn Ký Con anh hùng cũng được tô thắm từ những con người như thế…”- ông Thệ khẳng định.

Sài Tiến
qdnd.vn

Bản anh hùng ca ở thế kỷ thứ nhất – Kỳ 2

Mấy vấn đề về cuộc kháng chiến năm 43 do Hai Bà Trưng lãnh đạo

QĐND – Hai Bà Trưng chỉ có một thời gian ngắn để chuẩn bị cho cuộc kháng chiến này. Sách “Đại Nam quốc sử diễn ca”, qua và bằng ngôn ngữ thi ca, nói gọn một câu “Ba năm gánh vác sơn hà”, để chỉ thời gian làm chủ và lo toan việc nước của Hai Bà, trước khi tiến hành cuộc kháng chiến năm 43. Nhưng trên thực tế, trong ba năm ấy, năm 40 đã là thời gian khởi nghĩa; năm 41 và 42 là thời gian xây dựng đời sống tự chủ tự do, bằng biện pháp duy nhất được sử cũ ghi chép là: Xá thuế 2 năm cho dân. Cũng trên thực tế thì, theo sách “Đại Việt sử ký toàn thư”: Ngay từ năm 41, vua Hán Kiến Vũ đã “hạ lệnh sắp sẵn xe thuyền, sửa sang cầu đường, thông các núi khe, chứa thóc lương, cho Mã Viện làm Phục Ba tướng quân, Phù Lạc hầu Lưu Long làm phó, sang xâm lược rồi”.

Tái hiện hình ảnh Hai Bà Trưng tại Lễ hội làng Hạ Lôi, xã Mê Linh, huyện Mê Linh, Hà Nội. Ảnh: Tuấn Tú

Lực lượng tái xâm lược của Nhà Hán này – khoảng 2 vạn quân, (để đánh vào một đất nước chưa đầy 1 triệu tổng dân số – là nước ta, lúc bấy giờ), huy động từ các quận thuộc miền Hoa Nam: Trường Sa, Quế Dương, Linh Lăng, Thương Ngô, cùng với khoảng 2 nghìn thuyền lớn nhỏ – sang đến năm 42, sau khi tập kết ở Hợp Phố (nam Quảng Đông) đã chia hai đường thủy bộ song song ven biển Bái Tử Long – Hạ Long mà vào cõi, theo lối cửa sông Bạch Đằng, đến Lục Đầu Giang, tiến đánh phong trào Hai Bà Trưng.

Cuộc kháng chiến do Hai Bà lãnh đạo, bùng nổ vào năm 43, với ba loạt trận đánh lớn, do hai nữ vương trực tiếp chỉ huy ở: Tây Vu, Lãng Bạc, Kim Khê; và loạt trận cuối cùng do các thủ lĩnh địa phương của phong trào điều hành ở: Cửu Chân.

+ Tây Vu: Đây là tên một miền đất và bộ lạc lớn, từ thời Hùng Vương – An Dương Vương mà trung tâm, chính là Cổ Loa. (Vào năm 1982, đã đào tìm được ở dưới lòng đất, giữa thành Cổ Loa (Đông Anh – Hà Nội), một chiếc trống đồng thuộc nhóm cổ và đẹp nhất, có khắc chữ, trong đó, đọc được 2 chữ “Tây Vu”. Tòa thành Cổ Loa kỳ vĩ này, vào năm 179 trước Công nguyên – cùng với vũ khí “nỏ thần” – đã giúp An Dương Vương đánh bại (những trận đầu) cuộc xâm lược của Triệu Đà từ Phiên Ngung (Quảng Châu) tới, thì nay – đầu năm 43 – chính là cái đích đầu tiên tiến đánh của quân Hán Mã Viện, trên đường chúng từ Lục Đầu Giang nhằm vào, hướng tới “kinh đô” Mê Linh của Hai Bà. Và, một lần nữa – vào đầu năm 43 – thành Cổ Loa lại giúp Hai Bà Trưng làm nên loạt trận đánh phòng ngự ở Tây Vu thành công thắng giặc, mở màn cuộc kháng chiến oanh liệt.

Không đánh hạ được Cổ Loa, Mã Viện phải cho quân lui về Lãng Bạc.

+ Lãng Bạc: Đây là địa danh Hán ngữ, diễn Nôm văn vẻ một chút, thì thành “Bến Sóng”. Vùng đất và nước này, ở về phía đông Tây Vu. Vì thế, không thể coi Lãng Bạc là Hồ Tây (thuộc quận Tây Hồ – Hà Nội ngày nay) – vốn ở mạn tây của Tây Vu – như một số thuyết xưa đã nói. (Vả chăng, về thời gian đầu Công nguyên, chưa có Hồ Tây. Vốn chính là một khúc uốn của sông Cái (sông Hồng), vùng hồ này chỉ được thành lập, khi bị dòng sông Mẹ “bỏ quên” (ở lại tại chỗ) lúc đổi dòng, vào khoảng các thế kỷ 9-10). Do đó, vùng đất và nước trũng ở giữa huyện Tiên Du (Bắc Ninh) bây giờ, mới đúng là Lãng Bạc thời Hai Bà Trưng.

Mã Viện đã từ Tây Vu (Cổ Loa) lui quân về, đóng ở đây. Bấy giờ là mùa hè năm 43. Khổ vì tiến thoái lưỡng nan và vì thời tiết nóng nực, Mã Viện đã phải thốt lên lời than thở được sách “Hậu Hán thư” ghi lại rằng cũng giống như chính con diều hâu lúc ấy đang bay trên đầu, gặp khí nóng bốc lên ngùn ngụt từ vùng đất lầy lội, đã phải sã cánh mà rơi xuống!

Nhưng chính Hai Bà lại đem lực lượng dân binh mới được tập hợp, đến đánh công kiên cấp tập vào đạo quân viễn chinh nhà nghề của Mã Viện, ở đấy, và vào lúc ấy.

Không mong đợi gì hơn, viên tướng lão luyện của nhà Hán – được tháo cởi bế tắc, phát huy hết sở trường – đã đánh một trận kinh hoàng ở Lãng Bạc, tiêu diệt phần lớn lực lượng của Hai Bà.

Tổn thất nặng nề sau trận Lãng Bạc, Hai Bà Trưng phải rút về cố thủ ở Kim Khê.

+ Kim Khê: Đây là địa danh dịch từ tên Nôm sang Hán ngữ của vùng “Suối Vàng”. Dòng suối này, chảy ra từ ngọn Viên Nam – bộ phận phía Nam của núi Tản Viên (Ba Vì), nay ở giữa các huyện Lương Sơn (Hòa Bình) và Thạch Thất – Quốc Oai (Hà Nội). Cho đến gần đây, nhiều người vẫn tìm đến nơi này, đãi vàng sa khoáng.

Đọc (phát âm) theo tiếng Bắc Kinh, “Kim Khê” trở thành “Chin Xi”. Cũng thành “Chim Xi”, là những từ “Cấm Khê”, “Cẩm Khê”. Vì thế, trong nhiều sách vở, thay vì “Kim Khê”, nhiều tác giả đã viết: “Cấm Khê”, “Cẩm Khê”. Chẳng hạn: “Cấm Khê đến lúc hiểm nghèo/ Chị em thất thế phải liều với sông”. Đó là cách nói về chung cuộc của Hai Bà Trưng, ở sách “Đại Nam quốc sử diễn ca”.

Nhưng trên thực địa, không có thực thể nào, mang tên “Cấm Khê” hoặc “Cẩm Khê” mà lại phù hợp với sự “thất thế” của Hai Bà Trưng vào mùa hè năm 43 cả. Chỉ có “Suối Vàng” – Kim Khê. Và, ở đây, cũng không hề có việc “phải liều với sông” (tự trầm) nào của Hai Bà. Thực tế lịch sử không theo tâm thức (tâm lý) cổ truyền của nhân dân, dân tộc: Muốn Hai Bà phải được chết một cách mát mẻ trong dòng sông quê hương – đã diễn ra thật ác nghiệt: Hung tướng Mã Viện đã dẫn đại binh đuổi theo Hai Bà đến tận nơi cố thủ Kim Khê (Suối Vàng). Và đã giết các nữ vương nước Việt ở đấy. Thậm chí theo sách “Hậu Hán thư” – còn chặt đầu những nữ anh hùng lãnh đạo cuộc kháng chiến năm 43, mang về bêu ở kinh đô Lạc Dương của triều Hán.

Cuộc kháng chiến năm 43 của Hai Bà Trưng – bộ phận tổ thành, và ở giai đoạn cuối của cả phong trào đấu tranh dân tộc vô cùng oanh liệt ở thời gian đầu Công nguyên – đến đây đã bị dìm gần hết vào biển máu. Thủ lĩnh Đô Dương ở địa phương Cửu Chân (Thanh Hóa) – với vị thế tàn dư của phong trào – còn đánh những trận cuối cùng vào mùa đông năm 43 nữa. Và Mã Viện cũng còn ở lại đất Việt một năm nữa – sau mùa đông kéo quân vào Cửu Chân tận diệt cuộc kháng chiến của thủ lĩnh Đô Dương để tiếp tục thi thố những thủ đoạn chiến tranh, đô hộ và đồng hóa – cực kỳ thâm độc và bạo tàn nữa.

Nhưng, dù thế nào thì bản anh hùng ca của những năm đầu Công nguyên đấu tranh anh hùng do Hai Bà Trưng lãnh đạo vẫn bất tuyệt mà vang vọng đất trời. Đây là biểu hiện đầu tiên và là minh chứng đặc biệt của tinh thần và truyền thống dân tộc mà Chủ tịch Hồ Chí Minh là người phát biểu đích xác nhất: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”. Và, còn nguyên vẹn cả những bài học và kinh nghiệm lịch sử – đắt giá, quý giá – để lại mãi mãi cho đời sau. Nói về thắng lợi vĩ đại của cuộc Cách mạng Tháng Tám và cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đây là ý kiến của Đại tướng Võ Nguyên Giáp (trả lời phỏng vấn của nhà sử học, nhà báo Alan Ruscio): “Cái đó, ở chúng tôi, có gốc rễ từ những sự kiện xưa, vào đầu Công nguyên”.

GS Lê Văn Lan
qdnd.vn

Nội tình quân đội trong “Mùa hè đỏ lửa”

QĐND – Sự kiện và Nhân chứng xin điểm một số báo Mỹ ra giữa năm 1972 về nội tình quân đội Mỹ-Thiệu, khi cuộc tiến công chiến lược năm 1972 của Quân Giải phóng đang diễn ra quyết liệt trên toàn miền.

Quân Mỹ muốn rời “chiếc tàu đắm”

Báo Life ra ngày 28-4-1972 đăng bài “Bút ký từ địa ngục” (The North Vietnamese Offensive: April 1972 Report from the Inferno). Trái với những lời bàn về “những chiến thắng chưa được điều nghiên” của thống tướng A-bram (Abrams[1]), ký giả Giôn-xa-anh (John Saar) đã chỉ ra rằng tới lúc đó quân Mỹ đã không còn muốn chiến đấu bảo vệ lợi ích của “đồng minh Nam Việt Nam”. Tờ Life tường thuật:

… Trong sự yên ả của sở chỉ huy trang bị điều hòa nhiệt độ của viên cố vấn trưởng Mỹ, cuộc chiến tranh như ở đâu đó, xa vời… Trên giá là các sách cần đọc về chiến tranh du kích. Trên cửa là bài thơ của tác giả – cố vấn Mỹ này.

“Lòng tôi đâu muốn chạy con tàu này
Một khi tôi không thể kéo hồi còi về ga
… Đành mặc cho con tàu này trật đường
Và đành nhìn những ai bị rơi xuống địa ngục

Viên đại tá Mỹ không còn e ngại điều gì… Ngay trong cuộc tiến công chiến lược của Quân Giải phóng, các ký giả phương Tây đã học được cách cảnh giác với một khối lượng lớn chưa từng có những tin giả vờ lạc quan đang trôi nổi khắp nơi… Tại một căn cứ hỏa lực gọi là Bát-xtôn (Bastogne) ở tây nam Huế, một tiểu đoàn quân đội Sài Gòn đang không còn hơi sức cầm súng, không thể sơ tán được thương binh và lính tử trận, đang thiếu lương thực, nước, và đạn…

Những chiếc xe tải chở lính một đại đội thuộc Lữ đoàn 196 của Mỹ đang nổ máy lao đi… Những người lính Mỹ khác giải thích rằng vừa xảy ra một cự tuyệt nhất thời của một đại đội Mỹ khi được lệnh đi ra chiến trường. Những người lính Mỹ tỏ ra có lý và đúng mực, nên sau hai giờ được thuyết phục, họ đồng ý ra trận. Nhưng lính Mỹ chỉ chấp nhận các hành động chiến đấu để tự bảo vệ mình, cũng như bảo vệ những người Mỹ khác mà thôi…

Trung tá Phạm Văn Đính – chỉ huy, Trung tá Vĩnh Phong-chỉ huy phó dẫn binh sĩ Trung đoàn 56 đầu hàng cách mạng. Nguồn: Báo chí Phương Tây

Lính Sài Gòn chiến đấu cho… quan

Tờ Bưu điện Oa-sinh-tơn (The Washington Post) đầu tháng 7-1972 đăng phóng sự của Pi-tơ Brét-xtrớp (Peter Braestrup) Lính Sài Gòn phục vụ quan, không phụng sự dân tộc (Viet Soldier Serve Officer, not Nation)”. Ký giả này viết:

Trạc 20 tuổi, người gầy nhom, Nguyễn Văn Lớn đang dưỡng thương cho vết thương ở cổ, sau trận 11-5-1972, khi quân đội Sài Gòn lâm vào trận chiến tưởng như không có hồi kết để mở đường Quốc lộ 13 vào giải vây An Lộc, nằm cách Sài Gòn 60 dặm.

Đối với Lớn, cũng như với nhiều thanh niên nông thôn Việt Nam, các khái niệm như “quốc gia”, “Cộng sản”, và “chính phủ” khá trừu tượng, xa lạ… Là người theo đạo Cao Đài trên danh nghĩa, Lớn học đến lớp 4 ở trường rồi nghỉ phụ với mẹ bán hàng ngoài chợ tại một làng nhỏ thuộc thánh địa Tây Ninh. Chị gái của Lớn lấy một trung sĩ quân đội Sài Gòn, còn em gái hiện đang bán hàng hoa tại một căn cứ không quân ở Sài Gòn.

Năm 1970, Lớn được đưa tới trung tâm huấn luyện Quang Trung (đầu ra: 39 nghìn người/năm), nơi anh ta trải qua 10 tuần huấn luyện. Sau đó Lớn nhập vào một tiểu đoàn quân số 500 lính của Sư đoàn 25, gần Trảng Bàng nằm ở phía tây bắc Sài Gòn.

Năm 1970 và 1971 không quá nghiệt ngã đối với đơn vị của Lớn. Vì cuộc xâm lược của Mỹ – Thiệu sang Cam-pu-chia đã đẩy đa số các tiểu đoàn chính quy ra khỏi địa bàn tác chiến.

“Chỉ huy tiểu đoàn chúng tôi tỏ ra dễ dãi với lính, nhưng ông ta không gan dạ”, Lớn nói thêm, “chúng tôi chưa phải dự những trận đánh”.

Từ khi cuộc tiến công 30-3-1972 tại miền Đông Nam Bộ bắt đầu, hiện tượng đào ngũ tiếp diễn. Theo các nguồn chính thức, số lượng đào ngũ vượt lên con số 12 nghìn lính/tháng – tỷ lệ đào ngũ của năm 1971, và cảnh sát càng hăng hái ruồng bố lính đào ngũ.

Cuối năm 1971, Lớn được chuyển sang Trung đoàn 31 thuộc Sư đoàn 31, đơn vị đang tiến hành tác chiến ác liệt hơn tại các kênh rạch trong rừng U Minh, vùng Đồng bằng sông Cửu Long.

Nhận xét này của Lớn khớp với một quan điểm phổ biến trong các cuộc nói chuyện của các sĩ quan Nam Việt Nam với cố vấn Mỹ, trong đó họ bình luận về khả năng chiến đấu của quân đội Nam Việt Nam như sau: binh lính quá dựa dẫm vào cá nhân người chỉ huy, chiến đấu không có được lý tưởng.

Thực vậy, một lính Sài Gòn khác, có học, thuộc Sư đoàn 3, được điều ra Quảng Trị vào tháng 5-1972 và hiện nay đang xây dựng lại, nói: “Trong quân đội Nam Việt Nam, người lính không phụng sự tổ quốc hay phục vụ quân đội. Anh ta làm việc cho một cá nhân cụ thể. Nếu cá nhân cầm đầu này ăn cắp gạo, bạc đãi lính, đơn vị sẽ thuộc loại kém”.

“Trong quân đội Sài Gòn”, một cố vấn Mỹ kỳ cựu nói “mỗi lính đều tìm kiếm sự được cai quản, sự khâm phục. Thứ văn hóa này áp đặt một gánh nặng khủng khiếp ngay cả lên những chỉ huy tiểu đoàn chính cống. Anh ta phải quyết định mọi việc. Nếu anh ta bị thương hoặc tử trận, cả tiểu đoàn gồm 500 người sẽ tan ra từng mảnh”.

Thực trạng này gây tổn thất trầm trọng cho quân Sài Gòn trong cuộc tiến công Xuân 1972 của cách mạng. Chẳng hạn, tiểu đoàn thiết giáp 20, được trang bị mới tới 56 xe tăng M48, ban đầu được báo cáo là tác chiến thuận lợi tại thành Quảng Trị tháng 4-1972, cho đến khi viên chỉ huy tiểu đoàn bị thương. Sau đó, tiểu đoàn này tan rã thành từng mảnh.

Quan Sài Gòn phụng sự… Tổng thống

Bằng phóng sự dài “Quan và lính Sài Gòn: Tháng 7-1972”, ký giả Pi-tơ Brét-xtrớp đưa ra một tổng quan về chính quyền Sài Gòn: Khá tạp nham, ngập ngụa trong tham nhũng, và trong mâu thuẫn giữa việc cất nhắc những tay chân trung thành nhưng kém tài của Thiệu với việc phải dùng những nhân vật chống đối Thiệu ở các mức độ, nhưng được lòng chủ Mỹ, do có vẻ “chiến đấu cho tự do” hơn.

Tác giả chỉ ra xu thế quân phiệt, quân sự hóa bộ máy chính quyền Sài Gòn. Pi-tơ Brét-xtrớp viết:

“Với mối đe dọa bởi chiến tranh du kích tồn tại khắp nơi, 44 vị tỉnh trưởng, 220 quận trưởng và 6 thị trưởng tại các thành phố lớn của hệ thống tập quyền theo kiểu Pháp ở miền Nam Việt Nam đã từ lâu là nhà binh. Họ vừa có trách nhiệm lãnh đạo quân địa phương và dân vệ, vừa điều hành bộ máy quan liêu dân sự”.

Pi-tơ Brét-xtrớp cho hay từ Tết Mậu Thân, tư lệnh Mỹ A-Bram đã nhiều lần nhắc nhở Thiệu rằng ba đơn vị “tậm tịt” (lackluster) đóng quanh Sài Gòn là Sư đoàn 5, 18, và 25 phải được chỉ huy bằng các sĩ quan cứng cỏi, có khả năng, chứ không chỉ là những kẻ trung thành. Thiệu cứ lần lữa, vì các đơn vị yếu kém này có thể trở thành một đòn đảo chính cốt tử tại “Thủ đô” Sài Gòn.

Tuy nhiên, dưới sức tấn công dồn dập của Quân Giải phóng đầu năm 1972, vẫn theo Pi-tơ Brét-xtrớp, Thiệu đã thải hai trong số 4 tư lệnh vùng chiến thuật, thay 3 trong số 13 tư lệnh sư đoàn, hoán đổi hơn chục trong số 44 ghế tỉnh trưởng…

Pi-tơ Brét-xtrớp điểm danh các tướng dưới tướng Thiệu. Thủ hạ trung thành nhất phải kể Hoàng Xuân Lãm. Năm 1967, khi các tướng khác còn do dự, Lãm từng ném lon đòi về vườn để bày tỏ sự trung thành với Thiệu, buộc các tướng kia phải chọn Thiệu thay cho Kỳ. Cố vấn Mỹ gọi Lãm là “vị lãnh chúa hay vắng mặt”, chê hắn là chỉ ăn chơi, đánh nhau tồi… Lãm, cùng các tướng khác, vừa chịu sốc mạnh bởi cuộc tiến công chiến lược của Quân Giải phóng, bắt đầu từ tháng 4-1972. Nguyễn Văn Toàn, thủ hạ của Lãm, một tay chỉ huy tròn vai nhưng là “vua buôn lậu quế” cùng với vợ Lãm… Chuẩn tướng Lý Tòng Bá kết hợp sự hăng máu đánh “Việt Cộng” với đời sống quá xa hoa so với đồng lương. Đô đốc Chung Tấn Cang từng “dính án” biển thủ, trục lợi được Thiệu tin dùng làm Trưởng ban chống tham nhũng, rồi tư lệnh Đặc khu Thủ đô, để dẹp nguy cơ đảo chính. Một tay hòm chìa khóa của Thiệu là Đặng Văn Quang, được Pi-tơ Brét-xtrớp xem là sự pha trộn giữa “Ét-ga Hu-vơ (Edgar Hoover-giám đốc FBI, vì Quang phụ trách an ninh quân đội), Các-min Đờ-Sa-pi-rô (Carmine DeSapio-chính khách Mỹ, can tội biển thủ và bày đặt âm mưu thủ đoạn) và Rô-bớc Mắc Na-ma-ra (Robert McNamara – trung thành với các tổng thống)…”.

“Trong sạch” có Đại tá Nguyễn Văn Chúc, Trung tướng Ngô Quang Trưởng. Nguyễn Văn Chúc ra mặt chống tham nhũng, bị Thiệu xếp vào nhóm “phá quấy”. Tướng Cao Văn Viên tuy lờ phờ, nhưng Thiệu đánh giá là “có chuyên môn”, và được cái trung thành với tổng thống.

Người lái con tàu đắm

Pi-tơ Brét-xtrớp kết luận bài viết: “Nhưng Thiệu đang gặp vấn đề.

Ngay cả khi ông ta muốn, ông ta không thể đột nhiên tháo bỏ hệ thống chính trị mà một phần ông ta được thừa hưởng, một phần khác do ông ta tạo dựng. Không có một cấu trúc quyền lực nào khác hiện diện hoặc có thể nhanh chóng được tạo ra, để có thể thay thế hệ thống ngành dọc về quân sự hiện hành cũng như bộ máy hành chính dân sự đang chỉ đạo nó.

Hơn nữa, mọi đánh giá đều cho thấy Thiệu có thể lại tiếp tục xoay xở một cách tệ hại về mặt quân sự bằng những phương án lỗi thời”.

Lê Đỗ Huy (dịch)
qdnd.vn

[1] Sách Một cách làm chiến tranh tốt hơn: Các chiến thắng chưa được điều nghiên và kết thúc bi kịch trong những năm cuối cùng của Mỹ ở Việt Nam (A Better War: The Unexamined Victories and Final Tragedy of America’s Last Years in Vietnam), NXB Houghton Mifflin Harcourt; June 3, 1999.

Văn học Việt Nam ở Trung Quốc

QĐND – Trước và trong Hội nghị quốc tế Giới thiệu văn học Việt Nam từ ngày mồng 5 đến ngày 10-1-2010 tại Quảng Ninh và Hà Nội, là một đại biểu chính thức của hội nghị, tôi cứ băn khoăn mãi xung quanh câu hỏi: Tại sao nhiều nhà văn Việt Nam và Trung Quốc, khi nói chuyện với nhau hoặc phát biểu trong hội thảo, đều cho rằng sách văn học Việt Nam được dịch và xuất bản ở Trung Quốc quá ít ỏi: Ngoài “Nhật ký trong tù” của Chủ tịch Hồ Chí Minh, “Truyện Kiều” của Đại thi hào Nguyễn Du hình như chỉ có “Những lá thư từ tuyến đầu Tổ quốc” (nhiều tác giả), “Ông cố vấn-Hồ sơ một điệp viên” (của Hữu Mai) mà thôi?

Thực tế, văn học Việt Nam đã được giới thiệu trang trọng trong bộ sách công cụ tra cứu đồ sộ của Trung Quốc – Bộ sách “Trung Quốc đại bách khoa toàn thư”, do Quốc vụ viện (Chính phủ Trung ương) nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa chỉ đạo, Nhà xuất bản Trung Quốc đại bách khoa toàn thư xuất bản. Bộ toàn thư tổng cộng có 80 quyển, mỗi quyển khoảng 12-15 triệu chữ Hán, dày trung bình 700 trang khổ 19x26cm (tương đương 2.100 trang dịch ra tiếng Việt).

Trong bộ sách này, Bộ môn Văn học chia làm 3 quyển (2 quyển văn học Trung Quốc, 1 quyển văn học nước ngoài).

Riêng phần “Văn học Việt Nam” trong quyển “Văn học nước ngoài” do bà Triệu Ngọc Lan, (Giáo sư giảng dạy Bộ môn tiếng Việt, Hệ Ngôn ngữ phương Đông, Học viện Ngoại ngữ, Trường Đại học Bắc Kinh) biên soạn, được chia làm ba phần lớn: Văn học trước Cách mạng dân tộc dân chủ, Văn học thời kỳ Cách mạng dân tộc dân chủ, Văn học sau Cách mạng Tháng Tám.

Bên cạnh nội dung “Văn học Việt Nam”, sách báo Trung Quốc còn giới thiệu thân thế và sự nghiệp của những nhà văn, nhà thơ, những cây đa cây đề trên văn đàn Việt Nam, từ cổ chí kim, bằng song ngữ (Hán-Việt hoặc Hán-Anh) như: Nguyễn Trãi, Lê Tư Thành (Vua Lê Thánh Tôn), Đặng Trần Côn, Lê Quý Đôn, Nguyễn Gia Thiều, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Đình Chiểu, Phan Bội Châu, Tú Xương, Hồ Biểu Chánh, Tản Đà, Ngô Tất Tố, Tú Mỡ, Đặng Thai Mai, Nguyễn Công Hoan, Thế Lữ, Nhất Linh, Nguyễn Tuân, Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Huy Tưởng, Lưu Trọng Lư, Đồ Phồn, Nam Cao, Xuân Diệu, Nguyên Hồng, Huy Cận, Tố Hữu, Tô Hoài v.v..

Đặc biệt, tại các trường đại học, học viện ở Trung Quốc có nhiều luận văn thạc sĩ, tiến sĩ của các nghiên cứu sinh viết về “Truyện Kiều” của Đại thi hào Nguyễn Du, Thơ Hồ Xuân Hương, về những tác phẩm “Chinh phụ ngâm”, “Cung oán ngâm khúc”, v.v..

Nhân dịp kỷ niệm Quốc khánh Trung Quốc lần thứ 60 (1949-2009), Tổng công ty Sách Trung Quốc đã tiến hành thống kê những sách văn học nước ngoài đã được dịch sang Trung văn và xuất bản ở Trung Quốc trong 60 năm qua, tính đến ngày 20-5-2006.

Tôi đã tìm được 150 đầu sách của Việt Nam đã được dịch và ấn hành tại đất nước đông dân nhất thế giới, hiện có hơn 300 nhà xuất bản Trung ương và địa phương này.

Phải chăng vì những nguyên nhân lịch sử, xã hội, văn hóa và thị hiếu khác nhau, mà nhiều người Trung Quốc cũng không nắm bắt được những thông tin trên?

Ngay đến những đại biểu Trung Quốc có mặt tham dự Hội nghị quốc tế Giới thiệu văn học nước ngoài như: Giáo sư-dịch giả Chúc Ngưỡng Tu, gần nửa thế kỷ giảng dạy và nghiên cứu văn học Việt Nam, người đã dịch tiểu thuyết “Ông cố vấn…” của nhà văn Hữu Mai sang Hán ngữ, đã tham gia biên soạn bộ giáo trình đồ sộ “Tiểu thuyết hiện đại Việt Nam” gồm 3 tập; giảng viên Hoàng Hoa Hiến, giảng dạy tiếng Việt ở Trường Đại học Sư phạm Quảng Tây cũng nhớ không nhiều những đầu sách Việt Nam được dịch và xuất bản ở Trung Quốc.

Chỉ có nữ sĩ Điền Tiểu Hoa, chuyên viên nghiên cứu của Sở Nghiên cứu Văn học nước ngoài thuộc Viện Khoa học Xã hội Trung Quốc là có trong tay bản thống kê sách Việt Nam đã dịch và xuất bản ở Trung Quốc, giống như tư liệu của tôi thu thập được qua trang web của Tổng công ty Sách Trung Quốc.

Thực ra, số đầu sách văn học Việt Nam được dịch và xuất bản ở Trung Quốc không chỉ là con số 150. Bởi vì, nhiều bộ sách gồm nhiều tập như: “Tiểu thuyết hiện đại Việt Nam” (gồm 3 quyển), “Ông cố vấn” của Hữu Mai (gồm 2 quyển), “Sao đổi ngôi” của Chu Văn (gồm 3 quyển) v.v.. họ cũng chỉ tính là một đầu sách.

Trong số hơn 150 đầu sách Việt Nam được dịch và xuất bản ở Trung Quốc, tôi thấy đều là những tác phẩm nổi tiếng và được bạn đọc Việt Nam ưa thích, từ xưa đến nay như: “Truyện Kiều” (Nguyễn Du) nghe nói có hơn mười bản dịch, “Thơ Hồ Xuân Hương”, “Nhật ký trong tù” của Chủ tịch Hồ Chí Minh, “Những năm tháng không thể nào quên” của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, “Kan Lịch” của Hồ Phương, “Họ sống và chiến đấu như thế” của Nguyễn Khải, “Người mẹ cầm súng” của Nguyễn Thi, “Xung kích”, “Vỡ bờ” của Nguyễn Đình Thi, “Vùng mỏ” của Võ Huy Tâm, “Tuổi thơ dữ dội” của Phùng Quán (Bạn dịch là Thiếu niên du kích anh hùng), “Đất nước đứng lên” của Nguyên Ngọc , “Bài ca chim chơ-rao” của Thu Bồn ,“Quán rượu người câm” (tập truyện ngắn, trong đó có truyện ngắn cùng tên của Nguyễn Sáng), “Tranh tối tranh sáng” của Nguyễn Công Hoan, “Mẫn và tôi” của Phan Tứ, “Thanh Hải” (tập thơ của Thanh Hải), “Ánh sáng và phù sa” của Chế Lan Viên, “Đêm Tháp mười” (Tập truyện, trong đó có truyện cùng tên của Lê Văn Thảo), “Sống như anh” Phan Thị Quyên kể Trần Đình Vân ghi, Tập truyện ngắn “Cái hom giỏ” của Vũ Thị Thường, Kịch bản văn học “Nghêu sò ốc hến” của Hoàng Châu Ký, Tập lý luận phê bình “Bảo vệ nguyên tắc tính đảng của văn học” của Hồng Chương, v.v..

Từ trái sang phải: Nhà thơ Hữu Thỉnh, Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam; Dịch giả Trung Quốc Chúc Ngưỡng Tu (Người dịch “Ông cố vấn” của Hữu Mai và “Lá cờ thêu sáu chữ vàng” của Nguyễn Huy Tưởng, sang Trung văn) và Dịch giả Vũ Phong Tạo, tại Triển lãm sách trong Hội nghị quốc tế giới thiệu văn học Việt Nam, từ ngày 5 đến ngày 10-1-2010, Hà Nội. Ảnh: Vũ Phong

Nhiều nhà văn có nhiều tác phẩm được dịch và xuất bản ở Trung Quốc, như nhà thơ Tố Hữu có “Người con gái Việt Nam”, “Gió lộng”, “Quê hương tôi”, “Việt Bắc” “Chào Trung Quốc”, “Ba mươi năm đời ta có Đảng”, “Tiếng hát đôi bờ”, “Miền Nam chiến đấu”, “Tố Hữu thi tập”, v.v..

Nhà văn Nguyễn Huy Tưởng có 5 tác phẩm là “Truyện anh Lục”, “Ký sự Cao Lạng”, “Bốn năm sau”, “Tìm mẹ”, “Thằng Quấy”.

Nhà văn Nguyễn Văn Bổng có hai tác phẩm “Con trâu”, “Rừng U minh”.

Nhà văn Nguyễn Đình Thi có bốn đầu sách: Tập thơ “Chiến sĩ”, tiểu thuyết “Vỡ bờ”, “Xung kích”, “Mặt trận trên cao”.

Đó là chưa kể đến 57 tác phẩm được giới thiệu trong bộ giáo trình đại học ở Trung Quốc “Tiểu thuyết hiện đại Việt Nam” gồm 3 tập.

Phạm trù tiểu thuyết của bạn, gia tộc tiểu thuyết gồm bốn thành viên: Truyện dài (trường thiên tiểu thuyết), Truyện vừa (trung thiên tiểu thuyết), Truyện ngắn (đoản thiên tiểu thuyết) và Truyện mi-ni – Truyện cực ngắn (vi hình tiểu thuyết, tiểu tiểu thuyết).

Tập 1 Văn học Việt Nam từ 1930 đến năm 1945, giới thiệu những tác giả và tác phẩm: “Nửa chừng xuân” (Khái Hưng), “Đoạn Tuyệt” (Nhất Linh); “Kép Tư Bền”, “Tinh thần thể thao” (Nguyễn Công Hoan), “Cô Thoa” (Thế Lữ); “Giông tố” (trích), “Cái ghen của đàn ông” (Vũ Trọng Phụng); “Lầm than” (trích của Lan Khai), “Nhà mẹ Lê” (Thạch Lam), “Một người mẹ Trung Quốc” (Nguyên Hồng), “Chữ người tử tù” (Nguyễn Tuân); “Tắt đèn” (trích), “Nợ đời” (Ngô Tất Tố); “Chí Phèo” (Nam Cao), “Sống nhờ” (trích của Mạnh Phú Tư), “Sau hàng rào tre” của Trần Tiêu v.v..

Tập 2 Văn học Việt Nam từ năm 1945 đến năm 1975, giới thiệu những tác giả và tác phẩm: “Một lần đến Thủ đô” (Trần Đăng), “Vợ nhặt” (Kim Lân), “Đôi mắt” (Nam Cao), “Xung kích” (trích của Nguyễn Đình Thi), “Con trâu” (trích của Nguyễn Văn Bổng), “Vợ chồng A Phủ” (trích của Tô Hoài), “Gặp gỡ” (Bùi Hiển), “Đất nước đứng lên” (trích của Nguyên Ngọc, bạn dịch là Tổ quốc đứng lên, rõ ràng không hay bằng nguyên tác); “Anh nuôi đại đội” (Lê Khánh), “Bốn năm sau” (trích của Nguyễn Huy Tưởng), “Đi bước nữa” (trích của Nguyễn Thế Phương, bạn dịch là Cải giá, rõ ràng không hay bằng nguyên tác), “Cỏ non” (Hồ Phương), “Một tấm áo mới” (Ngô Ngọc Bội), “Chiến sĩ và em bé” (Hải Hồ), “Mùa lạc” (trích của Nguyễn Khải, bạn dịch là Mùa thu hoạch lạc, rõ ràng không hay và cô đọng bằng nguyên tác); “Những bông hồng” (Nguyễn Thị Cẩm Thạnh), “Màn kịch của cô giáo” (Giang Nam), v.v..

Tập 3 Văn học Việt Nam từ năm 1975 đến cuối thế kỷ 20, giới thiệu những tác giả và tác phẩm: “Khoảng cách còn lại” (trích của Nguyễn Mạnh Tuấn), “Thời gian” (Cao Duy Thảo), “Sao đổi ngôi” (trích của Chu Văn), “Mùa lá rụng trong vườn” (trích của Ma Văn Kháng), “Thời xa vắng” (trích của Lê Lựu), “Tướng về hưu” (Nguyễn Huy Thiệp), “Hai em bé sắp ra đi” (Tô Hoài), “Những ngày cuối năm” (Nguyễn Khải), “Bước qua lời nguyền” (Tạ Duy Anh), “Một chiều xa thành phố” (Lê Minh Khuê), “Lời hứa của thời gian” (Nguyễn Quang Thiều), “Gió vẫn thổi qua cánh đồng bên sông” (Võ Thị Xuân Hà), v.v..

Trong Đêm thơ quốc tế Hạ Long, tổ chức tại Tuần Châu, tối 8-1-2010, nằm trong lịch trình của Hội nghị quốc tế Giới thiệu văn học Việt Nam, theo chương trình đã được nhà thơ Hữu Thỉnh, Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam, Trưởng ban Tổ chức Hội nghị thông qua, thì bộ ba dịch giả Vũ Phong Tạo (Việt Nam), Giáo sư-dịch giả Chúc Ngưỡng Tu, nữ sĩ Điền Tiểu Hoa – Nhà nghiên cứu văn học nước ngoài (Trung Quốc) đăng đàn đọc thơ song ngữ Hán – Việt ba thi phẩm Việt Nam đã được dịch sang Trung văn và được bạn đọc Trung Quốc ưa thích: “Trăng” của nhà thơ Xuân Diệu, “Tiếng thu” và “Mưa… mưa mãi” của nhà thơ Lưu Trọng Lư.

Bộ ba chúng tôi muốn gửi một thông điệp nhỏ đến các nhà văn, dịch giả rằng: Các nhà văn, nhà thơ tiền bối của chúng ta không hề phải quảng bá rùm beng, mà tác phẩm của họ vẫn vượt qua không gian và thời gian, vượt qua biên giới quốc gia, dân tộc đến với nhân loại. Câu thành ngữ “hữu xạ tự nhiên hương” luôn luôn là một chân lý. Các bạn cứ viết hay đi, chúng tôi sẽ sẵn sàng tìm đến và chuyển ngữ, làm cho tác phẩm của các bạn bay cao, bay xa, vang xa hơn nữa trong thế giới văn chương không hề có biên giới này!

Vũ Phong Tạo
qdnd.vn

Nhà Việt Nam học

QĐND – Ngày 1-7-2010, tại Phòng Công nghiệp-Thương mại Tatarxtan đã khai mạc Phân hội của Hội Hữu nghị Liên bang Nga-Việt Nam ở nước Cộng hòa tự trị này. Ông Rinat Ibraghimốp đã được cử giữ chức Chủ tịch. Đây là người đã từ lâu gắn bó mật thiết với nước ta, từng làm nghĩa vụ quốc tế ở Cam-pu-chia và Việt Nam.

1. Khi tiếp xúc với con người thông thạo tiếng Việt và tiếng Anh như tiếng mẹ đẻ, biết cả tiếng Trung Quốc và tiếng Pháp này, ít người tin rằng ông ta sinh ra từ làng quê Mamasi, huyện Cumô của nước Cộng hòa Tatarxtan trong Liên bang Nga.

Ông thường bộc bạch cởi mở với bạn bè: “Tôi xuất thân từ một gia đình nông trang viên. Bố cũng như ông nội tôi là người rất ham hiểu biết: Thích đọc sách báo, văn thơ. Năm 1972, sau khi tốt nghiệp phổ thông, tôi vào học Trường Thông tin liên lạc-Kỹ thuật điện ở thành phố Cazan, thủ phủ của nước Cộng hòa chúng tôi. Đầu năm 1980, tôi làm hiệu thính viên chính cho các đội bay của Nhà máy Hàng không Ke-me-rô-vô, học nâng cao chuyên môn ở tuyến hàng không quốc tế Sê-rêmen-che-vô-2. Năm 1984, tôi được cử tới Cam-pu-chia với cương vị hoa tiêu-điện báo viên của tổ hợp ngoại thương “Xuất khẩu hàng không” của Liên bang. Tại đây, tôi bắt đầu tìm hiểu, làm quen với người Việt Nam-những cán bộ, chiến sĩ Quân tình nguyện đã sang giúp nhân dân Cam-pu-chia lật đổ chế độ diệt chủng Pôn Pốt – Iêng-xa-ri đem lại cuộc sống tự do cho người dân nước này. Tôi bắt đầu học tiếng Việt, điều rất cần thiết để thực thi nhiệm vụ quốc tế của mình…”.

Tại Phnôm Pênh, Rinat cùng các cán bộ và chiến sĩ Xô-viết và Quân tình nguyện Việt Nam làm nhiệm vụ bảo vệ sân bay, mạch máu giao thông và trụ sở các đoàn ngoại giao trong những năm Cam-pu-chia vừa thoát khỏi chế độ diệt chủng của Khơ-me Đỏ. Tại đây, Rinat kết thân với các bạn Việt Nam, cùng làm việc và tích cực học tiếng Việt, tìm hiểu phong tục tập quán cũng như nền văn hóa của hai đất nước Việt Nam, Cam-pu-chia. Chẳng bao lâu anh đã làm phiên dịch tiếng Việt cho đoàn công tác của Liên Xô tại đây.

Ông Rinat Ibraghimốp thời học tập ở TP Hồ Chí Minh. Ảnh do nhân vật cung cấp.

Do Rinat là một đảng viên trẻ, lại nhanh chóng học được tiếng Cam-pu-chia nên Đảng ủy Đại sứ quán Liên Xô ở nước này đã cử anh trực tiếp làm việc với thanh niên Cam-pu-chia, giải thích tuyên truyền cho họ về con đường đi tới tương lai tươi sáng của đất nước này. Về sau, ông kể lại với mọi người: “Những người tôi tuyên truyền đa phần là nông dân nghèo mù chữ. Chúng tôi làm việc nhiều, đi nhiều miền quê, gặp gỡ nhiều dân nghèo, giải thích rõ cho họ thông hiểu phải làm gì, làm thế nào để vượt qua nghèo đói, xây dựng cuộc sống mới, bảo vệ đất nước. Tôi mau chóng thấy quý yêu hai dân tộc, hai đất nước Việt Nam và Cam-pu-chia. Và tôi đã đi sâu tìm hiểu về họ. Nhưng một người làm hoa tiêu – điện đài hàng không như tôi thì làm thế nào để thực hiện được ý nguyện của mình? Thật may mắn cho tôi. Những người bạn mới – một số sinh viên đại học, những nhà Phương Đông học tương lai của đất nước Xô-viết thực tập tại đây và Việt Nam đã mách bảo cho tôi. Và đây cũng là khởi đầu bước ngoặt của đời tôi…”.

Được các bạn mách bảo, năm 1986, Rinat Ibraghimốp đã xin được chuyển ngành để học tập ở Khoa Phương Đông học theo nguyện vọng thiết tha của anh. Rinat đã bay về thành phố Ke-me-rô-vô, nơi vợ và hai con trai đang đợi mình. Ở đây, anh được biết chỉ có hai trường là Đại học Tổng hợp Mát-xcơ-va và Lê-nin-grat (nay là Xanh Pê-téc-bua) mới có Khoa Phương Đông học. Nhưng ở trường đại học thứ nhất chỉ nhận học viên có đăng ký hộ khẩu ở Thủ đô nên Rinat đã tới Lê-nin-grat, nơi có Khoa Phương Đông học mạnh nhất nước. Thật may mắn: Anh đã thi được vào khoa này với số điểm xuất sắc, đăng ký học 4 ngoại ngữ: Trung, Việt, Anh và Pháp, còn tiếng Khơ-me thì học thêm. Nguyện vọng thiết tha và ý chí quyết tâm đã giúp Rinat đạt kết quả xuất sắc, tốt nghiệp với tấm “bằng đỏ”.

2. Năm 1989, Rinat Ibraghimốp tới TP Hồ Chí Minh thực tập tại Trường Đại học Tổng hợp. Về sau, ông tâm sự cởi mở: “Đó là những năm tháng tuyệt vời nhất của đời tôi. Chỉ có lúc đó tôi mới thực hiểu sâu sắc rằng thật đáng buồn cho những ai khi muốn tìm hiểu về một đất nước mà không biết tiếng nước đó. Không phải vô cớ mà các thầy giáo thường khuyên chúng tôi: “Cần phải đi khắp thành phố, luôn luôn tiếp xúc với dân chúng”. Ở Hà Nội, tôi có rất nhiều bạn bè tốt, người Việt cũng như các nhà Việt Nam học tương lai từ Học viện Quan hệ quốc tế Mát-xcơ-va và Viện Các nước châu Á và châu Phi. Trong số đó có Ghê-na-đi Bez-đet-cô, hiện là Tổng lãnh sự Nga ở TP Hồ Chí Minh. Người Việt Nam đối xử rất tốt với mọi công dân Xô-viết sống và làm việc ở đây. Đó là điều ghi sâu mãi trong lòng tôi…”.

Tại TP Hồ Chí Minh cũng như về sau làm việc ở Hà Nội, Rinat Ibraghimốp mau chóng trở thành “người nhà” dù chỉ có 2 năm đi tập sự và “ba cùng” với dân chúng nơi đây. Ông nhớ lại những kỷ niệm “đầy ắp trong lòng”: “Những hôm rỗi việc, tôi thường cùng các bạn Việt Nam đi uống bia hơi. Quán bình dân nhưng lịch sự hơn ở chúng ta nhiều bởi những cái bắt tay và nụ cười chân tình. Bia ngon tuyệt, còn người phục vụ thì lịch sự, vui vẻ…”.

Năm 1990, sau khi kết thúc khóa thực tập, Rinat Ibraghimốp đã được Trường Đại học Tổng hợp TP Hồ Chí Minh nhận làm nghiên cứu sinh. Ông vui sướng cầm giấy mời của trường đến Phòng Quan hệ quốc tế Trường Đại học Tổng hợp Lê-nin-grát “Thật là một hạnh phúc bất ngờ – Rinat Ibraghimốp nhớ lại – Lúc đó một vị chưa ai biết tên tuổi, nhưng trẻ trung đầy năng động và thông minh, làm việc ở Ủy ban nhân dân thành phố, đã quyết định cho tôi đi. Ông còn nói rằng, đó là một dịp may hiếm có cho tôi, hãy chớp lấy thời cơ. Người đó là Vla-đi-mia Pu-tin. Về sau, khi đã thành một nguyên thủ quốc gia, ông đã cử tôi sang làm việc với Việt Nam”.

Trong thời gian nghiên cứu, Rinat Ibraghimốp coi TP Hồ Chí Minh và Hà Nội như quê hương thứ hai của mình. Ông nghiên cứu quan hệ kinh tế Việt Nam – Cam-pu-chia. Do trước đây đã cố gắng đi sâu tìm hiểu về hai đất nước và hai dân tộc này nên ông nhanh chóng đạt được kết quả tốt trong một thời gian ngắn. Thế nhưng, từ sau ngày Liên Xô tan rã, ông cùng 35 nghiên cứu sinh và sinh viên các ngành khác như bị “treo lơ lửng” nơi đất khách quê người vì không xác định được ai sẽ cấp học bổng cho họ. Do vậy, Đại sứ quán Nga tại Hà Nội, rồi cả Tổng lãnh sự quán ở TP Hồ Chí Minh là những nơi họ thường xuyên lui tới để “chạy bữa”. Họ muốn “làm thêm” để kiếm sống, nhưng chẳng có việc gì thích hợp. Tuy nhiên, “máu” nghiên cứu Phương Đông vẫn nóng hổi trong tâm can Rinat. Ông tiếp tục thực hiện chủ định của mình và đã đạt được một số kết quả tốt đẹp.

3. Vào những tháng đầu khi Liên Xô tan rã, Inghiza Ibraghimốp – người anh cả của ông đã gọi điện tới Hà Nội cho ông. Sau khi giải thích sự biến đổi của đất nước, ông này đã khuyên ông mau chóng trở về đất nước. Từ lúc này, Liên bang Nga chuyển dần sang nền kinh tế thị trường. Trở về Tổ quốc, nhà Phương Đông học vừa “ra lò” này được bố trí vào làm việc ở Phòng Quan hệ thương mại với nước ngoài của Nhà máy Chế tạo máy nén khí ở Cazan. Ông được giao nhiệm vụ tìm kiếm đối tác nước ngoài làm ăn – tiêu thụ sản phẩm của nhà máy, chủ yếu là Việt Nam và Trung Quốc. Nửa năm sau, ông được cử làm người đại diện của nhà máy ở Trung Quốc.

Một ngày đầu thu năm 1992, Rinat Ibraghimốp đã chất đầy ắp lên các xe tải những sản phẩm của các xí nghiệp nước Cộng hòa tự trị này đưa tới Trung Quốc, Việt Nam và Mông Cổ để quảng cáo các loại hàng công nghiệp của nước mình. Chuyến đi vượt hàng nghìn ki-lô-mét đầy vất vả này đã thành công tốt đẹp.

Sự nỗ lực, năng động và nhiệt tình với công việc cùng với kiến thức Phương Đông học của mình, ông đã giúp Tatarxan trở thành chủ thể đầu tiên của Liên bang Nga có quan hệ kinh tế đối ngoại rất hiệu quả với các quốc gia châu Á – Thái Bình Dương ngay từ những năm đầu chuyển qua nền kinh tế thị trường. Đặc biệt, Tatarxan là nước đầu tiên lập ban đại diện của mình ở Việt Nam.

Ông Rinat Ibraghimốp hiện nay. Ảnh: Hữu Dy

Một thời gian dài kể từ năm 2000, Ibraghimốp làm người đại diện quan hệ thương mại của Tatarxan ở Việt Nam. Từ đó, quan hệ thương mại giữa hai bên ngày càng phát triển tốt đẹp. Hoạt động buôn bán, trao đổi hàng hóa năm sau luôn luôn hiệu quả và cao hơn năm trước. Máy bay lên thẳng, ô tô tải hiệu Kamaz, tàu thủy của nhà máy đóng tàu Zêlênôđôn và sản phẩm của nhiều xí nghiệp khác được người Việt Nam ưa chuộng. Đáp lại, nhiều sản phẩm hàng hóa của “xứ nhiệt đới mới lạ” được người dân nước này yêu thích mua dùng.

Tại thủ đô Kazan của Tatarxan, có một cộng đồng người dân Việt sinh sống, làm ăn khá ổn định. Ibraghimốp thổ lộ: “Tôi đã đề nghị họ thành lập một “khu dân tộc – văn hóa tự trị”. Kết quả là họ được đăng ký thành lập tổ chức “Hội Đoàn kết Việt Nam”, tôi được họ bầu làm Phó chủ tịch hội kiêm Giám đốc điều hành, vì tôi đã là “người Việt” mà! Sự hoạt động của Hội thật đa dạng: Ngoài việc củng cố mối quan hệ giữa hai nước và tổ chức các chuyến thăm Việt Nam của lãnh đạo nước Cộng hòa, Hội bảo vệ và phát triển các truyền thống, ngôn ngữ và di sản văn hóa của những người Việt sinh sống và lập nghiệp trên đất nước chúng tôi”.

Rinat Ibraghimốp quả là một nhà Phương Đông học – Việt Nam học đích thực “trong việc làm”.

Nguyễn Hữu Dy
qdnd.vn

“Con đường sống” của Lê-nin-grát

67 năm chiến thắng phát xít Đức (9-5-1945/9-5-2012)

QĐND – Trong cuộc Chiến tranh ái quốc vĩ đại chống phát xít Đức xâm lược của nhân dân Liên Xô, vào mùa đông những năm 1941-1943, trên hồ La -đô-ga phía bắc thành phố Lê -nin-grát (nay là Xanh Pê -téc-bua), một con đường đóng băng đã được tạo dựng để chuyên chở vũ khí, đạn dược và lương thực – thực phẩm cung cấp cho quân và dân thành phố khi đang bị quân thù bao vây suốt 900 ngày đêm. Với mật danh Đường số 101, nó đã được ghi vào lịch sử chống giặc ngoại xâm của đất nước Xô viết là “Con đường sống” của ba triệu người Lê -nin-grát.

1. Về mọi mặt, Lê-nin-grát là thành phố lớn thứ hai của quốc gia Xô viết. Vì vậy, khi vạch kế hoạch tấn công Liên Xô, phát xít Đức đã đề ra mục tiêu xâm chiếm “cái nôi của Cách mạng Tháng Mười Nga” trong thời gian gần nhất và nhanh nhất. Để thực hiện mục đích đó, Bộ Tổng chỉ huy Đức đã đưa vào chiến dịch này “Cụm quân Bắc” gồm 23 sư đoàn bộ binh tinh nhuệ, 6 sư đoàn xe tăng – cơ giới và tập đoàn Không quân số 1 (760 máy bay chiến đấu các loại). Lại thêm một lực lượng lớn quân đội Phần Lan và Na Uy cùng phối hợp với phát -xít Đức tấn công vào thành phố này phía Bắc và Tây Bắc. Tình thế nơi đây vô cùng nguy nan và khó khăn, khốc liệt.

Các nữ chiến sĩ Lê -nin-grát túc trực điều chỉnh luồng đường. Tấm biển ghi: Mặt trận Lê -nin-grát – con đường băng dài 30km.

Để bảo vệ thành phố trọng yếu này, Bộ Tổng tư lệnh tối cao Xô viết đã dùng một lực lượng lớn không -hải-lục quân phía bắc cho chiến dịch phòng thủ đặc biệt đó. Về lực lượng, quân phát xít cả người và vũ khí đều hơn hẳn quân đội Liên Xô: Gấp 2, 4 lần về quân sở; 4 lần về vũ khí; 5, 8 lần về pháo lớn và súng cối; 1, 2 lần về xe tăng; 9, 8 lần về máy bay chiến đấu… Cùng lúc đỏ, các lực lượng vũ trang Xô viết còn phải căng ra ở các mặt trận trọng yếu khác như mặt trận phía tây, mặt trận tây -nam, mặt trận Xta -lin-grát…

Toàn thể cư dân Lê -nin-grát, từ phụ nữ, trẻ em, người già đến công nhân viên chức nhà nước đều dũng cảm kiên cường chịu đựng mọi gian khổ, đói rét dưới mưa bom bão đạn của quân thù. Tất cả đều tích cực tham gia giữ vững thành phố với sức lực và khả năng của mình. Các đội dân quân, cứu thương, tải đạn thường xuyên sát cánh cùng bộ đội chủ lực. Những trận chiến đấu ở vùng ngoại ô diễn ra cực kỳ khốc liệt, giành giật nhau từng tấc đất, ngôi nhà, đường phố… Thấy không thể chiếm ngay được thành phố như kế hoạch đã vạch ra, quân Đức chuyển sang bao vây, siết chặt gọng kìm từ các phía.

Trong tình thế bị bao vậy chặt mọi phía, vũ khí, lương thực bị cạn kiệt, quân và dân thành phố mang tên Lê -nin đã dũng cảm, kiên cường đánh trả quyết liệt, rồi dần dần từ phòng thủ chuyển sang chủ động phản công. Từ ngày 12-1-1943, các cánh quân của Phương diện quân Lê -nin-grát, Phương diện quân Vôn -khốp cùng Hạm đội Ban -tích và Giang đoàn hồ La -àö-ga bắt đầu phản công để giải vây thành phố. Cuối tháng 1-1944, thành phố hoàn toàn được giải phóng sau 900 ngày đêm bị quân phát -xít bao vây phong tỏa.

Trong chiến công hào hùng này có sự đóng góp lớn của “Con đường sống” được xây dựng từ băng qua ba mùa đông trên hồ La -đô-ga.

2. Về “Con đường sống” này, nhà sử học Nga – Xô viết Mi -rô-zốp đã viết: “Trên thực tế, việc di chuyển quân đội và vận chuyển hàng hóa, lương thực, quân trang quân dụng trên các con đường đóng băng trên mặt hồ không có gì là đặc biệt. Trong cuộc chiến tranh với Phần Lan (1939-1940), để tiếp tế cho sư đoàn bộ binh 168 bị địch bao vây tại vùng Pit -ki-a-ran, một con đường vận tải bằng ô tô theo con đường đóng băng trên mặt hồ La -àö-ga đã được tạo lập nên. Rồi tiếp theo, trong năm đầu cuộc Chiến tranh vệ quốc, để đánh bật quân Đức khỏi đảo Gốt -lan trên biển Ban -tích, đoàn quân xe tăng và pháo binh Xô viết cũng đã dịch chuyển trên băng vào mùa đông lạnh giá. Nhưng trước và sau đó, chưa bao giờ sự sống của hơn ba triệu con người của Lê -nin-grát lại phụ thuộc vào độ dày của lớp băng và điều kiện thời tiết trên một con đường 40km đi qua hồ La -àö-ga này.

Nhiều kho lương thực – thực phẩm của Lê -nin-grát đã bị quân phát – xít đốt cháy tháng 9-1941, số còn lại thì quá ít. Thậm chí “khẩu phần ăn đói kém” vào giữa tháng 12-1941 cũng cần tới 500 tấn bột mì mỗi ngày cho toàn thành phố. Có lúc mỗi “suất ăn” chỉ là 50 gram bánh mì trong ngày. Trong khoảng tháng 9 tới tháng 11-1941, lương thực cung cấp cho nhân dân nơi đây đã giảm xuống 5 lần. Sau lần hạ thấp thứ tư thì bắt đầu xảy ra nạn chết vì đói. Khi hồ La -àö-ga chưa đóng băng hoàn toàn (vào năm 1941 thì phải tới ngày 25 tháng 11), lương thực cung cấp cho nơi đây bằng tàu thủy. Các tàu thuyền đi theo các luồng lạch được phá tan băng; còn các xe ngựa kéo bằng xe trượt tuyết cũng góp sức chuyên chở trên mặt băng. Rồi khi băng đóng cứng nhờ trời quá rét (sâu vào mùa đông) thì các đoàn ô tô tải hoạt động mạnh. Nhưng chỉ loại xe vận tải nhẹ, vì còn phải “dè chừng” độ cứng của mặt băng…”.

Từ ngày 24-4-1942, đường huyết mạch trên băng này tạm cắt (vì băng tan) cho tới mùa đông sau. Trong thời gian ngắn này, 361 nghìn tấn lương thực đã được cung cấp cho thành phố. Cho tới khi quân phát – xít bị đánh bật khỏi thành phố anh hùng này (tháng 1-1944), 1, 5 triệu tấn lương thực đã cung cấp tận nơi cho 3 triệu dân ở đây bằng “Con đường sống” này. Lại còn sơ tán được nửa triệu người dân ra khỏi thành phố (đa phần là trẻ em và người già yếu). Trong lúc đó, đường hàng không là phương pháp phù hợp nhất cung cấp nhu yếu phẩm cho nơi bị bao vây chặt thì chỉ được 3, 6 nghìn tấn, ít hơn 100 lần! Không có “Con đường sống” trên hồ La -àö-ga thì chắc chắn người dân ở “cái nôi” của cách mạng đã không thể vượt qua được nạn chết đói do bị quân thù bao vây chặt qua gần 3 năm khốc liệt.

3. Khi nghiên cứu xây dựng con đường băng này, nhiều nhà khí tượng học và kỹ thuật giao thông của thành phố Lê -nin-grát lúc đó đã cho rằng không thể làm được bởi nhiều lý do. Nhiều người dân bản địa còn nhớ lại như in nhiều tai nạn đã xảy ra đối với những người đánh xe ngựa trượt băng qua hồ trong mùa đông băng giá đã bị mất tích. Mà ở đây thì cần phải cho rất nhiều ô tô ngày đêm chuyên chở nhu yếu phẩm tiếp tế cho quân dân đang kịch chiến trong hoàn cảnh gian khó, khốc liệt. Ngay tại vị trí khởi đầu của con đường này, từ phía bờ đông của hồ, một khẩu hiệu được căng lên nhắc nhở các chiến sĩ lái xe: “Đồng chí lái xe, hãy nhớ rằng mỗi bao bột mì đen là một khẩu phần ăn cho hàng nghìn người Lê -nin-grát đang bị đói!”. Tuy nhiên, cuối cùng, với quyết tâm cao, người ta đã vượt qua.

Nhiều cán bộ, chiến sĩ, người dân tham gia “Con đường sống” này về sau đã viết hồi ký, ghi lại thời buổi gian nan khốc liệt ấy. Chiến sĩ lái xe Va -xi-li Xê -đi-úc trong lúc lái chiếc xe vận tải nhẹ “GAZ” bị một trận bão tuyết vùi lấp dưới một đống tuyết lớn. Xe anh được mọi người kéo lên khỏi tuyết. Một ông già đánh chiếc xe tuyết hai ngựa kéo đã đánh thức anh trong đêm tối. Anh ghi lại: “Khi nhìn thấy tôi, ông già bỗng trố mắt ngạc nhiên.

– ôi, vẫn còn sống ư? – ông nói với vẻ kinh ngạc – Cậu một mình trong ca -bin ư?

– Một mình thôi, tôi trả lời.

– Thật may cho cậu đấy, chàng trai ạ!

Rồi ông hất đầu về phía thùng xe sau hai con ngựa. Tại đó, dưới tấm vải bố là mấy thi thể cứng đơ…”

Những chuyện như thế thường diễn ra trên con đường băng giá này vào những năm 1941-1943, nơi hơn 20 nghìn người ngày đêm tất bật khẩn trương làm việc.

Người chịu trách nhiệm tổ chức vận chuyển trên con đường này là Chỉ huy trưởng tuyến hậu phương của Phương diện quân Lê -nin-grát – Trung tướng La -gu-nốp. Còn người trực tiếp điều khiển đoàn ô tô vận tải là người phó của ông, Thiếu tướng Si -lốp. Dọc tuyến đường này được bố trí nhiều trạm bảo dưỡng kỹ thuật xe, máy, chủ yếu cho các xe vận tải nhẹ vài tấn, các trạm sưởi ấm và cung ứng vật chất, các trạm điều khiển giao thông. Bảo vệ vùng trời cho “con đường sống” này là các khẩu đội pháo cao xạ tầm cao, tầm trung, các đại đội súng máy Macxim… Tất cả có tới 20 đơn vị như vậy.

Con đường đóng băng đi qua hồ La -đô-ga tới thành phố Lê -nin-grát vào các mùa đông năm 1941-1943 nổi tiếng trong lịch sử cuộc Chiến tranh ái quốc vĩ đại của nhân dân Liên Xô, nhưng không phải là duy nhất. Còn có một số con đường băng giá nữa ở vùng giá rét này được quân đội Xô viết tạo lập để đánh trả quân thù, giải vây cho Lê -nin-grát. Tuy nhiên, trong lịch sử chiến tranh, tuyến đường có mật danh “Đường số 101” vẫn sâu đậm mãi trong lòng người dân Xô viết.

Nguyễn Hữu Dy
qdnd.vn