Thư viện

Chương XII: Nô lệ thức tỉnh (TUYÊN NGÔN CỦA “HỘI LIÊN HIỆP THUỘC ĐỊA” (23) , TỔ CHỨC CỦA NHỮNG NGƯỜI DÂN BẢN XỨ Ở TẤT CẢ CÁC THUỘC ĐỊA)

“Hỡi anh em ở các thuộc địa!Nǎm 1914, vì phải đương đầu với một tai hoạ ghê gớm, những người cầm quyền nhà nước đã quay về phía anh em và yêu cầu anh em đồng tình góp phần hy sinh của mình để cứu vãn một tổ quốc mà người ta nói là của anh em, nhưng thật ra cho đến khi đó, anh em chỉ biết có cái đầu óc thống trị của nó mà thôi.

“Để làm cho anh em không ngần ngại, họ không quên làm loé lên trước mắt anh em những quyền lợi mà sự hợp tác với họ sẽ đưa lại cho anh em. Nhưng qua cơn bão táp rồi, thì đâu lại hoàn đó, anh em vẫn phải sống trong chế độ bản xứ, với những toà án đặc biệt, thiếu hẳn các quyền lợi gắn liền với phẩm giá con người như quyền tự do lập hội, tự do hội họp, tự do báo chí, tự do đi lại ngay cả trên đất nước của anh em. Đó là về mặt chính trị.

“Về mặt kinh tế, anh em vẫn phải chịu nạn sưu dịch nặng nề mà nhân dân oán ghét, vẫn phải đóng thuế muối, vẫn bị đầu độc và cưỡng bách tiêu thụ rượu và thuốc phiện như ở Đông Dương, vẫn bị đi gác đêm để canh giữ tài sản cho bọn cá mập thực dân, như ở Angiêri.

“Lao động như nhau, nhưng công sức của anh em lại bị trả tiền ít hơn các bạn người Âu của anh em.

“Cuối cùng, người ta hứa hẹn với anh em đủ mọi thứ trên trời dưới biển, nhưng giờ đây anh em thấy toàn là những lời lừa dối cả.

“Anh em phải làm thế nào để được giải phóng?

“Vận dụng công thức của Các Mác 1 , chúng tôi xin nói với anh em rằng, công cuộc giải phóng anh em chỉ có thể thực hiện được bằng sự nỗ lực của bản thân anh em.

“Hội Liên hiệp thuộc địa thành lập chính là để giúp đỡ anh em trong công cuộc ấy.

“Với sự giúp đỡ của các đồng chí ở chính quốc đồng tình với sự nghiệp của chúng ta, Hội tập hợp tất cả những người quê ở thuộc địa hiện sống trên đất Pháp.

“Biện pháp hoạt động:Để thực hiện sự nghiệp chính nghĩa ấy, Hội quyết định đưa vấn đề ra trước dư luận bằng báo chí và ngôn luận (tổ chức nói chuyện, mít tinh, thông qua các bạn dân biểu mà đặt vấn đề ra trên diễn đàn các nghị viện) và bằng tất cả mọi biện pháp mà chúng ta có thể làm.

“Hỡi các bạn bị ápbức ở chính quốc! Giai cấp tư sản trong nước các bạn đã lừa dối các bạn, dùng các bạn làm công cụ đi xâm lược đất nước chúng tôi. Ngày nay, vẫn dùng cái chính sách quỷ quyệt ấy giai cấp tư sản nước các bạn lại định dùng chúng tôi để đàn áp mọi cố gắng tự giải phóng của các bạn.

“Đứng trước chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa đế quốc, quyền lợi của chúng ta là thống nhất, các bạn hãy nhớ lời kêu gọi của Các Mác:

“Vô sản tất cả các nước, đoàn kết lại!”.

“Hội Liên hiệp thuộc địa”

——————————–

23. Hội Liên hiệp thuộc địa là một tổ chức cách mạng của những người thuộc địa, do Nguyễn Ái Quốc cùng một số người yêu nước của các nước thuộc địa Pháp sáng lập tháng 7-1921 tại nhà số 9 phố Valét, Pari. Cuộc họp đầu tiên của Hội vào ngày 9-l0-1921. Lúc đầu Hội có 200 hội viên và hai tổ chức người thuộc địa xin gia nhập là Hội những người Việt Nam yêu nước và Hội đấu tranh cho quyền công dân của người Mađagátxca. Ban thường vụ của Hội gồm 7 người, đứng đầu là Nguyễn Ái Quốc. Cơ quan tuyên truyền của Hội là tờ báo Le Paria. Ngoài ra, Hội những người Việt Nam yêu nước còn ra riêng tờ báo Việt Nam hồn. Đến nǎm 1926, Hội ngừng hoạt động. Tuyên ngôn của Hội do Nguyễn Ái Quốc thảo ra đã nêu rõ mục đích của Hội là tập hợp mọi người dân thuộc địa cư trú trên đất Pháp nhằm tố cáo trước dư luận những tội ác của chủ nghĩa thực dân, tuyên truyền giác ngộ nhân dân các thuộc địa đứng lên tự giải phóng. Hội đoàn kết nhân dân các nước thuộc địa trong mặt trận chung chống chủ nghĩa đế quốc và xây dựng quan hệ đoàn kết chiến đấu giữa nhân dân các nước thuộc địa với giai cấp công nhân và nhân dân lao động Pháp. Sự ra đời của Hội Liên hiệp thuộc địa với Tuyên ngôn của nó là một sự kiện chính trị rất quan trọng đối với các dân tộc bị áp bức. Tr.127.

cpv.org.vn

 

 

 

Phụ lục: Gửi thanh niên Việt Nam

Ông Đume, nguyên toàn quyền Đông Dương đã viết: “Khi nước Pháp đến Đông Dương, thì dân tộc An Nam đã chín muồi để làm nô lệ”. Từ đó đến nay hơn một nửa thế kỷ đã trôi qua. Nhiều biến cố phi thường đã làm đảo lộn thế giới. Nhật Bản đã đứng vào hàng đầu các cường quốc trên thế giới. Trung Hoa đã làm cách mạng. Nga đã tống cổ lũ bạo chúa đi để trở thành một nước cộng hoà vô sản. Một luồng gió giải phóng mạnh mẽ đã làm cho các dân tộc bị áp bức vùng lên. Người Airlan, Ai Cập, Triều Tiên, ấn Độ, tất cả những người chiến bại hôm qua và nô lệ hôm nay đó, đương đấu tranh dũng cảm cho nền độc lập ngày mai của họ. Riêng người An Nam, thì vẫn cứ thế: sẵn sàng làm nô lệ.

Hãy nghe đoạn vǎn khốn nạn này của một tên khách An Nam trong một bữa tiệc hai trǎm người ǎn, tổ chức ra để chiêu đãi bọn Utơrây, Valuyđơ và bè lũ và để được ngửi mùi bít tất thối của bọn “liên minh dân tộc” này. Anh chàng An Nam ấy đã không ngại bỏ ra 85 quan cho một bữa chè chén. Hắn đọc diễn vǎn tại bữa tiệc:

“Tôi lấy làm tự hào được thay mặt cho toàn thể cử toạ nói lên tấm lòng tôn kính sâu sắc, niềm vui mừng và lòng biết ơn của chúng tôi đối với các vị. Đối với con mắt khâm phục của chúng tôi, các vị thật là những người tiêu biểu cho chính phủ của dân tộc Pháp vinh quang.

“Tôi không tìm ra được danh từ nào đủ đẹp để nói lên cho thật đúng ý nghĩa của tư tưởng sâu kín trong chúng tôi, nhưng thưa các vị, các vị hãy tin ở tình gắn bó thuỷ chung, ở lòng trung thành, ở sự sùng bái của chúng tôi đối với nước Đại Pháp, là người đỡ đầu và bảo hộ, đã coi chúng tôi như con, không phân biệt màu da và chủng tộc.

“Mỗi người chúng tôi đều đã tự mình nhận thấy tất cả những ân huệ mà Nhà nước chí tôn và những vị đại diện cho nước Đại Pháp đã ban cho chúng tôi bằng cách áp dụng đúng đắn và sáng suốt những luật pháp rộng rãi và khoan hồng”.

Trong đám tang viên toàn quyền Lông, ông N.K.V, tiến sĩ luật, tiến sĩ khoa chính trị và kinh tế, làm việc tại toà biện lý Sài Gòn, đã quả quyết rằng, nếu có thể phát biểu thay toàn thể nhân dân Đông Dương, thì ông sẽ đau đớn nói lên lời cảm tạ thiết tha đối với quan toàn quyền về tất cả những gì mà Ngài đã làm cho dân tộc An Nam. Rồi ông V. kêu to lên rằng:

“Những người mà nhờ những biện pháp bao dung của Ngài, ngày nay đang được cùng các vị đại diện của Nhà nước bảo hộ góp phần vào sự phồn vinh không ngừng tǎng lên của xứ Đông Dương, những người ấy cảm tạ Ngài tự đáy lòng và sùng bái hình ảnh của Ngài. Kinh tế là vấn đề mà Ngài lo nghĩ đến nhiều nhất. Ngài đã muốn cho Đông Dương có đủ trang bị kinh tế để trở thành một nước Pháp thứ hai, một nước Pháp hùng cường ở Viễn Đông, một chi nhánh của nước Pháp Cộng hoà!

“Ngài đã đem hết tâm hồn, trí não vào sứ mệnh của Ngài là khai hoá cho một dân tộc bị ngǎn cản trên con đường tiến bộ vì nhiều điều kiện lịch sử và khí hậu. Ngài là người chiến sĩ vô song của tiến bộ và là sứ giả của vǎn minh …”.

Còn ông Cao Vǎn Sen, kỹ sư, hội trưởng hội những người Đông Dương tại Pháp, thì nói rằng việc ông Lông chết quá sớm là một cái tang cho Đông Dương. Rồi ông kết thúc bài điếu vǎn bằng những lời sau đây:

“Thưa quan toàn quyền, chúng tôi chân thành thương tiếc Ngài vì đối với tất cả chúng tôi, Ngài là một ông chủ bao dung, khoan thứ như một người cha”.

Từ những việc trên, tôi xin kết luận rằng, nếu quả thật tất cả

mọi người An Nam đều rạp mình sát đất như bè lũ tay sai ấy của chính quyền thì người An Nam có phải chịu số kiếp nô lệ cũng là đáng đời.

*

*      *

Thanh niên ta cũng cần biết là hiện nay có hơn hai nghìn thanh niên Trung Quốc trên đất Pháp và độ nǎm vạn ở châu Âu và châu Mỹ. Hầu hết những thanh niên ấy đều đã tốt nghiệp Hán vǎn và tất cả đang là sinh viên – công nhân. Còn chúng ta, thì chúng ta có những sinh viên được học bổng và những sinh viên thường, nhờ ơn nhà nước hay tiền của cha mẹ (hại thay, hai cái nguồn ấy lại không bao giờ cạn cả), mà đang dành một nửa thì giờ vào các việc… chơi bi a, một nửa của nửa thì giờ còn lại để đến các chốn ǎn chơi; số thì giờ còn lại, mà ít khi còn lắm, thì để vào trường đại học hoặc trường trung học. Nhưng sinh viên – công nhân Trung Quốc thì lại không có mục đích nào khác hơn là nhằm thực sự chấn hưng nền kinh tế nước nhà và họ theo châm ngôn: “Sinh sống bằng lao động của bản thân và vừa học hỏi vừa lao động”.

Họ đã làm như thế này: vừa đặt chân lên đất nước người là tất cả những người có nǎng khiếu giống nhau và cùng muốn học một nghề thì tập hợp lại thành nhóm để vận động xin việc với bọn chủ. Khi được nhận vào xưởng thợ hay nhà máy, thì cố nhiên là họ bắt đầu bằng cách học việc, rồi sau trở thành thợ. Đối với nhiều người đã được nuôi dưỡng trong cảnh giàu sang và được gia đình chiều chuộng, thì làm những việc nặng nhọc là một điều gian khổ. Nếu họ không có một quyết tâm vững chắc, không được một sức mạnh tinh thần phi thường thúc đẩy thì phần lớn đã phải chùn bước. Nhưng cho tới nay, tất cả vẫn tiếp tục làm việc. Một trở lực thứ hai là ngôn ngữ bất đồng, họ đã khắc phục được trở lực ấy nhờ biết lợi dụng khiếu quan sát, cái khiếu gần như là một bản nǎng đặc biệt của những người Viễn Đông chúng ta. Nếu họ không hiểu được hay hiểu một cách khó khǎn những lời chủ họ nói, thì họ chǎm chú quan sát những cái mà chủ chỉ cho họ.

Họ kiếm không được bao nhiêu tiền. Với số tiền công ít ỏi, trước hết họ phải tính sao cho đủ sống. Và, họ coi việc không xin tiền chính phủ, không xin tiền gia đình là một vấn đề danh dự. Sau nữa, tuỳ theo số tiền kiếm được họ trích một phần để đóng vào quỹ tương tế do họ lập ra. Quỹ này nhằm hai mục đích: 1) giúp đỡ những sinh viên đau ốm có giấy chứng nhận của thầy thuốc, và những sinh viên thất nghiệp có giấy chứng nhận của chủ; 2) trợ cấp một số tiền trong một nǎm cho tất cả những người mới học nghề xong để giúp họ bổ túc nghiệp vụ.

Lao động ở nước nào, họ cũng xuất bản ở đấy một tờ tạp chí (luôn luôn là do sinh viên – công nhân đóng góp). Tạp chí ấy viết bằng chữ Hán, cung cấp tin tức của Tổ quốc và đǎng những vấn đề thời sự lớn trên thế giới, v.v.. Tạp chí dành một mục cho độc giả trao đổi những điều bổ ích cho việc học nghề của họ, báo cho nhau biết sự tiến bộ của từng người, khuyên nhủ và động viên nhau. Ban ngày họ làm việc, ban đêm, họ học tập.

Kiên trì, quyết tâm và đoàn kết như thế, các “ông chú trẻ tuổi” 1 của chúng ta chắc chắn sẽ đạt mục đích. Với một đạo quân 50.000 công nhân dũng cảm đáng khâm phục, lại được đào tạo trong kỷ luật và kỹ thuật hiện đại, thì không bao lâu nữa, Trung Quốc sẽ có một địa vị trong hàng các cường quốc công nghiệp và thương nghiệp thế giới.

Ở Đông Dương, chúng ta có đủ tất cả những cái mà một dân tộc có thể mong muốn như: hải cảng, hầm mỏ, đồng ruộng mênh mông, rừng rú bao la; chúng ta có những người lao động khéo léo và cần cù.

Nhưng chúng ta thiếu tổ chức và thiếu người tổ chức! Bởi thế công nghiệp và thương nghiệp của chúng ta là một con số không. Thế thì thanh niên của ta đang làm gì? Nói ra thì buồn, buồn lắm: họ không làm gì cả. Những thanh niên không có phương tiện thì

không dám rời quê nhà; những người có phương tiện thì lại chìm ngập trong sự biếng nhác; còn những kẻ đã xuất dương thì chỉ nghĩ đến việc thoả mãn tính tò mò của tuổi trẻ mà thôi!

Hỡi Đông Dương đáng thương hại! Người sẽ chết mất, nếu đám Thanh niên già cỗi của Người không sớm hồi sinh.

cpv.org.vn

Gửi Đoàn Chủ tịch Quốc tế Cộng sản (19-2-1925)

Quảng Châu, ngày 19-2-1925.

Kính gửi Đoàn Chủ tịch Quốc tế Cộng sản.

Các đồng chí thân mến,

Tình hình Đông Dương hiện nay vẫn giống như tôi đã mô tả trong bản báo cáo đầu tiên của tôi. Tôi chỉ xin trình bày với các đồng chí 3 việc sau đây:

1. Đảng Lập hiến mà tôi đã nói đến trong bản báo cáo gần đây nhất với các đồng chí vừa mới được tǎng cường do sự gia nhập của một nhà cách mạng An Nam lão thành, một nhà nho, bị kết án tử hình, được ân xá, bị trục xuất sang Pháp, và cuối cùng được chính phủ Eriô cho nhập quốc tịch Pháp. Chương trình được công bố của Đảng ấy là: Pháp – An Nam hợp tác và việc tầng lớp thượng lưu của người An Nam được nhập quốc tịch Pháp.

2. Những người bảo thủ và những người dân chủ người Pháp đang đấu tranh với nhau ở Đông Dương như những ông chủ của họ đang đấu tranh với nhau ở Pháp. Mới đây, nhiều truyền đơn chống đế quốc đã được rải ở Nam Kỳ (cǎn cứ vào những đoạn trích, tôi cho rằng, những truyền đơn ấy là của Ban thuộc địa của Đảng Cộng sản Pháp). Những người bảo thủ kêu lên: Hãy coi chừng chủ nghĩa bônsêvích! Còn những người dân chủ lại trả lời họ rằng: Chính các

anh đã bày ra những trò ấy để doạ chúng tôi!

3. Chính phủ Xiêm mới trao cho Chính phủ Pháp một nhà cách mạng An Nam lão thành từ Trung Quốc đến. Chính phủ Pháp thường quen yêu cầu trục xuất các nhà cách mạng An Nam lưu vong ở Xiêm; người vừa mới bị trục xuất đã bị chặt đầu không xét xử sau khi đến Sài Gòn được 24 tiếng đồng hồ.

Công tác đã làm được:

Chúng tôi đã lập một nhóm bí mật gồm 9 hội viên, trong đó có:

2 người đã được phái về nước.

3 người ở tiền tuyến (trong quân đội của Tôn Dật Tiên).

1 người đang đi công cán quân sự (cho Quốc dân đảng).

Trong số hội viên đó, có 5 người đã là đảng viên dự bị của Đảng Cộng sản.

Chúng tôi còn có 2 đoàn viên dự bị của Đoàn Thanh niên Cộng sản Lênin.

Chúng tôi có tại Xiêm một trạm – cơ sở (để đưa đón người ra vào) khá vững. ở đó có chừng 50 người làm ruộng đoàn kết chặt chẽ và trước đây đã giúp được rất nhiều việc. Giờ đây, chúng tôi phải tổ chức họ lại về mặt chính trị và củng cố cơ sở đó về mặt kinh tế, bằng cách mở rộng nó.

Những việc chúng tôi phải làm trong nǎm nay:

a) Thiết lập một cơ sở hoạt động tại Quảng Châu.

b) Thiết lập những cơ sở giao thông:

1. ở Quảng Tây.

2. ở phía cực Nam Quảng Đông.

3. ở Bǎng Cốc.

4. ở Tích Kho (điểm kết thúc của đường xe lửa Bǎng Cốc và cách Lạc Phách 20 ngày đường).

5. ở Lạc Phách, trên tả ngạn sông Mê Kông và cách Trung Kỳ 15 ngày đường.

c) Phái một đồng chí về ở trong nước để thu thập và chuyển tin tức.

d) Phái một hoặc nhiều đồng chí làm việc trên các tàu thuỷ đi lại giữa Trung Quốc và Đông Dương.

Tất cả những công việc cần thiết ấy sẽ tốn chừng 5.000 đôla.

e) Gửi sinh viên An Nam sang học Trường đại học cộng sản ở Mátxcơva.

Những điều tôi yêu cầu các đồng chí:

Một đồng chí khác và tôi, chúng tôi chỉ có thể để dành dụm – đến mức cao nhất – từ 100 đến 150 đôla mỗi tháng, số tiền này hoàn toàn không đủ cho công tác khẩn cấp của chúng tôi. Vậy tôi yêu cầu các đồng chí:

1. Vui lòng cấp cho tôi một số tiền.

2. Cho tôi biết là có thể gửi bao nhiêu sinh viên An Nam sang Mátxcơva.

3. Tôi sẽ cám ơn các đồng chí rất nhiều nếu các đồng chí trả lời những yêu cầu của tôi bằng điện báo.

4. Gửi cho tôi tài liệu tuyên truyền bằng tiếng Pháp (để cho sinh viên An Nam và binh lính Pháp).

Xin gửi lời chào cộng sản
NGUYỄN ÁI QUỐC

—————————

Tài liệu tiếng Pháp , lưu tại Cục lưu trữ Vǎn phòng Trung ương Đảng
cpv.org.vn

Con rùa (2-1925)

Truyện

Cốc! Cốc! Cốc!

– Ai đấy? Ông Xã, lý trưởng làng La Lo 1 , vừa hỏi to vừa bước ra mở cổng cái vườn con… Chào ông anh ạ! Ông nói với người vừa ló ra. May mắn làm sao tệ xá lại được vinh hạnh đón tiếp ông anh quá bộ lại chơi thế này?

– Trời bao nhiêu sao thì xin mừng bác phúc lộc bấy nhiêu, khách lạ trả lời. Chả là tôi mang đến bác tờ trát của quan sứ.

Xem lướt xong lệnh của quan trên, ông Xã gãi đầu gãi tai. Ông có vẻ quýnh lắm.

– Gì thế, ông? Bà vợ lo lắng hỏi.

Ông Xã không đáp, chỉ ra hiệu cho người bạn đời thân quý của ông đi theo ông.

Khi chỉ còn hai người, ông nói: “Hiền thê ta ơi! Sự thể như thế này. Quan sứ đòi tôi lên dinh ngài. Nhà nó cũng biết đấy: Quan là một ông Tây tốt chỉ thích của tốt, cho nên mình mà vào nhà ngài hai tay rỗng không thì khi ra khỏi nhà ngài là đôi mông no đòn. Thế nhưng nhà mình có gì coi được: gà, thỏ, vịt, gà tây, thì đã bán sạch để nộp thuế cả rồi còn đâu! Lấy gì dâng quan bây giờ?”.

Đến lượt bà vợ ông Xã trở nên tư lự. Bà biết rằng cái con người đáng sợ mà ông chồng thân yêu của bà sắp phải lên trình diện này, trước kia – trong thời kỳ bình định – đã từng chặt 75 cái đầu hào mục xứ Bắc Kỳ. Lên làm quan sứ, ông ra lệnh cứ nện đòn bất luận tên dân An Nam nào, đàn ông hay đàn bà cũng thế, qua cổng nhà ông mà không hạ mũ nón. Tính ông hung bạo làm dân chúng khiếp vía. Muốn vui chuồng gà, ông mượn gà mái của dân trong vùng, rồi chẳng bao giờ trả lại sau khi đã có cả trứng lẫn gà con. Nói tóm lại là bà biết rằng ông quan da trắng này dữ tợn lắm, và bà run sợ sẵn khi nghĩ trước đến cảnh tượng chồng bà sẽ được tiếp đón như thế nào nếu không mang gì đến đấm cái mõm công sứ.

– Tôi nghĩ ra rồi, im lặng mấy phút rồi bà nói, nghĩ cái hay lắm!

Đặt xong xuôi con rùa ngay ngắn trên cái khay bạc thuê của chính nàng hầu quan sứ, bày xong xuôi cả khay lẫn rùa lên chiếc chiếu trải trước cửa phòng giấy ngài công sứ, ông Xã đến trình diện với tất cả nỗi niềm cung kính tất phải có đối với vị đại diện của Nhà nước bảo hộ.

– Lạy quan lớn, ông vừa thưa vừa quay lại phía chiếu, dám xin quan lớn nhận cho, của mọn thôi ạ! Cái món qu… qu… 1 .

Ông không nói hết được tiếng quà, vì thoắt nhận ra rằng trên khay thế là đã khuất bóng rùa. Cái con vật, không buộc, đã thừa lúc ông Xã khốn khổ nhà ta quay đi mà chuồn mất.

Nhưng quan sứ – ngài khoan hoà rất mực – reo to lên:

– Ô cái khay đẹp quá thôi! Để ta phải gửi lên biếu quan toàn quyền mới được! Đúng hôm nay lại là ngày lễ sinh nhật toàn quyền phu nhân, hẳn bà thích lắm đấy.

“Và ông thì ông sẽ thǎng cấp cho ta”, ngài công sứ nghĩ thầm thêm trong bụng.

NGUYỄN ÁI QUỐC

Theo bài in trong sách: Truyện và ký

——————–

Báo Le Paria, số 32, tháng 2 và tháng 3-1925.
Nguyễn ái Quốc: Truyện và ký, Nhà xuất bản Vǎn học, Hà Nội, 1974, tr.39-41.
cpv.org.vn

Nông dân Trung Quốc (21-3-1925)

Nông dân Trung Quốc nghèo khổ là do những nguyên nhân chủ yếu sau đây:

1. Dân số quá đông, còn đất đai thì không đủ để canh tác.

2. Phương tiện canh tác thô sơ.

3. Công nghiệp phát triển rất kém nên không thu hút được số dân dư thừa không có việc làm, do đó trộm cướp như rươi, chúng sống bám vào nông dân.

4. Chủ nghĩa quân phiệt là một dạng cướp bóc khác.

5. Sự xâm nhập của chủ nghĩa tư bản nước ngoài buộc nông dân phải bán rẻ nông phẩm và mua hàng hoá đắt.

6. Lụt lội và các thiên tai khác. Hầu như nǎm nào cũng vậy, vùng này hay vùng khác, có khi nhiều vùng một lúc, bị lụt hoặc bão cuốn sạch, phá sạch.

7. Lòng tham của bọn địa chủ.

Hằng nǎm, tá điền phải chi phí cho một mẫu 1 ruộng

3,5 đôla tiền giống

3,5 – phân bón

1 – hao mòn dụng cụ

6 – ǎn uống cho lao động

Cộng 14 đôla.

Được mùa, một mẫu thu được 32 đôla. Trong số tiền ấy, địa chủ lấy mất 75% tức là 24 đôla; phần tá điền chỉ còn lại 25% tức là

8 đôla. Như vậy tá điền lỗ 6 đôla. Tuy có thu hoạch thêm về chǎn nuôi, đánh cá, nghề phụ và chịu thiếu thốn, người tá điền cũng khó có đủ tiền để chi tiêu. Nếu bọn kẻ cướp số 1 và số 2, hoặc bão lụt lại tiến công nữa thì người nông dân nghèo chỉ có tuyệt vọng. Anh ta chỉ còn có một cách để khỏi chết đói là dấn thân đi bổ sung cho đội ngũ bọn kẻ cướp hoặc quân phiệt để rồi lại đi tước đoạt nông dân ở các vùng khác.

Để chống lại những lực lượng áp bức ấy, với sự thúc đẩy của công nhân công nghiệp có tổ chức và được Chính phủ miền Nam cổ vũ, nông dân Trung Quốc bắt đầu tổ chức nhau lại. Điều lệ tổ chức của họ có những đặc điểm sau đây: Không được tổ chức vào hội:

a) Địa chủ có trên 100 mẫu đất.

b) Địa chủ phạm tội cưỡng bức nông dân.

c) Thầy cúng, mục sư.

d) Những người có quan hệ với đế quốc.

e) Những người hút thuốc phiện, cờ bạc.

Trước phong trào cách mạng ấy, địa chủ và kỳ hào ở thôn xã đều cảm thấy bị uy hiếp. Và chúng cũng tổ chức nhau lại. Chúng trở thành những tên phát xít và dùng những biện pháp phát xít để chống lại nông dân có tổ chức. Hǎm doạ, hành hung cá nhân, vu khống trên báo chí phản động, cướp bóc trụ sở các tổ chức, ám sát, biện pháp nào chúng cũng dùng đến, miễn là nếu không xóa bỏ được thì cũng có thể làm cho các tổ chức cách mạng bị thiệt hại. Đã có những chứng cớ cho thấy rằng có một số đại địa chủ đã treo thưởng đến 5.000 đôla cho ai giết được một chiến sĩ tích cực.

Dù sao, nông dân đã được tổ chức cũng không chịu thua. Ngay khi thấy xuất hiện tổ chức đối địch, họ tổ chức dân quân để đối phó lại.

Sinh viên và công nhân đã vào công hội đều tích cực giúp đỡ nông dân.

NGUYỄN ÁI QUỐC

———————-

Tài liệu tiếng Pháp, có ghi ngày 19-3-1925 – 21-3-1925 ở trang đầu, lưu tại Viện Hồ Chí Minh
cpv.org.vn

Đại hội công nhân và nông dân (2-5-1925)

Đây là Đại hội lần thứ nhất của nông dân tỉnh Quảng Đông và là Đại hội lần thứ hai của công nhân toàn Trung Quốc, cả hai Đại hội cùng họp chung.

Đại hội lần thứ nhất của công nhân Trung Quốc họp nǎm 1922 ở Quảng Châu. Lúc đó cũng đã quyết định sẽ họp Đại hội lần thứ hai vào nǎm sau. Nhưng bọn quân phiệt áp bức đã giết hại và bắt giam các chiến sĩ, buộc các tổ chức công nhân miền Bắc phải đi vào hoạt động bất hợp pháp. Vì vậy, các đại biểu những tổ chức ấy không thể họp đại hội vào thời điểm đã ấn định.

Khi Ngô Bội Phu và đồng bọn bị đánh đổ, hoạt động của vô sản mới lại xuất hiện trở lại ở Hoa Bắc.

Điều cần chú ý là trong khi các tổ chức công nhân phía Bắc bị bọn quân phiệt giải tán thì các tổ chức công nhân phía Nam dựa vào Chính phủ cách mạng Quốc dân đảng lại phát triển nhanh chóng.

Sau khi tập hợp được lực lượng và chấn chỉnh lại đội ngũ ở phía Bắc, vô sản trong toàn Trung Quốc mới triệu tập Đại hội lần thứ hai ở Quảng Châu ngày 1 tháng 5.

Những người cách mạng Quảng Đông, trong khi giúp đỡ vô sản ở thành phố cũng không quên vô sản ở nông thôn. Trong hai nǎm, họ đã tập hợp được hơn 200.000 bần nông và công nhân nông nghiệp vào tổ chức.

Để có một sự lãnh đạo thống nhất về công tác và đấu tranh, nông dân có tổ chức ở các huyện quyết định họp Đại hội tỉnh lần thứ nhất.

Do đã nhất trí với nhau và nhằm thực hiện một mặt trận thống

nhất giữa những người bị bóc lột ở các thành phố với những người bị bóc lột ở nông thôn, những người lãnh đạo đã triệu tập đồng thời vào một lúc hai Đại hội họp ở cùng một địa điểm.

Khai mạc Đại hội – Cổng chính và đại lễ đường Trường đại học Quảng Châu trang trí rất đẹp bằng cờ đỏ và cờ đuôi nheo. ở ngay cửa vào có treo một tấm bảng lớn kết toàn bằng hoa, trên có câu “Vô sản và nông dân đoàn kết” (tất nhiên là bằng chữ Trung Quốc). Trên lễ đài có chân dung bác sĩ Tôn Dật Tiên, chân dung Các Mác, Lênin, Lipnếch và Rôda Lucxǎmbua. ở hai bên phòng họp, có treo ảnh các chiến sĩ đã hy sinh vì sự nghiệp của vô sản Trung Quốc, có tranh vẽ và khẩu hiệu cách mạng, những lời chúc mừng của các tổ chức công nhân, binh lính và nông dân.

Trước giờ, phòng họp đã chật ních. Lễ khai mạc mở đầu bằng bản nhạc và bài Quốc tế ca. Những người đại diện của Quốc dân đảng và trong ban tổ chức đọc diễn vǎn chào mừng các đại biểu. Đại diện Quốc tế Công hội đỏ 33 được nhiệt liệt hoan nghênh; diễn từ của vị đại diện ấy bị ngắt quãng bằng những tràng vỗ tay vang lên như sấm.

Lễ kết thúc, các đại biểu ra tham dự cuộc biểu tình do nhân dân Quảng Châu chuẩn bị. Binh lính, sinh viên, nông dân từ các xã đến, công nhân, học sinh các trường quân sự, tất cả thanh niên cách mạng và lao động đều có mặt. Có hơn 100.000 người tham gia biểu tình. Các báo đều thừa nhận chưa khi nào có một cuộc tập trung đông đảo và phấn chấn như vậy.

Cờ đỏ dẫn đầu, đoàn biểu tình kéo đi qua các đường phố lớn, vừa đi vừa hát những bài ca cách mạng. Lời hô “Đả đảo chủ nghĩa đế quốc!”, “Cách mạng muôn nǎm!” vang đến tận các tô giới nước ngoài. Hàng nghìn thuyền bè trương cờ kéo đi trên sông, hưởng ứng lời hô của những người biểu tình bằng những lời hoan hô của những tràng pháo nổ. Thật là một cảnh tượng hùng vĩ. Những cụ già người Trung Quốc, thích cảnh phúng dụ, cho rằng rồng đỏ đã giáng trần trong thành phố. Đúng như vậy, những người biểu tình ai cũng cầm trong tay một lá cờ đỏ, hình nhỏ, có ghi một trong những khẩu hiệu sau đây:

a) Liên minh công nông muôn nǎm!

b) Trung Quốc giải phóng muôn nǎm!

c) Vô sản tất cả các nước, liên hiệp lại!

d) Đả đảo chủ nghĩa đế quốc!

đ) Đả đảo chủ nghĩa quân phiệt!

e) Vô sản Trung Quốc, chúng ta hãy đoàn kết!

g) Đả đảo bọn phản bội giai cấp công nhân!

h) Ngày làm 8 giờ muôn nǎm!

v.v. và v.v..

Không xảy ra một sự cố gì. Tôi phải nói đến điều này, bởi vì trừ ở nước Nga Xôviết và Quảng Châu cách mạng, giai cấp tư sản tất cả các nước đều có thói quen lợi dụng ngày 1 tháng Nǎm 34 để tàn sát công nhân.

Một bức điện tín. Sau cuộc lễ, Đại hội đã gửi bức điện sau đây cho Quốc tế Công hội đỏ:

“Kính gửi Quốc tế Công hội đỏ, nhờ chuyển cho các tổ chức công nhân và tổ chức cách mạng tất cả các nước.

“Bị nhiều tầng áp bức của chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa quân phiệt và chủ nghĩa tư bản, từ mấy nǎm nay, giai cấp vô sản Trung Quốc đã ra sức tổ chức nhau lại để chống bóc lột.

Trong ngày 1 tháng Nǎm này, ngày giai cấp vô sản quốc tế biểu tình chống kẻ tử thù của mình là chủ nghĩa tư bản, chúng tôi, đại biểu cho quần chúng nhân dân lao động Trung Quốc họp Đại hội toàn quốc lần thứ hai ở Quảng Châu.

“Đồng thời, chúng tôi đã có một cuộc họp chung với đại biểu của 300.000 nông dân đã có tổ chức. Chúng tôi sẽ cùng nhau hoạt động vì lợi ích của công nhân, nông dân nghèo Trung Quốc.

“Chúng tôi đều biết rằng giải phóng nhân dân lao động phải là sự nghiệp của bản thân những người lao động. Chúng tôi cũng biết rằng bọn đế quốc có mặt trận thống nhất của chúng, và rằng nếu vô sản nước Mỹ, vô sản châu Âu và vô sản Nhật Bản mà không cùng nhau tay nắm tay hành động cùng với các dân tộc bị áp bức

các nước thuộc địa và nửa thuộc địa thì không thể nào đánh đổ được chủ nghĩa đế quốc. Vì vậy, chúng ta phải xây dựng một tổ chức rộng lớn của những người vô sản toàn thế giới và của quần chúng bị áp bức bóc lột ở tất cả các nước. Có đoàn kết chúng ta mới chiến thắng được đế quốc, chiến thắng được bọn phản động và những tên phản bội Quốc tế vàng Amxtécđam 35 .

“Mặt trận thống nhất vô sản quốc tế muôn nǎm!

“Cách mạng vô sản muôn nǎm!”

Đó là ngày đầu tiên của hai cuộc Đại hội.

Việc gia nhập Quốc tế Công hội đỏ và gia nhập Hội đồng Quốc tế Nông dân ở Mátxcơva đã được ghi vào biên bản.

Sắp tới tôi sẽ gửi báo cáo chi tiết cho các đồng chí.

——————————–

Quảng Châu ngày 2-5-1925
HOWANG T.S
cpv.org.vn

Phong trào nông dân tỉnh Quảng Đông (16-10-1925)

1. Phong trào Hội nông dân bắt đầu từ huyện Hải Phong vào tháng 5-1922. Nông dân vốn bị tầng lớp quý tộc nhỏ, bọn địa chủ, bọn quan lại và bọn quân phiệt áp bức và bóc lột. Nhưng chưa bao giờ họ bị bóp nặn nặng nề như bị Trần Quýnh Minh bóp nặn hiện nay.

Thoạt đầu, nông dân Hải Phong nghĩ rằng Trần là người quê quán ở huyện này, có lẽ ông ta sẽ theo cái truyền thống “một người con quý, cả huyện hạnh phúc”. Nhưng hoá ra lại không phải thế. Những kẻ đi theo Trần đã đem tiền cướp được trong các cuộc phiêu lưu quân phiệt của chúng – mua ruộng và trở thành địa chủ mới. Chúng có nhiều phương pháp để có ruộng. 1/ Chúng làm cho Trần đánh thuế ruộng rất nặng. Những địa chủ nhỏ không thể nộp thuế được nên phải bán ruộng với giá rẻ. 2/ Trần yêu cầu tất cả các chủ đất phải đem giấy tờ để kiểm tra, nếu ai không có giấy tờ thì ruộng đất của người ấy sẽ bị tịch thu. Các gia đình nông dân đều sống chết ở đất này từ bao thế kỷ, nên đại đa số họ biết rất rõ ruộng nào là của mình, nhưng không biết giấy tờ ở đâu. Vì lẽ đó, một số lớn nông dân đã bị Trần cướp đoạt.

Ruộng đất đã đổi chủ nên hoàn cảnh của nông dân, tất nhiên, bị xáo trộn. Và những người chủ mới, có lực lượng vũ trang trong tay tha hồ bóp nặn nông dân. Toàn bộ đội quân những người chủ nhỏ bị tước đoạt đã làm tǎng đội ngũ nông dân nghèo. Vì thế đời sống trở nên khó khǎn không thể chịu được và sự nghèo khổ ngự trị khắp nơi.

Nhiều nông dân nghèo bị dồn ra khỏi làng để đi tìm việc ở Hương Cảng.

Rồi nổ ra cuộc bãi công thắng lợi của thuỷ thủ. Những công nhân mới, khi về thǎm quê, lại là người đưa tin và người tuyên truyền.

Thế là con đường đi được chuẩn bị, chúng tôi liền thừa cơ đó phát động một cuộc vận động xây dựng Hội nông dân. Ngay lập tức 5.000 nông dân đã tham gia phong trào.

2. Hiện tại 11 Hội nông dân huyện đã chính thức được thành lập. Và 13 Hội nữa sắp được thành lập. Tổng số hội viên là 465.000 người (riêng Hải Phong đã có 200.000 hội viên).

16 Hội nông dân huyện đã có đội tự vệ (Hải Phong có 500 đội viên tự vệ nông dân).

Trước đại hội Hội nông dân tỉnh vào tháng 5 nǎm ngoái đã có 20 huyện có Hội nông dân. Hiện nay, các Hội nông dân đã được thành lập ở 32 huyện.

Tháng 2-1923, Hải Phong có một vụ kiện giữa địa chủ và nông dân. Nông dân được kiện. Bọn địa chủ tung tin đồn rằng Hội nông dân sẽ thực hiện chủ nghĩa cộng sản và rằng bọn địa chủ phải tự tổ chức nhau lại để bảo vệ tài sản của mình. Một hiệp hội đã được thành lập với hơn 100 địa chủ tham gia, dưới sự lãnh đạo của một người chú của Trần. Rồi chúng buộc viên quan toà phải xét lại vụ án. Trong lúc xét xử, bọn địa chủ đến dự phiên toà rất đông. Sợ hãi, viên quan toà đã ra lệnh bắt giam 6 nông dân. Lập tức 6000 nông dân đã họp mít tinh, sau đó là một cuộc diễu hành. Càng sợ hơn, viên quan toà phải thả mấy người tù đó. Những người nông dân chiến thắng đã hân hoan đón các đồng chí của mình, họ vừa hoan hô vừa hô lớn: “Đả đảo bọn địa chủ!”.

Từ đó sự phân cách giữa địa chủ và nông dân càng rộng thêm. Vào tháng 7-1923, do tai họa về bão, 20.000 nông dân đã xuống đường tuần hành, đòi giảm 70% tô. Được lực lượng của Trần Quýnh Minh che chở, bọn địa chủ đã thu tô và không giảm chút nào. Một cuộc chiến đấu đã xảy ra và 3 nông dân đã bị bắt.

Bọn quân phiệt, bọn quý tộc, bọn quan lại và bọn hiến binh đứng về phía bọn địa chủ. Hội nông dân đã kêu gọi nông dân tiến hành một cuộc mít tinh, và 30.000 người đã hưởng ứng lời kêu gọi. Bọn địa chủ và chiến hữu của chúng đào hào, dựng chiến luỹ, tiến hành việc chuẩn bị tựa hồ như để đương đầu với cả một đội quân lớn.

Sau cuộc mít tinh, hiến binh bắt thêm 25 nông dân nữa. Nông dân muốn tiến công nhà tù, nhưng các thủ lĩnh của họ thấy rằng kẻ thù được trang bị vũ khí đầy đủ trong khi nông dân không có gì ngoài nắm tay không, nên đã ngǎn họ lại.

Sáu tháng sau 28 nông dân bị bắt mới được thả.

Từ tháng 7-1923 đến tháng 2-1924, Hội nông dân hoạt động bất hợp pháp. Sau tháng 2, Hội nông dân thử mở cửa trở lại, nhưng đã bị bọn quân phiệt đóng cửa. Chẳng bao lâu sau quân đội Quốc dân đảng đã đánh bật Trần Quýnh Minh và Hội nông dân xuất hiện trở lại một cách hợp pháp.

Với quân đội Quốc dân đảng và những thuỷ thủ bãi công ở Hương Cảng.

Trong cuộc chiến đấu giữa Trần và Quốc dân đảng (tháng 4) nông dân Hải Phong đã dành cho quân đội của Đảng mọi sự giúp đỡ dẫn đường, vận tải, giao liên, v.v.. Một vài nông dân đã nhập ngũ ra hoả tuyến.

Khi cuộc bãi công nổ ra, nông dân đã tiến hành nhiều cuộc biểu tình đoàn kết, họ đã quyên góp nhiều nghìn đôla vào quỹ bãi công; họ giúp đỡ đội bảo vệ của những người bãi công ngǎn chặn việc tuồn thực phẩm vào Hương Cảng.

Tháng 9, khi quân đội của Trần lại trở về Hải Phong, đội tự vệ nông dân đã chiến đấu rất dũng cảm và chỉ rút lui khi họ bị quân thù đông hơn về số lượng đè bẹp, 50 nông dân bị giết.

Huyện Quảng Ninh.

Bọn địa chủ được vũ trang mạnh. Nông dân chỉ được hưởng 30% sản phẩm, còn 70% thì rơi vào bọn địa chủ.

Một vài người quê quán ở huyện này làm việc ở các xưởng dầu tại Quảng Châu. Chính họ là những người thúc đẩy Hội nông dân. Lúc đầu bọn địa chủ coi khinh nông dân, công nhân và không chú ý đến tổ chức của họ. Nhưng khi Hội nông dân đã thành lập và nông dân đã biểu lộ nhiệt tình và có ưu thế về số lượng thì bọn địa chủ liên kết lực lượng của chúng với lực lượng của bọn quân phiệt. Chúng đốt phá các trụ sở của Hội nông dân, giết và làm bị thương nhiều hội viên. Hành động tàn ác đó của bọn địa chủ khiến cho nông dân càng thêm trung thành với tổ chức của mình và càng kiên quyết đấu tranh. Vì bọn địa chủ tập trung lực lượng của chúng vào 3 làng nên nông dân đã rút sang những làng khác và bí mật tổ chức đội tự vệ của mình.

Mùa đông nǎm ngoái, họ bắt đầu tiến hành phong trào giảm tô. Bọn địa chủ đã thuê bọn phỉ dùng vũ lực để thu tô.

Đó là một cuộc chiến tranh thật sự. Mỗi bên tham chiến đều có lãnh thổ và sở chỉ huy của mình. Để thúc giục Chính phủ giúp đỡ, nông dân đã tiến hành một cuộc mít tinh với 10.000 người tham dự. Phụ nữ và trẻ em cũng tham gia cuộc biểu tình. Chính phủ đã phái đội vệ sĩ và đội xe bọc thép đến giúp nông dân.

Viên chỉ huy đội vệ sĩ đã ǎn hối lộ của bọn địa chủ và đề nghị nông dân ký một bản hoà ước với điều kiện là 7 địa chủ cầm đầu cuộc gây rối sẽ bị trừng phạt. Một tên cầm đầu khác được quan toà che chở thì muốn đánh lừa mọi người bỏ qua tội lỗi của mình nên mời các thủ lĩnh nông dân và các sĩ quan đội xe bọc thép đến dự một tiệc lớn. Các khách đã đến dự và khi tiệc tan họ đã bắt giữ y.

Trước khi hội nghị hoà bình có thể diễn ra, 5 nông dân ở những làng khác đã bị bọn địa chủ giết hại. Lập tức, cuộc chiến đấu lại tiếp diễn. Viên chỉ huy vệ sĩ ǎn hối lộ đã bị thải hồi và một sĩ quan khác lên chỉ huy, nhưng đó mới chỉ là biện pháp đầu tiên. Quân thù cố thủ trong pháo đài, song pháo đài cũng bị nông dân vây hãm. Khi nước tiếp tế của chúng đã hết, bọn địa chủ đã phải quy phục.

Cuộc xung đột kéo dài 3 tháng, kết thúc bằng thắng lợi của nông dân.

Huyện Hoa Yên.

Bọn địa chủ ở đây không những chống lại Hội nông dân mà còn âm mưu lật đổ chính quyền. Vụ âm mưu này đã bị Chủ tịch Hội nông dân phát giác và đã báo cho nhân dân biết. Sau khi bị thất bại trong vụ này, bọn địa chủ đã chi một số tiền lớn để lo lót cho viên quan ở toà án huyện. Nhưng khi đã ngồi vào cương vị của mình rồi, viên quan toà mới vì thiếu can đảm nên đã chẳng làm gì để chống lại Hội nông dân.

Thấy mọi mưu toan của mình bị thất bại, bọn địa chủ đã dùng đến hành động trực tiếp. Chúng thuê phỉ giết hại các chiến sĩ và phá hoại Hội nông dân. Trong thời gian có những biến động chính trị ở Quảng Châu, bọn địa chủ đã tấn công. Đây đó đã diễn ra cuộc chiến đấu nhỏ, bởi vì nông dân tuy không được vũ trang, nhưng đã không từ bỏ cuộc chiến đấu. Chủ tịch Hội đã bị giết trong một cuộc chiến đấu, và kẻ thù đã chặt chân tay, cắt tai và mổ bụng ông.

Khi cuộc bạo loạn của bọn quân phiệt thất bại và những phần tử phản cách mạng đã bị Chính phủ Quốc dân đảng diệt sạch thì bọn địa chủ vì đã mất chỗ dựa, nên chấp nhận tất cả các yêu sách của nông dân.

Huyện Vệ Hoa.

Trong cuộc chiến tranh mới đây giữa Chính phủ Quốc dân đảng và Trần Quýnh Minh, nông dân huyện Vệ Hoa giống như các đồng chí của họ ở các huyện khác, đã dành cho binh lính của Đảng bất kỳ sự giúp đỡ nào mà họ có thể làm được. Vì lẽ đó, Trần đã trả thù, khi quay lại vùng này. Y đã giải tán các Hội nông dân bằng lực lượng quân sự. Y đã đánh thuế nặng. Hội nông dân đã kêu gọi 2.000 hội viên và tiến hành một trận chiến đấu công khai chống tên quân phiệt này. Nông dân có 120 người bị giết và bị thương. Sau trận chiến đấu, mặc dù bị thất bại, nông dân vẫn tập trung lực lượng của mình, tiến hành phòng ngự và loan tin rằng họ đang chờ quân đội của Đảng. Họ đã giữ vững được trận địa của mình trong một thời gian. Về sau, khi phát hiện quân tiếp viện của Đảng

không tới, quân địch đã đánh bật nông dân ra khỏi sở chỉ huy của họ, đốt cháy 50 ngôi nhà, cướp đi 410 con trâu, đấy là chưa nói đến việc cướp bóc tiền bạc và các thứ khác.

Các huyện khác cũng ở vào một hoàn cảnh gần như thế về mặt tổ chức, hoạt động và chiến đấu.

Bọn địa chủ: Chúng không có tổ chức vững chắc. Việc chúng lên hay xuống liên quan đến sự lên xuống của những phần tử phản cách mạng. Trong thời gian xảy ra vụ Thương Hô, cuộc bạo loạn của Lưu và Dương, sự ổn định của Trần Quýnh Minh và việc để cho bọn quân phiệt nhỏ nhập ngũ phục vụ Chính phủ làm cho bọn địa chủ lên đến mây xanh. Một khi bọn bè bạn phản cách mạng của chúng bị đè bẹp thì chúng lại rơi sụp xuống đất và trở thành những “người bạn tốt” của nông dân.

Thanh niên và phụ nữ. Khoảng 1/3 hội viên Hội nông dân là thanh niên. Nhiều người trong số họ là cán bộ của Hội nông dân. Cũng có phụ nữ và nữ thanh niên, nhưng rất ít. Thuận Đức và Hải Phong có câu lạc bộ thanh niên nông dân. ở Hải Phong có một nhóm thiếu niên tiền phong, song tiếc thay nhóm này tổ chức chưa hoàn chỉnh.

Trao đổi tin tức. Sẽ là một điều rất lý thú nếu thiết lập được sự trao đổi tin tức giữa thanh niên nông dân với Ban thanh niên của Quốc tế Nông dân. Nhưng hiện nay việc này không thực hiện được vì có khó khǎn về giao thông liên lạc cũng như khó khǎn về ngôn ngữ.

Ngày 16-10-1925. NILỐPXKI

————————-

Tài liệu tiếng Anh, lưu tại Viện Hồ Chí Minh
cpv.org.vn

Phong trào nông dân tỉnh Quảng Đông

Những câu hỏi sau đây đã được gửi đi tất cả các Hội nông dân huyện.

1/ Nguồn gốc của Hội nông dân và tình hình hiện nay của nó.

2/ Kinh nghiệm.

3/ Hội viên.

4/ Đội tự vệ nông dân.

5/ Quan hệ giữa Hội nông dân và các tổ chức khác.

6/ Thanh niên nông dân và giáo dục của họ.

7/ Tuyên truyền chính trị.

8/ Tiếng vang chính trị từ Quảng Châu.

9/ Quan hệ với công nhân công nghiệp.

10/ ảnh hưởng của đạo Cơ đốc.

11/ Những yêu sách trước mắt của nông dân.

A) TRẢ LỜI CỦA HYUYỆN T HANH VIỄN

1/ Phong trào có cùng một nguồn gốc như nhau đối với tất cả các huyện, không trừ một huyện nào. Đó là sự áp bức về kinh tế và chính trị.

ở tất cả các nơi, phong trào vấp phải sự chống đối mạnh mẽ của bọn địa chủ và bọn kỳ hào bằng các thủ đoạn từ tung tin nhảm đến ám hại những người đấu tranh. Nông dân hǎng hái tổ chức nhau lại. Nhưng vì chưa giác ngộ về lực lượng của chính mình, họ

vẫn giữ thói quen tin vào Chính phủ.

2/ Khi thành lập, Hội nông dân Thanh Viễn đã trải qua những cuộc đấu tranh dưới đây:

a/ Có một cường hào độc ác quen thói áp bức nông dân đã ngǎn cản họ tham gia Hội nông dân. Ngay khi được tổ chức, phong trào nông dân đã bắt và giải y đến huyện trưởng, người này đã nhận được thư của ông Lưu Trọng Khải, đã quá cố, nên đã giam tên cường hào một thời gian dài. Thắng lợi này đã tǎng cường ảnh hưởng và tiếng tǎm của Hội nông dân; và nông dân đã nhanh chóng tham gia tổ chức.

b/ Có hai làng ở gần nhau, làng A và làng B cách nhau một quả đồi và quả đồi đó là của làng A. Có một tục lệ là nông dân cả hai làng đều có thể lên đồi cắt cỏ và kiếm củi khô trừ những cây do làng A trồng. Có một lần nông dân làng B (đã có Hội nông dân của mình) đi cắt cỏ trên đồi, nhưng họ bị bọn kỳ hào làng A (làng này không có Hội nông dân) đuổi đánh. Phong trào nông dân làng B đã tới để bảo vệ dân làng mình và bắt giữ những viên kỳ hào xúc phạm. Những viên kỳ hào đã thừa nhận lỗi lầm của họ và trả 800 đôla để bồi thường thiệt hại. Nhưng về sau người ta đã tuyên bố tình trạng chiến tranh giữa hai làng và tình trạng chiến tranh kéo dài đến 3 tháng.

Làng A nhận thấy Hội nông dân các nơi khác mỗi ngày một mạnh thêm, nên đã phải chịu trả 300 đôla tiền phạt và ký một hiệp nghị có lợi cho làng B.

c/ Một tuyên truyền viên của Hội nông dân bị tiến công. Nông dân yêu cầu viên huyện trưởng trừng trị những kẻ cầm đầu cuộc tiến công. Bọn này đều là kỳ hào. Quan toà xử phạt bọn kỳ hào phải trả cho Hội nông dân 150 đôla.

3/ Hội viên. 40 làng có 2303 hội viên. 8 làng nữa sẽ chính thức thành lập Hội nông dân của mình trong tương lai gần đây nhất.

4/ Đội tự vệ nông dân. 684 người với 563 súng trường (do địa phương chế tạo).

5/ Đội hương dũng. Lúc đầu được thành lập để bảo vệ dân làng chống lại bọn kẻ cướp, giờ đây đã trở thành công cụ của bọn kỳ hào chống lại nông dân. Mỗi nǎm mỗi người nông dân phải nộp cho tổ chức này:

Thuế đầu người 15 cân thóc

Thuế nhà 15 cân thóc mỗi gia đình

Thuế trâu 15 cân thóc mỗi gia súc

Thuế thu hoạch mùa màng 50% sản lượng thóc.

Đội hiến binh hương lý. Nông dân phải nộp cho tổ chức này:

Thuế gia đình 0,20 đôla

Thuế trâu 0,20 đôla mỗi con

Thuế thu hoạch mùa màng 5% sản lượng.

Những tổ chức này nói chung đều chống lại Hội nông dân.

Bọn kẻ cướp. Chúng chống lại Hội nông dân khi chúng bị bọn địa chủ, bọn kỳ hào thuê. Nếu không thì chúng trung lập, thậm chí đôi khi có cảm tình với chúng ta.

Binh lính. Thái độ của họ tuỳ thuộc thái độ các sĩ quan của họ. Một số thì ủng hộ Hội nông dân; một số khác – bị bọn địa chủ mua chuộc – thì chống lại Hội nông dân.

6/ Thanh niên nông dân. Hoàn toàn thất học: trên 30% số còn lại chỉ được đi học một hoặc hai nǎm, và chỉ có học vấn hoàn toàn sơ đẳng và rất lạc hậu. Làm việc rất vất vả. Sống rất nghèo túng. Số người thất nghiệp tǎng, không có sự vui chơi giải trí nào. Trình độ học vấn rất thấp. Nhiều người tham gia Hội nông dân.

7/ Tuyên truyền chính trị. Lúc đầu nông dân rất sợ chủ nghĩa cộng sản, vì họ nghe nói (do bọn địa chủ nói) rằng những người cộng sản xã hội hoá phụ nữ. Bây giờ họ đã hiểu chút ít rằng chủ nghĩa cộng sản thật ra là cái gì và họ tin rằng Đảng cộng sản là đảng duy nhất có thể giải thoát họ khỏi sự khốn cùng hiện tại của họ.

8/ Chúng ta có 8 đảng viên cộng sản và 5 đoàn viên thanh niên cộng sản hoạt động trong nông dân ở huyện này.

9/ Nông dân có tổ chức vốn đứng về phía Chính phủ dân tộc chủ nghĩa. Nhưng khi chúng tôi trình bày trong báo cáo này, vì chưa giác ngộ về sức mạnh của chính mình, họ cảm thấy bǎn khoǎn và nghi ngờ trước mỗi thay đổi về chính trị ở Quảng Châu. Bọn địa chủ đã lợi dụng mọi cơ hội – cuộc nổi dậy của Lưu và Dương, vụ ám hại Liêu Trọng Khải, v.v., để tung tin đồn nhảm nhằm làm cho nông dân lo sợ. Nhưng lần nào cũng vậy, chúng ta đều nhanh chóng chống lại bằng cách tǎng cường công tác tuyên truyền và giờ đây nông dân đã hiểu hoàn toàn rõ tình hình chính trị.

10/ Một số ít công nhân trong huyện này còn chưa được tổ chức, vì thế giữa Hội nông dân với họ không có mối liên hệ.

Từ khi có cuộc bãi công chống đế quốc, những người bãi công quê quán ở huyện này đã trở về làng và thành lập ra Hiệp hội những người bãi công. Giữa Hội nông dân và Hiệp hội những người bãi công có mối liên hệ rất chặt chẽ.

11/ Có 3 trường truyền giáo nhưng có rất ít học viên. Những trường này không có ảnh hưởng đối với nông dân là những người phản đối đạo Cơ đốc, không phải vì coi đạo Cơ đốc là công cụ của chủ nghĩa đế quốc (họ còn chưa hiểu), mà vì coi đạo Cơ đốc là một tôn giáo ngoại quốc và phản tổ tiên. Một trong những trường đó gần đây đã bị đóng cửa.

12/ Những yêu sách trước mắt:

Xoá bỏ đội hương dũng

Xoá bỏ thuế nặng nề

Súng giá rẻ (nhà nước phải bán cho họ)

Tổ chức hợp tác xã

ấn định chuẩn mực thuế.

B) TRẢ LỜI CỦA HOA UYÊN

1/ Hội nông dân được thành lập vào tháng 10-1924. Tuy còn non trẻ nhưng Hội đã dạy cho các hội viên biết dựa vào sức mình hơn là dựa vào người khác. Trong thời kỳ đầy những tin đồn đại về chính trị, một số làng đã không ngần ngại chính thức hành động mở màn. Đó là một tiến bộ lớn. Trở ngại chủ yếu trên con đường phát triển đầy đủ của Hội nông dân là những khó khǎn về tài chính.

2/ Những trận chiến đấu lớn đã diễn ra giữa nông dân và địa chủ, chúng phá hoại các trụ sở của nông dân và giết hại những người lãnh đạo của họ. Cuối cùng địa chủ đã thất bại và buộc phải ký những hiệp định dưới đây:

a/ Trừng phạt những kẻ chịu trách nhiệm về việc gây ra xung đột

b/ Bồi thường 1000 đôla cho Hội nông dân

c/ Bồi thường 2000 đôla cho người bị giết

d/ Phải trả 800 đôla phí mai táng

e/ Cam kết sau này không gây rắc rối cho Hội nông dân nữa.

3/ Hội viên. 19 làng có 2100 hội viên.

4/ Chỉ có một làng đã tổ chức phong trào nông dân với 15 hội viên.

5/ Trước kia, đội hương dũng có hơn 10.000 đội viên và 4000 khẩu súng. Nhưng hiện nay nó đang teo dần đi đến tan rã.

Một vài bǎng cướp muốn lợi dụng phong trào nông dân, một số khác chống lại phong trào nông dân, nhưng chỉ trên lời nói.

Binh lính đóng ở huyện thì trung lập.

6/ Thanh niên. Trình độ tri thức cao hơn một chút so với trình độ tri thức của thanh niên Thanh Viễn. Có nhiều trường học hơn. Đại đa số thanh niên phụ thuộc vào gia đình của họ. Nhiều người đã tham gia Hội nông dân.

7/ Trình độ hiểu biết chính trị cũng giống như trình độ hiểu biết chính trị ở Thanh Viễn. Thoạt đầu, nông dân cũng sợ chủ nghĩa cộng sản. Giờ đây họ mong mỏi thực hiện chế độ cộng sản. Họ nghĩ rằng Quốc dân đảng và Hội nông dân cũng giống nhau thôi.

8/ Chúng ta có 13 đảng viên cộng sản hoạt động trong phong trào; 4 người trong số đó là nông dân ở địa phương.

9/ Tiếng vang chính trị. Bất chấp sự tuyên truyền của bọn địa chủ, nông dân rất ít bị kích động bởi những lời đồn nhảm về chính trị.

10/ Công nhân dầu mỏ ở Quảng Châu, người quê ở huyện này, đã giúp đỡ Hội nông dân rất nhiều trong việc tuyên truyền cũng như trong việc tổ chức hoạt động. Nhưng bản thân công nhân sống ở trong huyện thì chưa được tổ chức, vì vậy không có mối liên hệ giữa họ với Hội nông dân.

11/ Có 4 trường truyền giáo, nhiều học viên. Nhưng chỉ có khoảng 1 hoặc 2% học viên trở thành người theo đạo.

12/ Những yêu sách trước mắt :

Dẹp yên bọn cướp

Cấm trò cờ bạc và chơi bời, do bọn kỳ hào bảo trợ vì trò cờ bạc và chơi bời này gây tai hại trong gia đình nông dân

Thống nhất Quảng Đông

Xoá bỏ thuế khoá nặng nề.

C) THUẬN ĐỨC

1/ Hội nông dân ở đây bắt đầu hoạt động nǎm 1921. Do cánh hữu của Quốc dân đảng khởi xướng, nhằm tǎng cường lực lượng của họ. Cuối nǎm 1922, chúng tôi bắt đầu công tác tuyên truyền của mình. Nǎm 1923, hai Hội nông dân làng được thành lập, với 300 hội viên. Từ tháng 7 đến tháng 10 lại có thêm 18 Hội nông dân nữa được thành lập bởi 5 học viên Trường nông dân. Tháng 3-1925 số hội viên đã lên tới 1400 người.

2/ Đấu tranh. Có một làng bị bọn lính của Lý Phúc Lâm đốt trụi và 30 nông dân bị chúng giết hại. Một kỳ hào ở làng bên vì xung đột cá nhân với làng bị triệt hạ, nên đã dẫn bọn lính đến đốt phá.

Một vài chiến sĩ đã bị giết hại và một số khác bị bọn kỳ hào bắt giữ. Những sự áp bức đó khiến cho nông dân vô cùng phẫn nộ và hiểu rằng phải tự tổ chức nhau lại để bảo vệ lợi ích và an ninh của mình.

3/ Hội viên. 48 Hội nông dân làng với 4000 hội viên.

4/ Đội tự vệ nông dân chưa được tổ chức.

5/ Một vài đội hương dũng vẫn giữ trung lập, và một số khác chống lại chúng tôi. Bọn này đã giết hại một chiến sĩ của chúng tôi, chúng đã cướp bóc và bắt giữ nhiều người trong số các chiến sĩ của chúng tôi.

Dù bọn kẻ cướp rất mạnh nhưng chúng chưa phạm một điều gì chống lại Hội nông dân.

Bề ngoài binh lính đồn trú có thái độ trung lập, nhưng trong thực tế chúng chống lại chúng tôi, việc giết chóc kể trên đã cho thấy rõ điều này.

6/ Thanh niên. Trình độ học vấn rất thấp. Điều kiện sinh sống khá hơn ở các huyện khác. 40% hội viên Hội nông dân là thanh niên nông dân. Có một “Câu lạc bộ thanh niên nông dân và công dân” mới được thành lập trong thời gian gần đây.

7/ Một vài nông dân rất muốn biết về chủ nghĩa cộng sản. Họ yêu cầu chúng tôi cung cấp nhiều sách báo của Đảng hơn nữa và tài liệu để đọc khác. Nhiều người khác chǎm chú nghe chúng tôi dù rằng họ chưa xác định lập trường.

8/ Chúng tôi có 6 đảng viên cộng sản hoạt động tại đây.

9/ Nông dân vẫn còn lo sợ khi có biến động chính trị nào đó ở Quảng Châu.

10/ Có quan hệ tốt giữa Hội nông dân và các tổ chức công nhân.

11/ Đạo Cơ đốc. Chưa nghiên cứu, không thể báo cáo được.

12/ Trong huyện có 20 phân bộ Quốc dân đảng.

13/ Những yêu sách trước mắt:

Xoá bỏ thuế cây dâu

Trừng trị những hào lý gây thiệt hại cho Hội nông dân.

D) KHÚC GIANG

1/ Hội nông dân này bắt đầu hoạt động tháng 5-1925.

2/ Đấu tranh. Có một chiếc cầu, muốn đi qua nông dân phải trả 1 xu trong lúc binh lính hoặc người ǎn mặc sang trọng không phải trả gì hết. Một lần, một hội viên nông dân muốn đi qua cầu mà không trả tiền; người gác cầu không để cho anh ta qua cầu như vậy. Tiếp đó đã gây ra một trận đánh nhau. Hiến binh đã bắt người hội viên nông dân. Hội nông dân can thiệp và thứ thuế này bị bãi bỏ. Nông dân coi đó là một thắng lợi lớn về tinh thần.

b/ Hiến binh không phải là bạn tốt của nông dân và nông dân cǎm ghét chúng đến xương tuỷ. Có một lần, một tên hiến binh bị mấy người nông dân giết ở trên núi. Pháp luật không thể buộc tội được vì không tìm được bằng chứng.

c/ Một cuộc biểu tình của nông dân đã nổ ra. Khẩu hiệu là “Đả đảo việc bắt bớ phu phen!”. Thông thường, chính hiến binh là kẻ tiến hành việc bắt bớ, nên nông dân coi họ là những kẻ phải chịu trách nhiệm. Trên đường tuần hành, họ gặp một viên trưởng hiến binh. Họ đã nện cho y một trận đòn nên thân rồi giải tới huyện. Mặc dù họ phải bồi thường 42 đôla cho gã hiến binh, nhưng lại hài lòng vì đã cho hiến binh một bài học.

3/ Hội viên – 120 làng có 6.740 hội viên.

4/ Đội tự vệ còn chưa được tổ chức.

5/ Giữa bọn hương dũng và Hội nông dân chưa có xung đột, mặc dù bọn hương dũng bí mật giúp đỡ bọn địa chủ chống chúng ta.

Một vài toán cướp vẫn còn có thái độ trung lập. Một số khác có thái độ thân thiện.

6/ Trước khi Hội nông dân được thành lập, quân đồn trú thường phá hoại các cây quả trong vườn của nông dân. Nhưng hiện nay chúng không dám đụng đến nữa. Chúng cũng tôn trọng nông dân hơn trước.

Phải vạch rõ rằng viên huyện trưởng hiện nay rất thân thiện với Hội nông dân.

7/ Thanh niên: 80% thất học. Trong 120 làng đã có Hội nông dân không có một người nào đọc được báo. Trong những làng này, chúng tôi thấy chỉ có 15 trường nhỏ với 280 học sinh.

Thanh niên nông dân ở đây cùng khổ hơn ở bất kỳ huyện nào khác. Bên cạnh công việc nặng nhọc hằng ngày, họ còn phải làm những công việc mà người lớn tuổi không muốn làm, như canh sông ban đêm chẳng hạn.

Có chừng 2400 thanh niên nông dân đã tham gia Hội nông dân.

8/ Nông dân tán thành cương lĩnh của Đảng cộng sản. Nhiều người trong nông dân đã tham gia Quốc dân đảng.

Một phân đoàn của “Liên đoàn đấu tranh giải phóng phụ nữ” mới được thành lập gần đây, do một đồng chí nữ của chúng ta tổ chức, 20 hội viên, tất cả đều là nông dân nữ.

Chúng ta có 13 đảng viên cộng sản hoạt động trong phong trào, trong số đó 6 người là nông dân địa phương.

9/ Tiếng vang chính trị – Nông dân ở đây đau khổ rất nhiều vì thuế quân sự và vì việc bắt phu phen. Vì thế họ lo ngại trước bất kỳ biến động nào về chính trị hay quân sự ở Quảng Châu.

Họ rất lo ngại về cái chết của Liêu Chung Khải. Nhưng khi Chính phủ xét xử nghiêm khắc những phần tử phản cách mạng và bọn lính ngoan cố và khi chúng ta giải thích cho họ biết ý nghĩa của sự kiện thì họ hoàn toàn hiểu rõ tình hình. Trong cuộc trường chinh sông Đông hiện nay, 300 nông dân đã tình nguyện giúp đỡ quân đội cách mạng.

10/ Mặc dù giữa các tổ chức của công nhân và Hội nông dân chưa có quan hệ với nhau, nhưng nông dân hoàn toàn hiểu đúng sự cần thiết phải hợp tác và đoàn kết giữa các tổ chức của công nhân và Hội nông dân.

11/ Có 7 trường truyền giáo (Anh, Pháp, Mỹ và Đức) ở huyện lỵ với khoảng 1000 học sinh. Sinh viên và nhà buôn có vẻ rất ngả theo ảnh hưởng của đạo Cơ đốc, trong khi nông dân triệt để chống lại ảnh hưởng của đạo Cơ đốc.

Không thấy có nông dân nào theo đạo.

12/ Những yêu sách trước mắt:

Giảm thuế

Cung cấp vũ khí để tổ chức đội tự vệ nông dân.

E) PHÙ NGUYÊN (GẦN HƯƠNG CẢNG)

1/ Huyện này có 2 địa chủ lớn có hơn 500 mẫu ruộng; 10 địa chủ có từ 200 đến 500 mẫu; 50 địa chủ có từ 100 đến 200 mẫu; 200 địa chủ có từ 50 đến 100 mẫu; 1.000 địa chủ có từ 30 đến 50 mẫu; 3.000 địa chủ có dưới 30 mẫu.

Một người làm mướn cho nông trại mỗi nǎm được từ 20 đến 100 đôla.

Phong trào bắt đầu bùng nổ vào đầu nǎm nay – nổ ra là do sự bóc lột của bọn quân phiệt, bọn hào lý và bọn hiến binh.

Tình hình của Hội nông dân là tốt.

2/ Đấu tranh. Hội nông dân đã thành công trong việc tước vũ khí một vài đội hương dũng, đã làm cho một hiến binh trưởng bị cách chức, đã chống lại quân đồn trú (6 nông dân đã bị giết).

3/ Hội viên. 55 làng với 7635 hội viên và 300 hội viên dự bị.

4/ Đội tự vệ nông dân có 1500 người có súng, nhưng chưa được huấn luyện, 2 chi đội thường trực, mỗi chi đội có 30 người.

5/ Hội nông dân đã giúp đỡ đội bảo vệ cuộc bãi công ngǎn chặn trộm cắp. Điều này làm cho bọn kẻ cướp tức tối; để trả thù, chúng đã ủng hộ bọn quân phiệt chống lại chúng ta. Một vài đội hương dũng đã bị Hội nông dân thu hút, một số khác còn trung lập, trong khi đó có một số chống lại chúng ta.

6/ Thanh niên. Mỗi làng có 1 hay 2 trường tư. Rất mê tín (một phong tục kỳ lạ: khi cô dâu mới cưới về thǎm bố mẹ mình ba ngày sau khi cưới, cô ta phải kêu khóc khi về đến gần làng). 10% hội viên Hội nông dân là những nông dân trẻ dưới 28 tuổi.

7/ Khoảng 150 nông dân ở huyện này là đảng viên Quốc dân đảng.

8/ Khác với nông dân các huyện khác, nông dân Phù Nguyên không dễ dàng bị xao xuyến bởi những sự kiện chính trị xảy ra ở Quảng Châu.

9/ Quan hệ giữa nông dân và công nhân rất chặt chẽ và có hiệu quả, như việc nông dân tham gia ngǎn ngừa trộm cắp để tiếp tế cho Hương Cảng đã cho thấy rõ điều này.

10/ Yêu sách trước mắt:

Giảm thuế.

F) TÂN HỘI

1/ Nông dân ở đây rất khổ vì bị bọn phỉ, bọn quan lại, bọn quân phiệt và tầng lớp quý tộc cũ cướp bóc. ở một vài nơi thậm chí còn tồn tại chế độ nô lệ. Nét đặc trưng của huyện này là phỉ lại đẻ thêm ra phỉ, và có những người nông dân lương thiện trở thành phỉ không phải để cướp bóc, mà là để tự vệ. Trong xã Lý ắc, một xã lớn, 3.000 trong số 10.000 dân đã trở thành phỉ, vì nếu một gia đình nào đó không có một người tham gia bǎng phỉ thì gia đình đó sẽ bị những tên phỉ khác áp bức. Nhiều người trong bọn phỉ đó là những người kiên quyết ủng hộ Hội nông dân.

2/ Đấu tranh. Có một tài chủ nào đó có 10.000 đôla công trái. Viên huyện trưởng tịch thu thuyền (20 chiếc) của nông dân trong làng gã tài chủ kia với ý định đem bán để trả nợ. Những nông dân nghèo không biết phải làm gì ngoài việc nguyền rủa cho chúng gặp những điều khốn khổ. Hội nông dân và Liên đoàn lao động đã đến cứu họ. Được công luận tạo cho sức mạnh – công luận phản đối hành động độc đoán của viên huyện trưởng -, các đại biểu của Hội nông dân và của Liên đoàn lao động gửi một tối hậu thư cho viên chánh án yêu cầu trả lại các thuyền đó trong 24 giờ. Việc đó được thực hiện đúng như vậy và thắng lợi này đã đem lại uy tín cho Hội nông dân. Từ đó nông dân hiểu rằng Hội nông dân hoạt động vì lợi ích của họ.

b/ Có một địa chủ lớn muốn sử dụng sức nước của một con sông bằng cách đắp một cái đập chặn nửa dòng sông lại. Việc đó gây ra nhiều bất tiện cho những nông dân sống ở bờ sông. Hội nông dân đã can thiệp và đã làm cho cái đập bị phá. Thắng lợi thứ hai này đã đem lại cho Hội nông dân thêm nhiều hội viên nữa.

3/ Hội viên. 14 làng. Việc điều tra số lượng hội viên chưa tiến hành được.

4/ Đội tự vệ nông dân: chỉ có 40 người và rất ít súng.

5/ Đội hương dũng. Mặc dù có 5.000 người nhưng không nguy hiểm vì tổ chức kém.

ở huyện này ít nhất có 30.000 tên phỉ; nhưng chúng rất thân thiện với Hội nông dân. Nhiều tên phỉ còn tham gia Hội nông dân.

Binh lính đồn trú trước kia rất tàn ác đối với nông dân; từ khi chúng bị Chính phủ Quốc dân đảng giải tán, toán quân mới có quan hệ với Hội nông dân.

6/ Thanh niên. Trình độ học vấn rất thấp. Làm việc rất vất vả.

7/ Do tuyên truyền phản cách mạng của bọn hào lý và bọn địa chủ, nông dân sợ hãi Quốc dân đảng. Nhưng hiện nay Hội nông dân đã thành công trong việc làm cho họ hiểu đảng này thực sự là cái gì.

8/ Trước mỗi sự kiện chính trị xảy ra ở Quảng Châu, bọn hào lý ở đây, giống như anh em chúng ở các huyện khác, đã tung tin đồn nhảm để làm cho nông dân lo sợ. ở đây chúng ta chỉ có 1 đảng viên cộng sản và hai học viên Trường nông dân để chống lại sự tuyên truyền phản cách mạng đó. Kết quả là nông dân tin những điều bọn hào lý nói với họ và do đó làm cho công tác của chúng ta trở nên khó khǎn.

9/ Quan hệ giữa công nhân và nông dân rất tốt.

10/ Những yêu sách trước mắt:

Giảm thuế,

Dẹp yên bọn phỉ.

G) TÙNG SƠN (NƠI SINH CỦA BÁC SĨ TÔN)

1/ Kẻ thù lớn nhất của Hội nông dân là đội hương dũng. Một lần trong khi Hội nông dân đang họp, đội hương dũng đã vây nhà, giết chết một hội viên Hội nông dân và làm bị thương một người khác. Tên hào lý chỉ huy cuộc tấn công ấy về sau đã bị trừng trị.

Một đội hương dũng khác đã cấm hội viên của Hội nông dân không được đi qua làng của mình. Trong một vài trường hợp, Hội nông dân đã thành công trong việc tước vũ khí của đội hương dũng.

Tình hình Hội nông dân là tốt, nhưng chúng ta còn phải phấn đấu để đuổi ra khỏi Hội bọn hào lý cơ hội chủ nghĩa đã gia nhập Hội nông dân nhằm củng cố vị trí của chúng hơn là hoạt động vì lợi ích của nông dân nghèo.

2/ Hội viên. 120 làng; 15.600 hội viên.

3/ Một vài toán phỉ chống lại chúng ta; một số khác muốn giúp đỡ chúng ta. Nông dân đã hợp tác với Chính phủ Quốc dân đảng tước vũ khí quân phản cách mạng.

Quân đồn trú hiện nay rất thân thiện với Hội nông dân. Hiến binh chống lại chúng ta.

4/ Thanh niên. Trình độ học vấn hầu như là số không. Trong một số làng có 1000 gia đình, chỉ có một hoặc 2 trường với 50 hoặc 60 học sinh, tất cả đều là con cái phú nông và trung nông. Chưa có cái gì để phục vụ con em nông dân nghèo.

5/ Khi nông dân nghe nói về cương lĩnh của Đảng cộng sản thì họ đã tán thành. Tiếc thay, bản thân các đồng chí của chúng ta không hiểu thật sâu sắc chủ nghĩa Mác – Lênin để tuyên truyền rộng hơn, và để tìm kiếm đảng viên cho Đảng từ trong hàng ngũ nông dân.

6/ ở đây chúng ta có 9 đảng viên cộng sản và 4 đảng viên dự bị.

7/ Bọn hào lý cũng rất khôn ngoan, chúng lợi dụng mọi cơ hội để tung tin đồn nhảm hòng làm cho nông dân sợ hãi. Nhưng chúng tôi đã chống lại có hiệu quả sự tuyên truyền của chúng. Sau khi Liêu Chung Khải bị giết hại, bọn hào lý vô cùng mừng rỡ. Chúng nói với nông dân: “các người thấy đấy, họ đã giết vị thủ lĩnh đầy sức mạnh của các người rồi đấy; sắp đến lượt các người nếu các người không rời bỏ Hội nông dân ngay lập tức!”. Nhưng khi chúng tôi đã tǎng cường công tác tuyên truyền – liên tục từ làng này sang làng khác – giải thích cho mọi người hiểu rõ ý nghĩa của việc đó thì nông dân chẳng những không sợ nữa, mà còn nôn nóng muốn trả thù cho người bạn bị giết hại của mình là ông Liêu.

Hiện nay, đội hương dũng hợp tác với bọn địa chủ để tung tin đồn nhảm. Chúng nói rằng Quảng Châu chẳng bao lâu nữa sẽ bị Trần Quýnh Minh chiếm và ông này sẽ đem bắn tất cả các hội viên của Hội nông dân, v.v..

8/ Với công nhân. Nông dân ở huyện này, những người sản xuất nhiều rau cho thị trường Hương Cảng và thị trường Ma Cao, bị đụng chạm nặng nề do việc phong toả những cảng này. Thoạt tiên họ rất phản đối những người bãi công. Nhưng khi nghe chúng tôi giải thích, họ không những quên tất cả những sự phẫn nộ đối với những người bãi công mà còn quyên góp rất hào phóng vào quỹ bãi công. Sự bực bội của họ đối với người công nhân một phần đã biến thành lòng yêu nước, mến thương những người bãi công yêu nước và phần khác biến thành sự cǎm ghét bọn đế quốc.

9/ Có nhiều trường truyền giáo. Các trường đó đã cố gắng rất nhiều để làm cho người ta chuyển sang theo đạo, nhưng kết quả rất bé nhỏ. Tuy vậy, ở một làng chúng tôi thấy một số lớn nông dân đã theo đạo Cơ đốc. Những người theo tôn giáo này nói với chúng tôi: “Chúng tôi không biết và không quan tâm xem đạo Cơ đốc là cái gì, chúng tôi tin theo vì cần sự giúp đỡ của họ. Bây giờ chúng tôi có Hội nông dân để bảo vệ lợi ích của mình, chúng tôi có thể cáo biệt nhà thờ!”.

10/ Những yêu sách trước mắt:

a. Giải tán đội hương dũng.

b. Nông dân kiểm soát bãi cát.

c. Giảm thuế.

————————

Tài liệu tiếng Anh, lưu tại Viện Hồ Chí Minh
cpv.org.vn

Sự thống trị của Đế quốc pháp ở Đông Dương (15-10-1927)

CUỘC XUNG ĐỘIT “HOA – VIỆT”

Từ 19 đến 22-8, giữa người An Nam và Hoa kiều ở Hải Phòng, một hải cảng ở Bắc Kỳ, đã xảy ra những cuộc ẩu đả đổ máu. Có 8 Hoa kiều chết và 125 người bị thương, 8 nhà máy và 12 cǎn nhà Hoa kiều bị đốt cháy. Báo chí Pháp ở Đông Dương và ở Pháp cho rằng cuộc xung đột này chỉ liên can đến người An Nam và Hoa kiều thôi, và nguyên nhân là do hai dân tộc đó “hiềm thù” nhau, còn người Pháp thì không dính dáng gì đến vụ xung đột ấy cả.

Khẳng định như vậy là không đúng. Chẳng phải hôm nay mà cũng không phải hôm qua người Hoa mới đến Đông Dương. Họ đã ở đây hàng thế kỷ nay rồi. Và từ khi họ đến ở đây, họ đã luôn luôn giữ một vị trí rất quan trọng trong đời sống kinh tế của Đông Dương. Nhưng chưa bao giờ lại có những cuộc xung đột giữa người An Nam và các “chú” khách của họ cả.

Cuộc xung đột hiện nay, cũng như cuộc tẩy chay hàng hoá của Hoa kiều nǎm 1919 là do bọn thực dân Pháp gây nên vì những lý do sau đây:

ít lâu nay, trong dân chúng An Nam, đang có một sự sôi sục mạnh mẽ: những cuộc biểu tình của những người có tinh thần dân tộc, những cuộc bãi khoá của giới đại học, những cuộc bãi công của thợ thuyền, những cuộc nổi dậy của nông dân, hoạt động của các tổ chức cách mạng bí mật, việc bầu những cựu chính trị phạm vào “Viện dân biểu” bản xứ, v.v. và v.v.. Tất cả tình hình ấy đã làm cho bọn thực dân Pháp hoảng sợ, chúng tìm mọi cách để lái hoạt động chính trị đó đi theo một hướng khác.

Trong nǎm qua, người An Nam đã tỏ ra có nhiều cảm tình với cách mạng Trung Quốc. Khi tàu chiến Misơlê của Pháp, trên đường sang Trung Quốc, cập bến Sài Gòn để tu sửa, anh em công nhân xưởng tàu ở hải cảng đó đã đình công không chịu tu sửa 48 . Cũng nǎm ấy, khi nǎm Hoa kiều ở Sài Gòn bị nhà chức trách Pháp trục xuất vì tuyên truyền cách mạng, thì hàng nghìn người An Nam đã tự động họp nhau lại để tiễn chân. Mối tình thân thiện Hoa – Việt ấy đã làm cho bọn Pháp rất hoảng sợ.

Hoa kiều sống ở Đông Dương đều bị bọn thực dân Pháp ra sức áp bức và bóc lột. Thuế khoá nặng nề. Cũng như người An Nam, Hoa kiều đều bắt buộc phải có giấy thông hành mới được đi từ nơi này đến nơi khác, tốn rất nhiều tiền và mất nhiều thì giờ, đồng thời lại bị trở ngại rất lớn trong công việc buôn bán. Công nhân Hoa kiều không có quyền tự do tổ chức. Tất cả những sự việc đó và những sự hà lạm khác đã gây nên một phong trào chống Pháp trong giới người Hoa, phong trào này kết hợp với tinh thần quật khởi của người An Nam sẽ là một nguy cơ rất lớn cho chủ nghĩa đế quốc.

Chính vì tất cả những lý do ấy đã khiến đế quốc Pháp tìm cách chia rẽ Hoa kiều và người An Nam, làm cho họ chống lẫn nhau.

Nhưng âm mưu của bọn đế quốc từ ngày 19 đến 22-8 quá ư lộ liễu khiến ngay những người không chú ý lắm cũng thấy rõ được. Trong một nước có chế độ kiểm duyệt thường xuyên, có tất cả những viên chức kể cả các đốc học và giáo viên đều làm mật thám, một nước mà mỗi tháng người ta trả ba mươi đồng cho mỗi học sinh tình nguyện làm mật thám, một nước mà bất kỳ cuộc hội họp và tập hợp nào cũng đều bị cấm đoán cả, làm thế nào mà trong những điều kiện ấy, người ta lại có thể tổ chức những cuộc ẩu đả đổ máu như vậy được? Làm sao mà bọn cảnh sát và nhà chức trách Pháp – luôn luôn được thông báo về bất kỳ một hành động nhỏ nào của người bản xứ và lúc nào cũng sẵn sàng đàn áp – lại chỉ can thiệp

rất muộn, sau khi đã có nhiều người bị giết chết, nhiều thiệt hại đã xảy ra? Vì sao mà những cuộc ẩu đả ấy lại có thể kéo dài từ 19 đến 22-8 mà không có lấy một biện pháp nào để ngǎn chặn cả?

Bởi vậy, người ta bắt buộc phải kết luận rằng cuộc xung đột ấy không những được bọn đế quốc Pháp làm ngơ mà chúng còn có dụng ý nhen lên và gây ra nữa.

VIệN “ĐUMA” AN NAM 49

Do sự thúc ép của quần chúng bản xứ, bọn đế quốc Pháp buộc phải nhân nhượng hoặc nói cho đúng hơn là giả bộ nhân nhượng. Chúng phái một “đảng viên Đảng Xã hội” sang làm toàn quyền. Chúng tung ra khẩu hiệu “Pháp – An Nam hợp tác”. Chúng tổ chức ra “Viện dân biểu”.

Song kết quả lại hoàn toàn trái với điều mong muốn của chúng. Sau một thời kỳ nuôi ảo tưởng, người An Nam bây giờ đã biết thế nào là một đại biểu của Quốc tế thứ hai. Họ thấy rằng, sự “hợp tác” được ca tụng nhiều như thế đã thể hiện thành những sự bóc lột bỉ ổi và những cuộc đàn áp thẳng tay đối với bất kỳ một cuộc biểu dương chính trị nào của người bản xứ.

Viện “Đuma” An Nam (không phải do cuộc đầu phiếu phổ thông mà chỉ do các kỳ mục, địa chủ và thương nhân bầu ra) không hề xoa dịu được người An Nam, mà còn đưa lại cho họ cơ hội để tỏ rõ tinh thần phản kháng của mình.

Trong các cuộc bầu cử vừa qua, những người ra ứng cử, mà nhiều người biết rõ những hoạt động yêu nước của họ và việc họ chỉ trích chế độ cai trị của người Pháp, cũng như những chính trị phạm đi đày về, đều trúng cử. Mặc dù nhà chức trách Pháp dùng mưu kế và hǎm doạ, nhưng không có một người ứng cử nào do Chính phủ giới thiệu, lại trúng cử cả.

Tất cả những “vị dân biểu” này chỉ có tiếng nói tư vấn thôi. Các vị dân biểu Trung Kỳ thì mỗi nǎm hội họp một lần và lúc nào họp là do khâm sứ quyết định. Thậm chí họ không có lấy một phòng họp, hay một phòng để làm việc. Mỗi một kỳ họp đều do một viên chức người Pháp chủ toạ. Nhưng cái đó vẫn không làm cho các vị đại biểu An Nam đáng thương ấy rụt rè lên tiếng và phát hiện ra được những điều khá bổ ích.

Trong kỳ họp hồi tháng 8, “người phát ngôn” 1 của Viện dân biểu Trung Kỳ đã tuyên bố:

“Chúng tôi không có phòng để làm việc, không có ngân sách, không có gì hết. Nǎm ngoái, thậm chí chúng tôi cũng không có cơ hội nào để thảo luận được. Trong số hàng trǎm yêu sách của chúng tôi, không một yêu sách nào được thực hiện cả…

“Chính bản thân các đại biểu cũng không có quyền ǎn nói, thử hỏi trong những điều kiện như vậy, làm thế nào mà họ lại có thể giúp đỡ được người khác? Thế mà nhân dân lại tin rằng chúng tôi có quyền tham gia giải quyết mọi vấn đề có liên quan đến đất nước nên trông mong nhiều ở chúng tôi… Tờ thông tri tháng 2 vừa rồi của Chính phủ thuộc địa đã hoàn toàn làm mất hết phẩm cách của chúng tôi, nên chúng tôi không thể làm được một việc gì cả. Thật là nhục nhã và buồn thảm biết bao!…

“Với những thủ đoạn đàn áp của Chính phủ sử dụng trong tất cả mọi cơ hội, thì tất phải có an ninh và trật tự. Thế mà chẳng có kết quả gì. Các cuộc rối loạn vẫn liên tiếp nổ ra… Nhiều người An Nam đã bị hành hạ, truy nã, bắt giữ và cầm tù vì tội đã đọc báo chí đã có phép của sở kiểm duyệt. Cả nhà đều bị phạt nếu người nhà phạm một tội là phát biểu trong một cuộc họp. Trẻ em chỉ không đi học một buổi là bị đuổi và như thế là suốt đời bị dốt nát… Vì trung thành với lợi ích của nhân dân, mà một số đại biểu đã bị thoá mạ trước công chúng…”.

Viên khâm sứ đã trả lời một câu tinh tế. Ông ta trình bày chương trình của Chính phủ thuộc địa, chương trình đó có thể tóm tắt như sau: “Hỡi dân An Nam! Các người hãy nhẫn nhục mà chịu đựng” và ông ta nói: “Sau khi Chính phủ đã trình bày rất rõ ràng và dứt khoát rồi, nếu các ông còn ngần ngại không chấp thuận hoặc nếu các ông phản đối lại mà không có lý do cǎn bản, thì Chính phủ sẽ tin rằng các ông không thiết gì đến tương lai của xứ này… Các ông nên biết rằng, muốn vǎn minh và tiến bộ, thì phải có kỷ luật và phải tôn trọng chính quyền đã được thiết lập”.

ĐÓI, DỊCH TẢ, THUẾ KHÓA, v.v.

Dân số Đông Dương giảm đi nhanh chóng vì nạn đói kém, dịch tả và… chủ nghĩa đế quốc Pháp.

Số người chết so với số người sinh ra nhiều hơn gấp bội. Số trẻ em chết thật là khủng khiếp. Ta hãy lấy thành phố Hải Phòng làm thí dụ. Theo thống kê hồi tháng 7-1927, trong thành phố này, người An Nam sinh được 147 trẻ. 81 là con trai và 66 là con gái. Cùng trong thời gian đó, có 204 người chết, trong đó có 84 là trẻ em. Trong số 147 trẻ em mới đẻ, chỉ còn sống được 63 em!

Để chứng minh rõ rằng vì nghèo khổ mà người An Nam bị chết nhiều, chúng ta hãy so sánh những thống kê về số người sinh ra và chết đi giữa người nước ngoài và người bản xứ cùng ở thành phố đó. Đối với người Âu, cứ số trẻ sinh ra là 8 thì số người chết là 3, trong số chết đó có một là trẻ em. Đối với Hoa kiều, cứ số trẻ sinh ra là 22 thì số người chết là 23, trong số chết này có 6 trẻ em.

Các tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, Huế, Quảng Nam, Quảng Ngãi (Trung Kỳ) đều bị nạn dịch tả hoành hành. Dân cư hoảng sợ. Đầu tháng 8, mỗi ngày có hàng trǎm người ốm được đưa đến nhà thương Huế. Chỉ riêng tỉnh Quảng Nam đã có hơn 7.000 người bị bệnh trong tháng 8.

Chưa phải đã hết. Trời nắng như đốt làm cho lúa má khô héo trước khi nảy hạt. Trời nắng như thế là nguy cơ của nạn đói, đồng thời lại làm cho nạn dịch hạch tǎng lên. Mặt khác, Bắc Kỳ thì bị tàn phá vì đói kém do nạn lụt gây ra. Để bảo vệ người Pháp ở Hà Nội khỏi bị cảnh lụt lội, khi Bắc Kỳ bị nước tràn về, Chính phủ thuộc địa đã cho phá vỡ đê Gia Lâm ở phía bên kia Hà Nội, để tháo nước về phía ấy. Họ làm như vậy mà không báo cho người bản xứ biết trước, nên 20.000 người An Nam đã bị cơ quan cai trị của người Pháp làm cho bị chết đuối!

Sau những trận lụt, người An Nam ở Trung Kỳ và Nam Kỳ đã tổ chức quyên góp để cứu giúp các đồng bào bất hạnh của mình. Nhà chức trách Pháp đã xoáy mất phần lớn số tiền đó bỏ vào quỹ để nâng giá đồng phrǎng lên! Mặc dù những hiện vật quyên góp rất nhiều, nhưng nhà chức trách chỉ phân phát cho những người bị nạn mỗi người một tháng được có hai kilô rưỡi gạo thôi!

Chỉ riêng ở Bắc Kỳ, người ta đã tính ra có đến 155 đồn điền lớn thuộc quyền của người Pháp, mỗi cái rộng trên 200 hécta. Trong số đồn điền ấy, 11 cái rộng trên 500 hécta, 4 cái trên 600 hécta, 5 cái trên 700 hécta, 1 cái trên 800 hécta, 5 cái trên 900 hécta, 9 cái trên 1.100 hécta, 7 cái từ 1.200 hécta đến 1.500 hécta, 2 cái từ 1.500 hécta đến 2.500 hécta, 3 cái từ 3.150 đến 3.750 hécta, 1 cái trên 4.100 hécta, 1 cái trên 5.500 hécta, 1 cái trên 6.900 hécta, 1 cái trên 7.500 hécta, 1 cái trên 8.515 hécta.

Rồi đến 34 khu mỏ không những chỉ có mỏ mà còn có ruộng đất ở xung quanh nữa, trong số đó có 7 khu rộng từ 800 đến 1.500 hécta, 8 khu từ 1.500 đến 2.900 hécta, 1 khu trên 3.000 hécta, 2 khu từ 3.600 đến 4.900 hécta, 1 khu trên 6.100 hécta, 3 khu từ 13.000 đến 13.800 hécta, 1 khu trên 18.000 hécta, 1 khu trên 22.000 hécta, 1 khu trên 25.000 hécta.

Như vậy thì người An Nam chẳng còn được bao nhiêu nữa. Bất chấp tất cả tình trạng đó và mặc dù xứ này đã bị đủ thứ tai hoạ tàn phá, người Pháp vẫn cứ tiếp tục tǎng thuế khoá. Ngân sách của Bắc Kỳ sắp được nâng từ 18.017.180 (?) đến 18.200.670 đồng. Chế độ của đế quốc Pháp ở Đông Dương là như thế đấy!

cpv.org.vn

Đường cách mệnh (50)

In lần đầu tiên tại Quảng Châu (Trung Quốc), nǎm 1927. Tài liệu lưu tại Bảo tàng Cách mạng Việt Nam.

Theo cuốn sách lưu tại Bảo tàng Cách mạng Việt Nam.

ĐƯỜNG CÁCH MỆNH

Không có lý luận cách mệnh, thì không có cách mệnh vận động… Chỉ có theo lý luận cách mệnh tiền phong, đảng cách mệnh mới làm nổi trách nhiệm cách mệnh tiền phong 1 .

LÊNIN

BỊ ÁP BỨC DÂN TỘC LIÊN HỢP HỘI TUYÊN TRUYỀN BỘ ẤN HÀNH

cpv.org.vn

———————————-

50. Đường cách mệnh là cuốn sách gồm những bài giảng của Nguyễn Ái Quốc tại các lớp huấn luyện chính trị cho cán bộ của Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội do người tổ chức tại Quảng Châu (Trung Quốc) trong những nǎm 1925-1927. Các lớp huấn luyện chính trị này nhằm truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng và phương pháp cách mạng cho những người cách mạng Việt Nam; chuẩn bị về chính trị, tư tưởng và tổ chức cho việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam vào đầu nǎm 1930. Cuốn sách này do Bộ tuyên truyền của Hội liên hiệp các dân tộc bị áp bức ở á Đông xuất bản nǎm 1927 để làm tài liệu học tập và tuyên truyền. Đường cách mệnh là một trong những tác phẩm lớn đánh dấu một trong những mốc quan trọng trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Nguyễn Ái Quốc, đồng thời là một trong những vǎn kiện lý luận đầu tiên của Đảng ta, đặt cơ sở tư tưởng cho đường lối của cách mạng Việt Nam. Tr.257.

Tư cách một người cách mệnh

Tự mình phải:
Cần kiệm.
Hoà mà không tư.
Cả quyết sửa lỗi mình.
Cẩn thận mà không nhút nhát.

Hay hỏi.

Nhẫn nại (chịu khó).
Hay nghiên cứu, xem xét.
Vị công vong tư.
Không hiếu danh, không kiêu ngạo.
Nói thì phải làm.
Giữ chủ nghĩa cho vững.
Hy sinh.
ít lòng tham muốn về vật chất.

Bí mật.

Đối người phải:

Với từng người thì khoan thứ.
Với đoàn thể thì nghiêm.
Có lòng bày vẽ cho người.
Trực mà không táo bạo.
Hay xem xét người.

Làm việc phải:

Xem xét hoàn cảnh kỹ càng.
Quyết đoán.
Dũng cảm.
Phục tùng đoàn thể.

cpv.org.vn

Vì sao phải viết sách này

1. Phàm làm việc gì cũng vậy, bất kỳ lớn bé, bất kỳ khó dễ, nếu không ra sức thì chắc không thành công. Tục ngữ Tàu có câu: “Sư tử bắt thỏ tất dùng hết sức”. Sư tử mạnh biết chừng nào, nếu bắt thỏ thì có khó gì, thế mà còn phải dùng hết sức, huống gì làm việc to tát như việc giải phóng gông cùm nô lệ cho đồng bào, cho nhân loại, nếu không hết sức thì làm sao được.

2. Lại nhiều người thấy khó thì ngã lòng, không hiểu rằng “nước chảy đá mòn” và “có công mài sắt có ngày nên kim”. Việc gì khó cho mấy, quyết tâm làm thì làm chắc được, ít người làm không nổi, nhiều người đồng tâm hiệp lực mà làm thì phải nổi. Đời này làm chưa xong thì đời sau nối theo làm thì phải xong.

3. Muốn đồng tâm hiệp lực, muốn bền gan thì trước ai ai cũng phải hiểu rõ vì sao mà phải làm, vì sao mà không làm không được, vì sao mà ai ai cũng phải gánh một vai, vì sao phải làm ngay không nên người này ngồi chờ người khác. Có như thế mục đích mới đồng; mục đích có đồng, chí mới đồng; chí có đồng, tâm mới đồng; tâm đã đồng, lại phải biết cách làm thì làm mới chóng.

4. Lý luận và lịch sử cách mệnh có nhiều sách lắm. Pháp nó sợ, nên cấm chúng ta học, cấm chúng ta xem, cho nên đồng bào ta đối với hai chữ cách mệnh còn lờ mờ lắm. Có người biên chép đề xướng ra một chút lại làm một cách rất hồ đồ; hoặc xúi dân bạo động mà không bày cách tổ chức; hoặc làm cho dân quen tính ỷ lại, mà quên tính tự cường.

5. Mục đích sách này là để nói cho đồng bào ta biết rõ: (1) Vì sao chúng ta muốn sống thì phải cách mệnh. (2) Vì sao cách mệnh là việc chung cả dân chúng chứ không phải việc một hai người.
(3) Đem lịch sử cách mệnh các nước làm gương cho chúng ta soi. (4) Đem phong trào thế giới nói cho đồng bào ta rõ. (5) Ai là bạn ta? Ai là thù ta? (6) Cách mệnh thì phải làm thế nào?

6. Sách này muốn nói cho vắn tắt, dễ hiểu, dễ nhớ. Chắc có người sẽ chê rằng vǎn chương cụt quằn. Vâng! Đây nói việc gì thì nói rất giản tiện, mau mắn, chắc chắn như 2 lần 2 là 4, không tô vẽ trang hoàng gì cả.

Hơn sáu mươi nǎm nay, đế quốc chủ nghĩa Pháp đạp trên đầu; hơn hai mươi triệu đồng bào hấp hối trong vòng tử địa. Phải kêu to, làm chóng để cứu lấy giống nòi, thì giờ đâu rảnh mà vẽ vời trau chuốt!

Sách này chỉ ước ao sao đồng bào xem rồi thì nghĩ lại, nghĩ rồi thì tỉnh dậy, tỉnh rồi thì đứng lên đoàn kết nhau mà làm cách mệnh.

Vǎn chương và hy vọng sách này chỉ ở trong hai chữ: Cách mệnh! Cách mệnh!! Cách mệnh!!!

cpv.org.vn