Thư viện

Phòng kiểm duyệt ở Đông Dương (28-9-1922)

Báo L’Humanité, số ra ngày 13 tháng 9 có cho biết ở Mađagátxca vẫn còn chế độ kiểm duyệt thư từ nghiêm khắc, mặc dù bốn nǎm đã qua sau “cuộc chiến tranh vì công lý”.

Đông Dương dưới quyền cai trị của viên toàn quyền Lông cũng chẳng khác gì Mađagátxca dưới sự thống trị của viên toàn quyền Gácbi: cũng những bất công, những việc lộng quyền, những vụ tai tiếng, những điều ô nhục như thế.

Chúng tôi được biết ở Sở Bưu chính và Sở Mật thám Đông Dương được lệnh giữ những gói và thư gửi cho báo Le Paria, xuất bản ở Pari, cũng như những thư tín do báo này gửi về Đông Dương.

Không phải là ngẫu nhiên mà hành vi lạm quyền này lại xảy ra đúng lúc viên quan cai trị xảo trá Bôđoanh và người trợ lý xuất sắc của hắn, con rể viên Bộ trưởng Bộ Thuộc địa Anbe Xarô, đến Sài Gòn.

Ngoài ra, chúng ta vấp phải luật xâm phạm quyền bất khả xâm phạm thư riêng, và các viên cai trị tiếp tục giữ và lục soát thư riêng.

Như thế là người bản xứ bị giết chóc, cướp phá và không được hưởng những quyền sơ đẳng nhất: cả đến quyền thư tín! Sự vi phạm tự do cá nhân này chứng minh thêm chính sách đê tiện của bọn mật thám và chính sách lạm quyền đang thống trị ở những thuộc địa chúng ta.

NGUYỄN ÁI QUỐC

Báo L’Humanité, ngày 28-9-1922.
cpv.org.vn

Đồng tâm nhất trí (29-9-1922)

– Đi chợ nào đấy, anh Hai?

– Đi chợ Đông. Thế còn anh, anh Ba?

– Tôi cũng vậy. Thế có món hàng gì quý trong đôi thúng bảnh ấy thế?

– Vàng mã cúng ông vải ạ. Còn anh, anh có cái gì hay hay cho khách hàng nào?

– Trầu non để làm thơm và để nhuộm hồng miệng xinh của các chị chàng đẹp đấy.

Thế rồi hai anh bán hàng bặt im. Mặt trời đứng bóng chiếu ướt đẫm những bắp tay bắp chân lực lưỡng gần như để trần của hai anh. Bốn chiếc thúng nặng nề đung đưa ở đầu hai đòn gánh tre đặt ngang trên vai cháy nắng. Bụi cuốn lên quanh bước chân thoǎn thoắt thành một thứ màn sương, làm cho mọi cử động của hai anh mờ ảo và nhìn xa lại còn có vẻ mỹ thuật là khác.

– Nghe này, người anh em! – Ba nói.

– Tai tôi đang lắng nghe lời anh dạy – Hai đáp.

– Hai ta cùng đi một chợ này, theo cùng một con đường này, lại có cùng một mục đích – là bán hết hàng, cùng một chí hướng – là làm ǎn lương thiện kiếm miếng cơm. Phải thế không nào?

– Anh nói muôn nghìn lần đúng.

– Thế có muốn hai ta kết làm anh em không ? Có muốn hai ta cùng nhau giao ước thắt tình hữu ái, và, ngay từ hôm nay, khuyên bảo lẫn nhau, thấy đây làm gì thì đó làm theo, mà đó đã bảo gì thì đây cũng làm y, nói tóm lại, là giữa hai ta có sự đồng tâm nhất trí.

– Anh dạy thật là chí lý, xin vâng theo.

– Thế thì, nào! chú mày, đường còn xa, chúng ta hãy thay phiên nhau hát, cho đôi cánh bổng trầm nén cơn mệt mỏi nhé!

– Ông anh hát trước đi!

Kon-mèo trèo lên cây CAU
Hỏi thǎm Kon – chuột đi ĐÂU vắng nhà?

Thưa rằng đi chợ đường XA
Mua đồ vật liệu giỗ CHA Kon – mèo (1) .

– Khôn ngoan hơn cường bạo, kẻ yếu thì chỉ có cách đó để tự vệ. Hai nói ra vẻ hiền triết lắm. Rồi, giọng u sầu, anh ngân nga:

Trông lên hòn núi THIÊN THAI
Thấy bầy chim quạ ǎn XOÀI chín cây
2)

– Bài chú hát sao nghe buồn quá! Nhưng mà sự thật là thế.

Dẫu ta cũng cứ thấy cái giống chim chóc (1) biếng lười, nó chẳng chịu làm lụng gì cả, chuyên bòn của người khác làm ra mà ǎn. Mà ơ này! Dòng sông có cát mịn, có làn nước trong veo, đây rồi! Nhớ nhúng đôi thúng xuống cho hàng thêm tươi tốt lúc qua sông.

Một lời đã hứa, Hai, anh bán đồ giấy, làm theo không chối cãi.

Qua khỏi con sông, anh bảo Ba:

– Ánh sáng là mẹ của mọi sự tốt lành, mà mặt trời thì lại là cha của ánh sáng. Vậy, anh à! ta hãy phơi hàng một lát dưới ánh mặt trời tốt lành cho hàng lên màu, khách mua thêm hài lòng, ta bán được giá hời. Vừa nói, Hai vừa bày chỗ hàng bằng giấy bồi của mình lên ven đường nóng bỏng, rồi đến nghỉ dưới bóng cây.

Một lời đã hứa, Ba, anh bán trầu không, làm theo không chối cãi.

NGUYỄN ÁI QUỐC

Báo L’Humanité, ngày 29-9-1922.
cpv.org.vn

——————————-

(1) Ngay sau khi Nguyễn Ái Quốc gửi bản Yêu sách của nhân dân An Nam tới trưởng đoàn các nước dự Hội nghị Vécxây, bọn bồi bút thực dân lồng lộn. Trên tờ Courrier Colonial ra ngày 27-6 có một bài nhan đề Giờ phút nghiêm trọng chỉ trích bản yêu sách : Làm sao một người dân thuộc địa lại có thể dùng bản yêu sách của nhân dân để công kích Chính phủ Pháp. Thật là quá quắt. Cứ theo đà này thì bọn dân thuộc địa sẽ lên ngang hàng với người Pháp chúng ta và sớm trở thành ông chủ của chúng ta. Không được, phải kìm giữ chúng mãi mãi trong vòng nô lệ. Nguyễn Ái Quốc viết bài này là để trả lời bài báo sặc mùi thực dân trên.

(2) Bản Yêu sách của nhân dân An Nam: Nǎm 1918, Chiến tranh thế giới thứ nhất kết thúc. Ngày 18-1-1919, đại biểu các nước đế quốc tham gia chiến tranh họp hội nghị ở Vécxây (Pháp). Hội nghị này (còn gọi là Hội nghị hoà bình Pari) nhằm xác định sự thất bại của Đức và các nước đồng minh của Đức, chia lại thị trường thế giới cho các nước đế quốc thắng trận, chủ yếu là Mỹ, Anh, Pháp.Nhân danh nhóm người yêu nước Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc đã gửi đến Hội nghị bản Yêu sách của nhân dân An Nam. Nguyễn Ái Quốc còn thuê in thành truyền đơn, đǎng trên các báo, gửi đến các nhà hoạt động chính trị có tên tuổi, phân phát trong các buổi hội họp, mít tinh, gửi cho Việt kiều ở Pháp và gửi về nước.

Nhân đạo thực dân (1-9-1922)

Chuyện xảy ra ở Đông Dương và cũng chưa lâu hơn cái hồi có cuộc chiến tranh nhờ trời ban cho vì công lý và nhân quyền. Chính bằng những cách ấy mà “chính quyền Pháp đã có thể du nhập vào đầu óc nhân dân các nước cái khái niệm có một nền vǎn minh khác với nền vǎn minh Trung Quốc đã ngưng trệ từ mấy thế kỷ nay rồi”. Chính bằng những cách ấy mà các toà án quân sự “đàn áp những phong trào nổi dậy để nêu gương nghiêm trị”. Sau khi ca ngợi những cuộc đàn áp đẫm máu bằng những lời lẽ như vậy, bạn đồng nghiệp chúng tôi, tờ Sciences et Voyages đã thật thà thú nhận “ở bên đó thì cũng như ở trên đất Pháp, bọn bất lương vẫn còn quá đông, pháp lý vẫn cần phải nghiêm trị”.

Ấy vậy mà chúng tôi cho đến bây giờ, vẫn ngây thơ tin rằng ở Pháp, chỉ có rặt những con người được khai hoá mà hễ ra khỏi nhà là tức khắc trở thành những con người đi khai hoá! Thêm nữa, theo cái lôgích đơn giản nhất, người ta không thể, cũng không nên cho người khác cái mà mình không có, nhất lại là cái vǎn minh.

Để xí xoá cái thói hèn mạt giết người ta để dạy cho họ “biết cách sống”, bạn đồng nghiệp lớn của chúng tôi còn nói rằng, cần phải đánh vào dư luận cho nó giật mình kinh sợ…

Do vậy, thỉnh thoảng lại thấy xuất hiện cái kiểu hình pháp đặc biệt là các uỷ ban ngoại lệ hay toà án quân sự, mà bộ máy bi thảm và quyết đoán như vậy là cần thiết. Không có gì là hà khắc, là tàn bạo cả. Đúng thế. Chặt đầu người ta hoặc đem ra bắn thì có gì là hà khắc, là tàn bạo. Là hoàn toàn nhân từ mà. Nhưng nếu tụi “bôsơ” cũng ban bố những cách đối xử “nhân từ” như thế với anh em Andátxơ và Loren (1) của chúng ta, thì bạn sẽ nói sao nào, hỡi đồng nghiệp thân mến? Vốn thông thạo nhiều điều lý thú, bạn đồng nghiệp cho chúng ta biết nhiều việc, chẳng hạn cái thứ bậc lễ nghi và phức tạp trong các vụ giết người hợp pháp này: “lệ đóng cọc (2) và bắn 12 viên của tiểu đội hành hình chỉ dành riêng cho tội nhân là quân nhân hay kẻ cướp bị bắt có vũ khí trong tay. Khi ấy hầu như bao giờ cũng hành hình nhiều người một lúc và không hiếm trường hợp có bốn, sáu, thậm chí mười người gục xuống cùng một lúc dưới cùng một loạt đạn. Những tiểu đội hành hình có lính hỗn hợp, nghĩa là có sáu lính bản xứ dàn ở hàng đầu và sáu lính hoặc hiến binh người Pháp ở hàng sau”. à, phải nhấn điểm cuối cùng này nữa là người ta đã dạy cho người bản xứ biết thế nào là Bác ái, cái đức quý đó vốn là nền tảng của mọi chế độ cộng hoà, được khắc bằng chữ lớn trên khắp các công trình kỷ niệm và trên tất cả các cửa … nhà lao. Còn về cái định nghĩa thế nào là ǎn cướp và những cuộc hành quyết tập thể thì xin xem mấy dòng sau của một sĩ quan thuộc địa, ông F.B., ông này về “học thức” có thể kém, nhưng chắc chắn nhiều chân tình và vô tư hơn: với cách giả định giống y như người Anh coi những người Bôe (3) kiên quyết kháng chiến là những tên phản loạn, ngoài vòng pháp luật, chúng ta coi những nhà ái quốc An Nam là những tên cướp.

“Người ta đã làm tất cả để vũ trang cho người An Nam giết hại nhau và xúi giục họ phản bội. Người ta tuyên bố các thôn xã phải chịu trách nhiệm về những chuyện rối ren xảy ra trong địa hạt mình. Họ phải dẫn đường cho quân đội ta, phải nộp mạng những người nổi dậy. Ai không tuân lệnh thì bị coi là kẻ phạm tội . Làng nào dung nạp một người yêu nước là bị xử án. Muốn điều tra, có một cách, bao giờ cũng cứ dùng mãi một cách đơn giản, là: chất vấn lý trưởng và hào mục. Ai không nói lập tức bị hành quyết. Một đám binh lính bảo an trong vòng hai tuần lễ, đã cho hành quyết 75 hào mục. Không một lúc nào người ta chịu phân biệt những nhà ái quốc chiến đấu tuyệt vọng cho độc lập của đất nước với bọn cặn bã chốn đô thành”.

NGUYỄN ÁI QUỐC

Báo Le Paria, số 6 – 7, ngày 1-9 và 1-10-1922.
cpv.org.vn

—————————–

(1) Ngay sau khi Nguyễn Ái Quốc gửi bản Yêu sách của nhân dân An Nam tới trưởng đoàn các nước dự Hội nghị Vécxây, bọn bồi bút thực dân lồng lộn. Trên tờ Courrier Colonial ra ngày 27-6 có một bài nhan đề Giờ phút nghiêm trọng chỉ trích bản yêu sách : Làm sao một người dân thuộc địa lại có thể dùng bản yêu sách của nhân dân để công kích Chính phủ Pháp. Thật là quá quắt. Cứ theo đà này thì bọn dân thuộc địa sẽ lên ngang hàng với người Pháp chúng ta và sớm trở thành ông chủ của chúng ta. Không được, phải kìm giữ chúng mãi mãi trong vòng nô lệ. Nguyễn Ái Quốc viết bài này là để trả lời bài báo sặc mùi thực dân trên.

(2) Bản Yêu sách của nhân dân An Nam: Nǎm 1918, Chiến tranh thế giới thứ nhất kết thúc. Ngày 18-1-1919, đại biểu các nước đế quốc tham gia chiến tranh họp hội nghị ở Vécxây (Pháp). Hội nghị này (còn gọi là Hội nghị hoà bình Pari) nhằm xác định sự thất bại của Đức và các nước đồng minh của Đức, chia lại thị trường thế giới cho các nước đế quốc thắng trận, chủ yếu là Mỹ, Anh, Pháp.Nhân danh nhóm người yêu nước Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc đã gửi đến Hội nghị bản Yêu sách của nhân dân An Nam. Nguyễn Ái Quốc còn thuê in thành truyền đơn, đǎng trên các báo, gửi đến các nhà hoạt động chính trị có tên tuổi, phân phát trong các buổi hội họp, mít tinh, gửi cho Việt kiều ở Pháp và gửi về nước.

(3) Báo Le Courrier d\’Hai Phong: Báo xuất bản hằng ngày ở Hải Phòng, nǎm 1887, do Toà đốc lý của chính quyền thuộc địa phụ trách.

Vụ hành hạ Amđuni và Ben Benkhia (1-11-1922)

Trong cuộc chiến tranh vì công lý (28) để bảo vệ chính nghĩa, vǎn minh, v.v., người ta đã động viên 10 vạn người Tuynidi đi lính, và 60% trong số đó đã không trở về nữa. Thời đó, người Tuynidi được vuốt ve và trìu mến. Người ta đã ca ngợi rất là thắm thiết tình anh em ruột thịt giữa Pháp và Tuynidi, “mối tình ruột thịt đã đời đời gắn chặt vào trong xương máu và quang vinh”. Người ta đã thực hành cả một chế độ kiểm duyệt để cấm báo chí dù thế nào cũng không được làm phật ý người bản xứ.

Ngày nay, tình anh em đó đã thay hình đổi dạng. Nó không phải chỉ thể hiện bằng những cái vuốt ve hoặc những cử chỉ trìu mến mà thôi, nó còn thể hiện một cách hùng hồn hơn bằng những phát súng lục hoặc những trận roi da kia. Bằng chứng là những việc sau đây. Khi trông thấy ba người bản xứ cho cừu vào ǎn cỏ ở vườn cây ôliu của mình, một vị thực dân Pháp liền bảo vợ đi lấy súng và đạn ra. Khi vợ mang súng đạn ra, thì vị đi khai hoá của chúng ta nấp vào một bụi cây, rồi đoàng! đoàng! đoàng! Ba phát bắn ra, thế là ba người bản xứ ngã xuống, bị thương gần chết.

Một vị thực dân Pháp khác có hai anh công nhân bản xứ giúp việc, tên là Amđuni và Ben Benkhia; hai anh này hình như đã có lấy trộm vài chùm nho. Vị thực dân kia liền cho gọi hai người bản xứ đến, rồi dùng roi gân bò mà vụt họ lia lịa cho đến lúc họ chết ngất. Khi hai người này tỉnh lại, quan lớn bảo hộ của chúng ta liền sai trói giật cánh khuỷu lại và treo họ lên. Dù hai người khốn khổ kia đã bất tỉnh nhân sự, thế mà cuộc hành hạ bỉ ổi đó vẫn cứ kéo dài đến bốn tiếng đồng hồ, mãi đến khi có một người ở cạnh nhà phản đối mới thôi.

Hai người đáng thương đó được khiêng đến nhà thương và mỗi người bị cắt mất một bàn tay, còn bàn tay nữa chẳng biết có thể cứu khỏi được không.

Tình r…u…ột thịt như thế đấy!

Chả là ông Luyxiêng Xanh đáng tôn kính, vì đã quá bận về việc trục xuất những người cộng sản và các nhà báo, nên không có thì giờ nghĩ đến đời sống của người bản xứ “được bảo hộ” của ông đấy mà.

NGUYỄN ÁI QUỐC

Báo Le Paria, số 8, ngày 1-11-1922.
cpv.org.vn

———————————

(28) Chỉ cuộc Chiến tranh thế giới thứ nhất, bắt đầu bùng nổ ở châu Âu từ tháng 8-1914 và kết thúc vào tháng 11-1918. Cuộc chiến tranh này nhanh chóng lan rộng khắp thế giới, lôi cuốn nhiều nước đế quốc và cả các nước thuộc địa và phụ thuộc. Thực chất nó là một cuộc xung đột ác liệt giữa các nước đế quốc lớn để giành giật quyền lợi, chia lại thị trường thế giới. Nhưng để che đậy ý đồ xấu xa đó, để lừa bịp nhân dân các nước tư bản và các thuộc địa, bọn đế quốc đã gọi cuộc chiến tranh đó là vì nhân đạo, vì công lý. ở đây, chữ vì công lý được tác giả dùng với ý mỉa mai, châm biếm để vạch trần thực chất của cuộc chiến tranh tàn khốc này. Tr.119.

Sự chǎm sóc ân cần (2-11-1922)

Đây là một câu chuyện cũ, nó cũng cũ như chiến tranh. Trong khi hứa hẹn phẩm hàm cho những người Đông Dương tình nguyện(?) còn sống và vàng mã cho những người chết “vì mẫu quốc”, viên Toàn quyền Đông Dương đã thốt ra những lời cảm động như sau:

Các anh gia nhập quân đội hàng loạt, không do dự rời quê cha đất tổ, nơi chôn rau cắt rốn của mình. Là lính trận, các anh đi tòng quân để hy sinh xương máu của mình; là lính thợ, các anh cống hiến hai bàn tay của mình” (1919).

Lịch sử chép như vậy đó!

Nếu người An Nam tỏ ra vui mừng khi người ta bắt họ đi lính thì tại sao người ta lại xích tay họ lùa đến các địa điểm tập trung? Tạo sao trong khi chờ đợi đưa xuống tàu, người ta lại nhốt họ trong Trường trung học Sài Gòn, bên ngoài là lính cảnh vệ Pháp gác, lưỡi lê ở đầu súng, đạn đã lên nòng? Phải chǎng những cuộc biểu tình đẫm máu ở Cao Miên, những cuộc nổi dậy ở Sài Gòn, Biên Hoà và ở nhiều địa phương khác là những cuộc biểu tình của “đám người” nôn nóng, muốn tòng quân “không do dự”?

Người ta ra sức đàn áp dã man các cuộc đảo ngũ (và có chừng 50% lính dự bị đảo ngũ). Do đó, các cuộc khởi nghĩa đã nổ ra, nhưng bị bọn thực dân dìm trong bể máu. Những người An Nam ấy cũng bị chết trong thời chiến. Song người ta sẽ không cúng tế họ “sau khi chết”, còn những người sống sót thì cũng chẳng được quan Toàn quyền khen thưởng.

Phải, quan Toàn quyền nói thêm rằng, dĩ nhiên muốn xứng đáng được hưởng “ân huệ” và “sự hậu đãi” của nhà nước thì các anh (những người lính Đông Dương) “phải có hạnh kiểm tốt, không mảy may tỏ ra thiếu thiện chí”.

Hiện nay, khi họ dùng rượu và thuốc phiện do chính bàn tay chính phủ bán thì có thể nào họ lại không phải là những người “dễ bảo”?

NGUYỄN ÁI QUỐC

Báo L’Humanité, ngày 2-11-1922.
cpv.org.vn

Về câu chuyện Xiki (1-12-1922)

Từ khi có chủ nghĩa thực dân, nhiều người da trắng đã được thuê tiền để đấm vỡ m… những người da đen. Có một lần, một người da đen lại cũng đã được thuê tiền để làm như vậy đối với một người da trắng. Là người chống lại mọi thứ bạo lực, chúng ta không tán thành cả hai lối đó. Nhưng sự việc vẫn cứ sờ sờ ra đó, thì chúng ta hãy nhận xét xem sao. Đây, như thế này:

Bằng một quả đấm – nếu không phải là đã đấm một cách khoa học thì ít ra cũng là một quả đấm bằng trời giáng – Xiki đã hạ bệ Cácpăngchiê để rồi đích thân mình trèo lên.

Chức vô địch quyền Anh đã chuyển sang tay khác, nhưng vinh quang của dân tộc về mặt thể thao thì không hề bị tổn thương, vì rằng Xiki là người con của xứ Xênêgan, do đó là con của nước Pháp, tức là người Pháp vậy.

Mặc dù thế, mỗi lần Cácpăngchiê thắng thì dĩ nhiên là do sự khéo léo và khoa học của anh. Nhưng lần nào anh bị bại thì cũng đều là do sức lực thô bạo của một anh như Đenxây hoặc do cái chân chơi ác của một anh như Xiki. Vì thế trong trận đấu ở Buýpphalô, người ta đã muốn tuyên bố – và người ta cũng đã tuyên bố – rằng Xiki mặc dù thắng đấy, nhưng “cũng vẫn” là bại. Nhưng công chúng, loại công chúng tốt, không muốn nghe như vậy. Và công lý của nhân dân đã thắng: Xiki được tuyên bố là vô địch hoàn cầu và nước Pháp.

Sau khi bị một người da đen hạ đo ván, Cácpăngchiê đã bình thản đi thăm nước Nga, đất nước của những người Đỏ. Chúng ta ngợi khen Xiki về thắng lợi của anh. Chúng ta cũng ngợi khen Cácpăngchiê về lòng vô tư của anh.

*

*     *

S.D.N. (xin đọc là xagiét đê naxiông (1), chứ không phải xôxiêtê đê naxiông (2) ) nói rằng Thần Tài chỉ cười duyên với một người giàu có. Rơnê Marăng và Xiki đã làm chảy nhiều mực đen. Hơn nữa, Xiki còn làm chảy cả máu đỏ. Người ta làm như cả hai người anh em châu Phi của chúng ta còn cần đến nhiều mực nữa. Sau ngòi bút châm biếm của Marăng, đôi găng của Xiki đã làm rung động đến cả chính giới. Và ông Lukê, hội viên Hội đồng quận Xen, đã lập tức đưa ra một kiến nghị định cấm cuộc đấu quyền Anh ! Xin phép ông Lukê cho chúng tôi kính cẩn thưa với ông rằng, như vậy là ông đã làm một việc không yêu nước. Chúng tôi xin giải thích: Về phương diện chính trị quốc tế của chúng ta, một nhà vô địch quyền Anh hạng lông cũng tuyên truyền cho ảnh hưởng tinh thần của chúng ta ra nước ngoài như là một người bất tử, một người quang vinh, một ca sĩ hoặc mười đạo quân (ông hãy giở báo chí ra mà xem). Về phương diện quốc gia cũng cần thiết phải có một võ sĩ có tài để nêu gương và khuyến khích cái đẹp về thể lực cho thế hệ trẻ. Về phương diện thuộc địa, một trận đấu Cácpăngchiê – Xiki có giá trị hơn mười vạn bài diễn văn của những nhà cai trị nhằm chứng tỏ cho những con dân và những người được bảo hộ của chúng ta rằng, chúng ta muốn áp dụng triệt để nguyên tắc bình đẳng về chủng tộc.

Có nên hy sinh ba điều lợi đó cho một cái chủ nghĩa nhân đạo mơ hồ nào đó không? Không ! Có phải không, ông Xarô?

*

*     *

Theo tin các báo thì người ta vừa ra lệnh treo giò Xiki trong chín tháng, không cho dự tất cả các võ đài nước Pháp (Như vậy không hề có nghĩa là người ta sẽ đem treo Xiki đáng thương của chúng ta trong chín tháng đồng thời trên tất cả võ đài của nước Pháp đâu. – Xin nhắn với các bạn của chúng tôi ở Xênêgan như vậy). Lý do: đã lăng mạ ông Quyni.

Sao thế nhỉ? Trước đây người ta đã tuyên dương Xiki vì anh đã đánh sưng mũi ông Cácpăngchiê cơ mà. Ngày nay, Xiki chưa hề đụng đến chân lông Quyni, mà sao người ta đã tuyên bố hạ anh xuống như vậy? Người ta cũng không hề định làm cho chúng ta tưởng rằng cái… mặt của Quyni mảnh dẻ và quý báu hơn là mặt ông Cácpăngchiê, và rằng… Chả phải thế. Thật chẳng hiểu ra sao. Chúng tôi đoán có lẽ là thế này: người ta không bao giờ tha thứ cho Xiki là một người da đen đã thắng Cácpăngchiê là một người da trắng; và tuy Cácpăngchiê không có lòng hằn thù, nhưng chủ nghĩa vị chủng của những người khác thì lại đem lòng hằn thù. Và cái lý do kia chỉ là một cái lý do… vin lấy cho có lý do mà thôi.

Cũng theo các báo đó, chúng ta được biết rằng Bộ trưởng Bộ Nội vụ Anh đã cấm cuộc đấu dự định từ trước giữa Giôê Bếchkết và Xiki ở Luân Đôn. Việc này không làm cho chúng ta ngạc nhiên. Vì Cụ lớn nước Anh đã không thể tiêu hoá nổi món bánh hình lưỡi liềm (1) của Kêman cũng như món sôcôla (2) của Găngđi cho nên Ngài muốn bátlinh (3) Xiki phải nuốt liều thuốc tẩy của Ngài, mặc dù Xiki là một người Pháp. Các bạn đã hiểu chưa? (4) .

NGUYỄN ÁI QUỐC

Báo Le Paria, số 9, ngày 1-12-1922.
cpv.org.vn

—————————–

(1) Ngay sau khi Nguyễn Ái Quốc gửi bản Yêu sách của nhân dân An Nam tới trưởng đoàn các nước dự Hội nghị Vécxây, bọn bồi bút thực dân lồng lộn. Trên tờ Courrier Colonial ra ngày 27-6 có một bài nhan đề Giờ phút nghiêm trọng chỉ trích bản yêu sách : Làm sao một người dân thuộc địa lại có thể dùng bản yêu sách của nhân dân để công kích Chính phủ Pháp. Thật là quá quắt. Cứ theo đà này thì bọn dân thuộc địa sẽ lên ngang hàng với người Pháp chúng ta và sớm trở thành ông chủ của chúng ta. Không được, phải kìm giữ chúng mãi mãi trong vòng nô lệ. Nguyễn Ái Quốc viết bài này là để trả lời bài báo sặc mùi thực dân trên.

(2) Bản Yêu sách của nhân dân An Nam: Nǎm 1918, Chiến tranh thế giới thứ nhất kết thúc. Ngày 18-1-1919, đại biểu các nước đế quốc tham gia chiến tranh họp hội nghị ở Vécxây (Pháp). Hội nghị này (còn gọi là Hội nghị hoà bình Pari) nhằm xác định sự thất bại của Đức và các nước đồng minh của Đức, chia lại thị trường thế giới cho các nước đế quốc thắng trận, chủ yếu là Mỹ, Anh, Pháp.Nhân danh nhóm người yêu nước Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc đã gửi đến Hội nghị bản Yêu sách của nhân dân An Nam. Nguyễn Ái Quốc còn thuê in thành truyền đơn, đǎng trên các báo, gửi đến các nhà hoạt động chính trị có tên tuổi, phân phát trong các buổi hội họp, mít tinh, gửi cho Việt kiều ở Pháp và gửi về nước.

(3) Báo Le Courrier d\’Hai Phong: Báo xuất bản hằng ngày ở Hải Phòng, nǎm 1887, do Toà đốc lý của chính quyền thuộc địa phụ trách.

(4) Báo L\’Humanité: Tờ báo hằng ngày của Đảng Xã hội Pháp do Giǎng Giôrét sáng lập nǎm 1904. Sau Đại hội lần thứ XVIII (Đại hội Tua), Đảng Cộng sản Pháp thành lập, báo L\’Humanité trở thành cơ quan ngôn luận chính thức của Đảng Cộng sản Pháp.

Những quan toà thuộc địa tốt bụng của chúng ta (4-12-1922)

Bằng chỉ thị ngày 10 tháng 10 nǎm 1922, chính phủ đã thi hành nghị định về bổ nhiệm người vào chức quan toà thuộc địa. Trong số những người đó, chúng ta thấy tên các ông Luycaxơ và ông Oabrǎng.

Cần nhắc lại sơ lược lai lịch của hai vị quan toà này.

Ông Luycaxơ là cựu chưởng lý ở Tây Phi thuộc Pháp, đã được nói tới nhân vụ rắc rối vừa rồi ở Tôgô. Trong thông cáo báo chí, Bộ trưởng Bộ Thuộc địa đã buộc phải tuyên bố: “Cuộc điều tra đã xác định ông Luycaxơ có tham dự vào vụ việc, và điều đó đặt trách nhiệm rất nặng nề lên tổ chức quan toà”.

Có lẽ để thưởng công về việc tham gia vụ bê bối, ông Luycaxơ đã được bổ nhiệm làm chủ toạ toà thượng thẩm ở châu Phi xích đạo thuộc Pháp.

Còn về Oabrǎng thì lai lịch của ông ta đơn giản hơn và ít nổi tiếng hơn. Nǎm 1920, một người Pháp họ là Đuyếcgri, nhân viên hãng Pâyruýtxắc ở Cǎngcan (Ghinê) đi sǎn. Ông ta bắn một con chim rơi xuống sông. Một em bé chạy ngang qua. Đuyếcgri túm em bé vứt xuống sông và ra lệnh tìm bằng được con chim. Sông sâu, nước chảy xiết, em bé không biết bơi, đã chết chìm. Cha mẹ nạn nhân kiện lên nhà đương cục. Đuyếcgri bị viên chỉ huy khu gọi đến. Y đồng ý trả 100 phrǎng cho gia đình đau khổ để ỉm vụ này.

Người cha mẹ bất hạnh từ chối cách dàn xếp đê tiện ấy. Viên chỉ huy giận dữ đứng về phía người đồng bào giết người của mình và doạ bỏ tù hai vợ chồng nếu họ khǎng khǎng đòi trừng trị kẻ giết người, sau đó, nói chung đã ỉm vụ ấy đi.

Song có một bức thư nặc danh báo chuyện này cho tổng công tố viên ở Đắcca. Toà án tối cao giao cho công tố viên sở tại Oabrǎng điều tra tại chỗ. Ông Oabrǎng đến Cǎngcan, ngủ tối tại nhà ông trưởng ga. Ngày hôm sau, ông ở nhà Đơ Lavalie, trợ lý của viên chỉ huy khu, sau đó, đi về, thậm chí chưa hề bắt tay vào việc điều tra. Điều đó không ngǎn cản ông Oabrǎng kết luận rằng bức thư mang tính chất vu khống. Hội Liên hiệp thuộc địa báo sự việc này cho Hội Nhân quyền và Dân quyền (ngày 22 tháng 12 nǎm 1921), nhưng có lẽ Hội coi sự việc không lấy gì làm giật gân lắm, nên chẳng thèm quan tâm đến.

Sau chuyến viếng thǎm Cǎngcan, ông Oabrǎng trong khi chờ nâng cấp, vẫn yên ổn ở lại cương vị của mình, nhận những con gà mái tơ và những bao tải khoai tây từ người bạn của ông là ông Cudanh đơ Lavalie gửi biếu.

Như các bạn thấy đấy, ông Oabrǎng quả là xứng đáng với… phần thưởng chính đáng của chính phủ nước mình – được bổ nhiệm vào cương vị Tổng công tố viên của nước cộng hoà ở Đắcca.

Với sự có mặt của những Đáclơ, những Bôđoanh, những Oabrǎng và những Luycaxơ, có thể nói rằng vận mệnh của nền vǎn minh tối cao, cũng như số phận của dân bản xứ ở các thuộc địa đều nằm trong những bàn tay đáng tin cậy.

NGUYỄN ÁI QUỐC

Báo L’Humanité, ngày 4-12-1922.
cpv.org.vn

Sự thịnh vượng của Đông Dương dưới triều đại M.Lông (22-12-1922)

Ngài A. Xarô, vị Bộ trưởng thuộc địa vĩ đại của chúng ta, không bao giờ bỏ sót một dịp nào để say sưa tán tụng về sự thịnh vượng của xứ Đông Dương, xứ Đông Dương “của Ngài”, và về những sự nghiệp vĩ đại mà ngài cùng bộ hạ của ngài đã làm hoặc đang làm tại đấy. Để chứng minh rằng ngài chỉ nói đúng sự thật, chỉ nói độc có sự thật thôi, chúng tôi cần đưa ra cho ngài và cho các bạn chúng ta đọc những đoạn sau đây, trích ở một bức thư của đại tá Bécna gửi cho báo La République Francaise (29) , ngày 6-12-1922 và, thưa ngài Bộ trưởng, xin ngài cứ yên tâm, đại tá đó không phải là một người cộng sản đâu. Bức thư nói như sau:

“Số hàng xuất khẩu của Đông Dương hiện đang cầm chừng hay còn giảm xuống nữa. Nǎm 1914, Đông Dương đã xuất khẩu 45.000kg tơ lụa; 99.000 tấn ngô; 400 tấn chè; nǎm ngoái chỉ xuất khẩu có 15.000 kg tơ lụa; 32.000 tấn ngô; 156 tấn chè.

“Người ta cũng tưởng rằng hiện nay chính phủ Đông Dương đang tích cực tiến hành những công trình lớn cần thiết cho việc khai thác thuộc địa này. Thế nhưng, từ nǎm 1914 đến nay, người ta không hề đặt thêm được một kilômét đường sắt nào, cũng không khai thác thêm được một hécta ruộng đất nào. Cách đây mười nǎm, ông Xarô có đưa thông qua một chương trình kiến thiết bao gồm việc xây dựng con đường sắt từ Vinh đến Đông Hà và bốn hệ thống đại thuỷ nông; tất cả những công trình đó đều đã ngừng từ hơn nǎm nǎm nay, lấy cớ là không có kinh phí. Nhưng cũng trong thời gian đó, xứ Đông Dương đã dành ra 65 triệu đồng, 450 triệu phrǎng để xây dựng đường sá và dinh thự. Mời ông Phagiê hãy suy nghĩ về những con số đó xem! Gần một nửa tỷ đã chi phí để xây dựng những đường ôtô chạy mà trên đó không hề lưu thông được lấy một tấn hàng hoá nào; để dựng những dinh thự và công sở cho hằng hà sa số công chức đang sinh sôi nảy nở như cây cối sum xuê vùng nhiệt đới; trong khi ấy thì những công trình đã được thừa nhận là tối cần thiết và đã được Nghị viện thông qua rồi, lại bị bỏ rơi.

“Nhưng xin đừng tưởng rằng người ta có ý muốn thay đổi phương pháp ở Đông Dương đâu. Để hoàn thành chương trình 1912, Ông Lông đã xin phép Nghị viện được phát hành công trái. Hiện nay, ông ta lại còn xin phép phát hành một công trái thứ hai nữa. Những kẻ hiện nay đang lãnh đạo việc khai thác xứ Đông Dương xem chừng đã định tâm không muốn làm cái gì thật sự có ích lợi cả, nếu trước hết người ta không cho phép họ được vay nợ. Còn đối với ngân quỹ, đối với những dự trữ gom góp được trong và sau thời kỳ chiến tranh, thì họ sẵn sàng vung tay ném qua cửa sổ, nếu Nghị viện không đưa họ vào nền nếp”.

NGUYỄN ÁI QUỐC

Báo La Vie Ouvrière, ngày 22-12-1922.
cpv.org.vn

———————-

(29) Báo La République Francaise: Báo xuất bản hằng ngày ở Pari từ ngày 7-11-1871 đến ngày 12-7-1924, do Lêông Gǎmbetta sáng lập. Tr.128.

Vực thẳm thuộc địa (9-1-1923)

Nước Pháp có một hệ thống thuộc địa rộng mười triệu kilômét vuông với dân số là 56 triệu người da vàng và da đen. Để “khai thác” tất cả những cái đó, ông Anbe Xarô, Bộ trưởng Bộ Thuộc địa cần có ba hay bốn tỷ phrǎng. Muốn thế, ông đã “tổ chức” một chiến dịch báo chí rộng rãi và đã đọc không biết bao nhiêu là diễn vǎn. Ngài Bộ trưởng lại còn viết cả một pho sách dày 656 trang (giá 20 phrǎng một cuốn). Trong khi chờ đợi thu được những tỷ đó, xin phép Ngài Bộ trưởng hãy cho chúng tôi bổ sung đôi chút vào những lý lẽ của Ngài.

Ngân sách Nam Kỳ chẳng hạn, nǎm 1911, là 5.561.680 đồng (12.791.000 phrǎng); nǎm 1912 là 7.321.817 đồng (16.840.000 phrǎng). Nǎm 1922, ngân sách đó lên tới 12.821.325 đồng (96.169.000 phrǎng). Một con tính đơn giản chỉ cho chúng ta thấy rằng giữa hai nǎm 1911 và 1922, trong ngân sách của thuộc địa này có một sự chênh lệch là 83.378.000 phrǎng (tỷ suất hối đoái của đồng bạc hai nǎm đó là 2 phrǎng 25 và 7 phrǎng 50). Số tiền đó chạy đi đâu? Chạy vào các khoản chi về nhân viên mà thôi, vì các khoản này đã nuốt gần hết 100 phần 100 tổng số thu.

Rồi hết những điên rồ này đến những sự điên rồ khác đã làm vung phí đồng tiền mà người dân An Nam đáng thương hại đã phải đổ mồ hôi nước mắt mới kiếm ra được. Hiện chúng tôi chưa biết rõ số tiền mà đức vua An Nam đã chi tiêu về việc sang du ngoạn bên Pháp đúng là bao nhiêu đồng, nhưng chúng tôi biết rằng, để đợi được ngày tốt cho con Rồng nan (1) có thể ngự giá xuống tàu, người ta đã phải bồi thường phí tổn cho tàu Poóctốtxơ về bốn ngày chờ đợi, mỗi ngày 100.000 phrǎng (tức là 400.000 phrǎng). Tiền tàu hết 400.000 phrǎng. Tiền chiêu đãi hết 240.000 phrǎng (không kể tiền lương trả cho bọn cảnh sát để canh gác những người An Nam ở Pháp). 77.600 phrǎng để trả tiền ǎn ở tại Mácxây cho số lính khố xanh An Nam dùng để bồng súng chào Cụ lớn Bộ trưởng và Hoàng thượng.

Vì nói đến Mácxây, nên nhân tiện chúng ta hãy xem thử cuộc triển lãm thuộc địa ở đây đã tổn phí cho chúng ta biết bao nhiêu. Trước hết, và ngoài những kẻ thần thế ở chính quốc ra, người ta còn cho mời ba chục viên chức cao cấp ở các thuộc địa về, – bọn này hằng ngày phè phỡn ở Cannơbie mà vẫn được lĩnh phụ cấp cả ở Triển lãm lẫn ở thuộc địa. Riêng Đông Dương phải bỏ ra 12 triệu cho cuộc triển lãm đó. Và các bạn có biết người ta đã chi tiêu số tiền đó như thế nào không? Đây là một thí dụ: Cái việc gọi là dựng lên mô hình các cung điện Ǎngco đã làm tốn mất 3000 mét khối gỗ xây dựng, giá mỗi mét là 400 hay 500 phrǎng. Tổng cộng: 1 triệu 200 nghìn đến 1 triệu 500 nghìn phrǎng.

Còn những việc vung phí khác nữa. Để chuyên chở quan Toàn quyền, mà chỉ dùng các xe hơi và những cỗ xe ngựa thì cũng chưa đủ. Ngài cần phải có một toa xe đặc biệt nữa kia, việc sắp xếp toa xe đó tổn phí cho công khố 125.350 phrǎng.

Trong vòng mười một tháng hoạt động, Cục kinh tế Đông Dương đã làm cho ngân sách Đông Dương hao hụt một số tiền là 464.000 phrǎng.

Tại Trường thuộc địa, nơi đào tạo những “nhà đi khai hoá” sau này, 44 giáo sư đã được đài thọ để dạy từ 30 đến 35 học viên, lại bao nhiêu là nghìn phrǎng nữa.

Sở thanh tra thường trực các công trình phòng thủ thuộc địa hằng nǎm tốn cho ngân sách hết 758.168 phrǎng. Thế mà các ngài thanh tra thì không bao giờ rời khỏi Pari, và đối với các thuộc địa thì các ngài cũng không hiểu biết gì hơn là hiểu biết việc trên mặt trǎng.

Nếu đến các thuộc địa khác, thì ở đâu, chúng ta cũng thấy một tình trạng tệ hại như vậy. Để đón tiếp một phái đoàn “kinh tế” bán chính thức, kho bạc Máctiních “vợi đi” mất 400.000 phrǎng. Trong vòng mười nǎm, ngân sách Marốc đã từ 17 triệu tǎng lên tới 290 triệu phrǎng, mặc dầu người ta đã giảm đi 30% các khoản chi tiêu cho bản xứ, tức là những khoản chi tiêu có thể đem lại lợi ích cho dân bản xứ.

Đó là số tiền hàng triệu và thậm chí hàng tỷ mà nếu người ta biết cách tìm thì có lẽ người ta sẽ kiếm ra được một cách dễ dàng. Nhưng Ngài Bộ trưởng lại cứ muốn gõ vào dân bản xứ.

NGUYỄN ÁI QUỐC

Xin hỏi

Có phải vì quá nhiều tính nhân đạo, như ông Xarô đã nhiều lần tuyên bố, mà người ta đã bắt các phạm nhân ở nhà tù Nha Trang (Trung Kỳ) phải ǎn khan, nghĩa là ǎn cơm mà không được uống nước không? Có phải người ta đã quét tanhtuyađiốt lên mũi các phạm nhân để dễ nhận ra họ khi họ vượt ngục không?

N.A.Q

Báo L’Humanité, ngày 9-1-1923.
cpv.org.vn

Những người bản xứ được ưa chuộng (1) (15-1-1923)

Năm 1604, một người Anh tên là Sếchxpia vốn là một nhà văn chuyên nghiệp, ông ta có nhã ý đưa ra một vở kịch mà vai chính là một người da đen. Người da đen này tên gọi Ôtenlô, quả là một anh hùng, một anh hùng thật sự anh hùng. Ôtenlô đã từng chinh chiến nhiều, nhưng không phải là đánh Cácpăngchiê, cũng không phải vì anh là người được ông Đianhơ tuyển mộ, cũng không phải vì anh là người dưới trướng của tướng Mănggianh, vả lại hồi đó vẫn chưa nổ ra cuộc chiến tranh vì công lý – mà là đánh những cường quốc hiếu chiến ở châu Âu và châu Phi. Ôtenlô làm thống soái của quận công xứ Vênêxi. Cứ theo lời ông Viviani nói thì trên mái tóc xoăn của Ôtenlô đã có biết bao nhiêu vòng hoa chiến thắng. Nhưng chiến công lớn nhất của Ôtenlô là đã thắng được Đêxđêmônia.

Đêxđêmônia không phải là một thành phố của bọn bôsơ, cũng không phải là một thuộc địa. Đó chỉ là tên một cô gái dịu dàng, xinh xắn, đầy hạnh phúc, con của nguyên lão nghị viện Brabantiô. Ôtenlô đã chiếm được trái tim nàng bằng cách kể lại cho nàng nghe lịch sử cảm động của đời mình, những trận đánh vĩ đại, những trận vây thành dài đằng đẵng, những chiến công rực rỡ, tóm lại là những chuyện tán tỉnh hay ho gì đó! Biết cha mình vốn chức tước như thế thì sẵn có nhiều thành kiến, nhất là thành kiến chủng tộc, nên nàng Đêxđêmônia hiền hậu chỉ một lòng nghe theo tiếng gọi của tình yêu, nàng quyết lấy chàng da đen làm chồng mà không cần đến ý kiến của cha.

Trong vở kịch này, những người da trắng như tay thám tử Iagô và anh chàng Rôđrigô bị khinh bỉ, đều không đóng một vai gì choáng lắm; chính họ lại là những vai đen tối nhất. Song cái đó chẳng can gì đến chúng ta.

310 năm đã trôi qua. Người bản xứ lại được đưa lên sân khấu: nhưng đây là sân khấu chiến tranh (1) . Tác giả lần này giấu biệt tên tuổi, tìm cũng chẳng thấy, song các vai diễn,- anh hùng hay không- nhưng vì quá nhập vai của mình nên phần đông đã nằm lại trên sân khấu. Thật là một tấn bi kịch! Năm 1922, lại thấy xuất hiện những người bản xứ được ưa chuộng. Ta không nói đến Batuala, con người được phong tặng và Xiki, kẻ ân nhân của khoa học làm gì. Ta chỉ nói đến những người bản xứ đã thích ứng được, hoặc được thích thú (2) .

Bị trói gô vào cột buồm tàu và được đưa đi làm quân tình nguyện ở châu Âu, đánh phường man rợ để bảo vệ văn minh, nhưng một khi đến xứ văn minh rồi thì những người bản xứ của ông Têry lại được cái thú tha hồ nếm “trái cây trong vườn cấm”. Những người bản xứ còn sống sót sau cuộc tàn sát năm 1914 cũng như những người bản xứ còn sống sót sau đại chiến 1914-1918 đều có thể tự hào rằng vì công lý và nền dân chủ của chủng tộc cao đẳng, họ không những đã hiến đời mình, xương máu mình, mà còn hiến cả niềm t… in của mình nữa.

Ông Sếchxpia trước kia lấy làm hài lòng thấy người dân bản xứ trong vở kịch của mình đã đàng hoàng lấy được cô gái mẫu quốc. Còn ông Têry ngày nay thì chỉ nhận thấy có một điều là người bản xứ của ông rất đắc lực để góp phần làm cho dân số phình lên bằng cách làm phình bụng các cô nàng da trắng. Ông Xasa Ghitơry còn đi xa hơn nữa. Ông muốn người bản xứ phải được văn minh hoàn toàn. Ông muốn họ phải c…ắm sừng các ông chồng da trắng cơ! Ông đã được hoàn toàn toại nguyện, vì chín tháng sau cuộc “chinh phục” bà Mácgrít Đênoayê đã sinh hạ được một cậu bé bản xứ. Nhưng chúng ta lấy làm tiếc rằng Đênoayê đã không hoan nghênh chú bé bản xứ đó cho lắm. Vốn là một nhà yêu nước từ đầu đến chân, nên ông ta muốn rằng chú bé màu da “sôcôla” kia ra đời giá đừng có nhẵn nhụi và bé nhỏ như thế, mà lại là một người râu ria xồm xoàm, ba lô trên lưng, súng trên vai để bảo vệ đất nước, thì quý biết chừng nào.

Ngay cả trong các trang tiểu thuyết đăng trên báo, người bản xứ cũng đã giành được địa vị của mình. Ông Angiabe – ấy xin lỗi, ông Anbe Giăng chứ – đã chẳng kể chuyện rằng ở Hội chợ Mácxây có một chàng An Nam kia làm nghề kéo xe đã lọt được vào mắt xanh của một bà đầm xinh đẹp nọ. Sau khi đi thăm Hội chợ về, bà bèn cho gọi anh xe đến phòng ngủ lộng lẫy của bà. Và vân vân … Người yêu bị cắm sừng của bà bỗng nhiên tới. Bối rối, lẩn núp, v.v.. Nhưng cái chính của câu chuyện lại ở chỗ khác kia. Nguyên là chàng công tử kia đã đánh cắp được một viên ngọc bích bày ở gian thờ của Đông Dương và đến để khoe với người ngọc của mình. (Ôi! lương thiện vậy thay!). Người An Nam kia đứng nấp đằng sau trông thấy quả tang hành vi đầy tội lỗi ấy, liền nhảy ra đánh cho anh chàng ăn cắp ngã gục, rồi mang lễ vật quý đó về bàn thờ.

Không kể các điệu nhạc khiêu vũ và các cuộc Hội chợ thuộc địa đã làm cho anh em thuộc địa chúng ta tự hào một cách chính đáng, chúng ta lại còn lấy làm sung sướng được biết rằng từ sang năm trở đi, tất cả các bà đầm thuộc giới lịch sự sẽ mang một cái gì của chúng ta trên người và trong người họ; các cửa hàng thời trang lớn ở Pari, sang xuân tới, sẽ tung ra những kiểu vải thuộc địa và kiểu quần áo thuộc địa. Người ta sẽ đặt cho những bộ áo mặc trong nhà và các áo khác đủ thứ tên nào là: Thị Ba, Bămbara, Uôlốp, Luphơlúp, v.v..

Hỡi những người con của thuộc địa! Ngày vinh quang đã tới rồi (1) .

NGUYỄN ÁI QUỐC

Báo Le Paria, số 10, ngày 15-1-1923.
cpv.org.vn

—————————–

(1) Ngay sau khi Nguyễn Ái Quốc gửi bản Yêu sách của nhân dân An Nam tới trưởng đoàn các nước dự Hội nghị Vécxây, bọn bồi bút thực dân lồng lộn. Trên tờ Courrier Colonial ra ngày 27-6 có một bài nhan đề Giờ phút nghiêm trọng chỉ trích bản yêu sách : Làm sao một người dân thuộc địa lại có thể dùng bản yêu sách của nhân dân để công kích Chính phủ Pháp. Thật là quá quắt. Cứ theo đà này thì bọn dân thuộc địa sẽ lên ngang hàng với người Pháp chúng ta và sớm trở thành ông chủ của chúng ta. Không được, phải kìm giữ chúng mãi mãi trong vòng nô lệ. Nguyễn Ái Quốc viết bài này là để trả lời bài báo sặc mùi thực dân trên.

(2) Bản Yêu sách của nhân dân An Nam: Nǎm 1918, Chiến tranh thế giới thứ nhất kết thúc. Ngày 18-1-1919, đại biểu các nước đế quốc tham gia chiến tranh họp hội nghị ở Vécxây (Pháp). Hội nghị này (còn gọi là Hội nghị hoà bình Pari) nhằm xác định sự thất bại của Đức và các nước đồng minh của Đức, chia lại thị trường thế giới cho các nước đế quốc thắng trận, chủ yếu là Mỹ, Anh, Pháp.Nhân danh nhóm người yêu nước Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc đã gửi đến Hội nghị bản Yêu sách của nhân dân An Nam. Nguyễn Ái Quốc còn thuê in thành truyền đơn, đǎng trên các báo, gửi đến các nhà hoạt động chính trị có tên tuổi, phân phát trong các buổi hội họp, mít tinh, gửi cho Việt kiều ở Pháp và gửi về nước.

Sự liêm khiết thực dân (19-1-1923)

Tin sau đây chúng tôi trích ở tờ Journal Officiel (31) , nói về buổi họp thứ nhất ngày 22-12-1922:

“Trong thời kỳ chiến tranh, nhiều lính Phi gửi ngân phiếu cho gia đình với những số tiền nhiều khi rất lớn. Nhưng các ngân phiếu ấy không bao giờ đến tay người nhận cả”.

Một bạn đồng nghiệp lại vừa cho chúng tôi biết một hiện tượng tương tự như thế. Lần này, sự việc xảy ra ở đảo Rêuyniông. Đã nhiều tháng nay, nhân dân trên đảo không hề nhận được một bưu kiện nào gửi đến cho họ cả. Tờ Journal viết:

“Hiện tượng ấy làm cho cả người gửi hàng lẫn người không nhận được hàng đều phải lấy làm lạ.

“Nhiều người khiếu nại. Cuộc điều tra mới mở đã rọi ngay được ánh sáng vào điều bí mật nói trên, và phát hiện được một loạt vụ đánh cắp được tiến hành một cách chu đáo và kiên trì lạ thường.

“Người ta bắt một nhân viên, rồi một nhân viên nữa, rồi đến lượt ông “xếp”, và cuối cùng, khi tất cả nhân viên bị còng tay thì đến phiên ông giám đốc ngành bưu điện cũng theo họ vào tù nốt.

“Mỗi ngày, cuộc điều tra lại đưa ra ánh sáng vài sự việc mới. Số bưu kiện bị đánh cắp trị giá trên 125.000 phrǎng. Giấy tờ, kế toán đều làm gian cả. Sổ sách gian lận rối beng đến nỗi phải mất hơn 6 tháng mới gỡ ra được.

“Ở trong một ngành nào đó, đôi khi có thể có một vài viên chức gian tham, song rất ít khi lại có cả một ngành suốt từ trên xuống dưới nhiễm phải bệnh ǎn cắp đến như vậy; điều lạ kỳ hơn nữa là tại sao tất cả bọn ǎn cắp ấy lại có thể hoành hành được trong mấy nǎm ròng mà vẫn được bình yên vô sự”.

NGUYỄN ÁI QUỐC

Báo La Vie Ouvrière, ngày 19-1-1923.
cpv.org.vn

————————-

(31) Journal officiel de la République Francaise : Công báo của nước Cộng hoà Pháp xuất bản từ tháng 9-1870. Tr.139.

Bộ sưu tập động vật (1-2-1923)

Thật chúng tôi đã nghĩ đến nát cả bộ óc người da vàng của chúng tôi ra, cũng không tài nào tìm thấy cái lẽ vì sao mấy ông bà người Pháp lại thành lập một tổ chức kỳ cục là Hội bảo trợ loài vật. Trước hết, chúng tôi sở dĩ không sao tìm ra được nguyên nhân đó, vì chúng tôi thấy hiện nay còn có biết bao nhiêu là con người cùng khổ đang đòi hỏi được người ta sǎn sóc đến họ một chút mà cũng chẳng được. Sau nữa vì những con vật đó không đáng được thương yêu đến thế, mà chúng nó cũng có khổ sở gì cho cam. Trừ con sư tử đen (1) là có ích cho những người có thói quen xỏ chân vào giày da thú, còn hầu hết những con vật đó đều độc ác, rất độc ác.

Cái con chó ngắn mõm (2) chẳng đã chạy đến nhe bộ rǎng khả ố của nó ra mà xé toạc cả cơ cấu của Hội nghị Pari đó sao? Thành thử con khỉ phlamǎng và con gà sống gôloa phải một mình đương đầu với con phượng hoàng giécmanh ở miền Ruya (3) .

Trong khi hãy còn bị xích cổ, thế mà con hổ (1) chẳng đã nhá nghiến mất nhiều bộ của nước Cộng hoà đó sao? Người ta chẳng đã phí hàng mấy triệu, mấy tỷ để nhờ hai ông bạn vinh quang của chúng ta là Contrắc và Vranghen mua hộ da con gấu Mátxcơva, là con vật ngày nay hơn bao giờ hết, nó không thích để cho người ta tuỳ ý muốn làm gì thì làm đó sao? (Chao! con vật mới quái chứ).

Trong số các bạn hữu ở chính quốc của chúng ta, ai là người không phải phàn nàn về tai hại do loài diều hâu gây ra? Loài quạ (2) mà lại chẳng phải là những kẻ phá hoại tai hại trong địa hạt tinh thần à? Còn những con mọt già (3) thì có làm được việc gì ngoài cái việc chỉ chuyên tìm cách lợi dụng những sự bất hoà và những chuyện xích mích trong xã hội? Lại còn con vật nào đó chẳng đã vô sỉ đến nỗi muốn cho phép tất cả các chàng rể láo xược cứ việc dùng tên nó để gọi mẹ vợ họ đó sao? Bọn mèo quý phái (4) há chẳng thật sự là những kẻ đã dập tắt cả hạnh phúc gia đình của nhiều nhà đó ư? Và những con chuột cống ở khách sạn (5) chẳng đã là những kẻ thù muôn thuở của tất cả những người đi du lịch đó sao?

Chưa kể đến chó sói lúc nào cũng là kẻ có lẽ phải vì đó là kẻ mạnh hơn, và những con chiên ghẻ là một mối tai hoạ cho cả một xã hội trung thực, chúng tôi… Nhưng trước khi kết thúc, ta hãy nói một chút về những con vật ở thuộc địa.

Đúng giữa lúc ông Ghinan chuẩn bị để nhờ ông Mǎnggianh chuyển lên Viện Hàn lâm khoa học một bài nghiên cứu về việc sử dụng da cá mập, thì ông Anbe Xarô lên đường đi Đảo Chó (6) đọc một

bài diễn vǎn bộ trưởng của ông tại xưởng ướp cá thu Xanh Pie và Micơlông, còn về phần ông Xitơrôen thì ông cho “con Sâu” (1) khai hoá của ông bò xuyên qua Xahara. Hai cuộc đi công cán này – việc công và việc nửa công nửa tư – chắc hẳn thế nào cũng sẽ thu được kết quả tốt đẹp mà người ta có quyền chờ đợi: tức là làm cho con chuột nhắt đẻ ra những quả núi và củng cố địa vị của những con cá mập thực dân.

Người ta thường quên tưởng rằng các nhà bảo hộ của chúng ta lúc nào cũng thi hành cái chính sách của loài đà điểu (2). Nhưng lầm to rồi các bạn ạ! Chả phải thế đâu, này nhé: Chỉ có nhận lời mời của chú cá nục ở Hải cảng cũ thôi mà chính phủ thuộc địa đã không ngần ngại một chút nào mà không chi tiêu:

Đông Dương 13.190.846 phrǎng
Tây Phi thuộc Pháp 5.150.000 –
Châu Phi xích đạo thuộc Pháp 348.750 –
Camơrun 390.000 –
Mađagátxca 1.837.600 –
Máctiních 108.000 –
Guyađơlúp 55.000 –
Guyan 62.500 –
Tân Caliđôni 75.000 –
Tân Hêbrít 60.000 –
Châu Đại Dương 65.000 –
Ấn Độ 135.000 –
Xômali 97.000 –
Đảo Rêuyniông 85.000 –
Xanh Pie và Micơlông 14.000 –

để đưa vài con lạc đà, vài con bò cái và vài con cá sấu từ các thuộc địa về thành phố Mácxây.

Lại cũng phải nhận rằng các nhà đi khai hoá của chúng ta đã không từ một sự cố gắng nào để cắm cho mấy con chim sẻ bản xứ- rất dễ bảo và rất ngoan ngoãn – vài cái lông công làm cho chúng trở thành những con vẹt hay những con chó giữ nhà. Và nếu nhân dân châu Phi và châu á mà được “hoà bình” và “thịnh vượng” đến như thế này, thì chính những “vị đi gieo rắc dân chủ” không biết mỏi mệt đó là con nhặng đánh xe (1) chứ còn ai vào đó nữa?

Nói tóm lại, số phận của tất cả những con vật ấy tương đối đã dễ chịu. Vậy, nếu các hội viên của cái hội cao cả là Hội bảo trợ các loài vật cần phải giết thì giờ, thì nên chǎm sóc đến những con khỉ bị bác sĩ Vôrônốp làm cho đau đớn (2) và đến những con cừu dân bản xứ khốn khổ kia luôn luôn bị hớt trụi lông (3) , đó có lẽ lại là một việc ích lợi hơn.

NGUYỄN ÁI QUỐC

Báo Le Paria, số 11, ngày 1-2-1923.
cpv.org.vn

——————————-

(1) Ngay sau khi Nguyễn Ái Quốc gửi bản Yêu sách của nhân dân An Nam tới trưởng đoàn các nước dự Hội nghị Vécxây, bọn bồi bút thực dân lồng lộn. Trên tờ Courrier Colonial ra ngày 27-6 có một bài nhan đề Giờ phút nghiêm trọng chỉ trích bản yêu sách : Làm sao một người dân thuộc địa lại có thể dùng bản yêu sách của nhân dân để công kích Chính phủ Pháp. Thật là quá quắt. Cứ theo đà này thì bọn dân thuộc địa sẽ lên ngang hàng với người Pháp chúng ta và sớm trở thành ông chủ của chúng ta. Không được, phải kìm giữ chúng mãi mãi trong vòng nô lệ. Nguyễn Ái Quốc viết bài này là để trả lời bài báo sặc mùi thực dân trên.

(2) Bản Yêu sách của nhân dân An Nam: Nǎm 1918, Chiến tranh thế giới thứ nhất kết thúc. Ngày 18-1-1919, đại biểu các nước đế quốc tham gia chiến tranh họp hội nghị ở Vécxây (Pháp). Hội nghị này (còn gọi là Hội nghị hoà bình Pari) nhằm xác định sự thất bại của Đức và các nước đồng minh của Đức, chia lại thị trường thế giới cho các nước đế quốc thắng trận, chủ yếu là Mỹ, Anh, Pháp.Nhân danh nhóm người yêu nước Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc đã gửi đến Hội nghị bản Yêu sách của nhân dân An Nam. Nguyễn Ái Quốc còn thuê in thành truyền đơn, đǎng trên các báo, gửi đến các nhà hoạt động chính trị có tên tuổi, phân phát trong các buổi hội họp, mít tinh, gửi cho Việt kiều ở Pháp và gửi về nước.

(3) Báo Le Courrier d\’Hai Phong: Báo xuất bản hằng ngày ở Hải Phòng, nǎm 1887, do Toà đốc lý của chính quyền thuộc địa phụ trách.

(4) Báo L\’Humanité: Tờ báo hằng ngày của Đảng Xã hội Pháp do Giǎng Giôrét sáng lập nǎm 1904. Sau Đại hội lần thứ XVIII (Đại hội Tua), Đảng Cộng sản Pháp thành lập, báo L\’Humanité trở thành cơ quan ngôn luận chính thức của Đảng Cộng sản Pháp.

(5) Hội nghị Hòa bình: Xem chú thích số 1 về bản Yêu sách của nhân dân An Nam.
(6) Journal officiel de l\’Indochine – Francaise: Công báo do Phủ toàn quyền Đông Dương xuất bản từ nǎm 1889 đến nǎm 1950.