Thư viện

Cần phải chǎm sóc tốt trâu bò trong vụ rét sắp tới (9-10-1968)

Mùa thu sắp qua, đông rét sắp tới, các hợp tác xã cần phải chǎm sóc trâu bò chu đáo. Mấy nǎm gần đây, thi đua với các hợp tác xã Đồng Xuân Tiến (Ninh Bình), Nam Hưng và Đông Bình Cách (Thái Bình), nhiều hợp tác xã đã chǎn nuôi tốt, trâu bò được béo khoẻ, không chết trong vụ rét lại đẻ thêm được nhiều bê nghé.

Vài ví dụ:

– Hợp tác xã Trần Phú (Nam Hà) nǎm 1960 chỉ có 35 trâu, thiếu sức kéo. Nhưng từ nǎm 1963 đến nay, do chǎn nuôi tốt, cho nên trong nǎm nǎm liền không có trâu nào chết, lại có thêm được 82 nghé. Vì đủ sức kéo cho nên đã thâm canh đạt hơn 5 tấn thóc một hécta.

– Hợp tác xã Phú Yên (Vĩnh Phú) trước đây không đủ trâu bò cày. Từ nǎm 1963, vì ra sức chǎn nuôi tốt, chẳng những đủ sức kéo lại còn thừa trâu bò để cung cấp cho hợp tác xã bạn hơn 60 con.

Nhiều nơi, các cụ phụ lão đã hǎng hái tham gia việc bảo vệ trâu bò. Như cụ Nguyễn Đình Ba, 73 tuổi, xã Vũ Lãm (Thái Bình), từ 1961 đến nay đã nuôi 5 trâu gầy yếu thành trâu béo khoẻ.

Các cháu thiếu niên ở nhiều tỉnh đã tổ chức thành những nhóm chǎm sóc trâu bò. Như ở Yên Bái, các cháu có phong trào nuôi trâu béo khoẻ, thực hiện khẩu hiệu: “Trâu là bạn quý, Mỹ là kẻ thù”. Hợp tác xã “Mǎng non” thôn Kim Đô (Hải Hưng) trong ba nǎm nhận nuôi 65 con trâu thì 50 con được xếp loại A.

Như vậy là các cụ phụ lão và các cháu thiếu niên đều có thể giúp sức nhiều vào việc chǎm sóc tốt trâu bò.

Mong các cụ phụ lão, các cháu thiếu niên và hợp tác xã các tỉnh như Thanh Hoá, Lạng Sơn, Hà Bắc, Hà Tây và các tỉnh khác thi đua với các cụ và các cháu thiếu niên ở các tỉnh Thái Bình, Hải Hưng, Yên Bái, hǎng hái chǎm sóc trâu bò cho béo khoẻ.

Việc chǎm sóc tốt trâu bò là nhiệm vụ chung của cả hợp tác xã. Các cán bộ địa phương đều ra sức làm tốt. Đó cũng là một cách thiết thực của đồng bào nông dân ở hậu phương tham gia sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước.

T.L

——————–

Báo Nhân dân, số 5292, ngày 9-10-1968.
cpv.org.vn

Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân (3-2-1969)

Nhân dân ta thường nói: đảng viên đi trước, làng nước theo sau. Đó là một lời khen chân thành đối với đảng viên và cán bộ chúng ta.

Trải qua 39 nǎm đấu tranh oanh liệt, làm Cách mạng Tháng Tám thành công, kháng chiến lần thứ nhất thắng lợi và ngày nay vừa chiến đấu chống Mỹ, cứu nước, vừa xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, nhân dân ta tin tưởng rằng: Đảng ta lãnh đạo rất sáng suốt đã đưa dân tộc ta tiến lên không ngừng từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Trong lịch sử đấu tranh của Đảng và trong mọi hoạt động hằng ngày, nhất là trên mặt trận chiến đấu và sản xuất, rất nhiều cán bộ, đảng viên ta tỏ ra anh dũng, gương mẫu, gian khổ đi trước hưởng thụ đi sau và đã làm nên những thành tích rất vẻ vang.

Đảng ta đã đào tạo một thế hệ thanh niên cách mạng, gái cũng như trai, rất hǎng hái, dũng cảm trong mọi công tác.

Đó là những bông hoa tươi thắm của chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Nhân dân ta và Đảng ta rất tự hào có những người con xứng đáng như thế.

Song bên cạnh những đồng chí tốt ấy, còn có một số ít cán bộ, đảng viên mà đạo đức, phẩm chất còn thấp kém.

Họ mang nặng chủ nghĩa cá nhân, việc gì cũng nghĩ đến lợi ích riêng của mình trước hết. Họ không lo “mình vì mọi người” mà chỉ muốn “mọi người vì mình”.

Do cá nhân chủ nghĩa mà ngại gian khổ, khó khǎn, sa vào tham ô, hủ hoá, lãng phí, xa hoa. Họ tham danh trục lợi, thích địa vị quyền hành. Họ tự cao tự đại, coi thường tập thể, xem khinh quần chúng, độc đoán, chuyên quyền. Họ xa rời quần chúng, xa rời thực tế, mắc bệnh quan liêu mệnh lệnh. Họ không có tinh thần cố gắng vươn lên, không chịu học tập để tiến bộ.

Cũng do cá nhân chủ nghĩamà mất đoàn kết, thiếu tính tổ chức, tính kỷ luật, kém tinh thần trách nhiệm, không chấp hành đúng đường lối, chính sách của Đảng và của Nhà nước, làm hại đến lợi ích của cách mạng, của nhân dân.

Tóm lại, do cá nhân chủ nghĩa mà phạm nhiều sai lầm.

Để làm cho tất cả cán bộ, đảng viên xứng đáng là những chiến sĩ cách mạng, Đảng ta phải ra sức tǎng cường giáo dục toàn Đảng về lý tưởng cộng sản chủ nghĩa, về đường lối, chính sách của Đảng, về nhiệm vụ và đạo đức của người đảng viên. Phải thực hành phê bình và tự phê bình nghiêm chỉnh trong Đảng. Phải hoan nghênh và khuyến khích quần chúng thật thà phê bình cán bộ, đảng viên. Chế độ sinh hoạt của chi bộ phải nghiêm túc. Kỷ luật của Đảng phải nghiêm minh. Công tác kiểm tra của Đảng phải chặt chẽ.

Mỗi cán bộ, đảng viên phải đặt lợi ích của cách mạng, của Đảng, của nhân dân lên trên hết, trước hết. Phải kiên quyết quét sạch chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức cách mạng, bồi dưỡng tư tưởng tập thể, tinh thần đoàn kết, tính tổ chức và tính kỷ luật. Phải đi sâu đi sát thực tế, gần gũi quần chúng, thật sự tôn trọng và phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân. Phải cố gắng học tập, rèn luyện, nâng cao trình độ hiểu biết để làm tốt mọi nhiệm vụ.

Đó là một cách thiết thực để kỷ niệm ngày thành lập Đảng ta, Đảng vĩ đại của giai cấp công nhân và nhân dân anh hùng của chúng ta. Đó cũng là một việc làm cần thiết để giúp tất cả cán bộ, đảng viên đều tiến bộ, góp sức nhiều hơn nữa cho sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước toàn thắng và xây dựng chủ nghĩa xã hội thành công.

T.L

Báo Nhân dân, số 5409, ngày 3-2-1969.
cpv.org.vn

Tết trồng cây (5-2-1969)

Ngày nay, đồng bào ta ai cũng hiểu rõ trồng cây gây rừng có ích lợi to lớn cho kinh tế và quốc phòng. Vì vậy, Tết trồng cây là ngày mở đầu cho việc trồng cây suốt cả nǎm, đã trở thành một tục lệ tốt đẹp của nhân dân ta. Tính chung trong mấy nǎm nay, theo báo cáo của Tổng cục lâm nghiệp, nhân dân ta đã trồng được hàng vạn hécta cây các loại trên các đồi, bãi, vườn, hai bên đường, trên bờ mương máng, v.v..

Trong mấy nǎm chống chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ, nhân dân ta càng nhận rõ lợi ích của việc trồng cây, cho nên phong trào trồng cây càng phát triển. Việc trồng cây ngày càng hướng vào những yêu cầu thiết thực như lấy gỗ, cây ǎn quả, cây chắn gió phục vụ thâm canh lúa, bảo vệ đê, bao đồi, chống xói mòn, chống cát bay, v.v.. Những dải rừng được trồng ở ven biển, dọc đường giao thông, trong thôn xóm, đã có tác dụng lớn.

Những nơi có thành tích trồng cây trước đây như Lạc Trung, Ngọc Long, Liên Phương, v.v. vẫn tiếp tục phát triển. Gần đây, có thêm một số nơi phong trào trồng cây khá, như các tỉnh Nam Hà, Quảng Ninh, Hà Tĩnh, nhất là Lạng Sơn phong trào đang vươn lên mạnh. Nguyên nhân chính là do các tỉnh uỷ, các cấp đảng và chính quyền thiết thực lãnh đạo nhân dân ra sức trồng cây và bảo vệ cây.

Một ví dụ: xã Đô Lương (Lạng Sơn) có nhiều đất rừng, nhưng trước đây không biết chǎm lo trồng cây. Từ nǎm 1964, trong cuộc vận động cải tiến quản lý hợp tác xã, Đô Lương hợp bảy hợp tác xã nhỏ thành ba hợp tác xã lớn. Việc trồng rừng được quản lý tốt, bảo vệ tốt, kết quả bước đầu là với 270 hécta rừng được chǎm sóc, hằng nǎm đã bán cho Nhà nước 1.100 mét khối gỗ và 1.000 mét khối củi.

Nhờ trồng cây tốt cho nên thuỷ lợi cũng tiến bộ. Hơn 100 hécta ruộng trước kia bỏ hoá, nay đã trở thành ruộng 5 tấn. Đóng góp lương thực nghĩa vụ ngày càng tǎng, nǎm 1967 được 130 tấn thóc, nǎm 1968 được 141 tấn thóc.

Thu nhập của hợp tác xã cũng ngày càng tǎng, nǎm 1965 thu được 16.250 đồng, nǎm 1967 thu được 50.240 đồng. Nhờ vậy, đời sống của xã viên ngày càng cải thiện. Ví dụ đó chứng tỏ trồng cây gây rừng rất ích nước lợi nhà.

Những cá nhân có thành tích xuất sắc như: Anh hùng trồng cây Nguyễn Vǎn Tần, cán bộ miền Nam tập kết ở Vĩnh Phú; cụ Nguyễn Vǎn Quắc, 74 tuổi, ba nǎm liền chiến sĩ thi đua về trồng cây ở Ninh Bình; ông Hoàng Đông Hán ở Quảng Ninh; cụ Sùng Chín Tín ở Hà Giang; cụ Nông Quảng Liêm ở Lạng Sơn, tự tay mình trồng được 3.500 cây trên đồi trọc, cây nào cũng tốt, cụ còn vận động cả hợp tác xã trồng được hàng vạn cây xanh tươi, v.v..

Bên cạnh những gương tốt đó, còn có những địa phương trồng cây gây rừng chưa tốt, hoặc kém bảo vệ, chǎm sóc, cho nên trồng nhiều mà cây sống ít, diện tích đồi trọc còn nhiều. Nguyên nhân là do ngành lâm nghiệp chưa quan tâm đúng mức, nhưng chủ yếu là do cấp uỷ và uỷ ban hành chính địa phương chưa lãnh đạo tốt phong trào trồng cây. Các địa phương đó cần học tập và thi đua với những nơi có phong trào trồng cây khá. Chúng ta phải trồng cây cho cả đồng bào miền Nam nữa.

Kinh nghiệm cho thấy rằng: mọi người đều nên tham gia trồng cây, nhưng lực lượng các cụ phụ lão có tổ chức là quan trọng và các cháu thiếu nhi là lực lượng góp phần đắc lực.

Nǎm nay, chúng ta thi đua trồng cây cho thật tốt, phải bảo đảm trồng cây nào tốt cây ấy, tổ chức “một Tết trồng cây quyết thắng giặc Mỹ xâm lược”.

T.L.

—————————-

Báo Nhân dân, số 5411, ngày 5-2-1969.
cpv.org.vn

Lời giới thiệu Điều lệ tóm tắt của hợp tác xã sản xuất nông nghiệp ( 1-5-1969)

Điều lệ này của hợp tác xã sản xuất nông nghiệp rất quan trọng.

Nó nhằm bảo đảm thật sự quyền làm chủ tập thể của các xã viên.

Phải thực hiện tốt Điều lệ để hợp tác xã càng thêm vững mạnh, nông thôn ngày càng đoàn kết, sản xuất càng phát triển và nông dân ta càng thêm no ấm và tiến bộ.

Vì vậy, xã viên và cán bộ phải bàn bạc dân chủ để hiểu cho rõ và làm cho đúng. Đảng viên và đoàn viên phải gương mẫu trong mọi việc

Làm được như thế là các hợp tác xã góp phần xứng đáng để giành thắng lợi trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Các ngành và Uỷ ban hành chính các cấp phải thiết thực giúp đỡ các hợp tác xã thực hiện tốt Điều lệ này.

Ngày 1 tháng 5 nǎm 1969
Bác Hồ

——————————

Báo Nhân dân, số 5595, ngày 9-8-1969.
cpv.org.vn

Nâng cao trách nhiệm chǎm sóc và giáo dục thiếu niên, nhi đồng (1-6-1969)

Nói chung trẻ con ta rất tốt.

Ở miền Nam, các cháu bé rất dũng cảm, đã hǎng hái giúp đỡ bộ đội, giúp đỡ gia đình có người kháng chiến, làm giao liên, đánh du kích, v.v.. Nhiều cháu mới hơn 10 tuổi đã trở thành dũng sĩ diệt Mỹ.

Ở miền Bắc, các cháu đều hǎng hái thi đua làm “nghìn việc tốt” như giúp đỡ gia đình bộ đội, trả lại của rơi, gan góc liều mình cứu bạn, v.v.. ở nông thôn thì nhiều nơi các cháu tổ chức giúp các hợp tác xã chǎm sóc trâu bò béo khoẻ, trồng cây và bảo vệ cây xanh tốt. Các cháu sơ tán xa gia đình vẫn cố gắng vượt mọi khó khǎn, kính thầy yêu bạn, đoàn kết với đồng bào địa phương và thi đua học tập tốt, lao động tốt. Nhiều cháu học giỏi, tất cả các môn đều đạt điểm 5, điểm 10, đã được giải thưởng của Bác Hồ.

Hàng trǎm cháu có thành tích xuất sắc đã được Bác Hồ thưởng huy hiệu. Hơn hai triệu cháu được bình bầu là Cháu ngoan Bác Hồ.

Nhân dân ta rất tự hào có nhiều con cháu tiến bộ như thế. Mong các cháu ngày càng cố gắng hơn nữa và tiến bộ hơn nữa.

Song vẫn còn một số ít cháu chậm tiến vì chưa được chǎm sóc dạy dỗ đến nơi đến chốn.

Thiếu niên, nhi đồng là người chủ tương lai của nước nhà. Vi vậy, chǎm sóc và giáo dục tốt các cháu là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân. Công tác đó phải làm kiên trì, bền bỉ. Trong thời gian tới và trong dịp hè này, cần phải dẩy mạnh công tác thiếu niên, nhi đồng đạt nhiều kết quả tốt và thiết thực.

Trước hết các gia đình (tức là ông bà, cha mẹ, anh chị) phải làm thật tốt công việc ấy. Các đảng uỷ đường phố và hợp tác xã phải phụ trách chỉ đạo thiết thực và thường xuyên. Uỷ ban thiếu niên, nhi đồng, Đoàn thanh niên, ngành giáo dục và các ngành, các đoàn thể cần phải có kế hoạch cụ thể chǎm sóc, giáo dục các cháu càng ngày càng khoẻ mạnh và tiến bộ. Các tỉnh uỷ, thành uỷ cần phải phụ trách đôn đốc việc này cho có kết quả tốt.

Vì tương lai của con em ta, dân tộc ta, mọi người, mọi ngành phải có quyết tâm chǎm sóc và giáo dục các cháu bé cho tốt.

T.L.

——————

Báo Nhân dân, số 5526, ngày l-6-1969.

cpv.org.vn

Danh mục các lệnh do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký từ nǎm 1966 đến nǎm 1969

NǍM 1966

– Lệnh số 1-LCT, ngày 3-1-1966, thưởng 20 Huân chương Chiến công hạng Nhất, 35 Huân chương Chiến công hạng Nhì, 140 Huân chương Chiến công hạng Ba cho 63 đơn vị, 132 cán bộ, chiến sĩ quân đội và dân quân, tự vệ đã lập nhiều chiến công trong các trận chiến đấu tháng 7, 8, 9, 10-1965; truy tặng 103 Huân chương Chiến công cho các liệt sĩ đã hy sinh trong chiến đấu.

– Lệnh số 2-LCT, ngày 3-1-1966, thưởng 12 Huân chương Chiến công các hạng cho 7 đơn vị, 5 cán bộ, chiến sĩ đã lập nhiều chiến công trong các trận chiến đấu tháng 7, 8, 9, 10-1965; truy tặng 2 Huân chương Chiến công hạng Nhất cho hai liệt sĩ đã hy sinh trong chiến đấu.

– Lệnh số 3-LCT, ngày 3-1-1966, thưởng Huân chương Chiến công hạng Ba cho Đại đội xe 23, thuộc Trạm B2 Bắc, Vận tải B, đã hoàn thành tốt nhiệm vụ; truy tặng Huân chương Chiến công hạng Ba cho thuyền trưởng thuyền số 6 Lê Xuân Long thuộc hợp tác xã vận tải Phúc Thọ, Nghệ An, đã hy sinh trong khi làm nhiệm vụ.

– Lệnh số 4-LCT, ngày 3-1-1966, thưởng Huân chương Lao động hạng Ba cho bác sĩ thú y, chuyên gia Mông Cổ, đã giúp Việt Nam về kỹ thuật thú y và chǎn nuôi.

– Lệnh số 5-LCT, ngày 3-1-1966, thưởng Huân chương Lao động hạng Ba cho chuyên gia Trung Quốc Tần Chí Hùng, đã giúp Việt Nam xây dựng Nhà máy mì, bánh, kẹo Hà Nội.

– Lệnh số 6-LCT, ngày 10-1-1966, thưởng Huân chương Lao động hạng Ba cho 5 chuyên gia Trung Quốc đã giúp Việt Nam nghiên cứu kỹ thuật trồng lúa và mía.

– Lệnh số 7-LCT, ngày 13-1-1966, thưởng 5 Huân chương Quân công hạng Ba, 15 Huân chương Chiến công hạng Nhất, 17 Huân chương Chiến công hạng Nhì, 20 Huân chương Chiến công hạng Ba cho 26 đơn vị, 31 cán bộ và chiến sĩ đã lập nhiều chiến công trong các trận chiến đấu tháng 8, 9, 10-1965; truy tặng 14 Huân chương các loại cho 14 liệt sĩ đã hy sinh trong chiến đấu.

– Lệnh số 8-LCT, ngày 14-1-1966, thưởng Huân chương Lao động hạng Ba cho nhân dân, cán bộ Đào Xá, huyện Thanh Thuỷ, Phú Thọ (nay thuộc Vĩnh Phú); xã viên, cán bộ hợp tác xã nông nghiệp Liên Phương, huyện Yên Mô, Ninh Bình.

– Lệnh số 9-LCT, ngày 14-1-1966, thưởng Huân chương Lao động hạng Nhất cho Đoàn nghệ thuật múa rối và chiếu hình bìa tỉnh Hồ Nam (Trung Quốc) sang thǎm và biểu diễn ở nước ta.

– Lệnh số 10-LCT, ngày 19-1-1966, thưởng 52 Huân chương Chiến công cho 40 đơn vị và 12 cán bộ chiến sĩ quân đội, dân quân, tự vệ đã lập nhiều chiến công trong các trận chiến đấu tháng 10, 11-1965; truy tặng 16 Huân chương Chiến công cho 16 liệt sĩ đã hy sinh trong chiến đấu.

– Lệnh số 11-LCT, ngày 19-1-1966, thưởng 55 Huân chương các loại cho 41 đơn vị, 14 cán bộ chiến sĩ quân đội, dân quân, tự vệ đã lập chiến công trong các trận chiến đấu tháng 10, 11, 12-1965; truy tặng 12 Huân chương Chiến công hạng Ba cho 12 liệt sĩ đã hy sinh trong chiến đấu.

– Lệnh số 12-LCT, ngày 19-1-1966, thưởng 48 Huân chương Quân công cho 23 đơn vị, 25 cán bộ, chiến sĩ quân đội đã hoàn thành tốt nhiệm vụ; truy tặng 19 Huân chương Chiến công cho 19 liệt sĩ đã hy sinh trong khi làm nhiệm vụ.

– Lệnh số 13-LCT, ngày 20-1-1966, thưởng 7 Huân chương Chiến công cho 6 đơn vị và một chiến sĩ công an vũ trang có nhiều thành tích trong các trận chiến đấu tháng 5, 6, 7, 8, 9-1965; truy tặng Huân chương Chiến công hạng Ba cho liệt sĩ Phạm Viết Sơn đã hy sinh trong chiến đấu.

– Lệnh số 14-LCT, ngày 24-1-1966, thưởng 6 Huân chương Chiến công hạng Nhì và hạng Ba cho 6 đơn vị công an vũ trang đã lập nhiều chiến công trong các trận chiến đấu tháng 9, 10, 11-1965.

– Lệnh số 15-LCT, ngày 24-1-1966, thưởng Huân chương Chiến công hạng Ba cho nông trường Rạng Đông đã lập chiến công trong trận chiến đấu ngày 4-9-1965.

– Lệnh số 16-LCT, ngày 25-1-1966, thưởng Huân chương Chiến công hạng Nhì cho đơn vị 152 đảo Bạch Long Vĩ thuộc Quân khu Đông Bắc đã bắn rơi một máy bay Mỹ ngày 22-1-1966.

– Lệnh số 17-LCT, ngày 2-2-1966, thưởng 54 Huân chương các loại cho 28 đơn vị, 26 cán bộ và chiến sĩ đã lập nhiều chiến công trong các trận chiến đấu tháng 8, 9, 10, 11-1965; truy tặng 35 Huân chương các loại cho 35 liệt sĩ đã hy sinh trong chiến đấu.

– Lệnh số 18-LCT, ngày 5-2-1966, thưởng 48 Huân chương Lao động cho 48 chuyên gia Trung Quốc đã giúp Việt Nam đo đạc và lập bản đồ miền Bắc.

– Lệnh số 19-LCT, ngày 5-2-1966, thưởng Huân chương Chiến công hạng Ba cho cán bộ và chiến sĩ công an thành phố Nam Định có thành tích xuất sắc trong các trận chiến đấu chống máy bay Mỹ ngày 28-6 và các ngày 2, 4-7-1965.

– Lệnh số 20-LCT, ngày 5-2-1966, cử ông Nguyễn Ngọc Vũ làm Đại sứ đặc mệnh toàn quyền nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tại nước Cộng hoà Mali.

– Lệnh số 21-LCT, ngày 5-2-1966, cử ông Nguyễn Vǎn Phát làm Đại sứ đặc mệnh toàn quyền nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tại nước Cộng hoà Gana.

– Lệnh số 22-LCT, ngày 5-2-1966, bổ nhiệm Chủ nhiệm Uỷ ban Thống nhất Chính phủ Nguyễn Vǎn Vịnh kiêm giữ chức Phó Tổng tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam.

– Lệnh số 23-LCT, ngày 7-2-1966, thưởng 22 Huân chương Chiến công hạng Nhì cho 12 đơn vị, 10 cán bộ, chiến sĩ đã lập nhiều chiến công trong các trận chiến đấu tháng 8, 9, 10, 11, 12-1965.

– Lệnh số 24-LCT, ngày 19-2-1966, thưởng 2 Huân chương Lao động hạng Nhất, 3 Huân chương Lao động hạng Nhì, 5 Huân chương Lao động hạng Ba cho nhân dân và cán bộ 10 tỉnh đã lập nhiều thành tích trong phong trào thi đua làm thuỷ lợi hai nǎm 1964-1965.

– Lệnh số 25-LCT, ngày 15-3-1966, thưởng 12 Huân chương Chiến công cho 11 đơn vị và một cán bộ công an vũ trang đã lập nhiều chiến công trong các trận chiến đấu chống máy bay Mỹ và hoàn thành tốt nhiệm vụ bảo vệ an ninh nǎm 1965; truy tặng 3 Huân chương Chiến công hạng Ba cho 3 liệt sĩ đã hy sinh trong chiến đấu.

– Lệnh số 26-LCT, ngày 19-3-1966, thưởng Huân chương Lao động hạng Nhất cho Đoàn ca múa Phương Đông (Trung Quốc) sang thǎm và biểu diễn ở Việt Nam.

– Lệnh số 27-LCT, ngày 22-3-1966, thưởng 6 Huân chương Lao động hạng Ba cho 6 đơn vị thuộc ngành nội thương đã hoàn thành xuất sắc các chỉ tiêu kế hoạch Nhà nước nǎm 1965.

– Lệnh số 28-LCT, ngày 22-3-1966, thưởng 116 Huân chương Lao động và Huân chương Chiến công cho 91 đơn vị và 25 cá nhân đã lập nhiều thành tích đảm bảo giao thông vận tải nǎm 1965; truy tặng 4 Huân chương Lao động hạng Ba cho một thuỷ thủ và 3 công nhân đã hy sinh trong khi làm nhiệm vụ.

– Lệnh số 29-LCT, ngày 22-3-1966, thưởng 5 Huân chương Lao động cho 5 tỉnh đã lập nhiều thành tích xoá nạn mù chữ ở vùng cao.

– Lệnh số 30-LCT, ngày 25-3-1966, thưởng Huân chương Lao động hạng Nhất cho Đoàn xiếc của Bộ Đường sắt Trung Quốc, sang thǎm và biểu diễn ở Việt Nam.

– Lệnh số 31-LCT, ngày 25-3-1966, thưởng Huân chương Lao động hạng Ba cho chuyên gia Trung Quốc Lưu Bảo Nhiệm, đã giúp Việt Nam kỹ thuật trồng khoai lang.

– Lệnh số 32-LCT, ngày 25-3-1966, thưởng Huân chương Lao động hạng Ba cho chuyên gia Trung Quốc Chung Thạch Kim, đã giúp tỉnh Quảng Ninh đào tạo cán bộ, thuỷ thủ và xây dựng đoàn tàu đánh cá biển.

– Lệnh số 33-LCT, ngày 28-3-1966, thưởng Huân chương Lao động hạng Ba cho chuyên gia Trung Quốc Lưu Niệm Dân, đã giúp Việt Nam khảo sát và thiết kế đồng muối theo phương pháp khơi nước.

– Lệnh số 34-LCT, ngày 31-3-1966, thưởng 28 Huân chương Quân công và Chiến công cho 28 đơn vị, cán bộ, chiến sĩ đã lập nhiều thành tích trong chiến đấu và phục vụ chiến đấu nǎm 1965.

– Lệnh số 35-LCT, ngày 31-3-1966, thưởng 18 Huân chương Chiến công cho 9 đơn vị, 9 cán bộ, chiến sĩ đã lập nhiều chiến công trong chiến đấu và phục vụ chiến đấu nǎm 1965; truy tặng Huân chương Chiến công hạng Nhất và 6 Huân chương Chiến công hạng Nhì cho 7 liệt sĩ đã hy sinh trong chiến đấu.

– Lệnh số 36-LCT, ngày 19-4-1966, thưởng 23 Huân chương Quân công, Chiến công cho 23 đơn vị và chiến sĩ quân đội, dân quân tự vệ đã lập nhiều chiến công trong các trận chiến đấu tháng 1 và 2-1966; truy tặng Huân chương Chiến công hạng Nhất cho một liệt sĩ đã hy sinh trong chiến đấu.

– Lệnh số 37-LCT, ngày 19-4-1966, thưởng 43 Huân chương Chiến công cho 24 đơn vị, 19 cán bộ, chiến sĩ đã hoàn thành tốt nhiệm vụ; truy tặng 6 Huân chương Chiến công cho 6 liệt sĩ đã hy sinh trong khi làm nhiệm vụ.

– Lệnh số 38-LCT, ngày 19-4-1966, thưởng 155 Huân chương Chiến công cho cán bộ, chiến sĩ quân đội và dân quân, tự vệ lập nhiều chiến công trong các trận chiến đấu từ tháng 4 đến tháng 11-1965; truy tặng 98 Huân chương Chiến công cho các liệt sĩ đã hy sinh trong chiến đấu.

– Lệnh số 39-LCT, ngày 19-4-1966, thưởng 14 Huân chương Chiến công cho 10 đơn vị, 4 cán bộ, chiến sĩ quân đội và dân quân, tự vệ đã lập nhiều chiến công trong các trận chiến đấu nǎm 1965; truy tặng 33 Huân chương Chiến công cho 33 liệt sĩ đã hy sinh trong chiến đấu.

– Lệnh số 40-LCT, ngày 30-4-1966, thưởng 5 Huân chương Độc lập và 8 Huân chương Quân công cho 13 đơn vị Quân đội nhân dân Việt Nam đã lập nhiều chiến công vẻ vang và hoàn thành tốt nhiệm vụ trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước.

– Lệnh số 41-LCT, ngày 9-5-1966, thưởng một Huân chương Quân công và 33 Huân chương Chiến công cho 17 đơn vị, 17 cán bộ và chiến sĩ quân đội đã hoàn thành tốt nhiệm vụ; truy tặng 31 Huân chương Chiến công cho 31 liệt sĩ đã hy sinh trong khi làm nhiệm vụ.

– Lệnh số 42-LCT, ngày 9-5-1966, thưởng 68 Huân chương Kháng chiến cho 68 cán bộ, công nhân, viên chức và nhân dân đã có nhiều thành tích trong kháng chiến; truy tặng 38 Huân chương Kháng chiến cho 38 cán bộ, công nhân, viên chức và nhân dân có nhiều thành tích và đã hy sinh trong kháng chiến.

– Lệnh số 43-LCT, ngày 9-5-1966, thưởng 2 Huân chương Quân công và 66 Huân chương Chiến công cho 50 đơn vị, 18 cán bộ, chiến sĩ quân đội đã lập nhiều chiến công trong các trận chiến đấu tháng 11 và 12-1965, tháng 1 và 2-1966; truy tặng 22 Huân chương Chiến công cho 22 liệt sĩ đã hy sinh trong chiến đấu.

– Lệnh số 44-LCT, ngày 14-5-1966, thưởng Huân chương Chiến công hạng Ba cho hạ sĩ Nguyễn Thị Ngọc Đoàn, thuộc Đội 6, Cục 22, Bộ Công an, đã dũng cảm bảo vệ an toàn khách quốc tế trong lúc máy bay địch bắn phá.

– Lệnh số 45-LCT, ngày 17-5-1966, thưởng 125 Huân chương Lao động cho 125 chuyên gia Liên Xô đã giúp Việt Nam phát triển kinh tế và vǎn hoá.

– Lệnh số 46-LCT, ngày 17-5-1966, thưởng 5 Huân chương Lao động cho 5 chuyên gia Liên Xô đã giúp Việt Nam phát triển kinh tế và vǎn hoá.

– Lệnh số 47-LCT, ngày 17-5-1966, thưởng 127 Huân chương Chiến công cho 57 đơn vị, 70 cán bộ và chiến sĩ quân đội và dân quân, tự vệ lập nhiều chiến công trong các trận chiến đấu từ tháng 8 đến tháng 12-1965.

– Lệnh số 48-LCT, ngày 17-5-1966, thưởng một Huân chương Quân công và 73 Huân chương Chiến công cho 28 đơn vị, 46 cán bộ và chiến sĩ quân đội đã hoàn thành tốt nhiệm vụ; truy tặng 14 Huân chương Chiến công cho 14 liệt sĩ đã hy sinh trong khi làm nhiệm vụ.

– Lệnh số 49-LCT, ngày 17-5-1966, thưởng 64 Huân chương Lao động cho 64 cán bộ và chiến sĩ Đoàn 559 đã hoàn thành tốt nhiệm vụ; truy tặng 2 Huân chương Lao động cho một cán bộ đã hy sinh trong khi làm nhiệm vụ và một cán bộ đã từ trần.

– Lệnh số 51-LCT, ngày 18-5-1966, thưởng 2.186 Huân chương Chiến sĩ vẻ vang cho cán bộ và chiến sĩ đã phục vụ trong quân đội và công an vũ trang.

– Lệnh số 53-LCT, ngày 18-5-1966, thưởng 5 Huân chương Chiến công cho các đơn vị đã lập thành tích xuất sắc trong những trận chiến đấu nǎm 1965.

– Lệnh số 58-LCT, ngày 25-6-1966, thưởng 7 Huân chương Chiến công cho các đơn vị đã lập nhiều thành tích trong công tác nǎm 1965.

– Lệnh số 59-LCT, ngày 4-7-1966, cử Đại sứ đặc mệnh toàn quyền nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tại các nước Cộng hoà Angiêri Dân chủ và Nhân dân, Cộng hoà Cônggô (Bradavin), Cộng hoà Hồi giáo Môritani, Cộng hoà A Rập Yêmen.

– Lệnh số 60-LCT, ngày 12-7-1966, thưởng 2 Huân chương Chiến công hạng Ba cho 2 đơn vị đã lập nhiều chiến công trong chiến đấu và phục vụ chiến đấu.

– Lệnh số 61-LCT, ngày 12-7-1966, truy tặng Huân chương Chiến công hạng Ba cho giao thông viên hoả tốc Ngô Vǎn Phấn, thuộc Cục bưu điện Trung ương, Tổng cục bưu điện và truyền thanh, đã nêu cao tinh thần dũng cảm bảo vệ an toàn công vǎn, tài liệu, bảo đảm hành trình đúng thời gian quy định và đã hy sinh trong khi làm nhiệm vụ.

– Lệnh số 62-LCT, ngày 12-7-1966, thưởng 51 Huân chương Chiến công cho 11 đơn vị, 40 cán bộ, chiến sĩ quân đội, công nhân quốc phòng và thanh niên xung phong đã hoàn thành tốt nhiệm vụ.

– Lệnh số 63-LCT, ngày 12-7-1966, thưởng Huân chương Chiến công hạng Ba cho Tổng đội 41 thuộc Công trình thi công đường dây thông tin ngày 15-6-1966 đã bắn rơi một máy bay Mỹ.

– Lệnh số 64-LCT, ngày 26-7-1966, thưởng 21 Huân chương Lao động cho 21 đơn vị và địa phương đã hoàn thành xuất sắc công tác bổ túc vǎn hoá trong kế hoạch 5 nǎm lần thứ nhất (1961-1965).

– Lệnh số 65-LCT, ngày 26-7-1966, thưởng 6 Huân chương Lao động hạng Ba cho các địa phương đã có thành tích xuất sắc trong cuộc vận động 2 nǎm (1964-1965) thực hiện tốt chính sách đối với thương binh, bệnh binh và gia đình liệt sĩ.

– Lệnh số 66-LCT, ngày 26-7-1966, thưởng 2 Huân chương Quân công, 94 Huân chương Chiến công cho 53 đơn vị, 43 cán bộ và chiến sĩ quân đội, dân quân, tự vệ và công nhân quốc phòng đã hoàn thành tốt nhiệm vụ chiến đấu và phục vụ chiến đấu; truy tặng 7 Huân chương Chiến công cho 7 liệt sĩ đã hy sinh trong chiến đấu.

– Lệnh số 67-LCT, ngày 28-7-1966, thưởng 28 Huân chương Chiến công cho 3 đơn vị, 25 cán bộ, chiến sĩ quân đội đã hoàn thành tốt nhiệm vụ chiến đấu.

– Lệnh số 68-LCT, ngày 28-7-1966, truy tặng 57 Huân chương Chiến công cho 57 liệt sĩ đã anh dũng hy sinh trong chiến đấu.

– Lệnh số 69-LCT, ngày 9-8-1966, thưởng Huân chương Lao động hạng Nhì cho chuyên gia Liên Xô, kỹ sư trưởng A.V. Alếchxâyêvích, đã giúp Việt Nam xây dựng công trình thuỷ điện Thác Bà.

– Lệnh số 70-LCT, ngày 18-8-1966, thưởng Huân chương Quân công hạng Ba và 30 Huân chương Chiến công cho 31 đơn vị quân đội, dân quân, tự vệ đã hoàn thành tốt nhiệm vụ chiến đấu và phục vụ chiến đấu.

– Lệnh số 71-LCT, ngày 19-8-1966, thưởng 2 Huân chương Chiến công cho 2 cán bộ Chi cục xǎng dầu Nghệ An, thuộc Tổng cục vật tư, đã anh dũng cứu tài sản của Nhà nước; truy tặng 3 Huân chương Chiến công cho 3 cán bộ đã anh dũng hy sinh trong khi làm nhiệm vụ.

– Lệnh số 72-LCT, ngày 19-8-1966, thưởng 6 Huân chương Chiến công cho 2 đơn vị, 3 cán bộ và một chiến sĩ công an đã anh dũng cứu tài sản của Nhà nước trong các trận chiến đấu ngày 26-6 và ngày 7-7-1966.

– Lệnh số 73-LCT, ngày 20-8-1966, cử ông Nguyễn Việt Dũng làm Đại sứ đặc mệnh toàn quyền nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tại Cộng hoà Dân chủ Đức.

– Lệnh số 74-LCT, ngày 1-9-1966, thưởng 23 Huân chương Chiến công cho 3 đơn vị, 20 cán bộ, chiến sĩ đã lập nhiều chiến công trong chiến đấu và phục vụ chiến đấu; truy tặng 8 Huân chương Chiến công cho 8 liệt sĩ đã anh dũng hy sinh trong chiến đấu.

– Lệnh số 75-LCT, ngày 1-9-1966, truy tặng 59 Huân chương Chiến công cho 59 liệt sĩ đã anh dũng hy sinh trong chiến đấu.

– Lệnh số 76-LCT, ngày 1-9-1966, thưởng 6 Huân chương Quân công cho 6 đơn vị đã lập nhiều chiến công trong chiến đấu và phục vụ chiến đấu.

– Lệnh số 77-LCT, ngày 1-9-1966, thưởng 104 Huân chương Chiến công cho 77 đơn vị, 27 cán bộ, chiến sĩ quân đội và dân quân, tự vệ đã hoàn thành tốt nhiệm vụ chiến đấu và phục vụ chiến đấu; truy tặng 12 Huân chương Chiến công cho 12 liệt sĩ đã anh dũng hy sinh trong chiến đấu.

– Lệnh số 78-LCT, ngày 6-9-1966, thưởng Huân chương Lao động hạng Nhì cho Trưởng đoàn chuyên gia Trung Quốc Dư Khởi Đông, đã giúp Việt Nam xây dựng Nhà máy miến, mì chính Việt Trì và nghiên cứu việc trang bị thêm cho 7 nhà máy thuộc Bộ Công nghiệp nhẹ.

– Lệnh số 79-LCT, ngày 9-9-1966, thưởng Huân chương Quân công hạng Ba cho binh chủng Thông tin thuộc Quân đội nhân dân Việt Nam đã làm tốt nhiệm vụ bảo đảm thông tin liên lạc, phục vụ chiến đấu.

– Lệnh số 80-LCT, ngày 26-9-1966, ân xá và giảm án cho những phạm nhân đã cải tạo tốt.

– Lệnh số 81-LCT, ngày 28-9-1966, thưởng Huân chương Lao động hạng Nhất cho Đội công trình của tỉnh Vân Nam (Trung Quốc), đã giúp tỉnh Hà Giang xây dựng cầu hữu nghị Giang Nam.

– Lệnh số 82-LCT, ngày 28-9-1966, truy tặng 113 Huân chương Chiến công cho 113 liệt sĩ quân đội đã anh dũng hy sinh trong chiến đấu.

– Lệnh số 83-LCT, ngày 28-9-1966, thưởng 2 Huân chương Quân công, 48 Huân chương Chiến công cho 26 đơn vị, 24 cán bộ, chiến sĩ và dân quân đã hoàn thành tốt nhiệm vụ chiến đấu và phục vụ chiến đấu.

– Lệnh số 84-LCT, ngày 28-9-1966, thưởng 3.547 Huân chương Chiến sĩ vẻ vang và truy tặng 2 Huân chương Chiến sĩ vẻ vang cho cán bộ, chiến sĩ đã phục vụ trong quân đội và công an vũ trang từ sau ngày hoà bình lập lại (20-7-1954).

– Lệnh số 85-LCT, ngày 28-9-1966, thưởng 48 Huân chương Lao động cho 48 đơn vị đã hoàn thành xuất sắc công tác bổ túc vǎn hoá trong kế hoạch 5 nǎm lần thứ nhất (1961-1965).

– Lệnh số 86-LCT, ngày 28-9-1966, thưởng 55 Huân chương Kháng chiến cho 55 cán bộ, công nhân, viên chức và nhân dân đã có nhiều thành tích trong thời kỳ kháng chiến; truy tặng 64 Huân chương Kháng chiến cho 64 cán bộ và nhân dân có nhiều thành tích và đã hy sinh trong kháng chiến.

– Lệnh số 87-LCT, ngày 7-10-1966, thưởng 13 Huân chương Lao động cho 13 đơn vị đã có nhiều thành tích trong cuộc vận động đồng bào miền xuôi lên tham gia phát triển kinh tế và vǎn hoá miền núi.

– Lệnh số 88-LCT, ngày 12-10-1966, thưởng Huân chương Quân công hạng Ba, 48 Huân chương Chiến công cho 49 đơn vị công an đã làm tốt nhiệm vụ bảo vệ trị an và đã lập nhiều chiến công trong các trận chiến đấu chống máy bay Mỹ.

– Lệnh số 89-LCT, ngày 12-10-1966, thưởng 2 Huân chương Quân công hạng Ba cho 2 đơn vị công an đã lập nhiều chiến công trong các trận chiến đấu chống máy bay Mỹ.

– Lệnh số 90-LCT, ngày 12-10-1966, thưởng Huân chương Độc lập hạng Nhì cho công an vũ trang đã vượt mọi khó khǎn, làm tốt nhiệm vụ bảo vệ trị an, phục vụ nhân dân và đã lập nhiều chiến công trong các trận chiến đấu chống máy bay Mỹ.

– Lệnh số 91-LCT, ngày 12-10-1966, thưởng 33 Huân chương Chiến công cho 20 đơn vị, 13 cán bộ, chiến sĩ công an vũ trang đã làm tốt nhiệm vụ bảo vệ trị an và đã lập nhiều chiến công trong các trận chiến đấu chống máy bay Mỹ; truy tặng 5 Huân chương Chiến công cho 5 liệt sĩ công an vũ trang đã hy sinh trong chiến đấu.

– Lệnh số 92-LCT, ngày 27-10-1966, công bố Pháp lệnh quy định cấm nấu rượu trái phép.

– Lệnh số 93-LCT, ngày 28-10-1966, thưởng 128 Huân chương Chiến công cho 72 đơn vị, 56 cán bộ và chiến sĩ quân đội và dân quân, tự vệ đã hoàn thành tốt nhiệm vụ chiến đấu và phục vụ chiến đấu.

– Lệnh số 94-LCT, ngày 28-10-1966, truy tặng 148 Huân chương Chiến công cho 148 liệt sĩ quân đội đã hy sinh trong chiến đấu.

– Lệnh số 95-LCT, ngày 29-10-1966, thưởng Huân chương Lao động hạng Nhất cho trưởng đoàn chuyên gia Liên Xô D.A. Mátvâyêvích, đã giúp Việt Nam về kỹ thuật tên lửa.

– Lệnh số 96-LCT, ngày 8-11-1966, thưởng 5 Huân chương Quân công, 91 Huân chương Chiến công cho 79 đơn vị, 17 cán bộ, chiến sĩ quân đội và dân quân, tự vệ đã hoàn thành tốt nhiệm vụ huấn luyện, chiến đấu và phục vụ chiến đấu; truy tặng 20 Huân chương Chiến công cho 20 liệt sĩ quân đội đã hy sinh trong chiến đấu.

– Lệnh số 97-LCT, ngày 8-11-1966, thưởng 8 Huân chương Chiến công cho 6 đơn vị và 2 cán bộ công an vũ trang đã lập nhiều chiến công trong các trận chiến đấu chống máy bay Mỹ.

– Lệnh số 98-LCT, ngày 8-11-1966, thưởng 38 Huân chương Chiến công cho 11 đơn vị, 27 cán bộ, chiến sĩ đã lập nhiều chiến công trong chiến đấu và phục vụ chiến đấu; truy tặng 15 Huân chương Chiến công cho 15 liệt sĩ đã hy sinh trong chiến đấu.

– Lệnh số 99-LCT, ngày 8-11-1966, thưởng 3 Huân chương Chiến công cho 3 đơn vị đã lập nhiều thành tích trong công tác giao thông vận tải nǎm 1965.

– Lệnh số 100-LCT, ngày 16-11-1966, thưởng Huân chương Lao động hạng Nhì cho công trình sư địa chất, trưởng đoàn chuyên gia Trung Quốc Hà Phát Vinh, đã giúp Việt Nam thǎm dò mỏ ở Sơn La và Lào Cai.

– Lệnh số 101-LCT, ngày 16-11-1966, thưởng 7 Huân chương Lao động hạng Ba cho các đơn vị thuộc Tổng cục Hậu cần (Bộ Quốc phòng), đã có nhiều thành tích sản xuất phục vụ chiến đấu nǎm 1965.

– Lệnh số 102-LCT, ngày 19-11-1966, thưởng 4 Huân chương Lao động hạng Ba cho nhân dân, cán bộ và các lực lượng vũ trang các tỉnh Nghệ An, Nam Hà, Hà Tây và Thái Bình, đã có nhiều thành tích trong công tác phòng chống lụt bão, bảo vệ đê điều và các công trình thuỷ lợi nǎm 1966.

– Lệnh số 103-LCT, ngày 21-11-1966, thưởng 6 Huân chương Quân công và 94 Huân chương Chiến công cho 84 đơn vị, 16 cán bộ, chiến sĩ quân đội và dân quân, tự vệ đã hoàn thành tốt nhiệm vụ chiến đấu và phục vụ chiến đấu; truy tặng 7 Huân chương Chiến công cho 7 liệt sĩ quân đội đã hy sinh trong chiến đấu.

– Lệnh số 104-LCT, ngày 29-11-1966, thưởng Huân chương Lao động hạng Ba cho chuyên gia bóng đá Liên Xô K.V.Pêtrôvích, đã giúp Việt Nam huấn luyện đội bóng đá Trường huấn luyện kỹ thuật Trung ương.

– Lệnh số 105-LCT, ngày 1-12-1966, thưởng 5 Huân chương Chiến công hạng Ba cho 3 đơn vị và 2 cá nhân thuộc đơn vị Tổng cục vật tư đã dũng cảm bảo vệ tài sản Nhà nước trong các trận chiến đấu ngày 29-6, ngày 1, 7, 12-7-1966; truy tặng Huân chương Chiến công hạng Ba cho nhân viên bảo vệ thuộc Chi cục xǎng dầu Hải Phòng Trần Vǎn Mâu đã hy sinh trong khi làm nhiệm vụ.

– Lệnh số 106-LCT, ngày 6-12-1966, quyết định Phó Thủ tướng Phạm Hùng thôi kiêm chức Chủ nhiệm Vǎn phòng Tài chính – Thương nghiệp Phủ Thủ tướng và chức Chủ nhiệm ủy ban Vật giá Nhà nước; ông Nguyễn Thanh Bình thôi giữ chức Bộ trưởng Bộ Nội thương để giữ chức Chủ nhiệm Vǎn phòng Tài chính – Thương nghiệp Phủ Thủ tướng, kiêm Chủ nhiệmủy ban Vật giá Nhà nước.

– Lệnh số 107-LCT, ngày 17-12-1966, thưởng Huân chương Chiến công hạng Ba cho 2 chuyên gia Trung Quốc Ngô Chí Đốc và Triệu Thụ Lâm, đã giúp Việt Nam trong việc sửa chữa cầu đường.

– Lệnh số 108-LCT, ngày 19-12-1966, cử ông Nguyễn Thọ Chân làm Đại sứ đặc mệnh toàn quyền nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tại Liên Xô.

– Lệnh số 109-LCT, ngày 20-12-1966, thưởng 2 Huân chương Quân công hạng Ba và 234 Huân chương Chiến công cho 60 đơn vị, 176 cán bộ, chiến sĩ đã lập nhiều chiến công trong chiến đấu và phục vụ chiến đấu.

– Lệnh số 110-LCT, ngày 20-12-1966, truy tặng 133 Huân chương Chiến công cho 133 liệt sĩ đã hy sinh trong chiến đấu.

– Lệnh số 111-LCT, ngày 23-12-1966, thưởng 8 Huân chương Chiến công cho 8 đơn vị công an đã có nhiều thành tích trong huấn luyện, bảo vệ trật tự trị an và góp phần bắn rơi máy bay Mỹ trong nhiều trận chiến đấu.

– Lệnh số 112-LCT, ngày 23-12-1966, thưởng 4 Huân chương Chiến công cho 2 đơn vị và 2 chiến sĩ công an đã dũng cảm bảo vệ tài sản Nhà nước và nhân dân trong các trận chiến đấu tháng 4 và tháng 8-1966; truy tặng Huân chương Chiến công hạng Ba cho đồng chí Trần Thị Phương, thuộc Đội phòng cháy chữa cháy phố Nam Dân, xã Thượng Kiệm, huyện Kim Sơn, Ninh Bình, đã anh dũng chiến đấu và hy sinh trong khi làm nhiệm vụ.

– Lệnh số 113-LCT, ngày 23-12-1966, thưởng 2 Huân chương Lao động hạng Nhì và hạng Ba cho 2 chuyên gia Trung Quốc Vương Vinh Long và Triệu Hải Truyền, đã giúp Việt Nam phát triển ngành dâu tằm và chǎn nuôi bò sữa.

– Lệnh số 114-LCT, ngày 30-12-1966, thưởng 156 Huân chương Lao động cho 156 cán bộ, công nhân, viên chức và xã viên hợp tác xã đã khắc phục khó khǎn, lập nhiều thành tích trong sản xuất và công tác; truy tặng 12 Huân chương Lao động cho 12 cán bộ, công nhân, viên chức và xã viên hợp tác xã đã hy sinh trong khi làm nhiệm vụ.

– Lệnh số 115-LCT, ngày 30-12-1966, thưởng 161 Huân chương Lao động cho 161 tổ, đội và phân xưởng xã hội chủ nghĩa đã hoàn thành xuất sắc kế hoạch Nhà nước nǎm 1965 và gương mẫu trong phong trào thi đua sản xuất và chiến đấu chống Mỹ, cứu nước nǎm 1966.

– Lệnh số 116-LCT, ngày 30-12-1966, thưởng 584 Huân chương Lao động cho 584 đơn vị tiên tiến đã hoàn thành xuất sắc kế hoạch Nhà nước nǎm 1965 và gương mẫu trong phong trào thi đua sản xuất và chiến đấu chống Mỹ, cứu nước nǎm 1966.

NǍM 1967

– Lệnh số 117-LCT, ngày 1-1-1967, tặng danh hiệu Anh hùng cho Khu Vĩnh Linh và 44 đơn vị thuộc các lực lượng vũ trang nhân dân và các ngành công, nông nghiệp, giao thông vận tải, bưu điện và truyền thanh, y tế đã có nhiều thành tích xuất sắc trong phong trào thi đua sản xuất và chiến đấu chống Mỹ, cứu nước.

– Lệnh số 118-LCT, ngày 1-1-1967, tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang cho 43 cán bộ và chiến sĩ thuộc Quân đội nhân dân Việt Nam, dân quân và công an đã có nhiều thành tích xuất sắc trong phong trào thi đua chống Mỹ, cứu nước.

– Lệnh số 119-LCT, ngày 1-1-1967, tặng danh hiệu Anh hùng lao động cho 68 cán bộ, công nhân, viên chức và xã viên hợp tác xã đã có nhiều thành tích xuất sắc trong phong trào thi đua sản xuất và chiến đấu chống Mỹ, cứu nước.

– Lệnh số 01-LCT, ngày 3-1-1967, thưởng 3 Huân chương Chiến công hạng Nhì và 39 Huân chương Chiến công hạng Ba cho 42 đơn vị thuộc ngành công an đã làm tốt nhiệm vụ bảo vệ trị an.

– Lệnh số 02-LCT, ngày 3-1-1967, thưởng Huân chương Chiến công hạng Ba cho cán bộ và nhân dân thôn Trà Dương, xã Tống Trân, huyện Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên đã anh dũng cứu chữa tài sản của Nhà nước trong trận chiến đấu ngày 14-10-1966.

– Lệnh số 03-LCT, ngày 3-1-1967, truy tặng Huân chương Chiến công hạng Ba cho đồng chí Hoàng Vǎn Phú, thuyền trưởng thuyền máy Nhất Thanh, thuộc hợp tác xã thuyền buồm Tháng Tám, Ty giao thông vận tải Quảng Ninh đã có thành tích về công tác vận tải trong nǎm 1965 và đã hy sinh trong chiến đấu.

– Lệnh số 04-LCT, ngày 3-1-1967, thưởng Huân chương Lao động hạng Nhì cho tổ trưởng chuyên gia Trung Quốc Bạch Hiển Canh đã có công giúp Chính phủ ta trong việc thǎm dò mỏ than Uông Bí.

– Lệnh số 05-LCT, ngày 3-1-1967, thưởng 2 Huân chương Chiến công hạng Ba cho bác sĩ Nguyễn Luân và y sĩ Dương Thị Hồng Cẩm thuộc ngành y tế đã hoàn thành tốt nhiệm vụ.

– Lệnh số 06-LCT, ngày 3-1-1967, thưởng 29 Huân chương Kháng chiến hạng Ba cho 29 cán bộ, công nhân, viên chức và nhân dân đã có nhiều thành tích trong thời kỳ kháng chiến; truy tặng 1 Huân chương Kháng chiến hạng Nhì, 34 Huân chương Kháng chiến hạng Ba cho 35 cán bộ và nhân dân có nhiều thành tích, đã hy sinh trong kháng chiến.

– Lệnh số 07-LCT, ngày 3-1-1967, thưởng một Huân chương Lao động hạng Nhất, 5 Huân chương Lao động hạng Nhì và 7 Huân chương Lao động hạng Ba cho 8 trường học và 5 tổ giáo viên đã có nhiều thành tích xuất sắc trong nǎm học 1965-1966.

– Lệnh số 08-LCT, ngày 3-1-1967, thưởng Huân chương Lao động hạng Nhì cho nhân dân và cán bộ xã Tân Tiến, huyện Vǎn Giang, tỉnh Hưng Yên đã có nhiều thành tích xuất sắc về phát triển mẫu giáo.

– Lệnh số 09-LCT, ngày 9-1-1967, truy tặng 11 Huân chương Chiến công hạng Ba cho 11 liệt sĩ đã anh dũng hy sinh trong chiến đấu.

– Lệnh số 10-LCT, ngày 9-1-1967, thưởng 2 Huân chương Chiến công hạng Nhất cho 2 cán bộ đã lập được nhiều chiến công trong chiến đấu và phục vụ chiến đấu.

– Lệnh số 11-LCT, ngày 9-1-1967, thưởng Huân chương Lao động hạng Ba cho chuyên gia Trung Quốc Diệu Trí Đức , đã có công giúp Chính phủ ta trong việc hướng dẫn sản xuất và đào tạo cán bộ kỹ thuật tại Nhà máy nhựa Tiền Phong (HảiPhòng).

– Lệnh số 12-LCT, ngày 10-1-1967, thưởng một Huân chương Lao động hạng Nhất cho phụ nữ khu Vĩnh Linh, 5 Huân chương Lao động hạng Nhì cho phụ nữ thành phố Hà Nội, Hải Dương, Quảng Bình, Vĩnh Phúc, Yên Bái, 13 Huân chương Lao động hạng Ba cho phụ nữ các tỉnh: Bắc Thái, Hà Tĩnh, Hải Phòng, Nam Hà, Nghệ An, Ninh Bình, Quảng Ninh, Sơn La, Thái Bình, Thanh Hoá, Nam Định, huyện Nam Sách (Hải Dương), xã Vĩnh Nam (khu Vĩnh Linh).

– Lệnh số 13-LCT, ngày 17-1-1967, thưởng 6 Huân chương Chiến công hạng Nhì, 7 Huân chương Chiến công hạng Ba cho 9 đơn vị, 4 cán bộ và chiến sĩ thuộc lực lượng công an, đã làm tốt nhiệm vụ bảo vệ trật tự trị an và góp phần bắn rơi máy bay Mỹ; truy tặng Huân chương Chiến công hạng Ba cho liệt sĩ Vũ Hữu Tháng, hạ sĩ công an vũ trang thành phố Hải Phòng, đã anh dũng hy sinh trong khi làm nhiệm vụ.

– Lệnh số 14-LCT, ngày 28-1-1967, thưởng Huân chương Lao động hạng Ba cho chuyên gia Trung Quốc Vương Cộng Hoà, đã có công giúp Chính phủ ta trong việc phát triển ngành nuôi ong.

– Lệnh số 15-LCT, ngày 3-2-1967, thưởng Huân chương Lao động hạng Ba cho Trưởng đoàn chuyên gia thể dục thể thao Trung Quốc Vươngấu Lương, đã có công giúp Chính phủ ta trong việc huấn luyện và đào tạo cán bộ thể dục thể thao.

– Lệnh số 16-LCT, ngày 7-2-1967, thưởng một Huân chương Quân công hạng Ba, 4 Huân chương Chiến công hạng Nhất, 10 Huân chương Chiến công hạng Nhì, 33 Huân chương Chiến công hạng Ba, cho 40 đơn vị, 8 cán bộ và chiến sĩ thuộc Quân đội nhân dân Việt Nam đã hoàn thành tốt nhiệm vụ chiến đấu và phục vụ chiến đấu.

– Lệnh số 17-LCT, ngày 11-2-1967, truy tặng Huân chương Độc lập hạng Nhất cho Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam Trần Tử Bình, đã suốt đời phấn đấu cho sự nghiệp cách mạng.

– Lệnh số 18-LCT, ngày 17-2-1967, thưởng 2 Huân chương Chiến công hạng Nhì, 6 Huân chương Chiến công hạng Ba cho một đơn vị và 7 cán bộ thuộc ngành công an làm tốt nhiệm vụ bảo vệ trị an; truy tặng Huân chương Chiến công hạng Nhất cho thiếu uý cảnh sát Hoàng Cung thuộc Công an thị xã Hải Dương đã hết lòng phục vụ nhân dân và anh dũng hy sinh trong khi làm nhiệm vụ.

– Lệnh số 19-LCT, ngày 18-2-1967, thưởng 3 Huân chương Chiến công hạng Nhất cho Trường sĩ quan Pháo binh, Trường sĩ quan Hậu cần, Trường đại học Quân y có nhiều thành tích trong việc đào tạo cán bộ, kịp thời đáp ứng yêu cầu cho quân đội.

– Lệnh số 20-LCT, ngày 28-2-1967, truy tặng một Huân chương Chiến công hạng Nhất, 29 Huân chương Chiến công hạng Nhì, 160 Huân chương Chiến công hạng Ba cho 190 liệt sĩ quân đội và dân quân đã anh dũng hy sinh trong chiến đấu.

– Lệnh số 21-LCT, ngày 28-2-1967, thưởng 16 Huân chương Chiến công hạng Nhất, 48 Huân chương Chiến công hạng Nhì, 102 Huân chương Chiến công hạng Ba, cho 94 đơn vị, 72 cán bộ và chiến sĩ quân đội, dân quân, tự vệ đã hoàn thành tốt nhiệm vụ chiến đấu và phục vụ chiến đấu.

– Lệnh số 22-LCT, ngày 4-3-1967, cử:

– Ông Ngô Minh Loan làm Đại sứ đặc mệnh toàn quyền nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tại nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa thay ông Trần Tử Bình đã từ trần.

– Ông Phạm Ngọc Quế làm Đại sứ đặc mệnh toàn quyền nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tại nước Cộng hoà Nhân dân Bungari thay ông Phạm Vǎn Thuyên về nước nhận nhiệm vụ mới.

– Lệnh số 23-LCT, ngày 8-3-1967, quyết định Phó Thủ tướng Lê Thanh Nghị thôi kiêm chức Chủ nhiệm Vǎn phòng Công nghiệp Phủ Thủ tướng để kiêm chức Bộ trưởng Bộ Công nghiệp nặng; ông Trần Danh Tuyên giữ chức Chủ nhiệm Vǎn phòng Công nghiệp Phủ Thủ tướng; ông Nguyễn Vǎn Trân thôi giữ chức Bộ trưởng Bộ Công nghiệp nặng để nhận nhiệm vụ khác.

– Lệnh số 24-LCT, ngày 23-3-1967, thưởng 2 Huân chương Lao động hạng Nhất, 10 Huân chương Lao động hạng Nhì, 7 Huân chương Lao động hạng Ba cho thanh niên của 16 địa phương và 3 đơn vị đã có nhiều thành tích xuất sắc trong phong trào “ba sẵn sàng”.

– Lệnh số 25-LCT, ngày 24-3-1967, thưởng 79 Huân chương Chiến sĩ vẻ vang hạng Nhì, 112 Huân chương Chiến sĩ vẻ vang hạng Ba cho các cán bộ và chiến sĩ đã có nhiều thành tích phục vụ trong lực lượng công an vũ trang sau ngày hoà bình lập lại (20-7-1954).

– Lệnh số 26-LCT, ngày 24-3-1967, thưởng Huân chương Lao động hạng Ba cho Công trường lắp dựng cột điện cao thế vượt sông Hồng thuộc Công ty lắp máy, Bộ Kiến trúc; Công trình 280N thuộc Công ty kiến trúc Vinh, Bộ Kiến trúc, đã có nhiều thành tích xuất sắc trong phong trào thi đua sản xuất và chiến đấu chống Mỹ, cứu nước nǎm 1966.

– Lệnh số 27-LCT, ngày 24-3-1967, thưởng 10 Huân chương Lao động hạng Ba cho 10 cán bộ và công nhân đã nêu cao quyết tâm khắc phục khó khǎn, lập nhiều thành tích xuất sắc trong sản xuất và công tác.

– Lệnh số 28-LCT, ngày 25-3-1967, thưởng 2 Huân chương Lao động hạng Ba cho 2 chuyên gia Trung Quốc Trương Khải Mỹ và Trình Thuý Đình, đã có công giúp Chính phủ ta trong việc trồng cây gai lấy sợi.

– Lệnh số 29-LCT, ngày 1-4-1967, thưởng 2 Huân chương Lao động hạng Nhất, 2 Huân chương Lao động hạng Nhì, 37 Huân chương Lao động hạng Ba cho 11 địa phương và 30 đơn vị đã lập nhiều thành tích xuất sắc trong việc bảo đảm giao thông vận tải nǎm 1966.

– Lệnh số 30-LCT, ngày 5-4-1967, thưởng 4 Huân chương Lao động hạng Ba cho nhân dân và cán bộ huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn; nhân dân và cán bộ xã Quốc Khánh, huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn; nhân dân và cán bộ xã Hoà Sơn, huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn; xã viên và cán bộ hợp tác xã Chè Lân, xã Lộc Yên, huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn, đã có nhiều thành tích xuất sắc trong phong trào làm thuỷ lợi nǎm 1966.

– Lệnh số 31-LCT, ngày 6-4-1967, truy tặng Huân chương Độc lập hạng Ba cho cụ Trần Thi, nguyên đại biểu Quốc hội tỉnh Ninh Thuận đã có nhiều cống hiến cho sự nghiệp cách mạng.

– Lệnh số 32-LCT, ngày 6-4-1967, thưởng 45 Huân chương Kháng chiến hạng Ba cho 45 cán bộ, công nhân, viên chức và nhân dân đã có nhiều thành tích trong thời kỳ kháng chiến; truy tặng 5 Huân chương Kháng chiến hạng Nhì, 67 Huân chương Kháng chiến hạng Ba cho 72 cán bộ và nhân dân có nhiều thành tích đã hy sinh trong kháng chiến.

– Lệnh số 33-LCT, ngày 9-4-1967, thưởng Huân chương Lao động hạng Nhì cho Trưởng đoàn chuyên gia Không quân Liên Xô Touzov Iakovlevich, đã có công trong thời gian công tác ở Việt Nam.

– Lệnh số 34-LCT, ngày 11-4-1967, công bố Pháp lệnh quy định một số điểm về bầu cử và tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban hành chính các cấp trong thời chiến.

– Lệnh số 72-LCT, ngày 17-6-1967, thưởng 3 Huân chương Lao động hạng Nhì, 35 Huân chương Lao động hạng Ba cho 38 địa phương và đơn vị đã hoàn thành thắng lợi công tác bổ túc vǎn hoá trong kế hoạch 5 nǎm lần thứ nhất.

– Lệnh số 94-LCT, ngày 30-8-1967, công bố lệnh tha cho những phạm nhân đã cải tạo tốt và giảm hạn tù cho những phạm nhân thật thà cố gắng sửa chữa trong thời gian ở trại.

– Lệnh ngày 10-11-1967, công bố Pháp lệnh trừng trị các tội phản cách mạng. Pháp lệnh có 3 mục và 22 điều, quy rõ những tội danh phản cách mạng và những nguyên tắc trừng trị đối với người phạm tội.

NǍM 1968

– Lệnh số 11-LCT, ngày 4-1-1968, cử ông Dương Quốc Chính giữ chức Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam, ông Nguyễn Đôn giữ chức Phó Tổng tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam.

– Lệnh số 12-LCT, ngày 4-1-1968, quyết định ông Lê Thanh Nghị, Phó Thủ tướng Chính phủ thôi kiêm chức Bộ trưởng Bộ Công nghiệp nặng; ông Nguyễn Côn giữ chức Phó Thủ tướng Chính phủ kiêm Chủ nhiệm Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước; ông Hoàng Anh, Chủ nhiệm Vǎn phòng Nông nghiệp Phủ Thủ tướng thôi kiêm chức Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp; ông Nguyễn Vǎn Lộc giữ chức Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp; ông Nguyễn Hữu Mai, giữ chức Bộ trưởng Bộ Công nghiệp nặng; ông Nguyễn Thanh Bình, Chủ nhiệm Vǎn phòng Tài chính – Thương nghiệp Phủ Thủ tướng thôi kiêm chức Chủ nhiệm Uỷ ban Vật giá Nhà nước; ông Đỗ Mười, giữ chức Chủ nhiệm Uỷ ban Vật giá Nhà nước; ông Hoàng Quốc Thịnh, giữ chức Bộ trưởng Bộ Nội thương.

– Lệnh số 53-LCT, ngày 10-5-1968, quyết định ông Nguyễn Vǎn Vịnh thôi giữ chức Phó Tổng tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam.

– Lệnh số 54-LCT ngày 10-5-1968, cử ông Xuân Thuỷ giữ chức Bộ trưởng Chính phủ; ông Trần Quang Huy giữ chức Chủ nhiệm Vǎn phòng Vǎn giáo Phủ Thủ tướng.

– Lệnh số 82-LCT, ngày 8-8-1968, thưởng Huân chương Độc lập hạng Nhì cho tỉnh Quảng Bình.

– Lệnh số 83-LCT, ngày 10-8-1968, thưởng Huân chương Độc lập hạng Nhì cho khu Vĩnh Linh.

– Lệnh số 96-LCT, ngày 30-8-1968, công bố lệnh tha cho những phạm nhân đã cải tạo tốt và giảm hạn tù cho những phạm nhân thật thà cố gắng sửa chữa trong thời gian ở trại.

– Lệnh số 119-LCT, ngày 17-10-1968, truy tặng 15 Huân chương Chiến công hạng Nhì, 45 Huân chương Chiến công hạng Ba cho 60 liệt sĩ quân đội và dân quân, tự vệ đã anh dũng hy sinh trong chiến đấu.

– Lệnh số 125-LCT, ngày 29-10-1968, bổ nhiệm ông Lương Xướng làm Đại sứ đặc mệnh toàn quyền nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tại Cộng hoà Nhân dân Bungari thay ông Phạm Ngọc Quế; ông Phạm Ngọc Quế làm Đại sứ đặc mệnh toàn quyền nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tại nước Cộng hoà A Rập Xyri thay ông Lương Xướng.

NǍM 1969

– Lệnh số 60-LCT, ngày 1-4-1969, thưởng 6 Huân chương Quân công hạng Ba, 4 Huân chương Chiến công hạng Nhất, 20 Huân chương Chiến công hạng Nhì, 83 Huân chương Chiến công hạng Ba cho 79 đơn vị, 34 cán bộ và chiến sĩ quân đội và dân quân, tự vệ đã có thành tích trong chiến đấu và phục vụ chiến đấu.

– Lệnh số 67-LCT, ngày 16-4-1969, cử bác sĩ Nguyễn Vǎn Hưởng làm Bộ trưởng Bộ Y tế.

– Lệnh số 118-LCT, ngày 24-7-1969, bổ nhiệm một số đại sứ Việt Nam ở các nước: ông Lê Trang làm Đại sứ đặc mệnh toàn quyền nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tại nước Cộng hoà Nhân dân Ba Lan, thay ông Đỗ Phát Quang về nước nhận công tác khác; ông Nguyễn Hữu Ngô làm Đại sứ đặc mệnh toàn quyền nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tại nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Tiệp Khắc, thay ông Phan Vǎn Sử về nước nhận công tác khác; ông Nguyễn Đǎng Hành làm Đại sứ đặc mệnh toàn quyền nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tại nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Rumani, thay ông HoàngTú về nước nhận công tác khác; ông Nguyễn Xuân làm Đại sứ đặc mệnh toàn quyền nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tại Vương quốc Campuchia, thay ông Nguyễn Thương về nước nhận công tác khác; ông Trần Vǎn Sớ làm Đại sứ đặc mệnh toàn quyền nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tại nước Cộng hoà A Rập thống nhất, thay ông Nguyễn Xuân; ông Nguyễn Đức Thiệng làm Đại sứ đặc mệnh toàn quyền nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tại nước Cộng hoà Angiêri Dân chủ và Nhân dân, thay ông Nguyễn Vǎn Phát về nước nhận công tác khác; ông Vũ Hắc Bồng làm Đại sứ đặc mệnh toàn quyền nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tại nước Cộng hoà Ghinê, thay ông Nguyễn Đức Thiệng; ông Lê Thanh Tâm làm Đại sứ đặc mệnh toàn quyền nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tại nước Cộng hoà thống nhất Tandania; ông Nguyễn Thành Vân làm Đại sứ đặc mệnh toàn quyền nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tại nước Cộng hoà Cônggô (Bradavin), thay ông Nguyễn Đức Thiệng.

– Lệnh số 123-LCT, ngày 20-8-1969, quyết định ông Đỗ Mười giữ chức Phó Thủ tướng Chính phủ kiêm Chủ nhiệm Vǎn phòng Kinh tế Phủ Thủ tướng; ông Trần Danh Tuyên thôi giữ chức Chủ nhiệm Vǎn phòng Công nghiệp Phủ Thủ tướng để giữ chức Bộ trưởng Bộ Vật tư; ông Nguyễn Thanh Bình thôi giữ chức Chủ nhiệm Vǎn phòng Tài chính – thương nghiệp Phủ Thủ tướng để giữ chức Chủ nhiệm Uỷ ban Thanh tra của Chính phủ; ông Nguyễn Hữu Mai thôi giữ chức Bộ trưởng Bộ Công nghiệp nặng để giữ chức Bộ trưởng Bộ Điện và Than; ông Đinh Đức Thiện thôi giữ chức Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần thuộc Bộ Quốc phòng để giữ chức Bộ trưởng Bộ Cơ khí và luyện kim; ông Ngô Minh Loan thôi giữ chức Đại sứ đặc mệnh toàn quyền của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tại nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa để giữ chức Bộ trưởng Bộ Lương thực và thực phẩm; Ông Nguyễn Lam, Bộ trưởng, Phó Chủ nhiệm thứ nhất Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước; ông Đặng Thí, Bộ trưởng, Phó Chủ nhiệm Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước; ông Nguyễn Vǎn Kha, Bộ trưởng, Phó Chủ nhiệm Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước; ông Hoàng Anh thôi giữ chức Chủ nhiệm Vǎn phòng Nông nghiệp Phủ Thủ tướng.

– Lệnh số 125-LCT, ngày 21-8-1969, ân xá và giảm án cho những phạm nhân thật thà hối cải, tích cực cải tạo nhân dịp kỷ niệm lần thứ 24 Quốc khánh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.

cpv.org.vn

Ý kiến về việc làm và xuất bản loại sách “người tốt, việc tốt”1 (6-1968)

Hôm nay Bác mời các chú đến để bàn cách thực hiện điều mà Bác đã đề nghị với Ban Bí thư Trung ương Đảng. Bác muốn bàn luận dân chủ, các chú có ý kiến gì trái với Bác thì cứ cãi, nhất trí rồi về làm mới tốt được. Không nên: Bác nói gì, các chú cũng cứ ghi vào sổ mà trong bụng thì chưa thật rõ, rồi các chú không làm, hay làm một cách qua loa.

Bác đề nghị cho Bác được trình bày trước ý kiến của Bác:

Từ nǎm 1959, Bác có ý định dùng huy hiệu của Bác như thế nào cho tốt. Có người đề nghị cho các nơi được làm huy hiệu của Bác để bán cho nhân dân. Có người lại đề nghị không nên bán, mà nên cho, coi như một phần thưởng. Bác thấy nên cho thì đúng hơn. Nhưng cho ai?

Các chú vẫn thường nói: nhân dân ta rất anh hùng, ra ngõ gặp anh hùng. Điều đó rất đúng. Có thể nói trong mỗi nhà đều có anh hùng, như thế ra ngõ mới gặp anh hùng chứ! Nhìn lại lịch sử mấy nghìn nǎm của ông cha ta, ta cũng thấy điều đó. Cứ mỗi lần có những thử thách lớn thì nhân dân ta lại tỏ rõ khí phách, nêu cao phẩm chất tốt đẹp của mình. Ngày nay, chúng ta lại đang đứng trước những thử thách rất lớn, truyền thống anh hùng hàng nghìn nǎm đang được nhân dân ta phát huy đến độ cao chưa từng thấy. Đã có những người làm nên sự tích oanh liệt được Đảng và Nhà nước tuyên dương. Đó là những bông hoa rất đẹp trong vườn hoa chung của dân tộc. Nhưng dù sao, số người và những tập thể được công nhận là anh hùng, dũng sĩ, chiến sĩ thi đua, được tặng huân chương, huy chương vẫn chỉ là số ít so với hàng triệu, hàng chục triệu con người hằng ngày góp gió thành bão, đang gánh vác mọi việc nước, việc nhà để đánh thắng giặc Mỹ và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Có tập thể vĩ đại ấy mới có Đảng ta vĩ đại, mới có Cách mạng Tháng Tám thắng lợi, mới có kháng chiến chống Pháp thành công, mới có sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước được cả thế giới khen ngợi. Đánh thắng giặc Mỹ rồi, cũng với tập thể anh hùng ấy, chúng ta sẽ xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản. Cho nên Bác nghĩ: cần có những phần thưởng để khuyến khích, động viên, cổ vũ mọi người hǎng hái làm tròn nhiệm vụ. Từ ngày hoà bình lập lại, Bác có yêu cầu báo của Đảng và của các đoàn thể mở ra mục Người mới, việc mới để làm việc đó đi đôi với phong trào thi đua ở các cấp, các ngành.

Bây giờ nên gọi là Người tốt, việc tốt cho đúng hơn. Đối với anh hùng, dũng sĩ, chiến sĩ thi đua được Đảng và Nhà nước khen thưởng thì phải qua nhiều cấp, nhiều ngành cân nhắc, xét duyệt. Còn với người tốt làm những việc tốt thì việc khen thưởng có thể đơn giản hơn. Nếu Trung ương cho phép Bác làm, thì Bác nghe báo cáo, đọc báo và chỉ cần điều tra lại một chút cho đúng sự thật là Bác có thể thưởng huy hiệu…

Các chú sẽ xem bản kê này, Bác đã ghi rõ mỗi ngành, mỗi giới, mỗi địa phương, già, trẻ, gái, trai, miền ngược, miền xuôi, Việt kiều mới về nước… có bao nhiêu người được khen thưởng. Những con số ghi trong này không có nghĩa là ngành này, giới này, tỉnh này anh hùng hơn ngành, giới, tỉnh kia. Nơi nào có ít người được khen là do khuyết điểm của cấp lãnh đạo ở đó. Một số cán bộ ta hình như mải làm công tác hành chính, sự vụ hơn là để nhiều tâm sức xây dựng con người, xây dựng Đảng và các tổ chức cách mạng, cho nên không chịu theo dõi việc làm hằng ngày của cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân. Ai làm tốt không kịp thời nêu gương, ai làm xấu không kịp thời giúp đỡ sửa chữa. Có nơi khi nhận được huy hiệu của Bác gửi về, đã biết tổ chức trao tặng hẳn hoi và làm cho mọi người, ít nhất là trong tập thể của người đó, noi gương và làm theo. Nhưng có nơi lại làm theo lối hành chính, chuyển cho người được khen như chuyển một cái công vǎn. Hoặc cho vào ngǎn kéo cất kỹ, quên không trao cho người được thưởng! Đó là những cán bộ không biết làm việc, hoặc có cái nhìn không đúng. Những chiến công và thành tích nổi bật, vang dội thì ai cũng có thể thấy được. Còn những việc nhỏ, bình thường thôi, nhưng ích nước lợi dân, thì hay bị xem thường.

Hình như các chú cũng chưa coi trọng những việc nhỏ như thế.

Các chú có biết biển cả do cái gì tạo nên không?

Từng giọt nước nhỏ thấm vào lòng đất, chảy về một hướng mới thành suối, thành sông. Biết bao nhiêu giọt nước nhỏ hợp lại mới thành biển cả. Một pho tượng hay một lâu đài cũng phải có cái nền rất vững chắc mới đứng vững được. Nhưng người ta dễ nhìn thấy pho tượng và lâu đài mà không chú ý đến cái nền. Như thế là chỉ thấy cái ngọn mà quên mất cái gốc!

Người tốt, việc tốt nhiều lắm. ở đâu cũng có. Ngành, giới nào, địa phương nào, lứa tuổi nào cũng có. Ví dụ: có cháu gái tên là Xuân ở Quảng Bình đã chiến đấu dũng cảm, góp phần bắn rơi máy bay Mỹ. Nhiều cháu gái cũng làm được như cháu Xuân. Nếu tất cả cháu gái đều dám làm và làm được như thế thì chỉ riêng con gái Việt Nam cũng đủ đánh thắng giặc Mỹ rồi.

Các chú có thấy các cháu bé Việt Nam nhặt được của rơi đem trả có ý nghĩa như thế nào không? ở nước Mỹ và các nước tư bản, người ta giết nhau chỉ vì đồng bạc giấy. Thế mà ở Việt Nam ta, các cháu bé đã biết sống như thế nào. Có cháu đã bảo mẹ cõng đi tìm

chú công an để trả lại của bắt được. Có cháu bé lên 6 tuổi cùng bạn đi chơi, bạn nó xảy chân ngã xuống ao, nếu chạy về gọi người lớn thì bạn chết mất, cháu liền bám vào bụi cỏ bờ ao, nhoai cái chân nhỏ xíu ra, miệng bảo bạn: “Bám vào đây! Bám vào đây!”. Cháu tuy nhỏ tuổi mà đã biết thương bạn như vậy. Thương bạn, thông minh và dũng cảm, cháu lại khiêm tốn nữa, cứu được mạng người mà không khoe khoang. Vǎn minh chiến thắng bạo tàn. Xã hội ta vǎn minh hơn xã hội Mỹ từ những việc làm của các cháu bé như vậy.

Bộ đội ta không những biết đánh giặc giỏi mà còn biết đỡ đẻ cho dân nữa. Có chú bộ đội đi đường thấy người đàn bà sắp đẻ, thật là khó xử, vì chú ấy chưa học đỡ đẻ bao giờ. Nhưng chú bộ đội vẫn tìm mọi cách giúp đỡ và tuy tàu xe rất khó khǎn, vẫn đưa được cả hai mẹ con về tới gia đình. Như thế mới là bộ đội của nhân dân.

Các cụ già Việt Nam cũng giỏi lắm, còn sức còn phục vụ. Các cụ cùng con cháu đánh giặc giữ nước, xung phong chǎm sóc sức khoẻ thương bệnh binh, đỡ đầu lớp mẫu giáo, trông nom vườn trẻ, gương mẫu trồng cây, trồng rừng. Có những cụ ông, cụ bà chuyên nhận nuôi những con trâu ghẻ, trâu gầy của hợp tác xã thành những con trâu béo khoẻ có thể kéo cày, kéo gỗ được…

Nếu Bác ngồi kể lại những việc làm như thế thì kể mãi cũng không hết được. Bác chỉ muốn nhắc các chú một điều: chớ bỏ qua những việc mà các chú tưởng là tầm thường. Hai cô con gái đi đường thấy cái hố nhỏ ở vỉa hè đã rủ nhau đi lấy đất lấp lại cho đồng bào khỏi vấp ngã. Một người nông dân đi giữa trời mưa thấy bao gạo của Nhà nước không có gì che phủ, đã cởi tấm nilông của mình ra đậy gạo cho Nhà nước. Cụ già Việt kiều trở về Tổ quốc để cùng chia sẻ những khó khǎn, cùng gánh vác công việc đánh Mỹ và xây dựng chủ nghĩa xã hội… Tất cả những việc làm như vậy đều nói lên tinh thần yêu nước, đạo đức trong sáng, thuần phong mỹ tục của nhân dân ta. Chúng ta đánh giặc và xây dựng xã hội mới bằng những việc làm muôn hình muôn vẻ của hàng chục triệu con người như thế, chứ không phải chỉ bằng một vài việc làm nổi bật và vang dội của một số cá nhân anh hùng.

Chủ tịch Hồ Chí Minh hỏi có ý kiến gì cần bàn cãi không? Người yêu cầu cho biết kế hoạch dự định làm như thế nào? Một đồng chí trình bày với Người về cách phân công cho các nhà xuất bản.

Các chú định ngành nào, giới nào thì nêu cao người của ngành ấy, giới ấy, có phải như thế không?

Vậy Bác xin hỏi các chú điều này: con gái có cần phải học con trai, học anh em, chồng con mình không? Con trai có cần phải học con gái không? Trẻ em có cần phải học người già không? Bộ đội có cần phải học nhân dân không? Tiền tuyến có cần phải học hậu phương không? Anh hùng chiến sĩ có cần phải học những người bình thường không? Cán bộ, đảng viên có cần phải học quần chúng nhân dân không? Cấp trên có cần phải học cấp dưới không?

Như vậy là các chú cũng đồng ý với Bác: Một người phải biết học nhiều người. Hơn nữa, cần làm cho món ǎn tinh thần được phong phú, không nên bắt mọi người chỉ được ǎn một món thôi. Cũng như vào vườn hoa, cần cho mọi người được thấy nhiều loại hoa đẹp. Ta xây dựng con người cũng phải có ý định rõ ràng như nhà kiến trúc. Định xây dựng ngôi nhà như thế nào rồi mới dùng gạch, vữa, vôi cát, tre gỗ… mà xây nên. Những gương người tốt làm việc tốt muôn hình muôn vẻ là vật liệu quý để các chú xây dựng con người. Lấy gương tốt trong quần chúng nhân dân và cán bộ đảng viên để giáo dục lẫn nhau còn là một phương pháp lấy quần chúng giáo dục quần chúng rất sinh động và có sức thuyết phục rất lớn. Đó cũng là cách thực hành đường lối quần chúng trong công tác giáo dục.

Chủ tịch Hồ Chí Minh cǎn dặn về cách viết cho quần chúng:

Các chú còn hay mắc cái tật nói chữ nhiều. Người ốm các chú gọi là “bệnh nhân”. Làm bệnh nhân thì oai hơn người ốm có phải không? Giúp đỡ thì các chú không thích bằng “tương trợ”. Hình như các chú tương trợ Bác thì quan trọng hơn là giúp đỡ Bác! Tiếng
Việt của ta rất phong phú, ta phải làm giàu thêm cho tiếng của ta, nhưng không nên vay mượn lu bù để loè thiên hạ. Ngày xưa, ta còn bị thực dân cai trị, có những người không thạo tiếng mẹ đẻ, nói nǎng chẳng ai hiểu gì, lại cho mình là tri thức cao. Bây giờ ta độc lập rồi, đừng nên bắt chước những thói xấu của thời nô lệ. Ta là cán bộ cách mạng, ta nói và viết cho quần chúng nhân dân mà mọi người không hiểu ta nói cái gì, sao có thể gọi là cán bộ cách mạng được.

Chủ tịch Hồ Chí Minh kể lại, Người vừa xem báo thấy có tin đã làm xong cuốn Ngữ pháp tiếng Việt, Người nói:

Đã tiếng Việt, lại còn ngữ pháp! Sao không gọi là “Mẹo tiếng Việt”? Cái gì tiếng ta đã có và dễ hiểu rồi thì đặt thêm ra làm gì? Mấy chú cải cách chữ Việt không khéo lại làm cho người ta khó hiểu thêm. Có tiếng ta dùng đã quen rồi, các chú lại tự ý sửa đổi. Tại sao lại viết: Quốc hội họp kỳ thứ bốn?

Các chú đi hỏi các cụ mà xem. Xưa nay nhân dân ta vẫn nói thứ tư chứ ai nói thứ bốn bao giờ!

Chủ tịch Hồ Chí Minh nói về việc vẽ cho quần chúng:

Vẽ rất quan trọng, Bác gần tám mươi tuổi rồi mà Bác còn nhớ hình ảnh ông Tử Lộ đội gạo nuôi mẹ trong sách giáo khoa ngày xưa. Nhân dân ta rất thích tranh vẽ, nhưng có những bức vẽ không ai hiểu gì cả. Hình như mấy chú vẽ cho mình xem chứ không phải vẽ cho quần chúng. Vẽ con gái đi đánh giặc mà các chú bắt người ta phải mặc áo dài tha thướt và đội nón bài thơ!

Chủ tịch Hồ Chí Minh đưa cho xem một tờ báo có hình vẽ ba cô du kích Hà Nội – Huế – Sài Gòn:

Nếu các chú không tin, các chú thử đem hỏi các cháu gái ở mấy thành phố này xem. Chắc các cháu sẽ bảo: Các chú vẽ ai chứ các cháu cầm súng đánh giặc, không bao giờ lại ǎn mặc như thế!

Bác không giỏi về mỹ thuật nên có thể không đánh giá đúng tranh vẽ của các chú. Nhưng Bác nghĩ rằng nghệ thuật phải gần với cuộc sống, người vẽ không thể tuỳ ý muốn tưởng tượng ra thế nào cũng được, rồi quần chúng phê bình lại bảo người ta dốt.

Trở lại những cuốn sách sắp làm, Người dặn thêm:

Về loại sách này, các chú không nên tham viết dài. Nhân dân ta có truyền thống kể chuyện ngắn gọn mà lại có duyên. Các chú phải học cách kể chuyện của nhân dân, nên kèm theo nhiều tranh vẽ dễ hiểu mà đẹp, nhưng đừng vì vẽ nhiều mà tính giá đắt quá.

Chủ tịch Hồ Chí Minh hỏi về khuôn khổ cuốn sách, Người xem rất kỹ hàng chục cuốn sách loại viết về anh hùng, dũng sĩ, chiến sĩ thi đua mà chúng tôi đã đưa cho Người xem. Nói về khuôn khổ cuốn sách mà chúng tôi định lựa chọn, Chủ tịch Hồ Chí Minh khen:

Các chú làm được khá nhiều và trình bày cũng khá. Nhưng các chú có khuyết điểm là “mặc áo gấm đi đêm”. Các chú làm được nhiều, lại không biết tuyên truyền giới thiệu cho nhiều người biết mà đọc.

Chủ tịch Hồ Chí Minh chọn một cuốn sách đưa làm mẫu:

Loại sách mới, các chú nên làm theo khuôn khổ như thế này, không nên to quá, cũng không nên nhỏ quá. Ngoài bìa cần có dòng chữ Loại sách người tốt, việc tốt. Tên sách là gì thì mỗi ngành, mỗi giới chọn, các đồng chí lãnh đạo ngành, giới phải bàn tập thể để đặt tên sách cho đúng, cho hay. Rồi phải có lời tựa nữa. Lời tựa này phải viết tập thể. Sau khi có sách rồi, các chú lại phải biết tuyên truyền giới thiệu trên báo và giới thiệu bằng mồm nữa.

Ngành, giới nào cũng phải làm công tác tuyên truyền giới thiệu. Và các chú nhớ ở trang đầu mỗi cuốn sách đều phải ghi một câu: Hoan nghênh bạn đọc phê bình. Từ nay trở đi trên sách hay trên báo, các chú nên luôn luôn có câu đó. Bác biết các chú vǎn hay chữ tốt, nhưng dù sao, nhân dân trǎm tai nghìn mắt vẫn có nhiều ý kiến thông minh có thể giúp cho các chú tiến bộ hơn. Không riêng gì viết sách viết báo, mà công tác gì muốn làm tốt đều phải coi trọng ý kiến của nhân dân.

*

* *

Lâu nay, các chú tuyên truyền, giáo dục chủ nghĩa Mác – Lênin như thế nào? Kết quả ra sao?

Một đồng chí báo cáo với Chủ tịch Hồ Chí Minh về những việc đang làm:

Các chú làm khá nhiều việc đấy. Nhưng có mấy điều Bác muốn biết rõ hơn. Các chú dạy cho cán bộ, đảng viên và nhân dân về chủ nghĩa Mác – Lênin, chắc có nhiều người thuộc, nhưng các chú có làm cho mọi người hiểu chủ nghĩa Mác – Lênin là thế nào không? Theo Bác, hiểu chủ nghĩa Mác – Lênin tức là cách mạng phân công cho việc gì, làm Chủ tịch nước hay nấu ǎn, đều phải làm tròn nhiệm vụ. Không nên đào tạo ra những con người thuộc sách làu làu, cụ Mác nói thế này, cụ Lênin nói thế kia, nhưng nhiệm vụ của mình được giao quét nhà lại để cho nhà đầy rác. Đó là điều thứ nhất cần rõ.

Các chú có biết nhân dân ta sống với nhau như thế nào không?

Một đồng chí trả lời: Thưa Bác, nhân dân ta có câu “tối lửa tắt đèn có nhau”.

Đúng là như vậy! Nhân dân ta từ lâu đã sống với nhau có tình có nghĩa như thế. Từ khi có Đảng ta lãnh đạo và giáo dục, tình nghĩa ấy càng cao đẹp hơn, trở thành tình nghĩa đồng bào, đồng chí, tình nghĩa nǎm châu bốn biển một nhà. Hiểu chủ nghĩa Mác – Lênin là phải sống với nhau có tình có nghĩa. Nếu thuộc bao nhiêu sách mà sống không có tình có nghĩa thì sao gọi là hiểu chủ nghĩa Mác- Lênin được. Đó là điều thứ hai cần phải rõ.
Mấy chục nǎm nay, nhân dân ta thực hành chủ nghĩa Mác – Lênin bằng cách ra sức làm tròn nhiệm vụ cách mạng và sống với nhau có tình có nghĩa. Lấy gương người tốt, việc tốt có thật trong nhân dân và cán bộ, đảng viên ta mà giáo dục lẫn nhau, đó chính là một cách tuyên truyền, giáo dục chủ nghĩa Mác – Lênin thiết thực nhất.
Về giáo dục thanh niên: các chú tuyên huấn có xem xét công tác giáo dục thanh niên không?

Đối với các cháu học ở trong nước và đi học nước ngoài, các chú giáo dục các cháu thế nào?

Một đồng chí báo cáo về những việc đang làm. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận xét:

Thanh niên ta bây giờ giỏi lắm. Chỉ nói về đánh giặc, so với cuộc kháng chiến chống Pháp hơn mười nǎm về trước, cũng đã thấy con hơn cha rồi. Ta có câu “con hơn cha là nhà có phúc”. Bác mong các cháu bây giờ và sau này ngày càng giỏi thì mới xây dựng chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản được. Nhưng bên cạnh những điều đáng khen, vẫn còn những chuyện không xứng đáng với thanh niên ta. Trước đây, Bác và các chú bước vào con đường cách mạng, ai cũng sẵn sàng nhận lấy hai cái này: một là ngồi tù, hai là lên máy chém. Ngoài cái được lớn là độc lập tự do cho nhân dân, Tổ quốc, không ai nghĩ sẽ giành phần danh lợi cho cá nhân mình. Bây giờ ta đã có chính quyền rồi, hoàn cảnh đã khác trước. Một số cháu khi phấn đấu vào Đoàn hay vào Đảng lại có ý nghĩ là để được tín nhiệm, để mau được đề bạt và lên lương! Phải uốn cây từ lúc cây non, đừng để cho tâm hồn các cháu bị vẩn đục vì chủ nghĩa cá nhân như thế.

Đối với các cháu học sinh đại học, sau mấy nǎm học các cháu sẽ bước vào đời, trở thành những cán bộ có trình độ vǎn hoá, khoa học khá. Nhưng các cháu ấy có biết cán bộ nghĩa là gì không? Các chú dạy các cháu rất nhiều điều, nhưng có một điều phải thật rõ: Làm cán bộ tức là suốt đời làm đày tớ trung thành của nhân dân. Mấy chữ a, b, c này không phải ai cũng thuộc đâu, phải học mãi, học suốt đời mới thuộc được.
Mấy chục nǎm nay, nhân dân ta phải tập trung sức lực để đánh giặc cho nên về xây dựng đời sống ta chưa làm được nhiều. Nhưng đánh thắng giặc Mỹ rồi thì những việc chính của cách mạng là làm thế nào giải quyết ngày càng tốt hơn những vấn đề: ǎn, mặc, ở, đi lại, học hành, phòng và chữa bệnh…, tóm lại là không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Những điều lớp người này chưa làm xong thì lớp người sau phải tiếp tục làm. Các chú không nên nói cao xa mà phải nói rất cụ thể cho các cháu hiểu. Ví dụ: các cháu học ngành xây dựng thì phải hiểu rằng nhân dân ta còn thiếu nhiều nhà ở. Đi học ở nước ngoài thì phải học những cái hay cái tốt của bạn, để làm sao xây dựng được nhiều và nhanh những ngôi nhà thoáng mát, thuận tiện, hợp khí hậu và rẻ tiền cho nhân dân. Nếu các cháu tốt nghiệp rồi, việc trước tiên lại chỉ lo sao cho mình có quần áo đẹp, có cǎn nhà riêng sang trọng làm tổ ấm, thì công tác giáo dục của các chú không thể coi là có kết quả được!

Bác nghe nói có cháu trước khi vào đại học đã có người yêu hoặc đã có vợ, nhưng khi “thành tài” rồi lại chê người cũ. Như thế là không có đạo đức, làm sao trở thành cán bộ tốt được!

Tuy vậy, những cái hư hỏng chỉ là số ít. Nhà trường, đoàn thể và gia đình hằng ngày phải biết phòng ngừa và đẩy lùi những cái không tốt đó cho các cháu. Phải thấy phần đông các cháu là tốt. Cần lấy ngay những gương tốt đó của các cháu và những gương người tốt việc tốt trong nhân dân để giáo dục các cháu. Không nên nói lý luận suông.

Chủ tịch Hồ Chí Minh hỏi về công tác giáo dục lịch sử và nêu ra một số cuốn sách về lịch sử nước ngoài và truyện thần thoại nước ngoài:

Các chú làm loại sách này cho ai đọc?

Bác không phản đối việc giáo dục cho thanh niên ta những hiểu biết về thế giới, về lịch sử các nước, về những cái hay của loài người. Nhưng ta phải phân biệt cái gì nên làm trước, cái gì làm sau cho thiết thực và có ích. Trước kia, thực dân Pháp còn cai trị nước ta, có những người trí thức Việt Nam rất thông thuộc lịch sử, địa lý và các chuyện thần thoại của nước Pháp, của Hy Lạp và La Mã. Nhưng khi hỏi đến các vị anh hùng là tổ tiên, ông cha mình, hỏi đến địa lý nước mình thì mù tịt. Nay ta độc lập, tự do rồi, cố nhiên ta không đào tạo nên những con người như thế.

Tuy vậy, Bác nhắc các chú điều này: Bây giờ do cuộc chống Mỹ, cứu nước của ta có một vị trí rất lớn đối với thế giới, ta lại đánh thắng đế quốc Mỹ, nên ngày càng có nhiều người nước ngoài tìm hiểu rất kỹ về Việt Nam. Coi chừng, có nhiều người Việt Nam lại không hiểu rõ lịch sử, đất nước, con người và những cái vốn rất quý báu của mình bằng những người nước ngoài. Nếu có tình hình như vậy, thì các chú làm công tác tuyên truyền giáo dục phải phụ trách!

Chủ tịch Hồ Chí Minh hỏi về công tác giáo dục cán bộ, đảng viên:

Muốn giáo dục nhân dân, làm cho mọi người đều tốt cả thì cán bộ, đảng viên phải tự giáo dục và rèn luyện hằng ngày. Người xưa còn biết tu thân, mỗi buổi tối kiểm điểm mình và dùng hai cái lọ đỗ đen, đỗ trắng để ghi việc tốt việc xấu. Đảng viên, cán bộ ta từ nhân dân anh hùng mà ra, phải sống cho xứng với nhân dân và Đảng anh hùng.

Bác rất vui mừng thấy phần đông đảng viên, cán bộ ta đã tỏ ra xứng đáng với danh hiệu của mình. Nhưng cũng có một số trường hợp khiến Bác không vui.

Trước đây, khi cách mạng còn trong bóng tối, hoặc khi còn ở chiến khu, chúng ta chỉ có hai bộ quần áo nâu, đi công tác thì ba lô lên vai mà đi bộ.

Khó khǎn, thiếu thốn, ốm đau ta đều dựa vào nhân dân. Nay tình hình đã khác trước. Đời sống nhân dân khá hơn xưa, cán bộ ta ǎn ở cũng khá hơn, đi công tác có xe đạp, có ô tô nữa. Nhưng có một số người không nhớ lúc hàn vi, lại để cho chủ nghĩa cá nhân nảy nở. Đã có xe rồi, lại “phấn đấu” để có chiếc xe đẹp hơn, chiếm mất phần của người khác. Đã có nhà ở rồi, lại “phấn đấu” theo kiểu như thế để có nhà đẹp hơn. Làm như vậy là trái với đạo đức cách mạng. Các chú có biết rằng dân tộc ta vĩ đại, Đảng ta vĩ đại, ta được anh em bầu bạn khắp nǎm châu yêu mến và ca ngợi là vì cái gì không?

Vì cuộc chiến đấu chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta do Đảng ta lãnh đạo là chí công vô tư, mình vì mọi người.

Từ nay về sau, nhân dân ta và Đảng ta phải giữ gìn và phát huy mãi mãi đạo đức trong sáng ấy. Một dân tộc, một đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân. Cho nên trong khi ta kiên trì và đẩy mạnh cuộc chiến đấu chống Mỹ, cứu nước, làm cho vǎn minh chiến thắng bạo tàn thì đồng thời phải loại trừ những cái xấu xa do chế độ cũ để lại trong xã hội và trong mỗi con người.

Mỗi con người đều có thiện và ác ở trong lòng. Ta phải biết làm cho phần tốt ở trong mỗi con người nảy nở như hoa mùa xuân và phần xấu bị mất dần đi, đó là thái độ của người cách mạng. Đối với những người có thói hư tật xấu, trừ hạng người phản lại Tổ quốc và nhân dân, ta cũng phải giúp họ tiến bộ bằng cách làm cho cái phần thiện trong con người nảy nở để đẩy lùi phần ác, chứ không phải đập cho tơi bời. Lấy gương người tốt, việc tốt để hàng ngày giáo dục lẫn nhau là một trong những cách tốt nhất để xây dựng Đảng, xây dựng các tổ chức cách mạng, xây dựng con người mới, cuộc sống mới.

Chủ tịch Hồ Chí Minh quay sang hỏi một đồng chí:

Chú có biết người xưa đã có những cách giáo dục sâu sắc như thế nào không? Chú còn nhớ những chuyện Nhị thập tứ hiếu không?

Bác gần tám mươi tuổi mà vẫn còn nhớ chuyện ông Lão Lai, vợ chồng Quách Cự, chú bé Hán Lục Tích… hiếu thảo với cha mẹ như thế nào. Những chuyện như thế ngày xưa cả những người không biết chữ cũng thuộc. Các chú phải biết rút kinh nghiệm. Học tập cách giáo dục của ông cha ta. Các chú có thể làm tốt hơn, vì đạo đức ngày nay cao rộng hơn: không phải chỉ có hiếu với bố mẹ, mà trung với nước, hiếu với dân. Đạo lý ngày xưa các cụ nêu lên không phải ai cũng làm được, vì con người sống trong xã hội cũ là xã hội người đi áp bức bóc lột người, quan hệ giữa người với người là thường xấu. Bây giờ xã hội mới, không có áp bức bóc lột, ai cũng có thể vươn tới đỉnh cao của đạo đức cách mạng. Những gương thánh hiền ngày xưa chỉ có mấy chục và là chuyện của nước ngoài, chuyện tưởng tượng ra. Còn thánh hiền ngày nay bao gồm hàng triệu con người có thật trong nhân dân Việt Nam ta, ở trong nhà hay ra ngõ đều có thể gặp được. Đó là những anh hùng, dũng sĩ, chiến sĩ thi đua.

Đó là hàng triệu “người tốt việc tốt” đang chống Mỹ, cứu nước, xây dựng chủ nghĩa xã hội, đang cùng nhau viết nên những trang sử vô cùng oanh liệt mà con cháu ta sẽ mãi mãi tự hào.

Nếu có điều gì chưa rõ thì các chú cứ nói. Ta sẽ bàn nữa. Nếu về thấy có điều gì nữa thì báo Bác biết, rồi lại bàn tiếp.

– Thế bao giờ thì các chú làm xong những cuốn sách đầu tiên?

Các đồng chí hứa với Người đến ngày 2 tháng 9:

Trước khi in, các chú gửi cho Bác xem một số bài. Viết giản dị thôi và phải đúng sự thật. Không được bịa ra. Gửi cho Bác xem cả bìa sách và một số tranh vẽ các chú định làm. Ta làm những cuốn đầu tiên, rồi rút kinh nghiệm để làm tốt hơn những cuốn sau này.

Sách Hồ Chí Minh: Về công tác vǎn hoá vǎn nghệ, Nxb. Sự thật,Hà Nội, 1971, tr.78-93.

——————————–

1) Đầu tháng 6-1968, Chủ tịch Hồ Chí Minh làm việc với một số cán bộ Ban Tuyên huấn Trung ương Đảng về việc làm và xuất bản loại sách Người tốt việc tốt. Đây là bản lược ghi ý kiến trao đổi và phát biểu của Người.

cpv.org.vn