Thư viện

Binh pháp Tôn Tử – Đặt kế hoạch tác chiến – chiến lược, chiến thuật

Biết người, biết mình rồi lại phải so sánh mình với địch xem ai hơn, ai kém để định kế hoạch tác chiến. Về sự so sánh mình với địch, Tôn Tử nói “Xem đôi bên chính phủ bên nào đối với nhân dân thi hành chính sách nhân nghĩa, bên nào có những tướng tá đủ tài nǎng giúp việc, bên nào có đủ thiên thời, địa lợi hơn, bên nào thi hành kỷ luật và mệnh lệnh nghiêm ngặt, lại binh sĩ bên nào nhiều hay ít, và được huấn luyện thành thục hay không thành thục, vũ khí bên nào tinh nhuệ hơn. Thưởng phạt bên nào công minh hơn”.

Thật vậy, trước khi giao chiến nếu so sánh kỹ càng như lời Tôn Tử, có thể định đoạt được thắng bại. Nhưng chiến tranh ngày nay, không những riêng về mặt quân sự mà bao gồm cả chính trị, kinh tế, ngoại giao.

Vậy cần phải so sánh cả những phương diện trên đây nữa mới thực là toàn vẹn.

Đặt ra kế hoạch rồi, lại cần xem các tướng tá, binh sĩ thừa hành kế hoạch có phải là những người trung thực, chịu theo đúng kế hoạch không? nên Tôn Tử lại nói:

“Nếu tướng tá nào chịu theo mệnh lệnh, hết sức thừa hành kế hoạch đã định, là những tướng tá nên dùng làm chân tay giúp việc, thời dễ nắm được thắng lợi. Trái lại những tướng tá nào ngang ngạnh, không chịu theo kế hoạch, thích tự do hành động dễ làm hỏng việc, phải nên loại bỏ đi”.

Trong quân sự, phục tùng mệnh lệnh, trên dưới mới nhất trí, chỉ huy mới đắc lực. Nếu các cấp dưới thấy mệnh lệnh trên có chỗ không đi sát với hoàn cảnh, không thể thực hiện được, phải hỏi cấp trên có cho phép quyền biến mới được. Như thế là cốt để chỉ huy được thống nhất, mệnh lệnh thi hành được chu đáo.

Khi đã định kế hoạch có lợi cho mình rồi và khi đã dùng được tướng tá biết tuyệt đối phục tùng mệnh lệnh rồi, người làm tướng chỉ huy còn phải theo như Tôn Tử chỉ dẫn “xem xét tình thế bên ngoài để tạo ra những điều kiện khách quan giúp ích cho những hành động quân sự của mình”, như phao tin đồn, đề xướng chính nghĩa, gây dư luận hoặc dùng mọi mánh khoé ngoại giao làm cho các nước láng giềng đối với mình có thiện cảm để giúp mình hoặc về vật chất, hoặc về tinh thần và làm cho nước địch bị cô lập.

Chiến tranh ngày nay, đánh ở mặt sau, đánh về kinh tế, về chính trị, về tinh thần cũng không kém phần quan trọng như đánh ngoài mặt trận. Phải biết phối hợp mọi phương pháp ấy mới có thể đi tới thắng lợi hoàn toàn.

Ngoài ra muốn định đoạt kế hoạch xác đáng, Tôn Tử còn nói thêm:

“Về việc binh, cần phải nghiên cứu kỹ càng địa hình, đo xem chiến trường cao thấp, rộng hẹp, xa gần và bằng phẳng hay hiểm trở thế nào. Rồi lại tính xem cần phải số quân nhiều ít, mạnh yếu thế nào để quyết định sức chiến đấu giữa quân mình với quân địch”.

Chiến lược, chiến thuật

Về chiến thuật – Tôn Tử định ra mấy điểm sau đây:

1- “Về việc quân, không thể đường đường chính chính được mà bao giờ cũng phải áp dụng chiến thuật lừa dối”.

Vẫn biết dụng binh là việc nhân nghĩa, muốn cứu dân, cứu nước. Nhưng muốn thắng quân địch phải bày mưu kế làm sao lừa được quân địch vào cạm bẫy, nên không thể không dùng chiến thuật giả dối được. Chẳng những giả dối đối với quân địch mà ngay với binh sĩ của mình cũng phải giả dối nữa. Đối với binh sĩ chỉ buộc họ phải làm theo mệnh lệnh, không nên cho họ biết nhiều, sợ lộ cơ mưu. Chiến tranh chỉ là thủ đoạn để đạt mục đích chính trị, nên dù phải dùng đến kế giả trá đến thế nào cũng không từ, chỉ cốt sao thắng được địch quân để bảo vệ đất nước là được.

2- “Muốn giả trá, thì dù mình có tài nǎng cũng làm như mình không có tài nǎng gì”.

Làm như thế để địch không lưu tâm đến mình, cho mình là yếu, không cần phải chuẩn bị nhiều rồi mình sẽ thừa cơ đánh úp. Ngày nay các nước chuẩn bị chiến tranh đều hết sức giữ bí mật, đợi chiến tranh bùng nổ mới xuất toàn lực ra để quyết thắng.

3- “Thời kỳ tiến đánh quân địch đã đến nơi nhưng làm thế nào để cho quân địch tưởng là chưa đánh vội”. Quân địch thấy mình không có ý đánh, không kịp chuẩn bị. Mình đem quân tới đánh, tất địch phải thua.

4- “Lấy lợi để dụ địch”.

Như thế có nghĩa là mình bỏ mặt không quan trọng để chiếm được mặt khác quan trọng hơn, hoặc hy sinh một bộ đội nhỏ để cho bộ đội khác được thắng lợi lớn. Ngoài ra, còn dùng kim tiền hay tước vị để dụ quân địch đầu hàng.

5- “Dùng mọi phương pháp để làm rối loạn nước địch hay bộ đội của nước địch rồi thừa cơ hưởng lợi”.

6- “Thấy quân bị của địch đã đầy đủ, ta phải thiết thực chuẩn bị để đề phòng”.

7- “Thấy quân địch mạnh, ta phải tạm lánh không cần đương đầu vội để đợi thời cơ”.

8- “Khiêu khích cho địch nổi giận, để làm rối loạn lý tính của địch”.

Lý tính đã rối loạn, địch sẽ hành động thất thố để cho mình dễ thừa cơ tiến đánh. Nhưng phải đợi cho địch tức đến nỗi phát khóc, rồi mình sẽ hành động mới có hiệu quả.

9- “Đối với địch nên tỏ thái độ khiêm tốn, nhã nhặn. Thấy vậy, địch sẽ lên mặt kiêu cǎng”.

Địch kiêu cǎng tưởng là giỏi không thiết gì chỉnh bị quân ngũ tức là có lợi cho mình.

10- “Quân địch đóng yên ổn ở một chỗ nào, mình đem quân đến đánh úp, hoặc uy hiếp mặt sau, hoặc phá hoại đường lối giao thông khiến cho quân địch bối rối, ứng phó nhọc mệt”.

11- “Tìm phương pháp ly gián nội bộ của quân địch hoặc ly gián nước địch với các nước khác”.

Trong nội bộ của địch, tướng tá và binh sĩ đã bất hoà với nhau, lực lượng sẽ yếu đi hoặc các nước đối với nước địch không có thiện cảm, nước địch sẽ bị cô lập.

12- “Tiến đánh chỗ địch không phòng bị hay thấy địch không để ý, mình tiến đánh một cách bất ngờ”.

Đánh lối như thế, bao giờ mình cũng giữ được địa vị chủ động làm cho địch không kịp ứng phó, mình sẽ chiếm được nhiều thắng lợi.

Để kết luận, Tôn Tử nói:

“Các chiến thuật nói trên đều là những bí quyết của các nhà quân sự. Nhưng trong việc quân, những việc bất trắc thực là thiên biến vạn hoá và thường xảy ra luôn luôn. Phải biết tuỳ cơ ứng biến, không thể biết trước mà bảo được. Chiến thuật cốt yếu để được thắng lợi là phải áp dụng thuật giả trá và tuyệt đối bí mật”.

Q.Th.

Báo Cứu quốc, số 260, ngày 7-6-1946.
cpv.org.vn

Noi gương anh em tự vệ chiến đấu Hoàng Diệu

Anh em Tự vệ chiến đấu Hoàng Diệu thật đáng làm khuôn mẫu cho tất cả các anh em tự vệ các nơi về mọi phương diện.

Về mặt sinh hoạt hàng ngày, anh em bao giờ cũng giữ kỷ luật và trật tự rất nghiêm. Sáng dậy từ 5 giờ và chỉ trong 5 phút là đã chǎn chiếu gọn gàng, áo quần tề chỉnh để ra tập thể thao. Tuy quần áo thiếu thốn, nhưng anh em cũng cố gắng ǎn mặc sạch sẽ. Mỗi ngày anh em để riêng 1 giờ về việc chǎm nom vệ sinh trong trại. Lúc nào, nơi ǎn chốn ngủ cũng sạch sẽ. Người ta thường nói, muốn biết tinh thần của một bộ đội, chỉ cần xem cách xếp đặt và cách ǎn ở của các đội viên là đủ rõ. Thì đây, anh em Tự vệ chiến đấu Hoàng Diệu đã tỏ cho mọi người biết là những phần tử đủ tinh thần chiến đấu với cách sinh hoạt thật giản đơn.

Chẳng những thế, nhất cử nhất động, anh em đều tỏ ra rất nhanh nhẹn. Bất luận lúc nào tập hợp, chỉ dứt tiếng còi, là đã thành hàng ngũ chỉnh tề rồi.

ở trong trại, anh em coi nhau như anh em một nhà. Gặp chuyện gì xích mích, anh em cố nhẫn nhục đợi đến kỳ khai hội hàng tuần sẽ đem ra phân xử. Người có lỗi sẽ bị cảnh cáo, phê bình. Sự trừng phạt của anh em rất nghiêm. Trong khi tập tành mà phạm lỗi, bị phạt chạy chung quanh sân. Lỗi nặng vừa, phải lưu ở trong trại không được ra chơi ngoài vào ngày chủ nhật hay ngày lễ. Phạm lỗi nặng hơn, bị ǎn cơm muối hoặc bị khai trừ. Nhờ kỷ luật sắt đó, anh em luôn luôn sửa chữa nết hư, tật xấu, cố gắng làm những đội viên gương mẫu.

Về mặt học tập, ngoài tập luyện quân sự và lên giảng đường, anh em tối nào cũng hội họp để thảo luận thời cục hoặc nghiên cứu chính trị. Thừa thì giờ anh em vào thư viện xem sách, báo hay vào câu lạc bộ học hát, học đàn. Anh em rất thích học bắn, nên đối với súng, anh em giữ gìn và lau chùi cẩn thận lắm. Nói tóm lại anh em luôn luôn hoạt động, không một giờ, một phút nào nghĩ vơ, nghĩ vẩn.

Về mặt công tác, anh em Tự vệ chiến đấu Hoàng Diệu thật tranh giải nhất. Trong khu anh em đóng, dân chúng có điều gì thắc mắc khó hiểu về thời cục, anh em đi từng nhà giải thích, kỳ cho dân chúng hiểu rõ mới nghe. Tự vệ trong một ít phố đều do anh em huấn luyện về quân sự. Anh em rất sốt sắng với phong trào Bình dân học vụ. Những người không biết chữ trong phố đều là những bạn thân của anh em. Nhất là đối với đời sống mới, anh em thực hành thật chu đáo. Muốn cổ động vệ sinh có hiệu quả, anh em tổ chức thành từng ban đi quét và khai cống nước bẩn ở trong các ngõ sâu.

Tất cả các cuộc biểu tình khổng lồ rất nghiêm trang, rất có quy củ trên đường phố hoặc trước nhà hát lớn, trước Việt Nam học xá đều do anh em giữ trật tự và nhiều khi anh em hợp tác với ban tổ chức làm kỳ đài, chôn cột cờ, kẻ biểu ngữ, cổ động dân chúng. Anh em lại dự định đi các tỉnh để gây phong trào thể dục. Bất luận một việc xã hội nào do Chính phủ hay đoàn thể xướng ra đều được anh em xung phong.

Anh em Tự vệ chiến đấu thành Hoàng Diệu, thật đáng làm gương cho không những tự vệ các địa phương mà cho cả các hạng thanh niên nữa.

Q.T.

Báo Cứu quốc, số 266, ngày 14-6-1946.
cpv.org.vn

Tại sao hợp tác xã chưa thấy xuất hiện ở thôn quê

Phong trào vận động hợp tác xã đã được Chính phủ cổ động và khuyến khích, lại được các báo nhiệt liệt hô hào. Song đến nay, ngó về thôn quê, chúng ta vẫn thấy vắng hình bóng hợp tác xã. Có một vài nơi đã mở hợp tác xã tiêu dùng; nhưng, trong lúc này vì giá hàng lên xuống không chừng nên buôn bán thua lỗ rồi sinh chán, không chịu tiến hành công việc đến nơi đến chốn.

Sở dĩ dân quê ta không chú ý lắm đến việc mở hợp tác xã là vì những nguyên nhân sau này:

1) Những tri thức phổ thông chưa được phổ cập ở thôn quê – ở các nước, hợp tác xã là hình thức tổ chức kinh tế rất thông thường trong dân chúng. Trong mỗi làng, mỗi phố, mỗi hầm mỏ, mỗi nhà máy, mỗi công sở, người ta đều tổ chức hợp tác xã tiêu dùng. Số tiền của mỗi cổ phần định rất nhẹ để cho người ít tiền cũng có thể góp được. Người nhiều tiền sẽ góp nhiều cổ phần hơn. Như vậy, hợp tác xã sẽ có đủ vốn để kinh doanh. Sự tiêu dùng của mọi người đều do hợp tác xã ở nơi mình làm việc cung cấp. Nhờ những hợp tác xã đó, đời sống của dân chúng nước người được đầy đủ và dễ dàng.

Còn ở xứ ta, dân chúng hình như vẫn còn bỡ ngỡ với hợp tác xã. Là vì dưới hồi thuộc Pháp, thuộc Nhật, chúng ta chẳng được phép tự do tổ chức những hợp tác xã. Đến nay, những tri thức về hợp tác xã đối với chúng ta bị coi như là mới lạ. Chúng ta chưa hiểu rõ lợi ích của hợp tác xã thế nào và cách thức tổ chức thế nào nên không dám bạo dạn đứng ra khởi xướng lập hợp tác xã.

2) Thiếu cán bộ hoạt động – Như trên đã nói, vì không hiểu biết nên không dám làm. ở nhà quê trừ một số ít người thạo việc buôn bán, kinh doanh, còn phần đông ngoài việc cày cuốc hay một vài thứ thủ công nghệ lặt vặt, không biết gì đến công việc làm ǎn khác nữa. Lại không thông thạo tính toán hay làm sổ sách nên bất luận kinh doanh nghề gì chỉ là làm theo lối buông trôi, gặp chǎng hay chớ, sao tránh khỏi được thất bại.

Những điều kiện cần thiết để phổ cập hợp tác xã thôn quê

1) Về việc cổ động tuyên truyền – Ngoài việc xuất bản sách báo nói về hợp tác xã phát cho dân quê, Chính phủ nên phái người đi các làng mở những cuộc diễn giảng làm cho dân chúng hiểu rõ lợi ích hợp tác xã và cách thức mở hợp tác xã.

2) Mở lớp huấn luyện cán bộ – Bất cứ công việc gì thiếu cán bộ, khó thực hiện được. Chính phủ nên mở ở các tỉnh những lớp huấn luyện cán bộ chuyên về hợp tác xã. Mỗi làng sẽ cử một hay hai người theo học lớp đó. Chương trình học, ngoài những thường thức về hợp tác xã, lại dạy cả những điều rất giản dị trong khoa kế toán và cách thức làm sổ sách. Kỳ hạn học nhiều nhất là một tháng. Học xong những người cán bộ đó về làng sẽ là những cái loa truyền bá lý tưởng hợp tác xã. Đồng thời, họ lại là những người giúp việc đắc lực cho dân chúng trong công cuộc vận động mở hợp tác xã.

3) Tại một vài công sở, hầm mỏ, xưởng máy, hay đồn điền, mở các hợp tác xã làm kiểu mẫu. Bắt đầu mở ngay hợp tác xã tiêu dùng và chỉ mở trong phạm vi nhỏ hẹp với một số vốn vừa đủ kinh doanh về sau sẽ dần dần mở rộng thêm. Chỉ khi nào dân chúng thấy lợi ích của hợp tác xã đã hiển nhiên thì khi đó phong trào hợp tác xã mới có thể sôi nổi, bồng bột được.

Q.Th.

Báo Cứu quốc, số 270, ngày 19-6-1946.
cpv.org.vn

Binh pháp Tôn Tử – Vấn đề quân nhu và lương thực

Về quân sự, quân nhu và lương thực rất quan trọng. Có binh hùng, tướng giỏi, nhưng thiếu quân nhu, lương thực, không thể thắng trận được. Nếu việc cung cấp lương thực, quần áo, thuốc men, súng ống, đạn dược cho quân đội ngoài mặt trận không làm được đầy đủ, chu đáo, binh sĩ bị hãm vào vòng thiếu thốn, sẽ mất hết tinh thần tác chiến. Trái lại, họ sẽ phấn khởi, họ sẽ hǎng hái khi được cấp dưỡng no đủ.

Nhưng quân nhu và lương thực nếu trông cả vào món chiến phí mà dân chúng phải chịu, sẽ làm cho họ gánh vác nặng nề, không thể kham nổi. Nên người làm tướng giỏi bao giờ cũng tìm cách cướp quân nhu, lương thực của bên địch làm của mình. Vì vậy Tôn Tử đã nói:

“Việc tải lương thực ra ngoài mặt trận chỉ hạn cho hai lần chứ không được đến ba lần. Phải lấy lương thực ở ngay nước địch mới tránh được nạn thiếu thốn cho quân đội mình”.

Tôn Tử nói không nên tải lương đến ba lần là vì, về đời Xuân Thu, khi quân đội đi đánh trận, dân chúng tải lương ra ngoài biên giới cho họ; đến khi họ thắng trận trở về, dân chúng lại tải lương đi đón mừng. Thế là chỉ có hai lần tải lương: lần đi, lần về, chứ không có đến ba lần. Là vì khi đã tiến ra mặt trận, không cần lương thực ở hậu phương tải đến nữa, mà phải tìm cách cướp của bên địch. Đó cũng là một chiến thuật tác chiến của Tôn Tử. Không tải lương

đến ba lần, phải cướp lương của địch là có ý tiết kiệm lương thực của nước mình mà làm hao tổn lương thực của nước địch.

Hơn nữa, vận tải lương thực lại là việc rất nhiêu khê, nếu mặt trận ở xa và đường lối giao thông không được tiện lợi. Cướp được lương của quân địch, tránh được nhiều phí tổn về vận tải, nên Tôn Tử lại nói:

“Đem quân đi đánh trận xa, nếu không cướp được lương của địch, mà phải chở lương thực của mình ra chiến trường để phải phí tổn nhiều, làm cho nền tài chính quốc gia kiệt quệ và dân chúng khổ sở khó nhọc về những thuế má nặng nề và vận tải vất vả, thật không có lợi cho kế hoạch tác chiến”.

Lại khi chiến tranh đã bùng ra, bao nhiêu tài nguyên trong nước đều bị tiêu dùng vào chiến tranh và thêm cái nguy phong toả về kinh tế nên nhất nhất vật gì cũng đắt đỏ. Vì vậy Tôn Tử khuyên:

“Khi đã đem quân sang nước địch rồi, phải cướp lương của địch làm của mình. Nếu không thế, mình phải mua đắt. Về quân nhu, lương thực, dù đắt đến đâu cũng phải mua. Nhưng mua tất phải dùng đến tiền của quốc gia. Muốn cung cấp tiền mua, chính phủ đã đánh thuế lại phải đánh thuế nữa, làm cho dân chúng vì gánh vác quá nặng nề không thể kham nổi. Lúc đó, chính phủ không còn có cách gì khác là dùng đến phương pháp trưng thu lương thực, lừa ngựa.

“Dân chúng vì phải đóng thuế, vì phải vận tải lương thực mà lực cùng sức kiệt, hao tài tốn của, đến nỗi nhà nào nhà ấy sạch không.

“Rồi lại còn tiền chi phí về việc sửa chữa vũ khí, xe cộ, thay đổi lừa ngựa.

“Cho nên, tướng giỏi phải tìm hết mưu kế để cướp lấy lương thực của quân địch vì lấy được một đấu gạo của quân địch có thể bớt đi được 20 đấu cho phu ǎn về việc vận tải. Như thế đỡ phí tổn và hao hụt rất nhiều.

“Vậy muốn cho binh sĩ giết được địch quân, trước hết phải khiêu khích quân địch nổi giận rồi hǎng tiết đánh liều, cũng như muốn cho binh sĩ lượm được thắng lợi như chiếm thành trì, cướp lương thực, quân nhu, phải hậu thưởng cho binh sĩ để họ sẽ gắng công”.

Q. Th. thuật

Báo Cứu quốc, số 272, ngày 21-6-1946
cpv.org.vn

Lục quân ngày nay với các thứ binh khí

Đặc điểm của chiến tranh ngày nay là đánh thật nhanh để kết thúc những trận đánh trong một thời gian ngắn. Thứ binh khí thích hợp nhất cho lối đánh này là phi cơ, nên các nước đều hết sức khuếch trương không quân. Nhưng chỉ nhờ ở phi cơ đi ném bom hay dùng đại bác bắn phá không thể chiếm được thắng lợi trên mặt trận mà cần phải chú trọng đến lục quân. Dù đánh chớp nhoáng, dù đánh lâu dài, dù giữ thế công hay thế thủ, bao giờ cũng cần đến lục quân. Vì vậy, về quốc phòng, không thể không tổ chức lục quân được. Trong lục quân, người ta thường chia ra bộ binh, kỵ binh, pháo binh, công binh, chí trọng binh. Mỗi thứ binh ngũ ấy đều có binh khí riêng.

1. Bộ binh – Bộ binh ngoài súng trường, lưỡi lê, còn có súng máy hạng nhẹ, súng máy hạng nặng, súng bắn tạc đạn, đại bác bắn thẳng và đường queo, các máy thông tin, các tài liệu phòng hơi độc và hơi ngạt. Trước kia bộ binh thường áp dụng lối đánh tập đoàn hành động. Nhưng lối này đã bỏ từ lâu mà áp dụng lối đánh độc lập hành động để cho cá nhân được phép tuỳ cơ ứng biến. Lối đánh đã thay đổi, nên binh khí cũng tuỳ theo mà thay đổi. Người ta chia binh lực ra nhiều bộ đội nhỏ, trong đó mỗi binh sĩ đều có quyền sử dụng binh khí của mình, nên súng máy và súng bắn lựu đạn rất thích hợp cho những bộ đội độc lập tác chiến.

Trong bộ binh lại tổ chức thêm một bộ đội đặc biệt chuyên cầm máy xe tǎng, mạo hiểm xông vào tiến công bộ đội nào của bên địch không được địa hình tốt che chở.

Vì thế bộ binh ngày nay có thể vừa là kỵ binh, vừa là pháo binh được.

2. Kỵ binh – Kỵ binh xuất trận, lúc cần phải xung phong. Nhưng tự khi hoả khí phát triển, uy lực của kỵ binh đã giảm đi nhiều. Ngày nay, người ta chỉ lợi dụng sức hoạt động thần tốc của kỵ binh và uy lực của súng kỵ mã trong những trận đánh giáp lá cà.

Kỵ binh, ngoài súng trường, còn đem theo súng máy hạng nhẹ, súng máy hạng nặng và cả súng đại bác nữa. Để phòng ngự có hiệu quả, khi bên địch bắn dữ người ta đặt bên cạnh kỵ binh đoàn xe máy có lắp súng đại bác, và xe ô tô vận tải. Vì thế, kỵ binh cũng có thể độc lập chiến đấu được.

3. Pháo binh – Binh khí càng tiến bộ, chiến thuật càng đổi mới. Binh khí và chiến thuật bao giờ cũng đi đôi với nhau như hình với bóng. Từ sau cuộc Âu chiến, trước đến nay người ta đã phát minh ra rất nhiều các thứ súng đại bác, lòng rộng, bắn xa. Nào sơn pháo, dã pháo, nào bích kích pháo, cao xạ pháo, trọng pháo, không thiếu một thứ gì để tǎng gia uy lực của pháo binh.

Lại trên mặt trận phương pháp che giấu, phương pháp giả trang đã được nghiên cứu rất tinh xảo làm cho quân địch khó lòng mà tìm thấy đích để bắn. Vì thế trong pháo binh phải đặt thêm đội quan trắc chuyên xem xét mặt trận bên địch bằng những khí cụ rất tinh xảo như máy đo đạc, máy thu âm, máy tìm âm thanh phát ra từ đâu, đèn chiếu trên không, máy bay vô tuyến điện, máy chụp hình, v.v..

Trên mặt trận người ta còn thả hơi độc, hơi ngạt, nên thường lợi dụng đại bác để bắn những quả hơi sang mặt trận bên địch. Do đó trách nhiệm của pháo binh rất nặng nề.

4. Công binh – Nói đến công binh, có người cho là những người lính vác cuốc xẻng đi đào hào, đắp ụ, bắc cầu, xây cống. Đó là những công binh về thời trước. Còn công binh ngày nay phải hiểu biết những kỹ thuật về chiến tranh, phải là những đội quân cơ giới hoá biết dùng máy móc chạy bằng điện để kiến thiết trận địa, đào đường hầm, phá huỷ những chướng ngại vật trên cạn, dưới nước. Ngoài ra, công binh còn phải bắc dây điện tín, điện thoại, đặt máy vô tuyến điện, đặt đường sắt, bắc cầu qua sông, v.v..

Trong thời đại chiến tranh khoa học, nhất là từ khi phát minh ra nhiều binh khí chuyển vận bằng điện, công binh đã đóng vai tuồng quan trọng trong lục quân.

5. Chí trọng binh – Trước kia, chí trọng binh thường ở mặt sau quân đội, dùng lừa ngựa, xe cộ để vận tải lương thực, súng đạn và đi thành đội dài. Nhưng ngày nay, binh khí luôn luôn hoạt động trên mặt trận vừa xa, vừa rộng, vừa dài, nên việc vận tải binh khí, quân nhu, lương thực tiếp tế cho quân đội rất là vất vả, khó khǎn. Vì thế, chí trọng binh không thể đi đằng sau bộ đội như lúc hành quân mà phải tiến ra hoạt động tận phòng tuyến thứ nhất mới có thể cung cấp đầy đủ cho bộ đội về mọi phương tiện.

Q.Th.

Báo Cứu quốc, số 344, ngày 13-9-1946.
cpv.org.vn

Hình thức chiến tranh ngày nay

Chiến tranh ngày nay phức tạp vô cùng. Trước kia chỉ có quân đội đánh nhau ở tiền tuyến và trên mặt đất hay trên mặt nước, nên người ta gọi là bình diện chiến tranh. Ngày nay đánh nhau ở cả trên không và cả ở tiền tuyến cũng như ở hậu phương, nên người ta gọi là lập thể chiến tranh. Trước kia chỉ đánh nhau về một mặt quân sự, nhưng ngày nay đánh nhau về đủ mọi mặt quân sự, kinh tế, chính trị, tư tưởng nên người ta gọi là toàn diện chiến tranh.

I- VỀ QUÂN SỰ:

1. Đánh nhau trên mặt đất:

a- Dã chiến.- Hai bên đánh nhau ở ngoài mặt trận bằng súng ống, xe tǎng, đại bác.

b- Hoá học chiến. – Dùng súng bắn hay tàu bay thả các thứ hơi ngạt và hơi độc.

c- Gián điệp chiến.- Ngoài mặt trận phái gián điệp lẩn sang bên địch tuyên truyền hay dò xét tình hình.

d- Phá hoại các cơ quan trọng yếu của bên địch.

2. Đánh nhau trên mặt bể:

a- Hạm đội hai bên đánh nhau.

b- Dùng tàu chiến phong toả địch.

c- Cắt đứt đường giao thông của bên địch và tìm cách che chở đường giao thông của bên mình.

d- Phá hoại các cǎn cứ hải quân.

3. Đánh nhau trên không:

a- Phi cơ hai bên chiến đấu ở trên không.

b- Phái phi cơ đi ném bom những nơi quan trọng của bên địch.

c- Cho tàu bay đi dò xét tình hình các mặt trận và rải truyền đơn tuyên truyền.

d- Bay lên trên không để phòng vệ những nơi quan trọng dưới mặt đất.

II. VỀ KINH TẾ

1- Đảo loạn hay phá hoại kinh tế của bên địch.

2- Đối với bên địch, thi hành chính sách phong toả làm cho chúng bị cô lập về kinh tế, không thể mua bán với các nước ngoài.

3- Tìm mọi cách ngǎn cản bên địch không thể trù liệu được tiền tài hay phẩm vật để sung vào chiến phí.

4- Tổng động viên để có thể thu được hoặc giữ lấy tất cả các nguồn lợi.

5- Dùng mọi phương pháp để trù liệu chiến phí.

6- Thi hành mọi phương sách làm cho nhân dân được sống yên ổn, no đủ trong lúc có chiến tranh.

III- VỀ CHÍNH TRỊ, TỨC LÀ VỀ NGOẠI GIAO, NỘI CHÍNH VÀ TUYÊN TRUYỀN:

1- Nêu cao chính nghĩa và kêu gọi dư luận tán đồng lập trường của mình.

2- Đề phòng nước thứ ba đi về phe với địch.

3- Trên trường quốc tế, làm thế nào cho nước mình không bị cô lập mà vẫn giữ được địa vị ưu thắng.

4- Dùng mọi mánh khoé ngoại giao để chiếm được thắng lợi.

IV- TƯ TƯỞNG CHIẾN TRANH (1) TỨC LÀ GIÁN ĐIỆP CHIẾN HAY CÂN NÃO CHIẾN:

1- Dò xét tình hình bên địch về mặt chính trị, kinh tế, quân sự.

2- Xúi giục những phần tử bất bình hoặc những dân tộc khác ở nước địch nổi dậy phản kháng hay gây chuyện.

3- Ngǎn cản công cuộc tổng động viên của bên địch.

4- Phá hoại máy nước, máy đèn, dây điện, các đường giao thông.

5- Gây những cuộc bãi công của thợ thuyền hay cuộc bạo động của nông dân.

6- ám sát những người quan trọng của bên địch, ngầm mưu cuộc đảo chính để đánh đổ chính phủ.

7- Phao những tin tức hay những chuyện làm cho địch và dân bên địch bối rối, hoang mang, mất nhuệ khí, không còn tin tưởng về thắng lợi cuối cùng nữa.

8- Làm cho bên địch tê liệt không còn đủ sức gây chiến.

9- Đưa ngoại giao của bên địch đến chỗ bế tắc.

10- Gây nội chiến và phong trào cách mạng ở nước địch.

Nói tóm lại, chiến tranh ngày nay phức tạp và hết sức khó khǎn. Không dùng toàn lực của nhân dân về đủ mọi mặt để ứng phó, không thể nào thắng lợi được.

Q.Th.

Báo Cứu quốc,
số 351, ngày 20-9-1946
cpv.org.vn

——————————-

1. Tuyên ngôn Độc lập: Ngày 2-9-1945, tại Vườn hoa Ba Đình (Hà Nội), thay mặt Chính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên ngôn Độc lập do Người khởi thảo, tuyên bố trước đồng bào cả nước và nhân dân thế giới việc thủ tiêu chế độ thực dân phong kiến ở Việt Nam và thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Trong vǎn kiện lịch sử này, sau khi tố cáo những tội ác tầy trời của bọn thực dân và phong kiến tay sai trong gần một thế kỷ qua, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định những quyền dân tộc cơ bản của dân tộc Việt Nam và trịnh trọng tuyên bố với thế giới: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”. Kết tinh truyền thống lịch sử kiên cường bất khuất của dân tộc ta, Tuyên ngôn Độc lập là tác phẩm bất hủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, là bản anh hùng ca mở đầu một kỷ nguyên mới của dân tộc – Kỷ nguyên độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội. Tr.1.

 

 

 

Binh pháp Tôn Tử – Bàn về kế hư thực

Muốn chiến đấu thắng lợi, bao giờ cũng phải chiếm địa vị chủ động. Xem xét nơi nào quân địch có thực lực mạnh để tránh và nơi nào quân địch yếu để tiến công, như thế là xem xét tình hình hư thực của bên địch. Biết rõ được thế hư thực của địch, mới có thể bày được mưu kế tiến thoái. Lúc nên tiến sẽ tiến, lúc nên thoái sẽ thoái là giữ được địa vị chủ động. Vậy kế hư thực là một kế rất thần diệu trong tất cả các binh pháp. Theo Tôn Tử, muốn thực hành kế hư thực, phải theo mấy nguyên tắc sau đây:

1) Tiến ra mặt trận trước quân địch để chiếm lấy những địa điểm quan trọng về chiến lược. Có như thế mới chuẩn bị được hoàn thiện, chỉ đợi quân địch tiến đến là đánh, không hốt hoảng, không hấp tấp, không nhọc mệt mấy mà thu công được nhiều. Chiếm lấy thế lợi, đợi quân địch tự dẫn mình lại làm mồi cho súng đạn, chứ không chịu hãm vào địa vị bị động để quân địch giầy xéo, đó là mưu trí của các bậc tướng giỏi.

2) Dử quân địch đến chỗ mình định đánh. – Làm cho quân địch tưởng lầm chỗ mình định đánh rồi kéo quân đến, nghĩa là làm cho quân địch tưởng hư là thực, hoặc làm cho quân địch thấy địa điểm mình đóng quân rất kiên cố, không dám tiến quân đến, sợ bị hại, nghĩa là làm cho quân địch tưởng thực là hư.

3) Khi quân địch đã chiếm được địa thế có lợi rồi và đã chuẩn bị sẵn sàng để chiến đấu thì phải lợi dụng mọi phương pháp làm cho quân địch đuổi đánh mải miết đến nỗi quân hao, lực kiệt.

4) Thấy lương thực của quân địch sung túc, phải dùng thủ đoạn cắt đứt đường vận tải hoặc đốt huỷ kho tàng, khiến địch quân bị hãm vào cảnh đói rét, mất nhuệ khí chiến đấu.

5) Quân địch đương ở yên, mình tìm cách quấy rối hoặc đánh úp.

6) Quân địch dự đoán ta sẽ đánh mặt nào, tất nhiên đem quân phòng bị, vậy ta phải phái một tiểu độ 1 ra mặt đó để tỏ cho địch biết ta định đánh thật, rồi sẽ phái đại đội 2 tiến đánh vào mặt nào mà quân địch không phòng ngự.

7) Trong lúc địch đương mạnh, hành quân phải hết sức khéo, tuy đi đường xa mà không cảm thấy nhọc mệt, nguy hiểm như đi vào những chỗ không có bóng quân địch hoặc quân địch không đủ sức chống cự.

8) Đã tiến đánh nơi nào là có thể giữ ngay được nơi ấy, nghĩa là phải đánh vào chỗ địch không phòng giữ hoặc sự phòng giữ rất yếu ớt.

9) Đứng vào thế thủ, thời phải giữ thật chắc, nghĩa là giữ nơi nào địch không tiến đánh được hoặc tiến đánh mà không sao chiếm nổi, như vừa đánh vừa giữ, hoặc tìm cách lừa quân địch để mà giữ hoặc đánh nhau ở xa nơi phòng ngự.

Trên những trận địa chiến ngày nay, người ta đã áp dụng phép công thủ của Tôn Tử rất được công hiệu. Muốn đánh chiếm những nơi có nhiều pháo đài kiên cố, trước hết dùng nhiều súng đại bác hoặc phái nhiều phi cơ để bắn phá thật dữ dội làm huỷ hoại những kiến trúc về quân sự; sau đó sẽ phái xe tǎng che chở cho bộ binh tiến lên và đồng thời vẫn bắn phá, vẫn ném bom để ngǎn trở quân địch không thể đưa viện binh đến được. Như thế, đã định đánh nơi nào là có thể chiếm được. Lại muốn giữ vững một nơi nào, phải xây dựng những cơ quan phòng ngự thật kiên cố, nhất là phải dự bị một số lớn phi cơ, và đại bác để chống với phi cơ và đại bác của bên địch.

Nói tóm lại, kế hư thực của Tôn Tử rất mầu nhiệm. Muốn đánh được thắng lợi, hành động phải bí mật, đừng để cho quân địch biết mà đề phòng. Trái lại, muốn phòng giữ chắc chắn đừng nên để lộ cơ mưu, hư thực của mình, khiến cho quân địch không biết đánh vào nơi nào, đừng nơi nào. Thi hành đúng kế hư, thực, thắng lợi sẽ cầm chắc trong tay.

Q.Th.

Báo Cứu quốc, số 358, ngày 27-9-1946.
cpv.org.vn

 

 

 

Binh pháp Tôn Tử – Phương pháp đánh giữ và tiến thoái

Phương pháp dụng binh là phương pháp thiên biến vạn hoá. Tuỳ theo thời cơ, theo địa điểm, theo tình hình bên địch, người làm tướng lúc bày thế trận này, lúc bày thế trận khác. Mỗi lần chiến đấu lại có một thế trận riêng. Tôn Tử đã ví tính chất của mỗi thế trận như tính chất của nước. Nước lúc nào cũng chảy xuống chỗ trũng chứ không thể chảy ngược lên cao được. Dụng binh bao giờ cũng đánh chỗ yếu mà tránh chỗ mạnh của quân địch. Như vậy, cần phải biết rõ tình hình hư thực của quân địch. Để biết tình hình ấy, Tôn Tử có bày ra bốn phương pháp sau đây:

1) Dò xét hành động của bên địch để có thể đoán trước được thế lợi hại, thế hơn thua của mình đối với địch.

2) Khi sắp tiến gần quân địch, phải trinh sát những mưu chước đối phó của chúng.

3) Dò xét cẩn thận địa hình để phân biệt nơi nào tiến quân đến sẽ có lợi, nơi nào mình xông vào sẽ bị bại.

4) Muốn chắc chắn hơn nữa, nên cùng với quân địch giao tranh những trận nhỏ để thử sức của đôi bên.

Ngoài những phương pháp trên, Tôn Tử khuyên nên dò xét để biết trước ngày nào quân địch sẽ tiến đánh và sẽ đánh vào nơi nào. Biết trước được như vậy, mình mới có thể chuẩn bị sẵn sàng và đầy đủ được. Như biết trước quân địch thế nào cũng phải tiến qua đường hẻm, mình sẽ phái quân đi mai phục, đợi địch tiến đến, sẽ đổ lên đánh úp.

Biết rõ được hư thực của bên địch, mới có thể quyết định được nên đánh hay nên giữ, nên tiến hay nên thoái.

Theo phương pháp tiến thoái của Tôn Tử thì đã tiến phải tiến vào nơi nào quân địch không thể chống cự nổi, nghĩa là nơi nào chúng không phòng bị, hoặc có phòng bị nhưng sơ sài, không có thực lực gì.

Nhất là càng đánh bất ngờ được chừng nào, càng thu được nhiều thắng lợi chừng nấy. Biết lợi dụng lúc quân địch có nhiều nhược điểm mà tiến đánh, chẳng những đánh bại được chúng mà còn bảo toàn được thực lực của mình. Khi dùng chiến lược bao vây, cũng phải đánh vào một nơi nào làm cho quân địch phải rút quân chống đỡ mặt này thì mặt khác bỏ hở lại bị mình tấn công thêm. Đồng thời, vòng vây mỗi lúc càng thắt chặt lại, dù quân địch muốn rút lui cũng không thể được.

Lại khi ta muốn đánh nơi nào của quân địch, nhưng chúng cứ cố thủ không chịu đánh, ta phải phái quân tiến đánh nơi xung yếu khác của chúng. Và khi ta không muốn cùng với quân địch giao chiến mà chỉ muốn giữ thế thủ, ta phải bố trí nơi ta định giữ một cách khôn khéo, làm cho chúng tưởng như một nơi nguy hiểm, không dám tiến vào sợ bị mắc bẫy, như kế “không thành” – thành bỏ không nhưng vẫn làm ra dạng giữ gìn nghiêm mật – của Gia Cát dùng để đối phó với Tư Mã ý . Đó là kế hoạch làm cho địch tưởng hư là thực.

Dùng những nơi phòng ngự giả dối như thế, địch không biết đâu mà phán đoán, sẽ chia sẻ lực lượng đi nhiều nơi khác, trong khi mình tập trung lực lượng lại để tiến công chúng ở một nơi xung yếu nhất.

Nhất là không để cho quân địch biết nơi mình định đánh. Chúng phải chia quân đi đề phòng mọi chỗ. Do đó, lực lượng của chúng bị chia sẻ không thể địch nổi với quân mình nhiều hơn.

Còn chiến lược rút lui là chiến lược bất đắc dĩ. Nhưng khi binh sĩ đã tin tưởng ở người chỉ huy thì rút lui cũng không hại gì đến tinh thần chiến đấu.

Khi định kế hoạch rút lui, phải bí mật dự bị, phải rút lui nhanh chóng và có trật tự. Không nên mang theo nhiều lừa, ngựa, xe cộ và những vật cồng kềnh. Nhưng thế nào cũng phải phái một bộ đội nhỏ cầm cự với quân địch đuổi theo để đại đội kịp thời giờ rút lui.

Ngày nay, khi rút lui, người ta có tàu bay trên không hộ vệ, có xe tǎng, xe thiết giáp chống đỡ. Lúc bị đuổi gấp, người ta sẽ đặt chướng ngại vật hoặc phá đường sá, cầu cống sau khi đã qua rồi, để ngǎn cản quân địch không thể tiến nhanh được. Người ta còn hiệu triệu dân chúng thực hành kế hoạch vườn không nhà trống, hoặc chính sách tiêu thổ.

Nói tóm lại, muốn được thắng trận, phương pháp đánh giữ và tiến thoái phải luôn luôn biến đổi hợp với thời cơ, hợp với tình hình trên mặt trận. Nhanh như chớp, biến hóa như thần, đó là bí quyết của phép dụng binh.

Q.Th. thuật

Báo Cứu quốc, số 365,
ngày 4-10-1946.
cpv.org.vn

 

 

 

Chiến tranh tư tưởng

Như chúng ta đã thấy, chiến tranh ngày nay không riêng gì về mặt quân sự, mà cả về chính trị, kinh tế, vǎn hoá nữa. Chiến tranh về mặt vǎn hoá hay tư tưởng so với những mặt khác cũng không kém quan trọng. Mục đích của nó là làm ly gián quân địch, làm nhụt chí chiến đấu của bên địch.

Theo Tôn Tử, muốn đạt mục đích ấy phải thi hành những thủ đoạn sau đây ở trên mặt trận:

1- Tìm cách chia rẽ quân địch ở mặt trước và ở mặt sau, khiến cho chúng không thể liên lạc được với nhau, rồi tiến quân uy hiếp tả dực hay hữu dực của chúng.

2- Làm cho quân chủ lực và các bộ đội lẻ tẻ khác của địch không cùng nhau hợp sức chống giữ với quân mình được.

3- Phái gián điệp phao ngôn khiến tinh thần của tướng sĩ bên địch hoang mang.

4- Làm cho quân địch nghi kỵ nhau, trên không chỉ huy được dưới, dưới không chịu nghe lệnh trên.

5- Gieo sự chán ghét chiến tranh trong quân địch, khiến binh sĩ của chúng không chịu tập trung để ra chiến trường.

6- Làm cho bộ đội của địch đã bị thua chạy không muốn trở lại bộ đội cũ mà chỉ tìm đường trốn thoát.

Nói tóm lại, phải vận dụng phương pháp tuyên truyền cho địch quân trước sau không đồng lòng, trên dưới không bảo được nhau, không muốn tập trung, không cứu giúp nhau trong khi nguy hiểm.

Ngày nay về quân sự, người ta coi phương pháp tuyên truyền là một lợi khí sắc bén nhất. Về tính chất có hai cách tuyên truyền: Tuyên truyền để tấn công, tuyên truyền để phòng ngự. Về đối tượng, người ta chú trọng tuyên truyền nước địch, nước trung lập và dân chúng nước mình.

1/ Đối với nước địch, phải tuyên truyền cho dân chúng hoang mang, rối loạn, mất hẳn nhuệ khí, không tin tưởng ở sự thắng trận. Ngoài ra lại tìm hết cách khiêu khích quân địch, hoặc xúi giục dân chúng nổi lên bạo động để phá hoại những tổ chức kinh tế, quân sự, chính trị, vǎn hoá của chúng.

2/ Đối với những nước trung lập, làm cho họ có thiện cảm với mình mà ác cảm với nước địch để nếu họ không về phe với mình đánh lại quân địch thì ít ra họ cũng đứng trung lập.

3/ Đối với dân chúng nước mình, làm cho họ nổi lòng cǎm hờn quân địch, quyết tâm chiến đấu, tin tưởng ở thắng lợi và trên dưới một lòng thề không đội giời chung với quân địch.

Đối với địch, tuyên truyền thành công, có thể không phải đánh mà khuất phục được họ. Trong trận Âu chiến, dân chúng Đức bị tuyên truyền rất mãnh liệt. Mỗi ngày, các nước Hiệp ước cho rải 20 vạn truyền đơn trên mặt trận. Đồng thời, nước Mỹ lại đưa ra khẩu hiệu: “Dân tộc tự quyết” làm cho các nước trung lập kéo về phe Hiệp ước quốc rất đông. Gần đây, Hồng quân Nga ngoài việc tuyên truyền lại còn chú trọng đến việc phiến động 1 nữa, vì tuyên truyền chỉ có mục đích làm cho một số ít người hiểu rõ rệt một tư tưởng gì, còn phiến động là để kêu gọi và thúc đẩy đại đa số dân chúng.

Muốn phiến động dân chúng phải chú trọng mấy điểm sau đây:

1/ Phải lợi dụng những điểm khác nhau giữa quân ta và quân địch.

2/ Chú ý đến đời sống thực tế của quân địch.

3/ Rải truyền đơn viết bằng chữ của nước địch, nhưng không nên rải vào lúc hai bên đương đánh nhau, bom đạn đương nổ, vì như vậy chỉ mua ác cảm với dân chúng mà thôi.

4/ Gửi thư cho binh sĩ bên địch. Trong thư, gửi kèm cả những dụng phẩm hàng ngày nữa hoặc dùng phi cơ, ném xuống mặt trận bên địch, diêm thuốc, hay giấy bút.

5/ Ném xuống cho binh sĩ bên địch những giấy chứng minh hay giấy thông hành. Họ nhặt được, họ sẽ nảy ra ý bỏ mặt trận để đi nơi khác.

6/ Điều tra những sự bất bình giữa các tướng sĩ bên địch rồi lợi dụng những điểm bất bình ấy để ly gián họ.

7/ Dò xét số binh lính bên địch đảo ngũ hay vẩn vơ ở hậu phương có nhiều hay ít rồi tìm cách dẫn dụ họ.

8/ Lợi dụng ngay những dân chúng ở gần mặt trận để làm việc tuyên truyền và phiến động.

9/ Nếu ở hậu phương của địch, thấy có nhiều phần tử bất bình với chính phủ nước họ, phải cấp tiền và vũ khí cho họ, rồi xúi giục họ nổi loạn chống chính phủ.

Nói tóm lại, về quân sự, không từ một thủ đoạn nào là không làm miễn có lợi cho mình là được.

Q.Th.

Báo Cứu quốc, số 372,
ngày 11-10-1946.
cpv.org.vn

Bàn về địa hình

Về quân sự đành rằng phải có binh mạnh, tướng giỏi, nhưng không nghiên cứu địa hình một cách tường tận, không thể xuất trận thành công được. Trên mặt trận, biết lợi dụng địa hình, đánh trận không hao tổn công sức mà được thắng lợi dễ dàng. Một đống cao, một hố sâu, một bụi rậm đối với người thường chỉ là cái đống, cái hố, cái bụi thôi, nhưng về quân sự lại có một giá trị đặc biệt. Có khi nhờ bụi rậm, nhờ hố sâu mà thoát được nguy hiểm và thắng được quân địch. Có khi vì không biết lợi dụng địa hình mà bị bại một cách thê thảm.

Nhưng địa hình hết sức phức tạp. Phải tuỳ địa thế và tính chất từng nơi để bày binh bố trận. Đại để theo Tôn Tử, có thể chia ra mấy địa hình quan trọng sau đây:

1- Địa hình bằng phẳng có thể thông đi bốn ngả được.

Đối với địa hình này, phải tiến quân đến chiếm trước quân địch một nơi nào cao nhất và quay mặt về phía đông nam. Sau đó phải đề phòng cẩn thận mặt sau là đường tiếp tế lương thực và chú ý quân địch tiến đến đánh chung quanh nhất là mặt sau và hai bên sườn.

2- Địa hình tiến đánh dễ hơn là rút lui.

Đó là một trận địa mặt trước thấp, mặt sau cao như quân ta đóng ở sườn núi mà quân địch đóng ở trước mặt ta. Trong trường hợp này, nếu thấy quân địch không phòng bị, phải lập tức thu quân đánh gấp để cướp lấy thắng lợi. Nhưng khi đã thấy quân địch có phòng bị rồi nếu cứ tiến đánh chẳng những không thể thắng được, mà lúc rút lui lại khó khǎn, kết quả làm cho quân ta bị hãm vào vòng nguy khốn.

3- Địa hình không lợi cho quân ta và quân địch tiến công.

Địa hình này có thể bị quân ta hay quân địch lợi dụng để củng cố trận địa, như giữa hai trận địa có xen lẫn hồ ao, sông ngòi. Trong lúc này nếu quân địch lấy lợi dụ ta, ta không nên xuất chiến dễ mắc mưu của chúng. Ta phải dẫn quân đi mặt khác để dụ quân địch xuất trận, đợi khi chúng đi được nửa đường, ta quay lại phản công thì rất có lợi.

4- Địa hình hẻo lánh, nhỏ hẹp.

Ví dụ ở vào chỗ đường hẻm, ta phải tiến đến trước quân địch để ngǎn lối vào, đợi địch kéo vào, ta sẽ trừ diệt. Nhưng nếu thấy địch đã phái đại quân đến chiếm đóng rồi, ta phải dè chừng, kẻo mắc mưu quân địch, trừ khi nào chúng phòng bị không chu đáo mới sẽ thừa cơ tiến đánh.

5- Địa hình hiểm trở.

Đó là địa hình có nhiều núi non, hiểm trở. Đối với địa hình này, ta phải tiến đến trước quân địch để chiếm nơi nào cao nhất về phía nam cho tiện việc trông rộng và bắn xa. Nếu thấy quân địch đã chiếm mất nơi đó rồi, ta phải dẫn dụ chúng đánh về ngả khác, chứ không nên đánh thẳng, vỗ mặt nghĩa là phải theo chiến thuật đánh quanh co mới có lợi.

6- Địa hình đối lập và cách nhau rất xa.

Đó là hai trận địa ở cách xa nhau bởi một vùng rộng lớn như Mỹ với Nhật cách nhau bởi Thái Bình Dương, Nhật với Nga cách nhau bởi Tây Bá Lợi á (1) . Trong trường hợp này nếu hai bên đều có binh lực ngang nhau, bên nào mạo hiểm đem quân tự xa đến đánh là bên ấy bị đứng vào địa vị bất lợi.

Sáu thứ địa hình trên đây là những địa hình thiên nhiên thường gặp trên các mặt trận nên các nhà quân sự cần phải nghiên cứu kỹ càng.

Gặp địa hình nào phải tuỳ cơ ứng biến để có thể lợi dụng một cách có hiệu quả trong cuộc chiến đấu với quân địch.

Q.T.

Báo Cứu quốc, số 386,
ngày 25-10-1946.
cpv.org.vn

—————————

1. Tuyên ngôn Độc lập: Ngày 2-9-1945, tại Vườn hoa Ba Đình (Hà Nội), thay mặt Chính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên ngôn Độc lập do Người khởi thảo, tuyên bố trước đồng bào cả nước và nhân dân thế giới việc thủ tiêu chế độ thực dân phong kiến ở Việt Nam và thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Trong vǎn kiện lịch sử này, sau khi tố cáo những tội ác tầy trời của bọn thực dân và phong kiến tay sai trong gần một thế kỷ qua, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định những quyền dân tộc cơ bản của dân tộc Việt Nam và trịnh trọng tuyên bố với thế giới: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”. Kết tinh truyền thống lịch sử kiên cường bất khuất của dân tộc ta, Tuyên ngôn Độc lập là tác phẩm bất hủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, là bản anh hùng ca mở đầu một kỷ nguyên mới của dân tộc – Kỷ nguyên độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội. Tr.1.

 

 

 

Địa thế

Ở vào mỗi địa thế, phương pháp dụng binh mỗi khác. Nếu không tuỳ từng địa thế để thay đổi phương pháp, đánh trận không thể thắng được. Có khi hãm vào chỗ đất chết mà được sống, có khi vào chỗ đất sống hẳn hoi mà bị chết. Cho nên ra trận, phải biết phân biệt địa thế. Có phân biệt được địa thế mới biết áp dụng phương pháp đánh trận một cách có hiệu quả. Theo Tôn Tử, về quân sự có 9 thứ địa thế và gặp mỗi địa thế phải ứng dụng phương pháp đánh trận thích hợp với địa thế ấy mới có lợi.

1- Khi địch đã xâm nhập vào nước mình nghĩa là khi cùng với quân địch giao chiến ngay trên đất nước mình thì phải dùng phương pháp cố thủ và đồng thời dùng kế vườn không nhà trống, làm cho địch dù có chiếm được thành trì, đất đai cũng bằng vô dụng, ngoài ra còn phải làm rối loạn hậu phương của chúng, làm cho chúng mất liên lạc và bị hãm vào thế cô lập. Khi Nã Phá Luân đem quân tiến sâu vào nước Nga bị thua liểng xiểng vì quân Nga đã thực hành kế vườn không nhà trống.

2- Khi tiến quân vào nước địch, quân sĩ chưa có quyết tâm đánh trận vì lòng nhớ quê hương còn nặng, sự lo ngại còn nhiều nên chỉ nghĩ đến việc trốn tránh. Vậy lúc này không nên đóng quân lại mà phải tìm cách tiến sâu vào đất địch, làm cho binh sĩ phải cố kết và hết sức phấn đấu vì nếu không sẽ bị tiêu diệt.

3- Khi gặp một địa điểm nào quân mình hay quân địch chiếm được đều có lợi, nghĩa là hai bên cần phải tranh cướp nhau, thì lúc đó, mình phải đem hết binh lực để chiếm cho kỳ được. Nếu quân địch đã chiếm địa điểm ấy trước rồi, mình không nên cố đánh để cướp lại vì phải hao tổn nhiều. Vậy phải dùng bộ đội đánh vận động chiến, cùng với quân địch chiến đấu ngoài phạm vi đó, hoặc đánh ở một nơi trọng yếu khác của chúng, làm cho chúng phải đem quân đi cứu viện, mình sẽ thừa cơ mà cướp lấy. Như hồi Âu chiến trước, Đức gấp đem quân chiếm nước Bỉ, rồi dùng địa điểm đó làm cǎn cứ phái phi cơ sang đánh Luân Đôn. Do đó quân của Hiệp ước bị uy hiếp và bị hãm vào thế bất lợi.

4- Gặp địa thế nào tiện lợi cho việc giao thông đi lại của cả đôi bên, như biên giới của hai nước, không nên đem quân ngǎn đường cản lối của quân địch, trái lại phải tập trung binh lực đánh thật ráo riết mới có lợi. Chúng ta đã được mục kích rất nhiều trận kịch chiến giữa biên giới các nước như những trận kịch chiến ở biên giới Đức- Pháp từ trận chiến tranh 1870 đến trận đại chiến vừa rồi.

5- Đối với nước trung lập ở vào giữa ba nước – nước mình, nước địch và nước thứ ba nữa. Như nước Bỉ trong hồi Âu chiến, mình phải hết sức thân thiện hoặc kết thành đồng minh giúp phe mình chống phe địch. Trong khi hai nước giao chiến với nhau, nước trung lập ngả về phe nào, phe ấy thắng.

6- Khi đã vào sâu nước địch rồi, nhưng vì núi non cách trở, đường vận tải lương thực khó khǎn hay bị đoạn tuyệt, lúc đó phải đánh cướp lấy quân lương của địch làm quân lương của mình. Nếu thiếu lương, quân sĩ sẽ mất tinh thần chiến đấu và sẽ bị quân địch tiêu diệt dễ dàng.

7- Gặp nơi rừng núi, sông ngòi hiểm trở, dễ bị quân địch đánh úp bất ngờ, dù mình có binh lực lớn, không thể chống lại với quân địch, nên phải gấp qua những nơi đó, nhanh chừng nào hay chừng nấy.

8- Tiến vào chỗ đường hẻm quanh co, tiến thoái rất khó, phải xem hoàn cảnh, địa thế và tình hình của địch để quyết định chiến pháp, như đắp ụ, đào hố giả, làm cho địch tưởng mình có phòng ngự thật hoặc phái người sang trá hàng để thừa cơ thoát hiểm.

9- Bị hãm vào chỗ đất chết, như bị bao vây ngày càng chặt thêm, bao nhiêu đường lối đều bị nghẽn tắc, hoặc không còn có chỗ nào để thoát hiểm được, hoặc giáp chiến với địch mà hết cả lương thực, thì phải quyết liệt chiến đấu để phá phòng tuyến của địch một cách thật nhanh chóng, mới có hy vọng sống còn. Nếu trong lúc này do dự trù trừ sẽ bị tiêu diệt. Quân sĩ bị hãm vào chỗ nguy khốn, không đánh cũng chết, nên phải quyết tâm chiến đấu để thoát chết. Do đó, hãm vào đất chết mà được sống.

Q.T.

Báo Cứu quốc, số 399,
ngày 8-11-1946.
cpv.org.vn

Phương pháp chiến đấu và hành quân trên các địa hình

1- Vùng có nhiều núi non hiểm trở.

Khi phải đi qua những vùng núi, không nên vượt qua núi, phải theo đường thung lũng hay suối nước chảy mà tiến vì ở đấy mới dễ tìm lương thực cho binh sĩ và nước cỏ cho lừa ngựa. Đến nơi nào, thấy đường lối giao thông tiện lợi một chút, nên chiếm địa điểm nào cao nhất để lập trận địa. Nếu đã thấy quân địch chiếm trước địa điểm ấy rồi, không nên đánh vỗ mặt. Tốt hơn hết là phải áp dụng vận động chiến đánh lối quanh co, hay dụ địch rồi sẽ giao chiến. Nhưng ngày nay nhờ có tàu bay, đại bác, xe tǎng nên tiến đánh quân địch ở vùng núi non không khó khǎn như trước.

2- Vùng có nhiều sông ngòi.

Khi phải qua sông ngòi phải tiến quân thật nhanh, càng thoát xa được những sông ngòi cách trở ấy, càng có lợi. Gặp quân địch đương qua sông, không nên giao chiến trên mặt nước. Đợi chúng lên bờ được một nửa, sẽ tấn công làm cho chúng bị đứt làm hai đoạn, không thể liên lạc được với nhau. Nếu phải tác chiến với quân địch ở vùng có sông ngòi, không nên đóng quân trên dọc bờ sông ngòi, phải tìm nơi nào cao hơn chỗ quân địch đóng và ở vào thượng lưu sông và khi cần qua sông, phải nên theo xuôi dòng nước mà sang ngang.

Lúc qua sông, không nên chậm trễ, làm trở ngại cho bộ đội đằng sau và đồng thời không thể không sửa soạn đề phòng quân địch đến đánh úp được.

3- Vùng bùn lầy hay đầm ao.

Khi qua những vùng này, nên cấp tốc tiến quân không nên dừng lại, vì khí hậu ẩm thấp sẽ làm cho binh sĩ và lừa ngựa dễ sinh bệnh. Nếu bất đắc dĩ phải cùng với quân địch giao chiến, nên chiếm cứ những nơi nào có cây cối rậm rạp để làm thế dựa lưng.

4- Vùng đồng bằng.

Tiến quân trong vùng này nên chiếm cứ những nơi giao thông tiện lợi nhất. Lúc đóng quân phải chọn nơi nào bên phải có gò đống cao để tiện phòng ngự. Như vậy, chỉ phải đối phó với quân địch về mặt trái thôi. Lại còn phải chú ý đến cả chiều gió và ánh sáng mặt giời. Nếu quay về phía mặt giời sẽ bị loá mắt nên bắn khó trúng. Và thuận theo chiều gió thì không bị bụi mù làm trở ngại mọi hành động.

Tóm lại trong lúc tiến quân, cần phải tránh những địa điểm nguy hiểm sau đây:

a- Đường độc đạo lên dốc núi cao.

b- Thung lũng trũng, chung quanh có núi cao bao bọc.

c- Khu rừng núi quanh co tiến vào dễ nhưng ra khó.

d- Những nơi cây cối um tùm, gai góc rậm rạp tiến thoái không được tự do.

e- Những đồng lầy.

f- Những đường độc đạo.

Nếu gặp những địa điểm trên này, không nên đến gần, phải phái quân đi dò xét cẩn thận để xem có quân mai phục hay quân do thám của địch ẩn núp mà tránh xa ra. Bất đắc dĩ phải chiến đấu thì nên dụ địch đến gần đó rồi mình sẽ đưa chúng vào bẫy làm cho chúng không thể hành động gì được.

Q.T. thuật

Báo Cứu quốc, số 406,
ngày 15-11-1946.
cpv.org.vn