Thư viện

Công an nhân dân với chiến thắng “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không”

(Chinhphu.vn) – Nhân dịp kỷ niệm 40 năm chiến thắng “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không”, Cổng TTĐT Chính phủ trân trọng giới thiệu bài viết: “Lực lượng Công an nhân dân góp phần xứng đáng vào chiến thắng Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không” của Thượng tướng Trần Đại Quang,  Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Công an. Bài viết nêu  bật những đóng góp to lớn của lực lượng Công an nhân dân trong những ngày lịch sử ấy.

Đúng vào những ngày này cách đây 40 năm, từ 18-29/12/1972, đế quốc Mỹ đã cho máy bay chiến lược B52 và các loại máy bay chiến thuật trút hơn 100 nghìn tấn bom xuống Hà Nội, Hải Phòng và một số mục tiêu trọng yếu khác trên miền Bắc nước ta, hòng đè bẹp ý chí chiến đấu của quân và dân ta, gây sức ép buộc ta phải chấp nhận những điều kiện của họ tại Hội nghị Paris về “Chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam”.

Với tinh thần chiến đấu kiên cường, quả cảm, mưu trí, sáng tạo, quân và dân ta đã đánh bại hoàn toàn cuộc tập kích đường không chiến lược chủ yếu bằng B52 của đế quốc Mỹ, làm nên chiến thắng lững lẫy “Hà Nội – Điện Biên phủ trên không”, buộc đế quốc Mỹ phải ngồi lại vào bàn đàm phán, ký kết Hiệp định Paris chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam, tạo ra bước ngoặt lịch sử, góp phần rất quan trọng đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc ta đi đến thắng lợi hoàn toàn.

Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy đang chữa cháy tại Tổng kho Xăng dầu Đức Giang năm 1972. Ảnh tư liệu

 

Hiệp đồng chiến đấu, chủ động bảo vệ an ninh trật tự

Trong trận chiến đấu 12 ngày đêm lịch sử ấy, có sự đóng góp quan trọng của lực lượng Công an nhân dân trên lĩnh vực bảo vệ an ninh, trật tự, bảo vệ tài sản của Nhà nước, tính mạng, tài sản của nhân dân.

Ngay từ năm 1971, tại Hội nghị Công an toàn quốc lần thứ 26, Đảng đoàn và lãnh đạo Bộ Công an đã xác định rõ phương hướng, nhiệm vụ cho toàn lực lượng Công an năm 1972: “Tiếp tục giữ vững an ninh chính trị và bảo đảm trật tự xã hội với yêu cầu cao hơn và khẩn trương hơn; xác định các địa bàn trọng điểm phải tập trung chỉ đạo là Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh. Các cấp công an từ Đồn, Huyện đến Ty, Sở đều phải chuyển sang thực hiện nếp sống quân sự hoá, mọi sinh hoạt, công tác, học tập đều phải chuyển hướng theo tình hình thời chiến để có thể sẵn sàng đối phó có hiệu quả trước mọi âm mưu phiêu lưu quân sự mới của địch”. Đồng thời, quán triệt Nghị quyết số 220-NQ/TW, ngày 1/6/1972 của Bộ Chính trị “Về chuyển hướng và đẩy mạnh mọi mặt công tác ở miền Bắc để tiếp tục đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”, Bộ Công an đã kịp thời có kế hoạch chuyển hướng hoạt động nhằm đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ đảm bảo an ninh, trật tự trong tình hình mới.

Khi đế quốc Mỹ gây chiến tranh phá hoại trở lại miền Bắc, thả mìn, phong toả cảng và đánh phá thành phố Hải Phòng, Bộ Công an đã chỉ đạo Sở Công an Hà Nội cử đoàn cán bộ xuống Hải Phòng nghiên cứu quy luật đánh phá của địch, rút kinh nghiệm công tác phòng không sơ tán, khắc phục hậu quả, giữ gìn trật tự, an ninh của thành phố Hải Phòng để bổ sung kịp thời vào kế hoạch và các phương án chiến đấu của Công an Thủ đô.

Quán triệt tư tưởng chỉ đạo của Bộ Công an, Công an Hà Nội, Công an thành phố Hải Phòng và một số địa phương khác đã tổ chức thực tập phương án phối hợp, hiệp đồng chiến đấu giữa lực lượng Công an với lực lượng Quân đội, Giao thông, Y tế… trong công tác đảm bảo giữ gìn an ninh, trật tự khi có tình huống xảy ra. Lực lượng Công an đã tham mưu với cấp ủy, chính quyền tổ chức sơ tán ra khỏi các thành phố Hà Nội, Hải Phòng hơn 500.000 người già, trẻ em và những người không trực tiếp sản xuất, chiến đấu; tổ chức lực lượng tuần tra, canh gác bảo vệ những địa bàn trọng điểm, bảo vệ các tuyến đường giao thông vận tải và tổ chức các đội cứu hỏa, cứu sập; phối hợp với các ban, ngành trong việc nạo vét, củng cố các hầm trú ẩn đã có, tích cực làm hầm mới và lập hồ sơ hầm trú ẩn trong thành phố; thành lập các đội tải thương, cứu thương, sửa chữa điện, nước, thu dọn đường sá, hướng dẫn giao thông, chôn cất người bị hy sinh và cứu giúp người bị nạn; phối hợp với Quân đội thành lập Bộ Chỉ huy chung để thống nhất chỉ đạo, xây dựng và triển khai thực hiện các phương án tuần tra cảnh giới, bảo vệ mục tiêu. Công tác tuần tra, bảo vệ an toàn tài sản của những người dân đi sơ tán đã được lực lượng Cảnh sát khu vực, Cảnh sát bảo vệ phối hợp với lực lượng dân quân tự vệ đảm bảo tốt.

Công an các địa phương đã mở đợt tấn công trấn áp những phần tử có thể gây nguy hại đến an ninh, trật tự, bắt tập trung giáo dục cải tạo hàng nghìn đối tượng lưu manh, trộm cắp. Do công tác chuẩn bị khẩn trương, tích cực, nên khi bước vào cuộc chiến đấu ác liệt với địch, lực lượng Công an đã đối phó với tình hình một cách chủ động, linh hoạt, bảo vệ an ninh, trật tự, phục vụ tốt nhiệm vụ chiến đấu, góp phần làm giảm thiệt hại về tài sản của Nhà nước, tính mạng và tài sản của nhân dân.

Trong những ngày cuối tháng 12/1972, công an Thủ đô luôn sát cánh cùng các lực lượng khác chiến đấu và giữ gìn an ninh. Ảnh Tư liệu

 

Trong chiến dịch 12 ngày đêm chiến đấu, giữa mưa bom, bão đạn, cán bộ, chiến sĩ công an Hà Nội, Hải Phòng và một số địa phương đã luôn bám sát vị trí chiến đấu, tiếp tục làm tốt công tác vận động nhân dân phòng không sơ tán, dũng cảm cứu dân, bảo vệ tài sản của Nhà nước và tài sản của nhân dân. Lực lượng Cảnh sát bảo vệ  đã dũng cảm chiến đấu, bảo vệ các mục tiêu chính trị, kinh tế, văn hoá, khoa học – kỹ thuật của Trung ương và địa phương, như Đài phát thanh Mễ Trì (Từ Liêm), kho xăng Đức Giang (Gia Lâm), Đài Điện Ly (Đông Anh), Đài phát tín Sơn Đồng (Hoài Đức), cầu Long Biên, Nhà máy Điện Yên Phụ ở Hà Nội, cảng Hải Phòng và các mục tiêu khác thường xuyên bị máy bay Mỹ bắn phá. Lực lượng Công an đã ngày, đêm bám trụ, tổ chức việc cứu người, dập lửa, tổ chức canh gác, chăm lo bảo vệ tài sản cho nhân dân; thăm hỏi động viên những gia đình bị nạn, tích cực góp phần cùng với chính quyền địa phương và các đoàn thể nhanh chóng ổn định mọi sinh hoạt  thường ngày cho nhân dân. Đặc biệt, lực lượng Công an Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh…  đã không quản tính mạng, tập trung đào bới cứu hàng nghìn người bị  sập hầm.

Hình ảnh người chiến sĩ công an với sắc phục truyền thống, có mặt ở các trận địa nóng bỏng nhất, trên từng con đường, ngõ, phố của Hà Nội, Hải phòng, Quảng Ninh… trong 12 ngày đêm chiến đấu đã trở nên quen thuộc, gần gũi với người dân. Xuất hiện nhiều tấm gương cán bộ, chiến sĩ công an xông pha trong nơi lửa đạn cõng em bé, cụ già ra hầm trú ẩn; hướng dẫn và cùng đội viên dân phòng, bảo vệ dân phố chữa cháy, cứu thương, cứu sập; tiêu biểu cho tinh thần “Vì nước quên thân vì dân phục vụ” là tấm gương của anh hùng Nguyễn Văn Uân, cảnh sát khu vực Mai Hương, khu phố Hai Bà Trưng đã dũng cảm hy sinh thân mình cứu dân dưới làn bom, đạn xối xả của kẻ thù.

Lực lượng Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy của Bộ và các địa phương đã tổ chức sẵn sàng chiến đấu về lực lượng và phương tiện; bố trí thường trực cao nhất để tiếp nhận, xử lý thông tin, kịp thời có mặt tại hiện trường, bất chấp bom rơi, dập tắt các đám cháy, cứu thương, cứu sập, bảo vệ tính mạng của nhân dân, tài sản của Nhà nước và của nhân dân. Khi máy bay Mỹ tập trung đánh phá các trận địa tên lửa phòng không, kho xăng dầu, cảng, khu dân cư, nhà máy điện… lực lượng Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy đã không quản hy sinh, kiên cường bám trụ, ngày đêm chữa cháy; đặc biệt khi trận địa tên lửa phòng không Chèm bị trúng bom, một quả tên lửa đang nằm trên bệ phóng bị mảnh bom xuyên thủng, nhiên liệu chảy ra ngoài gây cháy, cán bộ, chiến sĩ phòng cháy, chữa cháy đã kịp thời có mặt, khống chế nhiên liệu chảy ra từ quả tên lửa, tập trung dập gọn từng cụm lửa, cứu được cả trận địa tên lửa trước sự khâm phục của bộ đội và nhân dân. Đêm 19 rạng ngày 20/12/1972, khi máy bay địch ném bom cảng Hải Phòng, làm cháy tàu JOZEP KORNAD của Ba Lan và một số kho hàng trong cảng, lực lượng Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy đã phối hợp với bảo vệ cảng chữa cháy kịp thời, dập tắt đám cháy trên tàu, cứu được 11 thuỷ thủ bạn bị thương.

Trên mặt trận đảm bảo an toàn giao thông, với quyết tâm “Sống bám cầu đường, chết kiên cường anh dũng”, cán bộ, chiến sĩ cảnh sát giao thông đã phối hợp với lực lượng Giao thông ngày đêm bám tuyến đường, thường trực chiến đấu, phân tuyến, phân luồng, dũng cảm chỉ huy trật tự giao thông trên đường phố; giải toả kịp thời tắc nghẽn, đảm bảo giao thông thông suốt, nhân dân đi sơ tán được thuận lợi, an toàn. Nhiều tấm gương chiến đấu dũng cảm của lực lượng Cảnh sát giao thông bảo vệ cầu, phà, đường bộ, đường sắt, đường thủy đã được nhân dân ca ngợi, tiêu biểu là đồng chí cảnh sát giao thông Phan Điện Biên đã dũng cảm nhảy lên toa xe lửa đang cháy, giật chốt cho toa xe lửa tách toa hàng để bảo vệ tài sản Nhà nước.

Cùng với việc tập trung lực lượng vào công tác phòng không và khắc phục hậu quả do bom đạn Mỹ gây ra, Công an Hà Nội, Hải Phòng và một số địa phương khác vẫn đẩy mạnh các mặt công tác trấn áp các loại tội phạm lợi dụng tình hình địch đánh phá để trộm cắp tài sản, gây rối trật tự, an ninh; việc phối hợp với lực lượng dân quân, tự vệ, thanh niên tuần tra trong khối phố được tăng cường, nên tội phạm và các tệ nạn xã hội đã giảm nhiều so với trước.

Bài học quý từ thực tiễn chiến đấu

Sau chiến dịch 12 ngày đêm, lực lượng Công an nhân dân tiếp tục phối hợp cùng với các ban, ngành, các lực lượng nhanh chóng tổ chức ổn định đời sống sinh hoạt của nhân dân và giải quyết hậu quả chiến tranh, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội.

Trong đợt chiến đấu ác liệt này, 18 cán bộ, chiến sĩ công an đã anh dũng hy sinh, hàng trăm đồng chí khác bị thương; 2 tập thể và 1 cá nhân được tuyên dương Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân; 15 đơn vị được tặng thưởng Huân chương Chiến công các loại. Cùng với Công an Hà Nội, Công an Hải Phòng, Ty Công an Quảng Ninh cũng được Chủ tịch nước Tôn Đức Thắng ký lệnh khen thưởng Huân chương Kháng chiến và Huân chương Chiến công vì thành tích xuất sắc trong chống chiến tranh phá hoại miền Bắc của đế quốc Mỹ, đặc biệt là trong chiến dịch 12 ngày đêm chống B.52 của đế quốc Mỹ.

Những phi công Mỹ bị bắt và giam giữ tại Hỏa Lò, trong chiến dịch Hà Nội-Điện Biên phủ trên không-Ảnh tư liệu

 

Kỷ niệm 40 năm chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên phủ trên không”, lực lượng Công an nhân dân tự hào về những chiến công, những đóng góp to lớn trên lĩnh vực đảm bảo an ninh, trật tự, góp phần xứng đáng cùng với quân và dân cả nước đánh bại cuộc tập kích đường không chiến lược tàn bạo của đế quốc Mỹ.

Thực tiễn bảo vệ an ninh, trật tự, bảo vệ tài sản của Nhà nước, bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân trong cuộc chiến đấu ác liệt 12 ngày đêm chống pháo đài bay B.52 của đế quốc Mỹ trên bầu trời Hà Nội, Hải Phòng và một số địa phương khác đã để lại những bài học kinh nghiệm quý báu cho các thế hệ cán bộ, chiến sĩ công an.

Trước hết, đó là bài học kết hợp chặt chẽ giữa phòng không nhân dân với thế trận an ninh nhân dân, chủ động nắm tình hình kịp thời, chính xác; nhanh chóng chuyển hướng về tổ chức và chỉ đạo toàn lực lượng thích ứng với tình hình thời chiến; tích cực làm tốt công tác chuẩn bị trước khi bước vào trận chiến đấu; đoàn kết, phối hợp, hiệp đồng chiến đấu chặt chẽ với lực lượng quân đội, dân quân tự vệ, bảo vệ dân phố và các ban, ngành có liên quan và quan trọng nhất là bài học nêu cao tinh thần trách nhiệm vì nước, vì dân, quên thân phục vụ, giữ vững hình ảnh cao đẹp của người cán bộ, chiến sĩ Công an nhân dân trong lòng nhân dân. Những bài học đó vẫn còn nguyên giá trị đối với sự nghiệp bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội và xây dựng lực lượng Công an nhân dân Việt Nam trong tình hình hiện nay.

Phát huy truyền thống quật cường, anh dũng của chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên phủ trên không”, lực lượng Công an nhân dân nguyện trung thành tuyệt đối với Đảng, với Tổ quốc và hết lòng phụng sự nhân dân, tiếp tục nỗ lực phấn đấu, vươn lên, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội trong tình hình mới, góp phần thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế của đất nước.

*Các tiêu đề bài viết do Cổng TTĐT Chính phủ đặt
chinhphu.vn

Bắn rơi F-111A bằng súng phòng không

(Chinhphu.vn)-Chỉ với những khẩu súng máy cao xạ 14,5mm nhưng lực lượng tự vệ Nhà máy cơ khí Lương Yên, Nhà máy cơ khí Mai Động, Nhà máy gỗ Hà Nội, đã bắn rơi 1 máy bay chiến đấu hiện đại F-111A của Mỹ, góp phần vào chiến thắng “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không” 40 năm trước.

Bà Phạm Thị Viễn

Kể về những ngày tháng bom Mỹ cày xới Hà Nội 40 năm trước, bà Phạm Thị Viễn, nữ pháo thủ của Trung đội tự vệ Nhà máy cơ khí Mai Động, Hà Nội, nhiều lần nghẹn lời khi nhớ lại những người thân bị bom Mỹ sát hại.

Năm 1967, mẹ của bà Viễn đã thiệt mạng trong một đợt ném bom của máy bay Mỹ. Còn trong những ngày liên tục trực chiến tại trận địa phòng không những ngày cuối năm 1972, bà Viễn lại đón nhận tin dữ, đêm 26/12, bom B52 đã dội trúng hầm và giết hại 2 người anh họ và bố của bà Viễn.

Trong đau thương, mất mát, bà Viễn và đồng đội càng nung nấu quyết tâm chiến đấu và cùng quân và dân Thủ đô Hà Nội làm nên chiến thắng lịch sử “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không”.

Trong 12 ngày đêm cuối năm 1972, bên cạnh những đợt ném bom rải thảm bằng máy bay B52, không quân Mỹ còn sử dụng máy bay F-111A bay rất thấp, liên tục đột nhập vùng trời Hà Nội để đánh phá.

Bộ Tư lệnh Thủ đô Hà Nội khi ấy đã kịp thời điều chỉnh lực lượng, triển khai đội hình, trận địa hợp lý, tổ chức và trực tiếp chỉ huy một liên đội tự vệ với 5 súng máy cao xạ 14,5mm. Các chiến sỹ trong biên chế gồm 3 trung đội tự vệ của Nhà máy gỗ Hà Nội, Nhà máy cơ khí Mai Động và Nhà máy cơ khí Lương Yên.

14 giờ chiều ngày 22/12, bà Viễn và đồng đội nhận lệnh trực chiến tại trận địa Vân Đồn (ngoài bãi sông Hồng, Hà Nội). Đến 21 giờ 30 phút thì còi báo động nổi lên, một tốp F-111A xuất hiện, bay thấp, dọctheo  sông Hồng. Đến cự ly thích hợp, chỉ huy trận địa hô: “Một điểm xạ ngắn, bắn!”, cả 5 khẩu súng máy đồng loạt phát hỏa.

“Tôi ở vị trí pháo thủ số 1 nhìn thấy rất rõ chiếc máy bay trúng đạn, phần đuôi của nó lóe sáng. Đấy là chiến công đầu tiên của đơn vị chúng tôi mà cũng vào ngày 22/12 nên chúng tôi không bao giờ quên được”, bà Viễn nhớ lại.

Sáng hôm sau (23/12), cấp trên thông báo trận địa Vân Đồn đã bắn rơi chiếc F111A (chiếc may bay này rơi tại Lương Sơn, Hòa Bình, du kích địa phương bắt sống được hai phi công Mỹ).

Cũng trong ngày hôm đó, Bí thư Thành ủy Hà Nội Nguyễn Văn Trân và Chủ tịch UBND TP Hà Nội Trần Duy Hưng đã tới thăm các chiến sỹ dân quân tự vệ trận địa Vân Đồn đồng thời khen ngợi: “Các đồng chí chiến đấu rất dũng cảm. Đó là niềm tự hào đối với dân quân Hà Nội”.

Chủ tịch nước Tôn Đức Thắng và Đại tướng Võ Nguyên Giáp cũng đã tới thăm anh chị em và tặng lẵng hoa cho các tự vệ ngay tại trận địa.

Việt Hà-Bảo Minh (ghi)
chinhphu.vn

Đêm mở màn “Điện Biên Phủ trên không” tại Sở chỉ huy tác chiến

(Chinhphu.vn) – Với Thiếu tướng Nguyễn Văn Ninh, nguyên Cục phó Cục Tác chiến, cuộc đấu trí cam go giữa cơ quan tham mưu chiến lược của Quân đội nhân dân Việt Nam với không lực Hoa Kỳ đêm 18/12/1972 vẫn còn nguyên vẹn trong hồi ức.

Thiếu tướng Nguyễn Văn Ninh kể lại diễn biến trận đánh mở màn chiến dịch Điên Biên Phủ trên không đêm 18/12. – Ảnh: VGP/Minh Anh

Thăm lại hầm Sở chỉ huy tác chiến Bộ Tổng Tham mưu trong Thành cổ Hà Nội trong ngày mở cửa cho khách tham quan, từng diễn biến trong trân đánh mở màn 12 ngày đêm được người cựu chiến binh 82 tuổi kể lại một cách rành mạch, chi tiết.

Từ ngày 17/12/1972, Bộ Tổng tham mưu đã ra lệnh cho Quân chủng Phòng không – Không quân vào trạng thái sẵn sàng chiến đấu cao nhất, đề phòng B-52 Mỹ đánh từ vĩ tuyến 20 trở ra các tỉnh phía Bắc, đặc biệt là Hà Nội.

Sáng 18/12, hoạt động của máy bay trinh sát địch vẫn diễn ra bình thường. Lúc 16h, Thiếu tá Nguyễn Văn Ninh có mặt tại Sở chỉ  huy nhận trực ban phó, kiêm trực ban phòng không bên cạnh đồng chí Trần Độ trực ban trưởng; đồng thời cũng là lúc từ Cục 2, đồng chí Mạc Lâm thông báo tới Sở Chỉ huy tác chiến Bộ Tổng Tham mưu và Sở Chỉ huy Quân chủng Phòng không – Không quân, có nhiều tốp B-52 sẽ cất cánh từ sân bay Andesin đảo Guam vào đánh phá miền Bắc.

Đến 18h20 phút, các tiêu đồ viên cũng đã có mặt đầy đủ, Thiếu tá Ninh và các đồng chí trong kíp trực ban hội ý và nhận định tối nay máy bay sẽ đánh Hà Nội.

Lúc 19h10, Sở Chỉ huy nhận được  điện báo của Quân chủng Phòng không – Không quân, đài ra đa ở Đô Lương, Nghệ An đã phát hiện máy bay B-52 từng tốp đang bám theo đất Lào, ngược lên phía Bắc Việt Nam. Các tiêu đồ viên trong hầm chỉ huy thận trọng vẽ những nét chì xanh trên bản đồ. Các sĩ quan tham mưu chăm chú theo dõi những đường xanh ngoằn ngoèo là máy bay phản lực tiêm kích, những đường xanh thẳng tắp từ xa nhích dần vào Hà Nội là các tốp B-52 Mỹ. Trên tiêu đồ, khoảng cách mục tiêu B-52 càng xích gần về Hà Nội.

Kíp trực ban bình tĩnh nhắc các nữ  tiêu đồ viên tập trung cao độ nhận và ghi chính xác những tín hiệu “BB” lên bảng tiêu đồ và căn cứ vào đường bay của địch, báo cáo tình hình với cấp trên từng chi tiết cụ thể, đồng thời phát lệnh báo động cho Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định và các tỉnh trên miền Bắc. Sở chỉ huy lúc này sôi động hẳn lên, vì ngay từ đầu ta đã phát hiện được B-52 Mỹ và Tổ quốc không bị bất ngờ.

Kíp trực ban lập tức gọi điện báo cáo Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp, là B-52 Mỹ đang bay ra đánh Hà Nội, đồng thời báo cáo Tổng Tham mưu trưởng – Thượng tướng Văn Tiến Dũng, xin chỉ thị được kéo còi báo động trước 5 phút so với quy định. Thượng tướng nói: “Đồng ý, tôi sẽ sang phòng chính của Sở chỉ huy ngay”.

Nhìn tiêu đồ, máy bay địch chỉ  cách Hà Nội khoảng 200 km, Thiếu tác Nguyễn Văn Ninh bật công tắc micro, báo cáo các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước. Sau giây phút hội ý với trực ban trưởng, ông ấn nút kéo còi báo động thông báo cho Hà Nội điềm tĩnh bước vào chiến đấu. Rồi ông quay sang thông báo tình hình với Bộ Giao thông vận tải…

Một nữ tiêu đồ viên đang mô tả lại công việc của mình trong chiến dịch Điện Biên Phủ trên không ( nhân ngày hầm tác chiến mở cửa đón khách tham quan sáng 20/12). – Ảnh: VGP/Minh Anh

Lát sau, trong hầm chỉ huy đã có mặt Tổng Tham mưu trưởng Văn Tiến Dũng, Phó Tổng Tham mưu trưởng Phùng Thế Tài,  Cục trưởng Cục Tác chiến Vũ Lăng và đồng chí Lê Hiến Mai – Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị… Trong những giờ phút cam go và quyết định ấy, từ hầm Sở chỉ huy tác chiến, mệnh lệnh chiến đấu chính xác, kịp thời được phát ra cho các đơn vị tên lửa, phòng không quyết đánh trúng đích, “vít cổ” lũ B-52.

Lúc này, từng đàn máy bay B-52 đã rền vang trên bầu trời Hà Nội. Từng loạt bom rung chuyển thành phố. Trong hầm chỉ huy tác chiến, không khí thật im lặng, trật tự, đèn nê ông rất sáng. Bên bàn lớn đối diện với bảng tiêu đồ là bàn trực ban Sở chỉ huy, ngồi bên cạnh Đại tá Vũ Lăng, Cục trưởng Cục Tác chiến là Phó Tổng Tham mưu trưởng Phùng Thế Tài và và Tổng Tham mưu trưởng Văn Tiến Dũng.

Phó Tổng Tham mưu trưởng Phùng Thế Tài cầm máy, liên tiếp ra lệnh cho Tư lệnh Quân chủng Phòng không – Không quân và các đơn vị, địa phương thực hiện mệnh lệnh chiến đấu. Trực ban Phòng không – Không quân liên tục báo về, hết đơn vị tên lửa này đến đại đội pháo cao xạ khác nổ súng. Máy bay ta cất cánh chiến đấu đã trở về sân bay Gia Lâm an toàn.

Trực ban phó Nguyễn Văn Ninh áp chặt ống nghe, tốc ký báo cáo của trực ban Phòng không – Không quân rồi nhắc khẽ: “Có tin mừng báo ngay nhé”. Vừa lúc đó, đài quan sát trên đỉnh cột cờ báo về: “Một đám cháy lớn trên bầu trời phía Bắc”.

Thiếu tá Nguyễn Văn Ninh nhớ lại một cảm xúc  đáng nhớ nhất là khi chiếc máy bay B -52 đầu tiên rơi, kíp trực nghe giong nói qua cái loa trong hầm tác chiến từ anh em trực chiến trên Cột cờ: “Cháy to lắm rồi, cháy to lắm rồi”.

Rồi trực ban Quân chủng Phòng không – Không quân thông báo gấp gáp: “Một B52 rơi rồi, phía Đông Anh”. Trực ban phó reo lên vui sướng. Mọi người trong hầm chỉ huy ôm chầm lấy nhau, mắt nhoè đi như có nước. Lúc đó là 20h30 ngày 18/12/1972.

Trời sáng, trực ban sở chỉ huy bấm công tắc micro: “lệnh báo yên thành phố”, đồng thời báo cáo Thủ trưởng Bộ: Trận đánh B-52 đêm 18 rạng ngày 19/12/1972 kết thúc. Địch sử dụng trên 400 lần chiếc máy bay không quân chiến thuật và 90 lần chiếc B-52, đánh trên 100 điểm. Ta bắn rơi 3 máy bay B-52 Mỹ, 5 máy bay phản lực chiến đấu, bắt sống 7 giặc lái.

Đêm 18/12/1972, đêm mở màn chiến dịch “Điện Biên Phủ trên không” đã trở thành đêm chiến thắng của quân và dân ta, đêm hãi hùng đối với bộ máy chiến tranh Hoa Kỳ.

Hầm chỉ huy tác chiến – Bộ Tổng tham mưu được xây dựng ngay từ những ngày  đầu Mỹ chính thức tiến hành chiến tranh phá  hoại miền Bắc (lần thứ nhất) cuối năm 1964 đầu năm 1965. Hầm có kết cấu nửa nổi nửa chìm bằng bê tông nguyên khối với khối lượng khoảng 1.000m3; nóc dày 1,4m; tường dày 40cm. Tại đây, đã diễn ra nhiều cuộc họp do các đồng chí lãnh đạo cao nhất của Đảng, Nhà nước chủ trì và đưa ra những quyết định quan trọng trong kháng chiến chống Mỹ.

Minh Anh
chinhphu.vn

Vị Đại sứ Liên Xô và quyết định nâng cấp SAM 2 tại Việt Nam

(Chinhphu.vn) – Một quyết định rất đặc biệt của một nhà ngoại giao của Liên Xô tại Việt Nam đã tháo gỡ nhiều bế tắc, góp phần vào chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”cuối năm 1972.

Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân gửi Tư lệnh không quân Liên bang Nga bức tranh bằng đồng tới gia đình đồng chí Ilia S.Shcherbakov, nguyên Đại sứ Đặc mệnh toàn quyền Liên Xô  tại Việt Nam. – Ảnh: VGP/Từ Lương

Tháng 9/1967, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiên đoán không quân Mỹ sẽ sử dụng B-52 để đánh phá Hà Nội. Nhiệm vụ nghiên cứu đánh B-52 đã được Bác Hồ giao cho đồng chí Tư lệnh Phòng không -Không quân.

Với sự chuẩn bị chu đáo với nhiều cách đánh sáng tạo, riêng có, ngay ngày đầu tiên của chiến dịch “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”, lực lượng tên lửa Việt Nam đã quật ngã tại chỗ máy bay B-52 của Không quân Hoa Kỳ, mặc dù B-52 sở hữu hệ thống gây nhiễu hiện đại nhất thời bấy giờ.

Góp phần quan trọng vào chiến thắng này phải kể tới một quyết định rất đặc biệt của đồng chí Ilia S.Shcherbakov, Đại sứ Đặc mệnh toàn quyền Liên Xô tại Việt Nam nhiệm kỳ 1964-1974.

Ông đã trực tiếp đến thăm các trận địa phòng không, biết rõ những khó khăn về kỹ thuật xuất hiện trên các chiến trường. Từ việc am hiểu tình hình thực tế ở Việt Nam, với tinh thần quốc tế cộng sản cao cả, tinh thần trách nhiệm của một vị Đại sứ đặc mệnh toàn quyền, ông đã thay mặt Chính phủ Liên Xô ra quyết định cho phép các chuyên gia Liên Xô đang có mặt ở Việt Nam được can thiệp trực tiếp vào hệ thống của tên lửa SAM 2 theo hướng tăng công suất ra -đa lớn hơn công suất hệ thống gây nhiễu của B-52.

Thời kỳ đó, Chính phủ Liên Xô và quân đội Liên Xô đã có quy định rất ngặt nghèo: Việc can thiệp vào tên lửa SAM 2 bằng bất cứ hình thức gì cũng không được phép thực hiện nếu không ở trong lãnh thổ Xô Viết. Vì vậy, quyết định táo bạo nhưng vô cùng có trách nhiệm với Việt Nam của vị Đại sứ Đặc mệnh toàn quyền Liên Xô tại Việt Nam đã góp phần quan trọng để tên lửa SAM 2 có thể vươn tới độ cao và vượt nhiễu của B-52.

Kết quả cải tiến này của chuyên gia Liên Xô và của bộ đội phòng không đã thu được kết quả lớn, khi chúng ta liên tục hạ gục tại chỗ pháo đài bay B-52. Riêng 12 ngày đêm trong chiến dịch “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không,” đã có 34 chiếc B52 phải đền tội (chiếm 16,2% tổng số B-52 tham chiến tại Việt Nam).

Chiều 28/12/2012, tại Trụ sở Chính phủ, Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Thiện Nhân đã tiếp thân mật Trung tướng Bondarev Viktor Nhikolaevich, Tư lệnh Không quân Lực lượng Vũ trang Liên bang Nga đại diện Bộ Quốc phòng Nga sang dự lễ kỷ niệm 40 năm chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”.

Bằng tất cả tình cảm chân thành, Phó Thủ tướng đã gửi đồng chí Tư lệnh không quân Liên bang Nga bức thư bằng tiếng Nga cùng bức tranh Vịnh Hạ Long bằng đồng tới gia đình đồng chí Ilia S.Shcherbakov, tỏ lòng tri ân của nhân dân cũng như Quân đội nhân dân Việt Nam.

Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân mong muốn các thành viên của gia đình Đại sứ Ilia S.Shcherbakov luôn mạnh khỏe, hạnh phúc, gặp nhiều may mắn và sẽ tới thăm Việt Nam trong thời gian sớm nhất.

 Từ Lương
chinhphu.vn

Ai đặt tên Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không?

Ngày nay, khi nói đến chiến thắng đợt tập kích chiến lược của không quân Mỹ vào Hà Nội và các tỉnh thành miền Bắc tháng 12.1972, cụm từ Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không đã là một phần lịch sử hào hùng gắn bó với thủ đô. Thế nhưng ai đã đặt tên cho chiến thắng 12 ngày đêm năm 1972 là Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không?

Ai đặt tên Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không?Trang 2 – 3, báo Nhân Dân số ra thứ sáu, ngày 29.12.1972 – Ảnh: Tư liệu

Tại Thư viện Quốc gia còn lưu giữ tờ báo Nhân Dân số ra thứ sáu, ngày 29.12.1972 – ngày thứ 12 của cuộc chiến chống lại chiến dịch tập kích chiến lược bằng B-52 của không quân Mỹ. Ở trang 2 và 3 có tiêu đề: Chiến đấu oanh liệt – Chiến thắng vẻ vang. Đây có thể là một trong những chứng cứ rõ nhất xác định nguồn gốc của tên gọi Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không.

Trong đó, trang 2 đăng bài mở chuyên mục: Viết tại chỗ về Hà Nội – Điện Biên Phủ, với lý do:

“…Có người nói: “Hà Nội đang thắng một trận Điện Biên Phủ trên không”.

Mỗi chiếc B-52 mà chúng ta diệt phải chăng là một thứ cứ điểm Điện Biện Phủ?

Xin mượn ý đó để đặt tên mục này là Viết tại chỗ về Hà Nội – Điện Biên Phủ”.

… Và sau đó, báo chí phương Tây và thế giới đã mặc nhiên sử dụng tên gọi này cho chiến thắng.

Trang 3 đăng bài hát Hà Nội, Điện Biên Phủ! của nhạc sĩ Phạm Tuyên cũng là một trong những “viên gạch” góp phần xây dựng tên gọi Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không. Theo nhạc sĩ, vào ngày 27.12.1972, trong những giờ phút chiến đấu ác liệt và chiến thắng oai hùng của quân và dân Hà Nội, khi nghe lại lời của Đại tướng Võ Nguyên Giáp thay mặt Bộ Chính trị, Quân ủy T.Ư kêu gọi: “Kẻ địch thua đau và nhất định sẽ thất bại hoàn toàn. Nhưng, chúng vẫn còn ngoan cố kéo dài cuộc tập kích. Các đơn vị hãy bắn rơi nhiều B-52 hơn nữa, hãy giáng cho không quân Mỹ một đòn “Điện Biên Phủ” ngay trên bầu trời Hà Nội, thủ đô thân yêu của chúng ta”, nhạc sĩ đã nhanh chóng sáng tác bài hát mang tên Hà Nội, Điện Biên Phủ! mà ca từ có những câu:

“Một trận Điện Biên nay sẽ vùi mộng xâm lăng”
“Một trận Điện Biên mới oai hùng”
“Một trận Điện Biên sáng chói, Hà Nội ơi!”

Như thế, cái tên Hà Nội – Điện Biên Phủ hay còn gọi là chiến thắng Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không có lẽ là ý nghĩ chung của quân và dân Hà Nội từ đại tướng đến binh nhì, của những người đang chiến đấu và chiến thắng cuộc tập kích không quân lớn nhất của Mỹ lúc bấy giờ. Đó là những cụm từ thể hiện niềm tự hào, ý chí kiên cường, tầm cao trí tuệ của quân và dân Hà Nội, quân và dân miền Bắc trong những ngày cuối tháng 12.1972 và trong lịch sử dân tộc Việt Nam.

Lê Huỳnh Hoa – Nguyễn Văn Kết
thanhnien.com.vn

Chiến thắng “Hà Nội – Ðiện Biên Phủ trên không”, tầm nhìn chiến lược của Ðảng ta trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước

Cách đây tròn 40 năm, vào tháng 12-1972, quân và dân ta, mà trực tiếp là quân và dân Hà Nội, Bộ đội Phòng không – Không quân đã làm nên Chiến thắng “Hà Nội – Ðiện Biên Phủ trên không”, đánh bại cuộc tập kích chiến lược đường không, chủ yếu bằng máy bay B.52 của đế quốc Mỹ.

Chiến thắng oanh liệt đó là sự kiện lịch sử trọng đại và kỳ tích vô song – biểu tượng của tầm cao trí tuệ, bản lĩnh, ý chí và sức mạnh Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh; góp phần quan trọng đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc ta đi đến thắng lợi hoàn toàn.

Chiến thắng “Hà Nội – Ðiện Biên Phủ trên không” tiếp tục chứng minh tầm nhìn chiến lược đúng đắn, sáng tạo của Ðảng ta trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Ðiều đó thể hiện trước hết ở việc đánh giá đúng tình hình, dự báo sớm, chính xác âm mưu, khả năng và hành động chiến tranh của đế quốc Mỹ. Trên cơ sở đó, kiên định ý chí quyết chiến, quyết thắng quân xâm lược. Ngay sau khi kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, nhận rõ âm mưu thay chân Pháp để biến miền nam thành thuộc địa kiểu mới của đế quốc Mỹ. Với tầm nhìn chiến lược, tư duy độc lập, tự chủ, nắm vững quy luật chiến tranh, phân tích khoa học, toàn diện lực lượng địch – ta, Ðảng ta đã khẳng định: Mỹ giàu nhưng không mạnh; chúng có những điểm yếu chí mạng và rất cơ bản, mà ta có thể khoét sâu để đánh thắng chúng. Trên cơ sở đó, Ðảng ta hạ quyết tâm quyết đánh, quyết thắng đế quốc Mỹ xâm lược; đề ra đường lối kháng chiến độc lập, tự chủ, đúng đắn, sáng tạo và phương pháp, nghệ thuật chỉ đạo chiến lược tài tình, giữ vững tư tưởng chiến lược tiến công, quyền chủ động chiến lược để đánh bại ý chí xâm lược, các chiến lược,(1) các bước leo thang chiến tranh của chúng, giành thắng lợi từng bước, tiến tới giành thắng lợi hoàn toàn.

Chiến thắng “Hà Nội – Ðiện Biên Phủ trên không” có mối quan hệ biện chứng với các sự kiện, diễn biến trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước; nó hoàn toàn nằm trong tư duy chiến lược của Ðảng ta. Ngay từ cuối năm 1967, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dự báo: “Sớm muộn rồi đế quốc Mỹ cũng sẽ đưa B.52 ra đánh Hà Nội, rồi có thua nó mới chịu thua… Ở Việt Nam Mỹ nhất định thua. Nhưng nó chỉ chịu thua sau khi thua trên bầu trời Hà Nội”.(2) Từ sự phân tích khách quan, toàn diện tình hình, Ðảng ta nhận định: với bản chất ngoan cố, hiếu chiến, đế quốc Mỹ không dễ dàng chấp nhận thua cuộc, chúng sẽ sử dụng biện pháp quân sự hòng buộc ta phải chấp nhận những điều kiện của chúng trên bàn đàm phán. Thực tế diễn ra đúng như vậy. Chúng vừa đàm phán, vừa bí mật chuẩn bị kế hoạch tập kích chiến lược đường không quy mô lớn mang tên Linebacker II. Vì thế, khi chúng tiến hành cuộc tập kích, ta chủ động hoàn toàn cả về chiến lược, chiến dịch và chiến thuật; sớm chuẩn bị chu đáo về mọi mặt, cả “tinh thần và lực lượng”, đặc biệt là huấn luyện Bộ đội Tên lửa đánh B.52; đồng thời, phối hợp chặt chẽ giữa quân sự và ngoại giao… đánh bại ý chí xâm lược của chúng.

Ðứng trước việc đế quốc Mỹ sử dụng một lực lượng lớn máy bay chiến lược B.52 (một trong bộ ba vũ khí chiến lược của chúng) để hủy diệt Hà Nội, không ít người đã lo ngại cho ta. Song, chúng ta có niềm tin chiến thắng trên cơ sở biết rõ điểm mạnh, điểm yếu của đối phương và hiểu rõ sức mạnh tổng hợp của chính mình. Ðó là sức mạnh của chính nghĩa, của truyền thống dân tộc, của đường lối chiến tranh nhân dân, của khát vọng hòa bình… và trên hết là sự tin tưởng, gắn bó của nhân dân với Ðảng. Từ đó, quân và dân ta nêu cao ý chí quyết đánh và quyết đánh thắng theo lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Dù đế quốc Mỹ có lắm súng, nhiều tiền. Dù chúng có B.57, B.52 hay “bê” gì đi chăng nữa ta cũng đánh. Từng ấy máy bay, từng ấy quân Mỹ chứ nhiều hơn nữa ta cũng đánh, mà đã đánh là nhất định thắng”(3). Ý chí quyết chiến, quyết thắng mãnh liệt đó là nguồn sức mạnh chính trị – tinh thần to lớn để các lực lượng, mà trực tiếp là quân và dân Hà Nội, Bộ đội Phòng không – Không quân vượt qua mọi khó khăn, thử thách, hiệp đồng chiến đấu chặt chẽ, mưu trí, sáng tạo, tìm ra cách đánh phù hợp, đập tan cuộc tập kích chiến lược đường không của đế quốc Mỹ.

Tầm nhìn chiến lược của Ðảng được biểu hiện tập trung ở nghệ thuật tiến hành chiến tranh nhân dân độc đáo, sáng tạo tiếp tục được thể hiện trong Chiến thắng “Hà Nội – Ðiện Biên Phủ trên không” mà cốt lõi là phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân, của lực lượng vũ trang ba thứ quân, tìm ra cách đánh phù hợp, xác định đúng đối tượng chủ yếu để tập trung tiêu diệt đạt hiệu quả chiến đấu cao. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, với việc thực hiện đường lối, nghệ thuật chiến tranh nhân dân đúng đắn, sáng tạo, Ðảng ta đã huy động được sức mạnh của cả nước, phát động toàn dân đánh giặc lấy lực lượng vũ trang ba thứ quân làm nòng cốt; kết hợp chặt chẽ giữa tiến công và nổi dậy trên cả ba vùng chiến lược làm tan rã và đánh đổ từng bộ phận quân địch, giành thắng lợi từng bước, tiến tới giành thắng lợi hoàn toàn bằng cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 lịch sử. Trong chiến dịch phòng không cuối năm 1972, Ðảng ta đã thực hiện sáng tạo, hiệu quả nghệ thuật quân sự của chiến tranh nhân dân trên mặt trận đối không. Do chủ động về chiến lược, nên ta rất chủ động trong chỉ đạo chiến dịch và chiến thuật. Quân ủy Trung ương, Bộ Tổng tư lệnh giao nhiệm vụ cho Bộ Tổng tham mưu chỉ đạo Quân chủng Phòng không – Không quân nghiên cứu xây dựng kế hoạch đánh B.52 bảo vệ Hà Nội từ rất sớm; qua nhiều lần bổ sung, điều chỉnh và hoàn thành trước tháng 12-1972. Trên cơ sở đó, việc bố trí, sử dụng lực lượng phòng không ba thứ quân và xây dựng thế trận phòng không nhân dân cũng như việc tổ chức cho nhân dân sơ tán và phát động toàn dân tham gia chiến đấu, phục vụ chiến đấu được thực hiện tốt ngay từ đầu và trong suốt quá trình chiến dịch. Ðó là nghệ thuật tổ chức thế trận phòng không nhân dân “liên hoàn, vững chắc”, bố trí lực lượng phòng không ba thứ quân rộng khắp, nhiều tầng, nhiều lớp và có trọng điểm, vừa có lực lượng tại chỗ, vừa có lực lượng cơ động mạnh và lực lượng dự bị thích hợp, chuyển hóa thế trận linh hoạt, ứng phó kịp thời với các tình huống. Thế trận đó đã phát huy cao nhất khả năng hỏa lực, sức mạnh chiến đấu của từng lực lượng, tạo nên sức mạnh tổng hợp để đánh không quân địch với mọi quy mô, từ nhiều hướng, nhiều tầng, liên tục cả đêm lẫn ngày. Nét đặc sắc về nghệ thuật chỉ đạo chiến dịch còn được thể hiện ở việc xác định đúng cách đánh (với đối tượng tác chiến chủ yếu là B.52), đúng khu vực tác chiến chủ yếu (địa bàn Hà Nội), tổ chức các trận đánh then chốt, quyết định với lực lượng nòng cốt là Quân chủng Phòng không – Không quân, trong đó Bộ đội Tên lửa là lực lượng chủ công diệt B.52. Ðồng thời, chỉ đạo thực hiện tốt việc kết hợp hai phương thức tác chiến của chiến tranh nhân dân. Ðó là: đánh địch rộng khắp của lực lượng phòng không các địa phương, của dân quân tự vệ với đánh tập trung, hiệp đồng binh chủng của Quân chủng Phòng không – Không quân. Thực tiễn đã khẳng định, chiến dịch phòng không cuối năm 1972 là đỉnh cao của nghệ thuật tác chiến chống tiến công đường không hiện đại. Chiến dịch đó tuy chỉ diễn ra trong 12 ngày đêm, nhưng đã đạt hiệu quả chiến đấu rất cao: bắn rơi 81 máy bay các loại, trong đó có 34 máy bay B.52, bắt sống nhiều phi công Mỹ.

Tầm nhìn chiến lược của Ðảng còn được thể hiện ở việc kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, sức mạnh trong nước với sức mạnh quốc tế để tạo nên sức mạnh tổng hợp, giành chiến thắng. Trong suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Ðảng ta đã tăng cường đoàn kết quốc tế, phát huy tối đa sức mạnh của thời đại, coi đó là bộ phận hợp thành của đường lối kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, góp phần tạo nên sự vượt trội về thế và lực của nhân dân ta để đánh thắng kẻ thù. Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, trong đó có Chiến thắng “Hà Nội – Ðiện Biên Phủ trên không” là thắng lợi chung của sự đoàn kết quốc tế, của các lực lượng XHCN, của phong trào cách mạng và nhân dân tiến bộ trên thế giới. Do cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược của nhân dân ta sáng ngời chính nghĩa, nên chúng ta đã nhận được sự đoàn kết, ủng hộ, giúp đỡ to lớn cả về tinh thần và vật chất của bạn bè quốc tế, của nhân dân tiến bộ khắp năm châu, trong đó có nhân dân tiến bộ Mỹ. Ðặc biệt, chúng ta nhận được sự giúp đỡ quý báu của Liên Xô, Trung Quốc và các nước XHCN anh em khác về vũ khí, trang bị kỹ thuật hiện đại và các nguồn lực vật chất, tinh thần khác. Cùng với đó, còn có sự đoàn kết keo sơn, liên minh chiến đấu chống kẻ thù chung của ba nước Ðông Dương: Việt Nam – Lào – Cam-pu-chia. Những nhân tố đó góp phần tạo thành động lực và sức mạnh tổng hợp để quân và dân ta làm nên Chiến thắng “Hà Nội – Ðiện Biên Phủ trên không” nói riêng, thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước nói chung.

Hiện nay, sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta đang diễn ra trong bối cảnh tình hình quốc tế và trong nước vừa có thuận lợi, vừa có thách thức đan xen. Ðáng chú ý là các thế lực thù địch tiếp tục đẩy mạnh chiến lược “Diễn biến hòa bình”, triệt để lợi dụng những khó khăn của ta để thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, hòng làm thay đổi chế độ chính trị ở nước ta. Vì thế, hơn bao giờ hết quân và dân ta phải thường xuyên nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng, đoàn kết, thống nhất và tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Ðảng; tiếp tục phát huy truyền thống hào hùng của Chiến thắng “Hà Nội – Ðiện Biên Phủ trên không” và cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước để thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược: xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN. Trên cơ sở kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH; quán triệt sâu sắc Cương lĩnh, đường lối, quan điểm của Ðảng về bảo vệ Tổ quốc, chúng ta cần tiếp tục đẩy mạnh thực hiện kết hợp có hiệu quả các nhiệm vụ kinh tế, quốc phòng, an ninh và đối ngoại; xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân vững chắc; tạo môi trường thuận lợi để phát triển toàn diện đất nước và bảo vệ vững chắc Tổ quốc; góp phần vào giữ gìn hòa bình, ổn định, hợp tác, phát triển trong khu vực và trên thế giới.

Kỷ niệm 40 năm Chiến thắng “Hà Nội – Ðiện Biên Phủ trên không” là dịp để chúng ta ôn lại quá khứ hào hùng, chiến công rực rỡ của quân và dân ta; đồng thời, thấy rõ hơn tầm nhìn chiến lược của Ðảng trong suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Với niềm tự hào sâu sắc và lòng biết ơn vô hạn đối với Ðảng, Bác Hồ, đồng bào, đồng chí đã hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, toàn dân và toàn quân ta tiếp tục phấn đấu thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN trong thời kỳ mới.

(1) Chiến lược “Chiến tranh đặc biệt”, “Chiến tranh cục bộ” và “Việt Nam hóa chiến tranh”.
(2) Hồ Chí Minh, Biên niên sự kiện và tư liệu quân sự, Nxb QÐND, H.1990, tr.203.
(3) Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb CTQG, H.1996, tr.467.

Ðại tướng Phùng Quang Thanh Ủy viên Bộ Chính trị,
Phó Bí thư Quân ủy T.Ư
Bộ trưởng Quốc phòng

nhandan.com.vn

Sức mạnh chính trị – tinh thần trong chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”

(ĐCSVN) – Trong lịch sử nước Mỹ, các thế hệ con cháu của họ sẽ vẫn phải khắc khoải khi đọc những trang viết buồn vì cuộc chiến tranh xâm lược đẫm máu, phi nhân tính ở Việt Nam, và chắc chắn sẽ còn tốn nhiều thời gian, công sức, giấy mực để tìm lời giải đáp: Vì sao cha ông họ – chủ thể của một siêu cường đã thất bại cay đắng ở Việt Nam?

Tại sao siêu pháo đài bay B 52 – vũ khí tối tân hiện đại nhất, niềm kiêu hãnh, tự hào của nền khoa học công nghệ quân sự Mỹ lại tan xác trên bầu trời Thủ đô Hà Nội? Tại sao cha ông của họ buộc phải ngồi vào bàn ký kết Hiệp định Paris, cuốn cờ về nước? Sự thật này không thể che giấu, tương lai nước Mỹ chắc chắn sẽ mang trong mình căn bệnh “Hội chứng Việt Nam”.

Chiến thắng lịch sử “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” là đòn quyết định,
buộc đế quốc Mỹ phải ký kết Hiệp định Paris, lập lại hoà bình ở Việt Nam.
Ảnh tư liệu: Nhân dân Thủ đô vui mừng đón đọc tin Ký kết Hiệp định Paris

Để rút lui trong danh dự và giữ thể diện của một siêu cường quân sự, ngay sau khi Hội nghị Paris bế tắc, đổ vỡ và nước Mỹ lâm vào tình cảnh “đường cùng, ngõ cụt”, Lầu Năm góc, đứng đầu là Tổng thống Mỹ Ních xơn đã tiến hành chiến dịch đánh bom lần cuối từ ngày 18 đến 30/12/1972 vào Hà Nội, Hải Phòng, Thái Nguyên, Hà Bắc, Lạng Sơn… ở miền Bắc Việt Nam nhằm chống lại nhân dân ta với ý định “đưa miền Bắc về thời kỳ đồ đá”, giảm bớt sự tấn công của quân và dân ta ở miền Nam, hòng cứu vãn bộ máy chính quyền Việt Nam cộng hòa đang lung lay, sắp bị sụp đổ.Với kinh nghiệm dày dặn về lãnh đạo đấu tranh cách mạng và sự mẫn cảm chính trị sâu sắc, ngay từ mùa xuân 1963, Bác Hồ đã dự báo sự leo thang của Mỹ và cho rằng, chúng sẽ dùng máy bay đánh phá miền Bắc khi thất bại nặng nề ở chiến trường miền Nam. Vì vậy, từ năm 1963, Bác Hồ đã đề nghị các nước xã hội chủ nghĩa anh em giúp đỡ Việt Nam một số vũ khí hiện đại để có thể chống lại sự oanh tạc của không quân Mỹ khi chúng leo thang đánh phá miền Bắc. Mùa xuân 1968, một lần nữa, Bác dự báo rằng: Sớm muộn đế quốc Mỹ cũng sẽ đưa B 52 ra ném bom Hà Nội rồi có thua mới chịu thua… Ở Việt Nam, Mỹ nhất định thua, nhưng nó chỉ chịu thua sau khi thua trên bầu trời Hà Nội. Thực tiễn cuộc chiến đấu kiên cường, dũng cảm, mưu trí, sáng tạo của quân và dân ta suốt 12 ngày đêm trên bầu trời Thủ đô đã làm nên chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” chấn động địa cầu và việc Mỹ buộc phải cuốn cờ về nước là một minh chứng hùng hồn về tính sát thực, hoàn toàn đúng đắn từ lời tiên đoán thần kỳ của Bác và sự chuẩn bị chu đáo cho cuộc chiến đấu chống siêu pháo đài bay B 52 của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng.

Cuộc tấn công dồn dập suốt “12 ngày đêm” trên bầu trời Thủ đô Hà Nội bằng máy bay ném bom chiến lượcB 52 đã rải thảm, huỷ diệt, gây nên tội ác tột cùng đối với nhân dân ta. Với cuồng vọng dã man, tàn ác, Ních xơn đã tung ra con át chủ bài, xem đó là biện pháp cuối cùng: dùng sức mạnh của vũ khí tối tân hiện đại nhất để đánh thẳng vào các trung tâm đầu não của ta tại Thủ đô Hà Nội và các địa phương lân cận. Trongtrận oanh kích Hà Nội 12 ngày đêm, đế quốc Mỹ đã thả hơn 36.000 tấn bom, vượt quá khối lượng bom đạn Mỹ đã ném xuống Việt Nam thời kỳ từ 1969 đến 1971 trên cả hai miền Nam Bắc của đất nước. Có thể khẳng định rằng, đây là những cuộc ném bom tàn phá, hủy diệt dữ dội nhất, ghê rợn nhất trong chiến tranh Việt Nam và là một trong những cuộc tập kích có cường độ cao nhất trong lịch sử các cuộc chiến tranh hiện đại do Mỹ tiến hành.

Với sức công phá, hủy diệt quá lớn, các đợt ném bom của không quân Mỹ đã gây những tổn thất vô cùng to lớn về người và của đối với Thủ đô Hà Nội và miền Bắc Việt Nam; song quân xâm lược không thể thực hiện được ý định “đưa miền Bắc về thời kỳ đồ đá”; không thể làm quân và dân ta run sợ, chùn bước; thay đổi lập trường về vấn đề cơ bản của hiệp định hoà bình. Hơn thế, cuộc ném bom tàn phá Thủ đô Hà Nội đã gây nênlàn sóng phẫn uất, bất bình, phản ứng dữ dội của nhân dân nước Mỹ và nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới, trong đó có cả các đồng minh chiến lược của Mỹ về tội ác giết người dã man của chúng; uy tín củanước Mỹ và Tổng thống Ních xơn rơi xuống điểm đáy của sự mất niềm tin, mất danh dự, mất nhân phẩm con người.

Bị phản đối quyết liệt trong nước, bị cô lập trên trường quốc tế, đặc biệt là bị thiệt hại quá lớn đối với lực lượng không quân chiến lược…Ních xơn buộc phải ra lệnh chấm dứt ném bom chiến lược B 52 rải thảm,huỷ diệt ở Thủ đô Hà Nội vào ngày 30 tháng 12; đề nghị nối lại đàm phán tại Paris và nhanh chóng ký kếtHiệp định Paris; chấp nhận “cuốn cờ”, rút quân về nước.

Với chiến thắng lịch sử “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”, quân và dân ta, đặc biệt là quân và dân thủ đô Hà Nội đã viết nên trang sử mới, tô đậm nét son trên bản đồ thế giới: Việt Nam – điểm đến của niềm tin, biểu tượng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, lương tri, nhân phẩm của con người yêu chuộng hòa bình, tự do, độc lập. Bằng trí tuệ và sức mạnh Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh, chúng ta đã đập tan “thần tượng B 52”, vũ khí tối tân hiện đại nhất mà nền khoa học công nghệ cao của quân xâm lược đã tạo ra và khẳng định sức mạnh to lớn của cuộc chiến tranh chính nghĩa bảo vệ Tổ quốc; giá trị và ý nghĩa của nhân tố chính trị – tinh thần, ý chí và lòng yêu nước nồng nàn, sâu sắc của dân tộc Việt Nam trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc.

Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” do nhiều nguyên nhân, trước hết và mang ý nghĩa quyết định là nhờ có đường lối lãnh đạo, chỉ đạo sáng suốt, tài tình của Đảng, Bác Hồ và Quân ủy Trung ương. Điều đó được thể hiện ở tầm nhìn xa trông rộng với tư duy chính trị quân sự sắc sảo, độc đáo, sự nhanh nhạy nắm bắt tình hình, dự báo khoa học chính xác về âm mưu, thủ đoạn thâm độc của đế quốc Mỹ là trong sự tuyệt vọng của tham vọng thì sớm hay muộn, chúng sẽ đưa B 52 ra đánh phá Hà Nội. Vì vậy, Đảng, Bác Hồ và Quân ủy Trung ương đã dự kiến thấu đáo mọi tình huống có thể diễn ra và khẩn trương chuẩn bị các phương án tác chiến nhằm chống lại sự “cắn càn” của Mỹ bằng việc ném bom tàn phá Thủ đô Hà Nội, các địa phương khác của miền Bắc. Đồng thời, xây dựng và triển khai chi tiết, cụ thể các kế hoạch tác chiến phòng, chống địch tập kích bằng B 52 vào Hà Nội của Quân chủng Phòng Không – Không quân và quân dân miền Bắc xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở đó, làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị tư tưởng, xác định ý chí quyết tâm chiến đấu, chiến thắng quân xâm lược đến từng người dân để họ tự tin vào chiến thắng, không run sợ B 52 ném bom, đánh phá Hà Nội, Hải Phòng…

Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” là do quân và dân ta đã nhận thức đúng bản chất, âm mưu, thủ đoạn tàn ác của đế quốc Mỹ trong sự tuyệt vọng đã phải dùng đến vũ khí tối tân hiện đại là B 52 như một phương án cuối cùng để đánh phá Thủ đô Hà Nội, gây sức ép để buộc chúng ta phải nhân nhượng ký vào hiệp định chấp nhận các yêu cầu có lợi cho chúng. Vì vậy, chúng ta đã bình tĩnh, tự tin, chủ động, sáng tạo và sẵn sàng chiến đấu chống lại cuộc tập kích đường không chiến lược 12 ngày đêm cuối tháng 12/1972 của Mỹ. Chúng ta tuyệt đối không bị bất ngờ, đã tập trung mọi khả năng vốn có nhằm thẳng vào đối tượng B 52 và đã đánh thắng chúng ngay từ khi mới xuất hiện trên bầu trời miền Bắc. Chính vì vậy, các phương án tác chiến đặt ra trong kế hoạch đánh B 52 bảo vệ Thủ đô Hà Nội, Hải Phòng… của Quân chủng Phòng không – Không quân và quân dân miền Bắc đã được thực hiện xuất sắc.

Ý chí quyết tâm đánh thắng B 52 của quân và dân ta thể hiện sâu sắc ở sự tự giác làm tốt công tác chuẩn bị, sẵn sàng đón đánh địch. Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, Tổng cục Chính trị đã sớm chỉ đạo việc biên soạn, phổ biến các tài liệu tuyên truyền về bản chất, âm mưu, thủ đoạn đánh phá miền Bắc của quân xâm lược Mỹ và hướng dẫn công tác chuẩn bị phòng tránh, đánh địch và các phương án tác chiến của ta. Trong không khí hết sức khẩn trương, mau lẹ, sẵn sàng đánh địch; cán bộ, chiến sĩ Quân chủng Phòng không – Không quân, đặc biệt là các đơn vị tên lửa, ra đa, phòng không Hà Nội đã sớm có tài liệu Cách đánh B 52 để huấn luyện, thống nhất các phương án tác chiến và kết hợp chặt chẽ với các địa phương lân cận Thủ đô, nhờ đó đã chủ động triển khai, thực hiện tốt cách đánh và phòng tránh B 52 của địch. Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng đã điều chỉnh lực lượng, bổ sung vũ khí, trang bị; điều động một số đơn vị phòng không chủ lực về các địa bàn trọng điểm, xây dựng thế trận phòng không 3 thứ quân, chấn chỉnh công tác bảo đảm phục vụ chiến đấu….; thậm chí đã đưa một số đơn vị vào Khu Bốn trực chiến, sẵn sàng đánh địch trước khi chúng tập kích vào Thủ đô Hà Nội. Qua mỗi việc làm, từng ngày chiến đấu, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng và các đơn vị đã kịp thời đánh giá tình hình, rút kinh nghiệm về cách đánh, phòng tránh B 52 hiệu quả nhất để phổ biến cho toàn quân và toàn dân để giảm thiểu tối đa sự mất mát, thương vong.

Có thể khẳng định rằng, nhờ nắm chắc tình hình, hiểu rõ bản chất, âm mưu, thủ đoạn của địch, quân và dân ta đã không bị bất ngờ về chiến lược, chiến dịch cũng như chiến thuật; toàn bộ các phương án đánh địch đã được triển khai thực hiện một cách đồng bộ, nhịp nhàng, ăn khớp. Vì thế, ngày đầu tiên đế quốc Mỹ đưa B 52 đánh phá Hà Nội, Bộ Tổng tham mưu đã phát lệnh báo động trước 25 phút, những ngày sau đó, ta thường phát hiện B 52 trước 30 phút. Tất cả điều đó đã cho phép quân và dân ta luôn giành thế chủ động trên chiến trường ngay từ đầu và duy trì trong suốt chiến dịch trên cơ sở nghiên cứu phát hiện điểm mạnh, yếu của địch, phát huy tối đa sức mạnh của ta, tạo cho mình thế trận có lợi nhất để tiêu diệt chúng; bảo đảm lực lượng nào cũng có thể hạ máy bay, vũ khí nào cũng phát huy tác dụng…Trong “cái khó đã ló cái khôn”, lần đầu tiên đương đầu với cuộc tập kích chiến lược bằng B 52 của địch, nhưng bộ đội ra đa đã tách được B 52 ra khỏi nền nhiễu và tách được B 52 ra khỏi lực lượng hộ tống trong một khối nhiễu dày đặc. Bộ đội tên lửa đã khắc phục được những hạn chế về tính năng binh khí kỹ thuật, phân biệt mục tiêu thật và giả, tránh được tên lửa tự dẫn của máy bay địch (tên lửa không đối đất), nhận diện được B 52.

Cùng với đó, Đảng ta và Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng đã huy động được sức mạnh tổng hợp của thế trận phòng không nhân dân để đối phó có hiệu quả với những thủ đoạn đánh phá nham hiểm của địch. Vì vậy, chỉ trong một khoảng thời gian rất ngắn, chúng ta đã huy động, tập trung lực lượng phòng không chủ lực mạnh nhất cho chiến dịch; đồng thời, phát huy tối đa sức mạnh phòng không của dân quân, tự vệ địa phương; nhờ đó đã bố trí thành thế trận vững chắc trên các địa bàn trọng yếu; đã duy trì được sự phối hợp, hiệp đồng tác chiến chặt chẽ giữa các lực lượng; nhiều trận địa được bố trí trên các tòa nhà cao tầng, gần các mục tiêu trọng điểm, đón đúng các đường bay của địch, chờ chúng đến để tiêu diệt chúng.

Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” có ý nghĩa dân tộc và thời đại sâu sắc. Chúng ta đã nhận được sự giúp đỡ to lớn, hiệu quả về mọi mặt của chính phủ và nhân dân các nước xã hội chủ nghĩa anh em; sự đồng tình, ủng hộ mạnh mẽ của phong trào giải phóng dân tộc, của các lực lượng cách mạng, dân chủ hoà bình và của nhân dân tiến bộ trên toàn thế giới, trong đó có nhân dân tiến bộ Mỹ. Tình đoàn kết, sự ủng hộ quốc tế đã cổ vũ và tăng thêm sức mạnh cho nhân dân ta trong cuộc chiến đấu chống lại cuộc tập kích chiến lược đường không của đế quốc Mỹ vào 12 ngày đêm tháng 12/1972 hết sức dã man, tàn khốc.

Chúng ta có quyền tự hào khẳng định rằng, Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” là một trong những chiến thắng vĩ đại nhất của dân tộc Việt Nam trong thế kỷ XX, là sự chói ngời của ánh sáng chân lý “Không có gì quý hơn độc lập tự do” mà chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định. Với thắng lợi này, quân và dân ta đã viết tiếp những trang sử vàng vào lịch sử chống giặc ngoại xâm của dân tộc Việt Nam với tư cách là chiến thắng của sức mạnh chính trị, tinh thần của toàn thể dân tộc Việt Nam, là chiến thắng của niềm tin, ý chí, của quyết tâm dám đánh, biết đánh và quyết thắng giặc Mỹ xâm lược của dân Việt Nam trong thời đại mới trước vũ khí công nghệ cao của địch.

Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” là thắng lợi của nghệ thuật lãnh đạo, chỉ đạo công tác phòng không nhân dân, phòng tránh, đánh trả cuộc tập kích đường không của đế quốc Mỹ; góp phần quyết định “đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào”; buộc chính quyền Mỹ phải ký Hiệp định Paris, chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam, tạo ra bước ngoặt lịch sử làm tiền đề vững chắc để quân và dân ta đi đến thắng lợi trọn vẹn: giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, đưa giang sơn gấm vóc Việt Nam về một mối, cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội.

Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” đã chứng minh sức sống mãnh liệt của học thuyết Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về chiến tranh cách mạng, về xây dựng và tổ chức lực lượng bảo vệ Tổ quốc trong thời đại mới. Vì vậy, nó mang ý nghĩa triết lý nhân sinh sâu sắc về phát huy sức mạnh của dân tộc và thời đại; về tính đúng đắn, chính nghĩa của đường lối chính trị và quân sự nhân văn, không những với quá khứ mà còn cho cả tương lai. Đồng thời, đã để lại cho các thế hệ con cháu chúng ta nhiều bài học kinh nghiệm vô cùng quý báu, sâu sắc. Đó là quán triệt sâu sắc đường lối, quan điểm của Đảng, chỉ thị, mệnh lệnh của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng về phát huy nhân tố con người, đặc biệt là phát huy nhân tố chính trị – tinh thần của cả dân tộc trong chiến tranh, coi nó là nhân tố quyết định làm nên chiến thắng vĩ đại “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” chấn động địa cầu.

Với chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”, đường lối chính trị, quân sự đúng đắn, sáng tạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và lãnh tụ Hồ Chí Minh càng thêm tỏa sáng; là sự chứng minh hùng hồn, đầy thuyết phục về tài mưu lược của Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng về sự kết hợp hài hòa giữa cách mạng và khoa học, giữa dám đánh và biết đánh, giữa ý chí kiên định, bản lĩnh vững vàng với năng lực chỉ huy, lãnh đạo tài giỏi; giữa khí phách anh hùng và tài trí tuyệt vời của cán bộ, chiến sĩ và nhân dân ta.

Biết địch, biết ta trăm trận trăm thắng không chỉ có ý nghĩa là một bài học kinh nghiệm quý báu cần lưu giữ và truyền lại cho con cháu đời sau qua kinh nghiệm chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”, mà còn là một vấn đề có tính quy luật cần phải nhận thức thấu đáo và vận dụng linh hoạt, mềm dẻo trong nắm bắt tình hình địch, ta; tìm hiểu quy luật hoạt động của địch để phán đoán, có phương án tác chiến tối ưu nhằm ngăn chặn hướng tấn công, sự phá hoại của chúng, giảm bớt thương vong cho ta.

Phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân, xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân, thế trận phòng không nhân dân, tạo nên hệ thống hoả lực phòng không rộng khắp, tạo thành sức mạnh tổng hợp để đánh thắng trận quyết chiến chiến lược “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” là một trong những bài học kinh nghiệm quý báu cần vận dụng vào huấn luyện cách đánh của quân đội ta hiện nay, đặc biệt là huấn luyện cách đánh của bộ đội Phòng không – Không quân nhân dân Việt Nam trong bảo vệ Tổ quốc thời kỳ hội nhập quốc tế. Nhìn lại chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”, mọi người đều phải thừa nhận vai trò to lớn của Bộ đội Ra đa; Bộ đội Không quân tiêm kích; Bộ đội Tên lửa Phòng không; Bộ đội Pháo Phòng không. Ngoài lực lượng chủ lực đó ra, lực lượng phòng không của bộ đội địa phương và dân quân tự vệ, nhất là Thủ đô Hà Nội, thành phố Hải phòng, là lực lượng tại chỗ rộng khắp, đánh máy bay địch bay thấp hoạt động tốp nhỏ, chiếc lẻ, trực tiếp bảo vệ các mục tiêu quan trọng của địa phương có vai trò vô cùng quan trọng. Đồng thờikhẳng định tính đúng đắn, sáng tạo của việc bố trí, sử dụng các lực lượng hợp lý nhằm phát huy hiệu quả của tất cả các lực lượng, các loại vũ khí, trang bị hiện có, tạo thành lưới lửa phòng không nhiều tầng, nhiều lớp, đánh địch ở mọi độ cao, mọi hướng.

Phát huy nhân tố chính trị – tinh thần, tăng cường sức mạnh, ý chí chiến đấu, dám đánh, quyết đánh và quyết đánh thắng quân xâm lược là một nét đẹp trong văn hóa giữ nước của dân tộc Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh. Sức mạnh chính trị – tinh thần của chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” biểu hiện tập trung ở tinh thần dám đánh, quyết đánh và quyết thắng. Đó là yếu tố tiên quyết dẫn đến thắng lợi. Đúng vậy, chỉ có dám đánh, quyết đánh thì chúng ta mới tìm ra được cách đánh, ý chí dám đánh, quyết đánh trở thành một lực lượng vật chất to lớn trong cuộc đấu trí, đấu lực quyết liệt với kẻ thù. Sức mạnh chính trị – tinh thần của chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” được biểu hiện ở tinh thần vượt mọi khó khăn, gian khổ, ác liệt, độc lập tự chủ, tự lực, tự cường, đoàn kết hiệp đồng lập công tập thể; ở lòng tin, quyết tâm đánh thắng trận đầu, bắn rơi tại chỗ, bắt sống giặc lái, tạo niềm tin đánh bại hoàn toàn mọi âm mưu, thủ đoạn của kẻ thù.

Xuất phát từ thực tiễn các cuộc chiến tranh do Mỹ và NATO gây ra từ đầu thập niên 90 của thế kỷ XX đến nay, nhìn lại chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” của 40 năm trước; chúng ta càng hiểu rõ hơn giá trị lịch sử to lớn và ý nghĩa thời đại sâu sắc của chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” chấn động địa cầu. Đây là dịp tốt để chúng ta ôn lại truyền thống hào hùng của quân và dân ta trong những ngày tháng năm có ý nghĩa đặc biệt sâu sắc. Qua đó, chúng ta càng tin tưởng, tự hào hơn về Đảng quang vinh, Bác Hồ vĩ đại, quân đội và nhân dân Việt Nam anh hùng. Niềm tin là sức mạnh, là cội nguồn làm nên mọi chiến thắng. Nó đã, đang và sẽ là nội lực để chúng ta vượt qua khó khăn, thách thức; tiếp tục đưa công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa đi đến thành công./.

Đại tá, PGS.TS Nguyễn Bá Dương
cpv.org.vn

Chiến thắng của tầm cao trí tuệ và bản lĩnh Việt Nam (Bài 6)

Những bài học kinh nghiệm quý báu

Tháng năm qua đi, những dấu tích một thời bom đạn cày xới mảnh đất quê hương có thể bị phai mờ, nhưng tầm vóc và ý nghĩa của chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” vẫn mãi âm vang trong tâm trí của mỗi người Việt Nam nói riêng và nhân loại tiến bộ nói chung. Những bài học kinh nghiệm được rút ra từ đây vẫn nguyên vẹn giá trị để nghiên cứu, vận dụng cho sự nghiệp xây dựng lực lượng và thế trận chiến tranh nhân dân, quốc phòng toàn dân bảo vệ Tổ quốc hôm nay.

* Bài học có Đảng chỉ đường

Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” giữa lòng Hà Nội không chỉ là trận chiến đấu thắng lợi có tầm vóc lịch sử oanh liệt để nhân loại nhắc tới, mà còn là chiến thắng của bản lĩnh và trí tuệ Việt Nam. Bản lĩnh và trí tuệ Việt Nam ấy đã một lần nữa được quân đội và nhân dân Việt Nam chứng minh bằng chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không” vang dội 40 năm về trước. Bài học có Đảng chỉ đường 40 năm sau vẫn còn nguyên giá trị. Nếu ngày ấy, chúng ta không quán triệt sâu sắc đường lối của Đảng về quyết đánh và đánh thắng, chúng ta sẽ không có chiến thắng vang dội như thế.

Đoàn xe vào thủ đô bằng cầu phao nổi.Đoàn xe vào thủ đô bằng cầu phao nổi.

Những bài học kinh nghiệm của chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” được đúc kết lại, đó là: “Giữ vững sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, mà thường xuyên là Quân ủy Trung ương và cấp ủy các cấp trong suốt quá trình chuẩn bị và tiến hành cuộc chiến đấu”. Chiến thắng ấy đã góp phần minh chứng đường lối chính trị, học thuyết quân sự đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và lãnh tụ Hồ Chí Minh, chứng minh tài mưu lược của Bộ Chính trị trong việc đề ra chủ trương, đường lối chiến tranh cách mạng, bảo vệ thủ đô. Đó là sự kết hợp hài hòa giữa cách mạng và khoa học, giữa dám đánh và biết đánh, giữa ý chí kiên định, bản lĩnh vững vàng với năng lực chỉ huy, lãnh đạo tài giỏi của Trung ương Đảng, Quân ủy Trung ương, Bộ Tổng tư lệnh, giữa khí phách anh hùng và tài trí tuyệt vời của người chiến sĩ trên trận địa.*

Bài học “biết địch biết ta, trăm trận trăm thắng”

Đế quốc Mỹ mạnh hơn ta gấp nhiều lần. Nếu so sánh lực lượng, ta yếu hơn Mỹ về vũ khí hiện đại, song ta đã biết vận dụng chiến thuật nắm địch, tức là biết địch yếu cái gì, tập trung đánh vào cái đó. “Biết địch biết ta, trăm trận trăm thắng” là bài học chúng ta đã vận dụng trong chiến dịch này.

Thành công đầu tiên trong trận chiến đẫm máu này, phải kể đến trinh sát của ta trong nhiệm vụ nắm tình hình địch. Trước khi Mỹ rải bom, ta nắm được ý định. Trong khi chúng oanh tạc, ta nắm được âm mưu. Khi chúng dùng hỏa lực mạnh, ta hiểu được quy luật hoạt động của không quân  địch, nghiên cứu đường bay của máy bay trinh sát địch để ta phán đoán hướng bay vào của mỗi đợt tập kích. Thường xuyên nắm chắc âm mưu, thủ đoạn của địch, nắm vững lực lượng, phương tiện, ý đồ và hướng tiến công chủ yếu của địch để có phương án tác chiến phù hợp, hiệu quả, đồng thời nắm chắc lực lượng, tinh thần, khả năng chiến đấu của quân và dân ta để xây dựng phương án tác chiến phù hợp.

Một trong những thành công về cách đánh của ta là tìm ra chỗ yếu của máy bay chiến lược B.52, tổ chức hệ thống ra đa cảnh báo từ xa để phát hiện B.52 ngay khi chúng chưa vào miền Bắc nước ta.

* Bài học về sức mạnh tổng hợp

Trong chiến dịch 12 ngày đêm tháng 12-1972, chúng ta đã rất thành công trong việc phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân, xây dựng thế trận phòng không nhân dân vững chắc, phát huy tốt vai trò nòng cốt của lực lượng thường trực phòng không – không quân, nắm chắc địch, tìm cách đánh sáng tạo tạo nên hệ thống hỏa lực phòng không rộng khắp, thành sức mạnh tổng hợp để đánh thắng kẻ thù.

Đó là sức mạnh của bộ đội phòng không – không quân nhân dân Việt Nam, lực lượng chủ lực của Quân đội nhân dân Việt Nam. Trong thế trận đó, phải kể đến vai trò của các đơn vị: bộ đội ra đa; bộ đội không quân tiêm kích; bộ đội tên lửa phòng không, bộ đội pháo phòng không.

Ngoài lực lượng chủ lực đó, còn có lực lượng phòng không của bộ đội địa phương và dân quân tự vệ ở thủ đô Hà Nội và TP.Hải phòng. Đây là lực lượng tại chỗ rộng khắp, đánh máy bay địch bay thấp hoạt động tốp nhỏ, chiếc lẻ, trực tiếp bảo vệ các mục tiêu quan trọng của địa phương có vai trò quan trọng.

Bố trí, sử dụng các lực lượng hợp lý nhằm phát huy hiệu quả tất cả các lực lượng, các loại vũ khí trang bị hiện có tạo thành lưới lửa phòng không nhiều tầng, nhiều nấc, đánh địch ở mọi độ cao, mọi hướng. Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” cũng chính là chiến thắng của nghệ thuật sử dụng lực lượng, cơ động tác chiến, linh hoạt, sáng tạo. Phát huy cao độ tiềm năng chiến đấu của lực lượng phòng không ba thứ quân, tạo nên hệ thống hỏa lực phòng không rộng khắp, vừa tập trung hiệp đồng tiêu diệt lớn, vừa đồng thời đánh liên tục, tại chỗ, rộng khắp trên các địa bàn. Chúng ta đã phát huy được sức mạnh “Toàn dân tham gia bắn máy bay Mỹ, toàn dân tham gia bắt giặc lái” và đã tạo nên một lưới lửa phòng không dày đặc, nhiều tầng, nhiều nấc, hoạt động nhịp nhàng, có thể đánh địch liên tục từ xa đến gần, đánh địch ở mọi tầng cao, đánh từ nhiều phía, đánh trực diện, đánh từ sau, từ bên sườn, gây cho địch lúng túng không thể cơ động tránh được lưới lửa phòng không, đảm bảo chiến đấu thắng lợi suốt toàn bộ chiến dịch.

Không chỉ có sức mạnh nội sinh trong nước, mà chúng ta còn có sự kết hợp giữa sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại, tranh thủ sự giúp đỡ, ủng hộ của chính phủ và nhân dân các nước xã hội chủ nghĩa anh em; sự đồng tình, ủng hộ mạnh mẽ của phong trào giải phóng dân tộc, của các lực lượng cách mạng, dân chủ hòa bình và của nhân dân tiến bộ trên toàn thế giới, trong đó có nhân dân tiến bộ Mỹ.

Bên cạnh việc phát huy nhân tố chính trị tinh thần, tăng cường sức mạnh, ý chí chiến đấu, dám đánh, quyết đánh và quyết đánh thắng của quân và dân ta là một bài học cực kỳ quan trọng. Đó là yếu tố tiên quyết, chỉ có dám đánh, quyết đánh thì chúng ta mới tìm ra được cách đánh, ý chí dám đánh, quyết đánh trở thành một lực lượng vật chất to lớn trong cuộc đấu trí, đấu lực quyết liệt với kẻ thù. Sức mạnh chính trị tinh thần phải được biểu hiện ở tinh thần vượt mọi khó khăn, gian khổ, ác liệt, độc lập tự chủ, tự lực, tự cường, đoàn kết hiệp đồng lập công tập thể; ở lòng tin, quyết tâm đánh thắng trận đầu, bắn rơi tại chỗ, bắt sống giặc lái, tạo niềm tin đánh bại hoàn toàn mọi âm mưu thủ đoạn của kẻ thù.

Mai Thắng
baodongnai.com.vn

TIN LIÊN QUAN

Chiến thắng của tầm cao trí tuệ và bản lĩnh Việt Nam (Bài 5)

Chiến thắng của sức mạnh đại đoàn kết dân tộc

Cuộc chiến đấu đánh trả máy bay Mỹ trên bầu trời Hà Nội trong 12 ngày đêm năm 1972 là cuộc chiến của trí lực thắng bạo tàn. Cuộc chiến đấu thắng lợi không chỉ buộc Mỹ phải “tâm phục khẩu phục” ý chí quật cường của một dân tộc anh hùng, mà còn khẳng định sức mạnh đoàn kết của một dân tộc Việt Nam yêu chuộng hòa bình.

* Tội ác của kẻ thù

Nhiều người Mỹ trở lại Hà Nội tham quan du lịch, được tận mắt chứng kiến những thước phim tư liệu và di tích để lại trong cuộc chiến đấu 12 ngày đêm ở Hà Nội năm 1972 đã không khỏi bàng hoàng và khâm phục. Bàng hoàng vì sức tàn phá của bom Mỹ, khâm phục bởi tinh thần chiến đấu kiên cường của quân – dân miền Bắc, trong đó có người Hà Nội.

Phố Khâm Thiên bị tàn phá suốt chiều dài 1,2km.Phố Khâm Thiên bị tàn phá suốt chiều dài 1,2km.

Cuộc tập kích đường không chiến lược tháng 12-1972 của đế quốc Mỹ là một cuộc ném bom hủy diệt vô cùng man rợ. Trong 12 ngày và đêm, Mỹ đã sử dụng 663 lần máy bay B.52 và 3.920 lần máy bay chiến thuật, ném xuống Hà Nội, Hải Phòng và một số mục tiêu trọng yếu khác trên miền Bắc nước ta hơn 100 ngàn tấn bom đạn. Riêng thủ đô Hà Nội, chúng đã sử dụng 441 lần máy bay B.52, cùng hàng ngàn lần máy bay chiến thuật, ném hơn 10 ngàn tấn bom. Chúng đã hủy diệt nhiều phố xá, làng mạc; phá sập 5.480 ngôi nhà, trong đó gần 100 nhà máy, xí nghiệp, trường học, bệnh viện, nhà ga; giết hại 2.368 dân thường, làm bị thương 1.355 người khác.

Phố Khâm Thiên, một khu vực có mật độ dân số đông nhất Hà Nội, đã bị bom B.52 tàn phá suốt chiều dài con phố trên 1,2km, gần 2 ngàn ngôi nhà, đền, chùa, trường học, trạm xá bị phá sập; 287 người chết, 290 người bị thương; có gia đình 6 người ngồi trong hầm chết toàn bộ. Cùng với Khâm Thiên, máy bay B.52 của Mỹ còn rải bom xuống hơn 100 điểm dân cư trong thành phố, như: Bệnh viện Bạch Mai, Gia Lâm, Yên Viên, Uy Nỗ, An Dương, cầu Long Biên, làm hơn 1 ngàn người thương vong. Có thể thống kê chi tiết được bao căn nhà bị sập nát, bao làng mạc bị cày xới, bao người dân bị chết vô tội, bao chiến sĩ hy sinh ngoan cường, nhưng có một điều mãi mãi không thống kê được, đó là nỗi đau của một dân tộc bị đế quốc Mỹ xâm lược và nỗi căm hờn của một dân tộc vốn yêu chuộng hòa bình lấy đạo nghĩa làm lẽ sống.

Chiến tranh sẽ lùi xa vào dĩ vãng, vết tích chiến tranh có thể phai mờ theo thời gian, nhưng tội ác đế quốc Mỹ gieo rắc trên bầu trời Việt Nam và trong lòng thủ đô Hà Nội mãi không bao giờ phai nhạt. Sự chiến đấu ngoan cường, sự hy sinh cao cả của quân và dân Hà Nội mãi mãi tạc vào lịch sử. Đó là một trang sử chói lọi ghi dấu oai hùng trong lịch sử chiến tranh vệ quốc của dân tộc Việt Nam.

* Chiến thắng của niềm tin thời đại

Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” của quân – dân ta có ý nghĩa dân tộc và thời đại vô cùng sâu sắc. Đó là mốc son chói lọi không chỉ khẳng định ý chí quật cường, dám đánh, đánh thắng đế quốc Mỹ xâm lược của  một dân tộc nhỏ bé nhưng có ý chí bảo vệ độc lập dân tộc, mà còn là ngọn cờ tiên phong cho các dân tộc bị áp bức về tinh thần vùng dậy đấu tranh chống đế quốc Mỹ có nhiều máy bay hiện đại, nhiều tàu chiến tối tân, nhiều đội quân nhà nghề tinh nhuệ.

“Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” là một trong những chiến thắng vĩ đại của dân tộc Việt Nam ở thế kỷ 20, khẳng định chân lý: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” của Bác Hồ. Với thắng lợi này, quân và dân ta đã viết tiếp những trang sử vàng chiến công chói lọi trong lịch sử chống giặc ngoại xâm của dân tộc Việt Nam. “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” vừa là chiến thắng của sức mạnh chính trị, tinh thần của toàn dân tộc Việt Nam, là ý chí, quyết tâm dám đánh, biết đánh và quyết thắng giặc Mỹ xâm lược, vừa là thắng lợi của đường lối chiến tranh nhân dân, của “thế trận phòng không nhân dân”, sự kế thừa và phát huy truyền thống nghệ thuật quân sự Việt Nam trong thời đại mới; của trí thông minh và lòng dũng cảm của dân tộc ta chống lại cuộc tập kích đường không quy mô lớn của đế quốc Mỹ với vũ khí trang bị hiện đại. Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” là thắng lợi của nghệ thuật lãnh đạo, chỉ đạo công tác phòng không nhân dân, phòng tránh, đánh trả cuộc tập kích đường không của đế quốc Mỹ, góp phần quyết định “đánh cho Mỹ cút” – buộc chính quyền Mỹ phải ký Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam, tạo ra bước ngoặt lịch sử làm tiền đề để đi đến thắng lợi trọn vẹn trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước năm 1975.

Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” mang ý nghĩa thời đại sâu sắc, là chiến thắng của chế độ xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc được thôi thúc bởi ý chí “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” của cả dân tộc, sự cổ vũ những chiến công to lớn của quân và dân miền Nam đánh bại sức mạnh quân sự của chủ nghĩa đế quốc, đứng đầu là Mỹ. “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” là đòn đánh lịch sử, mở đường cho sự sụp đổ của chủ nghĩa thực dân mới ở Việt Nam, góp phần làm tăng thêm sức mạnh và thế tiến công của phong trào cách mạng thế giới vào chủ nghĩa đế quốc; đem lại lòng tin cho nhân loại tiến bộ trên trái đất đang đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.

Cùng với thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” có thể coi như một “cuộc đụng đầu điển hình nhất”, có ý nghĩa và nhiều tác động sâu xa cả về chính trị và quân sự, không những với quá khứ mà còn cho cả hiện tại và tương lai. Qua đó, chúng ta đã để lại cho nhân loại yêu chuộng hòa bình và các dân tộc bị áp bức niềm tin chiến thắng của sức mạnh chính nghĩa, của con đường cách mạng mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn vì mục tiêu hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội.

Mai Thắng
cand.com.vn

Chiến thắng của tầm cao trí tuệ và bản lĩnh Việt Nam (Bài 4)

Lặng lẽ phía sau…

“Để đánh thắng được B.52, ta có rất nhiều việc phải làm, rất nhiều đơn vị tham gia, nhưng đơn vị chủ công đánh B.52 chính là lực lượng tên lửa. Thành tích chiến đấu của các đơn vị hỏa lực thì mọi người có thể xem trong các sách, báo, nhưng điều ít nói đến là công tác bảo đảm sản xuất đạn tên lửa trong những ngày ấy. 40 năm đã qua, nhưng tôi luôn nhớ về họ với những vất vả thầm lặng để góp phần cho thắng lợi của trận “Điện Biên Phủ trên không” năm 1972” – Trung tướng Lương Hữu Sắt (nguyên Cục trưởng Cục Kỹ thuật Phòng không không quân (PKKQ), nguyên Phó chủ nhiệm Tổng cục Kỹ thuật) nói.

Giọng ông chậm rãi kể lại, ngày 31-10-1972, Bộ Tư lệnh Quân chủng PKKQ tổ chức, chỉ đạo hội nghị rút kinh nghiệm chiến đấu và thông qua tài liệu “Cách đánh B.52”. Tư lệnh Quân chủng PKKQ Lê Văn Tri trực tiếp giao nhiệm vụ cho tôi chỉ huy, chuẩn bị đạn tên lửa đánh B.52.

* Nỗi lo “khan hiếm” đạn tên lửa đánh B.52

Ngày đó, với cương vị Cục trưởng Cục Kỹ thuật PKKQ, tôi rất lo lắng việc chuẩn bị đạn tên lửa sẵn sàng cho việc đánh địch khi chúng sử dụng máy bay B.52 vào Hà Nội. Lực lượng tên lửa bảo vệ Hà Nội khi ấy có hai đoàn: Đoàn H61 và Đoàn H57, mỗi đoàn có 4 tiểu đoàn hỏa lực và 1 tiểu đoàn kỹ thuật. Đến bây giờ, tôi muốn nói đến thành tích của các tiểu đoàn kỹ thuật, đó là các Tiểu đoàn 80 thuộc Đoàn H57 và Tiểu đoàn 95 thuộc Đoàn H61, nơi sản xuất đạn, tiếp đạn cho các đơn vị hỏa lực bắn rơi máy bay B.52.

Kíp chiến đấu tên lửa Tiểu đoàn 77 trao đổi kinh nghiệm đánh máy bay B.52 của không quân Mỹ. Ảnh tư liệuKíp chiến đấu tên lửa Tiểu đoàn 77 trao đổi kinh nghiệm đánh máy bay B.52 của không quân Mỹ. Ảnh tư liệu

Các quả đạn tên lửa được tháo rời từng bộ phận, đóng hòm đến ga tàu phải dùng cần cẩu cẩu xuống. Các tiểu đoàn kỹ thuật phải sử dụng xe chuyên dụng vận chuyển những thùng đựng đạn, tên lửa… di chuyển vào khu sơ tán cách ga chừng 30-50km cất giấu rồi lại quay ra ga tiếp tục vận chuyển số tên lửa còn lại vào rừng. Tất cả đều phải làm đêm, làm sao trong một đêm giải phóng số đạn trên khỏi tàu hỏa để địch không phát hiện được. Sau đó, các đơn vị lên nhận đạn tên lửa nơi sơ tán chuyển về đơn vị của mình qua đường Đồng Đăng, Hà Nội, hoặc Đồng Đăng về Hải Phòng.

Việc vận chuyển ấy kéo dài 5-6 đêm mới hết. Rồi tuần sau lại có chuyến tàu đến, công việc lại bắt đầu. Một quá trình chuẩn bị thật gian nan và cũng đòi hỏi hết sức tỉ mỉ. Bởi vì, các bộ phận một quả tên lửa được đóng trong các hòm khác nhau, hòm đầu đạn, hòm đuôi, hòm cánh, hòm nhiên liệu…, tài liệu lại không đi theo cùng, chuyên gia Liên Xô chuyển lý lịch từng quả tên lửa về Bộ Quốc phòng, từ đó mới phát xuống các đơn vị để lắp ráp tên lửa.

Trong 12 ngày đêm địch tập kích đường không vào Hà Nội, điều làm tôi lo lắng nhất là việc bảo đảm sản xuất đạn tên lửa kịp cho các đơn vị hỏa lực đánh địch. Những ngày đầu tiên của chiến dịch, khi địch đưa B.52 vào ném bom Hà Nội, ta không bị bất ngờ, vì bộ đội đã được chuẩn bị sẵn sàng mọi mặt, trong đó đạn tên lửa đã được chuẩn bị đủ bắn. Trong những đêm đó, mỗi một mục tiêu B.52 có khi phải bắn 3 quả. Bầu trời Hà Nội chìm trong khói lửa. Nhiều chiếc B.52 đã bị bắn rơi tại chỗ. Đêm 18-12, ta bắn rơi 3 chiếc B.52. Đêm 19-12, ta bắn rơi 2 chiếc B.52. Đêm 20-12, ta bắn rơi 7 chiếc B.52.

Nhưng sau đêm 19, rạng 20-12, vấn đề thiếu đạn đã trở nên phổ biến ở các tiểu đoàn hỏa lực tên lửa. Chiều 20-12, Tư lệnh và Chính ủy Quân chủng trực tiếp giao nhiệm vụ cho tôi và Cục phó Phan Thái phải tích cực giải quyết vấn đề sản xuất đạn tên lửa, bảo đảm cho nhiệm vụ đánh B.52. Anh Phan Thái trực tiếp xuống Tiểu đoàn Kỹ thuật 95 ở phía Bắc sông Hồng chỉ đạo sản xuất đạn. Còn tôi cùng với Phó phòng Tên lửa Trần Trung Ngọc xuống Tiểu đoàn 80, nơi sản xuất đạn cho các tiểu đoàn hỏa lực Đoàn H57 nắm tình hình.

* Đảm bảo đạn tên lửa đánh B.52

Lòng như lửa đốt, tôi vội xuống tận nơi kiểm tra. Hóa ra việc sản xuất tên lửa không kịp. Qua 3 đêm làm việc cật lực, anh em quá mệt mỏi, mắt thâm quầng, chân tay rã rời. Thiếu đèn để làm đêm, thiếu vải bạt, ny-lông che mưa. Vì vậy, mặc dù Tiểu đoàn phó Nguyễn Huy đã tổ chức phát động phong trào “Thi đua quyết thắng B.52”; 100% quân số, kể cả anh em đang yếu mệt đều công tác với quyết tâm cao, nhưng năng suất sản xuất đạn tên lửa vẫn thấp. Tôi đã thấy nhiều đồng chí ngủ gục bên máy. Tư lệnh Lê Văn Tri trực tiếp giao nhiệm vụ cho tôi phải chỉ đạo tìm phương án tháo gỡ với Tiểu đoàn 80.

Sáng 21-12, tôi đã họp tất cả các chỉ huy đơn vị cùng họp bàn đề ra phương án. Tôi đề nghị Tư lệnh Quân chủng điều Tiểu đoàn Kỹ thuật của Đoàn H74 (vừa từ Quảng Trị ra) tăng cường cho dây chuyền sản xuất tên lửa của Tiểu đoàn 80; điều đội lắp ráp đạn của xưởng A31 xuống tăng cường tiếp cho Tiểu đoàn 80. Việc sản xuất tên lửa được chia một ngày ra 3 kíp, dây chuyền liên tục làm việc…

Theo đề nghị của Cục Kỹ thuật, Bộ Tư lệnh Quân chủng đã chỉ thị cho quyền Cục trưởng Cục Hậu cần Mai Xuân Tiến tổ chức cho cơ quan mang đường, sữa, lương khô và cả thuốc chống buồn ngủ xuống các tiểu đoàn kỹ thuật cấp phát đến tận tay cán bộ, chiến sĩ… Những quả đạn mang dòng chữ: “Trả thù cho đồng bào Hà Nội” bằng sơn trắng lần lượt rời dây chuyền sản xuất theo các xe TZM về các tiểu đoàn hỏa lực tên lửa. Năng suất, chất lượng lắp ráp đạn tên lửa tăng lên rõ rệt. Bình thường, một dây chuyền sản xuất tên lửa chỉ làm được 8 quả theo quy định, nhưng sau khi nghiên cứu cải tiến quy trình lắp ráp đạn, tổ chức sản xuất hợp lý đã tăng lên tới 20 quả/ngày đêm. Từ ngày 21 đến 25-12, đạn tên lửa đã giải quyết xong, cũng là lúc kẻ địch đang tạm dừng các đợt tấn công ác liệt.

Từ 22 giờ 5 đêm 26-12, địch sử dụng các chiếc B.52 bay 105 lần và các máy bay chiến thuật hộ tống bay 110 lần đánh ồ ạt, liên tục, đồng thời từ nhiều hướng và đánh tập trung một đợt vào nhiều mục tiêu trên của khu vực Hà Nội, Hải Phòng và Thái Nguyên. Đây là trận đánh lớn nhất và là trận then chốt trong cuộc tập kích đường không chiến lược của địch.

Nhưng chúng đã bị bất ngờ trước lưới lửa của phòng không của quân ta. 8 máy bay B.52 bị bắn rơi trong đêm. Ngày 27-12, địch cho máy bay đến ném bom khu vực tập trung sản xuất tên lửa. Do dự đoán trúng ý đồ của địch, ta đã sơ tán trước đó, chỉ còn vài chiếc máy hỏng và vỏ đạn ở lại…

Kết thúc chiến dịch “Điện Biên Phủ trên không”, cả nước nức lòng trước những chiến công của bộ đội PKKQ, khi có đến 81 máy bay Mỹ bị bắn rơi, trong đó có 34 máy bay B.52. Rất nhiều đơn vị hỏa lực được tuyên dương anh hùng. Trong chiến công chung ấy, có sự đóng góp công sức trí tuệ của cán bộ, chiến sĩ các tiểu đoàn kỹ thuật 80, 95… Đó là một chiến công thầm lặng không kém gì chiến công của các chiến sĩ trực tiếp bắn rơi máy bay B.52.

Đoàn Hoài Trung
baodongnai.com.vn

(Theo lời kể của Trung tướng Lương Hữu Sắt)

Chiến thắng của tầm cao trí tuệ và bản lĩnh Việt Nam (Bài 3)

Bài 3: Mảnh xác B.52 đầu tiên

Máy bay chiến lược B.52 (còn được gọi là “siêu pháo đài bay B.52”) là máy bay chiến đấu hiện đại nhất, là niềm tự hào của không lực Hoa Kỳ. Việc bắn hạ chiếc B.52 đầu tiên tại trận địa Hà Nội tác động rất lớn đến tư tưởng và quyết tâm chiến đấu của quân – dân ta, khẳng định niềm tin to lớn ta có thể đánh bại cuộc tập kích đường không chiến lược của đế quốc Mỹ vào miền Bắc.

Trung tá Võ Công Lạng, nguyên Trung đoàn phó Trung đoàn H61, Đoàn Phòng không Hà Nội kể lại “những giây phút sung sướng đến tột cùng” khi được tham gia và chứng kiến quân ta bắn rơi chiếc B.52 đầu tiên ấy. Ông kể lại:

* Chiếc B.52 đầu tiên bị bắn hạ ở trận địa Hà Nội

… Đêm ấy, trong hầm chỉ huy Đoàn H61 ở Đông Anh, Trung đoàn trưởng Trần Hữu Tạo, Chính ủy Dương Đình Thảo và tôi theo dõi, chỉ huy trận đánh của Tiểu đoàn 59 vào đội hình máy bay B.52 Mỹ.

Xác máy bay B.52 bị bắn rơi trên bầu trời Hà Nội. Ảnh tư liệuXác máy bay B.52 bị bắn rơi trên bầu trời Hà Nội. Ảnh tư liệu

20 giờ 13 ngày 18-12-1972, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 59 Nguyễn Thăng lệnh phóng quả đạn đầu tiên. Quả tên lửa xé tan màn nhiễu dày đặc, lao thẳng vào chiếc B.52, “lôi cổ” nó xuống. Từ trên chòi trinh sát của Sở Chỉ huy, những tiếng reo to đầy phấn chấn: “Cháy rồi, máy bay cháy rồi, cháy to quá…!”.

Tin tức các đơn vị báo về dồn dập, Tiểu đoàn 59 khẳng định bắn rơi B.52. Tiểu đoàn 57 báo cáo: “Kính TZK của tiểu đoàn nhìn thấy chiếc máy bay bị bắn rơi rất to”. Trung đoàn trưởng khẳng định: “Rất to là B.52 rồi!”. Nhưng khi Chính ủy Trung đoàn báo cáo về Sở Chỉ huy Sư đoàn, anh Văn Giang, Chính ủy Sư đoàn hỏi lại: “Có chắc chắn là B.52 không?”.

Rõ ràng là cấp trên thận trọng khi nghe báo cáo B.52 bị bắn rơi tại chỗ. Ngày 17-9-1967, ta bắn rơi chiếc B.52 đầu tiên ở Vĩnh Linh (Quảng Trị). Ta còn bắn rơi chiếc B.52 ở Trường Sơn, trong chiến dịch Trị Thiên. Nhưng một phần chúng cố lết về sân bay dự bị, một phần chiến trường gần biển, nên chúng rơi xuống biển phi tang. Thực tế, đến thời điểm 18-12-1972, ta chưa sờ được xác chiếc B.52 nào, nên địch rất huênh hoang vào con “ngoáo ộp” B.52.

Vì vậy, trước tin B.52 bị bắn rơi tại trận địa Hà Nội, Chính ủy Sư đoàn Văn Giang chỉ thị: “Cần phải xác minh, đồng chí Võ Công Lạng đến tận nơi xem sao”. Trước khi đi, anh Tạo còn dặn: “Đường sá lúc này khó đi lắm. Có thể còn nguy hiểm nữa. Bằng mọi cách phải xác minh cho sớm. Có phải B.52 không? Nếu xe hỏng, đường tắc thì bơi qua sông Cà Lồ mà đi”.

Ngồi trên xe, tôi nghĩ đến những ngày đầu năm 1972 tôi vào Quảng Trị đánh B.52. Lúc đó, tôi đã ao ước được cầm mảnh vỡ của xác B.52 về Hà Nội minh chứng cho cả thế giới biết chúng tôi đã bắn rơi B.52 như thế nào. Nhưng thằng giặc cũng xảo quyệt, dù bị bắn rơi cũng cố lết ra biển Đông phi tang…

Xe chạy khoảng 3km mới tới đường 3. Chúng tôi sẽ phải vượt qua trọng điểm Đông Anh, sau đó qua cầu Phù Lỗ… trước mặt ga Đông Anh đang cháy. Chúng tôi phải quay xe đi men theo các rìa làng lên đường cái. Trời mùa đông gió rét, nhưng một ý nghĩ làm sao đi nhanh nhất đến được chỗ máy bay rơi, xem nó là “thằng nào” cứ choán lấy tâm trí chúng tôi. Đến ngã ba Phù Lỗ, Kim Anh, Vĩnh Phúc, chúng tôi gặp một tổ dân quân đang xúm xít ven quốc lộ. Tôi hỏi: “Có gì không các đồng chí?”. Một đồng chí dân quân trả lời: “Máy bay rơi đúng vào xe lu đường”.

Tôi vội xuống xe, bật đèn pin thì thấy một động cơ máy bay Mỹ đang nằm đè lên chiếc xe lu bẹp dúm. Nhìn quanh đống sắt chẳng thấy một ký hiệu gì. Một cô dân quân nói: “Các chú phải đi vào trong cánh đồng kia. Còn nhiều đám cháy lắm”.

Theo tay chỉ của cô, chúng tôi nhằm một đám cháy lớn nhất mà chạy tới. Lại gặp một tốp dân quân: “Các anh đừng vào, nhỡ còn bom đạn nó nổ. Lửa cháy lâu lắm rồi mà chưa tắt”. Mặc, chúng tôi cứ lao thẳng vào. Nhiều mảnh vỡ máy bay vương vãi, nhưng chưa thấy chữ mà chúng tôi cần tìm.

* “Xác thằng B.52 đây rồi!”

Vòng vèo theo những bờ ruộng ướt đẫm sương đêm, một đống xác máy bay lù lù như những tòa nhà hiện ra. Chúng tôi chia nhau đi tìm. Một đồng chí trợ lý reo lên: “Anh Lạng ơi! Có cái này hay lắm…!”.

Tôi chạy lại. Dưới ánh đèn pin là tấm huy hiệu của Bộ Chỉ huy không quân chiến lược SAC (Mỹ). Tôi dịch cho anh em: “Strategic Air là không quân chiến lược. Command là chỉ huy. Strategic Air Command là chỉ huy không quân chiến lược. Chúng ta nắm chắc trong tay B.52 rồi”.

Tôi chui vào trong lòng chiếc máy bay, dùng đèn pin xăm xoi. Xộc vào trong mũi tôi là mùi nước hoa. Lòng tôi lúc đó trào lên niềm căm giận. “Bọn đi giết người hàng loạt, định dùng những lọ nước hoa để át mùi máu tanh đây!”. Trong khoang lái, tôi thấy dây điện chằng chịt, hàng chục chiếc đồng hồ nằm trước mặt. Tôi sướng rơn lên khi thấy nhãn hiệu chữ “B.52-G” gắn trên hộp khống chế độ cao. Một cảm giác sung sướng mạnh mẽ tràn đến, giây phút ấy tôi không bao giờ quên. Sự mong đợi cầm mảnh vỡ của xác chiếc B.52 không phải bây giờ mới có. Đồng đội tôi đã có những người ra đi không về. Hình ảnh cả một tiểu đoàn tên lửa bị trúng bom B.52 ở Vĩnh Linh năm 1966 lướt qua đầu tôi trong khoảnh khắc. Sự thật mong đợi đến quá đột ngột, tôi lặng đi hồi lâu, tay chân lóng ngóng. Cuối cùng, sực nhớ ra nhiệm vụ, tôi vội rút con dao găm bên người, cạy chiếc nhãn hiệu. Tôi cẩn thận cho vào túi áo bông, lấy kim băng cài lại. Lúc này, tôi chỉ mong nhanh chóng về báo cáo sở chỉ huy, nên kéo vội hai đồng chí trợ lý đi cùng ra xe. Ngồi trên xe mà tôi đi như trong mơ, mặc cho lửa cháy, tiếng nổ còn đâu đây, tôi lúc đó như say chiến thắng. Tiểu đoàn 59 tài giỏi quá, ngay những quả đạn đầu tiên đã “lôi cổ” chiếc B.52-G hiện đại xuống cánh đồng làng, mở đầu cho chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không”. Trước mắt tôi hiện ra hình ảnh Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Thăng xốc vác, hăng hái…

Chưa chạy đến hầm chỉ huy chân tôi đã ríu lại. Ngực đập thình thịch. Nghe trong hầm lao xao “ông Lạng về rồi!”, tôi vội chạy vào hét toáng: “Xác thằng B.52 đây rồi!”.

Tôi đặt mảnh xác và tấm kim loại có chữ B.52-G lên bàn. Trung đoàn trưởng Trần Hữu Tạo ôm chầm lấy tôi thốt lên nghẹn ngào: “B.52-G…”.

Anh chạy tới bàn điện thoại. Anh gọi nhắc tất cả các tiểu đoàn trưởng cầm máy. Mắt anh rưng lệ, nghẹn ngào xúc động: “Thông báo tới từng cán bộ, chiến sĩ của Trung đoàn: Trung đoàn ta đã bắn rơi tại chỗ chiếc B.52-G của giặc Mỹ! Chúng ta nhất định sẽ bắn rơi nhiều chiếc khác…”.

Cả sở chỉ huy lặng đi xúc động… Không bao giờ tôi quên được giây phút ấy. Nhiều năm đã trôi qua nhưng mỗi lần đến dịp tháng chạp, hình ảnh xác chiếc B.52-G lại hiện về trong tôi…

Đoàn Hoài Trung
baodongnai.com.vn

(Ghi theo lời kể của Trung tá Võ Công Lạng, nguyên Trung đoàn phó Trung đoàn H61, Đoàn Phòng không Hà Nội)

Chiến thắng của tầm cao trí tuệ và bản lĩnh Việt Nam (Bài 2)

Bài 2: Cuộc chiến đấu không cân sức

Với chiến dịch Linebacker II, ngày 17-12-1972, Tổng thống Mỹ Richard Nixon chính thức ra lệnh sử dụng không quân chiến lược B.52, tập kích với quy mô lớn hủy diệt vào Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, thị xã ở miền Bắc. Bộ Tổng tham mưu ra lệnh cho Quân chủng Phòng không – không quân (PKKQ) chuyển trạng thái sẵn sàng chiến đấu cao nhất, đề phòng máy bay B.52 đánh từ vĩ tuyến 20 trở ra. Cuộc chiến đấu không cân sức giữa hơn 4 ngàn máy bay Mỹ và quân dân thủ đô Hà Nội bắt đầu.

 QUYẾT TÂM ĐÁNH MỸ

Để đối phó với mưu đồ của Mỹ, Trung ương Đảng và Bác Hồ đã lường trước được sự tấn công bằng không lực của Mỹ trên bầu trời Hà Nội từ những năm 1964. Đầu xuân 1968, Bác Hồ triệu tập đồng chí Phùng Thế Tài, Phó tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam và đồng chí Đặng Tính, Chính ủy kiêm Tư lệnh Quân chủng PKKQ đến báo cáo tình hình. Tại đây, Bác dự báo rằng: “Sớm muộn rồi đế quốc Mỹ cũng sẽ đưa B.52 ra đánh Hà Nội rồi có thua nó mới chịu thua. Phải dự kiến trước tình huống này càng sớm càng tốt, để có thời gian mà suy nghĩ, chuẩn bị…  Ở Việt Nam, Mỹ sẽ nhất định thua, nhưng nó chỉ thua sau khi thua trên bầu trời Hà Nội”.

Ga Hà Nội bị bom Mỹ tàn phá.Ga Hà Nội bị bom Mỹ tàn phá.

Ngày 24-11-1972, Tổng tham mưu trưởng Văn Tiến Dũng đã phê chuẩn kế hoạch tác chiến đánh trả cuộc tập kích bằng B.52 của Mỹ và chỉ thị: “Quân chủng PKKQ phải hoàn thành công tác chuẩn bị trước ngày 3-12-1972… Trước ngày Nixon nhậm chức, Mỹ có thể mở đợt tập kích bằng không quân chiến lược ra Hà Nội, Hải Phòng, phải nắm chắc địch, tuyệt đối không để bị bất ngờ…, tập trung mọi khả năng để tiêu diệt B.52”.

Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lê Duẩn đã xuống Sở chỉ huy Quân chủng PKKQ, trực tiếp nghe Tư lệnh Lê Văn Tri trình bày về kế hoạch đánh B.52. Đồng chí Lê Duẩn nhấn mạnh: “Để gây sức ép với ta, trước sau Mỹ cũng sẽ đưa B.52 ném bom Hà Nội, quân dân ta, mà nòng cốt là Quân chủng PKKQ phải kiên quyết làm thất bại âm mưu của chúng”.

ĐÓN MÁY BAY MỸ TRONG NIỀM TIN THẮNG LỢI

Mặc dù đã chuẩn bị tất cả những phương án chiến đấu, song bom Mỹ thả xuống phố trong lòng Hà Nội quá khủng khiếp, trong đó phố Khâm Thiên, cầu Long Biên, Cửa Nam là những địa điểm Mỹ trút bom nhiều nhất. Những người lính canh bầu trời Hà Nội đón máy bay Mỹ trong niềm tin: “Sẵn sàng nhả đạn, Hà Nội chiến đấu đến cùng, quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”.

18 giờ 50 ngày 18-12-1972, toàn Quân chủng PKKQ chuyển trạng thái chiến đấu vào cấp 1. 19 giờ 15, Chỉ huy Trung đoàn 291 báo cáo về Sở chỉ huy: “B.52 đang vào miền Bắc”. 19 giờ 25, không quân ta được lệnh cất cánh đón đánh các tốp máy bay chiến thuật Mỹ ở Tam Đảo, Việt Trì. Máy bay F.111 ném bom sân bay Nội Bài, Kép… Từ 19 giờ 20 đến 20 giờ 18, nhiều tốp máy bay B.52 (mỗi tốp 3 chiếc) liên tiếp dội bom xuống khu vực sân bay Nội Bài, Đông Anh, Yên Viên, Gia Lâm. Hầu hết các địa bàn trọng yếu, các mục tiêu quân sự của ta đều bị bom Mỹ ném bom. Cả miền Bắc sôi sục căm thù trong lửa đạn chiến tranh.

Không thể để máy bay Mỹ làm càn, 19 giờ 44, quả đạn tên lửa đầu tiên của Tiểu đoàn 78 thuộc Trung đoàn Tên lửa Phòng không 257 được phóng lên bầu trời Hà Nội. Ngay sau đó, Tiểu đoàn 59 thuộc Trung đoàn tên lửa Phòng không 261 phóng 2 quả đạn hạ gục một máy bay B.52. Đây là chiếc máy bay B.52 đầu tiên bị bắn rơi tại chỗ trên bầu trời Hà Nội, cách trận địa gần 10km.

Bị bắn cháy trên bầu trời Hà Nội, Mỹ điên cuồng tăng cường sức mạnh quân sự. Trong đêm 18 và rạng sáng 19-12, Mỹ huy động 90 lần chiếc B.52 ném 3 đợt bom xuống Hà Nội, 8 lần chiếc F.111 và 127 lần chiếc máy bay cường kích, bắn phá các khu vực nội, ngoại thành. Mỹ đã ném khoảng 6.600 quả bom xuống 135 địa điểm thuộc Hà Nội, 85 khu vực dân cư bị trúng bom làm thương vong 300 người. Quân và dân ta bắn rơi 6 máy bay, trong đó có 2 máy bay B.52 rơi tại chỗ.

Từ đêm 19 đến 29-12, Mỹ liên tục tấn công Hà Nội và các địa phương khác trong toàn miền Bắc bằng máy bay chiến lược B.52, máy bay F.111 “cánh cụp cánh xòe”, máy bay F4, F5 và các loại phương tiện tiến công đường không hiện đại khác. Trong 12 ngày đêm oanh liệt đó, không có ngày nào quân dân ta không bắn rơi máy bay B.52 của Mỹ. Ngày 25-12, lấy cớ nghỉ lễ Noel, địch tạm ngừng cuộc tập kích để củng cố lực lượng, ổn định tinh thần và tìm thủ đoạn đánh phá mới.

Cao điểm nhất là ngày 26-12, lúc 22 giờ 5, địch sử dụng 105 lần chiếc máy bay B.52 và 110 lần chiếc máy bay chiến thuật hộ tống đánh phá ồ ạt, liên tục, đồng thời từ nhiều hướng và tập trung vào nhiều mục tiêu ở 3 khu vực: Hà Nội, Hải Phòng và Thái Nguyên. Trận chiến đấu đêm 26-12 diễn ra trong hơn một giờ, ta đã bắn rơi 8 máy bay B.52 và 10 máy bay chiến thuật khác. Chiến thắng này đã làm suy sụp tinh thần và ý chí của giới cầm quyền Nhà Trắng và giặc lái Mỹ.

Đến đêm 29-12, máy bay B.52 của Mỹ chỉ dám đánh vào khu gang thép Thái Nguyên, Đồng Mỏ (Lạng Sơn), Kim Anh (Vĩnh Phú), mà không dám tập trung lực lượng ở tọa độ lửa Hà Nội nữa.

CUỘC TẬP KÍCH THẤT BẠI HOÀN TOÀN

Trước sự thất bại lớn và liên tiếp trong 12 ngày đêm đánh phá miền Bắc Việt Nam, 7 giờ ngày 30-12, Nixon buộc phải tuyên bố ngừng ném bom từ vĩ tuyến 20 trở ra và chấp nhận quay lại bàn đàm phán. Cuộc tập kích chiến lược quy mô lớn bằng máy bay B.52 của Mỹ vào Hà Nội, Hải Phòng và miền Bắc Việt Nam đã bị thất bại hoàn toàn.

Trong 12 ngày đêm, từ ngày 18 đến 29-12-1972, có 81 máy bay Mỹ bị ta bắn rơi, gồm: 34 chiếc B.52, 5 chiếc F.111, 21 chiếc F4CE, 4 chiếc A6A, 12 chiếc A7, 1 chiếc F.105D, 2 chiếc RA5C, 1 chiếc trực thăng HH53, 1 chiếc trinh sát không người lái 147SC. Trong hồi ký của mình, có đoạn Nixon viết: “Nỗi lo của tôi trong những ngày này không phải là lo những làn sóng phản đối, phê phán nghiêm khắc ở trong nước và trên thế giới, mà chính là mức độ tổn thất về máy bay B.52 quá nặng nề”.

Đi đôi với tổn thất về máy bay, phía Mỹ còn phải chịu thêm tổn thất về người lái. Để đào tạo được 1 phi công, đặc biệt là phi công chiến lược B.52, phi công F.111 phải tốn khá nhiều tiền bạc và thời gian. Chỉ hơn 10 ngày, Không quân Hoa Kỳ đã mất gần 100 phi công (bị chết và bị bắt). Đây đều là những phi công kỳ cựu, có giờ bay cao, có phi công có hơn 6 ngàn giờ bay.

Thông thường, trong chiến tranh, ở những trận tập kích đường không lớn, tỷ lệ tổn thất về máy bay của phe tiến công khoảng 1-2%. Vậy mà, trong cuộc tập kích không quân chiến lược cuối tháng 12-1972 ở Hà Nội, tỷ lệ tổn thất về máy bay của Mỹ (chỉ tính riêng B.52) đã lên tới 17% (34/193 chiếc), thực sự là sự tổn thất khủng khiếp.

Mai Thắng
baodongnai.com.vn