Thư viện

“Cái lon” Chủ tịch nước

Đại tá Việt cường (tên thật là Nguyễn Đức Kính), quê ở làng Khâu Chư, xã Đông Viên, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Cạn. Trước Cách mạng Tháng Tám, ông được Đại tướng Hoàng Văn Thái, khi đó là phái viên của Việt Minh về hoạt động ở địa phương, giác ngộ cách mạng và giới thiệu vào quân giải phóng.

Sau khi dự trường Quân chính kháng Nhật khóa I (tháng 5/1945) Việt Cường được điều về làm thư ký đánh máy chữ ở Ban chỉ đạo khu giải phóng, kiêm phụ trách túi thuốc (vì anh đã từng học y tá). Công việc đầu tiên mà Việt Cường được giao là đánh máy tập tài liệu huấn luyện cán bộ cách mạng của ông Lưu Thiếu Phàng (người trung Quốc). Việt Cường được ở cùng nhà với đồng chí Võ Nguyên Giáp và đồng chí Lý (sau này là cận vệ của Bác Hồ). Nhà ở đều thuộc phạm vi lán Nà Lừa, cách làng Kim Luông (Tân Trào) chừng 400m. Tuy ở gần nhưng Việt Cường vẫn không biết Bác Hồ là ai nên vẫn gọi là “ông cụ” khi giao tiếp. Hàng ngày Việt Cường thường để ý đến cung cách sinh hoạt rất đặc biệt của “ông cụ” như ăn cơm thì vết sạch bát, không bỏ sót cơm trong bát bao giờ. Mỗi sáng xuống suối đánh răng, rửa mặt thì “ông cụ” lại tự sách hai bương nước về lán. Ông cụ còn dặn Việt Cường thu gom những tờ giấy đánh máy bị hỏng lại để “ông cụ” viết vào trang bên. Quần áo thì ngày này tháng khác “ông cụ” chỉ mặc vải thô, nhuộm tràm, giống như đồng bào địa phương, trong đó có một chiếc áo có hai miếng vá ở vai và khuỷu tay.
Một hôm, có hai vợ chồng già làng Kim Long mang đến biếu “ông cụ” một bộ quần áo mới, còn thơm mùi tràm. Hai ông bà nói rất khẩn khoản, chân tình nhưng “ôngcụ” một mực khước từ:

– Tôi thành thật cám ơn lòng tốt của ông bà, lòng tốt của bà con dân bản đối với cách mạng và cá nhân tôi. Quần áo của tôi vẫn đủ mặc, có bộ tuy đã sờn, có chỗ rách nhưng được vá lại thì vẫn mặc tốt.

Cử chí đó của “ông cụ” gây một ấn tượng sâu sắc đối với Việt Cường.

Sau này, Việt Cường trở thành Chính ủy Trung đoàn Biên phòng đầu tiên. Ông có thói quen ngày nào cũng mở đài để kịp thời nắm bắt chủ trương, đường lối của Đảng, Nhà nước và theo dõi tình hình thời sự trong nước và thế giới. Cũng như thường lệ, một ngày tháng 4 – 1956, ông mở đài thì thì được nghe Đài phát thanh đưa tin Chủ tịch Hồ Chí Minh đi thăm Thành phố Hải phòng. Trong cuộc mít tinh, Bác kêu gọi toàn dân phải tiết kiệm để xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và dốc lòng dốc sức chi viện cho miền Nam. Bác nói ngắn gọn nhưng rất cụ thể và dễ hiểu như: Việc cưới xin, giỗ ,Tết, ma chay không bày biện tốn kém, ăn uống thì chỉ cần đủ no, không đòi hỏi cao lương mỹ vị, mặc thì không nên đua đòi xa hoa. Đang nói thì Người chỉ lên viếng vá trên vai áo rồi bảo: Không phải đồng bào không đủ sức để may cho Bác bộ quần áo mới, mà miếng vá này là “cái lon” Chủ tịch nước đấy!

Nghe đến đây, Chính ủy Việt Cường rất xúc động. Ông càng thương càng kính trọng đức tính giản dị, tiết kiệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Những điều mà ông trực tiếp chứng kiến và nghe kể lại về lối sống của Bác Hồ đã ngấm vào tim óc. Từ đó ông càng cố gắng phấn đấu, noi gương Bác không ngừng . Năm 1972 ông làm phó Chính ủy Cục Hậu cần Quân khu Tây Bắc. Khi đi kiểm tra Cụm kho xăng xe, thấy anh em thợ thu lại được khá nhiều dầu kém chất lượng, ông định xin vài lít về thắp đèn cho các con học. Hay lần ông vào kiểm tra một kho tổng hợp của quân khu, thấy có nhiều kiện vải, ông nghĩ nếu xin thì 5 đức con của ông sẽ có quần áo mới. Nhưng lần nào cũng vậy, ông đều đấu tranh tư tưởng: Nếu mình xin rồi người khác cũng làm vậy là làm xấu hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ.

Năm 1986, ông Việt Cường về hưu với quân hàm đại tá. Hồi đó cuộc sống còn khó khăn, hai vợ chồng ông phải bươn trải nhiều nghề để nuôi cho các con ăn học, nhưng tâm hồn ông rất thanh thản.

Ngọc Minh

bqllang.gov.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh với việc bảo vệ môi trường

Vũ trụ là sự chuyển động không ngừng từ khai thiên lập địa đến nay và chắc chắn, sẽ còn đến muôn đời sau nữa, vẫn chuyển động. Nếu không có chuyển động thì chắc chắn không có sự sống, không có ngày đêm sáng tối. Nắm vững và am tường sự chuyển động phát triển, tồn tại theo quy luật tự nhiên, Bác Hồ đã có tầm nhìn xa trông rộng về vấn đề bảo vệ môi trường, nên chính Bác là người đặt nền móng cho sự nghiệp bảo vệ môi trường ở nước ta.

Ngay từ những năm tháng hoạt động ở nước ngoài, Người đã có những bài viết về vấn đề bảo vệ môi trường, trong đó có nhiều bài phê phán chế độ thực dân khai thác tài nguyên, huỷ hoại môi trường ở các nước thuộc địa. Khi nước nhà giành được độc lập và làm cuộc kháng chiến trường kỳ, trong thời kỳ hoạt động ở vùng căn cứ cách mạng, Bác quan tâm căn dặn cán bộ, chiến sỹ tăng gia sản xuất, giữ gìn rừng cây, vệ sinh nơi ở, sống hoà hợp với thiên nhiên. Khi miền Bắc hòa bình tuy bận trăm công nghìn việc, nhưng một trong những điều Bác luôn quan tâm là vấn đề bảo vệ môi trường. Hầu như năm nào Bác cũng có những bài viết và cuộc nói chuyện liên quan đến vấn đề môi trường trong các chuyến đi thăm các địa phương.

Đặc biệt vào các dịp Tết, bước vào năm mới, Bác là người khởi xướng, duy trì phong trào Tết trồng cây, thăm hỏi động viên những gương người tốt, việc tốt trong hoạt động bảo vệ môi trường. Tuy ở thời điểm đó vấn đề này chưa thật cấp bách, nhưng Bác rất quan tâm. Bản thân Bác là một tấm gương sáng về sống hoà hợp với thiên nhiên. Những năm cuối đời Bác càng quan tâm đế vấn đề trồng cây gây rừng.

Ngày 1/1/1960, Bác đến công viên Bảy Mẫu (nay là công viên Thống Nhất), trồng cây đa lưu niệm (nay cây đa đã xoè tán, vững gốc bền cành toả bóng xuống mặt nước Công viên). Người đi thăm nói chuyện với cán bộ, nhân dân tham gia lao động, phân tích lợi ích của việc trồng cây, Người căn dăn phải trông nom săn sóc, bảo vệ cây trồng và hứa sẽ gửi phần thưởng cho đơn vị nào thi đua khá nhất.

Sáng 6/1/1960, Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi toàn dân hưởng ứng một tháng trồng cây từ 6/1- 6/2/1960 nhân dịp kỷ niệm lần thứ 30 ngày thành lập Đảng. Người kêu gọi mỗi người trồng ít nhất một cây, chăm sóc tốt. Đợt trồng cây này gọi là “Tết trồng cây” và là Tết trồng cây đầu tiên do Chủ tịch Hồ Chí Minh phát động. Người nói: “Mùa xuân là Tết trồng cây
Làm cho đất nước càng ngày càng xuân”

Ngày 19/1/1960 với bút danh T.L Bác Hồ viết bài “Tết trồng cây đã thắng lợi bước đầu” đăng trên Báo Nhân dân số 2133 nêu gương một số địa phương đã làm tốt công tác vân động nhân dân tham gia Tết trồng cây, đồng thời Người lưu ý mọi người phải xem trọng chất lượng, nghĩa là trồng cây nào chắc cây ấy, không nên tham trồng nhiều mà không ra sức bảo vệ trông non. Thực hiện “tết trồng cây” cùng với kế hoạch trồng rừng của nhà nước một cách liên tục bền bỉ và vững chắc.

Ngày 25/3/1960 với bút danh Trần Lực, Bác viết bài “Thêm vài ý kiến Tết trồng cây”, đăng trên Báo Nhân dân số 2198, Người đã nhận xét về những ưu điểm khuyết điểm cần sửa chữa của phong trào trồng cây và chỉ rõ: “Tết trồng cây cũng là một kế hoạch kinh tế lâu dài và liên tục…là một việc quan trọng chuẩn bị cho công cuộc xây dựng nông thôn mới mai sau, do đó phải rút khinh nghiệm, cần sửa chữa khuyết điểm, phải có kế hoạch, có hướng dẫn, phải làm đúng khẩu hiệu: “Trồng cây nào tốt cây ấy”.

Sáng 5/2/1061, Bác Hồ tham gia trồng cây tại vườn hoa Thanh niên Công viên Thống Nhất, nói chuyện với đại biểu thanh niên, Người nhắc nhở: “Nếu mỗi cháu thanh niên một năm trồng ba cây trăm sóc thật tốt, thì tám triệu thanh niên miềm Bắc sẽ trồng được 24 triệu cây. Năm năm liền, các cháu sẽ trồng được 120 triệu cây. Nếu các cháu đem 120 triệu cây ấy trồng trên con đường nối liền Hà Nội – Matxcơva thì con đường từ Chủ nghĩa xã hội đến Chủ nghĩa cộng sản thêm xanh tươi.

Ngày 27/1/1963 với bút danh T.L, Bác Hồ đã viết bài báo “Tết trồng cây”

Trong đó Người đặc biệt nhấn mạnh: “Tết trồng cây chẳng những có ý nghĩa kinh tế, mà còn có ý nghĩa chính trị to lớn khi Mỹ – Diệm dùng thuốc độc phá hoại cây cối núi rừng miền Nam, ta trồng cây cho ta và cho cả miền Nam nữa”.

Sáng 26/1/1964, Bác Hồ thăm xã Vinh Quang huyện Thanh Thuỷ tỉnh Phú Thọ vì xã có nhiều thành tích trong việc trồng cây gây rừng và Bác căn dặn, không được thỏa mãn, phải chú ý chăm sóc những cây đã trồng, cố gắng trồng nhiều cây trong dịp Tết. Cũng trong dịp đầu xuân 1964, trên đường đi công tác, Bác đã dừng chân tại đồi Chu Mật, huyện Ba Vì (tỉnh Sơn Tây cũ). Người nói với đồng chí Bí thư Tỉnh uỷ Sơn Tây: “Khí hậu ta tốt, đất đồi ta nhiều. Trồng cây có nhiều cái lợi, lợi trước mắt và lợi sau này. Các chú phải lãnh đạo trồng cây cho tốt. Việc khó nhưng phát động nhân dân thì sẽ làm được”.

Ngày 1/1/1965, với bút danh T.L, Bác viết bài báo “Năm mới hãy nhiệt liệt tổ chức Tết trồng cây” trên Báo Nhân dân số 3928. Trong bài này, Người biểu dương một số địa phương có phong trào trồng cây tốt; ý nghĩa và những biện pháp đẩy mạnh phong trào Tết trồng cây.

Ngày 12/2/1968, Bác Hồ gửi Bằng khen các cụ phụ lão xã Phượng Vỹ, huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ về thành tích trồng cây giỏi.

7giờ 15 phút ngày 10/1/1969, Bác làm việc với đồng chí Nguyễn Tạo, Tổng cục trưởng Tổng cục Lâm nghiệp, bàn về bài báo nói về Tết trồng cây. Ngày 1/2/1969, Bác gặp lại đồng chí Nguyễn Tạo, yêu cầu góp ý kiến cho bản thảo bài báo “Tết trồng cây” của Người. Người căn dặn Tổng cục trưởng viết thư cho Chủ tịch Uỷ ban Hành chính Lạng Sơn có biện pháp bảo vệ cho được những loại cây gỗ quý hiếm còn lại.

Ngày 5/2/1969, với bút danh T.L, Bác viết bài báo” Tết trồng cây” đăng trên Báo Nhân dân số 5411, nêu rõ ý nghĩa và lợi ích to lớn của việc trồng cây gây rừng ở các địa phương, trong đó có đoạn: “Kinh nghiệm cho thấy rằng mọi người đều nên tham gia trồng cây, nhưng lực lượng các cụ phụ lão có tổ chức là quan trọng và các cháu thiếu nhi là lực lượng góp phần đắc lực”.

Ngày 6/2/1969, tức ngày mồmg một Tết Kỷ Dậu, Bác Hồ cùng đồng chí Nguyễn Lương Bằng, Văn Tiến Dũng đến thăm, chúc Tết cán bộ chiến sỹ Quân chủng Phòng không – Không quân tại sân bay Bạch Mai, Hà Nội. 11giờ Người đến thăm và chúc Tết nhân dân xã Vật Lại, huyện Ba Vì (tỉnh Hà Tây cũ). Người cùng Nhân dân ở đây khai xuân, trồng cây trên quả đồi của xã. Buổi trưa dưới bóng cây bạch đàn trên đồi xã Vật Lại, Bác thân mật nói chuyện và chúc Tết nhân dân địa phương. Người nói: “Đất nước bây giờ là của chúng ta, cho nên phải thi đua sản xuất giỏi trồng cây giỏi”. Sau đó mấy hôm, Bác Hồ của chúng ta đã bị những biến cố về sức khoẻ. Ngày 23/2/1969, tuy sức khoẻ vẫn còn yếu nhưng Bác vẫn nhớ thưởng huy hiệu cho 4 cụ già có thành tích xuất sắc trong phong trào trồng cây gây rừng.

Hữu Thịnh

bqllang.gov.vn

Những chuyện cảm động về Bác Hồ qua lời kể của thành viên nhóm tình báo Con Nai (Mỹ)

Henry Prunier năm nay đã 86 tuổi, là một trong bảy thành viên của nhóm tình báo Con Nai (Deer Team) thuộc OSS. Theo lời kêu gọi của Bác Hồ, nhóm Con Nai nhảy dù xuống Tân Trào tháng 7 năm 1945 để giúp đỡ trong việc huấn luyện các chiến sĩ Việt Minh đánh Nhật.

Chúng tôi đến thăm hai ông bà Henry Albert Prunier và Maria Prunier vào một buổi sáng mưa lạnh ở vùng New England. Ông Henry Prunier rất vui khi biết chúng tôi có ý định tìm hiểu, tham vấn ông để làm một cuốn sách liên quan đến thời kì đó.

Theo ông, lịch sử sẽ dần trôi vào quên lãng nếu không có những người nhắc lại giai đoạn đặc biệt này của quan hệ giữa hai nước – Một giai đoạn rất ngắn khi Việt Nam và Hoa Kỳ đã từng là bạn.

Những thành viên của The Office of Strategic Services (OSS), đã giúp đỡ Việt Minh sử dụng vũ khí và cũng chính những thành viên ấy đã hết sức nhiệt tình chuyển giúp thư của Bác Hồ đến chính phủ Mỹ, đề nghị Tổng thống Truman công nhận độc lập của Việt Nam.

Chỉ tiếc rằng lịch sử đã đi theo hướng hai nước trở thành đối thủ trong cuộc chiến 20 năm.

Có lẽ ông là một trong rất ít người còn sống và đã cùng ông Allison K. Thomas (trưởng nhóm Con Nai), trở lại Hà Nội năm 1995 gặp gỡ các chiến sĩ Việt Minh mà ông đã có dịp sống và làm việc. Cuộc gặp mặt sau 50 năm được tổ chức theo sáng kiến của Hội Hữu nghị Việt – Mỹ và do Quỹ Ford tài trợ.

Khi đến Tân Trào, ông mới 24 tuổi, làm thông dịch viên cho nhóm. Chỉ có chưa đầy một tháng được tiếp xúc với Bác Hồ, đại tướng Võ Nguyên Giáp và các chiến sĩ Việt Minh, nhưng đã để lại trong ông những kí ức và kỷ niệm khó quên mà ông mang theo bên mình trong hành trình hơn nửa thế kỷ.

Ông nhớ rõ từng chi tiết khi nhảy dù xuống Tân Trào. Nhóm Con Nai ở cách Tân Trào 3 km, trước đó đây là nơi dành cho các lớp bồi dưỡng chính trị, nay thành thao trường huấn luyện của Việt Minh.

Nhóm Con Nai mỗi người mỗi việc, trong đó có bác sĩ đã từng chữa bệnh cho Bác Hồ khi Người bị ốm. Vũ khí, thuốc men, thực phẩm của họ đều được tiếp tế bằng máy bay trực thăng. Tuy nhiên, cả nhóm vẫn dùng thực phẩm của địa phương như cơm, ngô, măng rừng, rau và thịt gà. Ông nhớ nhất là bữa ăn rất thiếu rau, còn thịt gà là món ông nhớ nhất vì nó… không ngon một chút nào.

Tiếp đó là những ngày hành quân về Hà Nội cùng tướng Đàm Quang Trung, qua Thái Nguyên còn phải đánh nhau với tàn quân Nhật. Các ông về đến Hà Nội vào ngày 9/ 9/1945.

Ông được gặp lại Bác Hồ, bây giờ là Chủ tịch nước Việt Nam độc lập, với cảm giác ngỡ ngàng vì trước đó một tháng ông chỉ biết đó là “Mr. Hồ”. Con người giản dị đó giờ đây đã trở thành người đứng đầu một đất nước thoát khỏi ách thuộc địa.

Ông ở Hà Nội một thời gian ngắn, rồi sang Côn Minh và về Mỹ tháng 1/1946.Ông học đại học, rồi làm việc ở công ty gia đình J.S, Prunier and Sons.

Năm 1997, ông tham dự cuộc gặp mặt những thành viên OSS và các chiến sĩ Việt Minh tại New York. Hiện ông đang sống tại thành phố Webster nằm phía đông của bang Massachusetts, Hoa Kỳ.

Bước vào nhà, vật đầu tiên ông chỉ cho chúng tôi là bức tranh thêu trên lụa khổ 1,5 m x 0,6 m, về một nhân vật trong lịch sử Trung Quốc, được lồng trong khung kính, treo trang trọng trong phòng khách.

Đó là món quà của Bác Hồ tặng ông từ năm 1945, và ông đã giữ cho đến tận bây giờ. Mặc dù đã 62 năm đã trôi qua, nhưng bức tranh không hề phai màu, được bảo quản gần như mới…

Ông đưa chúng tôi vào nơi trước đây là Văn phòng giao dịch của công ty J.S. Prunier and Sons. Bây giờ, đây là nơi ông lưu giữ những cuốn sách về Bác Hồ, về Việt Nam, về đội Con Nai, OSS trong những ngày ở Đông Dương.

Những cuốn sách của các tác giả là thành viên của đội OSS như Charlse Fenn, Archimedes Patti, và các nhà nghiên cứu về Việt Nam sau này như William Duiker, Dixee R. Bartholomew-Feis. Ông gìn giữ cẩn thận từng băng ghi âm các cuộc phỏng vấn của các cơ quan truyền thông trong những năm 1960, cả những băng cối, sử dụng rộng rãi vào thời kỳ đó.

Ông cho chúng tôi xem những băng ghi hình về Bác Hồ của nhiều đài truyền hình, các hãng thông tấn khác nhau như Đài BBC, kênh truyền hình “Lịch sử” của Mỹ (History Channel) và các cuộc phỏng vấn ông khi làm phim về Bác.

Từng tập hồ sơ, nhật ký của đội OSS ông còn giữ từ năm 1945, rồi ông đem những bức hình của các chiến sĩ Việt Minh năm xưa so sánh với những bức ảnh ông chụp với họ khi gặp lại nhau năm 1995 ở Hà Nội và năm 1997 tại New York.

Đặc biệt nhất là những bức ảnh đen trắng ông được chụp chung với Bác Hồ, đại tướng Võ Nguyên Giáp và các chiến sĩ Việt Minh. Những bức ảnh gốc đã hơn 60 năm tuổi, chúng có mặt trên các tạp chí nổi tiếng như Life Magazine của Hoa Kỳ (1978), Paris Match của Pháp (1968) và trong nhiều phim tài liệu về lịch sử ngắn ngủi trong quan hệ Việt-Mỹ.

Ông tháo trên tường một khung kính nhỏ hơn khổ giấy A4 một chút, đó là chứng chỉ do Đại học Berkeley cấp ngày 2/9/1944, công nhận ông đã học qua khóa tiếng Việt trong 9 tháng (chứng chỉ ghi là tiếng Annam).

Hóa ra có trường đại học Mỹ đã dạy tiếng Việt từ thời kỳ đó. Ông trân trọng cho chúng tôi xem từng bài viết về Bác Hồ, được cắt ra từ báo hoặc tạp chí. Đã nhiều năm trôi qua, nhiều chỗ đã hoen ố, nhưng dường như chúng vẫn mang hơi thở của thời kỳ ra đời. Và với chúng tôi, những người tìm hiểu về lịch sử thì đó là kho tài liệu vô giá.

Đề tài ông thích nhất có lẽ là nói về Bác Hồ. Ông có thể ngồi hàng giờ nói chuyện về những kỷ niệm không bao giờ quên trong thời gian hơn ba tuần được tiếp xúc với Bác.

Mặc dù là phiên dịch tiếng Việt, nhưng ông bảo Bác Hồ nói tiếng Pháp và tiếng Anh rất thạo, đương nhiên là hơn hẳn tiếng Việt của ông nên Bác thường trao đổi trực tiếp bằng tiếng Anh, khiến ông gần như… thất nghiệp.

Biết ông là người Massachusetts, Bác nhắc lại kỷ niệm về những ngày Bác sống và làm việc ở Boston và New York. Ông nhắc đi nhắc lại ấn tượng về Bác Hồ: Một con người rất đời, giản dị nhưng có chí khí mãnh liệt, một con người rất Việt, nhưng mang trong mình mọi tính cách của thành viên thuộc cộng đồng thế giới.

Ông mỉm cười khi nói đến hình ảnh ông nhớ nhất về Bác Hồ là Bác mặc áo cánh và quần sooc khi ở Tân Trào và cả khi về Hà Nội, trên cương vị Chủ tịch nước, Bác vẫn ăn mặc giản dị như thế khi tiếp đón các thành viên OSS tại Phủ Chủ tịch. Bác chiêu đãi, tặng quà và cám ơn các thành viên trong nhóm. Bác không hề tỏ ra mình là nhân vật quan trọng, khi mà trên thực tế lúc đó Bác là người vô cùng quan trọng.

Ông buồn rầu kể: “Hồ Chí Minh đã nhờ chúng tôi viết thư về Mỹ đề nghị Tổng thống Truman công nhận quyền độc lập của Việt Nam. Chúng tôi là những người lính chứ không phải các chính trị gia, nên mặc dù đã làm hết sức mình, nhưng không giúp được gì nhiều. Chỉ tiếc là những bức thư đó sau này nằm trong kho lưu trữ quốc gia. Thời điểm ấy, nước Mỹ chỉ tập trung vào châu Âu, bỏ qua khu vực Đông Nam Á.

Tổng thống Truman đã để Charlse de Gaulle quyết định vấn đề Đông Dương. Phải chăng đây cũng là một phần nguyên nhân của cuộc chiến kéo dài 30 năm? Hồ Chí Minh mời chúng tôi trở lại Việt Nam bất cứ lúc nào, thế mà phải 50 năm sau tôi mới có dịp trở lại”.

Năm 1968, khi tổng thống Johnson leo thang chiến tranh, ném bom miền Bắc, tại Mỹ phong trào chống chiến tranh trong mọi tầng lớp nhân dân, sinh viên, thanh niên đã phân đất nước thành hai cực.

Nước Mỹ tìm hiểu về cuộc chiến, một tờ báo địa phương của thành phố Worcester, tiểu bang Massachusetts nơi ông sinh sống đã đăng bài về Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị lãnh tụ của phía bên kia qua lời kể của Henry Prunier.

Bài báo ông cho chúng tôi xem không khác những điều ông trân trọng kể về Bác hôm nay. Trong cuộc phỏng vấn do đài phát thanh thành phố thực hiện, Henry Prunier đã khẳng định: “Chúng ta không bao giờ giành chiến thắng tại Việt Nam bởi vì chúng ta chiến đấu không có mục đích. Trong khi đó, người Việt chiến đấu vì mục đích, vì niềm khao khát độc lập tự do”.

Chúng tôi hỏi ông vì sao chỉ với thời gian rất ngắn ở Việt Nam mà ông đã có kết luận như vậy? Ông trả lời: “Đơn giản lắm, người Việt có chung niềm khao khát độc lập như chúng tôi đã có ở thế kỉ 18. Khi đó chúng tôi phải giành độc lập bằng mọi giá do chính sách thuế má nặng nề của nước Anh áp đặt lên chúng tôi, vì có mục đích chúng tôi mới chiến thắng trong cách mạng Mỹ”.

Ngay sau khi ông phát biểu trên đài phát thanh, con gái ông còn đang đi học đã bị một số bạn bè và cả thầy cô quy kết là “con của cộng sản”. Ông bảo họ muốn nói gì cũng mặc, với ông, cái gì ông cho là đúng thì ông làm. Và điều ông nói đã thành sự thật. Năm năm sau, những người lính Mỹ cuối cùng đã rút khỏi Việt Nam và năm 1975, đất nước ta đã hoàn toàn thống nhất. Với người viết bài này, đây là một cuộc gặp mặt thật cảm động và khó quên. Người đang làm cuốn sách liên quan đến thời kỳ lịch sử này là ông David Thomas, một cựu binh đã tham chiến tại Playku năm 1968, người đã trân trọng quý mến Bác Hồ và vẽ trên 50 bức tranh về Bác.

Henry Prunier, cựu binh của thế chiến II, người đã tham gia giúp Việt Minh kháng chiến chống Nhật. Còn David Thomas, cựu binh của Chiến tranh Việt Nam, người đã tham chiến chống lại quân đội nhân dân Việt Nam.

Hơn 30 năm sau, tại nước Mỹ, hai thế hệ cựu binh đều gật đầu đồng tình với ý kiến của ông Prunier: “Đúng, chúng ta (người Mỹ) đã thất bại bởi vì chúng ta chiến đấu không có mục đích”.

Theo: Minh Phương
(Bài viết đăng trên Tạp chí Sự kiện nhân chứng)

bqllang.gov.vn

“Càng già chí khí càng dai…”

Bác Tôn Đức Thắng sinh năm 1888, hơn Bác Hồ 2 tuổi. Tình cảm giữa Bác Hồ và Bác Tôn cũng hình thành từ rất sớm, khi hai người chưa hề gặp nhau: Bác Tôn Đức Thắng từng ngưỡng mộ Nguyễn Ái Quốc từ năm 1919 khi Người còn hoạt động trên đất Pháp, đã đưa ra “Bản yêu sách của nhân dân An Nam” 8 điểm đòi quyền độc lập cho Việt Nam làm chấn động Hội nghị Véc-xây… Nhưng mãi đến cuộc Tổng tuyển cử ngày 6-1-1946, khi Bác Tôn được bầu là đại biểu Quốc hội và ra Hà Nội làm việc, lần đầu tiên Bác Tôn và Bác Hồ mới gặp mặt nhau.

Tại phiên họp vào ngày 8-11-1946 của kỳ họp thứ hai Quốc hội khóa một, khi Chủ tịch Chính phủ liên hiệp (lâm thời) Hồ Chí Minh phát biểu từ chức, trao quyền để Quốc hội chọn người đứng ra lập Chính phủ mới-Chính phủ “tập họp nhân tài, đoàn kết kháng chiến”-thì đại biểu Quốc hội Nam Bộ Tôn Đức Thắng đã đứng lên dõng dạc phát biểu ý kiến: “Tôi xin giới thiệu Cụ Hồ Chí Minh, tức nhà yêu nước Nguyễn Ái Quốc là người xứng đáng hơn ai hết, đứng ra thành lập Chính phủ mới”. Ý kiến của Bác Tôn đã làm cho nhóm đại biểu các đảng phái phản động chưng hửng, thất vọng vì họ đã chuẩn bị sẵn một “danh sách tân chính phủ”…

Sau ngày Toàn quốc kháng chiến 19-12, Bác Tôn cùng hai con gái là Hạnh, Nghiêm đều đã tham gia cách mạng được theo cha lên chiến khu Việt Bắc công tác. Trong kháng chiến chống Pháp, Bác Tôn là quyền Bộ trưởng Nội vụ, Trưởng ban vận động thi đua ái quốc Trung ương, Trưởng ban Thường trực Quốc hội… Giữa chiến khu Việt Bắc những ngày kháng chiến, Bác Hồ thường mời Bác Tôn đến gặp để đàm đạo công việc, trao đổi ý kiến về những công việc cụ thể nhằm đẩy mạnh phong trào Thi đua ái quốc, đẩy mạnh kháng chiến.

Bác Tôn cũng là người có phong cách rất cần kiệm trong đời sống, giản dị trong sinh hoạt. Hai Bác xưng hô với nhau rất thân mật bằng đại từ “cụ” và thân tình như một đôi bạn tri kỷ luôn “tâm đầu ý hợp”. Sau ngày kháng chiến thành công, trở về sống ở Thủ đô, Bác Hồ vẫn chỉ ở và làm việc tại căn phòng của người thợ điện cạnh tòa nhà Phủ Chủ tịch. Ngày vợ chồng hai người con gái là chị Hạnh-anh Phúc và chị Nghiêm-anh Trúc theo cha (Bác Tôn) về Hà Nội, thì bà Giàu từ miền Nam tập kết ra, lúc này gia đình mới sum họp. Ở nhà 35 Trần Phú, vợ chồng chị Hạnh, chị Nghiêm cũng chỉ có một phòng rộng không quá 20m2, hai chị em nhất định nhường cho ông thư ký riêng của cha căn phòng rộng hơn, vì “gia đình ông đông người hơn”. Ở Hà Nội, Bác Hồ thường sang thăm gia đình Bác Tôn. Thấy Bác Tôn làm việc, nghỉ ngơi trên tầng 2, hằng ngày thường phải lên xuống cầu thang không thuận tiện và tốn sức tuổi già, Bác Hồ nhắc Văn phòng: “Phải sắp xếp và đưa cụ xuống tầng dưới để ít phải đi lại, xuống hầm (hầm trú ẩn tránh bom đạn khi máy bay Mỹ đánh phá) cũng nhanh hơn…”. Những thời gian có thể, thường vào chiều thứ bảy trong tháng, Bác Hồ lại cho mời Bác Tôn sang nhà sàn cùng ăn cơm và đàm đạo với nhau. Mỗi lần như vậy, khi đến giờ, Bác Hồ ra tận gốc cây sát bờ ao thả cá đứng đợi “đón bạn”. Khi Bác Tôn đến, Bác Hồ lên tiếng: “Chào cụ!”. Bác Tôn cũng liền chắp hai bàn tay đáp lại: “Chào cụ !” đáp lễ…

Vào dịp kỷ niệm 70 năm ngày sinh của Bác Tôn (20-8-1958), Quốc hội quyết định tặng Bác Tôn Đức Thắng Huân chương Sao Vàng. Tại buổi lễ, trước khi gắn huân chương lên ngực áo Bác Tôn, Bác Hồ rất vui và rất xúc động phát biểu: “Đồng chí Tôn Đức Thắng là một gương mẫu đạo đức cách mạng: Suốt đời cần, kiệm, liêm, chính; suốt đời hết lòng hết sức phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân… Thay mặt nhân dân và Chính phủ, tôi trân trọng trao tặng đồng chí Tôn Đức Thắng Huân chương Sao Vàng, là huân chương cao quý nhất của nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa, mà đồng chí Tôn Đức Thắng là người đầu tiên và rất xứng đáng được tặng…”.

Hai năm sau, ở tuổi 72, kỳ họp Quốc hội tháng 7-1960 đã tín nhiệm bầu Bác Tôn làm Phó chủ tịch nước. Bác Tôn không chịu nhận có thêm thư ký riêng với lý do “công việc không nhiều”, sử dụng thêm một cán bộ là lãng phí. Nhưng Bác Hồ không tán thành, vì Bác Tôn tuổi đã cao. Bác Hồ bàn với Văn phòng sắp xếp công việc để có người giúp việc Bác Tôn, nên năm 1962 mới có người giúp việc-thư ký cho Bác Tôn, đó là ông Lê Hữu Lập… Cho đến năm Mậu Thân 1968, Bác Tôn Đức Thắng tròn 80 tuổi giữa thời kỳ cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đang rất quyết liệt. Bác Hồ lúc đến chúc thọ người bạn già tri kỷ Tôn Đức Thắng, đã tặng bạn hai câu thơ:

Càng già chí khí càng dai
Chống Mỹ, cứu nước ít ai hơn già”.

Tuấn Hải
(Tạp chí Sự kiện nhân chứng)

bqllang.gov.vn

Lần đầu gặp Bác

Đại úy Hồ Thị Thu sinh ra trong một gia đình giàu truyền thống cách mạng, mẹ là cơ sở nuôi giấu nhiều cán bộ huyện và tỉnh Quảng Đà (cũ). Năm 12 tuổi chị đã làm liên lạc du kích xã Xuyên Phú, huyện Duy Xuyên, sau đó trở thành chiến sĩ Quân giải phóng.

Những năm 1965-1966, quê chị ở thôn 3, Dãn Cường, có một đại đội Mỹ đóng chốt. Có lần Mỹ đốt hết nhà, giết 72 người dân vô tội. Căm thù giặc, có đêm chị bí mật vào đồn vác được 5 khẩu AR15 giao cho du kích. Chị còn lợi dụng sơ hở của địch cùng bạn gái bỏ cát vào nòng 13 khẩu súng trước khi báo cho du kích và bộ đội địa phương tập kích thắng lớn. Đầu tháng 12-1967, ở Nỗng Bà Trình, chị phục kích lính Mỹ đi càn, diệt gần hết cả tốp. Nhưng cũng tại trận này chị bị sức ép nặng, bị mảnh đạn vào đầu được tỉnh đội Quảng Nam cho ra Bắc an dưỡng đầu năm 1968.

Tôi tìm đến số nhà 36 đường Nguyễn Tri Phương, phường Chính Giản, thành phố Đà Nẵng để nghe chị kể về kỷ niệm những lần được gặp Bác Hồ. Đã lớn tuổi rồi nhưng chị vẫn giữ được nét đẹp của thời con gái. Chị nhớ lại:

Một buổi chiều tháng 5, chú Phượng ở Ban thống nhất Trung ương thông báo: “Chiều nay các cháu không đi đâu xa, không ăn cơm tối, ở nhà sẵn sàng…”. Tôi và các bạn nhỏ Võ Phổ, Hồ Ngọc Biên (Quảng Nam), Nguyễn Văn Hòa, Ngô Bê (Thừa Thiên), Đoàn Văn Luyện, Ngô Văn Nết (Quảng Ngãi) và Hồ Văn Mên (Thủ Dầu Một) rất hồi hộp. Mới 3 giờ chiều chúng tôi đã rủ nhau tắm rửa, ăn mặc tươm tất, đội mũ tai bèo lên xe cùng chú Phượng.

Chú Phượng phổ biến nhanh gọn: “Hôm nay Bác Hồ muốn gặp các cháu thiếu nhi dũng sĩ miền Nam”. Chỉ cần nghe đến Bác, là cả bọn mừng rơn, hét lên sung sướng. Đang miên man suy nghĩ thì trước mặt đã thấy ngôi nhà sàn của Bác ẩn dưới hàng cây cổ thụ, đẹp như một bức tranh. Cổng mở, chúng tôi thấy Bác Hồ, Bác Tôn ngồi chờ nơi ghế đá. Cả đoàn không ai bảo ai cùng reo lên: “Bác! Bác!…”, rồi chạy vào ôm hôn hai Bác thật lâu. Cùng tiếp khách hôm ấy có Thủ tướng Phạm Văn Đồng, nhà thơ Tố Hữu và chú Vũ Kỳ. Chú Tố Hữu giới thiệu tên, thành tích từng cháu với Bác. Bác xoa đầu, ôm hôn từng cháu, riêng tôi là con gái được Bác cho ngồi gần cùng Ngô Văn Nết người nhỏ tuổi nhất. Bác hỏi: “Cháu là Thu phải không?” – “Dạ, cháu là Hồ Thị Thu, quê ở Quảng Nam” – “Cháu học lớp mấy rồi?”. Tôi ngập ngừng nói thật: “Thưa Bác nhà cháu nghèo, đông con, cha mất sớm, cháu chưa được đi học”. Tôi ngước nhìn lên thấy Bác rơm rớm nước mắt. Kéo tôi vào lòng, sửa vành mũ tai bèo, Bác nói: “Rồi cháu sẽ được đi học”. Bác mời chúng tôi ăn chiều. Bác ăn rất ít và luôn gắp thức ăn cho từng người trong đoàn. Bác bảo tôi kể chuyện lấy súng Mỹ, dùng mìn tự tạo đánh thắng Mỹ cho Bác nghe, rồi bất chợt Bác hỏi: “Thế còn chuyện cháu phá 13 khẩu súng của Mỹ?”. Tôi không ngờ Bác biết cả chuyện này và tôi kể lại cho Bác nghe. Bác hỏi tiếp: “Đồng bào miền Nam sống chiến đấu thế nào?”. Tôi thưa với Bác: “Bà con quê cháu không sợ hy sinh gian khổ, chỉ sợ một điều”… Bác hỏi dồn: “Điều gì cháu cứ nói”. Tôi mạnh dạn: “Thưa Bác, bà con sợ sau này nước nhà thống nhất không được nhìn thấy Bác”. Bác khóc thực sự, làm cả đoàn xúc động, khóc theo…

Kể đến đây, trên gương mặt chị Thu nước mắt đã giàn giụa. Chị đưa tôi xem hai huy hiệu “Dũng sĩ diệt Mỹ”, nhiều ảnh chụp với Bác Hồ và các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước. Thiếu tá Nguyễn Ngọc Anh, chồng chị, cũng là chiến sĩ Quân giải phóng, đưa tôi xem hai cuốn sách “Người tốt, việc tốt” của Bác Hồ tặng chị và cuốn “Bác Hồ với miền Nam, miền Nam với Bác Hồ” đã bạc màu. Anh nói: “Đây là kỷ vật, tài sản quý nhất của vợ chồng mình”.

Gần bốn thập kỷ đã qua, chị Thu chỉ day dứt một điều: Dịp ấy, tháng 5-1969 đang điều trị “Phục hồi trí nhớ” ở Viện 108, Bác Hồ có điện thăm hỏi bệnh tật của chị. Thế mà lúc ấy chị không nhớ được gì để trả lời cho Bác yên tâm. Bốn tháng sau, Bác đã ra đi… Sau này được các bác sĩ kể lại chị cứ ân hận và khóc mãi.

Đỗ Như Thuần
(Tạp chí Sự kiện nhân chứng)

bqllang.gov.vn

Nâng niu tất cả chỉ quên mình

Sự gần gũi và rất đời thường trong con người của Bác tạo thành trường phái ngoại giao Hồ Chí Minh. Không từ trên trời rơi xuống, hào quang Hồ Chí Minh phát khởi từ nền móng đạo đức của Người.

Cặp kính lão dày cộp thường trực trên gương mặt phúc hậu, nguyên Chủ tịch Công đoàn Giáo dục Liên khu IV từ năm 1951, nguyên Phó “quan đốc học” Nghệ An rồi Nghệ Tĩnh với dáng vẻ ung dung, thâm uyên dí dỏm của một đồ Nghệ nói với tôi:

– Hưởng à, thầy vừa thể hiện xong bài đầu và bài cuối tập thơ Ngục trung nhật ký của Bác bằng chữ Nho, sẽ dành tặng cho con một bản.

Trong niềm xúc động của người ngoài độ bát tuần, cụ Lữ kể cho tôi nghe chuyện sau ngày giải phóng Điện Biên được Bác Hồ mời dự tiệc chiêu đãi tại Phủ Chủ tịch.

Trước đó, Trung ương Đảng, Chính phủ, Bác Hồ đã rời “thủ đô gió ngàn” trở về Thủ đô Hà Nội, đến ngày 1-1-1955 mới làm lễ ra mắt. Bấy giờ anh Cao Thế Lữ là thành viên Đoàn chiến sĩ thi đua công nghiệp Liên khu IV.

Đoàn gồm có 5 người: Hoàng Hanh, Anh hùng Lao động nông nghiệp; Nguyễn Văn Hòa, Kỹ sư nông nghiệp, Giám đốc nghiên cứu cây trồng Bắc Trung Bộ; anh Cao Viết Bảo ngành quân giới; chị Nguyễn Thị Nhàn công nhân ngành dệt, Cao Thế Lữ, Chủ tịch Công đoàn ngành Giáo dục Liên khu IV. Đoàn còn có mẹ của Anh hùng liệt sĩ Phan Đình Giót. Bà cụ lưng đã còng, vận áo màu trắng, váy thô bố nhuộm nâu ngâm bùn, điển hình của phụ nữ thôn quê xứ Nghệ nghèo khó lam lũ. Đã quá lâu nên cụ Lữ không còn nhớ tên bà.

Đoàn được đón tiếp tại trụ sở của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam phía trước ga Hàng Cỏ (hồi đó chưa có khách sạn). Tình cờ người ta bố trí anh Lữ nghỉ chung một phòng với Bác sĩ Đặng Văn Ngữ, Chiến sĩ thi đua ngành công nghiệp Việt Bắc. Hai anh em nằm trên hai chiếc giường một gỗ tạp. Sau 9 năm kháng Pháp, đúng dịp Tết dương lịch đầu tiên lại được về Thủ đô Hà Nội chuẩn bị gặp Bác Hồ, mọi người rất vui. Chẳng thấy ai nói về thành tích của ngành, của bản thân mình, tất cả nóng lòng chờ giây phút được gặp Người.

Khoảng 4 giờ sáng ngày 1-1-1955, tất cả các đoàn đều được báo thức sớm, chừng 5 giờ đã có mặt trên khán đài vườn hoa Ba Đình. Mờ sáng, sương mai còn đọng trên bục xi măng, Bác sĩ Đặng Văn Ngữ và anh Lữ phải dùng báo cũ lót làm chỗ ngồi, nhìn xuống đã thấy hàng vạn người tập trung thành hàng chăm chú hướng lên khán đài. Lát sau Bác Hồ và các đồng chí lãnh đạo Đảng, Chính phủ, Quân đội… tiến ra lễ đài. Anh Lữ không nhớ lúc ấy là mấy giờ nữa, chỉ biết lâng lâng vui sướng khi thấy Người hồng hào khỏe mạnh, phong thái nhanh nhẹn ung dung. Bác đọc diễn văn rất ngắn, đại thể nêu ý nghĩa của việc Đảng, Chính phủ trở về Thủ đô Hà Nội. Bác vừa dứt lời cả biển người dậy tiếng vỗ tay. Ngay sau đó xuất hiện hai chiếc xe mui trần, bánh xe quét sơn trắng từ từ lăn qua lễ đài. Đại tướng Võ Nguyên Giáp tổng chỉ huy cuộc duyệt binh. Anh Lữ tranh thủ trời đã sáng ngắm nhìn tấm thiếp mời dự tiệc của Bác Hồ, do Ban tổ chức đưa đến trước 5 giờ sáng. Thiếp in trên giấy dày tráng nhũ: Kính gửi đồng chí Cao Thế Lữ-Chiến sĩ thi đua công nghiệp Liên khu IV, bên dưới có chữ ký của Bác Hồ. Nội dung là đến dự tiệc tại Phủ Chủ tịch vào lúc 14 giờ chiều ngày 1-1-1955.

Trước 14 giờ, anh Lữ đến cổng Phủ Chủ tịch đã thấy ô tô đậu thành hàng ngoài sân. Bác sĩ Đặng Văn Ngữ bảo, tòa nhà này nguyên là Phủ toàn quyền Đông Dương, Bác Hồ đã từ chối không ở. Bên trong khách đã đến rất đông, tất cả đang nóng lòng chờ Bác. Giữa căn phòng rộng ấy, bàn tiệc được bố trí theo hình chữ T. Một dãy bàn dài không có ghế chạy giữa căn phòng. Dãy bàn phía trong làm thành nét ngang của chữ T đặt 3 chiếc ghế. Lần đầu trong đời anh Lữ được dự tiệc đứng, được vào Phủ Chủ tịch. Bỗng Bác xuất hiện. Bác ngồi ghế giữa, một bên là Đại sứ Trung Quốc, một bên là Đại sứ Liên Xô. Bác nói đại ý, hôm nay ngày vui mừng chiến thắng Điện Biên, mừng Trung ương Đảng, Chính phủ trở về Hà Nội, Bác mời mọi người có mặt cùng nâng cốc. Trong khi tay nâng cốc, mắt mọi người đều chăm chăm hướng về phía Bác. Bác Hồ đứng đó, nói cười, vẫy tay với mọi người. Bác là nhân vật huyền thoại, tạo nên sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc.

Tiệc đứng nên ai muốn đứng chỗ nào thì đứng, ai muốn ăn thì tự lấy. Gọi là tiệc song bày biện chỉ 3 món, mỗi người một cái đùi gà, một miếng chả rán bọc bột và một món nữa anh Lữ không biết là món gì. Anh Lữ lấy thức ăn bỏ vào đĩa đặt vào tay mẹ của Anh hùng liệt sĩ Phan Đình Giót. Cả đời, bà cũng như anh, chưa bao giờ được ăn tiệc đứng nên cứ lóng nga lóng ngóng. Bỗng nghe Bác nói:

– Bây giờ văn nghệ, chú nào xung phong?

Lát sau thấy ông Lê Văn Hiến giơ tay. Bác bảo:

– Chú Hiến!

Ông Hiến cất mấy câu hò Huế, nhưng vì hò không hay nên vừa hò vừa cười, Bác bảo:

– Chú Hiến làm gì đấy?

Nói rồi Bác cầm quả hồng trên bàn tiến đến chỗ ông Hiến:

– Chú Hiến hò không hay nhưng Bác vẫn tặng quả hồng!

Cả hội trường vỗ tay ào ào trước tình cảm gần gũi chan hòa của Bác. Hình ảnh ấy mãi giúp anh Lữ mở rộng tầm quảng bá xã giao suốt chặng đường công tác sau này.

Từ giây phút ấy anh Lữ không chú ý văn nghệ nữa mà tập trung nghĩ ra cớ để được lại gần Bác hơn. Anh Lữ nói nhỏ vào tai mẹ Anh hùng liệt sĩ Phan Đình Giót:

– Bây giờ con đưa mẹ lên gặp Bác Hồ!

– Ừ, mẹ đang rất muốn đến gần để được nhìn rõ Bác, nhưng đông người ra ri, đi mần răng được?

– Con đi trước, mẹ cầm lấy tay. Con đi đến đâu mẹ cứ theo đến đó!

Thế là anh Lữ cầm tay mẹ vừa đi vừa rẽ đám đông:

– Đề nghị các đồng chí nhường lối cho mẹ của đồng chí Phan Đình Giót lên gặp Bác Hồ!

Khi anh đưa mẹ lên tới nơi thì thấy Bác đang nói chuyện với Đại sứ Trung Quốc. Chờ một lát anh Lữ lên tiếng:

– Dạ thưa Bác!

Bác liền ngoảnh lại. Người đặt một tay lên vai anh, tay kia đặt lên vai mẹ của Anh hùng Phan Đình Giót. Lúc ấy anh Lữ cảm thấy như đang bay trên mây:

– Thưa Bác, đây là mẹ của Anh hùng Phan Đình Giót.

Bác trìu mến hỏi:

– Bà dạo này có khỏe không? Bà đi đường từ trong Nghệ ra có mệt không?

Nghe bà cụ trả lời, Người quay sang nói với anh Lữ:

– Bác rất bận không có thời gian săn sóc bà, các chú bố trí nơi ăn chốn nghỉ cho chu đáo, phải có trách nhiệm săn sóc bà từ khi đi cho đến khi về. Chú làm công tác gì?

– Dạ, cháu làm giáo dục ạ!

Bác nói tiếp:

– Phải dạy cho tốt !

Về sau anh em trong đoàn Chiến sĩ thi đua công nghiệp Liên khu IV trầm trồ: “Ông Lữ khôn thật, nghĩ ra cách để được suất “ăn theo” bà mẹ Anh hùng”.

Đêm ấy trở về phòng nghỉ với tâm trạng lâng lâng phút giây được gần Bác, anh Lữ hỏi Bác sĩ Đặng Văn Ngữ:

– Cảm giác của anh thế nào khi được gặp Bác?

Bác sĩ Đặng Văn Ngữ cười:

– Ai mà nói hết được cảm giác khi được gặp Cụ Hồ!

Tết dương lịch đặc biệt ấy đến nay đã xa hơn nửa thế kỷ, vậy mà ngỡ như chuyện mới hôm qua. Hình ảnh Bác với ánh mắt nụ cười, với phong thái ung dung tự tại, rất gần gũi, rất đời thường mãi hóa thạch trong tim cụ già ngoài tuổi bát tuần. Tiễn tôi ra cổng, “đồ Nghệ” Cao Thế Lữ – Chủ nhiệm Câu lạc bộ Hán-Nôm tỉnh Nghệ An tiếp tục mạch suy tưởng: Chính sự quan tâm, yêu thương mọi người đến độ “Nâng niu tất cả, chỉ quên mình” của Bác đã tạo thành trường phái ngoại giao Hồ Chí Minh. Không từ trên trời rơi xuống, hào quang Hồ Chí Minh phát khởi từ đạo đức của Người.

GIAO HƯỞNG
(Tạp chí Nhân chứng sự kiện)

bqllang.gov.vn

“Bác vẫn như đang nói với chúng ta”

Khâu Tý là một quả đồi thuộc xã Điềm Mặc, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên – được gọi là “Phủ Chủ tịch” đầu tiên thời chống Pháp. Thăm Khâu Tý dịp sinh nhật Bác, được nghe lại những điều Bác viết trong cuốn Sửa đổi lối làm việc chính tại căn lán nơi Bác sống, làm việc càng thấy những tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn còn nguyên giá trị đến hôm nay.

Đến căn lán Bác ở ngày xưa, chúng tôi gặp các cụ Ma Đình Khánh, Ma Đình Hoàng đang quét dọn nơi ở của Bác để chuẩn bị đón một đoàn khách. Các cụ nhớ lại: Hôm ấy trời bắt đầu chuyển sang hè, một đêm có hai anh thanh niên (sau này biết một người là Vũ Kỳ, thư ký riêng của Bác, một người tên là Nhất, bảo vệ của Bác), cầm giấy giới thiệu đề nghị giúp làm một căn lán nhỏ trên đồi cho một người ở, nhưng ngăn làm đôi. Một căn lán to ở sườn đồi cho chừng 9-10 người ở.

Anh Triệu Đình Quân dạo ấy là chủ nhiệm Việt Minh xã huy động chín dân quân, tất cả đều là đảng viên, dưới sự hướng dẫn của anh Kỳ và anh Nhất làm trong khoảng năm ngày thì xong. Cây vầu làm cột, lá cọ lợp mái (hai thứ có sẵn trên đồi). Riêng sàn thì vợ chồng Ma Đình Tịnh, Ma Đình Hèn có một số tấm ván xẻ lát sẵn sàng cho mượn.

Đứng trước căn lán hai buồng đơn sơ, trước cái bếp đắp bằng đất, ba thanh sắt đã bắt đầu hoen gỉ, lòng chúng tôi bồi hồi, xiết bao xúc động, bởi cảm thấy như hình bóng Bác vẫn còn đâu đây.

Chúng tôi nhẹ bước lên chiếc cầu thang ngắn vỏn vẹn ba bậc để lên chiếc lán của Bác. Chiếc lán rộng chừng 10m2, được ngăn làm đôi, một nửa dùng làm buồng ngủ, một nửa để làm việc, tiếp khách. Chiếc giường và chiếc bàn làm việc cũng bằng vầu.

Theo đại tá Kim Sơn (một chiến sĩ giải phóng quân có mặt ở Tân Trào từ Cách mạng Tháng Tám), Khâu Tý là một trong những địa điểm Bác dừng lại lâu nhất trong suốt thời gian tám năm ở ATK Định Hóa: 4 tháng 19 ngày. Có lẽ do nơi đây khá thuận lợi về địa thế. Từ Khâu Tý có đường mòn ra Quảng Nạp đi Phú Minh, sang huyện Đại Từ hoặc ra chợ Chu, ngược ra chợ Đồn (Bắc Kạn) hoặc vượt đèo De, núi Hồng sang Tân Trào.

Mặt khác, ở gần Bác lúc này còn có Tổng bí thư Trường Chinh và văn phòng Trung ương Đảng ở xóm Phụng Hiển. Đại tướng Võ Nguyên Giáp cùng Văn phòng Bộ Quốc phòng, Tổng chỉ huy ở xóm Khẩu Hấu. Quyền trưởng ban thường trực Quốc hội Tôn Đức Thắng ở xóm Đồng Mua.

Ở gần Khâu Tý còn có chủ nhiệm Tổng bộ Việt Minh Hoàng Quốc Việt và chủ nhiệm báo Cứu Quốc Xuân Thủy ở xóm Roòng Khoa. Đây là hai cơ quan, hai con người Bác hằng yêu quý. Bác vốn là người sáng lập ra Mặt trận Việt Minh và ngày 19-5, ngày thành lập Mặt trận cũng chính là ngày sinh của Người. Con người Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh chính là nhà báo vĩ đại nhất trong lịch sử báo chí VN.

Ở Khâu Tý – Phủ Chủ tịch đầu tiên của “thủ đô gió ngàn” – từng diễn ra những cuộc họp của Thường vụ Trung ương Đảng gồm các đồng chí Trường Chinh, Lê Đức Thọ, Võ Nguyên Giáp, Hoàng Quốc Việt.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp kể lại trong một lần họp như thế, mọi người đã được nghe bài thơ Cảnh khuya của Bác vừa làm xong.

Đặc biệt, tại căn lán đơn sơ ấy đã ra đời một trong những tác phẩm nổi tiếng nhất của Hồ Chí Minh. Đó là cuốn Sửa đổi lối làm việc. Theo đồng chí Vũ Kỳ, khi giặc Pháp mở cuộc tiến công lên Việt Bắc ngày 7-10-1947 thì Bác cũng vừa đánh máy xong trang cuối cùng của tập sách bằng chiếc máy chữ Hermes Bác mang theo từ hồi ở Tân Trào. Rất nhanh chóng, Sửa đổi lối làm việc trở thành tập sách gối đầu giường của cán bộ, đảng viên, góp phần to lớn vào thành công của công tác xây dựng Đảng.

GSTS ngôn ngữ học Nguyễn Như Ý tâm sự: “Chúng ta có một Hồ Chí Minh thật vĩ đại. Vấn đề là chúng ta phải làm sao xứng đáng với điều đó”. Bao nhiêu năm qua có một câu hỏi lớn cứ vương vấn trong đầu giáo sư: Sao mà từ năm 1947, giữa một khu rừng heo hút, trong căn lán nhỏ đơn sơ giữa lúc giặc Pháp đang đổ quân vây kín mọi ngả rừng, cố tìm bắt sống cho bằng được Hồ Chí Minh mà Người vẫn có thể viết ra những lời vĩ đại như thế?

…Rời Khâu Tý, chúng tôi nhớ mãi câu nói của đồng chí Vũ Kỳ, người từng được sống cạnh Bác Hồ trong suốt thời gian Bác viết tác phẩm Sửa đổi lối làm việc trong căn lán nhỏ giữa “thủ đô gió ngàn”: “Lời Bác viết cách đây hơn nửa thế kỷ mà vẫn như đang nói với chúng ta hôm nay”.

Đại tá Thế Kỷ
(Người giúp việc của ông Vũ Kỳ – thư ký của Bác Hồ)

bqllang.gov.vn

Tấm lòng Bác Hồ đối với chiến sỹ

Đối với chiến sĩ là những người hy sinh nhiều nhất cho dân tộc, Bác Hồ thường dành cho anh em sự chăm lo săn sóc ân tình, chu đáo nhất.

Mùa đông, thương anh em chiến sĩ rét mướt ở rừng núi hay bưng biền, Bác đem tấm áo lụa của mình được đồng bào tặng, bán đấu giá để lấy tiền mua áo ấm gửi cho các chiến sĩ. Bác thường nói: “Chiến sĩ còn đói khổ, tôi ăn ngon sao được”. “Chiến sĩ còn rách rưới, mình mặc thế này cũng là đầy đủ lắm rồi!”.

Mùa hè năm 1967, trời Hà Nội rất nóng. Sức khỏe Bác Hồ đã kém, thần kinh suy nhược, dễ bị toát mồ hôi, ướt đầm, có ngày Bác phải thay mấy lần quần áo, có khi hong tại chỗ, rồi lại thay ngay. Thế nhưng, Bác vẫn không dùng máy điều hòa nhiệt độ. Bác bảo: “Mùi nó hôi lắm, Bác không chịu được!” (Bác không dùng nên nói vậy thôi, chứ máy đã có nút xả thơm).

Thấy trời oi bức quá, Bác nói với đồng chí Vũ Kỳ:

– Nắng nóng thế này, các chú bộ đội trực phòng không trên nóc Hội trường Ba Đình thì chịu sao được? Các chú ấy có đủ nước uống không? Chú thử lên tìm hiểu xem thế nào, về cho Bác biết.

Đồng chí Vũ Kỳ lên, được biết trên đó có một tổ súng máy 14,5 ly; ụ cát sơ sài, nếu địch bắn vào thì chỉ có hy sinh, rất nguy hiểm.

Trời nắng chói, đứng một lúc mà hoa cả mắt. Đồng chí Vũ Kỳ hỏi:

– Các đồng chí có nước ngọt uống không?

– Nước chè thường còn chưa có, lấy đâu ra nước ngọt!

Đồng chí Vũ Kỳ về nói lại với Bác, Bác gọi điện ngay cho đồng chí Văn Tiến Dũng: “Sao các chú không lo đủ nước uống cho các chiến sĩ trực phòng không? Nghe nói ụ súng trên nóc Hội trường Ba Đình rất sơ sài, chú phải lo sửa ngay để đảm bảo an toàn cho chiến sĩ trong chiến đấu?”.

Sau đó Bác bảo đồng chí Vũ Kỳ đi lấy sổ tiết kiệm của Bác, xem tiền tiết kiệm của Bác còn bao nhiêu.

Tại sao Bác có tiền tiết kiệm? Lương Bác cao nhất nước, nhưng hàng tháng cũng chỉ đủ tiêu. Mọi chi phí cho sinh hoạt của Bác, từ cái chổi lông gà, đều ghi vào lương cả.

Tiền tiết kiệm của Bác là do các báo trả nhuận bút cho Bác. Bác viết báo nhiều, có năm hàng trăm bài. Các báo gửi đến bao nhiêu, văn phòng đều gửi vào sổ tiết kiệm của Bác. Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, Bác cũng đã có tiền tiết kiệm. Đến dịp tết Nguyên đán, Bác lại đem chia cho cán bộ các cơ quan chung quanh Bác, mua thịt lợn để đón xuân. Đồng chí Vũ Kỳ xem sổ và báo cáo:

– Thưa Bác, còn lại tất cả hơn 25.000 đồng (lúc đó là một món tiền rất lớn, tương đương với khoảng 60 lạng vàng).

Bác bảo:

– Chú chuyển ngay số tiền đó cho Bộ Tổng tham mưu và nói đó là quà của Bác tặng để mua nước ngọt cho anh em chiến sĩ trực phòng không uống, không phải chỉ cho những chiến sĩ ở Ba Đình, mà cho tất cả các chiến sĩ đang trực chiến trên mâm pháo ở khắp miền Bắc. Nếu số tiền đó không đủ thì yêu cầu địa phương nào có bộ đội phòng không trực chiến góp sức vào cùng lo!

Phạm Phú Bình
(Báo Tuổi trẻ)

bqllang.gov.vn

Chuyện về người đầu bếp đầu tiên của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Đó là đồng chí Hoàng Văn Lộc, tên thật là Nguyễn Văn Ty, sinh năm 1900, quê tại xã Lương Ninh, huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình, đồng chí Lộc vốn là một Việt kiều ở Xiêm (Thái Lan).

Năm 1928, khi Chủ tịch Hồ Chí Minh (lúc đó là Nguyễn Ái Quốc) đến Xiêm, đồng chí được chọn đi cùng Bác khắp 16 tỉnh Đông Bắc Xiêm có Việt kiều sinh sống nhằm tuyên truyền cách mạng cho kiều bào yêu nước. Từ Xiêm, Chủ tịch Hồ Chí Minh nghe tin ở trong nước, ba tổ chức cộng sản đã ra đời và đang có sự phân liệt tranh giành ảnh hưởng lẫn nhau. Trước tình hình đó, tháng 11 năm 1929, Người trở về Hồng Kông để triệu tập Hội nghị hợp nhất các tổ chức Đảng, thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (tháng 2-1930). Cũng chính dịp này đồng chí Hoàng Văn Lộc cũng tạm chia tay người vợ trẻ ở Xiêm, để đi theo Chủ tịch Hồ Chí Minh sang Trung Quốc, tiếp tục con đường hoạt động cách mạng.

Sau đó, hàng loạt sự kiện liên tiếp diễn ra: Đảng Cộng sản Việt Nam thành lập, tạo tiền đề cho phong trào đấu tranh cách mạng phát triển lên một tầm cao mới; nhưng ngày 6-6-1931, Chủ tịch Hồ Chí Minh bị bắt tại Hồng Kông. Trải qua gần 3 năm bị giam giữ và lưu lạc, tháng 6-1934 Người trở về hoạt động ở Liên Xô. Năm 1938, đứng trước thực tế lò lửa chiến tranh Thái Bình Dương đã xuất hiện, không thể yên tâm học tập và hoàn thành luận án nghiên cứu sinh Phó Tiến sĩ sử học, Nguyễn Ái Quốc đề nghị và được Quốc tế Cộng sản điều về hoạt động ở Trung Quốc. Trong khoảng thời gian từ 1938-1940, Người cùng một số đồng chí đã di chuyển qua nhiều địa điểm ở Trung Quốc, một mặt tiếp tục hoạt động và tuyên truyền cách mạng, mặt khác Người cùng các đồng chí không ngừng tìm cách chắp nối liên lạc để tìm đường về nước.

Cuối tháng 5-1940, đồng chí Hoàng Văn Lộc và đồng chí Đặng Văn Cáp tới Côn Minh, Vân Nam, Trung Quốc gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh. Sau đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh phái Bùi Thanh Bình và Hoàng Văn Lộc về Hà Khẩu thăm dò đường sá để về nước bằng đường Côn Minh – Lào Cai. Cuối tháng 6-1940, đường giao thông Côn Minh – Lào Cai bị tắc, kế hoạch về nước bằng đường Lào Cai phải hủy bỏ. Đồng chí Hoàng Văn Lộc được gọi trở về Côn Minh. Chủ tịch Hồ Chí Minh quyết định chọn đường về nước qua Cao Bằng.

Ngày 28 tháng 1 năm 1941 đoàn cán bộ cùng Bác Hồ vượt qua cột mốc biên giới Việt – Trung số 108 về Cao Bằng. Cùng đến Pác Bó với Chủ tịch Hồ Chí Minh còn có 5 đồng chí: Lê Quảng Ba, Phùng Chí Kiên, Thế An, Đặng Văn Cáp và Hoàng Văn Lộc – người đã gắn bó với Bác từ những ngày đầu hoạt động đầy khó khăn ở Thái Lan những năm 1928, 1929.

Những ngày hoạt động ở Pác Bó cuộc sống vô cùng gian khổ và thiếu thốn. Đồng chí Lộc được giao nhiệm vụ nấu ăn cho cả cơ quan. Để cải thiện bữa ăn đạm bạc cho Bác và các anh em, đồng chí Lộc không ngại khó khăn gian khổ mò cua, bắt ốc, trồng rau, đơm cá, đặc biệt đồng chí biết rất nhiều các loại rau rừng và cũng rất chịu khó cải tiến món ăn. Trong thời gian hoạt động tại Cao Bằng, đồng chí đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của một người đầu bếp đầu tiên của Bác Hồ.

Cách mạng tháng Tám 1945 thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Trung ương Đảng và các cơ quan Trung ương trở về thủ đô Hà Nội. Các đồng chí hoạt động cách mạng từ trước khởi nghĩa nhiều người được giao đảm đương những cương vị xứng đáng. Riêng đồng chí Lộc cùng với một số đồng chí khác được Bác Hồ cử ở lại Việt Bắc tiếp tục xây dựng “hậu phương lưu trú”. Bởi với tầm nhìn chiến lược, trên cơ sở phân tích tương quan lực lượng địch và ta, đặc biệt nhìn rõ dã tâm xâm lược của thực dân Pháp đối với dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiên đoán việc Chính phủ sớm muộn sẽ phải trở lại Tân Trào để tiếp tục kháng chiến. Vì vậy, việc không ngừng củng cố và xây dựng hậu phương là một vấn đề tối cần thiết. Người đã tin tưởng giao nhiệm vụ khó khăn này cho đồng chí Hoàng Văn Lộc.

Đúng như Bác dự đoán, ngày 19-12-1946, kháng chiến toàn quốc bùng nổ, Bác Hồ cùng Trung ương Đảng đi qua các tỉnh Sơn Tây, Phú Thọ, và đến tháng 5-1947, Người trở lại Tân Trào, bắt đầu cuộc trường kỳ kháng chiến. Đồng chí Lộc đang làm việc tại công binh xưởng, được gọi trở về cơ quan Phủ Chủ tịch để làm nhiệm vụ cấp dưỡng, nấu ăn cho Bác. Để biểu thị quyết tâm trong cuộc kháng chiến, cũng là để nhắc nhở các cán bộ chiến sĩ đồng lòng quyết tâm, Bác Hồ đã đặt tên cho các chiến sĩ, cán bộ phục vụ xung quanh Người theo khẩu hiệu: Trường, Kỳ, Kháng, Chiến, Nhất, Định, Thắng, Lợi và Đồng, Tâm, Kiên, Quyết, Trung, Dũng, Cần, Kiệm, Liêm… Đồng chí Lộc được mang tên là Đồng. Không phụ lòng tin cậy của Bác, Đồng chí Lộc một lần nữa nỗ lực hết mình, tận tụy hoàn thành nhiệm vụ được Đảng phân công.

Trong hoàn cảnh khó khăn, gian khổ nhưng hào hùng ấy, ngày 3-5-1948, do bị một cơn sốt rét ác tính, đồng chí Lộc qua đời. Anh em ngậm ngùi chôn cất đồng chí trong khu rừng Khuôn Tát, xã Phú Đình, Định Hoá, Thái Nguyên. Sau khi đồng chí qua đời, có một kỷ niệm vô cùng sâu sắc mà tất cả các anh em đều nhớ mãi. Đó là, sáng 19-5-1948, anh em cảnh vệ phục vụ giúp việc Bác Hồ bí mật sửa soạn từ tối hôm trước để tổ chức chúc thọ Bác. Anh em dậy từ đêm, hái một bó hoa rừng, chờ sẵn Bác, khi Người bước từ căn gác nhỏ nhà sàn xuống, anh em chạy lại xếp hàng ngang trước mặt Bác, và cử một đồng chí nhanh nhẹn nói một câu vắn tắt: “Nhân dịp sinh nhật Bác, chúng cháu kính chúc Bác mạnh khỏe, sống lâu”.

Anh em đều rất vui mừng vì đã tổ chức một buổi sinh nhật Bác rất đúng kế hoạch, giản dị mà vui vẻ. Nhưng khi cầm bó hoa rừng anh em vừa trao tặng, Bác rưng rưng nước mắt, Người nói: “Bác cám ơn các chú. Bác nhờ các chú đem bó hoa này đặt lên mộ chú Lộc cho Bác”. Lúc đó anh em ai cũng chảy nước mắt vì nhớ thương một người đồng chí và vì cả tình cảm mà Bác dành cho anh. Sau khi các anh em đem bó hoa rừng ra viếng mộ đồng chí Lộc theo đúng ý Bác, trở về Bác cháu quây quần dưới nhà sàn, Bác kể cho anh em nghe về đồng chí Lộc. Lúc này anh em mới biết người đồng chí nhỏ nhắn, thông minh, nhanh nhẹn, linh hoạt, hay cười, lạc quan không bao giờ nói đến khó khăn gian khổ, một người làm công việc tưởng chừng như nhỏ bé, giản đơn lại có một tiểu sử đáng khâm phục đến như vậy. Anh em càng xúc động hơn khi kết thúc câu chuyện, Bác nói: “Chú Đồng làm nhiệm vụ nấu ăn cho Bác và cho các chú, không phải vì chú ấy không có năng lực, ngược lại chú Đồng rất có khả năng, có thể đảm đương nhiều công việc quan trọng. Nhưng do tổ chức tin tưởng phân công cho chú ấy nấu ăn cho Bác và các chú, nên chú vui vẻ làm và làm việc gì cũng đến nơi đến chốn”. Vậy là lễ mừng sinh nhật Chủ tịch Hồ Chí Minh năm ấy đã trở thành một buổi Bác dạy anh em giúp việc, cảnh vệ về tấm gương của người cộng sản chân chính, mẫu mực và vô cùng giản dị, gần gũi: Hoàng Văn Lộc (tức Đồng, tức Ty).

Câu chuyện về đồng chí Lộc được đồng chí Vũ Kỳ – nguyên Thư ký của Chủ tịch Hồ Chí Minh viết trên báo Nhân dân năm 1970. Hơn 10 năm sau (1981), Viện Bảo tàng Hồ Chí Minh bất ngờ được đón một bà cụ cùng một người cháu từ Quảng Bình ra. Bà cụ xưng tên là Nguyễn Thị Cúc, và nói rằng bà chính là vợ ông Đồng (ông Lộc) – người đã được đồng chí Vũ kỳ viết bài trên báo Nhân dân. Sau khi tìm hiểu các nhân chứng để xác minh, Bảo tàng Hồ Chí Minh khẳng định đây chính là vợ của đồng chí Lộc, người vợ trẻ năm 1929 khi ông Lộc chia tay đi cùng Bác Hồ về Trung Quốc có dặn lại: “Anh đi công việc cho thượng cấp, em ở lại, nếu 3 năm anh không về em cứ đi lấy chồng”. Nhưng không phải chỉ 3 năm mà là hơn 50 năm sau, tức là đến năm 1981, chị Cúc mà hôm nay đã là bà Cúc mới có tin tức và biết về những việc làm của chồng qua bài báo của đồng chí Vũ Kỳ. Rất tiếc khi chia tay hai người chưa có con, nhưng bà Cúc ở vậy và tích cực tham gia các phong trào yêu nước của Việt kiều sinh sống tại Thái Lan.

Bà đã được về nước trong đoàn Việt kiều đầu tiên hồi hương năm 1960. Về đến Việt Nam bà được ban Việt kiều phân công định cư tại Quảng Bình. Trải qua hai cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, hầu như tài sản của bà không còn gì. Không vốn liếng, không con cái, bà sống một cuộc sống khá chật vật, nhờ vào mở một quán nước bên bến phà.

Năm sau (1982), khi đi công tác qua phà Quảng Bình, tôi đã được theo đồng chí Vũ Kỳ tìm đến thăm bà cụ. Chứng kiến cảnh nghèo khó của bà Cúc, đồng chí Vũ Kỳ rất xúc động. Khi vào đến thành phố Huế, đồng chí Vũ Kỳ đã đề nghị Bí thư Tỉnh Uỷ Bình Trị Thiên khi đó là đồng chí Vũ Thắng đón bà cụ vào nhà dưỡng lão của tỉnh Bình Trị Thiên (ở thành phố Huế) để thuận tiện chăm sóc cụ khi tuổi già sức yếu. Năm 1985, đích thân đồng chí Vũ Kỳ làm văn bản đề nghị Nhà nước truy tặng đồng chí Lộc là liệt sỹ, và giải quyết cho bà Cúc được hưởng chế độ vợ liệt sỹ. Sau đó, trong những buổi nói chuyện với chúng tôi, đồng chí Vũ Kỳ thường hay nhắc: Chúng ta có cuộc sống hôm nay bởi có biết bao những tấm gương hy sinh thầm lặng như đồng chí Lộc, như bà Cúc. Những con người hy sinh hạnh phúc cá nhân của mình vì hạnh phúc chung của toàn dân tộc, mà không một toan tính, không một lần đòi hỏi được đền đáp.

Trọn đời mình, đồng chí Lộc là một cán bộ trung thành, tận tụy, liêm khiết, lạc quan, hoàn thành xuất sắc tất cả các nhiệm vụ được Đảng và Nhà nước giao phó, một tấm gương trung thành với Đảng, suốt đời làm việc cho Đảng, không tính toán cá nhân, đòi hỏi địa vị.

Với truyền thống uống nước nhớ nguồn, đền ơn đáp nghĩa những chiến sĩ cách mạng cống hiến cả cuộc đời mình cho dân tộc. Đặc biệt nhằm ghi nhận đầy đủ những đóng góp của đồng chí Lộc và người bạn đời của ông đối với cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, những người cán bộ viên chức của Bảo tàng Hồ Chí Minh chúng tôi có nguyện vọng tiếp tục thực hiện mong mỏi của bà Cúc mà trước đây bà vẫn chưa kịp hoàn thành: Đề nghị nhà nước truy phong danh hiệu “gia đình có công với nước” và Huân chương cao quý cho đồng chí Hoàng Văn Lộc – người đảng viên cộng sản chân chính, người được Bác Hồ nhận xét bằng những lời giản dị, ngày 19-5-1948: “Trong lúc khó khăn gian khổ làm việc không chút nề hà, đến lúc nước nhà độc lập cũng không mảy may đòi hưởng thụ”./.

Theo TS. Chu Đức Tính – Giám đốc Bảo tàng Hồ Chí Minh
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Nhìn lại cuộc đời Hồ Chủ tịch ngay sau ngày mất

Alden Whiteman đã viết rất thiện cảm với Bác Hồ cũng như cuộc đấu tranh chống đế quốc của dân tộc Việt Nam ngay khi nước Mỹ còn tham chiến. Ảnh: TL

LTS: Trên báo chí phương Tây có một mục gọi là Obituary. Đó là mục dành cho những bài viết về cuộc đời và sự nghiệp của một người nổi tiếng vừa mất. Nhiều cơ quan báo chí đã đặt sẵn bài viết về các nhân vật nổi tiếng ngay khi họ còn sống, và khi họ vừa nằm xuống thì có ngay bài xuất hiện ở mục Obituary.

Bài viết về chủ tịch Hồ Chí Minh dưới đây là thuộc loại bài Obituary như vậy. Nó được đăng trên tờ báo danh tiếng của Mỹ New York Times ngay sau khi Bác Hồ của chúng ta vừa qua đời. Tác giả bài viết là Alden Whitman (1913-1990), một nhà báo Mỹ, viết cho New York Times từ 1951 và nổi tiếng về những bài viết cho mục Obituary.

Chính khách nổi bật

Trong số các chính khách thế kỷ XX, Hồ Chí Minh nổi bật về sự dẻo dai và kiên trì khi ông theo đuổi mục đích giành độc lập cho Việt Nam và về thành công trong việc kết hợp chủ nghĩa dân tộc với chủ nghĩa cộng sản.

Từ trẻ ông đã mong muốn tự do cho Việt Nam đang bị Pháp đô hộ. Ông đã kiên trì qua nhiều năm khi cơ hội đạt mục đích của ông là vô cùng nhỏ nhoi và dường như khó tin. Cuối cùng, ông đã tổ chức nên việc đánh bại Pháp năm 1954 tại trận Điện Biên Phủ lịch sử. Trận đánh đó, khúc ca khải hoàn của chiến lược chiến tranh du kích, diễn ra chín năm sau ngày ông được bầu làm Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa.

Sau sự phân chia tạm thời nước Việt Nam bằng vĩ tuyến 17 theo hiệp định Geneve năm 1954 và sau khi sự phân chia đó bị chính quyền Ngô Đình Diệm ở miền Nam được Mỹ hậu thuẫn biến thành thực tế tàn nhẫn, ông Hồ đã lãnh đạo nhân dân miền Bắc chống chọi lại thế lực quân sự hùng mạnh của Mỹ. Trong chiến tranh, Thủ đô Hà Nội của ông Hồ cùng với các thành phố khác thường xuyên bị máy bay Mỹ ném bom.

Đồng thời ông Hồ còn là nguồn cảm hứng cho Mặt trận Dân tộc giải phóng (Việt Cộng) hoạt động ở Nam Việt Nam trong cuộc đấu tranh lâu dài và tốn kém chống lại chế độ Sài Gòn cùng Mỹ và các đồng minh.

Trong cuộc chiến tranh mà Mỹ ngày càng dính sâu vào, đặc biệt từ sau năm 1964, ông Hồ vẫn khéo léo giữ được thế cân bằng trong quan hệ với Liên Xô và Cộng hòa nhân dân Trung Hoa. Hai nước này bất đồng về tư tưởng nhưng vẫn là nguồn chính cung cấp lương thực và vũ khí cho Việt Nam. Nhờ những biện pháp ngoại giao khôn khéo của mình, ông vẫn giữ được quan hệ thân thiện với mỗi bên.

Nhã nhặn, tinh tế, thạo đời, lịch thiệp, không thù ghét cá nhân

Đối với 19 triệu người ở bắc vĩ tuyến 17 và hàng triệu người khác ở nam vĩ tuyến, thân hình nhỏ bé, mảnh khảnh giống như chiếc ngà voi của ông Hồ, với khuôn mặt dài khổ hạnh, chòm râu phơ phất, đôi má trũng sâu, và cặp mắt sáng, là của một vị tộc trưởng, là George Washington của dân tộc ông.

Mặc dù tên ông không được gắn cho các quảng trường, dinh thự, nhà máy, sân bay hay tượng đài, nhưng sức hấp dẫn của ông là hiển nhiên, cũng như tình cảm của người dân bình thường dành cho ông.

Bác Hồ luôn đặc biệt quan tâm đến nền giáo dục nước nhà. Ảnh T.L

Ông được người dân quen thuộc gọi là “Bác Hồ”. Trước khi những đòi hỏi của chiến tranh khiến ông phải hạn chế bớt các bổn phận của mình, ông thường tới thăm các làng mạc và thị trấn. Ăn mặc giản dị, ông đặc biệt thích đến các trường học và trò chuyện với trẻ em.

Những người phương Tây biết ông đều tin rằng, dù ông rất khôn ngoan, mưu mẹo trong các vấn đề chính trị rộng lớn, nhưng trong cách nói chuyện của ông đối với dân chúng không hề có cảm giác nào như vậy.

Quả thực, uy tín cá nhân của ông Hồ phổ biến đến mức tất cả mọi người, ngay cả các kẻ thù chính trị của ông, đều thừa nhận là nếu như cuộc tổng tuyển cử theo Hiệp định Geneve được tổ chức thì nước Việt Nam đã được thống nhất dưới sự lãnh đạo của ông.

Thông minh, tháo vát và tận tụy, ông Hồ đã tạo được ấn tượng tốt đẹp nơi nhiều người tiếp xúc với ông. Một người như thế là Harry Ashmore của Trung tâm nghiên cứu các thể chế dân chủ và là cựu chủ bút tờ Arkansas Gazette.

Ông Ashmore và ông William C.Baggs, chủ bút tờ Miami News đã quá cố, là những người Mỹ cuối cùng đã có cuộc trò chuyện dài với ông Hồ khi họ đến thăm Hà Nội đầu năm 1967.

“Ông Hồ là một người nhã nhặn, tinh tế, rất thạo đời, với cung cách lịch thiệp và không hề có sự thù ghét cá nhân”, ông Ashmore nhớ lại trong một cuộc phỏng vấn gần đây. Tại buổi gặp ông Hồ mặc bộ quần áo trắng cổ cao quen thuộc của ông, chân đi đôi dép cao su hở ngón. Ông liên tục hút thuốc, loại thuốc Salems của Mỹ.

“Tôi nghĩ tôi biết nhân dân Mỹ”

Cuộc nói chuyện kéo dài một giờ của họ bắt đầu bằng tiếng Việt có người phiên dịch, ông Ashmore nhớ lại, nhưng sau đó chuyển ngay sang tiếng Anh. Ông Hồ đã khiến Ashmore kinh ngạc trước khả năng thông thạo tiếng Anh của ông. Tiếng Anh là một trong những thứ tiếng ông Hồ nói lưu loát, cùng với các thứ tiếng Trung, Pháp, Đức và Nga.

Có một lúc ông Hồ nhắc lại với Ashmore và Baggs là ông đã từng đến Mỹ. “Tôi nghĩ là tôi biết nhân dân Mỹ”, ông Hồ nói, “và tôi không thể hiểu làm sao họ lại có thể ủng hộ sự dính líu vào cuộc chiến tranh này. Chẳng lẽ tượng Thần Tự do đã bị lộn ngược đầu?”

Đây là câu hỏi tu từ mà ông Hồ cũng đặt ra đối với những người Mỹ khác để nhấn mạnh điều ông nghĩ là mâu thuẫn: Một dân tộc thuộc địa đã làm cách mạng giành được độc lập lại gây chiến để đàn áp nền độc lập của một dân tộc thuộc địa khác.

Ông Hồ hiểu sâu sắc lịch sử nước Mỹ và ông đã tận dụng lợi thế này vào mùa hè năm 1945 khi viết bản Tuyên ngôn Độc lập của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa. Ông nhớ nội dung Tuyên ngôn Độc lập của Mỹ, chứ không phải thuộc từng câu chữ. Từ phái đoàn quân sự Mỹ khi đó hợp tác với ông, ông đã cố gắng vô vọng kiếm một bản sao của Tuyên ngôn, và khi không có ai kiếm được nó, ông Hồ đã tóm tắt lại những điều ông nhớ được.

Bản Tuyên ngôn của Mỹ mở đầu: “Tất cả mọi người được tạo ra bình đẳng; họ được tạo hóa của họ cấp cho một số quyền không thể chuyển nhượng được; trong số đó có quyền Sống, Tự Do và mưu cầu Hạnh Phúc”. Sau khi giải thích điều đó nghĩa là “tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”, ông Hồ liền liệt kê, theo cách Tuyên ngôn của Mỹ, những nỗi khổ của nhân dân mình và tuyên bố sự độc lập của họ.

“Hãy chờ khi tôi chết đã. Khi đó anh có thể viết gì về tôi tùy ý”

Ngoài những người Mỹ, ông Hồ còn gây được thiện cảm với nhiều người có dịp gặp ông trong nhiều năm. “Một con người hết sức đáng yêu và thân thiện” là lời mô tả của Jawaharlal Nehru, lãnh tụ Ấn Độ. Paul Mus, nhà Đông phương học người Pháp từng có nhiều cuộc trò chuyện thân thiết với ông Hồ những năm 1946 và 1947 nhận thấy ông là “một nhà cách mạng không khoan nhượng về chính trị và không thể mua chuộc được, một kiểu Thánh Just”.

Một sĩ quan hải quân Pháp có dịp quan sát con người Việt Nam mảnh khảnh này trong ba tuần ông là khách đi tàu đã kết luận rằng ông Hồ là “một con người thông minh và quyến rũ, một nhà lý tưởng nồng nàn dốc hết đời mình cho sự nghiệp đã theo đuổi” và là một người “có niềm tin chất phác vào những khẩu hiệu chính trị – xã hội của thời đại chúng ta, và nói chung, vào mọi thứ được in ra”.

Ông Hồ là một người cộng sản hết sức thực tế, làm nhiều hơn nói. Các bài viết bài nói của ông đơn giản, rõ ràng, phần lớn mang nội dung tuyên truyền hoặc luận chiến, khó kết được vào hệ thống của học thuyết Mác-xít.

Giống Mao Trạch Đông, một lãnh tụ cộng sản anh em, ông Hồ có làm thơ, một số bài khá xúc động. Bài “Đêm thu” ông làm khi bị Quốc dân đảng Trung Quốc bắt giam năm 1942-1943 đã được đọc lên qua bản dịch của Aileen Palmer:

Trước cửa lính canh bồng súng đứng
Trên trời trăng lướt giữa làn mây
Rệp bò lổm ngổm như xe cóc
Muỗi lượn nghênh ngang tựa máy bay
Nghìn dặm bâng khuâng hồn nước cũ
Muôn tơ vương vấn mộng sầu nay
Ở tù năm trọn thân vô tội
Hòa lệ thành thơ tả nỗi này.

Việc ông Hồ lên nắm quyền và nổi tiếng thế giới là một câu chuyện không có đầy đủ tài liệu. Ngược lại, những chi tiết của quá trình này lại có một số điểm thiếu chính xác. Điều này dẫn đến chỗ có thời gian người ta ngờ là có hai ông Hồ, một thông tin mà Sở mật thám Pháp coi thường khi họ so sánh các bức ảnh hai thời kỳ trước và sau của ông Hồ.

Một cách giải thích cho sự nhầm lẫn này là ông Hồ dùng hàng chục bí danh trong quá trình hoạt động của mình mà tên gọi Hồ Chí Minh chỉ là một trong số đó. Một lý do khác là ông Hồ không muốn công khai tiểu sử của mình. “Anh biết đấy, tôi là một người già, và một người già như tôi thì thích giữ lại cho mình một vài bí mật nho nhỏ”, ông nói với B. Fall. Và ông nháy mắt nói tiếp: “Hãy chờ khi tôi chết đã. Khi đó anh có thể viết gì về tôi tùy ý”.

Tuy nhiên, ông Fall kể lại, trước khi rời Hà Nội ông đã nhận được một bản tóm tắt cuộc đời ông Hồ không có chữ ký, “rõ ràng đây là làm theo lệnh ông cụ”.

Bất chấp bề ngoài có vẻ muốn tự xóa mình đi, ông Hồ vẫn biết cách thể hiện mình. Ông Fall kể có lần ông đưa cho ông Hồ xem bức ký họa vợ ông vẽ ông Hồ. “Phải, đẹp lắm. Trông nó rất giống tôi”, ông Hồ thốt lên.

Ông lấy bó hoa ở bàn bên cạnh trao cho Fall và nói: “Anh hãy nói với cô ấy là bức vẽ rất đẹp, nhờ anh thay tôi tặng cô ấy bó hoa này và hôn vào hai má cô ấy hộ tôi nhé”.

Vũ khí nguyên tử cũng không thể bắt chúng tôi đầu hàng

Ông Hồ tin tưởng vững chắc vào thắng lợi của cuộc chiến tranh. Năm 1962 khi cuộc chiến còn bó hẹp giữa một bên là quân đội Nam Việt Nam và 11000 cố vấn Mỹ và một bên là quân giải phóng số lượng ít hơn, ông đã nói với một vị khách Pháp: “Chúng tôi đã phải chiến đấu gian khổ tám năm để đánh bại nước Pháp các ông, mà ông biết là nước ông có những quan hệ cũ ở đây. Bây giờ chế độ Nam Việt Nam được trang bị tốt hơn, lại được Mỹ hỗ trợ. Quân Mỹ mạnh hơn Pháp rất nhiều, dù họ hiểu chúng tôi kém hơn. Vì vậy có lẽ phải mất 10 năm để làm việc đó, nhưng nhân dân anh hùng của chúng tôi ở miền Nam cuối cùng sẽ đánh bại chúng”.

Đầu năm 1967 ông vẫn tin tưởng như vậy khi trò chuyện với Ashmore và Baggs. “Chúng tôi đã chiến đấu cho nền độc lập của mình hơn 25 năm”, ông nói với họ, “và tất nhiên chúng tôi yêu quý hòa bình, nhưng chúng tôi sẽ không bao giờ từ bỏ nền độc lập của mình để đổi lấy hòa bình với Mỹ hay bất cứ ai khác”.

Kết thúc cuộc gặp, ông nắm bàn tay phải lại thành quả đấm và nói xúc động: “Các ngài cần phải biết quyết tâm của chúng tôi. Ngay cả vũ khí nguyên tử của các ngài cũng không thể bắt được chúng tôi đầu hàng sau cuộc đấu tranh lâu dài và mãnh liệt vì nền độc lập của đất nước”.

Ông bình thản khi nói về cái chết của mình. Người ta yêu cầu ông bỏ thuốc lá nhưng ông vẫn hút. “Khi các ngài đến tuổi già như tôi thì chẳng phải lo lắng đến tác hại của thuốc lá nữa”, ông nói.

Bài viết của tác giả Alden Whitman, New York Times, 4/9/1969
Ngân Xuyên (dịch)
Theo hoatdongtuthien.org
Phương Thúy (st).

bqllang.gov.vn

Bác Hồ với đồng bào dân tộc Tây Nguyên

Ngày 19 tháng 4 năm 1946, Hội nghị các dân tộc thiểu số miền Nam được tổ chức tại Pleiku (Gia Lai). Trên 100 đại biểu dân tộc Tây Nguyên, Nam Trung Bộ đã về dự Hội nghị. Trong Hội nghị này, các đại biểu đã vinh dự đón nhận bức thư viết của Bác Hồ: “Đồng bào Kinh hay Tày, Mường hay Mán, Gia Rai hay Ê Đê, Ba Na, Xê Đăng hay M’Nông và các dân tộc thiểu số khác, đều là con cháu Việt Nam, đều là anh em ruột thịt. Chúng ta sống chết có nhau, sướng, khổ, no, đói bên nhau…Sông có thể cạn, núi có thể mòn, nhưng lòng đoàn kết của chúng ta không bao giờ giảm bớt…”.

Đó là tình cảm cao quý của Người đối với đồng bào các dân tộc Tây Nguyên, như truyền thêm sức mạnh cho đồng bào vững niềm tin vào Đảng, Bác Hồ, đoàn kết đứng lên làm cách mạng, đánh đuổi quân xâm lược, giữ lấy núi rừng Tây Nguyên.

Cách mạng tháng Tám thành công, bác sĩ Y Ngông được trúng cử vào Quốc hội. Trong buổi đầu tiên Quốc hội ra mắt, bác sĩ Y Ngông được nghe Bác Hồ phát biểu:…“Ngày nay, nước Việt Nam là nước chung của người Kinh và người Thượng”…

Bác sĩ Y Ngông kể: Tôi còn nhớ một chuyện xảy ra năm 1949, giặc Pháp vào một làng Ê Đê ở Đak Lak, chúng đem hai tấm ảnh, một ảnh Đắc-Giăng-Liơ (D’Argenlieu) và một ảnh Hồ Chủ tịch ra hỏi dân làng:

– Ai là Hồ Chí Minh, ai là D’Argenlieu?

– Người gầy gầy là ông Hồ Chí Minh, người mũi lõ là D’Argenlieu.

– Ai tốt, ai xấu?

– Ông Hồ Chí Minh là người tốt, D’Argenlieu là người xấu

– Vì sao ông Hồ Chí Minh tốt?

– Vì người lãnh đạo đánh thực dân phát xít Pháp, phát xít Nhật, đem lại hạnh phúc cho dân tộc chúng tôi. Thực dân Pháp là kẻ thù xâm lược.

Lòng kính yêu Bác Hồ của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên nhiều như cây trên rừng, cao như núi đá, dài như nước suối. Từng rễ cây rừng cũng muốn uống nước nguồn của Bác Hồ, từng lá cây trên núi cũng muốn đón gió của Bác Hồ.

Anh A Vai, dân tộc Pakô, anh hùng lực lượng vũ trang kể:

– A Vân, một trai làng của dân tộc Pakô, dẫn dân làng đi gặt lúa, tiếp tế cho cách mạng. Mọi người đang gặt thì địch đến càn. A Vân hô lớn báo hiệu cho bà con rút chạy. Anh ở lại đánh lạc hướng và bị địch bắt. Bọn chúng tra khảo anh nhưng anh không hề khai lấy nửa lời. Chúng đánh đập anh rất dã man làm anh ngất đi nhiều lần. Khi tỉnh dậy chúng lấy đinh đóng vào mười đầu ngón tay và mười ngón chân của anh vào cây Tyo. Anh A Vân đau đớn nhưng không hề kêu than lấy một lời. Anh im lặng nhìn thẳng vào mặt quân thù. Cái nhìn im lặng và cặp mắt anh làm cho quân thù khiếp sợ. Trước khi hi sinh A Vân đã gọi A Vóoc Hồ ba lần…

Hôm tôi lên đường ra thăm miền Bắc, các già làng băn khoăn sợ tôi còn trẻ không nói hết tấm lòng của người Pakô với A Voóc Hồ, với Cách mạng và đồng bào miền Bắc ruột thịt, nên các già làng đã căn dặn tôi: “Nếu được gặp A Voóc Hồ, con không biết nói điều gì thì cứ kể chuyện A Vân và cây Tyo kia cho A Vóoc Hồ nghe là đủ, vì đó là tấm lòng của người Pakô chúng ta đối với A Vóoc Hồ.”

Gần đây, chúng tôi về thăm lại vùng căn cứ kháng chiến Buôn Ngô, huyện Kroong Bông, được gặp lại già làng A MaRil là một du kích dũng cảm thời kháng chiến chống Mỹ cứu nước, đã từng dùng tên tẩm thuốc độc bắn chết nhiều lính Mỹ, đẩy lùi nhiều trận càn của địch, bảo vệ an toàn vùng căn cứ kháng chiến của ta. Gặp lại chúng tôi A MaRil mừng lắm. Sau một ngày leo đèo vượt suối, dẫn chúng tôi vào thăm lại hang đá Buôn Ngô. A MaRil tiếp chúng tôi dưới một mái nhà sàn, bên ché rượu cần và nói:

– Có được cuộc sống ấm no như hôm nay, người dân Buôn Ngô ơn Bác Hồ, ơn Đảng lắm.

Ơn này cao như núi Cư Yang Sing, dài như sông Krông Bông, người Buôn Ngô khắc sâu muôn đời.

Rồi A MaRil lấy ra một gói nhỏ được bọc nhiều lớp vải và giấy, trong đó có một ảnh Bác Hồ và một lá cờ đỏ sao vàng bằng giấy lụa đã bạc màu.

A MaRil nói: Ảnh Bác Hồ và lá cờ Tổ quốc này là do một cán bộ miền Nam tặng mình hồi mới đánh xong giặc Pháp, tập kết ra miền Bắc. Mình giữ vật quý này gần 50 năm rồi đấy. Trong những năm đánh Mỹ ác liệt, mấy lần buôn làng bị cháy, bọn địch càn đi quét lại nhiều lần, nhưng mình vẫn giữ nó. Hai vật quý này là niềm tin của mình, của Buôn Ngô đối với Bác Hồ, với Cách mạng đó.

Rồi A MaRil kể: “Hồi kháng chiến chống Mỹ cứu nước, buôn mình có ba người gùi gạo vào rừng cho cách mạng. Trên đường đi họ gặp một toán biệt kích, chúng bắt được 3 người và định đưa ra bắn. Trong nhóm người đó có già làng AMaYa, ông nói với lính ngụy: Trước sau gì bọn mày cũng bắn chúng tao, nhưng trước khi đưa ra bắn, bọn mày cho tao được hát. Thế thôi, AMaYa hát bài Khan Êđe. Cả toán lính ngụy, chủ yếu là người dân tộc, ngồi nghe im phăng phắc theo lời kể khan của AMaYa. Kể xong già làng AMaYa nói: Cán bộ, bộ đội Cụ Hồ là Cách mạng, họ cũng tốt như Đam San, đánh kẻ ác, cứu người nghèo khổ bảo vệ làng buôn. Bọn mày là con em đồng bào, nên quay súng trở về với Cách mạng với Bác Hồ, để được như Đam San diệt kẻ ác cứu đồng bào, buôn làng mình”.

Nghe AMaYa nói vậy, một tên lính đứng lên và nói: “Già làng nói trúng cái bụng chúng mình lắm. Thôi chúng mình đi theo già làng về với Cách mạng, anh em ơi! Thế là cả toán lính ngụy trở về với Cách mạng”.

Kể xong A MaRil cười sảng khoái và nói: “Tình cảm của người dân Buôn Ngô đối với Bác Hồ, đối với Cách mạng là thế đó”.

Cụ Y BilAlêô, dân tộc Êđê, nguyên là Phó Chủ tịch đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, ủy viên Hội đồng cố vấn Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, được hân hạnh gặp Bác, sau khi Người thăm hỏi ân cần…cụ mạnh dạn thưa chuyện với Bác: “Đồng bào Tây Nguyên còn nghèo lắm, nghèo cả cán bộ nữa, muốn xin Bác cho nhiều cán bộ giỏi ạ”.

Bác cười và nhẹ nhàng hỏi lại:

– Đồng bào ta có nuôi gà không?

– Thưa bác, đồng bào nuôi nhiều gà lắm ạ.

– Đồng bào nuôi nhiều gà như vậy là tốt, lần này gà đẻ năm trứng, lần sau mười trứng, mười trứng rồi nở thành con. Chính những con gà đẻ và nở trong vùng ấy mới thích hợp với hoàn cảnh ở đó…Cứ mỗi năm có một hai cán bộ dân tộc đi làm việc, nhiều năm sẽ có nhiều cán bộ gương mẫu, hiểu tâm tư nguyện vọng của dân tộc mình…

Cụ Y BilAlêô khẳng định: “Tình cảm của Bác Hồ đối với dân tộc là sức mạnh vô biên, luôn luôn tràn đầy như nước sông Ba và cao như ngọn núi Cư Giang Sin. Chúng tôi nhớ lời Bác Hồ và uống rượu cần thề với nhau sẽ mãi mãi đi theo con đường của Bác vạch ra để giải phóng quê hương”.

Hơn nửa thế kỷ trôi qua, nhưng tư tưởng của Bác về vấn đề dân tộc vẫn còn im đậm trong trái tim chúng ta, tình cảm của Bác Hồ đối với đồng bào dân tộc Tây Nguyên vẫn sống mãi trong lòng mọi người. Nó đã trở thành niềm tin, sức mạnh của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên vững bước đi theo con đường của Bác Hồ đã chọn, để bảo vệ và xây dựng Tây Nguyên ngày càng đẹp giàu.

Theo cuốn Hồ Chí Minh – Hiện thân của Văn hóa Hòa bình
Anh Tú (st)

bqllang.gov.vn

Vào Quốc hội không phải để làm quan

Kỷ niệm 121 năm ngày sinh của Bác Hồ và 100 năm ngày Bác ra đi tìm đường cứu nước năm nay lại cận kề với cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XIII và đại biểu HĐND các cấp.

Dịp này, nhà sử học Dương Trung Quốc đã dành cho Pháp Luật TP.HCM bài viết về một ứng cử viên mang tên Hồ Chí Minh. Bài viết cho thấy nhiều quan điểm, hành động của Bác về công tác bầu cử cũng như hoạt động của cơ quan dân cử vẫn có giá trị dẫn đường cho đến ngày hôm nay.

Là người kiến tạo ra nền chính trị Việt Nam hiện đại, Chủ tịch Hồ Chí Minh ý thức được tầm quan trọng của QH trong một thể chế dân chủ-cộng hòa được khẳng định từ rất sớm trong cương lĩnh Cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam.

Người lãnh đạo càng phải gương mẫu

Có thể nói không chỉ những vấn đề lý luận mà ngay cả kỹ năng tổ chức QH và kỹ năng thực thi trách nhiệm của một ĐBQH cũng được Bác rất quan tâm. Bác đặc biệt quan tâm đến việc làm sao một tổ chức chính trị của một đảng cách mạng và một quần chúng mới thoát ra khỏi thân phận là thần dân của chế độ phong kiến, thuộc dân của chế độ thuộc địa có thể bắt kịp với một cuộc bầu cử và đưa vào vận hành một thể chế chính trị tiên tiến như QH. Bác rất ý thức được tâm thế của người phương Đông là tính gương mẫu của người cầm quyền của các nhà lãnh đạo. Vì thế Bác luôn tự mình làm gương cho mọi người.

Để bảo đảm mối đoàn kết toàn dân, tháng 11-1945, theo chủ trương của Bác, Đảng Cộng sản Đông Dương tuyên bố “tự giải tán”, thực chất là rút vào hoạt động không công khai, chỉ có một bộ phận công khai mang tên tổ chức “Hội Nghiên cứu Chủ nghĩa Mác”. Khi ra ứng cử Bác cũng không lấy danh nghĩa này mà ứng cử với danh nghĩa “Đảng Quốc dân”. Thực chất chưa hề thành lập một tổ chức chính trị như thế nhưng có thể đấy là cách Bác cụ thể hóa tư tưởng đã từng tuyên bố công khai: “Đối với tôi chỉ có một đảng là Đảng Việt Nam tập hợp tất cả mọi người Việt Nam chỉ trừ hai hạng người là kẻ phản quốc và tham nhũng…”.

Các ứng cử viên ĐBQH khóa I trong lễ ra mắt cử tri tại Việt Nam học xá (nay là trường Đại học Bách khoa Hà Nội). (Ảnh tư liệu trong sách ảnh 60 năm chính phủ Việt Nam của Nhà xuất bản Thông Tấn)

Bác dạy ta “bài học vỡ lòng” về dân chủ

Chủ tịch Hồ Chí Minh ứng cử tại Hà Nội. Khi ấy, 118 vị chủ tịch UBND và tất cả các đại biểu làng xã tại Hà Nội đề nghị Bác “miễn phải ứng cử” và suy tôn làm chủ tịch vĩnh viễn nhưng Bác đã từ chối. Đấy là bài học vỡ lòng về “dân chủ” mà Bác muốn truyền cho nhân dân về nguyên lý: Mọi công dân đều bình đẳng và tuân thủ pháp luật. Nó cũng biểu hiện tính gương mẫu của người lãnh đạo vì lúc này Bác đang là chủ tịch Chính phủ lâm thời cũng được bầu ra từ một “Quốc dân đại hội” (họp trên Tân Trào) – là một hình thức sơ khai, tiền thân của QH.

Tôi muốn trích lại một đoạn trong thư trả lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh đề ngày 15-12-1945: “Tôi rất cảm động thấy toàn thể đồng bào ngoại thành Hà Nội đã có lòng quá yêu tôi… Nhưng tôi là một công dân nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nên không thể vượt qua thể lệ tổng tuyển cử đã định. Tôi đã ứng cử ở TP Hà Nội nên không thể ra ứng cử ở nơi nào khác nữa…”.

Tại kỳ họp thứ hai (từ ngày 23-10 đến 9-11-1946), trong buổi khai mạc, ĐBQH tỉnh Rạch Giá là ông Nguyễn Văn Tạo (sau này từng làm bộ trưởng Bộ Lao động) đã thay mặt các đại biểu Nam Bộ đưa ra đề nghị QH suy tôn Chủ tịch Hồ Chí Minh là “Người Công dân số 1” của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đây là cách vinh danh mà nhiều nước tiên tiến đã sử dụng và được toàn thể QH đồng tình tán thành. Đó cũng là sự xác nhận một sự thực lịch sử là Chủ tịch Hồ Chí Minh chính là người đã lựa chọn và xác lập thể chế cộng hòa-dân chủ của nước Việt Nam độc lập.

Đặt mục tiêu đại đoàn kết lên hàng đầu

Ta có thể đọc rất nhiều bài viết hay và sâu sắc của Bác về QH và vai trò ĐBQH. Tôi muốn nhấn mạnh đến sự lựa chọn và thiết lập một thể chế chính trị phù hợp với Việt Nam của Bác, khi cách mạng đã giành được chính quyền.

Bác đã từng say mê với lý tưởng “tự do-bình đẳng-bác ái” của cách mạng Pháp; Bác cũng từng khâm phục tư tưởng về một nhà nước “của dân, do dân, vì dân” của A. Lincohn và thể chế nghị viện của Mỹ; Bác cũng từng trải nghiệm chế độ Xô Viết ở Liên Xô và thời Quảng Châu công xã ở Trung Quốc. Cuối cùng Bác lựa chọn chế độ cộng hòa dân chủ. Đây là một thể chế chính trị gắn với học thuyết “Tam Dân” của Tôn Trung Sơn, một nhà dân chủ Trung Hoa đã tiếp thu và phương Đông hóa những tư tưởng chính trị phương Tây mà hạt nhân là của Mỹ. “Tam Dân” gắn với ba mục tiêu: dân tộc độc lập, dân quyền tự do và dân sinh hạnh phúc.

Tuy nhiên, Bác cũng vận dụng phù hợp với hoàn cảnh của dân tộc Việt Nam khi đặt mục tiêu đại đoàn kết lên hàng đầu. Do vậy mà QH Việt Nam luôn coi trọng tính đại diện của mọi tầng lớp nhân dân. Bác chủ động mời hay vận động nhiều đối tượng mà sự có mặt của họ trong QH có lợi hơn là để họ đứng ngoài, ví như Cựu hoàng Bảo Đại, nhiều vị quan lại cao cấp của chế độ cũ, các trí thức tiêu biểu… Thậm chí những người đối lập Bác cũng tìm mọi cách vận động tham gia QH.

Nhiều người hay nhắc đến việc tại kỳ họp đầu tiên, 70 đại biểu một số đảng phái đối lập từng chống phá Việt Minh tham gia QH. Đúng là họ đòi chia quyền, tẩy chay bầu QH. Nhưng QH bầu rồi Bác vận động họ tham gia và vận động cả QH cho phép họ tham gia. Thực tế cho thấy họ tham gia trong khuôn khổ hoạt động QH khiến họ khó chống đối hơn, thậm chí có một số vị đã ngả dần theo nhân dân. Đến kỳ họp sau (tháng 10 và 11-1946), khi quân Tưởng đã rút và ta đã ký Hiệp định Sơ bộ thì tự động họ bỏ cuộc… Đó không chỉ là nước cờ cao tay mà thực sự là một cách làm chính trị chính nghĩa.

Vào QH để đóng góp, hy sinh

Tại kỳ họp đầu tiên của QH khóa I, người điều khiển do một vị nhân sĩ Thiên Chúa giáo đảm nhiệm vì là người cao tuổi nhất; dân chúng được vào xem QH (ngồi trên tầng trên cùng của Nhà hát Lớn)… Tức là đúng như những tập quán của các nước dân chủ tiên tiến khi đó.

Bầu cử với số dư rất lớn, Hà Nội chọn có sáu đại biểu từ 72 ứng cử viên. Người được bầu làm trưởng Ban Thường trực (Chủ tịch) cũng là một nhân sĩ, một nhà sử học – cụ Nguyễn Văn Tố. Chính cụ đã nêu tấm gương kiên cường chấp nhận hy sinh khi giặc Pháp bắt được (1947). Và trước đó, ngay trong ngày mở đầu Toàn quốc kháng chiến, bác sĩ Nguyên Văn Luyện, cũng là một ĐBQH đã bị Pháp sát hại ngay tại thủ đô… QH có sức mạnh, có uy tín vì như Bác nhắc nhở và kỳ vọng rằng “vào QH không phải để làm quan, để phát tài mà là để đóng góp, hy sinh, thực sự làm đầy tớ nhân dân…”.

DƯƠNG TRUNG QUỐC

phapluattp.vn