Thư viện

Bác sẽ chịu trách nhiệm cho

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thắng lợi, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà non trẻ nằm giữa vòng vây của thù trong giặc ngoài, vận nước nghìn cân treo sợi tóc, việc sống còn trước hết là phải giữ vững chính quyền cách mạng. Chủ tịch Hồ Chí Minh, người lãnh trách nhiệm trước lịch sử, trước dân tộc, cầm lái con thuyền cách mạng vượt lên mọi sóng gió, gìn giữ cho được độc lập dân tộc. Người luôn quan tâm đến các chiến sĩ ở ngoài mặt trận, ởbiên giới, hải đảo nói chung và bộ đội cảnh vệ bảo vệ ở Bắc Bộ Phủ nói riêng.

Vào những ngày đầu năm 1946, sau khi học một lớp đào tạo tại Khu Bốn cột ở Ngã tư Vọng, Hà Nội, tôi được điều động về làm Chính trị viên Đại đội 1, làm nhiệm vụ bảo vệ Bắc Bộ Phủ, nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh làm việc. Nhà Bắc Bộ Phủ gồm ba tầng, tầng trên cùng là nơi Bác Hồ và Cụ Huỳnh Thúc Kháng – Phó Chủ tịch nước làm việc. Tầng hai là nơi để Bác và Cụ Huỳnh tiếp khách, đồng thời là phòng họp của Chính phủ. Tầng một thường gọi là tầng hầm, được bố trí làm nhà bếp, nấu cơm hàng ngày của Cụ Hồ và Cụ Huỳnh Thúc Kháng và là nơi trú quân của cán bộ, chiến sỹ Đại đội 1 chúng tôi. Ở trên tầng ba nhưng hàng ngày Bác xuống tầng một để hỏi thăm sức khoẻ của cán bộ, chiến sỹ. Một hôm, Bác xuống thăm đúng vào giờ ăn cơm trưa, thấy trong mâm cơm chỉ có đĩa rau muống luộc, vài miếng đậu phụ kho tương, với bát nước luộc rau, Bác hỏi: “Các chú ăn có được no không?”. Tôi thay mặt cán bộ, chiến sỹ thưa lại với Bác. “Dạ thưa Cụ …”, (hồi ấy chúng tôi thường gọi Bác là Cụ, để biểu lộ lòng tôn kính vị Chủ tịch nước, sau này được phép mới gọi bằng Bác). Giọng Bác bùi ngùi, Người nói: “Nước ta mới giành được chính quyền, lại vừa qua nạn đói khủng khiếp năm 1945, nên còn nghèo lắm. Nay đang phải đối phó với cả ba thứ giặc: Giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm nên Chính phủ chưa thể tăng tiêu chuẩn ăn cho bộ đội. Các chú cố gắng tăng gia tự túc được rau, dồn tiền mua thêm ít thịt cá để cải thiện bữa ăn”. Rồi Bác hỏi: “Mỗi tuần các chú vẫn nhịn ăn một bữa để cứu đói đấy chứ?”. Tôi thưa lại với Bác: “Dạ thưa Cụ hàng tuần vào chiều thứ sáu chúng cháu vẫn thực hiện nhịn ăn một bữa để góp gạo cứu đói ạ”. Nghe chúng tôi thưa lại Người trầm ngâm suy nghĩ, nhìn anh em từ đầu đến chân rồi lặng lẽ bước lên cầu thang.

Mấy ngày sau, tôi triệu tập cán bộ Tiểu đội, Trung đội lên phổ biến chỉ thị mới của Cụ: Từ nay các chiến sỹ làm nhiệm vụ bảo vệ ở Bắc Bộ Phủ không phải nhịn ăn mỗi tuần một bữa nữa để bảo đảm sức khoẻ thực hiện nhiệm vụ.

Nghe tôi phổ biến xong anh em ai nấy đều xúc động, muốn khóc, nghĩ rằng hàng tuần vào chiều thứ sáu bếp nấu ăn cho Cụ Hồ và Cụ Huỳnh đều không nhóm lửa vì hai cụ vẫn làm gương nhịn ăn một bữa trong tuần để cứu đói cho đồng bào, bộ đội mình luyện tập và canh gác tuy có mệt nhưng làm sao mệt bằng các Cụ trăm công nghìn việc?

Bác Hồ còn chăm sóc đến giấc ngủ của các chiến sỹ. Một đêm đã khuya tôi đi thay phiên gác về, chợt trông thấy một bóng người đi đến từng giường, giắt lại màn cho từng chiến sỹ. Một chiến sỹ ngủ say bỏ tay ra ngoài, Người nhẹ nhàng nhấc bàn tay đặt vào rồi giắt lại màn rất cẩn thận. Lúc đầu tôi cứ tưởng là đồng chí Đại đội trưởng đi kiểm tra, khi đến gần, tôi giật mình nhận ra Bác Hồ, vị Chủ tịch nước của chúng ta! Tôi bước nhẹ nhàng đến gần Bác cất tiếng chào: “Cháu chào Cụ ạ”. Bác quay lại hỏi: “Chú là chỉ huy phải không?”. Tôi thưa lại: “Dạ thưa Cụ vâng ạ”. Tôi nhớ đêm hôm ấy là vào tháng 7 âm lịch, trời rất nóng. Gian buồng của Tiểu đội một chúng tôi lại ở gian giữa, không có quạt, không có cửa sổ cho nên càng nóng hơn, ban đêm muỗi lại nhiều. Bác nhìn tôi, lại nhìn các giường kê sát nhau, Bác nói: “Trời nóng thế này anhem ngủ sao được. Trên tầng hai rộng rãi lại có quạt trần, từ nay đêm nào nóng quá lên đó mà ngủ, sáng ra dọn dẹp xong lại xuống, còn bây giờ các chú có thể lên ngay”. Tôi thưa lại: “Cháu cảm ơn Cụ, nhưng để cháu báo cáo lại với cấp trên của cháu cho đúng quy định, nếu không thì sáng mai cháu bị khiển trách”. Bác nói ngay: “Đã khuya rồi, đừng báo cáo các chú chỉ huy nữa, chú cứ cho anh em lên tầng hai ngủ, sáng mai cấp trên của chú có hỏi, chú cứ báo cáo là Bác Hồ đã cho phép. Nếu chú bị khiển trách thì Bác sẽ chịu trách nhiệm cho”.

Từ ngày ấy, mấy chục nghìn ngày đã trôi qua, nhưng ấn tượng về sự chăm sóc ân cần của Bác Hồ đối với chiến sỹ vẫn in đậm trong tâm trí tôi. Với tấm lòng thành kính, tôi ước mong sao ai cũng học tập được một chút ít gì dù nhỏ nhoi theo tấm tương đạo đức của Người – quan tâm ân cần đối với những người sống quanh ta.

Lê Gia Định
Nguyên Chính trị viên Đại đội 1 bảo vệ Bắc Bộ Phủ (kể)
Theo Trần Minh Hiền, Tạp chí Xây dựng Đảng
Tâm Trang (st)

bqllang.gov.vn

Picasso: “Có một họa sĩ Nguyễn Ái Quốc”

Picasso thời trẻ tại Paris và Nguyễn Ái Quốc thời trẻ trên con tàu sang Pháp

Thiên tài hội họa lớn nhất thế kỷ 20 đã nói về những bức tranh do Nguyễn Ái Quốc vẽ trên tờ báo “Người cùng khổ” với một niềm ngưỡng mộ chân thành trước tâm hồn và tư tưởng của Người.

Cuốn sách “Bác Hồ – một tình yêu bao la” do NXB Kim Đồng phát hành tháng 5/2010 chứa đựng vô số câu chuyện chân thực và xúc động từ những họa sỹ, nghệ nhân lớn trong và ngoài nước kể về Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu, trong đó có nhiều sự kiện mà không phải ai cũng biết. Đi kèm với đó là hình ảnh về những tác phẩm nghệ thuật mà họ đã sáng tạo nên, điển hình như tượng chân dung bằng đồng của Vũ Cao Đàm, tranh khắc gỗ Hồ Chủ tịch ở Việt Bắc của Nguyên Văn Ty – Phan Kế An, tranh sơn dầu của Tô Ngọc Vân, tranh bút sắt Bác Hồ của Vân Đa, tranh in đá của Lê Huy Tiếp, bột màu và bút kim “Ngục trung nhật kí” của Lê Huy Trấp, Kí họa Nguyễn Ái Quốc của Eric Johanson (Đức).

Tranh của Bác Hồ đăng trên báo Người cùng khổ (Ảnh chụp từ sách)

Đặc biệt, có một câu chuyện kể về cuộc gặp gỡ của Bác Hồ và danh họa Picasso tại Paris vào năm 1946 – một cuộc gặp đáng nhớ sau 35 năm của hai người bạn, hai người đồng chí từng hoạt động tại Đảng Cộng sản Pháp. Câu chuyện của ông Vũ Đình Huỳnh – Thư ký của Bác thời bấy giờ – được ghi lại bởi tác giả Cần Thư Công trong cuốn sách “Bác Hồ – một tình yêu bao la”, tư liệu này đồng thời đã được xuất bản trên báo Ấp Bắc ra ngày 5/3/1992.

Năm Bác Hồ 21 tuổi đặt chân lên đất Pháp thì gặp họa sỹ Picasso lúc đó 30 tuổi đã nổi danh ở Paris. Hai người kết bạn với nhau rồi lại xa nhau. Năm 1946, Bác qua Pháp để dự Hội nghị Fontainebleau, gặp lại Picasso sau nhiều chục năm xa cách. Ông Vũ Đình Huỳnh – Thư ký của Bác khi đó kể lại cuộc tái ngộ của hai người như sau:

Một hôm, Bác gọi tôi đến bảo:

– Chú thay bộ quân phục, mặc thường phục đi với tôi ngay bây giờ.

Lúc lên xe, đi một quãng Bác mới cho hay:

– Hôm nay, chúng ta đến thăm danh họa Picasso.

Tôi ngạc nhiên:

– Bác cũng quen họa sĩ Picasso à?

Bác nói:

– Giả sử không quen biết từ trước thì đến thủ đô Paris này, chúng ta vẫn phải đến chào một con người sáng tạo hội họa khó hiểu mà nghệ thuật của tranh ông lại làm nhiều người mê.

Bút ký của Bác Hồ "Việt - Nam - độc - lập" (1941) (Ảnh chụp từ sách)

Bác đến không báo trước. Lúc người giúp việc của Picasso đưa Bác đến gần cửa, họa sĩ đã nhận ra Bác. Ông vội chạy tới:

– Chào anh Nguyễn!

Hai người ôm chầm lấy nhau. Rồi Picasso lùi lại một bước ngắm Bác:

Anh chóng già quá, nhưng đôi mắt vẫn trẻ và như sáng hơn thời chúng ta gặp nhau ở Trụ sở nhóm Clarté (Ánh sáng)”.

Picasso đưa Bác đi xem phòng tranh của ông. Bác cầm từng bức tranh, im lặng tuyệt đối. Tôi thấy sự xúc động hiện rõ trên gương mặt trầm tư của Người. Lúc trở vào phòng trà, Picasso hỏi Bác.

– Anh cho tôi một lời khuyên.

Bác nói:

– Chúng tôi đến chiêm ngưỡng nghệ thuật của anh. Mọi lời bình về tranh Picasso chỉ là nét viền quanh cái khung của bức tranh. Anh miễn cho tôi – một người không am hiểu nghệ thuật hội họa cho lắm.

Picasso cười thoải mái, giọng vui hẳn lên:

– Tôi còn nhớ bức tranh anh vẽ trên báo Le Paria (Người cùng khổ), anh ký Nguyễn Ái Quốc bằng chữ Tàu. Ngày ấy tôi nói với Henri Basbusse: “Chỉ mấy nét vẽ này ta đã thấy một tư tưởng, một tâm hồn đẹp tàng ẩn bên trong”. Nếu như anh tiếp tục con đường hội họa thì biết đâu đấy, cũng có thể sẽ có một Nguyễn Ái Quốc họa sĩ. Nhưng hôm nay anh Nguyễn là Hồ Chủ tịch, người đi đầu trong cuộc đấu tranh cho độc lập tự do của dân tộc mình và của các dân tộc bị áp bức khác.

Ông mời Bác uống nước, rồi phác mấy nét chân dung Bác. Xong, ông cất vào cặp giấy vẽ. Đến lúc tiễn Bác ra cửa, ông mới trao cho Bác. Sau đó, Bác trao lại cho tôi cất giữ…

Bác Hồ – một tình yêu bao la – NXB Kim Đồng
Thúy Hằng (st)

bqllang.gov.vn

Chuyện về chiếc áo Bác mặc ngày 2/9/1945

Hiện nay, tại Viện Bảo tàng Cách mạng đang trưng bày một chuyên đề đặc biệt gồm những hiện vật liên quan đến sự kiện lịch sử 2/9/1945: Chiếc Micro Hồ Chủ tịch sử dụng trong Lễ tuyên ngôn độc lập, một số kèn đồng mà đội quân nhạc cử Quốc ca tại Quảng trường Ba Đình… Và đặc biệt là bộ quần áo Bác Hồ đã mặc trong ngày lễ khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà. Bộ quần áo ấy đã bạc màu, sờn cổ…

Ngày 23 tháng 8 Bác Hồ về đến thôn Gạ (Phú Thượng – Hà Nội ), nghỉ ở đây một ngày. Hôm sau, Người được Trung ương và Thành uỷ bố trí đến ở tại gác hai số nhà 48 Hàng Ngang (là nhà của ông Trịnh Văn Bô – một thương gia yêu nước, cơ sở tin cậy của cách mạng). Về đến Hà Nội, Bác rất gầy yếu, sau những trận ốm và phải đi xa nhưng mọi người đều thấy đôi mắt của Người luôn rực sáng.

Bà Trịnh Văn Bô, nữ chủ nhân của ngôi nhà 48 Hàng Ngang kể lại: Bác từ chiến khu về chỉ có một đôi dép cao su nhãn hiệu con hổ trắng, chiếc quần soóc nâu, chiếc áo sơ mi ngắn tay, một chiếc can và chiếc mũ phớt bạc màu. Đêm đêm, Bác thức rất khuya đánh máy chữ. Chuông đồng hồ điểm 12 tiếng, đèn bàn của Ông cụ mới tắt, nhưng 5 giờ sáng đã thấy Ông cụ tập thể dục ngoài ban công. Hàng ngày lúc 7 giờ, ông Vũ Đình Huỳnh đón Bác ra Bắc Bộ Phủ làm việc đến chiều mới về 48 Hàng Ngang. Buổi tối, Bác thường xuyên bận vì phải hội kiến làm việc với các ông Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp, Hoàng Quốc Việt…

Sau này, bà Bô mới biết rằng khi tiếng đánh máy chữ vang lên trong đêm khuya ấy chính là Bác Hồ đang soạn thảo bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà. Tuy đã 91 tuổi nhưng bà Bô vẫn còn nhớ như in những ngày tháng hào hùng đó. Vào khoảng những ngày 26-27/8/1945 tức là khi đã ấn định Lễ tuyên ngôn độc lập vào 2/9/1945, anh em cán bộ mới sực nhớ ra cần phải trang bị mỗi người một bộ quần áo thật tươm để mặc ra mắt trên lễ đài. Đặc biệt là bộ trang phục của Bác. Đa số anh em từ chiến khu trở về và kể cả Bác cũng đều mặc những đồ đã cũ sờn hoặc chắp vá tạm bợ. Bà Bô bồi hồi nhớ lại: “Lúc bấy giờ trong tủ của nhà chúng tôi có rất nhiều vải (vì là nhà buôn vải vóc), tôi lấy ra mấy súc kaki để may cho anh em. Ngoài ra, trong tủ còn có hàng chục bộ quần áo khá sang trọng may sẵn mà ông Bô chưa dùng nên tôi lấy ra cho các anh ấy mặc tạm trước, anh nào mặc vừa bộ nào thì dùng bộ nấy, ông Phạm Văn Đồng, rồi ông Võ Nguyên Giáp… nhưng tầm người như Ông Cụ không hợp bộ nào cả”. Gần sát ngày lễ, ông bà Trịnh Văn Bô đã chọn riêng loại vải kaki cốtlê của Anh, sau đó cùng ông Vũ Đình Huỳnh – nguyên là thư ký lễ tân mang đến xin ý kiến Bác.
Bác nói:

– Tôi mặc xuềnh xoàng thôi. Không len, dạ đắt tiền làm gì, cốt tươm tất giản dị, không phải cà vạt cổ cồn là tốt…

– Ông Vũ Đình Huỳnh chợt nhớ tới một bức ảnh của Stalin nên ướm thử với Bác may theo kiểu áo đó, cũng không có cà vạt mà oai vệ.

Bác mỉm cười nói: “Nhưng mình có phải là Stalin đâu”.

Bác luôn học hỏi tinh hoa nhưng không chấp nhận bắt chước khuôn mẫu sẵn. Cuối cùng ông Vũ Đình Huỳnh mời ông Phú Thịnh chủ hiệu may có tiếng ở phố Hàng Quạt tới và trình bày: Tôi có người nhà là cụ lý ở quê ra thăm Thủ đô, tôi muốn cắt vài bộ đồ cho cụ, nhờ anh cắt may kiểu áo bốn túi, mặc kín cổ khi có việc quan trọng, lúc thường nhật thì mở khuy áo thoải mái, đi giày đi dép đều hợp với cụ lý nhà tôi. Ông Phú Thịnh ngẫm nghĩ một lúc dè dặt nói: “Tôi đã mường tượng ra kiểu áo ấy rồi. Chỉ cần tính toán cái ve áo nhọn hay tù?”. Ông Phú Thịnh ngắm nghía tấm ảnh Stalin rồi nói: “Kiểu tướng soái này oách lắm nhưng không hợp với các cụ người nhà mình. Thôi được tôi sẽ lo liệu để có bộ áo hợp ý với cụ lý”.

Hai hôm sau, ông Phú Thịnh đem hai bộ quần áo đến, cười ý nhị, nói: “Tôi trộm nghĩ cụ lý này không phải là lý trưởng mà có lẽ là một cụ lý…khác thường”. Ông Vũ Đình Huỳnh cười đáp lại tình cảm tinh tế của ông thợ may. Hôm sau, lựa lúc Bác tập thể dục tắm sáng xong, ông Vũ Đình Huỳnh đem bộ quần áo mới vào. Bác ướm thử, ngắm kỹ cổ áo và mỉm cười: “Được, thế này là hợp với mình”. Ông Vũ Đình Huỳnh lúc đó rất vui và thầm nghĩ, chỉ trong vài ngày nữa, ông Phú Thịnh sẽ vô cùng sung sướng và ngạc nhiên, vinh dự khi “cụ lý” mà mình may quần áo cho lại chính là Chủ tịch Hồ Chí Minh – người đọc Tuyên ngôn độc lập tại Vườn hoa Ba Đình khai sinh ra một quốc gia độc lập – nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà.

Theo Vietbao.vn
Tâm Trang (st)

bqllang.gov.vn

Nồng nàn tình yêu dân, yêu Tổ quốc

Cuối năm 1940, Bác về nước. Bác đến hang Pắc Bó ở Cao Bằng ngày 8 tháng 2 năm 1941. Trên đường về, Bác biết tin có 40 thanh niên, có người là Đảng viên, là cảm tình của Đảng, ức bọn Nhật Pháp đã tổ chức nhau sang Trung Quốc mua sắm vũ khí đánh Nhật, Pháp, nhưng đến nơi bị Nguyễn Hải Thần phát hiện. Bác đã liên lạc gặp được 40 thanh niên này và giác ngộ họ. Bác nói: Ở đây bây giờ không phải là đất hoạt động của chúng ta, đất hoạt động của chúng ta là ở đất nước mình. Bây giờ chúng ta phải gấp rút về nước. Thế là Bác đưa 40 thanh niên này về gần biên giới.

Trong số ấy có các đồng chí Hoàng Sâm, Đàm Quang Trung, v.v…Bác giao cho các đồng chí Võ Nguyên Giáp và Cao Hồng Lĩnh huấn luyện các anh em ấy, đợi ngày về nước. Bác đi đến đâu là Bác tiếp tục đào tạo cán bộ cách mạng, gây cơ sở đến đấy. Ở Pắc Bó, Bác lấy tên là Ké Thu. Hội nghị Trung ương Đảng do Bác triệu tập đã họp ở đây. Nghị quyết của Hội nghị này quyết định thành lập mặt trận Việt Minh. Bác làm việc rất có kế hoạch, phân chia thời gian hàng ngày cụ thể, giờ nào làm việc ấy. Bác gương mẫu hàng ngày báo cáo kế hoạch làm việc của mình để mọi người noi theo. Kế hoạch của Bác là sáng dậy tập thể dục, tập quyền, rồi leo núi và làm vệ sinh, sau đó đi tắm. Dù trời rét Bác cũng tắm. Tắm xong uống nước chè (đó là nước nấu bằng lá ngải cứu đã sao vàng). Sau đó dịch lịch sử Đảng, viết báo. Trưa ăn cơm, rồi đi nghe đài, đọc báo, nghe báo cáo của các địa phương. Buổi chiều tiếp tục làm công việc buổi sáng còn lại sau đó ăn cơm. Trước khi ăn cơm, Bác nghe đài, đi lấy củi, tắm và tối thì lên lớp giảng bài. Bác không bao giờ chịu sai chương trình, nếu gặp việc đột xuất thì kiếm thì giờ khác bù vào không chịu lỡ kế hoạch. ở với Bác hàng ngày, cứ xem Bác làm gì, thì biết là mấy giờ rồi, không cần phải dùng đồng hồ, vì giờ nào việc ấy là tác phong của Bác.

Có một buổi tối lên lớp, nhiều đồng chí tò mò, nghe Bác nói cứ đoán đây là đồng chí Nguyễn Ái Quốc cho nên nói dễ hiểu, dễ nghe, dễ nhớ mặc dù chưa ai gặp bao giờ và cũng chẳng được xem ảnh. Có đồng chí không biết hút thuốc, nhưng cứ bật diêm lên xem mặt. Lần đầu, Bác quay mặt đi. Lần thứ hai, Bác lại quay mặt đi. Lần thứ ba, Bác biết đấy là các đồng chí tò mò. Bác nói:

Việc gì Đảng cho biết thì phải tìm hiểu thật sâu, nắm thật chắc, làm thật tốt. Việc gì Đảng và đoàn thể không cho biết thì không nên tò mò. Tò mò chỉ có hại thôi.

Sau khi thành lập Mặt trận Việt Minh, Bác là người đi làm thí điểm việc xây dựng cơ sở Mặt trận ở vùng này, để lấy kinh nghiệm phổ biến cho toàn quốc. Bác bảo đồng chí Dương Đại Lâm: Chú về nói với ông cụ là có ông Ké Thu ở bản Nà Kéo sang chơi. Ông này kể “Tam quốc chí” rất hay. Nói với bố như thế, ông thích nghe Tam quốc chí, chuẩn bị chè nước, Ké Thu sẽ đến.

Tối hôm đó, Bác đến nhà đồng chí Dương Đại Lâm. Mấy ông cụ ở trong bản cũng đến. Bác kể chuyện Tam quốc chí, rồi đến Chinh Đông, Chinh Tây, Thủy Hử… Các cụ kéo đến nghe kể chuyện ngày càng đông. Lúc đó Bác mới nói đến chuyện bây giờ phải làm cách mạng. Các cụ nói:

– Làm cách mạng thì được thôi. Nhưng phải giết bọn cai tổng đi mới làm cách mạng được tốt. Nếu không bọn chúng báo cho Tây, không làm cách mạng được đâu. Bác thân mật giải thích để các cụ hiểu nếu làm như thế là không đúng với đường lối mặt trận Việt Minh, đó là không phân biệt giàu nghèo, không phân biệt đảng phái, không phân biệt nam nữ, v.v… Ai yêu nước, chống đế quốc thì vào mặt trận đó. Bác nói:

– Cái đinh đóng được vào gỗ là nhờ cái búa. Bây giờ ta vứt cái búa đi. Thì cái đinh không thể nào đóng được vào gỗ. Ta đuổi là đuổi thằng đế quốc đi. Còn cai tổng, lý trưởng nó đều là người mình cả, giác ngộ nó rồi nó cũng đi theo mình thôi. Các cụ nghe ra sôi nổi bảo:

– Như vậy phải lắm. Thế làm được thôi. Bác tổ chức được tổ phụ lão cứu quốc đầu tiên ở bản Pắc Bó và rút kinh nghiệm phổ biến ra toàn quốc.

Mặc dù Bác hàng ngày bận trăm công ngàn việc, nhưng Bác vẫn dành thời gian dạy học văn hóa cho các đồng chí Nông Thị Trưng, Thế An, Đức Thành và các đồng chí khác. Bác lại thường xuyên làm tuyên truyền về Đảng, quần chúng tiếp thu như thế nào Bác lại báo cáo với chi bộ. Khi quần chúng đã giác ngộ, Bác tổng kết lại đưa ra chi bộ thông qua và chịu trách nhiệm về quần chúng mà Bác đã tuyên truyền giáo dục. Đấy là ý thức tổ chức của Bác trong việc giáo dục tuyên truyền quần chúng.

Tháng 5-1942, Bác đi họp tỉnh ủy Cao Bằng, Bác đóng vai ông thầy mo kiêm thầy thuốc nhưng mà điếc. Đồng chí Thế Anh đóng vai đón ông thầy mo về chữa cho vợ bị ốm. Lúc này đồng chí Thế Anh mới chỉ biết Bác là ông Ké Thu. Bác nhờ tỉnh ủy Cao Bằng chuẩn bị cho Bác một cuốn sách cúng, một cái thanh la, một con gà và mấy bao gạo nếp. Đồng chí Thế Anh đeo cái bao gạo nếp. Bác đội nón Nùng, lấy khăn che râu, mặc một bộ quần áo Nùng, tay chống gậy.

Đến ngã ba Đôn Chương thì gặp bọn tổng đoàn và bọn lính gác. Bọn chúng hỏi:

– Đi đâu?

– Đồng chí Thế Anh đáp: Đi đón ông Ké về chữa cho vợ đang bị bệnh phong.

– Tốt lắm. Về chữa cho vợ tao đang ốm nặng.

Như thế thì gay go rồi. Đồng chí Thế Anh nói đi nói lại với tụi nó: Ông Ké này cũng xoàng thôi. Chỉ biết cúng, có bệnh phong thôi, lại điếc nữa mà. Nói mãi, chúng nó cũng nhượng bộ và nói rằng:

– Mày đi xong, chiều về nhớ cúng cho vợ tao.

Ông Ké quay lại cười. Đồng chí Thế Anh bực quá, đi một quãng xa, rồi quay lại phê bình ông Ké: – Đã bảo là điếc rồi, mà ông Ké còn quay lại cười với nó. Làm vậy nó bắt thì làm sao? – Nếu không cười thì nó bắt rồi. Điếc thì nó nói không nghe. Nhưng mình còn hệ thần kinh. Ông Ké giải thích mình còn đi lại được, nó vỗ vào người phải biết. Chứ nó vỗ vào mà không đứng lên nó cho là điếc giả vờ, nó bắt rồi. Đi một quãng, đồng chí Thế Anh lại ngạc nhiên khi nhìn hàm răng ông Ké trắng là thế, sao hôm nay lại bẩn vậy. Bác cười và nói: Chục, chục, cheng cheng, xôi đầy, gà béo đưa cho thầy, thầy ăn. Ăn chưa hết nó còn dính như thế! Bác đã lấy nhựa sung phơi khô tai tái rồi dí vào răng sau đó lấy xôi nhét vào. Lúc Bác cười, hạt xôi cứ rơi lả tả. Việc làm này của Bác càng làm cho chúng ta thấy rõ Bác đã chuẩn bị cải trang và giữ bí mật rất chu đáo.

Đi họp xong về đến bản Nà Mạ, đồng chí Thế Anh báo cáo với ông Ké:

– Bây giờ tối rồi không về nữa. Mời ông Ké lên núi nằm, bản này có nhiều cơ sở tốt lắm. Ông Ké động viên Thế Anh đi. Nhưng đồng chí vẫn cứ bước đi thoăn thoắt lên núi, Bác phải đi theo. Lên đến nơi, đồng chí dặn ông Ké đừng có đi đâu mà bị lạc khó tìm. Đồng chí xuống bản gặp đồng chí Đức Thành và các đồng chí khác. Đồng chí Thế Anh thật thà nói: Bây giờ ông Ké, tôi để ở trên hang, ông Ké thượng cấp ấy mà. Tối nay ông sẽ ngủ ở đây. Ông chủ nhà nghe nói thấy có “ông Ké thượng cấp” về nghỉ, ông chuẩn bị một con vịt, hai chai rượu, làm ba mâm. Mâm giữa thịt to hơn, đĩa đầy hơn, nạc hơn. Làm cơm xong, Thế Anh đi đón ông Ké xuống đưa ông Ké vào mâm giữa. Ông Ké nhìn đồng chí Ba bảo vệ rồi hỏi:

Chú Ba soạn bữa cơm này phải không?

Đồng chí Ba lúng túng trả lời: – Thưa không.

Đồng chí Đức Thành trả lời: – Thưa ông Ké đây là tấm lòng tốt của chủ nhà đấy ạ. Mọi người mời ông Ké vào mâm giữa. Ông Ké không ngồi, ông Ké nói:

– Tại sao lại thế này?

– Đồng chí Đức Thành đáp:

– Thưa ông Ké, đây là phong tục tập quán ở địa phương.

– Bác bảo: Đây là tục chứ không phải là phong. Thôi đã trót làm thì chia đều ra cùng ăn.

Lúc đó phong trào cách mạng ngày một lên cao, bọn mật thám cũng tăng cường hoạt động và ngày càng có nhiều hành động gian ác. Đồng chí Ba bảo vệ cho Bác lệnh cho Đức Thành giết một tên phản động lợi hại, ở bản Nà Kéo. Bác biết chuyện, Bác gọi đồng chí Ba lên:

– Chú bảo Đức Thành giết tên phản động ở bản Nà Kéo phải không?

– Đồng chí Ba lúng túng, chưa dám nói thật, sợ ông Ké phê bình: Thưa ông Ké không ạ? – Không à?

Bác đưa cho đồng chí Ba cuốn lịch sử Đảng Bônsêvích mà Lênin viết: đoạn nói về việc chống ám sát cá nhân. Bác bảo đồng chí Ba đọc đi rồi cho ý kiến. Đồng chí Ba đọc từ sáng đến tối. Bác hỏi:

– Có thấy gì không?

– Thưa ông Ké không thấy gì ạ.

– Thôi thế tối nay suy nghĩ, sáng mai trả lời. Chú đã suy nghĩ chưa?

– Dạ, suy nghĩ rồi ạ. Thưa ông Ké không thấy gì cả.

Bác bảo tiếp tục đọc và trả lời. Đến trưa Bác lại hỏi. Đồng chí Ba lại thưa với Bác là không thấy gì. Lúc đó Bác mới nói:

– Nói dối cấp trên tức là nói dối Đảng. Nếu ai cũng như chú làm thế nào Trung ương nắm tình hình cho đúng, để ra đường lối, chủ trương cho sát được. Nhìn đồng chí Ba ngồi, mặt hơi cúi xuống có vẻ hối hận.

– Bác nói tiếp: Cái cây có bao nhiêu cành chúng ta đã biết. Bây giờ chúng ta chặt cành đi, thì mầm nó lại mọc lên. Cái cây không chết đâu mà là mọc nhiều mầm lên nữa. Muốn cây chết phải đào tận gốc nhổ nó đi. Giết một vài thằng không thể thay đổi chế độ của nó, mà phải lật cả chế độ của nó đi. Qua lời giảng dạy có lý, có tình, giản dị mà rất sâu sắc của Bác như vậy, đồng chí Ba đã nhận ra khuyết điểm của mình, và tự phê phán rồi hứa quyết tâm sửa chữa.Bác bảo:

Quyết tâm như thế là tốt. Nhưng sợ Đức Thành không nhận ra như chú, rồi lúc vô địa phương chỉ đạo phong trào, Đức Thành lại muốn làm gì thì làm, chú không biết, làm thế nào chú lãnh đạo được đồng bào một cách sít sao? Thế là đồng chí Ba lại bảo đồng chí Đức Thành lên để Bác phân tích cho. Các đồng chí đều hối hận về lỗi lầm của mình đã mắc phải và hứa sửa chữa lỗi.

Bác lại căn dặn các đồng chí rất tỉ mỉ là hiện nay đồng bào đang mắc bệnh đậu mùa, đi tuyến truyền cho đồng bào làm cách mạng nhưng nhớ tuyên truyền đồng bào giữ vệ sinh, đừng có giặt quần áo của người bệnh ở nguồn nước. Người nào mắc bệnh phải cách ly ra. Người nào mắc bệnh nặng quá thì phải lấy lá rải xuống để người bệnh nằm cho êm, quần áo phải lấy lá đắng đun lên. Lấy nước mà luộc quần áo, chứ đừng có đem giặt. Bác trông nom từng ly, từng tí đến đời sống của quần chúng. Bác lại dạy cán bộ là làm cán bộ phải biết địa lý Tổ quốc mình, biết cả địa lý thế giới, trước hết phải biết thủ đô các nước. Có đồng chí không thông, Bác lại kiên trì giải thích: Làm cách mạng phải biết Thủ đô các nước, vì Thủ đô là nơi trung tâm văn hóa, chính trị, kinh tế, v.v… Trong cuộc chiến tranh hiện nay, phát xít Đức đang chuẩn bị tiến công vào Thủ đô Mạc Tư Khoa. Nếu nó chuẩn bị tiến công mạnh thì lực lượng chủ yếu của Liên Xô sẽ rút ra đánh du kích. Liên Xô sẽ dùng trong đánh ra, ngoài đánh vào, lại giải phóng Thu đô. Nhưng mà đối với phát xít Đức, khi Liên Xô đã tấn công, thì nhất định Liên Xô sẽ tấn công vào tận sào huyệt của bọn chúng, tấn công vào tận Thủ đô của bọn phát xít Đức. Khi phản công như thế, ta phải gấp rút Tổng khởi nghĩa cho kịp thời. Bọn đế quốc mất Thủ đô là coi như mất cả nước của nó. Thí dụ Đức đánh qua Bỉ, vào Thủ đô Paris là Pháp đầu hàng: Ta phải nắm lấy thời cơ đó mà Tổng khởi nghĩa cho kịp thời.

Bác soạn ra cuốn Việt Nam địa lý diễn ca và Việt Nam lịch sử diễn ca. Bác bảo cán bộ phải biết địa lý, biết lịch sử để giải thích cho đồng bào dễ nhớ. Bác cũng viết một cuốn lịch sử bằng thơ lục bát từ đời Hồng Bàng đến thời Pháp thuộc. Và cuốn địa lý Việt Nam:

Nước ta hình chữ S
Một bán đảo rất xinh
Trên bờ bể Thái Bình
Tại Đông Nam châu Á

Tính bình phương cây số có 30 vạn hơn(1)

Ngót 20 triệu dân
Sống trong miền nhiệt đới…
Hoặc Bác viết về Cao Bằng:
Cao Bằng đông bắc giáp Tàu
Hà Giang, Bắc Cạn ở vào phía Tây
Nam giáp tỉnh Lạng, gần đây
Bốn nghìn tám dặm tỉnh này gồm bao.
Na-gia, Pia-vắc thật cao
Hơn hai nghìn thước xôn xao một hàng
Sông to thì có Bằng Giang
Xê Lao, Trà Lĩnh chạy ngang hai hàng…

Bác có hai hòn đá. Một hòn tròn và đen, một hòn hơi đục và có cạnh. Hàng ngày Bác dùng hai hòn đá để tập cho cứng gân cốt. Đồng chí Nông Thị Trưng có nói với Bác: Chú Thu ơi, hàng ngày chú đã làm việc vất vả rồi, lúc đọc báo, nghe đài chú ngồi cho thoải mái chứ. Sao chú cứ nắin lấy hai hòn đá đó làm gì? Bác thân ái chỉ rõ: Bác cháu ta trước đây là nhân dân lao động. Bây giờ đi làm cách mạng, do công việc đòi hỏi cho nên ta phải thoát ly. Thoát ly như thế nào rồi về tuyên truyền cách mạng cho quần chúng, ta khoanh tay sau lưng tuyên truyền à. Làm như vậy quần chúng nào người ta nghe. Chưa cuốc được mấy nhát cuốc tay đã phồng lên, quần chúng người ta sẽ bảo cán bộ chỉ nói mép thôi, nhưng làm thì chẳng bằng ai. Cho nên hàng ngày phải luyện tập cho da tay phồng lên, để khi đi làm với quần chúng được lâu hơn khỏi phồng tay.

Đó là quan điểm lao động, quan điểm quần chúng và là quan điểm cách mạng của Bác. Trong cuộc đời hoạt động của Bác, lần bị bọn Tưởng bắt là lần Bác khổ nhất, vì theo Bác “cay đắng chi bằng mất tự do”. Bác bị bọn Tưởng Giới Thạch bắt giam từ đầu mùa thu 1942 đến mùa thu 1943 mất 14 tháng trời và trải qua hơn 30 nhà tù. Nó giam Bác trong một phòng kín như bưng, không có ánh sáng lọt vào. Khi nó thả ra, mắt Bác đã lòa đi và chân thì tê liệt. Trong khi Bác ở tù, Trương Phát Khuê đến hỏi cung, hắn hỏi chặn đầu:

Tôi biết ông chính là Nguyễn Ái Quốc. Thôi rồi, ông không thể chối được nữa.

Bác thản nhiên trả lời: Nếu tôi là Nguyễn Ái Quốc thì thật là hay.

Trương Phát Khuê về bảo là Nguyễn Hải Thần nói láo, đây chỉ là ông đồ yêu nước, chứ đâu có phải là Nguyễn Ái Quốc và nó thả Bác ra. Lúc đó mắt Bác đã bị lòa. Hàng ngày, Bác dậy rất sớm, chờ cho trời sáng dần dần. Khi nhìn thấy ánh sáng mạnh, Bác lại phải quay ngay vào trong tối nuôi con ngươi quen dần để khỏi bị lòa. Lúc nắng, Bác lại đưa chân ra ngoài để cho ánh nắng chiếu vào, những con dòi chui ra và Bác cho thuốc vào chữa đôi chân, Bác dựa vào lan can để tập đi. Bác lại tập leo núi.

Đây là tinh thần trách nhiệm của Bác đối với Tổ quốc. Chính vì tinh thần cách mạng của Bác cao như thế, Bác đã kịp trở về đưa cuộc Cách mạng tháng Tám vĩ đại của dân tộc ta dưới sự lãnh đạo của Đảng đến thành công. Bác đã được Quốc dân Đại hội họp ở Tân Trào nhất trí bầu làm Chủ tịch ủy ban dân tộc giải phóng. Khi đoàn quân giải phóng trở về Thủ đô Hà Nội khởi nghĩa cướp chính quyền, Bác về ở nhà số 48 phố Hàng Ngang viết Tuyên ngôn độc lập. Từ đây Bác đã khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Đất nước anh hùng của chúng ta ngàn nãm mãi mãi truyền tụng công lao vĩ đại của Bác. Bác là cây đại thọ Việt Nam mà rễ ẩn sâu xuống lòng đất, đời đời xanh tươi. Bóng mát che rợp cả ba phần tư thế kỷ 20. Công huân của Bác đối với Tổ quốc, đối với nhân dân muôn đời sáng chói. Hồ Chủ tịch là người sáng lập lãnh đạo và rèn luyện Đảng ta, là người xây dựng nền Cộng hòa Dân chủ Việt Nam và Mặt trận dân tộc thống nhất, là người cha thân yêu, của các lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam. Người là linh hồn, là ngọn cờ chói lọi, lãnh đạo toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đoàn kết một lòng, chiến đấu anh dũng, viết nên nhừng trang sử vẻ vang nhất của Tổ quốc ta. “Dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta đã sinh ra Hồ Chủ tịch, người anh hùng dân tộc vĩ đại và chính người đã làm rạng rỡ dân tộc ta, nhân dân ta và non sông đất nước ta”.(2)

(1) Đây là ước lượng diện tích đất liền, chưa kể các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và các đảo khảc trên biển Đông thuộc chủ quyền của Việt Nam. (BT)

(2) Điếu vănn của Ban Chấp hành Trung ương Đảng do đồng chí Lê Duẩn đọc trong lễ truy điệu Hồ Chủ tịch ngày 9-9-1969 tại Quảng trường Ba Đình – Hà Nội.

Theo Phuly.edu.vn
Tâm Trang (st)

bqllang.gov.vn

Dân có sức mạnh hơn cả sông núi nếu ta biết dựa vào dân thì sẽ thành công

Một lần bác Hồ đi thăm nhân dân khu Hồng Quảng bị bão lụt. Các đồng chí lãnh đạo báo cáo việc khắc phục hậu quả chậm, gặp nhiều khó khăn, với lý do: Dân ở đây chậm giác ngộ, không hợp tác tốt với lực lượng của Trung ương về ứng cứu. Nghe các đồng chí lãnh đạo báo cáo xong, Bác không nói gì. Nhưng sau đó, Bác gặp riêng các đồng chí lãnh đạo và kể cho các đồng chí này nghe một câu chuyện:

– Trong thời kháng chiến chống Pháp, ở Thái Nguyên có hai đơn vị bộ đội về đóng quân. Đơn vị thứ nhất bị dân phản ảnh, kêu ca; tình hình hết sức khó khăn, bộ đội không mua được gạo, thịt và các nhu yếu phẩm trong dân. Đơn vị thứ hai đến sau, cũng đóng quân tại chính địa điểm này, nhưng hoàn toàn không có hiện tượng đó. Tình quân dân rất thắm thiết, nhân dân còn mang măng, chuối, trứng gà đến tặng đơn vị. Vấn đề đặt ra là: Vì sao đơn vị trước lại bị dân phản ảnh, kêu ca?

– Bác giải thích: Tại vì đơn vị trước là “quan” rồi, nên không chịu làm công tác dân vận, cái gì cũng bỏ tiền túi ra mua, khi mua còn bị dân làm khó, không chịu bán. Đơn vị sau biết cách tổ chức tốt công tác dân vận nên được nhân dân ủng hộ, quí mến, chăm lo như người thân trong gia đình. Rồi Bác hỏi lại các đồng chí lãnh đạo: “Vậy có phải dân ở đó kém giác ngộ và xấu không? Rồi Bác nhấn mạnh: “Tình hình ở đây cũng vậy thôi, các chú phải xem lại có phải dân chậm giác ngộ, hay tại các chú chưa làm tốt công tác dân vận?”

Trong một lần khác, tại lớp học chính trị ở hang Kéo Quảng (Nguyên Bình), do Bác Hồ trực tiếp phụ trách. Hồi bấy giờ, Hítle đang ồ ạt tiến công Liên Xô. Quân phát xít Đức đã chiếm gần hết Ucraina và chỉ còn cách Thủ đô Matxcơva khoản 30 kilômet. Nhiều người lo lắng hỏi: “Thưa lão đồng chí, phát xít Đức mạnh như thế, liệu Liên Xô có thể bị mất không ạ”?. Bác nói: “Việc gì mà phải lo. Liên Xô đã chuẩn bị từ lâu. Đất nước này rộng lắm. Các nhà máy ở Thủ đô đều đã dời vào dãy núi Uran cách xa hàng ngàn cây số. Nếu quân đội của Hítle chiếm đóng những vùng gần Thủ đô thì Liên Xô sẽ rút về phía Uran và tiếp tục kháng chiến. Đánh giặc phải có căn cứ địa chứ”.

Nghe nói đến căn cứ địa, có người hỏi: “Thưa lão đồng chí, ở miền núi thì lấy núi, lấy sông làm căn cứ địa, thế còn ở đồng bằng không có địa thế hiểm trở thì làm thế nào ạ”?

Bác cười bảo: “Có núi thì dựa vào núi, có sông thì dựa vào sông, không có núi, có sông thì dựa vào người dân ở đó. Rồi Bác kể: Ông cha ta bao đời đánh giặc, nhất là trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên, kẻ địch mạnh đến nỗi hầu hết các nước đều phải chịu thua. Nhưng khi chúng kéo quân vào nước ta, thì cả ba lần đều bị thất bại. Đó là vì Triều Trần biết lấy dân làm sông, làm núi. Các chú có biết trong chữ Hán có chữ “nhân sơn, nhân hải”, có nghĩa là “núi người, biển người” không? Ở đâu có dân là ở đó có núi, có sông, có biển. Dân có sức mạnh hơn cả sông núi. Nếu ta biết dựa vào dân thì sẽ thành công.

Từ hai câu chuyện trên, chúng ta nhận thức được rằng, tư tưởng, đạo đức của Bác Hồ thấm nhuần một chân lý sâu sắc: “Dễ trăm lần không dân cũng chịu. Khó vạn lần dân liệu cũng xong”. Bài học “dựa vào dân” của Bác nêu ra, làm cho mọi người chúng ta, nhất là đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức phải suy nghĩ, nghiên cứu cho thật kỹ, thật sâu.

Trong quan hệ, liên hệ công tác, làm việc với nhân dân, trước hết phải hiểu rằng mình là người của Đảng, của Nhà nước, của đoàn thể cử ra làm việc với mục đích là phục vụ thật tốt những nhu cầu, yêu cầu chính đáng, hợp pháp của mỗi một người dân; đôi khi trong quá trình làm việc, công tác, có thể sẽ gặp những người dân khó tính, bắt bẻ này nọ.

Trong trường hợp có những cán bộ, công chức, viên chức, người thừa hành công vụ khó chịu. Song, như Bác Hồ nói, chúng ta phải toàn tâm, toàn ý phục vụ nhân dân. Bởi vì khi làm nhiệm vụ là chúng ta thay mặt Đảng, Nhà nước, đoàn thể để làm chứ không phải với tư cách cá nhân của mình mà làm việc.

Đó là cốt lõi của câu nói mà Bác Hồ luôn nhắc nhỡ đội ngũ cán bộ, công chức: “Làm cách mạng là phải dĩ công vi thượng”. Dĩ công vi thượng là cán bộ, đảng viên phải đặt lợi ích chung lên trên hết, tất cả vì nước vì dân, đặt lợi ích của dân, của nước, của Ðảng lên trên hết, đem lòng chí công vô tư mà đối xử với người, với việc, không mảy may có chút chủ nghĩa cá nhân. Dĩ công vi thượng là cốt cách người cách mạng. Nếu ai không làm được điều này thì không thể trở thành người cách mạng, người cán bộ, đảng viên, đoàn viên chân chính. Lời dạy của Bác thật là chí nghĩa, chí tình với dân, với nước, với đồng bào, đồng chí chúng ta.

Theo http://www.ubmttq.hochiminhcity.gov.vn
Anh Tú (st)

bqllang.gov.vn

Chuyện hai lần Bác về thăm quê

Bác Hồ nói chuyện tại Kim Liên trong lần thứ 2 về thăm quê. (Ảnh: Tư liệu)

GiadinhNet – Trong suốt cuộc hành trình tìm đường cứu nước cho đến khi nước nhà được độc lập, rồi đến tận những năm cuối đời, Bác Hồ kính yêu chỉ sắp xếp được 2 lần về thăm quê hương. Tuy thế nhưng đến hôm nay, trong lòng người dân xứ Nghệ vẫn còn vẹn nguyên kỉ niệm về những mẩu chuyện nhỏ mà sáng ngời đạo đức của Bác – một nhân cách lớn song lại vô cùng giản dị, gần gũi.

Cũ nhưng chưa hỏng: Không bỏ

Ông Trần Minh Siêu, nhà nghiên cứu lịch sử kể lại: Chỉ có 2 lần về thăm quê hương vào dịp tháng 6/1957 và tháng 12/1961, nhưng trong ký ức của người dân xứ Nghệ, đặc biệt những người đã từng được gặp và tiếp xúc với Bác vẫn còn nhớ như in những câu chuyện nhỏ nhưng sáng ngời đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Năm 1957, tình hình trong nước và thế giới có nhiều biến chuyển xán lạn. Miền Bắc sau ba năm khôi phục kinh tế, hàn gắn vết thương chiến tranh đã thu được một số thành quả. Do vậy, về đối ngoại, Bác muốn đi thăm, cảm ơn các nước anh em, bè bạn trên thế giới đã ủng hộ Việt Nam. Trước lúc lên đường Bác quyết định về thăm một số địa phương thuộc khu IV, trong đó có Nghệ An. Theo lịch trình, ngày 12-13/6/1957, Bác thăm tỉnh Thanh Hóa. Ngày 14-16/6/1957, Bác về Nghệ An. Ngày 15/6, Bác thăm Hà Tĩnh. Sáng ngày 16/6/1967, Bác mới về quê cha, đất tổ ở làng Kim Liên, Nam Đàn. Hôm đó đúng vào ngày Chủ nhật.

Nhiều người đón Bác trong ngày này chợt nhớ rằng, trước đó 11 năm (cuối năm 1946), tiếp anh, chị ruột của mình là bà Nguyễn Thị Thanh và ông Nguyễn Sinh Khiêm sau mấy chục năm trời xa cách, Bác cũng chọn ngày Chủ nhật. Chỉ qua một chi tiết nhỏ, cũng thấy Bác vô cùng phân minh, giữa việc công và việc tư. Trong suốt cuộc đời của Người, điều này cũng thể hiện rất rõ.

Trở lại với ngày 13/6 (trước 3 ngày Bác về Kim Liên), mãi tới 11 giờ đêm Bác mới về tới Vinh. Khi Bác đang nói chuyện với đồng chí Nguyễn Chí Thanh – Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Khu ủy Khu IV ở trong phòng khách thì một đồng chí mời đồng chí phục vụ Bác ra kiểm tra phòng tắm. Nơi đó, đã để sẵn hai giá thau, mấy chiếc khăn mặt mới và một miếng xà phòng thơm cho Bác. Đồng chí Trần Quốc Hoàn, Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Công an (đi cùng Bác) lúc đó có mặt ở đó thấy vậy bảo: “Hãy cất bớt đi, chỉ để một giá thau và miếng xà phòng là đủ”.

Sau đó, đồng chí phục vụ Bác lấy trong túi xách ra một chiếc khăn bông trải lên giá thau, khăn vẫn trắng mềm, nhưng đã có đường chỉ khâu ở giữa. Đồng chí nói nhỏ nhẹ: “Khăn của Bác đã cũ, mòn như thế này, có lần tôi định thay chiếc khăn mới để Bác dùng, không ngờ Bác gọi tôi lại hỏi: Khăn của Bác đâu, nó còn dùng được, việc gì mà phải thay khăn khác”. Đồng chí phục vụ chỉ vào giữa khăn rồi nói: Đây là đường khâu của Bác và “tiết lộ” thêm rằng, mũ Bác đội cũng đã cũ lắm rồi, nhưng chưa ai dám đem thay. Đồng chí Trần Quốc Hoàn xác nhận câu chuyện và nói tiếp: Về đồ dùng, Bác chỉ cho phép loại bỏ những thứ đã thực sự hư hỏng. Bác làm như vậy vì cũng mong chúng ta làm như vậy. Phải giản dị, tiết kiệm, giảm đến mức tối thiểu việc chi tiêu cho riêng mình để tăng thêm sự đầy đủ cho người khác, đó là ý của Người.

Khi vào phòng ngủ, thấy ở giường nằm, trên chiếu còn trải thêm một lớp vải mềm, Bác khẽ bảo: “Chú Thanh, chú Khoát (Nguyễn Trương Khoát, Bí thư Tỉnh ủy – PV) cho cất bớt lớp vải này đi, dạo này trời nóng không cần đến”. Đồng chí Nguyễn Chí Thanh nói: “Dạ thưa Bác, giường này nan thưa và cứng, chỉ trải một lần chiếu thôi thì sợ…”. Bác hiểu ý, liền nói để đồng chí Thanh yên tâm: “Thôi cứ để một lần chiếu là đủ”.

Chủ tịch nước cũng ăn cơm độn

Vào cuối năm 1961, Bác Hồ về thăm quê hương Nghệ An lần thứ 2 (từ ngày 8-10/12). Chiều ngày 8/12, sau khi làm việc với Tỉnh ủy Nghệ An, Bác đến thăm nhà ăn tập thể của cơ quan. Bác nhấc từng chiếc lồng bàn lên để thấy tận mắt khẩu phần ăn của cán bộ, nhân viên. Sau đó, Bác nhận lời mời ăn cơm tối cùng với các đồng chí lãnh đạo tỉnh. Bữa cơm hôm ấy, ngoài mấy món đơn giản, chị em phục vụ nhà bếp đã chọn gạo trắng để đãi Bác. Khi mọi người đã ngồi vào bàn ăn, đột nhiên Bác bảo một cán bộ đi cùng đưa gói cơm của đoàn ra. Đó là một gói cơm trắng độn ngô đỏ. Đồng chí phục vụ lấy dao cắt ra từng miếng, chia đều cho mọi người để cùng ăn với Bác. Lúc này các đồng chí Tỉnh ủy cứ nhìn nhau, không ai dám xới cơm trắng ra. Hóa ra trước chuyến đi, bộ phận Văn phòng đã chuẩn bị cơm nắm cho Bác. Lúc này cả nước đang thực hiện ăn gạo độn màu để có đủ gạo chi dùng và dự trữ, Bác cũng thực hiện như bất cứ người dân nào. Một vị Chủ tịch nước mà giản dị đến mức không ngờ, nói luôn đi đôi với làm, làm một cách tự giác, đó là một trong nhiều đức tính quý báu của Bác, có sức lay động lòng người. Bữa cơm hôm đó, những người tham dự ai cũng đều xúc động, nghẹn ngào.

Sáng ngày 10/12/1961, Bác đến thăm HTX cao cấp Vĩnh Thành, lá cờ đầu về phong trào trồng cây toàn miền Bắc. Lúc Bác đang nói chuyện với cán bộ, nhân dân thì nắng lên cao. Một cán bộ xã xuống nhà một người dân mượn cái ô lên che cho Bác. Vừa dương ô lên, Bác gạt ra và bảo:” Bác không phong kiến”. Người chỉ xuống cả biển người phía dưới, cũng đang đứng dưới nắng. Ai nấy đều cảm động trước cách xử sự của Người. Kết thúc buổi nói chuyện, Bác còn dặn: “Bà con, các cô, chú nên về làm bù, hôm nay Trung ương và Bác về làm mất của bà con một buổi cày…”.

Cả cuộc đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Người luôn tâm niệm phương châm “lấy dân làm gốc”. Vì vậy mà mọi hành động, lời nói, Người đều hướng đến nhân dân, vì nhân dân. Nghĩ tới Người, ông Trần Minh Siêu xúc động: “Bác của chúng ta là một tấm gương lớn về đạo đức cách mạng: Cần, Kiệm, Liêm, Chính, Chí Công Vô Tư, suốt đời hết lòng, hết sức phục vụ nhân dân”.

Theo Giadinh.net.vn
Tâm Trang (st)

bqllang.gov.vn

Những người cận vệ Bác Hồ

Bảo vệ Bác Hồ thăm Đền Hùng năm 1962 (Ông Nguyễn Ngọc Cẩn ngồi thứ tư từ trái sang). Ảnh do ông Nguyễn Ngọc Cẩn cung cấp.

Từ năm 1967, sức khoẻ Bác Hồ đã giảm nhiều, bước chân đi không còn nhanh nhẹn như xưa; một lần cùng Bác Tôn xuất hiện trước đông đảo đồng bào, Bác Hồ bảo: “Để tôi nắm tay Cụ đi cho đỡ run, đồng bào khỏi thấy!”. Câu nói ấy của Bác Hồ đã khiến anh em Cảnh vệ và những người chứng kiến trào nước mắt, một sĩ quan Cảnh vệ nhớ lại.

Sáng tháng Năm rộn rã nắng đẹp. Ông Nguyễn Ngọc Cẩn và bà Lưu Thị Tính lại cùng các cựu sĩ quan Cảnh vệ vào Lăng viếng Bác, thăm lại Nhà sàn và Khu Di tích Phủ Chủ tịch, nơi họ đã có những năm tháng được bảo vệ Bác Hồ. Ông Cẩn và bà Tính có lẽ là đôi vợ chồng duy nhất cùng là Cảnh vệ, cùng được bảo vệ, phục vụ Bác Hồ và các đồng chí Bộ Chính trị tiền bối.

Ông Nguyễn Ngọc Cẩn có thời gian 20 năm làm công tác Cảnh vệ, từng được bảo vệ, phục vụ Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chủ tịch Tôn Đức Thắng. Sinh năm 1933 tại Mê Linh (Hà Nội), ông Cẩn tham gia cách mạng từ sớm rồi đi thanh niên xung phong lên Việt Bắc. Sau khi về tiếp quản Thủ đô, ông được tuyển vào Cảnh vệ từ năm 1955. Xúc động nhớ lại lần đầu được gặp Bác, ông kể: Hôm ấy, tôi cùng anh Hoàng Hữu Kháng (Cục trưởng Cục Cảnh vệ) đi vào Nhà sàn. Bên bờ ao cá, chúng tôi thấy Bác đang nói chuyện với các đồng chí Phan Mỹ (Chánh Văn phòng Phủ Thủ tướng) và Phó Thủ tướng Lê Thanh Nghị. Anh Kháng lên tiếng chào Bác và hai đồng chí lãnh đạo, tôi thì quá xúc động cứ đứng ngây người mất một lát mới cất được lời chào. Đây là lần đầu tiên tôi được gặp Bác, nhìn thấy Bác gần như vậy. Bác mặc bộ quần áo bà ba giản dị, chân đi đôi dép cao su quen thuộc từ những năm kháng chiến ở Việt Bắc. Bác hỏi anh Kháng: “Chú này là ai?”. Sau khi nghe anh Kháng báo cáo, Bác nhìn tôi tỏ ý hài lòng: “Trông chú nhanh nhẹn, hoạt bát. Chú cố gắng phấn đấu, làm việc cho tốt!”.

Ngày ấy, mỗi lần Bác đi công tác nước ngoài, anh em Cảnh vệ tiễn Bác ngay tại Nhà sàn, chỉ một số ít được tháp tùng Bác sang sân bay Gia Lâm. Chúng tôi thường đứng thành hàng bên Nhà sàn, bịn rịn từ biệt và chúc Bác thượng lộ bình an. Bác lần lượt bắt tay từng người. Bác luôn nhắc nhở những anh em trẻ phải học tập nâng cao trình độ… Tôi nhớ một lần Bác đi công tác ở Liên Xô; khi Bác trở về, chúng tôi tổ chức đón Bác tại Nhà sàn. Bác ân cần hỏi thăm tình hình sức khỏe, gia đình của chúng tôi. Rồi Bác quay sang đồng chí lãnh đạo phòng là anh Nguyễn Tất Liêm, hỏi: Năm nay, chú có bố trí cho anh em nghỉ mát không? Anh Liêm báo cáo cụ thể với Bác, đơn vị đã bố trí cho anh em đi nghỉ mát, ai quê ở xa còn được kết hợp nghỉ phép… Bác tỏ ý hài lòng, rồi lấy quà chia cho chúng tôi.

Một vinh dự lớn lao với ông Cẩn và bà Tính. Năm 1961, ông bà lập gia đình với nhau. Trong đám cưới của đôi trẻ, Hồ Chủ tịch do bận công tác đã ủy nhiệm người thư kí của mình là đồng chí Vũ Kỳ đến mừng. Ông Cẩn nhớ lại: Trước ngày làm đám cưới, tôi suy nghĩ mãi rồi quyết định mời Bác đến dự, chúc phúc cho chúng tôi. Hôm ấy, trên đường đưa Bác từ Phủ Chủ tịch về Nhà sàn, khi đi bộ tới ao cá, tôi mạnh dạn: “Thưa Bác, cháu sắp lập gia đình. Hai vợ chồng cháu kính mời Bác đến dự đám cưới ạ!”. Bác nhìn tôi, đôi mắt Bác thật vui, rồi hỏi: “Vậy vợ chú là ai?”. Tôi trả lời: “Thưa Bác, vợ cháu là cô Tính, cũng là quân của anh Kháng ạ”…

Món quà cưới Bác Hồ dành cho vợ chồng ông Cẩn là một đôi hài nhung, mà mãi sau này hai ông bà mới biết đó chính là quà của Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai tặng Hồ Chủ tịch, để dùng giữ ấm đôi chân trong mùa đông.

Kỷ niệm khó phai mờ trong kí ức của vợ chồng ông Cẩn là tình cảm giữa Bác Hồ với Bác Tôn, hai vị lãnh tụ tiêu biểu cho đại đoàn kết dân tộc. Năm 1968, Bác Tôn tròn 80 tuổi, Bác Hồ đã đến chúc thọ người bạn già, ôm hôn thắm thiết và tặng Bác Tôn hai câu thơ: “Càng già, chí khí càng dai/ Chống Mỹ, cứu nước ít ai hơn Già“.

Những lần tiếp khách, đặc biệt là tiếp cán bộ, chiến sĩ Nam Bộ hay các cháu nhi đồng miền Nam, Bác Hồ đều nhắc bộ phận Văn phòng, Thư ký nhớ mời Bác Tôn cùng dự. Hình ảnh Bác Hồ, Bác Tôn tiếp và ôm hôn các đại biểu, dũng sĩ, các cháu nhi đồng là những thông điệp ấm áp, tràn đầy niềm tin vào khối đại đoàn kết dân tộc, vào thắng lợi hoàn toàn của sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc. Từ năm 1967, sức khoẻ Bác Hồ đã giảm nhiều, bước chân đi không còn nhanh nhẹn như xưa; một lần cùng Bác Tôn xuất hiện trước đông đảo đồng bào, Bác Hồ bảo: “Để tôi nắm tay Cụ đi cho đỡ run, đồng bào khỏi thấy!”. Câu nói ấy của Bác Hồ đã khiến anh em Cảnh vệ và những người chứng kiến trào nước mắt, thương hai Bác vô cùng.

Bác Hồ cùng Thủ tướng Phạm Văn Đồng và cán bộ, chiến sĩ Cảnh vệ (Xuân Quý Mão 1963). Ảnh: Tư liệu.

Ông Cẩn còn nhớ, Bác Tôn là người năng hoạt động, tập luyện thể thao, Bác rất thích đi xe đạp ra ngoại thành vào buổi sáng sớm. Về sau, anh em Cảnh vệ, bác sĩ lo ngại Bác Tôn tuổi đã cao, lỡ đi xe đạp mà bị ngã thì hậu quả khó lường. Anh em đề nghị Bác Tôn không đi xe đạp nữa, nhưng Bác cười hồn hậu: “Đạp xe để rèn luyện sức khỏe, đến ngày thống nhất đất nước còn có sức đi thăm đồng chí, đồng bào!”. Nghe Bác Tôn nói vậy, anh em Cảnh vệ hiểu lòng Bác, nhưng vẫn rất lo lắng, bèn báo cáo với đồng chí Lê Hữu Lập, người phụ trách bộ phận thư ký văn phòng của Bác Hồ và Bác Tôn.

Ngày 2/9/1969, ông Cẩn đón Bác Tôn từ nhà riêng ở 35 Trần Phú (Hà Nội) vào nơi Bác Hồ nằm nghỉ trong một căn nhà phía sau Nhà sàn. Ông cũng là người chứng kiến giờ phút Bác Hồ lâm chung, có Bác Tôn và các vị lãnh đạo Đảng, Nhà nước đứng quanh giường bệnh. Những dòng nước mắt chảy dài và tiếng khóc thổn thức của những người đồng chí, người học trò xuất sắc của Bác; không ai kìm nén được lòng mình trước tổn thất lớn lao của cả dân tộc… Ngay trong ngày hôm ấy, ông Cẩn đã ghi lại những dòng cảm xúc của mình vào một cuốn sổ: “Bác ơi, Bác đi xa thật rồi ư? Nỗi đau này quá lớn với chúng con, những người lính Cảnh vệ từng được bảo vệ, phục vụ Bác”…

Trước lúc tạm biệt tôi, ông Cẩn lại tỉ mỉ gói ghém cẩn thận những cuốn sổ của mình và những bức ảnh được chụp chung với Bác Hồ, vốn đã trở thành tài sản vô giá với gia đình ông. Tôi bắt chặt tay ông, đôi bàn tay ấm áp của người sĩ quan Cận vệ của Bác Hồ và Bác Tôn. Trong nắng tháng Năm rạng rỡ, mái tóc trắng như cước của ông bồng bềnh trên đôi mắt chứa đầy kỷ niệm.

Người chứng kiến việc Bác Hồ đề nghị Bác Tôn không nên đi xe đạp ra đường phố nữa, chính là bà Lưu Thị Tính. Bà Tính kể: Hôm ấy, như thường lệ tôi vào kiểm tra bảo đảm an toàn bữa ăn của Bác Hồ, thì đúng lúc Bác Hồ mời Bác Tôn dùng cơm. Sau bữa cơm, hai Bác đàm đạo khá lâu. Rồi Bác Hồ thân mật nói với Bác Tôn, đại ý: “Về tuổi tác thì Cụ hơn tôi, nhưng về nhiệm vụ Nhà nước phân công, thì tôi là cấp trên. Nay Cụ đã tuổi cao, sức yếu; đề nghị Cụ không nên đi xe đạp ra ngoài phố nữa, lỡ té ngã thì rất nguy hiểm… Cụ bảo trọng là phúc lớn cho đất nước”.

Theo CAND.com.vn
Thúy Hằng (st)

bqllang.gov.vn

Bác Hồ ở Trường Sa

Bức ảnh Bác Hồ với chiến sĩ Hải quân đã trở thành kỷ vật truyền thống có ở hầu khắp các đơn vị hải quân. Ảnh T.D.H

Trên các đảo nổi, đảo chìm và trên từng nhà Dàn DKI của quần đảo Trường Sa, thời tiết vô cùng khắc nghiệt vẫn hiện hữu và tràn trề sức sống của cây bàng quả vuông – loại cây đặc trưng thích nghi sóng gió. Dù cuộc sống, sinh hoạt, chiến đấu còn khó khăn nơi đầu sóng ngọn gió nhưng với chiến sỹ và nhân dân trên đảo hình ảnh Bác Hồ kính yêu – hiện thân của niềm tin, ý chí, sự bao che rất ấm áp, thiêng liêng.

Tôi về Trường Sa trong những ngày đầu tháng năm nồng nàn nắng gió. Lần đầu tiên trong đời bâng khuâng đặt chân lên các đảo nổi, đảo chìm, các nhà Dàn DKI… đưa tầm mắt nhìn ra biển khơi ngút ngàn sóng bạc mới thấm thía đất nước mình rộng lớn vô cùng. Và, biển cả đại dương mênh mông vô cùng tận! Lần đầu tiên, đưa tay sờ vào cột mốc Bia chủ quyền trên đảo Trường Sa Lớn, chợt nghe trong hồn dâng lên tình yêu đất nước rớm lệ. Bởi lần đầu tiên được đến với Trường Sa nên với tôi cái gì cũng mới lạ, cũng đáng quý và được tôi “ghi chép” vào lòng! Đúng như người ta nói, đặc trưng của đảo thời tiết khí hậu quanh năm rất khắt nghiệt; mỗi năm chỉ có 3 tháng (giữa tháng giêng đến giữa tháng tư âm lịch) biển yên sóng lặng những tháng còn lại mưa nắng, bão giông rất thất thường.

Nơi đất trời khắt nghiệt vậy, cuộc sống vẫn cứ sinh sôi, cây lá vẫn tươi xanh sau từng mùa bão nổi đi qua. Rau muống biển nở hoa tím ngời ven mặt nước; cây phong ba, bàng quả vuông cứ vươn cao như ưỡn tấm ngực chắn gió đại dương che chở con người. Bàng quả vuông nở hoa vào mùa xuân làm xao xuyến lòng người trên đảo và kết trái có hình thù bốn cạnh vuông vức rất đẹp và lạ mắt, món quà kỷ niệm của đảo với đất liền mỗi khi có chuyến công tác ra thăm…

Đi đến tất cả các đảo nổi, đảo chìm, nhà Dàn DKI và vào thăm 07 gia đình dân đầu tiên của huyện Cam Lâm (Khánh Hòa) tình nguyện ra Trường Sa Lớn định cư, tôi nhận ra một điều rất đặc biệt: Trong mỗi nơi tôi đến đều lập bàn thờ Bác Hồ kính yêu. Bàn thờ Bác được đặt nơi cao nhất, trang trọng nhất với hoa tươi, quả ngọt đơm đầy và được nhang khói mỗi ngày. Trong 7 hộ dân sống ở Trường Sa, có 2 hộ theo đạo Thiên chúa giáo, bàn thờ Bác Hồ được đặt cao hơn tượng chúa. Chị Nguyễn Thị Hạnh (người có đạo) nói: “Thờ Bác Hồ trong nhà thấy ấm áp và thêm vững tin”. Hầu hết những công dân đảo đều cho rằng ngoài thờ cúng ông bà, thờ cúng Bác Hồ để Bác linh thiêng phù hộ cho biển yên sóng lặng, cuộc sống yên bình trên đảo xa…

Nhà tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh trên đảo Trường Sa.

Không ở đâu như ở Trường Sa, hình ảnh Bác Hồ thật gần gũi và ấm áp đến diệu kỳ. Hình ảnh Bác có ở khắp nơi: Tượng đồng lớn đặt tại Nhà Tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh trên đảo, trong các hội trường, phòng họp, nhà khách Thủ đô, trên Tháp cao của tại các nhà Dàn DKI giữa sóng gió biển khơi với chòm râu trắng như cước, trong chiếc mũ Hải quân với nụ cười hiền hậu và rất đỗi gần gũi trong mỗi hộ dân…Đi giữa mênh mông trời nước Trường Sa, những câu thơ của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu chợt ùa về:

“Bác ở Điện Biên. Bác ở Trường Sơn
Bác ở Trường Sa, Bác ở rừng biên giới
Đất nước gian nan mỗi lần gặp tới
Chúng con đi, có Bác ở bên mình”.

(Những khúc ca về Bác)

Bất cứ ở nơi đâu khó khăn, gian nan nhất đều có Bác gũi gần. Bác là hiện thân của niềm tin, dũng khí, bình dị mà thật lớn lao tỏa ánh nắng chan hòa sưởi ấm giá rét giữa phong ba; động viên cán bộ, chiến sỹ và nhân dân biết vượt qua khó khăn, gian khổ, hy sinh chung sức chung lòng dựng xây non sông gấm vóc. Bác là hiện thân của sức mạnh đoàn kết, của tình quân dân gắn chặt vững bền như cây phong ba giữa miền đất đảo cắm sâu rễ vào từng thớ đất thiêng liêng, tỏa bóng mát giữa nghìn trùng khơi… Cảm xúc trong tôi chợt dâng tràn:

Trồng rau xanh trên đảo Trường Sa.

“Không ở đâu như ở Trường Sa
Hình ảnh Bác Hồ gũi gần
Hiện thân
Niềm tin, dũng khí…
Để anh lính đảo tui rèn ý chí
Vượt mọi hiểm nguy: bão dữ, phong ba
Sẵn sàng xả thân cho Tổ quốc sơn hà”

Đã bốn mươi hai năm rồi “vắng Bác”, nhưng trên mọi nẻo đường đất nước như vẫn còn in dấu chân Bác mới đi qua. Tháng năm về Trường Sa, ta gặp Người ở đấy…

Theo Thanh Hồng
Suckhoedoisong.vn
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Thời gian là quý lắm

Chuyện kể rằng, năm 1945, mở đầu bài nói chuyện tại lễ tốt nghiệp khoá V Trường huấn luyện cán bộ Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh thẳng thắn góp ý: “Trong giấy mời tới đây nói 8 giờ bắt đầu, bây giờ là 8 giờ 10 phút rồi mà nhiều người vẫn chưa đến. Tôi khuyên anh em phải làm việc cho đúng giờ, vì thời gian quý báu lắm”.

Cũng về giờ giấc, trong kháng chiến chống Pháp, một đồng chí sĩ quan cấp tướng đến làm việc với Bác chậm 15 phút, tất nhiên là có lý do: Mưa to, suối lũ, ngựa không qua được.

Bác bảo: “Chú làm tướng mà chậm đi mất 15 phút thì bộ đội của chú sẽ hiệp đồng sai bao nhiêu? Hôm nay chú đã chủ quan không chuẩn bị đủ phương án, nên chú không giành được chủ động”.

Một lần khác, Bác và đồng bào phải đợi một đồng chí cán bộ đến để bắt đầu cuộc họp. Bác hỏi: “Chú đến muộn mấy phút? Thưa Bác, chậm mất 10 phút ạ! Chú tính thế không đúng, 10 phút của chú phải nhân với 500 người đợi ở đây”.

Năm 1953, Bác quyết định đến thăm lớp chỉnh huấn của anh em trí thức, lúc đó đang bước vào cuộc đấu tranh tư tưởng gay go. Sắp đến giờ lên đường bỗng trời đổ mưa xối xả. Các đồng chí làm việc bên cạnh Bác đề nghị cho hoãn đến một buổi khác. Có đồng chí còn đề nghị tập trung lớp học ở một địa điểm gần nơi ở của Bác… Nhưng bác không đồng ý: “Đã hẹn thì phải đến, đến cho đúng giờ, đợi trời tạnh thì đến bao giờ? Thà chỉ mình bác và vài chú nữa chịu ướt còn hơn để cả lớp phải chờ uổng công!”. Thế là Bác lên đường đến thăm lớp chỉnh huấn đúng lịch trình trong tiếng reo hò sung sướng của các học viên…

Bác Hồ của chúng ta quý thời gian của mình bao nhiêu thì cũng quý thời gian của người khác bấy nhiêu. Chính vì vậy, trong suốt cuộc đời Bác không để bất cứ ai đợi mình. Sự quý trọng thời gian của Bác thực sự là tấm gương sáng để chúng ta học tập. Thế nhưng, hiện nay ở không ít các cơ quan, đơn vị, tình trạng lãng phí thời gian vẫn liên tục xảy ra. Tại một số Bộ, ngành, địa phương lại xảy ra tình trạng: Trong giờ hành chính lãnh đạo đơn vị thả cho nhân viên muốn làm gì thì làm. Thế nhưng hết giờ hành chính lại triệu tập mọi người đến họp, hoặc làm thêm việc (làm ngoài giờ). Đương nhiên việc họp và làm ngoài giờ sẽ được “phù phép” đủ điều kiện để được hưởng tiền làm việc thêm giờ. Chính sự buông lỏng việc quản lý giờ giấc và lề lối làm việc thiếu nghiêm túc của một số lãnh đạo nên đã có không ít nhân viên trong giờ làm việc đã “tranh thủ” lên sàn xem giá cổ phiếu hôm nay lên, xuống ra sao; một số khác thì rạo phố mua sắm hay vào chợ mua đồ ăn cho gia đình… Thực tế tại một số cơ quan, đơn vị cho thấy tình trạng lãng phí thời gian của đội ngũ cán bộ, công chức diễn ra khá phổ biến và ngày càng tinh vi. Có những người vừa đến cơ quan là ngồi ngay ngắn vào bàn, nhưng không phải để làm việc mà vào mạng “chít chát” với bạn bè. Cũng có người hễ bước chân đến cơ quan là kêu nhiều việc, thiếu thời gian để hoàn thành, nhưng lại có thời gian để “buôn điện thoại” tán gẫu với bạn bè hàng giờ liền…

Vẫn biết thời gian là vàng, ngọc, có những cái mất đi chúng ta vẫn tìm thấy, song nếu để thời gian trôi đi một cách vô ích thì chúng ta sẽ không bao giờ tìm lại được. Chính vì vậy, học tập tấm gương đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh, mỗi chúng ta cần xem lại mình, hãy biết quý trọng thời gian, biết tận dụng thời gian để làm việc có ích cho xã hội, cho gia đình và bản thân.

Nguyễn Minh (Trung Hoà, Cầu Giấy, Hà Nội)

bqllang.gov.vn

Phê bình cấp dưới

Trong cuộc sống hằng ngày, cán bộ cấp trên phê bình, chê trách cán bộ, nhân viên cấp dưới thuộc quyền là chuyện thường xảy ra. Tôi đã chứng kiến những trường hợp cấp trên phê bình đúng, phê bình gần đúng, hoặc phê oan sai mà cấp dưới vẫn nín nhịn, chịu đựng. Trước những việc làm sai trái của cấp dưới, có cán bộ cấp trên phê bình theo kiểu mắng nhiếc, chì chiết, té tát vào mặt; phê cho bõ tức, cho thỏa cơn nóng giận. Thậm chí có cán bộ cấp phân đội ở đơn vị không chỉ phê bình chiến sĩ sai phạm bằng lời mà còn đánh chiến sĩ. Cũng có cán bộ do nóng nảy, sau khi phê bình nặng lời cấp dưới thì tĩnh tâm, ân hận, hối lỗi việc đã làm. Nhưng có cán bộ lại coi cách phê bình nặng lời ấy là “biện pháp mạnh” để răn đe, áp đảo giúp cấp dưới nhận ra sai sót phải sửa chữa, khắc phục ngay.

Phê bình, góp ý, khuyên răn cấp dưới là việc làm cần thiết và thường xuyên của cấp trên nên phải coi đó là một phương pháp công tác và nghệ thuật cư xử của người cán bộ. Sinh thời, Bác Hồ gặp nhiều trường hợp cán bộ, nhân dân làm sai, Bác đều phê bình thẳng thắn nhưng nhẹ nhàng, sâu sắc mà thấm thía, giúp cho người được phê bình nhớ lâu, nhận rõ hơn việc làm sai trái của mình. Có lần, Bác được biết một đồng chí sĩ quan cao cấp trong quân đội nóng nảy, hay quát mắng cán bộ cấp dưới. Khi gặp, Bác rót một chén nước đun sôi đưa cho người sĩ quan cao cấp có “máu Trương Phi” uống. Cầm chén nước nóng ran, bốc hơi nghi ngút, người sĩ quan ngập ngừng không dám uống. Đúng lúc ấy, Bác ôn tồn nói: Nước nóng chú không uống được. Cũng như khi chú quá nóng, mắng mỏ cấp dưới thì họ cũng không tiếp thu được đâu…

Lời phê ý nhị, nhẹ nhàng ấy khiến người sĩ quan có “máu Trương Phi” ấy xúc động và coi đó là bài học nhớ đời, kiên quyết khắc phục bệnh quân phiệt trong việc cư xử với cán bộ cấp dưới. Ở đơn vị tôi có đồng chí cán bộ khi thấy cán bộ cấp dưới làm những điều không phải, đồng chí gặp riêng phê bình, nhắc nhở thân tình. Chỉ những trường hợp sai phạm nghiêm trọng hoặc vi phạm nhiều lần đồng chí mới đưa ra phê bình trước tập thể. Nhờ vậy, đơn vị luôn tạo nên mối đoàn kết thống nhất; các đồng chí mắc khuyết điểm đều nhận rõ trách nhiệm của mình, thể hiện ý thức ăn năn, quyết tâm sửa chữa. Đặc biệt, trong đơn vị thể hiện rõ không khí dân chủ, chan hòa giữa cán – binh; đóng góp phê bình nhau chân tình, thẳng thắn. Nếu tình trạng cán bộ cấp trên phê bình cấp dưới theo kiểu “cả vú lấp miệng em” thì đôi khi còn làm cho cấp dưới e ngại, sợ không dám có ý kiến trở lại. Trong cuốn “Sửa đổi lối làm việc” Bác viết tháng 10-1947, cũng đề cập đến hậu quả ấy: “Không phải họ không có gì nói, nhưng vì họ không dám nói, họ sợ. Thế là mất hết dân chủ trong Đảng. Thế là nội bộ của Đảng âm u, cán bộ trở nên những cái máy trong lòng uất ức, không dám nói ra; do uất ức mà hóa ra oán ghét, chán nản”…

Mục đích của phê bình là nhằm giúp cho cấp dưới nhận rõ khuyết điểm, có hướng khắc phục, sửa chữa để làm tốt hơn. Muốn được như vậy, cán bộ cấp trên phải tu dưỡng, rèn luyện, học tập tác phong và đạo đức của Bác Hồ, thực sự thương yêu, tôn trọng cấp dưới, dùng lời lẽ hành động nhẹ nhàng, tế nhị khuyên nhủ để cấp dưới dễ tiếp thu, sửa chữa khuyết điểm.

Nguyễn Đình Thống (Trường cao đẳng kỹ thuật Vin – hem Pích)

bqllang.gov.vn

“Ham muốn tột bậc” của Bác Hồ

Năm 1946, khi đã là Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ Cộng hoà, Bác Hồ muôn vàn kính yêu của chúng ta đã trả lời các nhà báo: “Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”.

Đó là ham muốn tột bậc của Hồ Chủ tịch. Là một người lính Cụ Hồ, tôi hằng suy nghĩ nhiều về câu nói trên và càng suy nghĩ càng thêm thương nhớ Bác, kính yêu Bác, tin tưởng Bác và thêm phấn khởi để tiến bước trên con đường Bác vạch ra.

“Ham muốn tột bậc” là sự ham muốn thiết tha nhất, duy nhất. Sự ham muốn tột bậc đã chiếm lĩnh toàn bộ trái tim, toàn bộ tâm hồn Bác. Không có một ham muốn nào khác, đam mê nào khác có thể chen vào trái tim, chen vào tâm hồn Bác ngoài ham muốn “Nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”.

Chính sự ham muốn tột bậc đó đã tạo nên tình yêu nước, thương dân không bờ bến. Suốt đời Bác Hồ làm việc không giây phút nào ngơi cũng là có sự ham muốn tột bậc đó. Chính nhờ sự “ham muốn tột bậc” nên Bác Hồ có được một nghị lực phi thường để chiến thắng mọi khó khắn gian khổ, mọi cám dỗ tầm thường-chiến thắng cả bệnh tật để làm việc không ngừng cho Dân, cho nước.

Cũng nhờ sự ham muốn đó mà Bác Hồ không ngừng học tập, rèn luyện để có một tài năng tuyệt vời, trở thành “Danh nhân văn hoá thế giới, anh hùng giải phóng dân tộc”.

Kiến thức của Người uyên bác, đạo đức của Bác mênh mông, nên Hồ Chủ tịch đã cầm lái con thuyền cách mạng Việt Nam vượt muôn trùng sóng gió để tới đỉnh vinh quang.

Chính ham muốn tột bậc đó đã tạo nên cuộc đời huyền thoại của Hồ Chủ tịch: “Không một chút riêng tư, toàn bộ trái tim, sức lực của Hồ Chủ tịch đều hiến dâng cho Tổ quốc, nhân dân”.

Bác Hồ không có thì giờ để nghĩ đến riêng mình. Thế giới ngợi ca Hồ Chủ tịch bởi vì cuộc đời của Người “trong như ánh sáng”, không gợn một chút riêng tư. Trái tim của Hồ Chủ tịch chỉ biết đập vì nhân dân vì Tổ quốc.

Trái tim vĩ đại của Bác Hồ bao giời cũng hoà nhịp đập với đồng bào bị áp bức đau khổ. Hàng ngày tôi suy nghĩ về Bác Hồ. Cuộc đời huyền thoại của Bác Hồ là có thật. Bác sống và làm việc như lời Bác nói. Bác Hồ không có gia đình riêng vì toàn bộ trái tim Bác là của đồng bào, Tổ quốc. Do đó, mà người Việt Nam ai cũng nhận là con cháu của Bác Hồ – vì có Bác Hồ ta mới thoát ách nô lệ, được sống tự do.

Noi theo gương Người, chúng ta quyết tâm thực hiện ham muốn của Người, đưa lá cờ bách chiến bách thắng của Người tới đích cuối cùng – Đó là xây dựng thành công chủ nghĩa cộng sản ở nước ta mà cụ thể là thực hiện “Dân giầu, nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ, văn minh”.

Phạm Mai Khôi

bqllang.gov.vn

Bài học từ người cận vệ Bác Hồ

Ngày 19 – 5 – 1958, Bộ Công an đã trao quyết định đề bạt chức vụ cục phó Cục Cảnh vệ cho người con đất mũi Phan Văn Xoàn nhân sinh nhật của Bác.

Ông có nhiều dịp làm công tác bảo vệ những chuyến đi của Bác Hồ nhưng sau đó hai năm (năm 1960), ông trở thành người trực tiếp bảo vệ Bác Hồ.

Ở tuổi ngoài 80, tướng Phan Văn Xoàn vẫn rắn chắc, giọng nói sang sảng. Trong căn phòng làm việc của ông treo tấm hình Bác Hồ chụp trong lần về thăm một HTX ở Nam Định năm 1959, phía trên là tấm ảnh Bác Hồ với dòng chữ “Bác nhớ miền Nam nỗi nhớ nhà, miền Nam mong Bác nỗi mong cha”.

Phải tìm hiểu mới nói!

Mùa xuân năm 1960, khoảng tháng ba, anh Phan Văn Xoàn nhận nhiệm vụ trực tiếp bảo vệ Bác Hồ. “Thật quá bất ngờ, tôi vô cùng hãnh diện và sau đó là nỗi lo lắng, hồi hộp. Suốt nhiều đêm tôi không ngủ, trằn trọc suy nghĩ, đây là sự kiện lớn nhất trong đời tôi.

Ngày đầu tôi không tự chủ được và luôn dè dặt, giữ đúng nguyên tắc. Biết được tâm trạng của tôi, Bác gọi đến và bảo: “Bác nhớ miền Nam lắm! Có chú ở đây, ngày nào cũng được thấy miền Nam, vậy là Bác vui lắm rồi”.

Ông còn bồi hồi chia sẻ những bài học mà ông đã học được từ Bác qua những chuyến đi. Ông kể: “Một lần, Bác cùng chúng tôi vượt qua đoạn dốc thật cao. Mọi người mồ hôi vã ra như tắm. Đang đi, Bác hỏi tôi: “Chú có biết đường lên dốc kia đi có được không?”. Tôi suy nghĩ nếu nói là đi được, Bác sẽ tiếp tục đi. Sợ ảnh hưởng sức khỏe Bác, tôi nói: “Thưa Bác, cháu thấy đường khó đi, cây rậm rạp chắc đi không được ạ”. Nhưng Bác lại bảo: “Chú trèo lên dốc xem thế nào rồi xuống đây báo cáo lại cho Bác”. Tôi chạy lên lưng chừng dốc đứng trông lên rồi quay lại đã thấy Bác đứng phía sau, tôi giống như đứa trẻ bị bắt quả tang nói dối, lúng túng. Bác cười bảo: “Chú phải rút kinh nghiệm, nếu chưa điều tra nghiên cứu thì chưa được phát ngôn”.

Những năm giặc Mỹ gây chiến tranh phá hoại miền Bắc, từ một tình huống của anh cảnh vệ vì quá lo lắng cho sự an toàn của Bác đã hốt hoảng mời Bác xuống hầm trú ẩn khi mới nghe dự báo động có máy bay địch… Bác nói: “Khi có địch phải biết bình tĩnh như khi không có địch, khi không có địch phải sẵn sàng như khi có địch”. Câu nói đó trở thành một trong những phương châm của người cảnh vệ trong mọi thời đại.

Truyền lửa cho đời sau

Năm 1992, về hưu khi 68 tuổi nhưng chỉ sau ba năm ông cho ra đời Công ty Long Hải chuyên về nghiệp vụ bảo vệ. ông luôn tâm huyết muốn xây dựng hình ảnh người vệ sĩ toát lên tinh thần nghĩa khí của Lục Vân Tiên. Và ông đã lấy “Nhân – lễ – nghĩa – trí – tín” làm gốc để giáo dục và xây dựng nhân cách người vệ sĩ. Trong giáo án tập luyện, ông còn soạn hẳn một bài giảng về đạo đức người vệ sĩ. “Tôi quan niệm đó là bài học đầu tiên và vô cùng quan trọng cho các em khi chấp nhận bước vào nghề. Bài giảng đạo đức soạn thảo từ khóa huấn luyện cho 44 vệ sĩ đầu tiên vẫn được truyền giữ đến bây giờ, sau 10 năm với hơn 3.000 vệ sĩ” – ông nói.

Lời dạy “có thái độ tốt với đồng bào” của Bác năm xưa dành cho người cận vệ nay được ông truyền lại cho thế hệ các bạn trẻ trong công ty. Ông bảo: “Người vệ sĩ phải là người có trí tuệ luôn tỉnh táo, tôi không có quan điểm khuyến khích các em xử lý tình huống bằng vũ lực. Đạo đức nghề nghiệp của người vệ sĩ ngoài tính trung thực, ngay thẳng, hiểu biết pháp luật là lòng nhân đạo nghĩa”.

Người cận vệ gần chục năm làm việc bên Bác chia sẻ: “Sự vĩ đại của Bác Hồ chúng ta không có gì xa xôi. Trong bất cứ công việc gì Bác cũng giống một con người bình thường, giản dị, chan hòa, không hề có khoảng cách. Đi bên Người chúng ta thấy tự tin hơn, ấm áp hơn như bên cạnh người cha, người ông…”.

Kim Anh

bqllang.gov.vn