Thư viện

Bác Hồ lần đầu về thăm quê

(Dân trí) – Ngày 14/6 năm Đinh Hợi này là chẵn 50 năm ngày Bác Hồ về thăm quê lần thứ nhất, cũng là ngót 100 năm từ ngày Bác rời quê hương làng Sen bôn ba đi khắp góc bể chân trời.

Bác Hồ về thăm quê ở Kim Liên, Nghệ An ngày 8-12-1961

Nghe tin Bác về thăm quê, không riêng dân làng Sen quê nội, Hoàng Trù quê ngoại mà nhân dân cả huyện Nam Đàn, cả tỉnh Nghệ An đều náo nức mong chờ. Thời điểm đó miền Bắc mới được giải phóng, vừa bước qua thời kỳ 2 năm khôi phục kinh tế và văn hoá, hàn gắn vết thương chiến tranh; đời sống nhân dân còn nghèo, cơm ăn còn bữa có bữa không, áo quần chưa thật lành, nhưng đã hạnh phúc trong độc lập, tự do. Tin Bác về, từ trẻ em đến người già, ai ai cũng náo nức, phấn khởi, mặc những bộ quần áo đẹp nhất, mới nhất đi đón người con quê hương – lãnh tụ kính yêu của mình.

Buổi sáng ngày tháng sáu ấy trời nắng chan hoà. Những tia nắng như cùng reo vui chiếu rọi lên từng nét mặt chan chứa vui sướng tự hào cuồn cuộn đổ về Nam Đàn, về Kim Liên.
Bác kia rồi! Trong bộ quần áo ka ki bạc màu, đôi dép cao su mòn gót, Bác tươi cười vẫy chào nhân dân. Cả rừng người hò reo mừng đón Bác.

Một đồng chí lãnh đạo tỉnh Nghệ An trịnh trọng mời Bác đi vào nhà khách mới được xây cách đấy không lâu, nhưng Bác ngăn lại:

– Tôi xa nhà, xa quê đã lâu nay mới có dịp trở về, tôi phải về thăm nhà tôi trước đã. Nhà tiếp khách là để dành cho khách, tôi có phải là khách đâu!

Nói rồi Bác rẽ đi về lối nhà mình. Đến trước chiếc cổng tre dẫn lối đi vào nhà ngang thấy hàng chữ ghi trên tấm bảng nhỏ “nhà Bác Hồ”, Bác quay lại bảo với mọi người:

– Đây là nhà Cụ phó bảng chứ có phải là của Bác Hồ đâu!

Đúng vậy. Ngôi nhà gỗ 5 gian lợp tranh là của dân làng Kim Liên xuất quĩ công mua và dựng mừng quan đại khoa Nguyễn Sinh Sắc vừa thi đậu Phó bảng khoa thi Hội năm Tân Sửu 1901. Người anh của Cụ là Nguyễn Sinh Trợ cùng bỏ tiền dựng 3 gian nhà nhỏ dùng làm nhà ngang, mừng người em sắp vinh qui bái tổ.

Bác đứng tần ngần, nhìn bao quát 2 ngôi nhà, sân vườn. Khi nghe tiếng người cán bộ hướng dẫn mời Bác đi vào nhà, Bác ngập ngừng trong vài thoáng rồi thong thả đi dọc theo hàng rào bước đến góc vườn rẽ phải, theo hàng rào dâm bụt đi thẳng vào sân:

– Các chú mở lối đi vừa rồi là sai, cổng nhà Cụ Phó bảng ở hướng đông này chứ!

Bác dừng lại giữa sân, như muốn thu toàn bộ cảnh quan vào đôi mắt. Người chỉ cho những người đi theo đâu là nơi trồng cây ổi, chỗ nào có cây thanh yên đã mọc trên mảnh vườn xưa của nhà Bác. Bác đi vào nhà lớn, đi hết năm gian, đi đến đâu Bác chỉ cho mọi người vị trí đặt, để các đồ vật theo ký ức của Người.

Ở gian thứ nhất có kê bộ phản lớn làm nơi cụ Nguyễn Sinh Sắc tiếp khách. Chính tại nơi đây, Nguyễn Sinh Cung đã được nghe không ít cuộc đàm đạo của các chí sĩ yêu nước, những người đồng chí hướng với thân phụ mình. Bàn thờ được đặt ở gian thứ 2. Chiếc bàn thờ này không có chân mà nó được đỡ trên 2 tấm gỗ đóng ống vào cột nhà. Bàn thờ là một tấm liếp bằng nứa trên trải chiếu mộc. Đồ thờ đều làm bằng gỗ mộc không sơn son thiếp vàng. Gian thứ 3 được quây kín thành một gian buồng giành cho chị gái bác là Nguyễn Thị Thanh tức Bạch Liên. Gian thứ 4 giành riêng để Cụ Phó bảng đọc sách, nghỉ ngơi. Ngoài bộ phản còn có một cái án thư. Gian thứ 5 cũng được kê một bộ phản dành riêng cho 2 anh em Nguyễn Sinh Khiêm và Nguyễn Sinh Cung. Bác chỉ cho mọi người biết chiếc võng đay được mắc ở đâu, cái rương gỗ đựng thóc kê ở vị trí nào, cái tủ 2 ngăn đựng chén bát được đặt ở đâu… Đi hết nhà lớn, Bác bước xuống nhà ngang, ngày trước dùng để nấu nướng và để đồ.

Bác lại đi ra sân, đứng ngắm lại ngôi nhà đã gắn bó một giai đoạn rất quan trọng trong cuộc đời Bác. Ngôi nhà này là một kỷ vật chứng kiến quá trình lao động, học tập và trưởng thành từ năm mười một tuổi đến năm mười sáu tuổi của Bác, là nơi ghi dấu những cảm xúc đầu tiên về lòng yêu nước, về nhận thức xã hội và ghi dấu những hoạt động cứu nước bước đầu của Người.

Đã 50 năm trôi qua, những ai được vinh dự có mặt trong giờ phút thiên liêng của buổi sáng ngày 14/6/1957, hẳn không quên lời Bác:

– Tôi xa quê đã 50 năm rồi. Thường tình người ta xa nhà, lúc trở về thì mừng mừng tủi tủi. Nhưng tôi không tủi mà chỉ thấy mừng. Bởi, khi tôi ra đi, nhân dân ta còn nô lệ, bị bọn phong kiến đế quốc đè đầu cưỡi cổ. Bây giờ tôi về thì đất nước đã được giải phóng, nhân dân đã được tự do.

Quê hương nghĩ nặng tình cao
Năm mươi năm ấy biết bao nhiêu tình

Nguyễn Hoàng Tửu
(ghi theo Vũ Kỳ)
dantri.com.vn

Thượng tướng Hoàng Minh Thảo và kỷ niệm với Bác Hồ

(Dân trí) – Đây là những câu chuyện, suy nghĩ cảm động của GS Thượng tướng Hoàng Minh Thảo về Chủ tịch Hồ Chí Minh. Những kỷ niệm đó dù nhỏ, nhưng đã đi theo vị tướng tài ba này, trải bao tháng năm trận mạc, góp phần làm nên những chiến công lừng lẫy non sông.

Bác đãi cháo quẩy ở Nam Ninh

Dự trù trước những tháng ngày cam go sắp tới của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, Bác chủ trương chọn một số thanh niên có cảm tình với Đảng tại các địa phương, chủ yếu là Cao Bằng, Lạng Sơn sang học tại trường Quân sự ở Liễu Châu (Trung Quốc) từ năm 1941 đến năm 1944. Là một trong những thanh niên được chọn, nhưng vì ở xa nên tôi không được gặp Bác.

Mùa hè 1944 trên đường trở về Việt Nam sau những tháng dài chịu bao gian khổ trong nhà tù Tưởng Giới Thạch, Bác Hồ vẫn xếp lịch dừng lại ở Nam Ninh gặp mặt những thanh niên Việt Nam đang học tại trường Quân sự Liễu Châu. Bác đến nói chuyện với anh em, động viên mọi người đoàn kết, chịu khó học tập quân sự để sau này về tổ chức lực lượng vũ trang, kháng Pháp.

Khi gặp Bác, anh em chúng tôi ai cũng thương cảm vì trông Bác rất gầy và yếu. Tôi cùng một vài anh em khi đó là học viên lớp biệt động quân Trung – Mỹ, được trợ cấp cũng khá tốt nên muốn mời Bác một bữa ăn “kha khá một chút”. Nhưng Bác không đồng ý. Bác bảo: Ta còn nghèo, các đồng chí cũng chỉ được phụ cấp một ít, phải suy nghĩ tính toán thật kỹ khi tiêu dùng. Sau đó mấy Bác cháu cùng đi ăn cháo quẩy và Bác là người trả tiền.

Chỉ riêng một chi tiết rất nhỏ đó, cũng khiến anh em lưu học sinh tại trường Quân sự suy nghĩ rất nhiều về Bác, về cuộc kháng chiến sắp tới. Đó là sự nhất quán trong mọi hoàn cảnh: tiết kiệm, chủ động, tự lực cánh sinh.

Tư tưởng “lấy dân làm gốc”

Một điều nữa, tôi rất muốn nói đến, đó là tư tưởng kế thừa sâu sắc tinh hoa quân sự dân tộc của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trong đó, tư tưởng vĩ đại “Lấy dân làm gốc” đóng vai trò sợi chỉ đỏ xuyên suốt. Đức thánh Trần Hưng Đạo có nói: “Khoan thư sức dân làm kế sâu rễ bền gốc. Đó là thượng sách giữ nước”.

Nguyễn Trãi thì nói: “Dân là người chở thuyền và cũng là người lật thuyền”. Hồ Chí Minh nói: “Nước lấy dân làm gốc. Trong công cuộc kháng chiến kiến quốc, lực lượng chính là ở dân… Gốc có vững cây mới bền. Xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân”.
Điều này đặc biệt thể hiện ở nghệ thuật quân sự, phương thức chiến tranh của Đảng ta, của Bác Hồ: Lấy nhỏ thắng lớn, lấy ít địch nhiều, lấy thế thắng lực.

Về điều này, Nguyễn Trãi nói: Được thời được thế thì mất biến thành còn, nhỏ hoá ra lớn, không thời mất thế thì to hoá ra nhỏ, mạnh hoá ra yếu, an lại thành nguy. Và Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Lạc nước hai xe đành bỏ phí. Gặp thời một tốt cũng thành công”.

Trong thực tế chiến tranh, nghệ thuật quân sự của Việt Nam được thể hiện ở sự kết hợp lực, thần, thế, thời, mưu để tạo thành sức mạnh tổng hợp để tiến hành chiến đấu và chiến thắng kẻ địch. Mưu cao nhất là mưu lừa địch. Kế hay nhất là kế điều địch. Thế tốt nhất là thế chia cắt địch. Mưu sinh ra kế – Thế đẻ ra thời. Đánh bằng mưu, kế, thắng bằng thế, thời.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Không có gì quý hơn độc lập tự do”. Độc lập, tự do chính là người dân có quyền làm chủ cuộc sống của mình. Chính vì vậy mà nhân dân ta đã anh dũng đấu tranh giành độc lập. Đại đoàn kết toàn dân tộc sẽ tạo nên sức mạnh to lớn. Chúng ta đã đánh thắng hai đế quốc to lớn, hung bạo nhất thế giới trên cơ sở kế thừa và phát huy những truyền thống tinh hoa của tổ tiên, dưới sự lãnh đạo tài tình của Đảng và Bác Hồ, với trí thông minh sáng tạo của quân và dân ta.

Ngoài ra, thắng lợi của chúng ta còn nhờ sự giúp đỡ của nhân dân các nước tiến bộ trên thế giới. Chúng ta đã biết kết hợp sức mạnh của dân tộc và sức mạnh của thời đại để làm nên chiến thắng, mở ra giai đoạn mới của lịch sử dân tộc.

Suy nghĩ của riêng tôi, để cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” đi vào thực tiễn, ngoài việc giáo dục thật mạnh thì phải đi đôi với việc quản lý chặt chẽ cán bộ. Và người cán bộ, dù ở bất cứ lĩnh vực nào, vị trí nào, cũng phải là người làm gương trước hết!

Phúc Hưng (ghi)
cpv.org.vn

Bác Hồ tiết kiệm đến từng con chữ

(Dân trí) – Có rất nhiều câu chuyện cảm động về tấm gương giản dị và tiết kiệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh mà cho đến tận bây giờ vẫn còn nguyên giá trị. Nhân kỷ niệm 48 năm ngày mất của Người, Dân trí xin trích đăng hai câu chuyện nhỏ nhưng đầy ý nghĩa.

Câu chuyện về 3 chữ “đinh” – ghi theo lời kể của bác Hồ Ngọc Quýnh – Cục lưu trữ quốc gia

Khoảng cuối năm 1954, đầu năm 1955, khi mới tiếp quản Thủ đô, Trung ương Đảng còn đóng trụ sở ở nhà thương Đồn Thủy, nay là bệnh viện Việt Xô – nơi Bác làm việc.

Bác dặn tôi buổi sáng tranh thủ đọc báo để ghi vào sổ gương người tốt, việc tốt. Rồi sáng sáng, từ 7h đến 7h15, Bác sẽ dành thời gian xem. Nếu có chỗ nào cần lưu ý, Bác lấy bút đỏ gạch dưới và dặn:

– Chú về nói với chú Lương (ông Nguyễn Văn Lương – nguyên bí thứ thành uỷ Hà Nội) thưởng hoặc nhắc địa phương, cơ quan xí nghiệp khen thưởng những người có nhiều thành tích mà Bác đã đánh dấu.

Sáng nào cũng vậy, đọc xong bản ghi chép, Bác cũng chữa câu văn cho tôi. Một lần, tôi đọc báo Nhân Dân và ghi vào sổ: “Tổ sản xuất Dân chủ sản xuất đinh, tháng 1 sản xuất được 50 vạn chiếc đinh, tháng 2 nhờ phát huy sáng kiến cải tiến kỹ thuật sản xuất được 60 vạn chiếc đinh”. Đọc xong, Bác lấy bút đỏ gạch bỏ 2 chữ “đinh ở cuối câu rồi nói:

– Chú viết một câu ngắn mà có 3 chữ “đinh”. Phải tiết kiệm giấy mực, công sức và thời gian. Đọc 2 chữ “đinh” mất một giây, cả triệu người thì hết bao nhiêu thời gian.

Tôi còn giữ mãi quyển sổ trong đời họat động công tác. Bác chữa nhiều chỗ, nhưng tôi nhớ nhất câu chuyện về 3 chữ “đinh” trong một câu đó. Hai chữ “đinh” đằng sau Bác gạch bằng bút đỏ. Tôi càng ngày càng thấm thía sự dạy bảo của Bác. Nếu ai cũng có ý thức tiết kiệm như Bác, chắc chắn rằng nền kinh tế của đất nước ta đã khấm khá hơn rồi.”

Bữa ăn tập thể của Bác – ghi theo lời kể của bác Vũ Kỳ – thư ký của Bác

Khi đã về ở, làm việc trong Bắc Bộ phủ, anh em cấp dưỡng vẫn nấu một nồi to. Đến giờ thì Bác cùng xuống ăn với anh em những bữa cơm đạm bạc như những ngày trong kháng chiến.

Anh em giúp việc định nấu riêng cho Bác nhưng Bác nhất định không chịu. Khi đi công tác, kể cả những khi đi thăm ngày Tết… bao giờ Bác cũng bảo chuẩn bị sẵn bữa ăn mang theo.

Sau gần 50 năm mới có dịp về thăm quê lần đầu tiên, tháng 6/1957. Trong bữa cơm tỉnh Nghệ An mời Bác, có Đại tướng Nguyễn Chí Thanh cùng dự. Mâm cơm chỉ có mấy món đơn giản nhưng mỗi món đều được dọn làm 2 bát. Thấy vậy, Bác liền cất bớt chỉ để mỗi món một bát. Bác bảo: “Ăn hết thì lấy thêm, không ăn hết để người khác ăn, chớ để người ta ăn thừa của mình”.

Lần thứ hai, Bác về thăm quê năm 1961, bữa cơm chiều Bác dặn cả Chủ tịch và Bí thư của tỉnh là Võ Thúc Đồng và Nguyễn Sĩ Quế, nhưng nhớ là phải mang phần cơm của mình đến. Khi vào bàn ăn, Bác lấy ra gói cơm của Bác có độn ngô và ít thịt rim mặn. Hai cán bộ tỉnh, phần cơm do nhà ăn của tỉnh chuẩn bị được nấu bằng gạo trứng, không độn; thức ăn có cá, thịt…

Thấy vậy, Bác hỏi: “Các chú ăn như thế này à?”. Ông Võ Thúc Đồng trả lời: “Dạ, thưa Bác. Hôm nay Bác về thăm, cơ quan mới chuẩn bị các món ăn như thế này, còn thường ngày thì không có đâu ạ.

Bữa cơm hôm đó, mọi người cùng Bác ăn hết phần cơm độn ngô trước, khi dùng phần cơm của cơ quan tỉnh mang đến thì Bác xin thôi không ăn nữa…

Lời kết

Đây là hai trong số nhiều câu chuyện cảm động kể về Bác Hồ đã được các cán bộ văn phòng Sở Y tế Hà Nội lựa chọn để tham gia hội thi “Kể chuyện về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” vừa qua. Các câu chuyện kể về Người tuy mộc mạc, đời thường nhưng khiến nhiều người phải cảm động và hơn cả là tấm gương cao quý.

Bài học tiết kiệm của Bác không chỉ là tiết kiệm thời gian, tiết kiệm của cải vật chất, mà còn tiết kiệm cho mình, cho người và cho xã hội. Những bài học mà bất cứ ngành nghề nào, con người nào cũng cần cho một xã hội muốn phát triển.

Lan Hương (ghi)
cpv.org.vn

Chuyện của một ngày lịch sử

Ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước đã diễn ra như thế nào? Nhà văn Sơn Tùng kể chi tiết trong tiểu thuyết “Búp sen xanh”.

Ngày 2 tháng 6 năm 1911.

Anh Ba mặc quần áo trắng, toát lên màu thanh khiết tóc rẽ đường ngôi bên phải, chải mượt, chân đi dép xăng-đan. Anh đi khoan thai xuống tàu Đô đốc La- tu-sơ Tơ-rê-vin.

Tàu Đô đốc La- tu-sơ Tơ-rê-vin.

Được sự giới thiệu của ông chủ sự cảng Nhà Rồng, anh Ba gặp viên thuyền trưởng. Thuyền trưởng Lu-I Ê- đu-a Mai-sen trạc tuổi gần bốn mươi, tiếp anh Ba dưới buồng khách của con tàu. Ông ta quan sát diện mạo anh Ba với một thái độ trọng nể. Ngay từ phút đầu, ông Mai-sen đã để ý tới đôi mắt to, dài và sáng của anh Ba. Ông chìa hai bàn tay ra trước mặt, nói :

– Ô! Nhìn anh, tôi ưa lắm, tốt lắm. Tiếc là trên con tàu của tôi không còn có loại công việc hợp với anh

– Mai-sen lật lật quyển sổ nhân sự để trước mặt. Ông lại nhìn anh Ba, hỏi: – Anh biết đọc chữ Pháp chứ?

– Thưa ông Mai-sen, tôi đọc được ạ.

– Ồ…! Tốt, tốt lắm. – Mai-sen chỉ vào trang sổ nhân sự và nói bằng tiếng Pháp: – Đây. Anh xem, vừa mới sáng nay, tôi đã nhận thêm bốn người An-nam. Danh sách bốn người đây. – Mai-sen đọc tên từng người: – Đặng Quang Giao, Lê Quang Chi, Nguyễn Tuân, Nguyễn Văn Tri.

Anh Ba chau mày, những ngón tay gõ gõ trên mặt bàn. Hai mắt anh Ba như phủ một lớp sương chiều. ông Mai-sen đọc được những băn khoăn trong đôi mắt anh Ba :

– Tôi biết những người như anh muốn làm cánh chim bay trên những miền đất lạ. Tiếc là, trên con tàu của tôi chỉ còn cần một chân phụ bếp.

Hai mắt anh Ba bừng sáng :

– Thưa ông Mai-sen, tôi đề nghị ông nhận tôi vào chân phụ bếp ấy.

– Ồ… ! – Mai-sen nhìn anh Ba, hơi ngờ vực. – Một thư sinh như anh chịu không nổi đâu. Công việc làm bếp ở con tàu này rất nặng nhọc. Hằng ngày phải lo những bữa ăn cho cả trăm người với nhiều khẩu phần khác nhau; riêng hành khách có vé hạng nhất đã bốn mươi người.

Anh Ba chìa hai bàn tay ra trước ông Mai-sen :

– Ông xem những vết chai sạn trên bàn tay của tôi.

Mai-sen cầm lấy bàn tay anh Ba ngắm, mỉm cười :

– Người phương Tây chúng tôi rất tin khoa xem tướng bàn tay. Tôi không sành bói toán, nhưng bàn tay anh ngón thon dài thế này thì viết chữ đẹp, có năng khiếu mỹ thuật và âm nhạc. Anh được cả hai cái lớn: con mắt và bàn tay. Tôi biết một câu rất hay mà người An-nam hay dùng : “Giàu hai con mắt, khó hai bàn tay”.

– Ông đã xem tướng tôi, ông có tin là tôi làm được phụ bếp không?

– Tôi muốn nhận anh vào một công việc hợp với khả năng của anh, ít ra cũng là một chân thư ký trên con tàu của tôi. Để anh giữ chân phụ bếp, phí quá – ông ta hạ giọng: – Thôi được, từ ngày mai – Ông ta nhìn lên tấm lịch – ngày mai là mồng 3 tháng 6, anh xuống tàu nhận việc. Tôi sẽ báo cho ông quản bếp để tiếp nhận anh đúng 8 giờ sáng mai. Tháng đầu tiên này tôi tạm cấp lương cho anh là 45 phơ-răng. Được chứ?

Anh Ba cười :

– Tôi sẽ làm việc xứng đáng với sự tin dùng của ông.

Ông Mai-sen còn đưa cho anh Ba một tấm thiếp in hình con tàu rẽ sóng đại dương, có chữ ký của ông, và một cuốn sách mỏng, cỡ bỏ túi, ngoài bìa cũng có hình con tàu Đô đốc La-tu-sơ Tơ-rê-vin. Ông dặn cẩn thận:

– Anh giữ cái các để tiện việc lúc lên bến, lúc xuống tàu. Cuốn sách nhỏ này giúp anh hiểu về hãng Sác-giơ Rê-uy-ni và con tàu của chúng tôi hoạt động như thế nào…

Rời con tàu Đô đốc La-tu-sơ Tơ-rê-vin, trên đường về xóm, anh Ba vừa đi vừa xem tập sách nhỏ của ông Mai-sen đưa. Anh đọc nhẩm : Tàu Đô đốc La-tu-sơ Tơ-rê-vin thuộc hãng tàu Sác-giơ Rê-uy-ni. Con tàu này thuộc loại lớn nhất của hãng và cũng là tàu có cỡ của đầu thế kỷ 20. Chiều dài của con tàu: 120 mét 10, rộng 15 mét 20, trọng tải là 5.572 tấn, chạy bằng máy hơi nước với 2.800 sức ngựa. Tàu có thể chạy một mạch những 12.000 hải lý, không cần phải ghé bến. Trong lòng con tàu được thiết kế hiện đại, tiện nghi. Đáy tàu là một bể chứa nước ngọt, tới 900 tấn. Có hầm chứa than : 150 tấn. Tầng trên của con tàu là các buồng làm việc, nghỉ ngơi, phòng giải trí vui chơi của các sĩ quan và thủy thủ. Tiếp đến là dãy phòng đủ cho bốn chục khách đi vé hạng nhất. Ở giữa khoang tàu, phần dưới cùng là ba nồi hơi lớn, các cỗ máy lớn và bếp nấu, nơi nghỉ của các người làm bếp, bồi bàn… Xem đến trang giới thiệu về khu vực nhà bếp, anh Ba mỉm cười : mình sẽ được làm bạn với Táo quân.

Út Huệ ngồi bên bậc cửa vá áo, đầu nghiêng nghiêng. Một giọt nắng lọt qua mái nhà thủng, đậu trên tóc và chảy sáng xuống gò má. Hai lọn tóc mai dài xuống quá đuôi mắt. Hai con mắt to, dài, đen láy ấp ủ một nỗi buồn sâu kín, cặp môi tươi như một cánh hoa nở dưới cái mũi dọc dừa. Cả gương mặt Út Huệ như một hòn ngọc sáng.

Út Huệ tay lảy kim trên miếng vá của tấm áo anh Ba, lòng thẫn thờ, thầm nghĩ : Mấy hôm nay anh Ba hơi khang khác với mọi ngày. Anh trầm lặng, không còn vui tính khơi lên cho anh em trong nhà những trận cười phải ôm lấy bụng. Hằng ngày ảnh ăn rất ít, không còn giữ mức mỗi bữa ba bát nữa. Ảnh ăn không được, mình làm thêm món để ảnh ăn ngon miệng, ảnh lại gắp chia đều lên bát cho từng người. Đêm nào ảnh cũng thì thầm với ba, với anh Tư cho mãi tới khuya. Hình như ảnh không nói những chuyện gì đó với các anh Sáu Đen, Chín Mập. Ảnh cũng giữ kín cả với mình. Mà cũng phải thôi, mình là phận gái…

Đang mải nghĩ, nghe tiếng chân anh Ba ở ngoài cảng đi về, Út Huệ giật mình đặt vội tấm áo xuống đầu gối, ngước nhìn anh Ba, mỉm cười, đon đả :

– Anh đã về. Em ngỡ anh về muộn nên chưa soạn cơm nước chi cả.

– Nấu muộn một tí đợi anh em về đông đủ cùng ăn nóng, càng tốt, cô Út ạ.

Anh Ba vẻ mặt buồn buồn, ngồi xuống sập gỗ.

Bàn chân anh miết qua miết lại trên nền nhà, giọng nói không tự nhiên :

– Có một việc riêng, hôm nay tôi mới có dịp nói với cô Út.

Hai má Út Huệ ửng đỏ, mắt chớp chớp, môi mấp máy, hai lúm đồng tiền ẩn hiện trên má. Cô ngước nhìn thoáng anh Ba, cúi xuống liền, nói hơi run :

– Có điều chi anh Ba thấy cần dạy bảo em, em…

– Ấy chết! Chuyện riêng của tôi chứ đâu dám “dạy bảo” gì, hở cô Út?

Út Huệ đã bình tĩnh hơn :

– Anh đã tin em, anh cứ nói ra. Dù có quá sức em, em cũng ráng giúp anh.

Anh Ba nhìn ra xa, giọng trầm trầm :

– Tôi không ở đây nữa… Mai sớm, tôi… đi… xa…

Út Huệ rùng mình. Cái kim trên tay tuột xuống nền nhà. Cô bối rối, tay run run nhặt cây kim lên, môi mim mím. Hai người như bị hẫng, ngồi im lặng. Út Huệ nói, giọng nghèn nghẹn :

– Sao anh không ở đây nữa với ba em, với anh Tư…?… Mà anh đi mãi đâu, có vẻ hệ trọng vậy ạ?

– Tôi đi… xa lắm… đi khỏi nước mình, cô Út ạ. – Anh chùng giọng: – Ai mà chẳng muốn có một cuộc sống êm đềm bên cạnh những người thân yêu. Nhưng, tình cảnh nước mình, tôi không thể ngồi yên một chỗ, xây dựng cho riêng mình một tổ ấm được.

– Anh đi chừng bao lâu thì anh trở về đây?

– Cô Út! Ngày trở về, – anh Ba nói – cô Út hiểu thấu cho : ngày về của tôi xa mù mịt, tôi cũng chẳng định liệu trước được.

Út Huệ nắm chặt tấm áo vá trong tay mình, nén tiếng khóc từ trong cổ họng. Cô định nói thêm, nhưng tiếng ông già Đờn đã oang oang ngoài đầu ngõ hẻm. Chưa vào nhà, ông già đã hỏi con gái :

– Đã có đồ nhậu tối nay chưa, Út?

Út Huệ giấu mặt buồn, cúi xuống tấm áo vá, thưa :

– Dạ… Con chưa ra chợ, ba ạ.

Thấy anh Ba đã về đang ngồi trên sập giữa nhà, ông già vui vẻ :

– Ồ thầy cháu về rồi à?

– Cháu cũng vừa về được một lúc chú ạ. Mấy ảnh sao chưa về chú?

– Bọn nó biểu, mai sớm cháu đi, bọn nó ghé tiệm mua đồ nhậu, thức suốt đêm nay với cháu mà.

Ông già dặn nhỏ con gái, giọng bồi hồi :

– Út à. Anh Ba mầy hổng còn ở lại đây nữa. Ảnh đi vượt vời sang tận các nước Âu Mỹ kia. Mơi anh mầy đã đi sớm. Con ra chợ mua cái ăn, mua những thứ ngon, mắc mấy cũng được, ăn với nhau bữa cơm cuối cùng mà…

Út Huệ mím mím môi, cắn vội sợi chỉ, trao cái áo đã vá lành cho anh Ba, nói lảng :

– Những đường kim về sau vì vội nên không được đều anh vui lòng, nghe.

– Trời đất, cô Út cẩn thận quá. Cảm ơn cô Út.

Út Huệ sập rèm mi ướt, giọng nói đượm chút dỗi :

– Vá miếng áo có là chi đâu mà anh Ba cảm ơn em.

Anh Ba cười. Ông già Đờn dặn thêm con gái :

– Con nhớ mua một miếng thịt heo nạc, rặt nạc, nghe hông. Rồi mua dừa lấy nước kho với thịt. Kho thiệt khô. Nhớ mua nước mắm hạng nhất kho thịt mới để được lâu. Con cũng đừng mua gạo thường, mua gạo nàng thơm nắm mới dẻo.

Ông ngồi bên cạnh anh Ba, ngậm cái tẩu thuốc, mắt ông mơ màng bóng khói :

– Bước chân xuống tàu có lẽ là phải ăn cơm Tây rồi. Cháu chịu khổ mang cơm nắm theo. Chú nghĩ chắc còn lâu lắm cháu mới được ăn cơm trên đất quê mình. Hạt gạo, củ khoai, con cá, lá rau, quả cà, trái ớt, chút nước mắm, tí dấm… những món ăn của quê mình bình thường vậy mà thiếu nó ta không chịu nổi!

– Cảm ơn chú. Chú và cô Út đã săn sóc cháu nhiều mà cháu chưa đền đáp được gì!

– Đừng, cháu đừng nghĩ vậy. Cháu sắp rời xứ sở, hãy nghĩ về chặng đường phía trước…

*
*    *

Bóng tối trùm xuống xóm thợ. Những tiếng rao đêm lang thang trong ngõ hẻm. Tiếng chửi rủa của bà già, tiếng khóc gào than vãn, tiếng quát tháo của người say rượu và bao nhiêu thứ tiếng ồn ào hỗn độn dấy lên trong đêm như biển động.

Không khí trong nhà ông già Đờn cũng đang như trước giờ cơn bão đến.

Hai chiếc chiếu trải rộng giữa nhà. Một mâm thức ăn đầy ngộn đặt giữa chiếu. Ông già Đờn ngồi sát anh Ba. Anh Tư Lê, Chín Mập, Sáu Đen ngồi vòng tròn quanh mâm. Người nào cũng đăm chiêu, ít nói. Họ uống rượu từng tợp đủ thấm môi, không như mọi ngày, tu một người hết cả chén. Chẳng mấy ai cầm đũa nhắm. Người nào cũng luôn luôn trăn trở thế ngồi. Không khí trầm lặng kéo dài. Anh Ba định kể một câu chuyện vui vui thì Tư Lê ca bài Nam ai, buồn xé ruột. Tiếp đến Chín Mập hát bài Lý chiều chiều, Sáu Đen hát tích Nguyệt Nga cống Hồ. Hát xong, Sáu Đen nài nỉ anh Ba hát giặm Nghệ Tĩnh. Anh Ba vẻ lúng túng. Ông già Đờn đỡ lời :

– Cuộc vui đêm nay tiễn thằng Ba đi, tụi bây và tao phải làm hết mọi chuyện, đừng để thằng Ba nó phải dính vô một việc chi, nghe hông. – ông già so dây đàn : – Bữa nay tiễn Ba nó đi Tây, tao cho tui bây nghe trọn cả bài “ca lòng” của tao.

Nước mắt ông già rơm rớm, giọng ông buồn buồn :

Một… mối… tình… câm
Tình câm… một.. mối
Chàng… đã… ra… đi…
Chẳng nói lời… chi
Ôi cảnh… biệt… ly…
Thiếp ngóng…. theo… chàng…
Sông nước… mênh… mang…
Kéo neo… tàu… chạy…
Nước… mắt… tiễn…đưa…
Chàng đi… chàng đi…
Muôn trùng… sóng vỗ…
Thiếp giữ… tình câm…
Tình câm… theo… chàng…

Tư Lê, Sáu Đen, Chín Mập đều ngồi xo ro gục trên cánh tay và mỗi người đuổi theo một kỷ niệm của riêng mình.

Anh Ba chống tay đỡ cằm, máng tóc dày đổ xuống trán, mắt anh hướng vào một điểm sáng tụ dưới chiếu, nhưng trong đầu anh hiện lên lớp lớp những gương mặt thân yêu mà anh đã ghi nhớ từ tuổi ấu thơ. Cả hình ảnh các ông già mù hát dạo ở quê hương, ở Huế, ở Phan Thiết cũng hiện lên trong đầu anh. Và bao nhiêu bài ca anh đã từng nghe cũng đang văng vẳng giữa tâm hồn anh : Nước Nam ta sao lại có Tây?…

Út Huệ một mình một đèn, nước mắt giọt ngắn giọt dài tại buồng trong. Hai bàn tay Huệ vắt, nắm, vỗ vỗ nắm cơm gạo nàng thơm dẻo quẹo. Đặt nắm cơm vào tấm bẹ cau trắng mịn như lụa, Huệ ngồi thừ nhìn không chớp mắt. Tiếng đàn ca phòng ngoài vọng vào, cô chẳng để vào tai mình. Cô mở hòm lấy quyển vở, lật lật từng trang, nói thầm : Chữ anh Ba dạy cho mình. Anh Ba đã cầm tay tập cho mình viết. Sao anh Ba không ở lại đây mãi mãi? Lúc nào anh Ba cũng nói “cứu nước, thương đồng bào mình sống cực”!

Tiếng còi tàu chở khách sang Thủ Thiêm kéo một hồi dài. Út Huệ giật mình và chợt nhớ đã sáng đêm. Út Huệ cầm tấm khăn rằn của anh Ba mua dạo nọ, lau nước mắt. Bỗng Huệ nhớ hồi nhỏ Huệ được nghe mẹ ru :

Khăn thương nhớ ai mà khăn rơi xuống đất,
Đèn thương nhớ ai mà đèn không tắt,
Mắt thương nhớ ai mà mắt không khô…

Út Huệ trùm khăn đi ra cửa. Trời còn nhá nhem. Sương mù giăng trên nóc nhà xóm thợ. Út Huệ lại quay vào buồng, nhìn ngọn đèn, nói : Mình thương thầm ảnh. Giờ ảnh đi xa. Đi sang Tây. Mình có nên nói với ảnh cái điều dớ dẩn của mình nghĩ không? Ôi! Ai lại ngược đời vậy bao giờ? Mình là con gái kia mà. Nhưng, ảnh ra đi liệu ảnh có đoán biết được cái điều mình nghĩ về ảnh không? Đèn ơi! Nếu anh Ba không biết điều ấy thì đèn chứng cho tấm lòng Út Huệ này nhé. Ôi ! Một người mà ai cũng yêu mến…
Sáng ngày Năm, tháng Sáu, năm Một ngàn chín trăm mười một. Sương sớm phủ nóc Nhà Rồng. Dòng sông Sài Gòn cong vòng như lưng người già đã trải qua nhiều khúc đường đời khổ ải.

Trời ngả màu chì.
Cơn mưa đen tháng sáu dấy lên.

Từ trong ngõ hẻm, anh Ba bước từng bước ung dung, mắt nhìn thẳng phía trước. Đi bên anh là ông già Đờn. Tư Lê, Sáu Đen, Chín Mập đi sát phía sau. Út Huệ đi sau cùng.

Con đường hẻm dài hun hút. Họ im lặng đi. Sắp đến lối rẽ vào bến cảng, họ đi chậm bước, mắt hướng ra phía những con tàu đang xả khói đen đục. Và trong mắt họ có cái ảo giác cả đất trời tròng trành, thành phố Sài Gòn chao đưa.

Anh Ba khựng bước. Anh ôm chầm lấy người ông già Đờn :

– Chú Út ơi! Các anh ơi! Út Huệ ạ – Anh nhìn vào mắt những người thợ thuyền trao gửi niềm tin.

– Nước mình, dân mình sẽ không cam chịu cảnh ngựa trâu nầy mãi được. Phải xóa bỏ kiếp nô lệ và nhất định đời thợ chúng ta sẽ đổi khác… Chúng ta tin ở tương lai, tin vào tiền đồ dân tộc…

Ông già Đờn ôm chặt lấy hai vai anh Ba, lắc mạnh :

– Ba! Chú tin… rất tin ở lời cháu vừa nói và càng tin sự quyết chí ra đi vì nước vì dân của cháu. Chúc cháu đi được trơn bọt lọt lạch, chân cứng đá mềm!

Ông ôm chặt anh Ba vào ngực mình, bộ tóc muối tiêu của ông xõa rộng xuống vai anh. Rời ông già Đờn, anh Ba bước đến với ba người thợ trẻ. Tư Lê cầm chặt tay anh Ba, giọng nghẹn ngào :

– Tôi không cùng đi với anh được, nhưng cái bụng của tôi mãi mãi ở bên anh. Ở lại bến cảng này, tôi sẽ làm việc và sống theo như anh đã bày biểu, căn dặn.

Sáu Đen, Chín Mập, hai người cầm hai tay anh Ba nhìn nhau. Và lần đầu tiên anh Ba thấy ở mắt hai người thợ “có đá trong đầu” này rơm rớm lệ. Hai người cùng nói một lúc :

– Anh Ba ơi! Anh đi, để lại trong mắt chúng tôi cái chữ…

Anh Ba chợt nhìn sang út Huệ thì ông già Đờn giục con gái :

– Út! Con đi với anh Ba một quãng đường nữa…

Gió cửa sông thổi giục từng cơn. Anh Bạ chắp tay giơ cao xá xá ông già Đờn và các bạn đang quay bước trên đường về.

Anh Ba im lặng đi bên Út Huệ. Mắt Út Huệ luôn luôn nhìn về hướng con tàu rồi liếc nhìn anh Ba. Chưa bao giờ Út Huệ thấy anh Ba đẹp trai như lúc này. Cô lâng lâng như đang ở trong mơ và thấy anh Ba là chàng hoàng tử trong truyện cổ tích…

Anh Ba bất chợt nhìn Út Huệ, nhìn con tàu. Anh rùng mình. Một luồng giá lạnh từ đỉnh đâu xuống gan bàn chân như phân chia con người anh làm hai. Anh dừng lại :

– Sắp hết giờ lên tàu rồi. Út… đi với tôi, đến đây là… Út về kẻo…

Út Huệ vẫn ôm trên tay mình cái gói nho nhỏ, mắt chớp chớp nhìn vào mắt anh Ba. Tiếng Út Huệ nhẹ như gió thoảng :

– Em muốn nói với anh… chỉ sợ… anh cười em!

– Ấy! Đến giờ này mà Út Huệ còn chưa thiệt tin tôi?

Út Huệ bối rối. Cái gói cầm trên tay cứ trao qua trao lại, nhưng Huệ vẫn hết nhìn con tàu đang xả khói lại nhìn anh Ba.

Giọng út Huệ bồi hồi :

– Anh nói đi anh!

Anh Ba lúng túng :

– Điều nói được, tôi đã nói với Huệ từ hôm qua rồi.

– Lúc này khác với ngày hôm qua. Em muốn được nghe anh nói với em một tiếng giữa phút giây nầy, anh Ba ạ!

– Hôm qua, hôm nay và mãi mãi tôi nhớ tấm lòng của Huệ cũng như bao nhiêu tấm lòng vàng khác đã cứu giúp tôi trong những phen hoạn nạn, lúc sẩy nhà ra thất nghiệp.

– Anh Ba luôn luôn nhớ đến những người có lòng tốt với mình, nhưng anh có biết người khác nhớ anh đến cháy ruột cháy gan không? – Út Huệ nghẹn ngào nói.

Anh Ba sững sờ… Út Huệ biết mình đã buột miệng lỡ lời vội nói khỏa lấp :

– Em biết anh là con chim bằng, chiếc lồng son không thể nào nhốt được.

Anh Ba nhấn từng tiếng chắc và ấm :

– Phải có tự do! Huệ ạ, Tổ quốc ta, nhân dân ta phải có độc lập tự do chứ không thể nô lệ mãi được!
– Ước mơ ấy, khát vọng ấy liệu có thành sự thật ở quê mình không anh?

– Vì mất nước mà phải lìa nhà. Nếu không tìm ra phương kế giành lại độc lập cho nước, hạnh phúc cho dân thì tôi không về mà cũng chẳng ai mong đợi làm gì!

Út Huệ run run, cái gói trên tay như muốn rơi xuống, nước mắt giàn giụa :

– Anh! Cơm nắm. Em nấu cho anh bữa cơm cuối cùng nầy. Cầm lấy anh! Đi đi… anh!
Anh Ba đỡ gói cơm trên tay Huệ. Một tiếng gọi lẫn trong tiếng khóc bật ra từ trái tim người con gái Sài Gòn :

– Anh Ba! Em…

Út Huệ ôm mặt chạy trở về. Anh Ba cầm nắm cơm trong tay. Âm thanh thành phố Sài Gòn đổ dồn xuống cửa sông như trùm lấy anh. Anh nghe tiếng còi tàu nhọn hoắt khoan vào không gian nhức nhối. Anh bước sải dài, vội vã xuống tàu. Gương mặt người con gái Sài Gòn chập chờn trước mắt anh như một búp sen quê hương. Và cả khuôn mặt Việt Nam choán lấy trái tim anh!

Út Huệ lại quay lại chạy theo xuống bến tàu.

Con tàu chở anh Ba mờ mờ phía chân trời. Lê Thị Huệ chắp tay trên ngực nhìn theo, khấn trước đất trời :

Sông ơi!
Đừng mọc đá ngầm…
Biển ơi!
Đừng dựng sóng dữ…
Anh đi thuận gió xuôi buồm…
Hỡi những phương trời xa lạ…
Hãy đón lấy Anh…
Một chàng trai nước Việt…
Anh là của Nước của Dân…
Tất cả đợi Anh về…

dvt.vn

Đức độ Bác Hồ lan tỏa sức cảm hóa lớn lao

Chủ tịch Hồ Chí Minh và Hoàng thân Xu-pha-nu-vông. (Ảnh tư liệu)

(DVT.vn) – Bác Hồ cảm hóa trí thức không phải bằng lời lẽ văn hoa hùng biện, mà là bằng chính cuộc đời mình – một cuộc đời tận tụy vì nước, vì dân.

HÀM CHÂU

Trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh và các cơ quan đầu não của Đảng, Nhà nước, Quân đội, Mặt trận và các đoàn thể làm việc tại ATK (An toàn khu) Việt Bắc. Đây là vùng đất rộng lớn chung quanh dãy núi Hồng bao gồm các huyện Định Hóa (Thái Nguyên), Sơn Dương, Yên Sơn (Tuyên Quang) và Chợ Đồn (Bắc Cạn).

Bữa cơm đạm bạc của Bác Hồ ở chiến khu Việt Bắc.

Bác Hồ thay đổi chỗ ở nhiều lần quanh Phú Đình (Định Hóa) và Tân Trào (Sơn Dương). Tuy thuộc hai tỉnh khác nhau, hai xã này rất gần nhau, nằm hai bên dãy núi Hồng, ngăn cách bởi con đèo De, ngọn đèo dài khoảng bốn ki-lô-mét.

Nhớ ông Cụ mắt sáng ngời
Áo nâu túi vải, đẹp tươi lạ thường!
Nhớ Người những sáng tinh sương
Ung dung yên ngựa trên đường suối reo…

Bác Hồ câu cá suối.

Vậy con ngựa Bác thường cưỡi ở Việt Bắc là con ngựa nào?

Cuốn hồi ký của ông Vũ Đình Huỳnh, một cán bộ làm việc gần Bác tại ATK Việt Bắc, cho ta biết:

“Bác thường qua thăm cụ Vi Văn Định và các cụ cao tuổi khác. Bác bận thì lại bảo mấy cán bộ làm việc ở Phủ Chủ tịch tới trông nom. Năm 1949, tôi đi Cao Bằng mua về mấy con ngựa, định bụng chọn một con để Bác dùng đi lại cho đỡ vất vả. Biết tin, cụ Vi bảo tôi:

– Ông dẫn chúng nó sang đây cho tôi xem! Này, coi tướng ngựa là tôi rành lắm đấy! Để tôi xem cho, con nào hay, con nào dở, tôi bảo cho.

Tôi liền dẫn lũ ngựa sang. Đứng trước mấy con ngựa, cụ già Vi như trẻ hẳn lại, háo hức như thanh niên. Cụ trìu mến vỗ về chúng, rồi xem kỹ từng con một, dắt tới dắt lui, xem răng, xem ức.

Cuối cùng, cụ chỉ vào con tía:

– Con này hay nước chạy mà hiền, xin ông để Cụ Hồ dùng.

Rồi chỉ con đứng bên cạnh:

– Con này hay lắm, nhưng phải cái hay trở chứng, nên để cho anh bảo vệ nào trẻ mà nhanh cưỡi.

Con ngựa trong tấm ảnh lịch sử chụp Bác sửa soạn yên cương lên đường đi Chiến dịch Biên giới năm 1950 chính là con ngựa tía mà cụ Vi đã chọn.”

Theo ông Vũ Đình Huỳnh, Bác Hồ thường nói với các cán bộ gần Bác:

“Chúng mình chỉ là cái men thôi. Nên được rượu là nhờ cơm nếp. Phải có đông đảo quần chúng tham gia mới thành cách mạng. Nhân sĩ, trí thức là thứ men tốt, cần phải kéo họ về mình.”

Ở chiến khu Việt Bắc, Bác Hồ thường tự chẻ củi, nấu cơm.

Tại sao một người đã từng làm Tổng đốc tỉnh Thái Bình như cụ Vi Văn Định lại có mặt tại ATK Việt Bắc? Câu chuyện hơi dài…

Cụ Vi có hai người con gái là tiểu thư Vi Kim Ngọc và tiểu thư Vi Kim Phú, vừa xinh đẹp, vừa có trình độ học vấn khá cao. Hai tiểu thư là người Tày nhưng nói rất sõi tiếng Kinh và cả tiếng Pháp, trước Cách mạng Tháng Tám, đã kết hôn với hai nhà trí thức lớn: Tiến sĩ Nguyễn Văn Huyên và Giáo sư Hồ Đắc Di. Được Giáo sư Hồ Đắc Di giới thiệu, Bác sĩ Tôn Thất Tùng cưới người cháu nội gái của cụ Vi là tiểu thư Vi Nguyệt Hồ.

Cả ba nhà trí thức đó, được Bác Hồ cảm hóa, đều hăng hái gánh vác trọng trách trong chính quyền cách mạng, ngay sau ngày nước nhà vừa giành được độc lập. Tiến sĩ Nguyễn Văn Huyên nhận làm Bộ trưởng Bộ Giáo dục quốc dân; Giáo sư Hồ Đắc Di – Hiệu trưởng Đại học Y Hà Nội; Bác sĩ Tôn Thất Tùng – Giám đốc Bệnh viện Phủ Doãn.

Mùa hè năm 1946, trước ngày rời Hà Nội lên đường sang Paris thăm nước Pháp nhân khai mạc Hội nghị Fontainebleau, mặc dù bận trăm công nghìn việc, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn không quên giao nhiệm vụ cho ông Hoàng Hữu Nam, Thứ trưởng Bộ Nội vụ, lo việc đón cụ Vi Văn Định về Hà Nội, kẻo “hữu sự thì không kịp”! Bác nói: “Con cháu cụ Vi đều đi với cách mạng cả, hãy mời cụ về Hà Nội!”

Bác căn dặn, phải tìm những cán bộ cách mạng trước đây đã từng bị cụ Vi bắt giam, khi cụ còn làm Tổng đốc tỉnh Thái Bình, cầm giấy mời của Chính phủ lên Bản Chu, trao tận tay cụ, như vậy cụ sẽ thấy ta không giữ hận thù mà thật lòng đoàn kết.

Ông Ba Ngọ, một cựu chính trị phạm từng bị cụ Vi bắt giam, được giao làm việc ấy. Ông cùng Đoàn cán bộ Chính phủ lên Bản Chu, huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn, tha thiết mời cụ về Hà Nội, nhưng cụ từ chối, nói:

– Tôi nay già yếu rồi, chắc chẳng đóng góp được gì, xin để cho “lão giả an chi”!

Ông Ba Ngọ cùng Đoàn đành lui ra nghỉ tạm ở thị xã Lạng Sơn.

Nhưng ông không chịu bỏ cuộc, tay không trở về Hà Nội! Hai ngày sau, ông cùng Đoàn quay trở lại Bản Chu. Lần này cụ Vi không nỡ từ chối. Cụ cho mời tất cả bà con trong làng và ở các trại khoảng vài nghìn người đến dự bữa cỗ tiễn biệt. Phải mổ mấy con bò, mấy chục con lợn, nấu mấy trăm mâm cỗ. Giữa bữa cỗ thịnh soạn, cụ nghiêm mặt nói:

– Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà cho người lên đây đón tôi về Hà Nội. Khi vắng tôi, con cháu cùng bà con dân bản phải làm lụng chăm chỉ như bình thường!

Mọi người nhao nhao lên hỏi:

– Cụ đi như thế có được bảo đảm an toàn không?

Ông Ba Ngọ liền đứng lên, trịnh trọng cam kết:

– Xin đồng bào yên tâm! Chính phủ đã đón cụ đi là phải bảo đảm an toàn.

Chẳng bao lâu sau, một hôm người con trai cụ Vi Văn Định là ông Vi Văn Kỳ ngụ tai phố Hàng Da, Hà Nội, đang mặc quần cộc ngồi ở gian nhà trong, bỗng nghe báo tin có một vị “khách Tây” không mời mà đến! Hoá ra đó là một tên mật thám Pháp xin gặp để ngỏ ý mời ông Kỳ trở về Lạng Sơn làm “vua nước Tày – Nùng”!

Ông Kỳ hoảng quá, liền xin lên yết kiến Cụ Huỳnh Thúc Kháng, Quyền Chủ tịch nước (lúc đó Chủ tịch Hồ Chí Minh đang ở Pháp) và ông Hoàng Hữu Nam, Thứ trưởng Bộ Nội vụ, để tường trình về sự việc khác lạ nói trên. Ngay sau đó, cả gia đình ông Kỳ được Chính phủ ta sắp xếp cho lặng lẽ chuyển vào Thanh Hoá. Tại đấy ông Kỳ làm việc ở cơ quan Bộ Nội vụ cho đến lúc về hưu. Chính sách dùng người của Bác Hồ là vậy, rất tin cậy, thuỷ chung.

Qua câu chuyện ấy, ta càng thấy rõ tiên đoán sáng suốt của Bác trong việc kịp thời đưa cụ Vi rời khỏi Lạng Sơn, “kẻo hữu sự thì không kịp”.

Tháng 12/1946, trước ngày Kháng chiến toàn quốc bùng nổ, tình hình Hà Nội hết sức căng thẳng. Bác Hồ chỉ thị cho Bộ trưởng Lê Văn Hiến đưa ô-tô hòm đến nhà riêng đón cụ Vi lánh về làng Bật, quê hương cụ Bùi Bằng Đoàn, rồi sau đó ít lâu, đưa cả cụ Vi và cụ Bùi cùng linh mục Phạm Bá Trực lên ATK Định Hoá, tỉnh Thái Nguyên.

Vừa quay về làng Mông Phụ quê hương, gần thị xã Sơn Tây, cụ Phan Kế Toại nhận được thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh mời lên Việt Bắc, tham gia Chính phủ kháng chiến.

Từ Định Hoá, các cụ vượt đèo De, núi Hồng sang Tân Trào, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang, một vùng núi non tuyệt đẹp “ngày xuân mơ nở trắng rừng”… Tại ATK, cụ Vi cũng như các vị nhân sĩ, trí thức khác được Bác Hồ và Chính phủ kháng chiến chăm sóc chu đáo.

Gia đình cụ Vi Văn Định ở Chiêm Hóa, Tuyên Quang năm 1948. Trong ảnh: Người chống ba-toong là cụ Vi; người đứng bên phải là GS Hồ Đắc Di; đứng hàng sau, bên trái là TS Nguyễn Văn Huyên; cùng ba tiểu thư nhà họ Vi: Vi Kim Ngọc, Vi Kim Phú, Vi Nguyệt Hồ. (Ảnh: Gia đình TS Nguyễn Văn Huyên)

Sau ngày Hà Nội giải phóng, tháng 10/1954, cụ Vi cùng con cháu trở về Thủ đô. Cụ sống bình yên qua cải cách ruộng đất, được chứng kiến ngày đất nước hoàn toàn thống nhất, rồi qua đời ngày 20/12/1975, thọ 96 tuổi. Chính phủ ta đã giữ đúng lời hứa “bảo đảm an toàn” cho cụ Vi – lời hứa mà ông Ba Ngọ, thay mặt Đoàn đại biểu Chính phủ, đã nói vào ngày đầu cách mạng khi thừa lệnh Bác Hồ lên Bản Chu đón cụ về Hà Nội.

Thế đấy, Bác Hồ cảm hoá trí thức không phải bằng lời lẽ văn hoa hùng biện không chung chung sáo rỗng, mà bằng chính cuộc đời mình – một cuộc đời chân thành, cần kiệm, tận tụy vì nước, vì dân, coi thường hư danh, bổng lộc.

dvt.vn

“Hàng nội hóa đấy!”

Vào những tháng đầu năm 1966, đến đơn vị nào của Bộ đội Pháo binh cũng gặp hình ảnh từng đoàn quân vai đeo ba lô nặng, bao gạo, lựu đạn quấn quanh người, tốp khênh pháo, người vác đạn… chống gậy lầm lũi leo đèo, lội suối suốt đêm, gần sáng lại tản ra trú quân trong rừng, mắc võng, căng tăng, đào công sự, đào bếp Hoàng Cầm… Tất cả đều nhằm rèn luyện thật sát với thực tiễn hành quân vượt Trường Sơn đi “B dài”, thường phải ròng rã trên đường năm, sáu tháng trời… Sau ba tháng nhận trang bị mới, đúng lúc đang hối hả chuẩn bị vào Nam thì Trung đoàn 84A do đồng chí Trần Đáo, Nguyễn Lại chỉ huy trang bị pháo ĐKB và tiểu đoàn 99 trang bị A12 nhận được thông báo nhận nhiệm vụ bắn trình diễn để Bác Hồ và các đồng chí trong Bộ Chính trị đến xem vào ngày 17-4-1966.

Buổi sớm hôm ấy, khi sương mù còn dày đặc, Bác và các đồng chí lãnh đạo cao nhất của Đảng đã có mặt tại khu vực bắn trình diễn. Đồng chí Nguyễn Thế Lâm, Tư lệnh Binh chủng Pháo binh ra đón và đưa Bác cùng các đồng chí Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp… lần lượt đi xem các trận địa đặt hai loại pháo hỏa tiễn rồi trở về đài quan sát. Bác và các đồng chí lãnh đạo cùng đi chăm chú nghe giới thiệu về tính năng kỹ thuật, chiến thuật của từng loại pháo, đạn và thành tích huấn luyện của các đơn vị. Thỉnh thoảng Bác lại gật đầu khen: “Tốt”. Khi nghe đồng chí Nguyễn Trung Lực, cán bộ Phòng Tham mưu chỉ vào cái ống tôn màu xám to như khúc ống bương giới thiệu: “Thưa Bác, đây là nòng pháo phản lực A12 do ta nghiên cứu và sản xuất”. Bác Hồ tỏ ý hài lòng cười nói với mọi người: “Hàng nội hóa đấy!”. Tất cả cùng bật cười vui vẻ, rồi đồng thanh: “Thưa Bác, đúng ạ!”.

Buổi bắn trình diễn vũ khí mới đạt kết quả tốt. Phấn khởi trước sự quan tâm của Bác Hồ và các đồng chí lãnh đạo cao nhất của Đảng, cán bộ, chiến sĩ đơn vị càng quyết tâm học tập tinh thông về kỹ thuật, chiến thuật và sẵn sàng chờ lệnh lên đường. Sự kiện Bác Hồ đến xem bắn trình diễn pháo hỏa tiễn đã chính thức mở ra thời kỳ Binh chủng Pháo binh liên tiếp đưa các đơn vị pháo binh lớn vào chiến trường miền Nam.

Trần Ngọc
qdnd.vn

Bác Hồ phê bình: Thế này là “vua liêu” rồi…

QĐND -Trường Bổ túc văn hóa Công nông Trung ương (gọi tắt là Trường Bổ túc Công nông) ra đời vào tháng 11-1955. Bác Hồ 3 lần về kiểm tra trường. Sự sâu sát tình hình và những nhận xét phê bình của Người vẫn nguyên vẹn tính thời sự hôm nay, không chỉ riêng cho ngành giáo dục.

Ðôi dòng sử trường

Sau năm 1954, tại khu cỏ hoang làng Giáp Bát gần kề Quốc lộ 1 Hà Nội mọc lên khu nhà tạm Trường Bổ túc Công nông. Trường Phổ thông Lao động Trung ương do Bác Hồ đặt tên mở tại Tuyên Quang từ năm 1951 cũng được chuyển về sáp nhập (tách ra năm 1961, tồn tại tới năm 1977, 10.000 học sinh ra trường). Trường Bổ túc Công nông hoạt động đến năm 1964 thì giải thể, 7000 học viên tốt nghiệp cấp ba thi vào đại học ở trong và ngoài nước. Hè năm 1958, trường mở lớp “học vượt” – hai tháng học chương trình cấp ba để kịp thi vào đại học năm sau. Trong số này có nguyên Thủ tướng Phan Văn Khải. Từ mái trường công nông, hàng trăm, rồi hàng nghìn, hàng vạn thầy giáo, cô giáo kế nghiệp.

Nhưng, chớ vì thế mà…

Bác Hồ thăm Trường Bổ túc văn hóa Công nông Trung ương ngày 4-10-1957. Ảnh tư liệu

“Lỗ mũi to bằng quả cà chua”

Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm theo dõi việc ăn ở, dạy và học của trường. Ba năm liền về thăm (1956, 1957, 1958), nói đúng hơn, Người về kiểm tra.

Trong tập Hồi ký “Mái trường Công nông thuở ấy” (NXB Lao động, 1996), tác giả Trần Ngọc Trác kể lại: Sáng thứ sáu ngày 4-10-1957, hai cán bộ Phủ Chủ tịch về trường gặp lãnh đạo bàn việc bảo vệ Bác buổi chiều về thăm. Bí mật bị bại lộ. Nhà trường ra lệnh bỏ nghỉ trưa, dồn mọi lực lượng sửa sang, tổng vệ sinh trong ngoài nơi ăn ở, đi lại. Hai giờ chiều, 4000 thầy trò, cán bộ, công nhân viên đã “cấm trại” tại khu hội trường. Bác không vào nơi xếp hàng đón tiếp mà đi tắt ra nhà bếp, khu vệ sinh, mấy lớp học, nhà ở, nhà tắm, bể nước, các vòi nước công cộng dọc lối đi đều trơ vòi không… nước – cuộc họp nào của Ðảng bộ, lãnh đạo nhà trường cũng phải bàn mà không giải quyết được. Mấy “cụ học viên” là cán bộ trung cao cấp gay gắt phê phán cả lãnh đạo Bộ, thành phố “đem con bỏ chợ”… Thứ trưởng Hà Huy Giáp vốn “dị ứng” với căn bệnh thành tích đã “khai thật” với Bác…

Vào hội trường, Bác bước lên bục giảng, hai tay ra hiệu im lặng, ngồi xuống giữa tiếng hô vang: Hồ Chủ tịch muôn năm… Muôn năm… Người hỏi:

– Ở đây cô chú nào nhiều tuổi và hoạt động lâu năm nhất?

Ðây đó, chỗ nọ chỗ kia thấy có mấy “cụ” tóc muối tiêu nhìn ngó, ý như thăm dò (có thể nghĩ được Bác “tuyên dương” chăng?). Một “cụ” ở khối phổ thông lao động phấn khởi đứng lên:

– Thưa Bác, cháu ạ!

– Chú hoạt động cách mạng được bao lâu?

– Thưa Bác, từ năm 1930 ạ!

– Vậy, chú hoạt động có lâu năm hơn Bác không?

“Cụ” nọ hiểu ra, không kịp… chui xuống đất. Cả hội trường im phăng phắc. Bác đưa tay để “người bệnh công thần” ngồi xuống, nhẹ nhàng nói:

– Làm cách mạng là làm việc cho dân, cho nước. Nếu làm mà kể công thì ông Mác, ông Lê-nin lỗ mũi phải to bằng quả cà chua. Bác đưa tay lên mũi: To như thế này này!

Cả hội trường suy ngẫm, im lặng. Lãnh đạo thì hiểu thói kể công của mấy ông từ chiến trường ra đã đến tai Bác làm Người phiền lòng. Bác lại hỏi: “Trong trường có bao nhiêu học viên?”. Hiệu trưởng nắm con số chiêu sinh đầu năm học thì thưa: 3.700. Hiệu phó Tổ chức ghi sổ sĩ số “đầu vào” lại báo cáo: 3.600. Hiệu phó phụ trách chuyên môn “nắm chắc” con số từng khối, lớp thì khẳng định chính xác phải là 3.550. Thế nhưng, Trưởng phòng Hành chính quản trị lại đứng lên báo cáo con số chấm cơm là 3.512 học viên.

Bác chăm chú nghe, nghiêm nét mặt: “Các con số đá nhau. Thế này là “vua liêu rồi chứ chẳng còn là quan liêu nữa!”. Cả hội trường ngỡ ngàng, lãnh đạo trường lúng túng. Bác đột ngột hỏi: “Các cô, các chú có thể đào cho Bác mỗi người một mét khối đất được không?”.

– Dạ, có ạ! Có ạ! – Cả hội trường nhất loạt đồng thanh thưa với Bác. Ai cũng nghĩ Bác kêu gọi làm thủy lợi vì trường vừa mới được Chính phủ khen về thành tích đắp đê Mai Lâm? – Không! Thì ra ý Bác: Mỗi người đào một mét khối đất. Cả trường sẽ đào được 3.500m3. Tại sao không đào giếng lấy nước mà dùng, lại cứ ngồi mà kêu ca trách móc Ðảng bộ với cấp trên?

Thật có một không hai cách phê bình ví von, dí dỏm mà sâu sắc, nhiều ý nghĩa, vui vẻ cả, nhưng mỗi người đều nhận ra một phần lỗi ở mình. Cuối cùng, Bác tươi cười hỏi:

– Các cô, các chú, các cháu có đồng ý như Bác phê bình không? Ai thật lòng đồng ý để sửa chữa thì giơ tay nào?

Tất cả đều giơ tay – Nhà giáo ưu tú Nguyễn Văn Tiêu trong Ban liên lạc Trường Bổ túc Công nông nhớ lại không khí tràn ngập niềm vui, hạnh phúc và lưu luyến tiễn Bác ra về.

TRỊNH TỐ LONG
qdnd.vn

“Miệng nói, tay làm, giúp các chú là tốt hơn…”

Ông Lê Bá Cải – Ủy viên Ban Liên lạc những người trực tiếp phục vụ Bác Hồ hiện ở khu tập thể Văn phòng Chính phủ phường Phương Mai (Hà Nội) còn giữ được tấm ảnh quý giá và nhớ mãi những câu chuyện như bài học Bác dạy …

Bác Hồ hỏi chuyện anh Nguyễn Văn Nuôi – đang chống que chọc lò rèn lưỡi cày – Ảnh: Đinh Đăng Định

Cưa cây phải để hở mạch

Đầu năm 1953, ông Cải cùng nhiều thanh niên quê Thanh Hóa được tuyển chọn điều lên chiến khu Việt Bắc, bổ sung vào Đội Xây dựng thuộc Ban kiểm tra 12 – bí danh của Chủ tịch Phủ – Thủ tướng phủ tại An toàn khu (ATK) Sơn Dương, Tuyên Quang.

Cuối năm đó, một đêm cả vùng bị cơn lốc mạnh làm đổ nhiều cây chắn ngang đường. Đội được lệnh phân làm nhiều tổ đi giải tỏa các con đường mòn khi trời sáng.

Tổ ông Cải có 6 người: Nguyễn Văn Chừng, Nguyễn Văn Quang, Lê Văn Tước, Phạm Văn Chi và Nguyễn Văn Sách. Anh em chia từng cặp, đang chăm chú cưa từng đoạn cây thì bỗng thấy Bác đi ngựa cùng bốn người nữa đi tới.

Anh em vội đứng lên chào Bác, luống cuống quên cả việc đang làm. Bác xuống ngựa, rồi tiến tới chỗ mọi người đang bối rối. Bác bảo: “Các chú chào Bác xong lại tiếp tục công việc, khẩn trương lên chứ, sao còn đứng đấy”.

Bấy giờ ai nấy mới vội chạy về vị trí đang làm, cầm cưa. Nhưng luống cuống cưa mắc kẹt, kéo đẩy đều không được. Bác bảo cặp cưa Cải – Quang: “Các chú phải một chân giữ cây, một chân đè lên thân cây hai bên cho nó hở mạch thì cưa mới nhanh được:.

Bác nhìn sang cặp Tước – Chi, lưỡi cưa cũng đang mắc kẹt giữa thân cây dài vắt qua đường. Người nói vui, thân mật: “Mấy chú này chắc chưa quen cầm cưa. Cây này dài, đè chân lên mạch càng ngậm chặt, các chú phải kê đỡ dưới mạch hoặc một người nâng mạch cưa lên”.

Một người đi cùng Bác cũng đứng hướng dẫn thêm. Anh vừa nói, vừa chỉ tay ra hiệu. Bác đến bên vỗ vai: “Chú nói đúng. Nhưng miệng nói tay làm giúp các chú cho nhanh, càng đúng hơn”.

Mọi người cùng cười vui vẻ và Bác cũng giúp một tay dọn dẹp rất nhanh một lối đi nhỏ.

May mà Bác ra sớm

Tác phong làm việc của Bác Hồ rất sâu sát và đặc biệt, giao việc cho ai, dù tin vẫn phải kiểm tra.

Lần ấy, hè năm 1957, Bác tiếp Đoàn văn công Trung Quốc sang biểu diễn. Ông Trần Quý Kiên – Phó Văn phòng được Chánh văn phòng Phan Mỹ giao nhiệm vụ trực tiếp bày bàn ghế để Chủ tịch nước tiếp khách.

Ông Cải cùng anh em được phân công xếp bàn ghế hình chữ T phủ khăn trắng và sắp ghế hai bên. Trước 8 giờ 15 phút, Bác ra xem liền hỏi: – Chú Mỹ, chú Kiên đâu? Anh em nhớn nhác nhìn nhau, vội tìm hai ông. Bác chỉ dãy bàn vội hỏi:

– Các chú quên rồi sao? Hôm nay Bác tiếp khách hoa quả. Bày chữ T thế này khách đến họ lại tưởng ăn tiệc mặn…

Nói rồi, Bác tự tay ra hiệu mọi người xúm vào kê lại bàn ghế hình chữ U để khách ngồi quanh. Vừa bày lại xong, nhìn ra cổng Phủ Chủ tịch, đoàn xe khách từ từ tiến vào sân.

Tinh thần thế là tốt

Năm 1962, trên khắp miền Bắc, phong trào hợp tác hóa nông nghiệp phát triển mạnh. Đâu đâu cũng nêu cao khẩu hiệu tất cả để phục vụ nông nghiệp.

Chi đoàn Thanh niên cơ quan đề xuất, được Chánh Văn phòng Phan Mỹ ủng hộ, anh em xây một lò đúc lưỡi cày 51 ở phía sau đình Hội đồng (nay là phòng họp lớn của Chính phủ).

Hôm khai lò, anh em không ngờ Bác và Thủ tướng Phạm Văn Đồng đến xem. Bác hỏi đoàn viên đứng lò Nguyễn Văn Nuôi: “Các chú đúc được bao nhiều lưỡi cày rồi?”

– Dạ thưa Bác, chúng cháu mới đúc thử 10 chiếc ạ!

Bác lại hỏi: Thế các chú đúc ra định đem bán hay làm gì?

Cả Bác cháu cùng cười ồ lên. Anh em chưa ai nghĩ ra nên trả lời Bác như thế nào thì Chánh Văn phòng Phan Mỹ đỡ lời: “Thưa Bác, chi đoàn báo cáo là lưỡi cày đúc được sẽ đem tặng các hợp tác xã làm ăn giỏi ạ”.

Bác khen: Làm được cày 51 là “Tất cả cho nông nghiệp”. Tinh thần của việc làm như thế là tốt…

Theo Trịnh Tố Long – Tiền Phong

tuoitre.vn

Những chuyện ít biết về công tác bảo vệ Bác Hồ: Kỳ 2

Người cận vệ đầu tiên của Bác Hồ

Giadinh.net – Ông là người cận vệ đã bảo vệ Bác Hồ khi từ Côn Minh (Trung Quốc) về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Ông vinh dự và tự hào được Bác Hồ đặt tên, từng là Tư lệnh đầu tiên của Quân chủng Phòng không – Không quân và 23 năm liền giữ cương vị Phó Tổng tham mưu trưởng.

>> Kế hoạch bảo vệ an toàn đón Bác Hồ về nước

Ông là Thượng tướng Phùng Thế Tài, nguyên Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam.

Từ đứa trẻ lang lang ở Côn Minh

Tên thật của ông là Phùng Văn Thụ, sinh ra trong một gia đình nghèo tại xã Văn Nhân, huyện Phú Xuyên, tỉnh Hà Tây (cũ). Nhà đông anh em nên làm ruộng quanh năm mà không đủ ăn. Thấy hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn nên mấy bà con đi buôn bán bên Trung Quốc bảo ông sang xin việc làm để kiếm sống.

Thượng tướng Phùng Thế Tài.

Năm 1933, khi đó mới 13 tuổi, ông theo một người làng đi kiếm sống. Điểm dừng chân đầu tiên của ông là thị trấn Chỉ Thôn, tỉnh Vân Nam, Trung Quốc. Thị trấn này là một trạm hoả xa trung chuyển tất cả đầu máy từ Vân Nam về, từ Lào Cai của Việt Nam sang. Vì nhỏ tuổi nên ông không xin được việc của người lớn. Một gia đình bản địa nhận ông về làm giúp việc nhà.

Nhưng ở được một thời gian, vì không chịu được cảnh hống hách bắt nạt của con chủ nhà nên ông bỏ lên Côn Minh, thủ phủ của tỉnh Vân Nam. Suốt một tuần lễ không xin được việc gì. Giữa trời đông lạnh giá, bụng đói meo, quần áo tơi tả không có một bộ mang theo, ông lang thang rồi mệt ngủ luôn trên ghế đá công viên Hạ Lầu, ngoại thành Côn Minh. Đang thiu thiu, có một người đàn ông đánh thức dậy và nói bằng tiếng Việt: “Em từ đâu đến mà nằm ngủ ở đây?”

Sau khi trình bày hoàn cảnh của bản thân, ông được người đàn ông này đưa về hãng dầu cù là Nhị Thiên Đường. Qua một thời gian thử thách và được giác ngộ, ông được tham gia các đoàn thể và đi theo cách mạng.

Người gặp ông buổi tối ở công viên Hạ Lầu chính là đồng chí Vũ Anh (bí danh Trịnh Đông Hải). Thời gian đó đồng chí Vũ Anh được Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương cử sang Trung Quốc hoạt động cách mạng, làm Biện sự sứ, xây dựng cơ sở trong công nhân lao động. Năm 1939, chính đồng chí Vũ Anh đã dìu dắt, giúp đỡ và giới thiệu kết nạp ông vào Đảng Cộng sản Đông Dương (đồng chí Vũ Anh đã nhận ông làm con nuôi). Người thứ hai giới thiệu kết nạp ông là đồng chí Thanh Bình (sau cách mạng tháng 8 năm 1945 đồng chí Thanh Bình là thứ trưởng Bộ Nội Vụ).

Thành cận vệ đầu tiên của Bác Hồ

Một buổi sáng đầu năm 1940, có người khách đến hãng Nhị Thiên Đường tìm gặp đồng chí Vũ Anh. Hai người đến địa điểm khác trao đổi công việc. Đến chiều, đồng chí Vũ Anh cho biết người đến tìm gặp là ông Trần và giao Phùng Thế Tài bảo vệ người này. Nhìn thái độ và nghe đồng chí Vũ Anh dặn dò cẩn thận, ông biết đây là một người rất quan trọng. Sau này, ông mới biết ông Trần chính là bí danh của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc. Và ông đã trở thành cận vệ đầu tiên của Bác Hồ từ thời khắc ấy. Sau này ông được Bác đặt tên là Phùng Hữu Tài (một thời gian sau ông xin Bác cho đổi tên là Phùng Thế Tài).

Bác Hồ tặng quà Tết và nói chuyện với các chiến sỹ Đoàn không quân Sao Vàng.

Về kỷ niệm ngày đầu bảo vệ Bác Hồ, Thượng tướng Phùng Thế Tài kể: “Sau khi đồng chí Vũ Anh giới thiệu tôi là cận vệ, ông Trần nhìn tôi tỏ ý hài lòng. Tuần lễ đầu, ông Trần và tôi nói chuyện với nhau bằng tiếng Trung Quốc, sau mới dùng tiếng Việt. Do nguyên tắc hoạt động bí mật nên cả ông Trần và tôi làm như không quen biết nhau. Gọi là đi bảo vệ nhưng thực ra tôi có súng ống gì đâu. Tôi vốn hiếu động, dạo trước đã làm một quả đấm sắt, một con dao. Vậy là giờ đây nó hữu ích. Tôi không được phép vào nhà ở của ông Trần, mà chỉ được đứng chếch ở bên phải hoặc bên trái lề đường để quan sát. Thấy ông Trần đi là tôi đi theo cách 5 đến 10 mét”.

Trong dịp Tết Tân Tỵ (năm 1941), ông cũng nằm trong số những cán bộ đi cùng để bảo vệ Bác Hồ về nước. Khi về đến cột mốc 108, ông Phùng Thế Tài được tổ chức phân công ở lại Côn Minh hoạt động. Vì thạo tiếng Trung Quốc nên quân đội Tưởng tuyển ông làm cho cơ quan tình báo để chuẩn bị cho kế hoạch “ Hoa quân nhập Việt” và cho ông vào học lớp quân chính về nghiệp vụ tình báo của trường quân sự Hoàng Phố.

Là ngưòi thông minh, tiếp thu nhanh, chỉ sau khóa học ông được phong cấp Thiếu Hiệu (ngang với Thiếu Tá). Chúng cấp cho ông một số giấy chứng nhận đặc biệt, có đóng dấu Tưởng Thống chế. Giấy này cho phép được đi lại trong toàn quốc. Lợi dụng sự ưu đãi này, ông đã tranh thủ hoạt động có lợi cho phía ta. Những giấy tờ đó cũng đã thực sự trở thành “bảo bối” cứu nguy cho những chuyến công tác bảo vệ lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc sang Trung Quốc sau này.

Đầu năm 1942, ông được tổ chức giao nhiệm vụ phụ trách đợt chuyển vũ khí về nước. Sau đó, được lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và đồng chí Vũ Anh cho ở lại Pác Bó tiếp tục làm nhiệm vụ bảo vệ Bác. Dạo đó, tổ bảo vệ “Ké Thu” (bí danh của Bác Hồ ở Pác Bó) gồm có: Phùng Chí Kiên, Lê Quảng Ba, Đinh Đại Toàn, Đặng Văn Cáp, Dương Đại Lâm, Phùng Thế Tài… Thời gian này cuộc sống của Ké Thu và tổ bảo vệ rất thiếu thốn. Lúc rảnh rỗi anh em trong tổ bảo vệ đi mò cua bắt ốc, đào củ mài. Thấy lãnh tụ Nguyễn ái Quốc gầy yếu anh em ưu tiên dành gạo nấu riêng. Người không cho làm như vậy và bảo: “Các chú chịu khổ được, Bác cũng chịu được”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm và chúc Tết Đoàn không quân Sao Vàng và các đơn vị bảo đảm kỹ thuật đường băng thuộc quân chủng Phòng không Không quân vào sáng mồng 1 Tết Đinh Mùi (9/2/1967). Cùng đi có Thượng tướng Văn Tiến Dũng-Tổng tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam (người đi bên trái Bác) và Đại tá Phùng Thế Tài-Tư lệnh quân chủng Phòng không Không quân (người đi bên phải Bác).

Một mình bảo vệ Bác trở lại Trung Quốc

Tháng 8/1944, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc lấy tên là Hồ Chí Minh và quyết định sang Trung Quốc gặp đại diện quân đồng minh để tranh thủ sự giúp đỡ. Đồng chí Phùng Thế Tài được giao nhiệm vụ bảo vệ Bác trong chuyến đi này.

Thượng tướng Phùng Thế Tài kể: “Lần ấy chỉ có một mình tôi đi bảo vệ Bác. Tôi mặc bộ dạ sỹ quan Tưởng oai lắm, nói thạo tiếng Trung Quốc, lại có sẵn giấy thông hành đặc biệt của chính quyền Tưởng Giới Thạch cấp hồi còn học ở trường quân sự Hoàng Phố nên yên trí. Bác mặc bộ quần áo của quân đội Tưởng, người ngoài nhìn chẳng khác anh lính trẻ đi với ông lính già. Khi đến Tĩnh Tây, cơm nước xong, Bác vào làm việc tại trụ sở của Quốc dân đảng Trung Hoa và là tổng hành dinh của Trung tướng Trần Bảo Xương.

Tối hôm đó, Bác ngủ ngay ở chỗ làm việc. Tôi không rõ Bác liên lạc với Trần Bảo Xương để làm gì, không dám hỏi vì nguyên tắc bí mật. Trên đường về phòng nghỉ, Bác nói bỏ quên mũ ở phòng khách bảo tôi quay lại lấy. Nhờ thế, tôi vô tình nghe lỏm được bọn Trần Bảo Xương đang bàn trong phòng kín tìm cách bắt giữ hai Bác cháu tôi. Tôi nghe thế rất lo, vội quay báo ngay với Bác. Bác rất bình tĩnh, chỉ thoáng một chút đăm chiêu. Suy nghĩ một lúc, Bác quyết định quay về Việt Nam ngay trong đêm hôm đó”.

“Nhưng làm sao mà ra khỏi hai cánh cổng sắt có lính gác của tổng hành dinh Trần Bảo Xương được? Như hiểu được ý tôi, Bác khẽ nói: “Ta đi ngay, không mang hành lý gì, đi người không, giả bộ với lính gác ra ngoài mua bao thuốc lá!”. Thoát khỏi được tổng hành dinh của Trần Bảo Xương, hai Bác cháu quên cả mệt, đi như chạy ra khỏi Tĩnh Tây và cuốc bộ một mạch không nghỉ. Sáng hôm sau trông thấy Bác quá mệt, người phờ phạc, lòng tôi quặn lại”.

Thời gian sau thấy năng khiếu chỉ huy quân sự và nguyện vọng của ông Phùng Thế Tài được đi chiến đấu ngoài mặt trận, Bác đồng ý. Trước khi ra mặt trận, Bác dặn ông: “Chú sẵn sàng đi chiến đấu, thế là tốt, nhưng nhớ đừng có “hữu dũng, vô mưu” đó nhé…”. Những lời Bác dạy, ông luôn thấm thía và là hành trang luôn theo ông, giúp ông vượt qua mọi khó khăn, gian khổ trong suốt cuộc đời. Ông đã trở thành vị tướng mà nói đến ai cũng biết: “Tướng Tài”.

Nguyễn Đức Qúy

giadinh.net.vn

Những chuyện ít biết về công tác bảo vệ Bác Hồ: Kỳ 1

Kỳ 1: Kế hoạch bảo vệ an toàn đón Bác Hồ về nước

Giadinh.net – Cuối tháng 2/1940, được tin lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc về đến Côn Minh (Vân Nam, Trung Quốc), Trung ương Đảng đã cử một số cán bộ như: Phạm Văn Đồng (bí danh là Lâm Bá Kiệt), Võ Nguyên Giáp (bí danh là Dương Hoài Nam), Đặng Văn Cáp (bí danh là Đặng Văn Linh), Hoàng Văn Lộc và một số đồng chí khác sang Trung Quốc để tìm gặp, báo cáo tình hình trong nước và xin chỉ thị của Người.

Sau gần 3 tháng, đến tháng 5/1940 đồng chí Phùng Chí Kiên dẫn đồng chí Đặng Văn Cáp đến Côn Minh gặp Bác.

Những người bảo vệ Bác về nước

Sau khi trao đổi, Bác đồng ý phương án về nước bằng đường Côn Minh – Lào Cai, qua huyện Khai Viễn. Bác phái đồng chí Bùi Thanh Bình, Hoàng Văn Lộc về Hồ Kiều (một thị trấn của tỉnh Vân Nam sát địa phận tỉnh Lào Cai nước ta) để thăm dò đường sá. Người chịu trách nhiệm nhóm công tác bảo vệ Bác trong thời gian chuẩn bị về nước là đồng chí Phùng Thế Tài.

Hưởng ứng cuộc vận động: “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” và tiến tới kỷ niệm 40 năm thực hiện Di chúc của Người, Báo GĐ&XH khởi đăng loạt tư liệu đặc biệt về công tác bảo vệ an ninh cho Bác.

Báo GĐ&XH cảm ơn Trung tá Nguyễn Đức Quý – Đội trưởng đội Nghiên cứu khoa học, Phòng Tham mưu, Bộ Tư lệnh Cảnh vệ – người đã trực tiếp chắp bút cho loạt bài này. Chúng tôi cũng trân trọng cảm ơn các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo và cán bộ, chiến sỹ Bộ Tư lệnh Cảnh vệ đã giúp đỡ để hoàn thành loạt tư liệu này. Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.

Nhưng bất ngờ cuối tháng 6/1940 đường giao thông Côn Minh- Lào Cai bị tắc nghẽn nên kế hoạch không thực hiện được. Bác chỉ thị cho đồng chí Hoàng Văn Lộc phải trở lại ngay Côn Minh.

Ngày 5/1/1941, đồng chí Hoàng Văn Thụ, Thường vụ Trung ương Đảng từ Việt Nam sang Tân Khư (Tĩnh Tây- Quảng Tây- Trung Quốc) gặp Bác để báo cáo kết quả thực hiện chủ trương của Trung ương Đảng về xây dựng và củng cố an toàn khu Cao Bằng và việc tổ chức thành lập Ban Công tác đội cũng như phong trào cách mạng ở đây.

Sau khi báo cáo kết quả việc chuẩn bị Hội nghị Trung ương lần thứ 8, đồng chí Hoàng Văn Thụ nêu nguyện vọng của Trung ương Đảng, đề nghị Bác về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Đồng chí cũng đề nghị Bác về qua ngả Cao Bằng, vì trình độ giác ngộ cách mạng của nhân dân dọc biên giới tương đối cao và cán bộ ở đây vững vàng.

Ngày 6/1/1941, Bác Hồ cùng các đồng chí Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, Phùng Chí Kiên, Đặng Văn Cáp… được đồng chí Hoàng Sâm dẫn đi qua Nậm Bo xuống Nậm Quang (Tĩnh Tây- Trung Quốc) để chuẩn bị lập kế hoạch cụ thể cho việc về nước. Tại đây, Bác Hồ đang mở lớp học và trực tiếp huấn luyện chính trị cho 43 đồng chí trong Ban công tác đội do Trung ương cử sang. Thời gian lớp học kéo dài khoảng 20 ngày, kết thúc vào dịp gần Tết Âm lịch năm 1941 (Tân Tỵ).

Bức họa bảo vệ Bác về đến cột mốc 108, ngày 28/1/1941 tại Pác Bó (Cao Bằng).

Sau khi kết thúc lớp học, Bác mới chỉ đạo kế hoạch về nước. Người quyết định qua cột mốc 108 về Pác Bó (Cao Bằng). Đoàn về nước được chia làm 3 nhóm. Nhóm thứ nhất do đồng chí Hoàng Sâm phụ trách về nước bằng đường Xuyên Sơn tới Pác Bó.

Nhóm thứ hai do đồng chí Phùng Chí Kiên phụ trách đi qua cột mốc 108, rồi theo đường 203 về Pác Bó. Hai nhóm này về trước nắm tình hình hoạt động của địch, và tổ chức khảo sát đường đi để Bác về nước. Ngay khi hai nhóm đầu lên đường về nước thì nhóm thứ ba, trực tiếp bảo vệ Bác cũng đi về bản Nậm Tẩy (Quảng Tây-Trung Quốc) để chờ tin trong nước, sẵn sàng xuất phát khi điều kiện thuận lợi. Khi về nước, hành lý mà Bác mang theo hầu như chẳng có gì. Chỉ có một chiếc vali nhỏ quần áo cũ và một chiếc máy chữ xách tay hiệu “Ba Bi”. Chiếc máy chữ này là vật dụng cá nhân quý giá mà Bác luôn mang theo bên mình.

Sau một thời gian nắm tình hình, thời cơ đến, Bác Hồ quyết định lên đường về nước. Nhóm bảo vệ trực tiếp và đi theo Bác Hồ lúc này ngoài đồng chí Phùng Thế Tài, còn có những người sau: Hoàng Văn Lộc- một cán bộ người dân tộc Tày, có kinh nghiệm hoạt động bí mật ở vùng Cao Bằng; Đặng Văn Cáp là thanh niên rất khoẻ, giỏi võ, bắn súng cũng rất giỏi và biết chữa bệnh bằng thuốc nam; Thế An cũng là một người dân tộc Tày, rất thông thạo đường rừng, đặc biệt là những đường đi tắt; Lê Quảng Ba cũng là một cán bộ người dân tộc Tày, rất am hiểu phong tục của đồng bào dân tộc ít người, thông thạo tiếng Dao, Mán, Nựng và tiếng Quan Hoả (Trung Quốc). Nhóm trực tiếp bảo vệ Bác Hồ do đồng chí Lê Quảng Ba phụ trách, tuy nhiên Bác Hồ chỉ đạo trực tiếp.

Cái Tết quê hương đầu tiên sau 30 năm xa Tổ quốc

Bác Hồ đã thống nhất kế hoạch hóa trang và phân công nhiệm vụ cho từng người. Về hóa trang, Bác phân tích: Vùng này có nhiều người dân tộc Nùng. Họ có phong tục, cứ đến Tết là các chàng rể (già cũng như trẻ) đều phải mang đồ lễ về “cúng ma” ở nhà bố mẹ vợ. Vì vậy, cả nhóm ăn mặc như những chàng rể người Nùng đang trên đường về nhà bố mẹ vợ. Bác Hồ cũng mặc một bộ quần áo đặc trưng của đàn ông Nùng thường mặc trong dịp Tết: quần áo chàm, đầu đội mũ kiểu bê-rê cũng may bằng vải màu chàm, chân đi đôi giày vải đen, quàng khăn để vừa ấm vừa che kín bộ râu.

Khu vực Bác làm việc trước đây.

Sáng sớm 28/1/1941, tức ngày mồng 2 Tết (Tân Tỵ), nhận được tin từ trong nước báo sang tình hình thuận lợi, cả đoàn xuất phát từ bản Nậm Quang từ rất sớm. Sau 8 giờ đi đường, khoảng 12h trưa thì cả đoàn đến dãy núi Phia Sum Khảo, nơi có cột mốc biên giới số 108 trên biên giới Việt – Trung, thuộc xã Trường Hà, châu Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng.

Cùng lúc đó, nhóm được cử nhiệm vụ đi đón Bác do đồng chí Hoàng Sâm từ trong nước cũng có mặt tại cột mốc 108. Tất cả đều xúc động khi thấy Bác đứng lặng đi bên cột mốc số 108, ngắm nhìn núi rừng trùng điệp của tỉnh Cao Bằng- mảnh đất địa đầu của Tổ quốc. Sau 30 năm xa Tổ quốc, bôn ba đi tìm đường cứu nước, đúng vào dịp Tết cổ truyền của dân tộc, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã trở về đất nước. Người cúi xuống cầm nắm đất lên hôn. Sau đó Bác vui vẻ bắt tay chúc Tết mọi người.

Rời cột mốc 108, cả đoàn theo con đường mòn xuống thung lũng Pắc Bó. Tại đây đoàn công tác bảo vệ bố trí Bác ở gia đình nhà ông Máy Lỳ, dân tộc Nùng, một cơ sở cách mạng tin cậy. Gia đình ông Máy Lỳ chỉ có hai vợ chồng và một người con gái. Đây là địa điểm thường được Trung ương Đảng chọn làm nơi hội họp và trạm dừng chân cho cán bộ đi công tác qua lại. Gia đình ông Máy Lỳ rất nghèo nhưng lại có tinh thần yêu nước nồng nàn. Căn nhà của ông nằm độc lập ở dưới một quả đồi nhưng thoáng đãng. Từ sân nhà nhìn ra có thể thấy toàn cảnh thung lũng ở phía trước. Sau nhà là một con suối, kế đến là một khu rừng rậm rất tiện cho yêu cầu bảo vệ khi có tình huống bất trắc có thể xảy ra.

Gia đình ông Máy Lỳ hầu như đã quen mặt biết tên hết các cán bộ trong đoàn nhưng không biết Bác là ai. Khi đến nhà ông Máy Lỳ, Bác mặc áo chàm, đi dép rơm, tay cầm gậy. Mọi người gọi Bác là ông Ké và giới thiệu là cán bộ dưới xuôi lên. Ông Máy Lỳ gọi con gái mang ra một thau nước nóng, mời ông Ké rửa trước.

Nghỉ ngơi một lát, ông Máy Lỳ lại sai con gái bưng một mâm cỗ Tết ra mời ông Ké và đoàn cán bộ dùng. Bên mâm cỗ Tết, mọi người trò chuyện râm ran, riêng Bác cứ lặng yên, nét mặt rất xúc động. Ông Máy Lỳ nâng bát rượu mời Bác và anh em cán bộ cùng đi. Bác chúc sức khoẻ ông Máy Lỳ. Ông Máy Lỳ rất vui, gọi vợ và con gái ra tiếp khách để tỏ lòng mến khách.

Đến ngày 8/2/1941, đoàn cán bộ bảo vệ tiếp tục đưa Bác vào ở và làm việc trong hang Cốc Bó.

(Còn nữa)
Nguyễn Đức Quý

giadinh.net.vn

Vừa đẹp vừa đỡ chói mắt đồng bào …

Năm 1956, Bác Hồ đón một vị Tổng thống tại khu vườn Phủ Chủ tịch.

Một số công nhân Nhà máy đèn Hà Nội được Bác “mời vào mắc đèn điện trên các cành cây giúp Bác”.

Anh em làm việc suốt ngày, ròng dây dẫn điện lắp đèn nhiều loại màu sắc trên ngọn, trên cành trong các lùm cây.

Khoảng 19 giờ 30 cùng ngày, Bác ra vườn thăm anh em. Bác nói:

– Các chú bật đèn lên cho Bác xem đi.

Sau khi đóng cầu dao, những bóng đèn điện bỗng vụt hiện lên, lung linh như trong một hội hoa đăng. Đồng chí tổ trưởng công nhân điện mời Bác đi xem và kiểm tra.

Bác chú ý từng ngọn đèn, từng đoạn dây dẫn đã an toàn chưa, gật đầu tỏ ý hài lòng.

Đến một đèn pha chiếu sáng đặt dưới một gốc cây, Bác dừng lại nói:
– Ngọn đèn này phải để khuất trong lùm cây, vừa đẹp vừa đỡ chói mắt đồng bào đi qua đường.

Bác nhanh nhẹn bước tới ngọn đèn. Đồng chí tổ trưởng Dương Văn Hậu lo Bác vấp ngã vì đôi guốc mộc dưới chân Bác đi trên đường rải sỏi, chạy vội đến:

– Bác để chúng cháu làm.

Nhưng Bác đã cúi xuống, rất “nghề nghiệp”, hai bàn tay bưng lấy thân ngọn đèn pha dấu vào một lùm cây đinh hương.

Ngọn đèn pha mới được đặt, đẹp hẳn lên, người ngoài nhìn vào không bị chói mắt, mà chỉ thấy những tia sáng chiếu qua các kẽ lá hắt lên một màu xanh dịu.

Lần sau, anh em nhà máy điện Hà Nội lại được đến Phủ Chủ tịch mắc đèn dây để Bác tiếp khách.

Rút kinh nghiệm lần trước, lần này anh em làm khác hẳn lối treo đèn cũ, như để thưa với Bác “phải luôn luôn đổi mới, không ngừng phát huy sáng kiến” – như lời Bác dạy.

Anh em đặt một dây đèn màu từ dưới gốc cây dừa nước lên ngọn rồi tỏa ra các cành, mỗi cành một đèn màu khác nhau. Ở các thân cây có quả đèn màu trắng, cành cây đèn màu xanh, gần quả, một chùm đèn nhỏ màu đỏ. Chếch hai bên đặt hai đèn pha dấu trong lùm cây hắt nghiêng lên.

Như lần trước, vừa chập tối, Bác đã đến trước khách, thăm anh em công nhân điện và kiểm tra. Bác khen:

– Lần này các chú mắc đẹp đấy. Chắc khách quý của chúng ta cũng sẽ khen…
Bác lấy thuốc lá chia cho anh em công nhân điện mỗi người một điếu (sau này được biết là thuốc lá thơm Cu-ba do Thủ tướng Phi Đen Cát-xtrô tặng Bác. Bác chia gần hết hộp thuốc. Một công nhân trẻ, thấy Bác vui, hộp thuốc đã cạn, muốn có kỷ niệm về Bác, mạnh dạn thưa với Bác xin cái hộp. Bác cười và nói:

– Các chú đã có phần rồi. Cái hộp này Bác để dành cho các cô để đựng kim chỉ chứ!

dongthap.gov.vn

Chữ “quan liêu” viết như thế nào ?

Năm 1952, trong một lần đến thăm lớp “chỉnh huấn” chính trị cán bộ trung, cao cấp, anh em quây quần xung quanh Bác, nghe Bác kể chuyện, dặn dò.

Cuối buổi, Bác cầm một cái que nói:

– Các chú học đã giỏi, bây giờ Bác đố chữ này xem các chú có biết không nhé!

Anh em hưởng ứng “Vâng ạ!” “Vâng ạ!”. Người nào biết tiếng Pháp, tiếng Anh, tiếng Trung Quốc thì “nhẩm” lại kiến thức của mình, người không biết tiếng nước ngoài thì băn khoăn có chữ gì khó mà lại không đọc được nhỉ?

Bác vẽ một vạch ngang trên mặt đất rồi hỏi:

– Chữ gì nào?

Tưởng chữ “phạn”… chữ “cổ đại” nào chứ chữ này ai mà không biết. Cả lớp hò lên: Thưa Bác, chữ “nhất” ạ.

Bác khen:

– Giỏi đấy.

Rồi Bác lại gạch một gạch nữa dưới chữ nhất. Chưa kịp hỏi, anh em đã ồn lên:

– Chữ “nhị” ạ.

Bác động viên:

– Giỏi lắm…

Người lại gạch thêm một gạch nữa dưới hai gạch cũ.

– Chữ “tam” ạ…

Bác cười:

– Khá lắm.

Rồi Người vạch thêm một vạch nữa dưới chữ “tam”.

– Chữ gì nào?

“Các vị” đớ người ra, nhìn vào vạch đầu tiên thì vừa phải, vạch thứ hai dài hơn đã có hơi lệch một chút, vạch thứ ba dài hơn tí nữa cũng không được “song song” cho lắm, vạch thứ tư dài nhất, có vẻ đã “cong” lắm rồi… Tiếng Pháp thì không phải. Tiếng Hán chữ “tứ” viết khác cơ!
Bác giục:

– Thế nào? Các nhà “mác-xít”?

Bác lại cầm que vạch một vạch, rồi hai vạch dọc từ trên xuống dưới, ban đầu thì thẳng đứng, xuống đến vạch ngang thứ hai đã “queo”, vạch ba thì “quẹo”, vạch bốn như một con giun, loằng ngoằng như cái đuôi chuột nhắt…

Bác đứng dậy:

Chịu hết à? Có thế mà không đoán ra… Các chú biết cả đấy…

Để que xuống đất, Bác nói:

– Chủ trương, chính sách, đường lối của Đảng đúng đắn… Đến tỉnh đã hơi cong, đến huyện đã “tả hữu”, đến xã đã sai lệch. Vì sao? Vì cán bộ không làm đúng, không nắm chắc chủ trương đường lối, không gần gũi dân, không chịu làm “đầy tớ nhân dân” mà chỉ muốn làm “quan cách mạng”. Cho nên chữ ấy là chữ “quan liêu”. Các chú không học những biết và vẫn làm. Còn cái các chú học, thì các chú lại ít làm…

Học viên cả lớp đứng im, khong dám nhìn vào Bác.

tinhdoankhanhhoa.org.vn