Thư viện

Tự do báo chí vì lợi ích quốc gia, dân tộc

QĐND – Trong chiến lược “Diễn biến hòa bình” chống phá cách mạng Việt Nam, bên cạnh các vấn đề về “dân chủ”, “nhân quyền”, “dân tộc”, “tự do tôn giáo”… các thế lực thù địch thường sử dụng chiêu bài “tự do ngôn luận”, “tự do báo chí”, vu cáo Đảng và Nhà nước Việt Nam vi phạm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí. Mục tiêu là làm cho báo chí tách rời sự lãnh đạo của Đảng, làm cho các nhà báo mất phương hướng chính trị, mất sức chiến đấu trong hoạt động báo chí, tiến tới gây mất ổn định và rối loạn về tư tưởng xã hội.

Mới đây, có tổ chức báo chí và quan chức ngoại giao nước ngoài lại đưa ra những nhận định, đánh giá sai lệch về tình hình tự do báo chí, tự do internet ở Việt Nam. Họ xuyên tạc rằng Việt Nam “có nhiều hoạt động chống lại giới bloggers khi họ phổ biến các thông tin về các dự án bauxite ở Tây Nguyên”; rằng Việt Nam đang “siết chặt kiểm soát internet, từ các quán cà phê internet tới trang mạng Facebook”; rằng Việt Nam là nước trong số các quốc gia “hạn chế ngôn luận trên internet”, và đòi thúc đẩy “tự do báo chí”, “tự do internet”!.

Đó là cách nhìn nhận và đánh giá thiếu khách quan, vô căn cứ, không đúng với tình hình tự do báo chí và sự phát triển internet ở Việt Nam, cho thấy thái độ thiếu thiện chí của họ đối với Việt Nam. Những luận điệu trên không có gì mới và chúng được tung ra nhằm hậu thuẫn những người cố tình lợi dụng tự do internet và tự do báo chí để xuyên tạc chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, đưa những thông tin ngụy tạo, truyền bá những thông tin thiếu xác thực, chưa được kiểm chứng, thậm chí cả những ý kiến mạo danh các lão thành cách mạng, các đồng chí nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước lên blog cá nhân, lên các trang mạng phục vụ ý đồ cá nhân.

Những ai đòi Việt Nam mở rộng hơn nữa “tự do báo chí”, “tự do internet” cần phải hiểu đúng hơn về các khái niệm trên. Tự do ngôn luận, tự do báo chí là quyền căn bản của con người, nhưng tự do báo chí không có nghĩa là vô tổ chức, là đổi trắng thay đen, là tự do đảo lộn chính-tà… Chúng ta khuyến khích tự do báo chí vì lợi ích của quốc gia, dân tộc, bảo vệ lợi ích của Đảng, Nhà nước và nhân dân. Và lẽ tất nhiên, chúng ta không thể chấp nhận việc lợi dụng tự do báo chí, tự do internet để gây mất ổn định, chống lại Tổ quốc và dân tộc, xuyên tạc chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, xâm phạm lợi ích của công dân. Thực chất “tự do báo chí” và tự do internet mà một số thế lực mong muốn là kiểu tự do vô chính phủ, hoàn toàn trái với dân chủ đích thực. Quyền tự do báo chí, tự do internet ở Việt Nam được pháp luật bảo vệ. Bất kỳ một tổ chức, cá nhân nào lợi dụng tự do báo chí để chống lại Tổ quốc, đi ngược lại lợi ích của nhân dân, vi phạm pháp luật, đều phải bị xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật. Điều này là hiển nhiên mà bất cứ một quốc gia độc lập có chủ quyền nào cũng đều phải thực hiện.

Tại Việt Nam quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí được quy định rõ trong Hiến pháp, pháp luật, được tôn trọng và được bảo đảm trên thực tế, được cộng đồng quốc tế ghi nhận. Ảnh minh họa: Internet

Không thể vin vào lý do một số cá nhân lợi dụng báo chí, lợi dụng internet chống lại Tổ quốc, bị chính quyền xử lý mà cho rằng Việt Nam “vi phạm” tự do báo chí, tự do internet, rồi cố tình xuyên tạc và xếp Việt Nam là một quốc gia “hạn chế tự do báo chí”.

Thực tế những năm qua, Nhà nước Việt Nam đã không ngừng hoàn thiện hệ thống pháp luật trong quản lý hoạt động báo chí, xuất bản; cùng với việc quy định trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân trong hệ thống chính trị thực hiện nghiêm túc quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận, quyền tiếp cận thông tin… chúng ta còn quy định rõ việc xử lý các vi phạm đối với các quyền nói trên. Luật Báo chí và các văn bản pháp luật liên quan luôn bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, quyền hành nghề chính đáng trong khuôn khổ pháp luật của các nhà báo. Đây là việc làm cần thiết để bảo đảm quyền tự do báo chí theo nghĩa đích thực, bảo đảm cho báo chí hoạt động đúng tôn chỉ mục đích, trong khuôn khổ pháp luật; làm cho báo chí thực sự phục vụ lợi ích của quốc gia, dân tộc, không để báo chí bị lợi dụng, bị hoen ố bởi những hành vi trái pháp luật, trái với thuần phong mỹ tục… Đó là việc làm vì lợi ích của quốc gia dân tộc, của nhân dân ở một đất nước độc lập, có chủ quyền.

Cũng cần nói thêm rằng, những luận điệu xuyên tạc, vu cáo trên là sự can thiệp có chủ ý vào tình hình Việt Nam; là giọng điệu lạc lõng trong khi phần lớn các quốc gia, tổ chức quốc tế và nhân dân trên thế giới đều đánh giá cao, nhận xét tích cực về một nước Việt Nam đang đổi mới, ổn định và phát triển, có những bước tiến ngoạn mục, hướng tới một quốc gia phồn thịnh trong tương lai. Năm 2010, trong một cuộc làm việc với Phó thủ tướng, kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Việt Nam Phạm Gia Khiêm, chính Ngoại trưởng Mỹ H.Clin-tơn cho biết bà “thực sự phấn khích” về “sự tiến bộ của Việt Nam ngày nay…”. Sự tiến bộ đó, như Ngoại trưởng Mỹ khẳng định, hàm chứa cả những tiến bộ về quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí được bảo đảm và phát huy tích cực trong đời sống xã hội.

Thực tế đã chứng minh, tại Việt Nam quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí được quy định rõ trong Hiến pháp, pháp luật, được tôn trọng và được bảo đảm trên thực tế, được cộng đồng quốc tế ghi nhận. Những ai xuyên tạc tình hình “tự do báo chí”, “tự do internet” ở Việt Nam cần phải thấy rằng, những năm qua, báo chí Việt Nam có sự phát triển nhanh về số lượng, loại hình, ấn phẩm; đội ngũ những người làm báo, số lượng người đọc, người truy cập internet… và cơ sở vật chất kỹ thuật, công nghệ, năng lực tài chính của các cơ quan báo chí, truyền thông, cũng như sự tác động và ảnh hưởng xã hội của báo chí, internet đều tăng nhanh. Báo chí thực sự là tiếng nói của Đảng, Nhà nước, các tổ chức chính trị-xã hội, là diễn đàn của nhân dân; quyền tự do báo chí ở nước ta được bảo đảm vững chắc bằng pháp luật và thể hiện cụ thể trong thực tiễn.

Đến năm 2010, cả nước có hơn 17.000 người được cấp thẻ nhà báo (tăng gấp 3 lần so với 1986, tăng 1,4 lần so với 2001); có hơn 700 cơ quan báo chí in, gần 70 đài phát thanh-truyền hình, hàng chục tờ báo điện tử và hàng nghìn trang thông tin điện tử… Việt Nam là một trong những nước trên thế giới có tốc độ phát triển nhanh nhất về internet. Đó là kết quả thể hiện rõ ràng, sinh động về quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí ở nước ta, trái ngược hẳn với luận điệu xuyên tạc Việt Nam “hạn chế tự do báo chí”, “hạn chế ngôn luận trên internet” như một số thế lực cố tình gán ghép.

Báo chí chân chính phải thực sự là “vũ khí sắc bén trong sự nghiệp phò chính trừ tà”. Mọi sự lẫn lộn “chính”- “tà” đều không đúng với bản chất và vai trò của báo chí nước ta trong tình hình mới. Báo chí phải chung vai gánh vác sự nghiệp cách mạng của Đảng, Nhà nước và nhân dân, góp phần cổ vũ, giáo dục, định hướng tư tưởng, nhân lên những điển hình tốt, đấu tranh chống tiêu cực, phê phán những cái xấu, biểu hiện lệch lạc, đi ngược lại lợi ích của dân tộc và đất nước. Báo chí cách mạng Việt Nam ngày càng phát triển, trở thành lực lượng hùng hậu, luôn đồng hành cùng đất nước, dân tộc, góp phần thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Hưng Hà
qdnd.vn

This entry was posted on Tháng Chín 30, 2012, in Chính luận.

Xuyên tạc lịch sử – thủ đoạn xảo trá chống phá con đường phát triển của dân tộc Việt Nam

Gần đây, một số người mạo danh “người Việt Nam yêu nước”, bất chấp phải trái, trắng đen, cố tình xuyên tạc ý nghĩa to lớn của Cách mạng Tháng Tám. Đó là thủ đoạn xảo trá chống phá sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản.

Cách mạng Tháng Tám đã ghi một mốc son chói lọi trong lịch sử đấu tranh chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam. Ý nghĩa vĩ đại nhất của Cách mạng Tháng Tám là đã đập tan ách thống trị của chủ nghĩa thực dân, phát xít và chính quyền phong kiến phản động, tay sai, đưa dân tộc ta bước sang kỷ nguyên mới – kỷ nguyên nhân dân làm chủ vận mệnh đất nước, gắn độc lập dân tộc với CNXH. Với mục tiêu đấu tranh phù hợp yêu cầu phát triển của dân tộc và tính chất thời đại, Đảng ta tiếp tục lãnh đạo cách mạng giành được những thắng lợi vĩ đại qua hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ; đất nước hoàn toàn độc lập tự do, nhân dân ta thực hiện công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, hội nhập quốc tế, từng bước quá độ lên CNXH.

Đó là sự thật đã được thực tiễn lịch sử chứng minh và được tất cả những người có lương tri trong nước và trên thế giới thừa nhận. Tuy nhiên, một số người tự xưng là “người Việt Nam yêu nước” vẫn tung ra luận điệu: Cách mạng Tháng Tám với việc lập ra nước Việt Nam dân chủ cộng hoà và Đảng Cộng sản (ĐCS) Việt Nam trở thành đảng cầm quyền, đã đưa dân tộc Việt Nam vào “thảm họa” với  hai cuộc chiến tranh (1945 – 1954 và 1954 – 1975) giết chết mấy triệu người Việt Nam (cả hai phía), đất nước bị tàn phá, dân tộc phân ly và ngày nay tiếp tục nghèo nàn, đói khổ… Theo họ, giá như không đi theo con đường những người cộng sản vạch ra mà bằng cách xin “chính quốc” trao trả độc lập thì đất nước ta vẫn có độc lập, tránh được chiến tranh, đi theo con đường của các nước tư bản để tới phồn vinh (!)

Giọng điệu của họ chẳng lừa bịp được ai, họa chăng chỉ có thể gây ra sự dao động với số ít người nhẹ dạ cả tin, thiếu cảnh giác và thiếu vững vàng về tư tưởng. Dù vậy, đây cũng là một luồng thông tin độc hại đối với xã hội và là một thủ đoạn trong chiến lược “Diễn biến hoà bình” của các thế lực thù địch đang chống phá cách mạng Việt Nam.

Những sự kiện chân thực lịch sử từ Cách mạng Tháng Tám đến nay sẽ bóc trần luận điệu dối trá trên; đồng thời, củng cố niềm tin của nhân dân ta vào sự lãnh đạo của ĐCS Việt Nam, vào con đường phát triển của dân tộc ta mở đầu từ Cách mạng Tháng Tám.

Giữa thế kỷ XIX, thực dân Pháp nổ súng xâm lược nước ta. Triều đình nhà Nguyễn yếu hèn, từng bước đầu hàng giặc. Các cuộc đấu tranh của nhân dân ta chống thực dân Pháp từ đó cho đến đầu thế kỷ XX, dù diễn ra liên tục, đầy lòng yêu nước và dũng khí, với các tư tưởng và phương pháp khác nhau, nhưng tất cả đều thất bại. Nguyên nhân thất bại căn bản là các phong trào đó thiếu một đường lối cứu nước đúng đắn. Lúc này, đất nước như đêm tối không có đường ra. Yêu cầu khách quan cấp thiết của cách mạng Việt Nam đầu thế kỷ XX là phải có một tổ chức cách mạng với tư tưởng tiên tiến và đường lối cách mạng đúng đắn lãnh đạo phong trào giải phóng dân tộc.

Sau gần 10 năm bôn ba tìm đường cứu nước, năm 1920, Nguyễn Ái Quốc trở thành người Việt Nam đầu tiên tiếp thu tư tưởng tiên tiến của thời đại và tìm thấy con đường cứu nước đúng đắn, đó là con đường gắn độc lập dân tộc với CNXH. Cũng gần 10 năm sau, năm 1930, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc sáng lập ra ĐCS Việt Nam, một tổ chức chính trị có tư tưởng tiên tiến, có đường lối cách mạng đúng đắn, là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam. ĐCS Việt Nam, đứng đầu là lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh được lịch sử trao cho sứ mệnh lãnh đạo cách mạng Việt Nam.

Ngay khi vừa ra đời, ĐCS Việt Nam đã phát động, lãnh đạo cao trào cách mạng 1930 – 1931 và 1936 – 1939. Đó là những cuộc tổng diễn tập, chuẩn bị tiền đề cho trận chiến đấu cuối cùng giành chính quyền là Cách mạng Tháng Tám. Tháng 9-1939, Chiến tranh Thế giới thứ hai nổ ra, thực dân Pháp thực hiện chính sách thống trị tàn bạo ở Đông Dương. Tình hình thế giới và Đông Dương biến chuyển căn bản. Đảng ta chuyển hướng chỉ đạo chiến lược, đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu và phát động cao trào đấu tranh mới tiến tới khởi nghĩa giành chính quyền. Tháng 5-1941, Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá I) đã xác định: “Trong lúc này nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc, thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được”1. Hội nghị phát động cao trào cách mạng giải phóng dân tộc.

Ngày 9-3-1945, phát xít Nhật tiến hành đảo chính lật đổ chính quyền Pháp. Ngay tối hôm đó, Ban Thường vụ Trung ương Đảng ra bản Chỉ thị Nhật – Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta. Hội nghị quyết định phát động cao trào chống Nhật, cứu nước trong toàn quốc, làm tiền đề cho cuộc tổng khởi nghĩa. Từ tháng 3-1945, khởi nghĩa từng phần ở các địa phương nổ ra. Cả dân tộc ta gấp rút chuẩn bị những công việc cuối cùng, tạo và đón lấy thời cơ để vùng lên tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước. Ngày 14-8-1945, Nhật Hoàng tuyên bố đầu hàng Đồng minh, Chiến tranh Thế giới thứ hai kết thúc. Trung ương Đảng đã triệu tập Hội nghị toàn quốc, nhận định điều kiện khởi nghĩa đã chín muồi và cử ra Uỷ ban khởi nghĩa toàn quốc. Ngay đêm 13-8, Uỷ ban khởi nghĩa toàn quốc ra lệnh tổng khởi nghĩa. Ngày 16-8-1945, Đại hội quốc dân họp, quyết định thành lập Ủy ban giải phóng dân tộc Việt Nam (tức Chính phủ lâm thời) do lãnh tụ Hồ Chí Minh làm Chủ tịch. Ngay trong ngày 16-8-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư kêu gọi đồng bào cả nước: “Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc ta đã đến. Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”2. Cả dân tộc Việt Nam, với quyết tâm “dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập”3, đã nhất tề vùng lên. Chỉ trong vòng chưa đầy nửa tháng, cuộc tổng khởi nghĩa của nhân dân ta đã thành công, lật đổ bộ máy thống trị phát-xít cùng triều đình phong kiến, thiết lập chính quyền cách mạng trên cả nước. Cách mạng Tháng Tám thành công, ngày 02-9-1945, tại Quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập, tuyên bố nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời. Cách mạng Tháng Tám đã mở đầu một chế độ mới, là chặng đầu con đường phát triển của dân tộc trong kỷ nguyên mới.

Đáng lẽ, sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, nhân dân ta được sống trong hoà bình để xây dựng đất nước. Nhưng thực dân Pháp quyết tâm xâm lược nước ta một lần nữa. Trước hành động ngang ngược của thực dân Pháp, không còn con đường nào khác, cả dân tộc đã đứng lên kháng chiến theo lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”4.

Sau 9 năm kháng chiến gian khổ, với chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, nhân dân ta đã đánh thắng thực dân Pháp xâm lược. Theo hiệp định Giơ-ne-vơ, hai miền Bắc – Nam sẽ tổng tuyển cử hoà bình, để thống nhất quốc gia. Nhưng với âm mưu biến miền Nam nước ta thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự chống phá phong trào giải phóng dân tộc, ngăn chặn CNXH, đế quốc Mỹ đã nhanh chóng hất cẳng Pháp, nhảy vào miền Nam, dựng lên chính quyền tay sai phản động làm công cụ bạo lực thống trị nhân dân ta. Đế quốc Mỹ và chính quyền Ngô Đình Diệm ngang nhiên thực hiện chính sách phát-xít khủng bố trắng, “đặt miền Nam trong tình trạng chiến tranh”, tàn sát, giam cầm hàng chục vạn cán bộ cách mạng và đồng bào yêu nước. Chẳng những thế, chúng còn trắng trợn hô hào “Bắc tiến”, “lấp sông Bến Hải”,… Khả năng hiệp thương tổng tuyển cử đã hết, không thể cam chịu “cuộc chiến tranh một phía” để bị tàn sát và mất độc lập, tự do, nhân dân miền Nam phải vùng lên “Đồng khởi”. Cả nước lại bước vào cuộc trường chinh mới – kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

Như thế, hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ là do kẻ thù xâm lược cố tình gây ra, nhân dân ta buộc phải cầm vũ khí chống ngoại xâm,  chứ không phải do Đảng ta “chịu ảnh hưởng tả khuynh của Quốc tế Cộng sản” hoặc của lãnh tụ các nước cộng sản lúc đó như có kẻ xuyên tạc. Đây chính là sự tiếp nối tất yếu con đường giành độc lập, tự do của Cách mạng Tháng Tám.

Sau Đại thắng mùa Xuân 1975, đất nước được độc lập, thống nhất, nhưng 100 năm chế độ thực dân và 30 năm chiến tranh ác liệt đã để lại hậu quả vô cùng nặng nề. Nguyện vọng thiết tha và chính đáng của nhân dân ta là được hoà bình, ổn định để xây dựng đất nước. Tuy nhiên, các thế lực thù địch không từ bỏ âm mưu phá hoại công cuộc xây dựng đất nước của nhân dân ta nhằm bắt dân tộc ta đi theo con đường do chúng áp đặt.

Từ kinh nghiệm của sự nghiệp giữ nước hàng ngàn năm, trực tiếp là cuộc đấu tranh chống đế quốc, thực dân hơn 100 năm qua, phù hợp với xu thế phát triển của thời đại, con đường phát triển của dân tộc ta không thể ngoài con đường gắn độc lập dân tộc với CNXH. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta lại bước tiếp con đường Cách mạng Tháng Tám đã mở – con đường quá độ lên CNXH.

Vài thập niên trước đây, do nhiều nguyên nhân, CNXH hiện thực ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ là một tổn thất nghiêm trọng của CNXH và phong trào cách mạng thế giới. Đó là cơ hội để chủ nghĩa đế quốc mở chiến dịch phản kích vào CNXH và phong trào cách mạng thế giới. Chúng ra sức xuyên tạc, bài bác CNXH, cố tình tô vẽ, cường điệu “tính ưu việt” của CNTB và cho rằng: đây là đỉnh cao tột cùng của xã hội loài người,…(!) Đối với nước ta, chúng cố tình phủ nhận ý nghĩa của Cách mạng Tháng Tám và đòi ĐCS Việt Nam phải từ bỏ con đường đi lên CNXH. Đằng sau thủ đoạn xảo trá đó chính là mưu đồ hướng dân tộc ta đi theo con đường TBCN.

Bước sang thế kỷ XXI, đặc biệt mấy năm gần đây, tình hình thế giới càng diễn biến phức tạp. Suy thoái kinh tế thế giới dẫn đến những bất ổn về chính trị, xã hội ở hầu khắp các nước tư bản phát triển; nhiều nước thuộc địa, phụ thuộc trước đây, sau khi giành độc lập, đi theo con đường TBCN, cũng đã và đang lâm vào khủng hoảng toàn diện, bị nước ngoài can thiệp, mất quyền độc lập, tự chủ. Trong khi đó, các nước XHCN còn lại vẫn đứng vững và phát triển, nhiều nước khác đang hướng theo con đường XHCN và lý tưởng XHCN vẫn đang vẫy gọi nhân loại tiến bộ. Ở nước ta, những thành tựu, kinh nghiệm của 25 năm đổi mới đã tạo ra thế và lực mới; sức mạnh tổng hợp của đất nước lớn hơn nhiều so với trước. Hiện nay, nước ta đang đứng trước vận hội cùng những thách thức lớn đan xen nhau, tác động tổng hợp và diễn biến phức tạp; trong đó có tác động của tình trạng suy thoái kinh tế thế giới và nợ công ở Châu Âu. Tuy nhiên, trong khi kinh tế nhiều nước bị suy thoái, có nguy cơ sụp đổ, dẫn đến chính trị rối ren, thì ở nước ta, kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định, duy trì được tốc độ tăng trưởng khá; đời sống nhân dân được bảo đảm và từng bước được cải thiện; quốc phòng, an ninh được tăng cường; vị thế của nước ta trong khu vực và trên thế giới ngày càng được nâng cao.

Thực tiễn đó đã chứng tỏ đường lối đổi mới của Đảng ta là đúng đắn, con đường lên CNXH là sự lựa chọn duy nhất đúng. Chỉ có CNXH mới bảo đảm cho dân tộc ta có độc lập, tự do thực sự, đất nước phát triển phồn vinh, đời sống nhân dân được ấm no, hạnh phúc. Những kẻ cố tình xuyên tạc lịch sử, đổi trắng thay đen, phá hoại con đường phát triển của dân tộc, mưu đồ đưa dân tộc ta đi theo con đường của CNTB chắc chắn sẽ chuốc lấy thất bại thảm hại.

Đại tá, PGS, TS. VŨ NHƯ KHÔI

Viện KHXHNVQS – Bộ Quốc phòng
tapchiqptd.vn

1 – ĐCSVN – Văn kiện Đảng toàn tập, Tập 7, Nxb CTQG, H. 2000, tr. 113.

2 – Hồ Chí Minh – Toàn tập, Tập 3, Nxb CTQG, H. 1995, tr. 554.

3 – Đại tướng Võ Nguyên Giáp – Tổng  tập hồi ký,  Nxb QĐND, H. 2006, tr. 130.

4 – Hồ Chí Minh – Toàn tập, Tập 4, Nxb CTQG, H. 1995, tr. 480.

CNXH và con đường đi lên CNXH – Nhìn từ thực tiễn Việt Nam

QĐND – Đó là chủ đề bài nói chuyện của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng tại Trường Đảng cao cấp Ni -cô Lô -pết nhân chuyến thăm hữu nghị chính thức Cộng hòa Cu -ba. Báo Quân đội nhân dân trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc toàn văn bài nói chuyện này.

Thưa các đồng chí và các bạn,

Nhân dịp sang thăm Cu -ba, hôm nay Đoàn đại biểu cấp cao Đảng Cộng sản Việt Nam hết sức vui mừng đến thăm Trường Đảng Cao cấp Ni -cô Lô -pết – một trung tâm đào tạo, bồi dưỡng cán bộ rất quan trọng của Trung ương Đảng Cộng sản Cu -ba. Thay mặt các đồng chí trong Đoàn và nhân danh cá nhân, tôi xin gửi tới các đồng chí và các bạn lời chào đoàn kết và hữu nghị. Chúc mối quan hệ tốt đẹp của chúng ta ngày càng phát triển, mãi mãi gắn bó, giúp đỡ lẫn nhau, cùng vững bước trên con đường đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội (CNXH).

Trong không khí tin cậy, thắm tình đồng chí anh em, tôi xin trao đổi với các đồng chí một số ý kiến chung quanh vấn đề CNXH và con đường đi lên CNXH. Đây là một đề tài lý luận và thực tiễn rất cơ bản, quan trọng, nội dung rất rộng lớn, phong phú và phức tạp, có nhiều cách tiếp cận khác nhau, đòi hỏi phải có sự nghiên cứu rất công phu, nghiêm túc, tổng kết thực tiễn một cách sâu sắc, khoa học. Tôi chỉ xin đề cập một số khía cạnh từ góc nhìn thực tiễn của Việt Nam để các đồng chí tham khảo, cùng trao đổi. Và cũng chỉ tập trung vào trả lời mấy câu hỏi: CNXH là gì? Vì sao Việt Nam lựa chọn con đường xã hội chủ nghĩa (XHCN)? Làm thế nào và bằng cách nào để từng bước xây dựng được CNXH ở Việt Nam? Thực tiễn công cuộc đổi mới, đi lên CNXH ở Việt Nam trong 25 năm qua có ý nghĩa gì và đặt ra vấn đề gì?

Như chúng ta biết, CNXH thường được hiểu với ba tư cách: CNXH là một học thuyết; CNXH là một phong trào; CNXH là một chế độ. Mỗi tư cách ấy lại có nhiều biểu hiện khác nhau, tùy theo thế giới quan và trình độ phát triển ở mỗi giai đoạn lịch sử cụ thể. CNXH đề cập ở đây là CNXH khoa học dựa trên học thuyết Mác – Lê -nin trong thời đại ngày nay.

Trước đây, khi còn Liên Xô và hệ thống các nước XHCN thế giới thì vấn đề đi lên CNXH ở Việt Nam chúng tôi dường như không có gì phải bàn, nó mặc nhiên coi như đã được khẳng định. Nhưng từ sau khi Liên Xô tan rã, chế độ XHCN sụp đổ ở nhiều nước, cách mạng thế giới lâm vào thoái trào thì vấn đề đi lên CNXH lại được đặt ra và trở thành tâm điểm thu hút mọi sự bàn thảo, thậm chí tranh luận gay gắt. Các thế lực chống cộng, cơ hội chính trị thì hí hửng, vui mừng, thừa cơ dấn tới để xuyên tạc, chống phá. Trong hàng ngũ cách mạng cũng có người bi quan, dao động, nghi ngờ tính đúng đắn, khoa học của CNXH, quy kết nguyên nhân tan rã của Liên Xô và các nước XHCN Đông âu là do sai lầm của chủ nghĩa Mác -Lê-nin, CNXH. Từ đó, họ cho rằng chúng ta đã chọn đường sai, cần phải đi con đường khác. Có người phụ họa với các luận điệu thù địch, công kích, bài bác CNXH, ca ngợi một chiều CNTB. Thậm chí có người còn sám hối về một thời đã tin theo chủ nghĩa Mác -Lê-nin và con đường XHCN! Có phải như vậy không? Có phải hiện nay CNTB, kể cả những nước tư bản chủ nghĩa (TBCN) già đời vẫn đang phát triển tốt đẹp không?

Chúng ta thừa nhận rằng, chủ nghĩa tư bản (CNTB) chưa bao giờ mang tính toàn cầu như ngày nay và cũng đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, nhất là trong lĩnh vực giải phóng và phát triển sức sản xuất, phát triển khoa học – công nghệ. Nhiều nước tư bản phát triển, trên cơ sở các điều kiện kinh tế cao và do kết quả đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động đã có những biện pháp điều chỉnh, hình thành được không ít các chế độ phúc lợi xã hội tiến bộ hơn so với trước. Tuy nhiên, nó không thể khắc phục được những mâu thuẫn cơ bản vốn có của nó. Từ giữa thập kỷ 70 và nhất là từ sau khi Liên Xô tan rã, CNTB thế giới đã một lần nữa bộc lộ rõ bản chất của mình bằng việc thúc đẩy các chính sách “tự do mới” trên quy mô toàn cầu. Và hôm nay chúng ta đang chứng kiến những diễn biến của cuộc khủng hoảng tài chính, suy thoái kinh tế, bắt đầu từ năm 2008 ở nước Mỹ, nhanh chóng lan rộng ra các trung tâm TBCN khác và tác động đến hầu hết các nước ở các châu lục. Các nhà nước, các chính phủ tư sản ở phương Tây đã bơm những lượng tiền khổng lồ để cứu các tập đoàn kinh tế xuyên quốc gia, các tổ hợp công nghiệp, tài chính, ngân hàng, thị trường chứng khoán, nhưng chưa thành công. Kinh tế suy thoái đã làm phơi bày sự thật của những bất công xã hội trong các xã hội TBCN: Đời sống của đa số dân cư lao động bị giảm sút nghiêm trọng, thất nghiệp gia tăng; khoảng cách giàu nghèo càng lớn. Những tình huống “phát triển xấu”, những nghịch lý “phản phát triển”, từ địa hạt kinh tế – tài chính đã tràn vào lĩnh vực xã hội, làm bùng nổ các xung đột xã hội và ở không ít nơi từ tình huống kinh tế đã trở thành tình huống chính trị với biểu tình, bãi công, làm rung chuyển cả thể chế. Sự thật đơn giản là bản thân thị trường tự do của CNTB không thể giúp giải quyết được những khó khăn, và trong nhiều trường hợp còn gây ra những tổn hại nghiêm trọng cho các nước nghèo; làm sâu sắc thêm mâu thuẫn giữa lao động và tư bản toàn cầu. Sự thật đó cũng làm phá sản những lý thuyết kinh tế hay mô hình “đồng thuận Oa -sinh-tơn” vốn xưa nay được coi là thời thượng, được không ít các chính khách tư sản ca ngợi, được các chuyên gia của họ coi là tối ưu, hợp lý.

Cùng với khủng hoảng kinh tế – tài chính là khủng hoảng năng lượng, lương thực, sự cạn kiệt của các nguồn tài nguyên thiên nhiên, sự suy thoái của môi trường sinh thái đang đặt ra những thách thức vô cùng lớn cho sự tồn tại và phát triển của nhân loại. Đó là hậu quả của một quá trình phát triển kinh tế – xã hội lấy lợi nhuận làm mục tiêu tối thượng, coi chiếm hữu của cải và tiêu dùng vật chất ngày càng tăng làm thước đo văn minh, lấy lợi ích cá nhân làm trụ cột của xã hội. Đó cũng chính là những đặc trưng cốt yếu của phương thức sản xuất và tiêu dùng TBCN. Các cuộc khủng hoảng đang diễn ra một lần nữa chứng minh tính chất phản tiến bộ, phản nhân văn và không bền vững cả về kinh tế, xã hội và sinh thái của nó; như Mác đã từng nói, CNTB đang hủy hoại chính ngay những nhân tố làm nên sự giàu có của nó là lao động và tài nguyên. Theo nhiều nhà khoa học phân tích, các cuộc khủng hoảng hiện nay không thể giải quyết được một cách triệt để trong khuôn khổ của chế độ TBCN.

Các phong trào phản kháng xã hội bùng nổ mạnh mẽ tại nhiều nước tư bản phát triển trong thời gian qua càng làm bộc lộ rõ sự thật về bản chất của các thể chế chính trị TBCN. Thực tế là các thiết chế dân chủ theo công thức “dân chủ tự do” mà phương Tây ra sức quảng bá, áp đặt lên toàn thế giới không hề đảm bảo để quyền lực thực sự thuộc về nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân – yếu tố bản chất nhất của dân chủ. Hệ thống quyền lực đó vẫn chủ yếu thuộc về thiểu số giàu có và phục vụ cho lợi ích của các tập đoàn tư bản lớn. Một bộ phận rất nhỏ, thậm chí là 1% dân số, nhưng lại chiếm giữ phần lớn của cải, tư liệu sản xuất, kiểm soát phần lớn nguồn tài chính, tri thức và các phương tiện thông tin đại chúng chủ yếu và do đó chi phối toàn xã hội. Sự rêu rao bình đẳng về quyền nhưng không kèm theo sự bình đẳng về điều kiện để thực hiện các quyền đó đã dẫn đến dân chủ vẫn chỉ là hình thức mà không thực chất. Trong đời sống chính trị, một khi quyền lực của đồng tiền chi phối thì quyền lực của nhân dân sẽ bị lấn át. Vì vậy mà tại các nước tư bản phát triển, các cuộc bầu cử được gọi là “tự do” dù có thể thay đổi chính phủ nhưng không thể thay đổi các thế lực thống trị; đằng sau hệ thống đa đảng trên thực tế vẫn là sự chuyên chế của các tập đoàn tư bản.

Chúng ta cần một xã hội mà trong đó sự phát triển là thực sự vì con người, chứ không phải vì lợi nhuận mà bóc lột và chà đạp lên phẩm giá con người. Chúng ta cần sự phát triển về kinh tế đi đôi với tiến bộ và công bằng xã hội, chứ không phải gia tăng khoảng cách giàu nghèo và bất bình đẳng xã hội. Chúng ta cần một xã hội hướng tới các giá trị tiến bộ, nhân văn, một xã hội nhân ái, đoàn kết, tương trợ lẫn nhau, chứ không phải cạnh tranh thắng – thua vì lợi ích vị kỷ của cá nhân và các phe nhóm. Chúng ta cần sự phát triển bền vững, hài hòa với thiên nhiên để bảo đảm môi trường sống trong lành cho các thế hệ hiện tại và tương lai, chứ không phải để khai thác, chiếm đoạt tài nguyên, tiêu dùng vật chất vô hạn và hủy hoại môi trường. Và chúng ta cần một hệ thống chính trị mà quyền lực thực sự thuộc về nhân dân, do nhân dân và phục vụ lợi ích của nhân dân, chứ không phải chỉ cho một thiểu số giàu có. Phải chăng đó chính là những giá trị đích thực của CNXH. Đó cũng chính là mục tiêu, là con đường mà Hồ Chí Minh, Phi-đen Ca -xtrô và nhân dân hai nước chúng ta đã lựa chọn và đang kiên trì, kiên định theo đuổi.

Thưa các đồng chí,

Như các đồng chí và các bạn đã biết, nhân dân Việt Nam đã trải qua một quá trình đấu tranh cách mạng lâu dài, khó khăn, đầy gian khổ hy sinh để chống lại ách đô hộ và sự xâm lược của thực dân, đế quốc, để bảo vệ nền độc lập dân tộc và chủ quyền của đất nước, vì tự do, hạnh phúc của nhân dân với tinh thần “Không có gì quý hơn Độc lập Tự do”.

Độc lập dân tộc gắn liền với CNXH là đường lối cơ bản, xuyên suốt của cách mạng Việt Nam và cũng là điểm cốt yếu trong di sản tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Bằng kinh nghiệm thực tiễn phong phú của mình kết hợp với lý luận cách mạng, khoa học của chủ nghĩa Mác – Lê-nin, Hồ Chí Minh đã đưa ra kết luận sâu sắc rằng, chỉ có CNXH và chủ nghĩa cộng sản mới có thể giải quyết triệt để vấn đề độc lập cho dân tộc, mới có thể đem lại cuộc sống tự do, ấm no và hạnh phúc thực sự cho tất cả mọi người, cho các dân tộc.

Ngay khi mới ra đời và trong suốt quá trình đấu tranh cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn luôn khẳng định: CNXH là mục tiêu, lý tưởng của Đảng Cộng sản và nhân dân Việt Nam; đi lên CNXH là yêu cầu khách quan, là con đường tất yếu của cách mạng Việt Nam. Năm 1930, trong Cương lĩnh chính trị của mình, Đảng Cộng sản Việt Nam đã chủ trương: “Tiến hành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân do giai cấp công nhân lãnh đạo, tiến lên CNXH, bỏ qua giai đoạn TBCN”. Vào những năm cuối thế kỷ XX, mặc dù trên thế giới CNXH hiện thực đã bị đổ vỡ một mảng lớn, hệ thống các nước XHCN không còn, phong trào XHCN đang trong giai đoạn khủng hoảng, thoái trào, gặp rất nhiều khó khăn, Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn tiếp tục khẳng định: “Đảng và nhân dân ta quyết tâm xây dựng đất nước Việt Nam theo con đường XHCN trên nền tảng chủ nghĩa Mác – Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh”. Mới đây, tại Đại hội toàn quốc lần thứ XI (tháng 01-2011) trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (bổ sung, phát triển năm 2011), chúng tôi một lần nữa khẳng định: “Đi lên CNXH là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử”.

Tuy nhiên, CNXH là gì và đi lên CNXH bằng cách nào? Đó là điều mà chúng tôi luôn luôn trăn trở, suy nghĩ, tìm tòi, lựa chọn để từng bước hoàn thiện đường lối, quan điểm, làm sao vừa theo đúng quy luật chung vừa phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam.

Trong những năm tiến hành công cuộc đổi mới, từ tổng kết thực tiễn và nghiên cứu lý luận, Đảng Cộng sản Việt Nam từng bước nhận thức ngày càng đúng đắn hơn, sâu sắc hơn về CNXH và thời kỳ quá độ đi lên CNXH; từng bước khắc phục một số quan niệm đơn giản trước đây như: Đồng nhất mục tiêu cuối cùng của CNXH với nhiệm vụ của giai đoạn trước mắt; nhấn mạnh một chiều quan hệ sản xuất, chế độ phân phối bình quân, không thấy đầy đủ yêu cầu phát triển lực lượng sản xuất trong thời kỳ quá độ; đồng nhất kinh tế thị trường với CNTB; đồng nhất nhà nước pháp quyền với nhà nước tư sản…

Cho đến nay, mặc dù vẫn còn một số vấn đề cần tiếp tục đi sâu nghiên cứu, nhưng chúng tôi đã nhận thức rằng: Xã hội XHCN mà nhân dân Việt Nam đang phấn đấu xây dựng là một xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao, dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; có nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng phát triển; có Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới.

Để thực hiện được mục tiêu đó, chúng tôi phải: Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức; Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN; Xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, xây dựng con người, nâng cao đời sống nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; Bảo đảm vững chắc quốc phòng và an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội; Thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; Xây dựng nền dân chủ XHCN, thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc, tăng cường và mở rộng mặt trận dân tộc thống nhất; Xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh.

Càng đi vào chỉ đạo thực tiễn, Đảng Cộng sản Việt Nam càng nhận thức được rằng, quá độ lên CNXH là một sự nghiệp lâu dài, vô cùng khó khăn và phức tạp, vì nó phải tạo sự biến đổi sâu sắc về chất trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Việt Nam đi lên CNXH từ một nước nông nghiệp lạc hậu, bỏ qua chế độ TBCN, lực lượng sản xuất rất thấp, lại trải qua mấy chục năm chiến tranh, hậu quả rất nặng nề; các thế lực thù địch thường xuyên tìm cách phá hoại cho nên lại càng khó khăn, phức tạp, nhất thiết phải trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài với nhiều bước đi, nhiều hình thức tổ chức kinh tế, xã hội đan xen nhau, có sự đấu tranh giữa cái cũ và cái mới. Nói bỏ qua chế độ TBCN là bỏ qua chế độ áp bức, bất công, bóc lột TBCN; bỏ qua những thói hư tật xấu, những thiết chế, thể chế chính trị không phù hợp với chế độ XHCN, chứ không phải bỏ qua cả những thành tựu, giá trị văn minh mà nhân loại đã đạt được trong thời kỳ phát triển CNTB. Đương nhiên, việc kế thừa những thành tựu này phải trên quan điểm phát triển, có chọn lọc.

Đưa ra quan niệm phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN là một đột phá lý luận rất cơ bản và sáng tạo của Đảng chúng tôi, là thành quả lý luận quan trọng qua hơn 25 năm thực hiện đường lối đổi mới, xuất phát từ thực tiễn Việt Nam và tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của thế giới. Theo nhận thức của chúng tôi, kinh tế thị trường định hướng XHCN là nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN. Đó là một kiểu kinh tế thị trường mới trong lịch sử phát triển của kinh tế thị trường. Nó là một kiểu tổ chức kinh tế vừa tuân theo những quy luật của kinh tế thị trường vừa dựa trên cơ sở và được dẫn dắt, chi phối bởi các nguyên tắc và bản chất của CNXH, thể hiện trên cả ba mặt: Sở hữu, tổ chức quản lý và phân phối, nhằm mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Đây không phải là nền kinh tế thị trường TBCN và cũng chưa phải là kinh tế thị trường XHCN (vì chúng tôi còn đang trong thời kỳ quá độ).

Trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế. Các thành phần kinh tế hoạt động theo pháp luật đều là bộ phận hợp thành quan trọng của nền kinh tế, bình đẳng trước pháp luật cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh. Trong đó, kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo; kinh tế tập thể không ngừng được củng cố và phát triển; kinh tế tư nhân là một trong những động lực của nền kinh tế; kinh tế hỗn hợp, đa sở hữu, nhất là các doanh nghiệp cổ phần ngày càng phát triển; kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân. Quan hệ phân phối bảo đảm công bằng và tạo động lực cho phát triển; thực hiện chế độ phân phối chủ yếu theo kết quả lao động, hiệu quả kinh tế, đồng thời theo mức đóng góp vốn cùng các nguồn lực khác và phân phối thông qua hệ thống an sinh xã hội, phúc lợi xã hội. Nhà nước quản lý nền kinh tế bằng pháp luật, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách và lực lượng vật chất để định hướng, điều tiết, thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội.

Một đặc trưng cơ bản, một thuộc tính quan trọng của định hướng XHCN trong kinh tế thị trường ở Việt Nam là phải gắn kinh tế với xã hội, thống nhất chính sách kinh tế với chính sách xã hội, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước, từng chính sách và trong suốt quá trình phát triển. Điều đó có nghĩa là: Không chờ đến khi kinh tế đạt tới trình độ phát triển cao rồi mới thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, càng không “hy sinh” tiến bộ và công bằng xã hội để chạy theo tăng trưởng kinh tế đơn thuần. Trái lại, mỗi chính sách kinh tế đều phải hướng tới mục tiêu phát triển xã hội; mỗi chính sách xã hội phải nhằm tạo ra động lực thúc đẩy phát triển kinh tế; khuyến khích làm giàu hợp pháp phải đi đôi với xóa đói, giảm nghèo, chăm sóc những người có công, những người có hoàn cảnh khó khăn. Đây là một yêu cầu có tính nguyên tắc để đảm bảo sự phát triển lành mạnh, bền vững, theo định hướng XHCN.

Đảng chúng tôi coi văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội và xác định phát triển văn hóa đồng bộ, tương xứng với tăng trưởng kinh tế và tiến bộ xã hội cũng là một định hướng căn bản của quá trình xây dựng CNXH ở Việt Nam. Nền văn hóa mà Việt Nam xây dựng là nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, một nền văn hóa thống nhất trong đa dạng, dựa trên các giá trị tiến bộ, nhân văn; chủ nghĩa Mác – Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh giữ vai trò chủ đạo trong đời sống tinh thần xã hội, kế thừa và phát huy những giá trị truyền thống tốt đẹp của tất cả các dân tộc trong nước, tiếp thu những thành tựu, tinh hoa văn hóa nhân loại, phấn đấu xây dựng một xã hội văn minh, lành mạnh vì lợi ích chân chính và phẩm giá con người, với trình độ tri thức, đạo đức, thể lực, lối sống và thẩm mỹ ngày càng cao. Chúng tôi xác định: Con người giữ vị trí trung tâm trong chiến lược phát triển; phát triển văn hóa, xây dựng con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của công cuộc đổi mới; phát triển giáo dục – đào tạo và khoa học – công nghệ là quốc sách hàng đầu; bảo vệ môi trường là một trong những vấn đề sống còn, là tiêu chí để phát triển bền vững; xây dựng gia đình hạnh phúc, tiến bộ làm tế bào lành mạnh, vững chắc của xã hội, thực hiện bình đẳng giới là tiêu chí của tiến bộ, văn minh.

Xã hội XHCN là xã hội hướng tới các giá trị tiến bộ, nhân văn, dựa trên nền tảng lợi ích chung của toàn xã hội, khác hẳn về chất so với các xã hội cạnh tranh để chiếm đoạt lợi ích riêng giữa các cá nhân và phe nhóm, do đó cần và có điều kiện để xây dựng sự đồng thuận xã hội thay vì đối lập, đối kháng xã hội. Trong chế độ chính trị XHCN, mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân là mối quan hệ giữa các chủ thể thống nhất về mục tiêu và lợi ích; mọi đường lối của Đảng, chính sách pháp luật và hoạt động của Nhà nước đều vì lợi ích của nhân dân. Mô hình chính trị và cơ chế vận hành tổng quát là Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và nhân dân làm chủ. Dân chủ là bản chất của chế độ XHCN, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của công cuộc xây dựng CNXH; xây dựng nền dân chủ XHCN, bảo đảm quyền lực thực sự thuộc về nhân dân là một nhiệm vụ trọng yếu, lâu dài của cách mạng Việt Nam. Chúng tôi chủ trương không ngừng phát huy dân chủ, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN thực sự của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, trên cơ sở liên minh giữa công nhân, nông dân và trí thức do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Nhà nước đại diện cho quyền làm chủ của nhân dân, đồng thời là người tổ chức thực hiện đường lối của Đảng; có cơ chế để nhân dân thực hiện quyền làm chủ trực tiếp trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, tham gia quản lý xã hội. Chúng tôi nhận thức rằng, nhà nước pháp quyền XHCN về bản chất khác với nhà nước pháp quyền tư sản là ở chỗ: Pháp quyền dưới chế độ TBCN về thực chất là công cụ bảo vệ và phục vụ cho lợi ích của giai cấp tư sản, còn pháp quyền dưới chế độ XHCN là công cụ thể hiện và thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, bảo vệ lợi ích của đại đa số nhân dân. Thông qua thực thi pháp luật, Nhà nước bảo đảm các điều kiện để nhân dân là chủ thể của quyền lực chính trị, thực hiện chuyên chính với mọi hành động xâm hại lợi ích của Tổ quốc và nhân dân. Đồng thời, chúng tôi xác định đại đoàn kết toàn dân tộc là nguồn sức mạnh và là nhân tố có ý nghĩa quyết định bảo đảm thắng lợi bền vững của sự nghiệp cách mạng ở Việt Nam; không ngừng thúc đẩy sự bình đẳng và đoàn kết giữa các dân tộc, tôn giáo.

Nhận thức sâu sắc sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản là nhân tố quyết định thắng lợi của công cuộc đổi mới và bảo đảm cho đất nước phát triển theo đúng định hướng XHCN, chúng tôi đặc biệt chú trọng công tác xây dựng Đảng, coi đây là nhiệm vụ then chốt, có ý nghĩa sống còn đối với Đảng và chế độ XHCN. Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam; Đảng ra đời, tồn tại và phát triển là vì lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc. Khi Đảng cầm quyền, lãnh đạo cả dân tộc, được toàn dân thừa nhận là đội tiên phong lãnh đạo của mình và do đó, Đảng là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của cả dân tộc Việt Nam. Nói như vậy không có nghĩa là hạ thấp bản chất giai cấp của Đảng, mà là thể hiện sự nhận thức bản chất giai cấp của Đảng một cách sâu sắc hơn, đầy đủ hơn, vì giai cấp công nhân là giai cấp có lợi ích thống nhất với lợi ích của nhân dân lao động và toàn dân tộc. Đảng chúng tôi kiên trì lấy chủ nghĩa Mác – Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động cách mạng, lấy tập trung dân chủ làm nguyên tắc tổ chức cơ bản. Đảng lãnh đạo bằng cương lĩnh, chiến lược, các định hướng về chính sách và chủ trương lớn; bằng công tác tuyên truyền, thuyết phục, vận động, tổ chức, kiểm tra, giám sát và bằng hành động gương mẫu của đảng viên; thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ. ý thức được nguy cơ đối với đảng cầm quyền là tham nhũng, quan liêu, thoái hóa v.v…, nhất là trong điều kiện kinh tế thị trường, Đảng Cộng sản Việt Nam đặt ra yêu cầu phải thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn, đấu tranh chống chủ nghĩa cơ hội, chủ nghĩa cá nhân, chống tham nhũng, quan liêu, lãng phí, thoái hóa v.v.. trong nội bộ Đảng và trong toàn bộ hệ thống chính trị.

Thưa các đồng chí,

Công cuộc đổi mới, trong đó có việc phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN đã thực sự đem lại những thay đổi tích cực cho đất nước chúng tôi trong hơn 25 năm qua. Việt Nam vốn là một nước nghèo lại bị chiến tranh tàn phá rất nặng nề, để lại những hậu quả hết sức to lớn cả về người, về của và môi trường sinh thái. Tôi chỉ nêu thí dụ, cho đến nay vẫn có hàng triệu người chịu các bệnh hiểm nghèo và hàng trăm nghìn trẻ em bị dị tật bẩm sinh bởi tác động của chất độc da cam /đi-ô-xin do quân đội Mỹ sử dụng trong thời gian chiến tranh ở Việt Nam. Theo các chuyên gia, phải mất đến hơn 100 năm nữa Việt Nam mới có thể dọn sạch hết bom mìn còn sót lại sau chiến tranh; riêng tại tỉnh Quảng Trị, nơi mà đồng chí Phi -đen đến thăm năm 1973, vẫn có đến 45% diện tích đất nông nghiệp còn có bom mìn sót lại. Sau chiến tranh, Mỹ và phương Tây đã áp đặt cấm vận kinh tế với Việt Nam trong suốt gần 20 năm. Tình hình khu vực và quốc tế cũng diễn biến phức tạp, gây nhiều bất lợi cho chúng tôi. Lương thực, hàng hóa nhu yếu phẩm hết sức thiếu thốn, đời sống nhân dân hết sức khó khăn, khoảng 3/4 dân số sống dưới mức nghèo khổ. Đó là một thực tế ở Việt Nam trong thời kỳ trước đổi mới.

Nhờ thực hiện đường lối đổi mới, nền kinh tế bắt đầu phát triển và phát triển liên tục với tốc độ tương đối cao trong suốt 25 năm qua với mức tăng trưởng trung bình đạt 7 – 8% mỗi năm. Thu nhập bình quân đầu người tăng gấp gần 11 lần; Việt Nam đã ra khỏi nhóm các nước có thu nhập thấp từ năm 2008. Từ một nước bị thiếu lương thực triền miên, đến nay Việt Nam không chỉ đã đảm bảo được an ninh lương thực mà còn trở thành một nước xuất khẩu gạo và nhiều nông sản khác đứng hàng đầu thế giới. Công nghiệp phát triển khá nhanh, tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ liên tục tăng và hiện nay chiếm khoảng 80% GDP. Xuất khẩu cũng tăng mạnh, đạt xấp xỉ 100 tỷ USD năm 2011. Đầu tư nước ngoài tăng nhanh, đăng ký đạt gần 200 tỷ USD vào cuối năm 2011. Về cơ cấu nền kinh tế xét trên phương diện quan hệ sở hữu, tổng sản phẩm quốc nội của Việt Nam hiện nay gồm khoảng 34% từ kinh tế nhà nước, 5% từ kinh tế tập thể, 31% từ kinh tế hộ, 11% từ kinh tế tư nhân trong nước và 19% từ khu vực có vốn đầu tư nước ngoài.

Hiện dân số của Việt Nam là hơn 86 triệu người, gồm 54 dân tộc anh em, trong đó hơn 70% số dân sống ở nông thôn. Phát triển kinh tế đã giúp đất nước thoát khỏi tình trạng khủng hoảng kinh tế – xã hội những năm 80 và cải thiện đáng kể đời sống của nhân dân. Tỷ lệ người nghèo trung bình mỗi năm giảm từ 2 – 3% và cứ 10 năm giảm còn một nửa; giảm từ 75% năm 1986 xuống còn 9,5% năm 2010. Đến nay, hầu hết các xã nông thôn đều có đường ô tô đến trung tâm, có điện lưới quốc gia, trường tiểu học và trung học cơ sở, trạm y tế và điện thoại. Trong khi chưa có điều kiện để đảm bảo giáo dục miễn phí cho mọi người ở tất cả các cấp, Việt Nam tập trung hoàn thành xóa mù chữ, phổ cập giáo dục tiểu học vào năm 2000 và phổ cập giáo dục trung học cơ sở năm 2010; số sinh viên đại học, cao đẳng tăng gấp 9 lần trong 25 năm qua. Hiện nay, Việt Nam có 95% người lớn biết đọc, biết viết. Trong khi chưa thực hiện được việc đảm bảo cung cấp dịch vụ y tế miễn phí cho toàn dân, Việt Nam tập trung vào việc tăng cường y tế phòng ngừa, phòng chống dịch bệnh, hỗ trợ các đối tượng có hoàn cảnh khó khăn. Nhiều dịch bệnh vốn phổ biến trước đây đã được khống chế thành công. Người nghèo, trẻ em dưới 6 tuổi và người cao tuổi được cấp bảo hiểm y tế miễn phí. Tỷ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ em giảm gần 3 lần; tỷ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh giảm khoảng 6 lần. Tuổi thọ trung bình của dân cư tăng từ 62 tuổi năm 1990 lên 73 tuổi năm 2010. Cũng nhờ kinh tế có bước phát triển nên chúng tôi đã có điều kiện để chăm sóc tốt hơn những người có công, phụng dưỡng các Bà mẹ Việt Nam anh hùng, chăm lo cho phần mộ của các liệt sĩ đã hy sinh cho Tổ quốc. Đời sống văn hóa cũng được cải thiện đáng kể; sinh hoạt văn hóa phát triển phong phú, đa dạng. Hiện Việt Nam có khoảng 25 triệu người sử dụng internet, là một trong những nước có tốc độ phát triển công nghệ tin học cao nhất thế giới. Liên hợp quốc đã công nhận Việt Nam là một trong những nước đi đầu trong việc hiện thực hóa các Mục tiêu Thiên niên kỷ.

Như vậy, có thể nói, việc thực hiện đường lối đổi mới đã đem lại những chuyển biến hết sức tích cực ở Việt Nam: Kinh tế phát triển, lực lượng sản xuất được tăng cường; nghèo đói giảm nhanh, liên tục; đời sống nhân dân được cải thiện, nhiều vấn đề xã hội được giải quyết; chính trị, xã hội ổn định, an ninh được đảm bảo; thế và lực của quốc gia được tăng cường; niềm tin của quần chúng nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng được củng cố. Tổng kết 20 năm đổi mới, Đại hội Đảng lần thứ X của chúng tôi đã nhận định, sự nghiệp đổi mới đã giành được “những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử”. Trên thực tế, xét trên nhiều phương diện, người dân Việt Nam ngày nay đang có các điều kiện sống tốt hơn so với bất cứ thời kỳ nào trước đây. Đó là một trong những lý do giải thích vì sao sự nghiệp đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo được toàn dân Việt Nam đồng tình, hưởng ứng và tích cực phấn đấu thực hiện. Những thành tựu đổi mới tại Việt Nam đã chứng minh rằng, phát triển theo định hướng XHCN không những có hiệu quả tích cực về kinh tế mà còn giải quyết được các vấn đề xã hội tốt hơn nhiều so với các nước TBCN có cùng mức phát triển kinh tế.

Thưa các đồng chí,

Bên cạnh những thành tựu, mặt tích cực là cơ bản, chúng tôi cũng còn không ít khuyết điểm, hạn chế và đang phải đối mặt với những thách thức mới trong quá trình phát triển đất nước.

Về kinh tế, chất lượng tăng trưởng còn thấp, thiếu bền vững; hạ tầng cơ sở thiếu đồng bộ; hiệu quả và năng lực của nhiều doanh nghiệp, trong đó có doanh nghiệp nhà nước còn hạn chế; môi trường bị ô nhiễm tại nhiều nơi; công tác quản lý, điều tiết thị trường còn nhiều bất cập. Trong khi đó, sự cạnh tranh đang diễn ra ngày càng quyết liệt trong quá trình toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế.

Về xã hội, khoảng cách giàu nghèo gia tăng; chất lượng giáo dục, chăm sóc y tế và nhiều dịch vụ công ích khác còn nhiều hạn chế; văn hoá, đạo đức xã hội có mặt xuống cấp; tội phạm và các tệ nạn xã hội diễn biến phức tạp. Đặc biệt, hiện tượng tham nhũng, lãng phí, sa sút về tư tưởng chính trị và đạo đức, lối sống có xu hướng lan rộng trong không ít cán bộ, đảng viên. Điều không thể không nhắc đến là các thế lực thù địch luôn tìm mọi thủ đoạn để can thiệp, chống phá, gây mất ổn định, thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình” nhằm xóa bỏ CNXH ở Việt Nam.

Chúng tôi nhận thức rằng, hiện nay Việt Nam đang trong quá trình xây dựng, quá độ lên CNXH, hướng tới CNXH. Trong thời kỳ quá độ, các nhân tố XHCN được hình thành, xác lập và phát triển đan xen, cạnh tranh với các nhân tố phi XHCN, gồm cả các nhân tố TBCN trên một số lĩnh vực. Sự đan xen, cạnh tranh này càng phức tạp và quyết liệt trong điều kiện cơ chế thị trường và mở cửa, hội nhập quốc tế. Bên cạnh các mặt thành tựu, tích cực, sẽ luôn có những mặt tiêu cực, thách thức cần được xem xét một cách tỉnh táo và xử lý một cách kịp thời, hiệu quả. Đó là cuộc đấu tranh rất gay go, gian khổ, đòi hỏi phải có tầm nhìn mới, bản lĩnh mới và sức sáng tạo mới. Đi lên theo định hướng XHCN là một quá trình không ngừng củng cố, tăng cường các nhân tố XHCN để các nhân tố đó ngày càng chi phối, áp đảo và tiến tới không thể đảo ngược được. Thành công hay thất bại là phụ thuộc trước hết vào sự đúng đắn của đường lối, bản lĩnh chính trị, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng.

Hiện nay, chúng tôi đang đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế theo hướng chú trọng hơn chất lượng và tăng tính bền vững với các khâu đột phá là phát triển hạ tầng cơ sở, phát triển nguồn nhân lực và cải cách hành chính. Về xã hội, chúng tôi tiếp tục đẩy mạnh công tác giảm nghèo bền vững, nâng cao chất lượng y tế, giáo dục và các dịch vụ công ích khác, nâng cao hơn nữa đời sống văn hóa cho nhân dân. Toàn Đảng, toàn dân và toàn quân đang ra sức học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Vừa qua, Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã ra Nghị quyết “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” với quyết tâm ngăn chặn và đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ đảng viên, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, thực hiện tốt hơn nữa các nguyên tắc tổ chức xây dựng Đảng, nhằm làm cho tổ chức đảng và bộ máy nhà nước ngày càng trong sạch, vững mạnh, giữ vững bản chất cách mạng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng.

Cả lý luận và thực tiễn đều cho thấy, xây dựng CNXH là kiến tạo một kiểu xã hội mới về chất, hoàn toàn không hề đơn giản, dễ dàng. Đây là cả một sự nghiệp sáng tạo vĩ đại, đầy thử thách, khó khăn, một sự nghiệp tự giác, liên tục, hướng đích lâu dài. Vì vậy, bên cạnh việc bảo đảm vai trò lãnh đạo của Đảng, phải phát huy mạnh mẽ vai trò sáng tạo, sự ủng hộ và tham gia tích cực của nhân dân. Nhân dân tiếp nhận, ủng hộ và nhiệt tình tham gia thực hiện đường lối của Đảng vì thấy nó đáp ứng đúng yêu cầu, nguyện vọng của mình. Sức mạnh nhân dân là cội nguồn sâu xa của thắng lợi, của phát triển.

Mặt khác, Đảng lãnh đạo và cầm quyền, trong khi xác định phương hướng chính trị và đề ra quyết sách không thể chỉ xuất phát từ thực tiễn của đất nước và dân tộc mình mà còn phải từ thực tiễn thế giới và thời đại. Trong thế giới toàn cầu hóa như hiện nay, phát triển của mỗi quốc gia – dân tộc không thể biệt lập, ở bên ngoài những tác động của thế giới và thời đại, của thời cuộc và cục diện của nó. Chính vì vậy, chúng tôi chủ trương phải chủ động và tích cực hội nhập quốc tế, thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ quốc tế trên cơ sở tôn trọng độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng, cùng có lợi.

Và điều hết sức quan trọng là phải luôn luôn kiên định và đứng vững trên nền tảng tư tưởng lý luận của chủ nghĩa Mác – Lê-nin – học thuyết khoa học và cách mạng của giai cấp công nhân và quần chúng lao động. Tính khoa học và cách mạng triệt để của chủ nghĩa Mác – Lê-nin là những giá trị bền vững, đã và đang được những người cách mạng theo đuổi và thực hiện. Nó sẽ còn tiếp tục phát triển và có sức sống trong thực tiễn cách mạng cũng như trong thực tiễn phát triển của khoa học. Chúng ta cần tiếp thu, bổ sung một cách có chọn lọc trên tinh thần phê phán và sáng tạo những thành tựu mới nhất về tư tưởng và khoa học để chủ nghĩa, học thuyết của chúng ta luôn luôn tươi mới, luôn luôn được tiếp thêm sinh lực mới, mang hơi thở của thời đại, không rơi vào xơ cứng, trì trệ, lạc hậu so với cuộc sống.

Thưa các đồng chí và các bạn,

Trên đây tôi đã giới thiệu vắn tắt với các đồng chí và các bạn một số vấn đề về CNXH và con đường đi lên CNXH từ thực tiễn công cuộc đổi mới ở Việt Nam để các đồng chí tham khảo. Chúng tôi ý thức được rằng, đây là công việc vô cùng phức tạp đối với chúng tôi, là công việc chưa có tiền lệ, phải vừa làm vừa mò mẫm, rút kinh nghiệm; vừa qua mới chỉ là những bước đi ban đầu, còn rất hạn chế. Rất mong được các đồng chí góp ý. Vả lại, chúng ta đều biết, mục tiêu của CNXH có thể giống nhau nhưng biện pháp, cách đi đến các mục tiêu đó có thể rất đa dạng, phụ thuộc vào điều kiện cụ thể của mỗi nước. Đó là cả một không gian sáng tạo to lớn, đầy sức sống.

Sau khi CNXH sụp đổ ở Liên Xô và Đông âu, một số nhà tư tưởng phương Tây đã tuyên bố về “sự cáo chung của lịch sử”. Nhiều chính khách và phần tử cơ hội đã dự báo về sự sụp đổ tiếp theo của các nước XHCN còn lại trên thế giới. Nhưng lịch sử đã không diễn ra như họ nghĩ. Trung Quốc, Việt Nam, Lào, …đang đổi mới thành công, giành được nhiều thành tựu và tiếp tục vững bước đi lên CNXH. Cu -ba vẫn hiên ngang đứng vững, vẫn là tấm gương sáng về tiến bộ và công bằng xã hội, về đoàn kết quốc tế, về tinh thần bất khuất vì tự do cho các dân tộc và phẩm giá con người. Và những bước tiến cách mạng đang diễn ra ở Vê -nê-xu-ê-la, Bô-li-vi-a, ê-cu-a-đo… cùng sự lớn mạnh của các phong trào cánh tả tại nhiều nước Mỹ La -tinh khác thể hiện trào lưu hướng tới CNXH đang nổi lên mạnh mẽ tại Tây Bán cầu này. Các nước XHCN khác tại châu á vẫn tiếp tục con đường tiến lên phía trước. Nhiều đảng cánh tả, các phong trào nhân dân tiến bộ các nước tại các châu lục ngày càng giương cao khẩu hiệu đấu tranh vì CNXH và xác định ngày càng rõ rằng đây là sự lựa chọn duy nhất đúng để vượt qua những bế tắc của mô hình phát triển đang khủng hoảng hiện nay. Đó là những bằng chứng đầy khích lệ về sức sống của CNXH.

Thưa các đồng chí,

Chúng tôi rất vui mừng được biết, Đảng Cộng sản Cu -ba tại Đại hội VI (tháng 4-2011) và Hội nghị toàn quốc của Đảng (tháng 01-2012) vừa qua, đã có những quyết sách chiến lược quan trọng để tạo động lực mới phát triển kinh tế, cải thiện đời sống nhân dân và tăng cường công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Chúng tôi tin tưởng sâu sắc rằng, nhân dân Cu -ba dũng cảm, anh hùng trong chiến đấu, bảo vệ Tổ quốc, sáng tạo và năng động trong xây dựng đất nước nhất định sẽ đạt được những thành tựu to lớn, đưa Cu -ba vượt qua những khó khăn trên con đường phát triển, xây dựng thành công CNXH ở Cu -ba. Chúng tôi mong muốn, hai Đảng và hai nước chúng ta sẽ tiếp tục cùng sát cánh bên nhau vững bước trên con đường vì độc lập dân tộc và CNXH.

Đó cũng là niềm tin và tình cảm của chúng tôi gửi tới các đồng chí.

QĐND
qdnd.vn

Lợi dụng vấn đề tự do ngôn luận để can thiệp

Đối tượng Vi Đức Hồi. Ảnh: Internet

QĐND – Tại phiên tòa sơ thẩm ngày 26-1-2011, TAND tỉnh Lạng Sơn đã tuyên án 8 năm tù giam và 5 năm quản chế tại địa phương sau khi mãn hạn tù đối với Vi Đức Hồi vì tội “Tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, theo Điều 88 Bộ luật Hình sự. Sau phiên tòa, Vi Đức Hồi đã có đơn kháng án. Trong phiên phúc thẩm hôm 26-4, căn cứ vào thái độ thành khẩn và hợp tác trong quá trình làm việc… Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn đã giảm án cho Vi Đức Hồi xuống còn 5 năm tù giam và 3 năm quản chế tại địa phương sau khi mãn hạn tù.

Thực tế là vậy nhưng khi đưa tin về phiên tòa, Đài RFI dẫn nguồn vu vơ rằng: “Theo những nhà bảo vệ nhân quyền, tội danh “tuyên truyền chống Nhà nước” thường được Việt Nam sử dụng để hình sự hóa quyền tự do ngôn luận… Trả lời AFP về kết quả phiên tòa, ông Phil Robertson, Phó giám đốc đặc trách châu Á của tổ chức Human Rights Watch, cho rằng: Đây vẫn là một bản án nặng nề đối với một người “đã không làm gì khác ngoài việc bày tỏ những ý kiến đối lập với Chính phủ Việt Nam”. Trước đó Human Rights Watch còn kêu gọi trả tự do cho Vi Đức Hồi.

Cần khẳng định rõ rằng, ở Việt Nam không có chuyện sử dụng tội danh “tuyên truyền chống Nhà nước” để hình sự hóa quyền tự do ngôn luận. Nhà nước Việt Nam luôn tôn trọng và bảo đảm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí của công dân. Điều này đã được quy định rõ trong Hiến pháp, pháp luật, trong đó có Điều 88 Bộ luật Hình sự. Những thành tựu của Việt Nam trong thực hiện quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí đã được phần lớn các quốc gia, các tổ chức quốc tế và nhân dân trên thế giới ghi nhận và đánh giá cao.

Hành vi lợi dụng quyền tự do ngôn luận để tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam của Vi Đức Hồi là rất rõ ràng. Nhận xét của ông Phil Robertson là không có cơ sở. Nhà nước Việt Nam sẵn sàng làm tất cả để bảo vệ quyền tự do ngôn luận của công dân. Nhưng cũng như mọi quốc gia khác trên thế giới, Việt Nam phải quản lý, kiểm soát việc thực hiện quyền ấy theo đúng quy định của pháp luật và xử lý nghiêm minh nếu ai đó cố tình lợi dụng quyền tự do ngôn luận để thực hiện những hành vi vi phạm pháp luật. Nhà nước Việt Nam kiên quyết lên án, phản đối bất kỳ thế lực nào sử dụng vấn đề tự do ngôn luận làm cái cớ để can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam.

Kim Ngọc
qdnd.vn

Không thể xuyên tạc và phủ nhận quyền tự do báo chí ở Việt Nam

QĐND – Một quốc gia độc lập, tất cả công dân đều có quyền tự do trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí. Quyền tự do này đã được bảo đảm bằng Hiến pháp, pháp luật và được thực thi trong thực tiễn. Vậy mà vẫn có người không hiểu hoặc cố tình không hiểu cho rằng, ở đó không có tự do báo chí. Một quốc gia có tốc độ phát triển internet vào loại nhanh nhất thế giới, thế mà cũng có người xuyên tạc rằng “internet đã bị hạn chế ở đây”. Quốc gia nói trên chính là đất nước Việt Nam thân yêu của chúng ta.

Hiến pháp, luật cơ bản và có hiệu lực pháp lý cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã khẳng định: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí , có quyền được thông tin; có quyền hội họp, lập hội, biểu tình theo quy định của pháp luật”. Để bảo đảm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí của mọi công dân được thực thi trong cuộc sống theo quy định của Hiến pháp, Quốc hội đã ban hành Luật Báo chí, Luật Xuất bản và Chính phủ cũng đã ban hành rất nhiều văn bản quy phạm pháp luật, tạo hành lang pháp lý cho báo chí Việt Nam phát triển.

Điều 2 của Luật Báo chí ghi rõ: “Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi để công dân thực hiện quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí và để báo chí phát huy đúng vai trò của mình. Báo chí, nhà báo hoạt động trong khuôn khổ pháp luật và được Nhà nước bảo hộ; không một tổ chức, cá nhân nào được hạn chế, cản trở báo chí, nhà báo hoạt động. Không ai được lạm dụng quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí để xâm phạm lợi ích của Nhà nước, tập thể và công dân. Báo chí không bị kiểm duyệt trước khi in, phát sóng”. Điều 4 của Luật Báo chí cũng khẳng định, mọi công dân Việt Nam đều có quyền “Tiếp xúc, cung cấp thông tin cho cơ quan báo chí và nhà báo; gửi tin, bài, ảnh và các tác phẩm khác cho báo chí mà không chịu sự kiểm duyệt của tổ chức, cá nhân nào và chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung thông tin”.

Như vậy, quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí ở Việt Nam đã được bảo đảm bằng hệ thống pháp luật chặt chẽ, rõ ràng và minh bạch. Điều này, nhiều nước trên thế giới chưa có được.

Trong mấy năm gần đây, báo chí Việt Nam đã có sự phát triển vượt bậc về loại hình và số lượng cơ quan báo chí, bao gồm báo in, báo nói, báo hình, báo điện tử. Đến nay, cả nước có khoảng 750 cơ quan báo chí với hàng nghìn ấn phẩm (bằng cả tiếng Việt và tiếng nước ngoài). Đó là chưa kể tới hàng nghìn trang thông tin điện tử, hàng vạn blog của cá nhân… Các cơ quan báo chí ở Việt Nam đều được pháp luật bảo hộ, đều có đầy đủ các thông tin cần thiết bảo đảm cho mọi công dân đều có thể gửi tin, bài, ảnh, tác phẩm báo chí cho tòa soạn. Khác với một số tờ báo của nước ngoài, báo chí Việt Nam một mặt thông tin đầy đủ, chính xác mọi mặt hoạt động của xã hội, một mặt là diễn đàn của đông đảo các tầng lớp nhân dân. Báo chí Việt Nam là nơi để công dân Việt Nam và cả bạn bè quốc tế bày tỏ tâm tư, nguyện vọng với Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Báo chí Việt Nam còn là kênh phản biện quan trọng về những chủ trương chính sách kinh tế-xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại của đất nước. Thực tế, thời gian qua nhiều vấn đề quan trọng của đất nước, qua sự phản biện của báo chí đã giúp cho các cơ quan của Nhà nước thay đổi chính sách, thận trọng trước khi quyết định như: Dự án đường sắt cao tốc Bắc-Nam, dự án thay nước Hồ Tây, dự án xây dựng khách sạn ở Công viên Thống Nhất (Hà Nội), xây dựng đường trục Thăng Long…

Để bảo vệ quyền lợi chính đáng của các nhà báo, Việt Nam có Hội Nhà báo Việt Nam và các tổ chức Hội Nhà báo các địa phương với hàng vạn hội viên. Hội Nhà báo Việt Nam là thành viên của Hội Nhà báo quốc tế (OIJ) và Liên đoàn Báo chí ASEAN (CAJ) trong nhiều năm qua, tham gia tích cực và đóng góp xứng đáng vào sự phát triển của báo chí khu vực và thế giới.

Những người cho rằng “ở Việt Nam, internet bị hạn chế, bị ngăn cấm” có lẽ họ chưa đến Việt Nam hoặc chưa biết rằng, Việt Nam đã trở thành quốc gia hàng đầu trong khu vực về phát triển internet, với hệ thống hạ tầng ngày càng hiện đại, phát triển đến mọi vùng đất nước, với hơn 28 triệu thuê bao (chiếm 31,5% dân số). Nghị định số 55/2001/NĐ-CP, ngày 23-8-2001 của Chính phủ Việt Nam đã quy định: “Không ai được ngăn cản quyền sử dụng hợp pháp các dịch vụ internet…”. Thực tế tại Việt Nam đã khẳng định Nhà nước Việt Nam không ngăn cấm internet. Chúng ta chỉ ngăn cấm những tổ chức và cá nhân nào lợi dụng internet để phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đoàn kết quốc tế; gây rối loạn an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội; vi phạm đạo đức, thuần phong mỹ tục và các vi phạm pháp luật khác của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Lại có ý kiến quy chụp rằng “Phải có báo tư nhân mới là biểu hiện cụ thể của tự do báo chí”. Xin thưa lại với những tác giả của những ý kiến này rằng: Điều căn bản cốt yếu nhất của tự do báo chí là báo chí có thực sự là diễn đàn phản ánh chân thực, đầy đủ được tiếng nói của mọi người dân, trên mọi phương diện của đời sống hay không. Những tờ báo hiện nay của các cơ quan Đảng, nhà nước, đoàn thể chính trị, xã hội, tổ chức nghề nghiệp… ở Việt Nam đã phản ánh đầy đủ những ý kiến, nguyện vọng chính đáng của tất cả các tầng lớp nhân dân. Vì vậy, việc ra báo tư nhân là không cần thiết. Mặt khác, không phải cứ có báo tư nhân mới có tự do báo chí.

Báo chí Việt Nam đã, đang và sẽ tiếp tục đồng hành cùng dân tộc Việt Nam, cùng nhân dân Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Quyền tự do báo chí của người dân Việt Nam, của các nhà báo Việt Nam được pháp luật và Nhà nước bảo hộ. Đó là thực tế hiển nhiên không thể xuyên tạc và phủ nhận.

Đỗ Phú Thọ
qdnd.vn

This entry was posted on Tháng Chín 14, 2012, in Chính luận.

Gìn giữ và phát triển quan hệ hữu nghị truyền thống, hợp tác thiết thực Việt – Trung

QĐND – Chuyến thăm chính thức của Tổng bí thư Ban Chấp hành Trung ương ĐCS Việt Nam Nguyễn Phú Trọng tới Trung Quốc theo lời mời của Tổng bí thư ĐCS Trung Quốc, Chủ tịch nước CHND Trung Hoa Hồ Cẩm Đào, từ ngày 11 đến 15-10-2011 là sự kiện chính trị có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong quan hệ hữu nghị truyền thống Việt – Trung. Hai nhà lãnh đạo cao nhất của Việt Nam và Trung Quốc sẽ trao đổi về quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện giữa hai nước và những vấn đề còn tồn đọng trong quan hệ hai bên.

Đây là chuyến thăm đầu tiên của đồng chí Nguyễn Phú Trọng trên cương vị Tổng bí thư BCH Trung ương ĐCS Việt Nam tới Trung Quốc sau khi Việt Nam tổ chức thành công Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI, bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIII; bầu Ban lãnh đạo mới của Đảng, Nhà nước, Chính phủ và Quốc hội; đồng thời tích cực triển khai đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển. Trong khi đó, Trung Quốc mới kỷ niệm 90 năm thành lập ĐCS Trung Quốc, bắt đầu triển khai thực hiện quy hoạch phát triển 5 năm lần thứ 12 và đang tiến hành các bước chuẩn bị tiến tới Đại hội lần thứ XVIII. Qua hơn 30 năm cải cách mở cửa, nhân dân Trung Quốc đã đạt được những thành tựu kỳ diệu trong phát triển, đặc biệt Trung Quốc đã vươn lên để trở thành nền kinh tế lớn thứ hai trên thế giới.

Vào ngày 18-1-1950, chỉ vài tháng sau khi ra đời, nước CHND Trung Hoa đã trở thành nhà nước đầu tiên trên thế giới công nhận và thiết lập quan hệ ngoại giao với nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là CHXHCN Việt Nam). Đó là dấu mốc lịch sử quan trọng trong mối quan hệ lâu đời giữa hai nước, là nguồn cổ vũ mạnh mẽ đối với cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam, tạo thuận lợi cho quan hệ hai nước phát triển về mọi mặt. Nhân dân Việt Nam luôn ghi nhớ với lòng biết ơn sâu sắc sự ủng hộ và giúp đỡ to lớn của Đảng, Chính phủ và nhân dân Trung Quốc dành cho nhân dân Việt Nam trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc trước đây và sự nghiệp xây dựng đất nước hiện nay.

Hơn 60 năm qua, đặc biệt là trong 20 năm kể từ khi hai nước bình thường hóa quan hệ (1991), quan hệ hữu nghị và hợp tác cùng có lợi giữa hai nước mặc dù trải qua nhiều thử thách, nhưng vẫn phát triển nhanh chóng, sâu rộng, mạnh mẽ và toàn diện trên tất cả các lĩnh vực, mang lại lợi ích thiết thực cho cả hai bên. Các chuyến thăm và gặp gỡ của lãnh đạo cấp cao hai nước được duy trì thường xuyên; giao lưu và hợp tác song phương trên nhiều lĩnh vực ngày càng được mở rộng và có hiệu quả. Đặc biệt là thỏa thuận của lãnh đạo cấp cao hai nước về việc xây dựng quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Việt Nam – Trung Quốc trên cơ sở phương châm “16 chữ” và tinh thần “4 tốt” đã tạo động lực mới quan trọng đưa quan hệ hai nước phát triển lên tầm cao mới. Việc hai bên đã phối hợp hoàn thành công tác phân giới, cắm mốc trên toàn tuyến biên giới Việt – Trung trên đất liền; thiết lập và phát huy tốt vai trò của các cơ chế hợp tác song phương; quan hệ hợp tác kinh tế-thương mại phát triển nhanh chóng; giao lưu giữa các đoàn thể quần chúng, các tổ chức nhân dân, nhất là giữa thanh-thiếu niên hai nước ngày càng gia tăng… đã góp phần làm cho mối tình hữu nghị và hợp tác Việt – Trung do Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chủ tịch Mao Trạch Đông đích thân xây dựng, các nhà cách mạng tiền bối và các thế hệ lãnh đạo hai nước dày công vun đắp, không ngừng phát triển, trở thành tài sản chung vô giá của hai dân tộc. Mối quan hệ này đang được cán bộ đảng viên, nhân dân hai nước và các thế hệ mai sau không ngừng giữ gìn, vun đắp. Lịch sử cho thấy, việc không ngừng củng cố và phát triển quan hệ hữu nghị, hợp tác giữa hai nước là hoàn toàn phù hợp với lợi ích căn bản và lâu dài của nhân dân hai nước, góp phần củng cố hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển ở khu vực cũng như trên thế giới.

Hợp tác giữa hai Đảng trong thời gian qua được đẩy mạnh. Hai bên duy trì trao đổi đoàn và thiết lập cơ chế hợp tác, giao lưu giữa các ban Đảng. Trung Quốc đã nối lại việc bồi dưỡng, đào tạo cán bộ cao cấp và trung cấp cho Việt Nam. Hai Đảng cũng tích cực trao đổi kinh nghiệm, lý luận xây dựng Đảng và xây dựng đất nước trong điều kiện mới. Quan hệ giữa các ngành ngoại giao, quốc phòng – an ninh của hai nước tiếp tục được tăng cường với những thỏa thuận hợp tác song phương thiết thực, cụ thể đã được ký kết. Riêng trong lĩnh vực hợp tác quốc phòng, hai bên đã thống nhất tăng cường hợp tác hải quân thông qua hoạt động như thiết lập đường dây nóng, tuần tra liên hợp để bảo đảm an toàn hàng hải và khuyến khích ngư dân hai bên tuân thủ luật lệ quốc tế. Trong hai năm qua, hai bên đã tiến hành thành công hai cuộc đối thoại chiến lược quốc phòng và an ninh tại Hà Nội và Bắc Kinh. Bên cạnh đó, việc giao lưu, trao đổi đoàn và hợp tác giữa các địa phương của hai bên cũng diễn ra thường xuyên, mang lại những thành quả thiết thực. Hợp tác song phương trong các lĩnh vực giáo dục – đào tạo, văn hóa, thể thao, du lịch đang phát triển mạnh mẽ. Hiện có 13 nghìn lưu học sinh Việt Nam đang theo học tại Trung Quốc trong khi Trung Quốc có 3.500 người đang theo học ở Việt Nam.

Trao đổi thương mại và hợp tác đầu tư giữa Việt Nam và Trung Quốc phát triển nhanh chóng. Trong 7 năm qua, Trung Quốc liên tục là đối tác thương mại hàng đầu của Việt Nam. Kim ngạch thương mại song phương năm 2010 đạt tới 27,33 tỷ USD, trong 6 tháng đầu năm nay kim ngạch đã đạt hơn 15 tỷ USD. Hiện Trung Quốc đứng thứ 14 trong danh sách 92 quốc gia, vùng lãnh thổ trên thế giới đầu tư vào Việt Nam, với 805 dự án đầu tư trực tiếp và tổng vốn đăng ký đạt gần 4,2 tỷ USD.

Các vấn đề tồn tại trong quan hệ hai nước từng bước được giải quyết, trong đó việc hoàn thành toàn bộ công tác phân giới cắm mốc và ký kết các văn kiện liên quan đến biên giới đất liền trong hai năm qua có ý nghĩa lịch sử to lớn trong việc xây dựng khu vực biên giới hòa bình và hữu nghị giữa hai nước. Hai nước đã ký hai hiệp định về Vịnh Bắc Bộ (gồm Hiệp định Phân định Vịnh Bắc Bộ và Hiệp định Hợp tác nghề cá), hiện đang được triển khai tương đối thuận lợi.

Tuy nhiên, giữa hai nước hiện đang tồn tại một số bất đồng, đặc biệt là vấn đề tranh chấp trên Biển Đông. Hai bên đang nỗ lực giải quyết trên cơ sở các thỏa thuận cấp cao mà hai nước đã đạt được. Giải quyết tranh chấp Biển Đông là quá trình lâu dài, khó khăn và phức tạp, đòi hỏi nỗ lực và một cách tiếp cận thực tế, khách quan của các bên, nhận thức đầy đủ các mối quan tâm của nhau, giải quyết vấn đề thông qua đàm phán hòa bình, trên cơ sở tôn trọng luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước Luật Biển của LHQ (UNCLOS) năm 1982, tuân thủ Tuyên bố về cách ứng xử của các bên trên Biển Đông (DOC), tìm kiếm một giải pháp mà các bên có thể chấp nhận được, bảo đảm lợi ích chung của nhân dân hai nước, vì sự ổn định và phát triển của mỗi nước, đồng thời góp phần thiết thực vào hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển trong khu vực.

Chuyến thăm Trung Quốc của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng là cơ hội để củng cố hơn nữa tình hữu nghị truyền thống, sự đoàn kết và tin cậy lẫn nhau, hợp tác cùng có lợi giữa hai Đảng, hai nhà nước và nhân dân hai nước. Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam luôn luôn quý trọng và trước sau như một sẽ làm hết sức mình để không ngừng phát triển mối quan hệ hữu nghị, hợp tác toàn diện với Đảng Cộng sản, Chính phủ và nhân dân Trung Quốc. Với sự nỗ lực chung của cả hai bên, quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện giữa hai Đảng, hai nước và nhân dân hai nước Việt Nam – Trung Quốc nhất định sẽ không ngừng củng cố và phát triển. Nhân dân và các LLVT nhân dân Việt Nam tin tưởng sâu sắc rằng, chuyến thăm của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng sẽ thành công tốt đẹp; hai bên sẽ tiếp tục cùng phấn đấu đưa quan hệ Việt Nam – Trung Quốc lên tầm cao mới vì lợi ích của nhân dân mỗi nước, vì hòa bình, hợp tác và phồn vinh của khu vực và trên thế giới.

QĐND
qdnd.vn

This entry was posted on Tháng Mười 10, 2011, in Chính luận.