Thư viện

Bác Hồ trong ký ức cô học sinh piano đất Hà thành

 – 43 năm trôi qua nhưng “cô bé” học sinh khoa piano Trường Âm nhạc Việt Nam thuở nào vẫn nhớ rõ buổi biểu diễn cho Bác Hồ tại Phủ Chủ tịch tháng 5/1969, chỉ mấy tháng trước khi Bác ra đi mãi mãi. Tấm hình ghi lại buổi diễn, gặp Bác năm đó đi vào lịch sử bởi khoảnh khắc chớp thần thái đôi mắt nơi cô bé dành cho Bác, chứa đựng sự kính trọng, yêu mến hết mực hồn nhiên, trong sáng.

“Ai yêu nhi đồng bằng Bác Hồ Chí Minh” – câu hát đó dường như gắn với chính hình ảnh “cô bé” Thủy tay ôm bó hoa cùng các bạn đứng bên Bác Hồ.

Tạ Phương Thủy (cô bé ôm bó hoa nhìn Bác) tại Phủ Chủ tịch tháng 5/1969

“Cô bé” trong tấm hình đó là chị Tạ Phương Thủy, Việt kiều hiện đang sinh sống tại Ba Lan.

Chị Tạ Phương Thủy là con gái thứ của ông Lê Trang, tên thật là Tạ Quang Thuật, nguyên Vụ trưởng Vụ Báo chí Bộ Ngoại giao, Tham tán công sứ tại Liên Xô trước đây, nguyên Đại sứ tại Ba Lan… Từ nhỏ, 3 chị em gái lớn trong gia đình đều được bố mẹ cho theo học Trường Âm nhạc Việt Nam (nay là Học viện Âm nhạc quốc gia). Học hết trung cấp khoa piano, chị theo học ĐH Kinh tế quốc dân. Chị kết hôn với ông Hoàng Vĩnh Lợi, con trai cố Bộ trưởng Ngoại giao đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Hoàng Minh Giám.

Giấc mơ gặp Bác

Từ Ba Lan, chị Thủy kể lại những kỷ niệm với VietNamNet:

“Thế hệ tôi được sinh ra khi cuộc kháng chiến chống Pháp đã kết thúc, hòa bình lập lại ở miền Bắc. Cha tôi trong cương vị người phát ngôn Bộ Ngoại giao thi thoảng gặp Bác. Có lần được cha cho đi theo, tôi trông thấy Bác Hồ từ xa trong sân Phủ Chủ tịch. Đầu những năm 60, Hà Nội thật thanh bình. Sân Phủ Chủ tịch hàng năm thường đón những đoàn thiếu nhi từ khắp mọi miền đất nước đến thăm Bác.

Lần đầu tiên tôi được tham gia một đoàn thiếu nhi có thành tích học tập tốt vào thăm Bác vào mùa hè năm 1964, khi tôi lên 8 tuổi. Đoàn khá đông, tập kết ở bậc thềm Phủ Chủ tịch. Chủ tịch Hồ Chí Minh xuất hiện trong bộ quần áo đại cán. Sau này trong một thước phim tài liệu tôi thấy mình bận bộ quần yếm đỏ, áo hoa nhảy lên vỗ tay giữa bao bạn thiếu nhi. Phút giây gặp gỡ trôi đi thật là nhanh! Bác Hồ chia kẹo cho chúng tôi, những chiếc kẹo bọc giấy đỏ. Tôi tự nhủ thầm: gắng học giỏi để năm sau lại được vào thăm Bác.

Năm sau, một lần nữa tôi được tham gia 1 đoàn thiếu nhi đến thăm Bác. Mùa hè năm 1965 đối với bọn trẻ chúng tôi giống như bao mùa hè trước. Nhưng dường như Hà Nội đã có những đợt sóng ngầm báo hiệu chiến tranh. Chờ hồi lâu không thấy Bác Hồ, người xuất hiện là Phó Chủ tịch Tôn Đức Thắng, thay Bác Hồ chia kẹo cho chúng tôi. Cuối năm 1965, chúng tôi rời Hà Nội theo Trường Âm Nhạc Việt Nam đi sơ tán. Vài năm sau đó chiến tranh tạm ngừng, trở về Hà Nội, tôi may mắn có dịp được vào thăm Bác.

Một ngày cuối tháng 5/1969, học sinh sơ cấp trường Âm Nhạc Việt Nam được vào Phủ Chủ tịch biểu diễn nhân dịp ngày Quốc tế Thiếu nhi. Chúng tôi đồng thanh hát: “Ai yêu Bác Hồ Chí Minh hơn thiếu niên nhi đồng”. Không ngờ đó là lần cuối Bác Hồ gặp các cháu thiếu nhi – Người từ trần sau đó 3 tháng.

Chị Tạ Phương Thủy cùng chồng, ông Hoàng Vĩnh Lợi, ở Ba Lan

Đó là một ngày nắng xanh trời, bậc thềm Phủ Chủ tịch cũng phấp phới màu xanh trời điểm trắng của váy áo đồng phục thiếu nhi vào thăm Bác. Tôi ôm bó hoa vinh dự thay mặt thiếu nhi tặng Bác Hồ. Đôi mắt chúng tôi long lanh niềm vui sướng. Hồ Chủ tịch xuất hiện trong bộ quần áo nâu giản dị. Rất gần Bác, tôi ngắm chòm râu bạc, nước da mồi, nụ cười tươi của Người.

Khi chương trình biểu diễn của các học sinh bắt đầu, hai em gái nhỏ tuổi nhất được ngồi cạnh Bác. Kế bên là Thủ tướng Phạm Văn Đồng, Đại tướng Võ Nguyên Giáp và các vị lãnh đạo khác. Bác chăm chú nghe các tiết mục biểu diễn của thiếu nhi, gương mặt ngời sáng. Bác hôn các cháu, đặc biệt sau những tiết mục đàn dân tộc. Khi tôi giới thiệu các tiết mục tam thập lục và thập lục, Người nhẹ nhàng nói:  Ngôn ngữ Việt Nam là đàn 36 dây và 16 dây, bác cháu ta nói bằng ngôn ngữ của ta”.

Những lần vinh dự thăm Chủ tịch Hồ Chí Minh, đối với tôi thật sự là giấc mơ. Trải qua 43 năm kể từ khi Bác Hồ đi xa, có nhiều đổi thay trong xã hội, nhưng còn nguyên trong tôi – cô học trò năm xưa đã từng được tặng hoa Bác, một lòng yêu kính Người. Chính tình cảm thiêng liêng của cả một thế hệ chúng tôi dành cho vị lãnh tụ là một trong những chất liệu làm nên tính cách con người. Dù ở đâu, đi đâu chúng tôi vẫn giản dị là người Việt Nam”.

Linh Thư
vietnamnet.vn

Ký ức về Bác trong lòng người cận vệ xưa

ANTĐ – Suốt 10 năm thực thi nhiệm vụ bảo vệ vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc, cũng chừng ấy năm, ông được vinh dự theo chân Bác đi khắp mọi miền của tổ quốc. Qua những chuyến đi đó, ông học được rất nhiều đức tính cao đẹp từ con người của Bác, để rồi hôm nay, dù Bác đã ra đi nhưng những đức tính đó vẫn ngấm sâu vào tâm hồn của người cận vệ.

Bức hình ông Thưởng chụp lưu niệm với Bác Hồ và các đồng chí lãnh đạo năm 1968
(ông Thưởng ngồi bên cạnh Bác, trên tay bế một cháu nhỏ)

Niềm vinh hạnh 10 năm theo chân Bác

Ông Lê Minh Thưởng (SN 1941, trú tại xã Nghi Thịnh, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An) sinh ra trong một gia đình thuần nông tại vùng đất Nghi Thịnh. Sau khi học xong cấp 2 trường làng, ông Thưởng tình nguyện làm đơn đi nghĩa vụ quân sự nhưng không thành. Ấp ủ ước mơ được đóng góp sức mình vào công cuộc giải phóng đất nước vẫn ngày đêm thôi thúc ông, năm 1959, ông được tuyển vào công an vũ trang (nay là bộ đội biên phòng). Cũng trong năm đó, ông được đơn vị cho đi học tại trường C500.

Một năm sau, ông Thưởng tốt nghiệp ra trường và được điều về công tác tại cục cảnh vệ với nhiệm vụ bảo vệ Bác Hồ. Khỏi phải nói, khi nhận nhiệm vụ mới, ông Thưởng vui mừng đến độ nào. Vậy là từ nay ông sẽ được làm việc gần Bác và đặc biệt là ông lại đảm nhận việc bảo vệ cho Người. Nhiệm vụ lớn lao và vô cùng quan trọng, ông cũng thấy thật tự hào vì ông được Đảng và nhân dân tin tưởng. Ban đầu, khi mới về, ông Thưởng được phân công trực gác ở vòng ngoài, một thời gian sau, ông được phân công trực tiếp bảo vệ Bác. Ông Thưởng chia sẻ về niềm vui ngày chính thức làm cận vệ cho bác, từng câu nói của ông hào hứng như chúng vừa mới xảy ra hôm qua, dù đã 43 năm trôi qua: “Tôi không thể kể hết niềm vui sướng của mình trong cái ngày mà tôi được phân làm cận vệ cho Bác, bảo vệ Bác chính là được bảo vệ cả Tổ quốc. Tôi thấy mình thật may mắn, đó là một vinh hạnh của cả đời tôi”.

Hạnh phúc xen lẫn với nhiều lo lắng, bởi ông Thưởng cũng sợ rằng mình không làm tròn trách nhiệm của mình để ảnh hưởng đến cả đất nước. Do đó, mỗi ngày làm việc, ông đều cố gắng hoàn thành thật tốt công việc của mình. Suốt 10 năm theo chân bảo vệ Bác, chừng đó thời gian cũng giúp ông có cơ hội ở bên Bác nhiều hơn và học được nhiều điều từ Bác.

Suốt 10 năm theo chân Bác cùng là thời gian để ông Thưởng có cơ hội hiểu rõ hơn về Bác. Và giờ đây, khi sống trong thời bình, ông Thưởng vẫn không quên hình bóng của người cha già dấu yêu. Trong căn nhà nhỏ của mình, ông vẫn dành riêng một gian để bày những búc ảnh và những kỷ vật mà ông giữ được trong thời gian làm việc cạnh Bác. Đối với ông, những bức ảnh đó như là những báu vật vô giá mà “dù nhà có nghèo rớt mồng tơi mà có người ta trả giá cao để mua” ông cũng không bao giờ bán. Ông thường ngồi lặng yên trong căn phòng đặc biệt này mỗi khi ông nhớ về quá khứ. Đến nay, dù đã vào cái tuổi “xưa nay hiếm” nhưng ông Thưởng vẫn giữ được phong thái của người bộ đội cụ Hồ, nhanh nhẹn, tháo vát. Hàng ngày, dù làm bất cứ việc gì, ông cũng đều lấy chuẩn mực đạo đức sống của Bác khi xưa làm kim chỉ nam. Vì lẽ đó, trở về làng quê Nghi Thịnh, hỏi đến ông Lê Minh Thưởng ai cũng đều biết, không phải vì ông giàu hay nổi tiếng vì lý do nào mà vì ông là một trong rất ít người có được niềm vinh hạnh bảo vệ Bác Hồ.

Hình ảnh Bác qua ký ức của người cận vệ xưa

Ông Thưởng ôn lại kỉ niệm xưa qua những bức ảnh

Được ở bên cạnh, làm cận cho Bác thực chẳng dễ dàng. Đến nay, trong tâm trí của ông Thưởng vãn nhớ như in những kỷ niệm về Bác Hồ trong suốt những tháng ngày theo chân Bác. Khi mới vào làm việc gần Bác, ông Thưởng còn khá nhút nhát, thấy vậy Bác nói: “Con người ta sợ nhất là giấu dốt, nếu biết chuyện gì thì cứ nói, không biết thì hỏi, đừng im lặng giấu dốt. Con người như thế đã dốt lại còn dốt hơn và mang tiếng tự cao, tự đại”.

Một lần vào Tết năm 1964, ông Thưởng cùng các đồng chí khác cùng Bác đi chợ Đồng Xuân để tìm hiểu về nguồn lương thực, thực phẩm chuẩn bị cho người dân ăn Tết. Để không bị phát hiện, mọi người phải hóa trang cho Bác phòng trường hợp xấu có thể xảy ra. Ông Thưởng có nhiệm vụ đi xem đường trước. Hôm đó trời mưa, lúc vào chợ, Bác đi xem quầy lương thực, thực phẩm. Lại hàng thực phẩm tự do Bác hỏi cô bán thịt 1 cân bao nhiêu tiền nhưng lại nói giọng Nghệ An. Cô bán thịt cứ nhìn chằm chằm vào mặt Bác vì nghe giọng nói quen quen. Nếu không có sự nhanh trí của đồng chí Phạm Lệ Ninh (Trưởng phòng bảo vệ Bác) thì chắc chắn Bác sẽ bị lộ. Lúc đó nhanh như chớp, đồng chí Ninh tiến lên phía trước và hỏi lại bằng giọng Bắc khiến cô bán thịt không để ý nữa.

Một lần nữa, trên đường đi công tác tại Thanh Hoá, khi phát hiện Bác về, người dân ùa ra vậy kín cốt để một lần được thấy Bác bằng xương bằng thịt. Ông Thưởng cho biết: “Đi cùng Bác để bảo vệ, thực ra chúng tôi không sợ có ai ám sát nhưng chỉ sợ dân mình biết ai cũng ra sức chen vào để được thấy Bác mà thôi”. Trong suốt những chuyến đi đó, đi đến đâu Người cũng rất giản dị, không quan cách và sống rất gần gũi nhân dân. Lần Bác vào thăm xưởng sản xuất nông cụ Thanh Hoá, những công nhân làm việc tại đây khi biết Bác vào thăm đã bỏ dụng cụ làm việc ào chạy về phía Bác. Những người đi theo bảo vệ Bác như ông Thưởng phải vô cùng vất vả mới đưa được Bác ra khỏi vòng vây.

Đọc báo và chăm sóc cây cảnh là niềm vui của ông Thưởng khi về già

Chính từ những lần được gần Bác, ông Thưởng lại được Bác bày dạy cho những điều hay lẽ phải. Lần đầu tiên được bảo vệ Bác đi bộ, ông Thưởng được Bác dạy rằng: “Cùng đi thì phải nói chuyện, làm như vậy quãng đường sẽ ngắn lại. Việc gì biết thì nói, không biết thì phải hỏi, đừng dấu, im lặng làm thinh. Hiểu cái gì nói cho mọi người nghe. Im lặng có thể là dốt, là tự kiêu…”. Dù đi đến đâu, trong chuyện ăn uống Bác cũng rất giản dị. Nhiều địa phương, thấy Bác về nên thiết đãi tiệc, nhưng Bác không vừa lòng. Bác nói: “khi đất nước còn khó khăn mọi thứ đều phải tiết kiệm thì bản thân một người cán bộ phải gương mẫu thực hiện để người dân lấy đó mà noi theo”.

Sau khi Bác qua đời, ông Thưởng lưu lại Phủ chủ tịch 1 năm để bàn giao công việc, sau đó ông được điều về làm việc tại cục cảnh sát hình sự. Năm 1980, ông lại được luân chuyển về phòng cảnh sát hình sự Nghệ Tĩnh với chức vụ đội trưởng đội săn bắt cướp. Trong quãng thời gian công tác với nhiệm vụ mới, ông Thưởng và đồng đội đều lập được nhiều chiến công làm bao tên tội phạm khét tiếng một thời phải nể phục. Năm 1990, ông Lê Minh Thưởng về hưu với quân hàm trung tá, suốt thời gian hoạt động, ông Thưởng nhận được nhiều phần thưởng cao quý của Đảng và Nhà nước.

Thoáng chút trầm ngâm, ông Thưởng bộc bạch: “Có ở gần Người mới biết được cái tâm của Người như thế nào. Người quả thực là vị lãnh tụ vĩ đại của đất nước, là kho tàng vĩ đại của dân tộc ta, lớp hậu sinh có học hết cả đời cũng không thấm nhuần hết đạo đức của Người”. Vì lẽ đó, khi về với cuộc sống thường nhật, ông Thưởng cũng học tập theo tấm gương đạo đức của Bác, sống giản dị và luôn quan tâm mọi người. Đặc biệt, thế hệ con cháu trong gia đình, ông Thưởng đều răn dạy theo tấm gương của Bác. Những câu chuyện về chặng đường hoạt động của Bác như một kho tàng truyện mà cứ mỗi lúc rảnh rỗi, hay khi có đông con cháu ông Thưởng lại kể cho các con, cháu cùng nghe. Khi đó, con người ông như thực sự sống lại giai đoạn ấy. Nghe lời cha, ông, con cháu trong gia đình ông Thưởng lại lấy chuẩn mực đạo đức của người để học tập và noi theo.

Trịnh Nguyễn
anninhthudo.vn

Kỷ niệm về Bác

Tháng Năm về, hình ảnh Bác Hồ – người cha già dân tộc gần gũi, nhân từ và rất đỗi cao đẹp như hiển hiện trong lòng mỗi người dân đất Việt. Từng vinh dự được gặp Bác, những người cựu chiến binh xúc động nhớ về Người với niềm tự hào và kính trọng sâu sắc. Những kỷ niệm và hình ảnh đẹp về Người mãi mãi khắc ghi trong trái tim của những người lính năm xưa. 

“Ghế của Bác chứ có phải ngại đâu mà các chú ngại” Ông Nguyễn Ngọc Châu, 83 tuổi, nguyên Chính ủy Trung đoàn 600 bảo vệ Chủ tịch Hồ Chí Minh từ 1953-1969 xúc động kể lại: Mỗi tối thứ 7, anh em bảo vệ lại được quây quần cùng xem phim với Bác trong tình cảm chan hòa như tình ông-cháu, cha-con ruột thịt, không hề có cảm giác xa cách. Bác cũng thường hay nói đùa nên không khí rất vui vẻ. Có lần xem một bộ phim thần thoại của Pháp, đồng chí thuyết minh chưa kịp xem trước, chỉ căn cứ vào bản dịch để đọc nên không khớp với hình ảnh. Bác bèn bảo: “Chú thuyết minh như thế thì làm hỏng phim mất. Chú đứng lên !”, rồi Bác ngồi vào ghế thuyết minh liền cả 3 tập. Kết thúc buổi chiếu, tôi để ý thấy mọi người đều nói: “Hôm nay mà không có Bác dịch thì hỏng cả buổi xem phim”.

Nhiều lần xem phim sau này, hễ thấy thuyết minh không đạt là Người lại làm thay công việc đó, rồi chỉ ghế của mình bảo: “Các chú ra ghế của Bác mà ngồi. Có phải là cái ngai đâu mà các chú ngại”. Vậy là ghế của Bác thì người thuyết minh ngồi, còn ghế của người thuyết minh thì Bác ngồi ! Nhiều anh em chiến sĩ trông đợi buổi xem phim cuối tuần để được nhìn Bác, nghe Bác giới thiệu. Sau này khi Bác đã đi xa, những buổi chiếu phim tối thứ 7 vẫn được đồng chí Phạm Văn Đồng duy trì nhưng dường như thiếu vắng hình ảnh Bác, buổi chiếu không có “hồn”. Nhớ mãi hình ảnh Bác, ông Nguyễn Ngọc Châu đã viết thành một câu chuyện nhỏ mang tên “Đồng chí thuyết minh tóc bạc”.

Các cháu có “tủ” gì mới không ?

Nhiều lần được biểu diễn phục vụ Bác, bà Trần Thị Ngà, nguyên là nghệ sĩ Đoàn văn công Tổng cục Chính trị nhớ mãi sự quan tâm, chăm lo tận tình của Người đối với anh chị em làm nghệ thuật nói chung và những kỷ niệm về những ngày tháng được kề cận bên Bác. Từ 1960-1969, cô văn công Trần Thị Ngà được vào Phủ Chủ tịch hát, đọc sách báo cho Người nghe, giúp Người tiếp khách quốc tế. Một kỷ niệm vui mà cô nhớ mãi là lần chuẩn bị biểu diễn văn nghệ phục vụ buổi tiếp đoàn Tiệp Khắc, Bác hỏi: Hôm nay các cháu có “tủ” gì mới không ? Cô trả lời: “Thưa Bác, hôm nay chúng cháu sẽ hát một bài hát của Tiệp Khắc bằng tiếng Việt ạ”. Bác cười, dặn dò: “Các cháu phải hát làm sao đừng để lúc hát tiếng Việt mà khách tưởng là đang hát tiếng Tiệp, còn khi các cháu hát tiếng Tiệp, khách lại tưởng là đang hát tiếng Việt”. Có lần, Bác chia đôi cốc sữa của mình đưa cho Ngà uống và hóm hỉnh nói: “Đồng cam cộng khổ với Bác chứ !” khi cô không dám nhận. Người còn gửi thư cho anh chị em văn công Tổng cục Chính trị đi biểu diễn tại Trung Quốc năm 1964 với lời dặn dò ấm áp và chan chứa yêu thương: “Mong các cháu đoàn kết nội bộ, đoàn kết với anh em Trung Quốc, biểu diễn tốt, cố gắng học hỏi các đồng chí Trung Quốc, nhờ các đồng chí Trung Quốc thẳng thắn phê bình để không ngừng tiến bộ, giữ gìn sức khỏe. Chúc các cháu thành công !…”

Từ ngày Bác đi xa, hàng năm cứ đến ngày sinh của Người, bà Trần Thị Ngà và những người đã từng kề cận, gắn bó bên Bác lại tụ về bên ngôi Nhà sàn thiêng liêng, tưởng nhớ Người và cùng ôn lại những năm tháng mà đối với họ là đẹp đẽ và vui sướng nhất cuộc đời.

Buổi học không bao giờ quên 

Đối với ông Chi Phan, Phó Tổng Biên tập báo Cựu chiến binh Việt Nam, buổi chiều 1/4/1959 là “buổi học không bao giờ quên”. Đây cũng chính là tên bài viết của cậu học trò Chi Phan, khi ấy đang học lớp 8D trường Bưởi – Chu Văn An, ngay sau lần đầu tiên được gặp Bác Hồ, đăng trên trang nhất của tuần báo Văn. Ông kể: “Chiều hôm đó, khi lớp chúng tôi đang học bài thơ “Sáng tháng Năm”, đến đoạn “Bàn tay con nắm tay Cha. Bàn tay Bác ấm vào da, vào lòng. Bác ngồi đó lớn mênh mông. Trời xanh, biển rộng, ruộng đồng nước non” thì có tiếng reo “Bác Hồ ! Bác Hồ !” rồi Bác xuất hiện nơi cửa lớp, thật mà lại như mơ. Bác chuyện trò, căn dặn chúng tôi chăm chỉ học hành, giúp đỡ bà con, xứng đáng với truyền thống lâu đời của nhà trường”. Kể từ buổi chiều thiêng liêng ấy, Chi Phan luôn tự hào là học sinh của ngôi trường được Bác tặng 8 chữ vàng “Yêu nước, cách mạng, dậy tốt, học tốt”. Ông mãi khắc ghi trong tâm khảm hình ảnh của Bác và những phút giây ngắn ngủi được gặp mặt, được Bác xoa đầu ân cần dạy bảo.

Sau đó hơn 1 năm, tháng 8/1960, tại vườn hoa Bách Thảo, khi đang cùng 1.500 học sinh Hà Nội lập dàn hợp xướng chuẩn bị biểu diễn chào mừng Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 3, Chi Phan lại được gặp Bác khi Người đến thăm, chúc các cháu học sinh hát hay, hát tốt hơn nữa những bài hát ca ngợi Đảng, đất nước và quê hương. Sau này còn vinh dự được gặp Bác 3 lần nữa nhưng đối với ông Chi Phan, hình ảnh Bác cầm cây đũa chỉ huy bắt nhịp dàn hợp xướng hát bài ca Kết đoàn trong ngày mùa thu tháng tám rực rỡ nắng vàng ấy mãi mãi để lại dấu ấn sâu đậm nhất, xúc động nhất cuộc đời./.

BTK-TTXVN
cpv.org.vn

Chuyện kể của người phi công 3 lần gặp Bác

(Chinhphu.vn) – Có lẽ trong cuộc đời binh nghiệp của mình, Thiếu tướng, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Phạm Ngọc Lan không ngờ rằng có ngày ông sẽ trở thành phi công lái máy bay Mig và 3 lần được gặp Bác Hồ.

Thiếu tướng Phạm Ngọc Lan thời trẻ

 

Sinh năm 1934, tại xã Điện Nam, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam, một địa phương có truyền thống cách mạng lâu đời, cậu bé Phạm Ngọc Lan sớm phải rời bỏ mái trường và đi theo cách mạng khi mới ở cái tuổi 14.

Năm 1948, Phạm Ngọc Lan được làm Liên lạc viên cho Ty Công an tỉnh Đắc Lắc. Tới năm 1952, ông nhập ngũ và được biên chế vào đại đội 602, Tiểu đoàn 30, Trung đoàn 96, Sư đoàn 305, chiến đấu ở các tỉnh miền Trung.

Sau hiệp định Giơnevơ, Phạm Ngọc Lan và nhiều đồng chí khác tập kết ra Bắc. Tới năm 1956, nhờ những thành tích chiến đấu của mình (bắt được 6 lính ngụy và 1 lính Pháp) ông đã được cấp trên chọn đi học quân sự ở nước ngoài.

Người cựu phi công nhớ lại: “Lúc đầu, giấy nguyện vọng của tôi là được đi học lái xe tăng, nhưng rồi bạn bè đi hết chỉ còn tôi và vài đồng chí là vẫn còn ở lại. Cứ tưởng mình đã trượt nhưng không ngờ, một ngày Đại tướng Võ Nguyên Giáp cho người đến và đọc danh sách những người đi học lái máy bay, trong đó có tôi. Ấy là điều bất ngờ thứ nhất làm thay đổi cuộc đời tôi”.

Sau 8 năm rèn luyện, ông và nhiều đồng đội khác đã hoàn thành chương trình học, có thể lái được nhiều loại máy bay khác như Mig 15, Mig 17, Mig 21… Tới 5/8/1964, xảy ra sự kiện Vịnh Bắc Bộ, ngày 6/8 ông cùng những đồng đội đã lái chiếc Mig 17 về nước để chuẩn bị vào cuộc chiến đấu đầu tiên.

Phi công Phạm Ngọc Lan cùng với đồng đội bước vào hàng trăm trận chiến đấu lập được nhiều thành tích và nhiều lần vinh dự được gặp Bác Hồ. Tới tận bây giờ khi đã ở cái tuổi tóc bạc da mồi nhưng ông vẫn nhớ như in cảm xúc khi được gặp Bác.

Lần thứ nhất gặp Bác, là sau hai tháng ông và các đồng đội trở về nước, khi nghe tin Bác đã tới thăm, tất cả đều tập trung từ cổng để đón Bác. Thế nhưng, thay vì đi cổng chính thì Bác lại đi từ cổng sau vào nhà ăn để xem xét công tác hậu cần cho anh em phi công, khiến cho ai cũng bất ngờ và cảm động.

Khi ấy, Phạm Ngọc Lan may mắn được đi cạnh Bác, ông được bác gọi là “hạt giống đỏ” của miền Nam. Lời nói của Bác như một sức mạnh trực tiếp để cho ông và những người đồng đội của mình làm nên chiến thắng giòn giã trong trận chiến đấu đầu tiên của mình cũng là của không quân Việt Nam.

Đó là vào ngày 3/4/1965, Đế quốc Mỹ chính thức sử dụng máy bay ném bom bắn phá miền Bắc, ông được lệnh dẫn đầu cùng với 3 người đồng đội khác là Phan Văn Túc, Hồ Văn Quỳ và Trần Minh Phương được lệnh bay vào bảo vệ cầu Hàm Rồng (Thanh Hóa).

Thiếu tướng Phạm Ngọc Lan tại nhà riêng – Ảnh VGP/Sao Chi

 

Bằng tinh thần quyết tâm cao trận đầu tiên, 4 người lính đã phối hợp ăn ý sáng tạo với dân quân Nam Ngạn, Hàm Rồng đã bắn rơi được hai chiếc F8U.

Với thành tích của mình, tháng 3/1966, Phạm Ngọc Lan, Phi công Trần Hanh và cô dân quân Nguyễn Thị Hằng (Thanh Hóa) sau này là Bộ trưởng Bộ Lao động Thương binh và Xã hội được lên gặp Bác Hồ để báo cáo chiến công.

Lúc bấy giờ ông và hai người đồng đội đều đã chuẩn bị đầy đủ hết tinh thần khi gặp Bác, thậm chí đã vài lần tổng duyệt trước gương từ cách ăn nói, đi đứng và báo cáo với Bác. Ấy nhưng mọi thứ lại không như những gì mà họ sắp sẵn trước.

Khi tất cả đã ngồi xung quanh, Bác mới hỏi:

– Chú Lan đâu?

– Thưa Bác, cháu là Lan!

– Cháu là phi công đánh thắng trận đầu phải không?

– Dạ vâng!

– Thế không quân ta có đánh thắng tàu bay Mỹ được không?

– Có thể chiến thắng tàu bay Mỹ nhưng rất khó khăn.

– Trận đầu đánh thắng, Bác khen các cháu dũng cảm, sáng tạo. Bác biết rồi, nhưng không được chủ quan, chúng ta phải chuẩn bị tốt hơn nữa để đánh lâu dài vì Mỹ có tiềm lực lại xảo quyệt.

Ngay sau đó Bác quay sang hỏi cô Nguyễn Thị Hằng: Dân quân Nam Ngạn, Hàm Rồng rất dũng cảm phối hợp trên trời, dưới đất rất đẹp. Mọi người đều phải giữ sức khỏe, bay giỏi, chiến đấu giỏi để có nhiều lần gặp Bác hơn nữa…

Trong những cuộc gặp, Bác đã biết trước từng hoàn cảnh, chiến công của mỗi người. Bác thường quan tâm tới cuộc sống đời thường, hoàn cảnh gia đình và tâm nguyện của mỗi người muốn đề đạt lên Bác. Điều ấy làm ông Lan và những người đồng chí của ông nhớ mãi.

Đầu tháng 7/1968, Bác lại về thăm đơn vị của ông. Bác đã đi thăm và động viên tất cả các cán bộ, chiến sĩ, đặc biệt là các trắc thủ thông tin, lực lượng thợ máy và phi công cố gắng chiến đấu giỏi, tiết kiệm đạn duợc, khí tài hơn nữa… Bác đã nói một câu hóm hỉnh: “Chúc cho bộ đội không quân ta ngày càng có nhiều “Cốc” hơn nữa (Câu nói hóm hỉnh ám chỉ tên anh hùng Phi công Nguyễn Văn Cốc và “cốc” cũng có nghĩa là cụng ly chiến thắng).

Nhưng có lẽ điều mà Thiếu tướng Lan tiếc mãi là trong lần gặp thứ 4 ông không thể gặp Bác trước khi Bác mãi đi xa. Khi ấy, ông đang chiến đấu ở khu 4 và bị sốt rét và phải ở lại chữa bệnh. Khi có tin Bác muốn gặp một số anh em phi công trong đó có Phạm Ngọc Lan. Ông đã bay trở về đơn vị sau trận chiến đấu nhưng cũng không kịp gặp Bác.

Dù vậy, trong cuộc gặp ấy, Bác có động viên vắng mặt và gửi hỏi thăm tới ông: “Vì chiến đấu không ra được, cháu Lan giữ gìn sức khỏe, chiến đấu lâu dài”.

Để đáp lại niềm tin yêu và những lời động viên của Bác, Phạm Ngọc Lan đã trở thành người Biên đội trưởng dũng cảm, sáng tạo chỉ huy các biên đội bay chiến đấu lập nên những chiến công tập thể.

Phi công Phạm Ngọc Lan đã được phong tặng Anh hùng LLVTND năm 2000, được trao tặng huy hiệu Bác Hồ năm 1966 và gần 20 huân huy chương chiến công các loại.

Là một người đánh trận mở màn cho không quân Việt Nam năm 1965, Phạm Ngọc Lan còn là một trong những người tổ chức cho Phi đội Quyết Thắng dùng máy bay A37 của địch ném bom vào Sân bay Tân Sơn Nhất ngày 28/4/1975.

Cả cuộc đời đi theo cách mạng, Thiếu tướng, Phi công Phạm Ngọc Lan luôn nhớ tới những lời động viên và căn dặn của Bác Hồ. Cũng có lẽ, điều quý giá nhất trong cuộc đời người cựu phi công ấy chính là kí ức về những năm tháng hào hùng của tuổi trẻ. Phạm Ngọc Lan nhớ mãi những dịp gặp Bác và huy hiệu Bác Hồ trao tặng mà ông vẫn nâng niu trân trọng cho tới tận bây giờ.

Sao Chi
chinhphu.vn

Nhớ mãi mùa xuân ấy

GiadinhNet – Vào năm 1946, khi nước nhà vừa giành được độc lập, dù bận trăm công, ngàn việc nhưng Bác Hồ vẫn dành thời gian tổ chức hôn lễ cho một nữ cán bộ cảnh vệ.

Vợ chồng bà Trần Thị Thái và hai người con. Ảnh tư liệu

Sự kiện này khiến những người trong cuộc rưng rưng nước mắt nhớ mãi…

Bà Trần Thị Thái – nguyên cán bộ Cục Cảnh vệ cho biết, bà có rất nhiều kỉ niệm trong 15 năm được làm công tác bảo vệ, phục vụ Bác Hồ. Sau ngày Cách mạng Tháng Tám thành công, bà Thái được phân công về Nhà in Lao Động của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, ở 51 Hàng Bồ, Hà Nội. Công tác ở đây được ít ngày thì cuối năm 1945, ông Trần Danh Tuyên, công tác tại Ban Bảo vệ Thành ủy Hà Nội gọi bà Thái lên trao đổi công việc. Sau khi hỏi thăm về gia đình, nguyện vọng, ông Tuyên đi thẳng vào vấn đề: “Tổ chức đã thống nhất và phân công đồng chí sang nhận công tác mới. Đó là bộ phận bảo vệ và phục vụ Bác Hồ”.

Khi nghe ông Tuyên giao nhiệm vụ, bà Thái không tin vào tai mình, trong lòng cứ xốn xang. Là một thanh niên tham gia hoạt động cách mạng, chưa bao giờ bà nghĩ mình lại có vinh dự được bảo vệ Bác Hồ – lãnh tụ vừa đọc bản Tuyên ngôn Độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Công hòa. Đêm ấy bà nằm thao thức, không sao ngủ được.

Đến bây giờ, nhắc lại kỉ niệm này bà Thái vẫn còn xúc động. Bà kể: “Địa điểm mà hôm sau tôi được dẫn đến là ngôi nhà cách dốc Cống Vị (Hà Nội) chừng 300m, bên bờ sông Tô Lịch, ngược về phía chợ Bưởi. Ở đây tôi được anh Cả (tên thân mật của đồng chí Nguyễn Lương Bằng, Thường vụ Trung ương Đảng) hướng dẫn công việc cụ thể. Để giữ bí mật, tôi đóng vai là người con gái trong gia đình. Công tác được mấy ngày thì một hôm, anh Cả gọi tôi lên họp. Đang chuẩn bị vào nội dung cuộc họp thì tôi thấy một ông cụ mặc bộ quần áo kaki bước vào. Tôi sững người khi thấy đó chính là Bác. Bác vui vẻ cười, hỏi thăm mọi người. Vì ở đây chỉ có duy nhất tôi là nữ nên Bác hỏi chuyện tôi nhiều hơn. Bác không hài lòng vì thấy cuộc sống sinh hoạt hàng ngày của tôi còn quá thiếu thốn và nói với anh Vũ Long Chuẩn (ông Vũ Kỳ, thư ký của Bác), anh Nguyễn Văn Lý (đồng chí Hoàng Hữu Kháng, cận vệ của Bác, sau này là Cục trưởng Cục Cảnh vệ) thu xếp chỗ ăn ở cho tôi kẻo ảnh hưởng đến sức khỏe. Tôi xúc động quá, nghĩ mình chưa làm được gì cho Bác, mà ngược lại, Bác lại chăm lo cho tôi rất chu đáo.

Thời gian ở đây, ngoài công tác, chúng tôi được Bác cho học thêm về chính trị và một số vấn đề khác. Bác giao cho anh Chuẩn chuẩn bị chương trình. Chúng tôi rất đoàn kết và yêu thương nhau như anh em trong một gia đình. Đặc biệt, tôi biết anh Lý đã thầm yêu mình. Tôi ngượng mà chẳng dám tâm sự với ai.

Một buổi chiều, xe đưa Bác về, anh Lý và anh Chuẩn đi cùng Bác. Lát sau, Bác cho gọi tôi lên. Tôi lo quá không hiểu có chuyện gì để Bác bận lòng. Khi lên thấy Bác tươi cười, tôi đã đoán ra chuyện Bác hỏi. Bác chỉ cho tôi chiếc ghế và nói: “Cô ngồi xuống đây, tự nhiên. Bữa nay Bác nói chuyện lâu đấy”.

Tôi ngần ngại, phần thì lo lắng, phần thì ngượng. Bác hỏi tôi về chuyện gia đình, công tác và học tập. Rồi Bác nhìn tôi, nhìn anh Lý cười và hỏi: “Cô Thái có người thương chưa?”. Tôi xấu hổ, lúng túng, ấp a ấp úng mãi mới trả lời Bác: “Dạ, thưa Bác! Con… con… con còn ít tuổi chưa nghĩ đến ạ”.

Nói như vậy là chưa thật đúng với lòng mình, nhưng tôi nghĩ đất nước mới giành được độc lập, điều kiện còn khó khăn, bộn bề công việc, làm sao mình có thể lập gia đình được. Lúc trong đầu tôi đang ngổn ngang suy nghĩ thì Bác hỏi tiếp: “Cô năm nay bao nhiêu tuổi?”. “Dạ, thưa Bác! Năm nay con 20 tuổi ạ”, tôi đáp. Bác cười đôn hậu: “Hai mươi tuổi mà còn ít à. Bác làm mối cho được không?”.

Tôi đỏ bừng mặt, tay cứ vân về tà áo, trong lòng vui mà không dám nói ra. Lát sau tôi mới dám ngẩng lên nhìn Bác và liếc sang anh Lý. Thấy tôi như vậy Bác cười và không nói về chuyện này nữa.

Ít hôm sau, anh Cả nói với tôi: “Bác hỏi thật đấy. Bác giới thiệu cô với chú Lý, ý cô thế nào?”. Đến lúc này tôi mới thưa thật: “Được Bác và các anh tác thành cho thì còn hạnh phúc nào bằng”.

Đám cưới của chúng tôi đã được Bác cho tổ chức đúng vào ngày Tết Dương lịch năm 1946. Khách mời có anh Cả, anh Văn (tên gọi thân mật của đồng chí Võ Nguyên Giáp), anh Tô (tên gọi thân mật của đồng chí Phạm Văn Đồng), chị Thanh và một số người khác. Anh Cả còn đưa đến một chiếc bánh gatô và một bó hoa hồng rất đẹp mà Bác đã dặn đặt cho lễ cưới. Trước buổi liên hoan, chị Thanh nói: “Thưa Bác! Hôm nay là ngày vui của chị Thái, anh Lý và cũng là ngày vui của cả nhà ta. Xin Bác làm chủ hôn cho ạ”.

Bác Hồ nâng cốc, đọc hai câu thơ rồi nói với chúng tôi: “Lễ cưới đơn giản nhưng vui vẻ, cốt là ở tấm lòng. Sau này đất nước ta giàu mạnh, đám cưới con các cô các chú sẽ tổ chức đàng hoàng và vui hơn”.

Chúng tôi thấy như không còn khoảng cách giữa một vị Chủ tịch nước với các chiến sỹ của mình, mà như người Cha đang lo công việc cho con cháu trong nhà. Vợ chồng tôi vô cùng xúc động, tự hào về ngày vui của mình. Mùa xuân năm 1946 ấy là mùa xuân đầu tiên đất nước ta giành được độc lập và cũng là mùa xuân đầu tiên của vợ chồng tôi”.

Nguyễn Đức Quý
(Ghi theo lời kể của bà Trần Thị Thái)
bee.net.vn

Người Việt duy nhất từng phiên dịch trong sứ quán TQ

– Ông Vũ Thuần chậm rãi nhớ lại: “Phải gần nửa thế kỷ sau, trong một dịp vào thăm Bảo tàng Cách mạng, lần đầu tiên tôi được nhìn thấy tấm ảnh chụp ngày đó. Lặng đi một lúc vì xúc động và ngỡ ngàng, không thể ngờ mình lại có cái vinh hạnh lớn như thế!”. Câu chuyện của một Thiếu sinh quân nhiều lần được gặp Bác Hồ.

Trào nước mắt vì thèm đứng bên Bác

Sinh năm 1933, khi mới 14 tuổi, Vũ Thuần được gia đình cho theo các anh bộ đội làm công tác tuyên truyền văn hoá. Vì là học sinh lại nhanh nhẹn nên cậu được gửi đi học Trường Thiếu sinh quân (TSQ) ở Việt Bắc.

Có một lần, Bác Hồ tới thăm trường nhưng không báo trước. Đang trong giờ học, vừa trông thấy Bác là thầy trò bỏ lớp chạy ra đón và hô vang: “Bác Hồ! Bác Hồ muôn năm!”. Toàn trường vây kín quanh Bác.

Mô tảVũ Thuần đứng bên trái Bác, bên phải Bác là Liễn, liệt sĩ chống Pháp.

Bác bảo tất cả trật tự ngồi xuống rồi ân cần nói chuyện. Khi Bác hỏi: “Các cháu ăn có no không?”. Toàn trường đồng thanh hô: “Có ạ!”. Bác lại hỏi: “Các cháu có nhớ bố mẹ không?”, “Có ạ!”. Bác còn hỏi các thầy về tình hình học tập, rèn luyện của học sinh. Cuối cùng Bác căn dặn:

– Cuộc kháng chiến đánh đuổi thực dân Pháp còn nhiều khó khăn, gian khổ. Trong tương lai các cháu sẽ là chủ nhân đất nước nên các cháu phải không ngừng học tập, rèn luyện để sau này kế tục sự nghiệp cách mạng của Cha ông, giành lại độc lập, tự do cho non sông gấm vóc.

Sau đó, Người nói với ông Đinh Đăng Định chụp vài kiểu ảnh kỉ niệm. Cũng là dịp hiếm có để có thể đứng gần Bác, các bạn chen nhau đứng sát Người. Thuần vì nhỏ người nên bị các bạn lớn đẩy ra tít tận xa, nhìn các bạn được đứng bên Bác mà thèm, tự dưng nước mắt trào ra. Đang buồn thì thấy Bác vẫy tay: “Cháu bé kia lại đây với Bác!”. Thật là bất ngờ và may mắn, Vũ Thuần đã được đứng sát ngay Bác. Cánh TSQ ríu rít bên Bác như bầy chim non ra ràng vây quanh mẹ chờ mồi.

Ông Vũ Thuần chậm rãi nhớ lại: “Phải gần nửa thế kỷ sau, trong một dịp vào thăm Bảo tàng Cách mạng, lần đầu tiên tôi được nhìn thấy tấm ảnh chụp ngày đó. Lặng đi một lúc vì xúc động và ngỡ ngàng, không thể ngờ mình lại có cái vinh hạnh lớn như thế!

Trong ảnh thấy Bác thật bình dị, hiền lành và thật gần gũi. Còn các bạn TSQ vẻ mặt rạng rỡ vui tươi. Những bạn đứng phía sau thì cố dướn người thật cao để có mặt mình trong ống kính. Có bạn còn lấy tay bá lên vai mà Bác không quở trách, vẫn bình thản, bao dung. Mãi về sau này tôi tự hỏi: Có vị lãnh tụ nào gần gũi với thiếu nhi hơn Bác?!

Cố hình dung lại từng khuôn mặt và tính cách của từng bạn. Bạn đội mũ ca-lô sẫm màu đứng sau lưng Bác chính là Mộng Lân, sau này trở thành nhạc sĩ nổi tiếng công tác tại Đài phát thanh Tiếng nói VN, anh có nhiều bài hát hay cho thiếu nhi. Mộng Lân đã mất năm 2000 tại Hà Nội. Còn bạn cổ quàng khăn đỏ, miệng cười tươi, đứng bên phải Bác, tên là Liễn. Anh đã hy sinh anh dũng trong cuộc kháng chiến chống Pháp. Các bạn khác có lẽ do ảnh hưởng của lần ốm mà tôi không nhớ hết tên…”.

Làm phiên dịch trong sứ quán Trung Quốc

Năm 1951, khi Bộ trưởng Giáo dục Nguyễn Văn Huyên kí quyết định thành lập Khu học xá VN tại Trung Quốc thì lứa TSQ của Vũ Thuần được đưa sang học Sư phạm, sau đó một số được chọn vào học lớp Hoa ngữ.

Đến đầu năm 1953 ông cùng một số sinh viên tốt nghiệp giỏi được chọn đi phiên dịch cho đoàn 114 cán bộ quân đội gửi sang trường Sĩ quan pháo cao xạ Thẩm Dương (do đồng chí Văn Giang và Nguyễn Quang Bích phụ trách) học tập, nhận khí tài và chuẩn bị thành lập trung đoàn 367 pháo cao xạ phòng không đầu tiên của QĐNDVN về tham gia Chiến dịch Điện Biên Phủ.

Sau khi các tiểu đoàn pháo cao xạ hành quân về nước, ông cùng 7 đồng chí được phân công về làm giáo viên Trường Thiếu nhi VN ở thành phố Lư Sơn (tỉnh Giang Tây), sau đó chuyển về Giáp Sơn (Quế Lâm, Quảng Tây). Đến năm 1954 thì về nước tiếp tục phiên dịch cho cố vấn quân sự TQ.

Sau ngày giải phóng Thủ đô 10/10/1954, Đại sứ quán TQ – sứ quán đầu tiên của các nước XHCN đóng ở Chiến khu Việt Bắc – chuyển về Hà Nội. Vũ Thuần được Đại sứ La Quý Ba đề nghị đích danh với Thủ tướng Phạm Văn Đồng cho về làm phiên dịch của sứ quán TQ (đây là vinh dự và cũng là một trường hợp đặc biệt trong lịch sử ngoại giao – người VN duy nhất được làm phiên dịch trong sứ quán TQ). Một năm sau, ông về làm việc tại Bộ Ngoại giao.

Nhớ lời dặn của Bác, ông tích cực học thêm tiếng Nga và đến năm 1963 được cử sang công tác tại Đại sứ quán VN tại Bắc Kinh, khi đó Thiếu tướng Trần Tử Bình là đại sứ. Rồi Vũ Thuần được chọn làm phiên dịch cho ông.

Trong những dịp Bác Hồ sang thăm chính thức và không chính thức, Vũ Thuần vinh dự được đón Bác. Mỗi lần tới Bắc Kinh, Trung ương ĐCS TQ mời Bác về nghỉ ở Điếu Ngư Đài (1). Lần đó Đại sứ  giao ông nhiệm vụ mang bản tin sớm từ trong nước gửi sang cho Bác. Biết Người nóng lòng chờ tin từ nhà gửi sang nên 4h30 sáng ông đã có mặt. Vì còn sớm, nghĩ Bác đang ngủ nên không dám làm Người thức giấc, Vũ Thuần ngồi xuống chiếc ghế đặt ngay cửa. Mới ngoài 30, đang còn trẻ nên ông thiu thiu lúc nào không hay.

Sáng ra dậy tập thể dục thấy chú phiên dịch trẻ ngồi tựa cửa đang ngon giấc, Bác không nỡ đánh thức. Khi đi tập về, Bác vỗ vai, Vũ Thuần vội choàng dậy xin lỗi. Bác cười: “Không việc gì, cháu đang tuổi ăn tuổi ngủ mà. Dậy rửa mặt cho tỉnh rồi điểm tin cho Bác!”. Sau đó Bác mời vào cùng ăn điểm tâm. Sợ rằng đi gặp Bác mà lại ngủ quên đã là sai, nay lại được gọi vào ăn cùng mâm, Vũ Thuần e ngại. Song Bác bảo cứ tự nhiên ngồi ăn mà không trách cứ điều gì. Một kỉ niệm và cũng là một bài học nhớ đời.

Tháng 3/2004, tiện về thành phố biển Vũng Tàu, chúng tôi tới thăm ông Vũ Thuần, cựu TSQ Việt Bắc năm 1948, nguyên vụ phó Vụ Á châu (Bộ Ngoại giao). Tuổi đã ngoài 70, tóc bạc trắng. Do di chứng của xuất huyết não mà tay trái hơi bị liệt nhưng ông vẫn không quên kỉ niệm những lần gặp Bác. Khi viết bài này thì ông Vũ Thuần mất đã tròn 1 năm. Xin thắp nén tâm nhang tưởng nhớ đến ông – 1 cựu TSQ VN đáng kính!

…  Ngay từ 23/9/1945, cùng các chiến sĩ, đồng bào Nam bộ chống giặc Pháp đã xuất hiện các chiến sĩ nhỏ, TSQ, đồng tử quân. Sau 19/12/1946, ở Thủ đô xuất hiện các Vệ út, em nuôi trung đoàn, những Ga-vơ-rốt… len lỏi giữa trận mạc đưa thư, đưa công văn, tham gia cứu thương và cả chiến đấu. Rồi trung đoàn nào cũng đào tạo TSQ tại chỗ, rồi các trường TSQ hình thành…

Trong bài viết của bác sĩ Nguyễn Trinh Cơ ở báo Vệ Quốc Đoàn ngày đó có chuyện cảm động: “Những năm đầu kháng chiến chống Pháp, ở trạm quân y tiền phương, tôi đã không cầm được nước mắt khi phải cưa cụt một cánh tay của em Ngọc, một thiếu sinh liên lạc 12 tuổi bị thương từ mặt trận chuyển về”.

Thấy các cháu hy sinh nhiều quá, lo cho đội ngũ kế cận,  Bác Hồ đã nói với Đại tướng Võ Nguyên Giáp: “Các cháu còn nhỏ, không nên để các cháu đi chiến đấu, chết uổng lắm. Tuổi các cháu phải được học hành”.  Vì thế ngày 10/11/1948, Đại tướng kí quyết định 425/TCH thống nhất các nhà trường TSQ trong cả nước.

Chú thích:

(1) Khu dành cho cán bộ cao cấp của Đảng và Chính phủ Trung Quốc ở Bắc Kinh.

  • Trần Kiến Quốc

bee.net.vn

Gặp người 2 lần chở Bác Hồ về thăm quê

(Dân trí) – Một ngày tháng 6, ông Nguyễn Đình Ngọc, người lái chiếc xe Com-măng-ca BKS BAA400 nhận lệnh của cấp trên: Chở một cán bộ cấp cao từ Hà Nội về thăm quê. Khi vị khách bước lên xe, ông mới ngỡ ngàng nhận ra: Bác Hồ.

Giờ đã ở cái tuổi xấp xỉ 100 nhưng cứ nhớ lại lần được chở Chủ tịch Hồ Chí Minh về thăm quê, cụ Ngọc vẫn thấy tự hào lắm.

Nhà cụ Ngọc ở phía sau Bến xe Vinh thuộc khối 4, phường Lê Lợi, TP Vinh, Nghệ An. Để vào được nhà cụ phải đi qua một đoạn đường đất, cỏ cây mọc lút hai bên. Tiếp chúng tôi là anh con trai út của cụ, Nguyễn Đình Hằng (sinh năm 1953). “Hơn 10 năm ni cha tui chẳng tự đi lại được vì bị tai nạn bể đôi đầu gối chân phải. Muốn đi mô lại phải đỡ thôi nhưng ông còn minh mẫn lắm”, anh Hằng mở đầu câu chuyện.

Cụ Ngọc ngồi bên cạnh, mái tóc đã bạc trắng, đôi mắt trõm sâu chỉ còn nhìn thấy mờ mờ nhưng đôi tai còn rất tinh tường. Cụ tiếp lời: “Lúc đó xe cộ đông lắm. Xe tui làm nhiệm vụ bảo vệ, còn xe chở Bác là xe khác. Nhưng Bác nỏ đi mà lại lên chiếc xe cọc cạch tui ngồi. Bác vận đồ rất giản dị. Cả hai lần Bác về thăm quê đều thế. Tui run và bất ngờ lắm vì trước đó nỏ ai thông báo là Chủ tịch Hồ Chí Minh về thăm quê mô”.

“Thế Bác có nói chuyện chi với cụ không?”. “Tui chỉ biết cầm chắc tay lái vì nghĩ có răng Bác mới lên xe mình. Lỡ có chuyện chi thì dở. Bác ngồi phía sau xe chẳng nói chi cả. Mà có hỏi tui mô mà nói”.

Cụ Nguyễn Đình Ngọc sinh năm 1909, quê gốc Thọ Hạc, Đông Sơn (nay là TP Thanh Hoá). Năm 1946 cụ vào Nghĩa Đàn (Nghệ An) tham gia kháng chiến. Năm 1954 làm lính lái xe chở hàng tiếp viện cho chiến dịch Điện Biên Phủ. Sau đó lại được nhận nhiệm vụ chở đoàn Ấn Độ về thực hiện hiệp định Giơnevơ ở Việt Nam. Năm 1955, làm lái xe cho Tỉnh uỷ Nghệ An chuyên chở công văn, tài liệu hoả tốc đi khắp nơi.

Cụ Ngọc có 5 người con 3 trai, 2 gái. Năm 1980 một người con đã hy sinh. Hiện cụ đang ở với người con út.

Hồi tưởng lại ngày đáng nhớ, đó là ngày 12/6/1957. Trước đó, anh lính lái xe Nguyễn Đình Ngọc chỉ nghe về Bác Hồ qua những câu chuyện người khác kể, qua đài báo. Mong ước được gặp vĩ nhân ngỡ chẳng bao giờ thành hiện thực. Hôm đó lãnh đạo Tỉnh uỷ Nghệ An họp đột xuất và giao nhiệm vụ chuẩn bị đón Đoàn khách trung ương về, ngoài ra không tiết lộ thêm thông tin gì.

Sáng hôm sau, mọi người tập trung đông đủ tại sân bay Vinh đón khách. Bác Hồ giản dị trong bộ trang phục kaki cũ, bước xuống từ chiếc trực thăng trong sự ngỡ ngàng của mọi người. Vinh dự hơn, tự hào hơn cho ông Ngọc là chiếc xe Com-măng-ca ông lái lại được Bác chọn ngồi. Bỗng nhiên ông Ngọc thấy mình thật hãnh diện, xen lẫn cảm giác căng thẳng vì đảm trách một nhiệm vụ lớn lao.

Chiếc xe của ông Ngọc đưa Bác đi một số địa điểm trong TP Vinh rồi chở Bác Hồ về thăm quê nhà Kim Liên. “Cả đoạn đường về quê, muốn được nói chuyện với Bác, hỏi thăm sức khoẻ Bác nhưng sao chẳng nhích môi được, chỉ còn biết chăm chăm vào tay lái” – cụ Ngọc tiếc nuối.

Lần thứ hai, hạnh phúc lại đến với ông Ngọc khi lại được là người chở Bác về thăm quê ngày 8/12/1961. Nhớ lại lần đó, cụ Ngọc còn rưng rưng: “Lần đó Bác đã không còn khoẻ, tóc đã bạc nhiều. Bác căn dặn nhiều lắm… Không ngờ đó lại lần cuối cùng Bác về thăm nơi chôn rau cắt rốn”.

Sau những năm dài triền miên trên các nẻo đường, năm 1971 cụ Ngọc nghỉ hưu. Nhưng suốt gần 15 năm sau đó cụ vẫn không hề ngơi nghỉ vì UBND TP Vinh mời cụ tham gia làm Hội thẩm nhân dân. Nay đã ở cái tuổi xưa nay hiếm nhưng hàng ngày cụ Ngọc vẫn luôn nhắc nhở con cháu gìn giữ hàng chục giấy khen, bằng khen từ Uỷ ban kháng chiến, UBND tỉnh Nghệ An… như những báu vật.

Và có một ký ức cụ mãi mãi không bao giờ quên, đó là 2 lần cụ vinh dự được chở Bác Hồ kính yêu về thăm quê hương.

Đặng Nguyên Nghĩa
dantri.com.vn

Chuyện “bé Vách” hai lần được nhận Huy hiệu Bác Hồ

22 tuổi được phong Anh hùng lao động, và hai năm sau trở thành đại biểu Quốc hội liên tiếp ba khóa III, IV, V. Tự hào hơn, “nữ Sơn Tinh” Phạm Thị Vách đã vinh dự hai lần được nhận Huy hiệu Bác Hồ.

17 tuổi, cô đoàn viên Phạm Thị Vách (sinh năm 1940, tại xã Hùng Cường, Kim Động, Hưng Yên) đã nổi tiếng trong các phong trào thủy lợi “vắt đất ra nước, thay trời làm mưa”, “nghiêng đồng đổ nước ra sông”.

Tuổi đôi mươi, Vách là kiện tướng thủy lợi. 22 tuổi được phong Anh hùng lao động, và hai năm sau trở thành đại biểu Quốc hội liên tiếp ba khóa III, IV, V. Tự hào hơn, “nữ Sơn Tinh” Phạm Thị Vách đã vinh dự hai lần được nhận Huy hiệu Bác Hồ.

Tuổi gần thất thập nhưng nữ anh hùng Phạm Thị Vách vẫn nhanh nhẹn, khỏe mạnh, vẫn tinh anh phụ giúp con dâu bán hàng ngay tại nhà ở thị trấn Lương Bằng (huyện Kim Động). Nhớ lại chuyện 50 năm trước, người đàn bà nhỏ nhắn đưa tay vuốt hai khóe miệng thắm đỏ quết trầu, khoe hàm răng hạt na đen nhánh, chậm rãi kể…

Cuối năm 1958, khi về thăm đại công trường Bắc Hưng Hải, Bác Hồ nghe chuyện cô kiện tướng thủy lợi, đã gửi huy hiệu nhờ bí thư tỉnh ủy Hưng Yên tặng lại cho Vách…

Chỉ hơn một năm sau, năm 1960, Bác lại về thăm Hưng Yên và đích thân Người trao huy hiệu lần hai của mình cho Vách. “Tôi không thể nào quên được ngày hôm đó. Bác về Hưng Yên (khi đó luôn dẫn đầu miền Bắc về làm thủy lợi) dự Hội nghị tổng kết công tác thủy lợi toàn miền Bắc. Sau khi nghe báo cáo thành tích làm thủy lợi, Bác hỏi bí thư tỉnh ủy Lê Quí Quỳnh về những điển hình nữ có nhiều không.

Bí thư Quỳnh dẫn tôi lên, Bác cười tươi lắm, gọi tôi là “bé Vách”. Rồi Bác hỏi hội nghị: “Mọi người thấy thành tích của bé Vách có tốt không? Mọi người có đồng ý để Bác tặng bé Vách huy hiệu lần thứ hai không?”. Cả hội trường đều hô to “đồng ý ạ”. Không chỉ trực tiếp gắn huy hiệu trước hội nghị, lời dặn của Bác khi tặng huy hiệu cho bà làm bà nhớ mãi: “Cháu làm tốt rồi, học tập tốt rồi thì phải làm tốt hơn nữa, học tốt hơn nữa. Phải gần gũi lắng nghe quần chúng, học tập quần chúng để mà làm”.

Tuổi gần “thất thập” nhưng AHLĐ Phạm Thị Vách vẫn khỏe mạnh, nhanh nhẹn và tinh anh.

Theo lời Bác, cô thôn nữ Phạm Thị Vách quyết đi học thêm. Học bổ túc cấp III xong, cô được bầu giữ chức chủ nhiệm HTX, rồi chủ tịch xã, bí thư đảng ủy xã khi tuổi mới chỉ ngoài đôi mươi. Vinh dự hơn, tháng 5/1962, Vách được bầu đi dự Đại hội thi đua yêu nước toàn quốc lần 3 tại Hà Nội. Tại đây, một lần nữa “bé Vách” lại được gặp Bác Hồ. Đêm trước đại hội, Bác mời các đại biểu trẻ, đại biểu nữ đến Phủ Chủ tịch, “đãi” kẹo.

Thấy Vách rụt rè, Bác cười tươi: “Bé thế mà là anh hùng đấy, giỏi quá. Nhưng sao bé Vách không ăn kẹo đi, các cháu trai khác ăn mất phần bây giờ”. Rồi Bác ân cần hỏi chuyện chồng con của Vách. Vách trả lời: “Cháu đợi nước nhà thống nhất mới tính”. Bác cười bảo: “Cháu là con trai như mấy anh kia đâu mà đợi. Con gái có thì, lo làm, lo cho dân thì cũng phải lấy chồng chứ”.

Tại đại hội, với những thành tích đóng góp trong công tác thủy lợi, nhất là những sáng kiến và liên tục là “kiện tướng”, chiến sĩ thi đua bốn năm liền, Phạm Thị Vách đã được phong Anh hùng lao động – và chị là người duy nhất (lại là nữ) trong số hàng vạn người tham gia “đại công trường” thủy nông Bắc Hưng Hải được đón nhận vinh dự ấy khi mới tròn 22 tuổi. Cũng năm ấy, Vách được đứng trong hàng ngũ Đảng Cộng sản.

Theo Đức Bình, Đình Tú
Tuổi Trẻ
dantri.com.vn

Thượng tướng Hoàng Minh Thảo và kỷ niệm với Bác Hồ

(Dân trí) – Đây là những câu chuyện, suy nghĩ cảm động của GS Thượng tướng Hoàng Minh Thảo về Chủ tịch Hồ Chí Minh. Những kỷ niệm đó dù nhỏ, nhưng đã đi theo vị tướng tài ba này, trải bao tháng năm trận mạc, góp phần làm nên những chiến công lừng lẫy non sông.

Bác đãi cháo quẩy ở Nam Ninh

Dự trù trước những tháng ngày cam go sắp tới của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, Bác chủ trương chọn một số thanh niên có cảm tình với Đảng tại các địa phương, chủ yếu là Cao Bằng, Lạng Sơn sang học tại trường Quân sự ở Liễu Châu (Trung Quốc) từ năm 1941 đến năm 1944. Là một trong những thanh niên được chọn, nhưng vì ở xa nên tôi không được gặp Bác.

Mùa hè 1944 trên đường trở về Việt Nam sau những tháng dài chịu bao gian khổ trong nhà tù Tưởng Giới Thạch, Bác Hồ vẫn xếp lịch dừng lại ở Nam Ninh gặp mặt những thanh niên Việt Nam đang học tại trường Quân sự Liễu Châu. Bác đến nói chuyện với anh em, động viên mọi người đoàn kết, chịu khó học tập quân sự để sau này về tổ chức lực lượng vũ trang, kháng Pháp.

Khi gặp Bác, anh em chúng tôi ai cũng thương cảm vì trông Bác rất gầy và yếu. Tôi cùng một vài anh em khi đó là học viên lớp biệt động quân Trung – Mỹ, được trợ cấp cũng khá tốt nên muốn mời Bác một bữa ăn “kha khá một chút”. Nhưng Bác không đồng ý. Bác bảo: Ta còn nghèo, các đồng chí cũng chỉ được phụ cấp một ít, phải suy nghĩ tính toán thật kỹ khi tiêu dùng. Sau đó mấy Bác cháu cùng đi ăn cháo quẩy và Bác là người trả tiền.

Chỉ riêng một chi tiết rất nhỏ đó, cũng khiến anh em lưu học sinh tại trường Quân sự suy nghĩ rất nhiều về Bác, về cuộc kháng chiến sắp tới. Đó là sự nhất quán trong mọi hoàn cảnh: tiết kiệm, chủ động, tự lực cánh sinh.

Tư tưởng “lấy dân làm gốc”

Một điều nữa, tôi rất muốn nói đến, đó là tư tưởng kế thừa sâu sắc tinh hoa quân sự dân tộc của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trong đó, tư tưởng vĩ đại “Lấy dân làm gốc” đóng vai trò sợi chỉ đỏ xuyên suốt. Đức thánh Trần Hưng Đạo có nói: “Khoan thư sức dân làm kế sâu rễ bền gốc. Đó là thượng sách giữ nước”.

Nguyễn Trãi thì nói: “Dân là người chở thuyền và cũng là người lật thuyền”. Hồ Chí Minh nói: “Nước lấy dân làm gốc. Trong công cuộc kháng chiến kiến quốc, lực lượng chính là ở dân… Gốc có vững cây mới bền. Xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân”.
Điều này đặc biệt thể hiện ở nghệ thuật quân sự, phương thức chiến tranh của Đảng ta, của Bác Hồ: Lấy nhỏ thắng lớn, lấy ít địch nhiều, lấy thế thắng lực.

Về điều này, Nguyễn Trãi nói: Được thời được thế thì mất biến thành còn, nhỏ hoá ra lớn, không thời mất thế thì to hoá ra nhỏ, mạnh hoá ra yếu, an lại thành nguy. Và Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Lạc nước hai xe đành bỏ phí. Gặp thời một tốt cũng thành công”.

Trong thực tế chiến tranh, nghệ thuật quân sự của Việt Nam được thể hiện ở sự kết hợp lực, thần, thế, thời, mưu để tạo thành sức mạnh tổng hợp để tiến hành chiến đấu và chiến thắng kẻ địch. Mưu cao nhất là mưu lừa địch. Kế hay nhất là kế điều địch. Thế tốt nhất là thế chia cắt địch. Mưu sinh ra kế – Thế đẻ ra thời. Đánh bằng mưu, kế, thắng bằng thế, thời.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Không có gì quý hơn độc lập tự do”. Độc lập, tự do chính là người dân có quyền làm chủ cuộc sống của mình. Chính vì vậy mà nhân dân ta đã anh dũng đấu tranh giành độc lập. Đại đoàn kết toàn dân tộc sẽ tạo nên sức mạnh to lớn. Chúng ta đã đánh thắng hai đế quốc to lớn, hung bạo nhất thế giới trên cơ sở kế thừa và phát huy những truyền thống tinh hoa của tổ tiên, dưới sự lãnh đạo tài tình của Đảng và Bác Hồ, với trí thông minh sáng tạo của quân và dân ta.

Ngoài ra, thắng lợi của chúng ta còn nhờ sự giúp đỡ của nhân dân các nước tiến bộ trên thế giới. Chúng ta đã biết kết hợp sức mạnh của dân tộc và sức mạnh của thời đại để làm nên chiến thắng, mở ra giai đoạn mới của lịch sử dân tộc.

Suy nghĩ của riêng tôi, để cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” đi vào thực tiễn, ngoài việc giáo dục thật mạnh thì phải đi đôi với việc quản lý chặt chẽ cán bộ. Và người cán bộ, dù ở bất cứ lĩnh vực nào, vị trí nào, cũng phải là người làm gương trước hết!

Phúc Hưng (ghi)
cpv.org.vn

Người nữ anh hùng 5 lần được gặp Bác

“Cuộc đời tôi có 5 điều may mắn nhất, cũng là 5 niềm vinh dự lớn lao nhất, đó là 5 lần được gặp Bác Hồ. Bác đã hỏi han, dạy bảo những điều rất giản dị, đời thường nhưng tôi thấy chứa đựng tình thương bao la… Gần 50 năm trôi qua nhưng những lời Bác dạy vẫn còn in mãi trong trái tim tôi…”.

Trong ngôi nhà nhỏ bên con đường 12A huyền thoại, thuộc địa phận xã Cảnh Hóa, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình, nữ Anh hùng Nguyễn Thị Kim Huế kể cho chúng tôi nghe những hồi ức đẹp và thiêng liêng về 5 lần được gặp Bác Hồ.

Thời máu lửa

Cô gái Thanh niên xung phong (TNXP) quả cảm trên con đường 12A huyền thoại năm ấy giờ đã bước sang tuổi 68, nhưng trong bài viết này, tôi xin mạn phép gọi bà là chị như thuở bà còn là cô gái đôi mươi trên tuyến đường máu lửa.

Sinh năm 1940, tuổi thơ của chị không biết được khuôn mặt cha mẹ. Nhà nghèo, chị phải làm thuê từ nhỏ để mưu sinh. Tháng 6/1965, giặc Mỹ leo thang bắn phá ác liệt miền Bắc, 19 tuổi, chị đã có chồng nhưng vẫn làm đơn xin nhập ngũ vào lực lượng TNXP trên tuyến đường 12A máu lửa.

182 người của huyện Tuyên Hóa lúc bấy giờ lập nên đơn vị 759, đội 75, công trường 12. Chị là Tiểu đội trưởng Tiểu đội 6, có 16 chị em. Đơn vị được giao phụ trách tuyến đường 12A từ Nam cầu La Trọng đến Bãi Dinh. Giặc Mỹ điên cuồng thả bom nhằm làm tê liệt tuyến đường. Năm 1965, Trung đội quyết tử được thành lập, chị giữ chức Trung đội trưởng. Với tinh thần quyết tử cho tuyến đường luôn thông suốt, chị và đồng đội mỗi lần vào trận đánh đều được “làm lễ truy điệu sống”.

Ngày 3/7/1966, máy bay B52 của Mỹ đã điên cuồng đánh phá tuyến đường. 45 ngày đêm chiến đấu, 24 đồng đội của chị đã hy sinh, vừa thông đường các chị vừa tìm xác đồng đội. Bản thân chị cũng đã bị bom vùi nhiều lần, tỉnh lại chị lại lao vào trận tuyến…

Vinh dự đã đến với chị ngày 1/1/1967, được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lao động. Đại đội 759 cũng được tặng danh hiệu Anh hùng lao động mà Tiểu đội 6 của chị là con chim đầu đàn.

Tại các địa danh ác liệt như Ba Trại, nam Sông Gianh, bến phà Gianh… giặc điên cuồng bắn phá, thả bom nổ chậm, bom từ trường. Không một chút sợ hãi, các chị lao vào đối đầu với cái chết, phá bom từ trường chỉ với đoạn dây gần 100m, gắn với một đoạn sắt, kéo đoạn dây này đi qua các quả bom, bom từ trường bị kích nổ chỉ cách người 5 mét.

5 lần gặp Bác Hồ

Từ những chiến công trên đường Trường Sơn anh hùng, tháng 11/1966, chị được cử ra tỉnh Hưng Yên tập huấn quân sự. Chính nơi đây chị đã bất ngờ được gặp Bác Hồ.

Chị xúc động kể: “Vào một ngày cuối buổi kiểm tra môn bắn súng, kết quả 3 lần bắn tôi đều đạt ưu tú. Lúc ấy có một ông già tóc bạc phơ, mặc quần áo bà ba, chân đi dép cao su đến gần tôi và hỏi: “Cháu có bí quyết gì bắn súng mà giỏi như vậy, cháu bày cho Bác với?”. Tôi thật thà trả lời: “Cháu chỉ bình tĩnh, tự tin, nín thở và bóp cò thôi ạ”.

Buổi chiều tổng kết lớp học, ông già ấy khoác bộ Kaki sờn cũ khen tôi: “Con gái Quảng Bình sản xuất giỏi, chiến đấu giỏi, làm gì cũng giỏi”. Lúc ấy tôi mới biết đó là Bác Hồ.

Cũng trong năm 1966, chị lại được vinh dự có mặt trong Đoàn đại biểu của ngành Giao thông vận tải Quảng Bình ra báo cáo thành tích với Bác. Bác hỏi: “Các cô chú Quảng Bình ra thăm Bác có chuyện chi?”. Lúc ấy, chị là đại biểu trẻ nhất nên được Bác hỏi chuyện. Bác hỏi thăm tình hình anh em, hỏi chuyện gia đình chị. Bác hỏi bao giờ có con, chị trả lời: “Thưa Bác khi nào cách mạng thành công, hết giặc Mỹ cháu mới sinh con”. Bác bảo: “Sự nghiệp đánh giặc Mỹ còn dài lâu, cháu phải sinh con để sau này còn đi đánh giặc nữa chứ. Cháu đánh giặc giỏi nhưng phải làm tốt việc gia đình”.

Lần gặp Bác Hồ thứ ba là tại Đại hội Anh hùng toàn quốc tháng 1 năm 1967. Đoàn Quảng Bình có 11 đại biểu, trong đó người cao tuổi nhất là mẹ Suốt, trẻ nhất là chị Trần Thị Lý. Sau khi được gắn danh hiệu Anh hùng, chị được Bác quàng khăn và tặng chiếc đồng hồ đeo tay Liên Xô. Cả 3 người được vinh dự chụp ảnh với Bác. Bác và đồng chí Tố Hữu đã khóc khi nghe chị kể chuyện 45 ngày dưới mưa bom bão đạn để san lấp đường, phá bom tìm xác đồng đội.

Lần gặp thứ tư có thể nói là lần gặp xúc động nhất trong cuộc đời chị. Đó là vào dịp Đại hội TNXP toàn quốc lần thứ 4 (tháng 7/1967). Lúc đó chị được vinh dự tặng hoa cho Bác. Khi Bác xuất hiện, chị ào tới tặng hoa cho Người. Đúng khoảnh khắc này bức ảnh 2 Bác cháu ra đời, sau này được Nhà in Tiến Bộ in ra hàng vạn bức ảnh phát hành trên toàn quốc và bây giờ bức ảnh này vẫn được chị giữ gìn, treo cẩn thận nơi trang trọng nhất trong nhà.

Lần gặp Bác cuối cùng của chị vào dịp kỷ niệm 50 năm Cách mạng Tháng 10 Nga. Trước khi sang thăm Liên Xô, chị và các đại biểu đã được gặp Bác và nghe Bác dặn dò. Chị nhớ, trong buổi họp báo quốc tế, có nhà báo hỏi: “Dũng sĩ diệt Mỹ sao bé nhỏ thế?”, “Việt Nam nhỏ bé nghèo nàn sao thắng được Mỹ?”. Chị khẳng khái nói: “Tôi tuy nhỏ bé nhưng tinh thần không nhỏ. Chúng tôi không sợ kẻ thù, lớp này hy sinh có lớp khác lên thay…”. Sau này Bác khen chị trả lời thông minh, đanh thép.

Lúc Bác mất, chị được cử đi viếng Người, được phép để tang Người 3 tháng 10 ngày. Trong thời gian này, chị cùng với 5 đồng chí khác đi Nhật Bản và Trung Quốc để tuyên truyền về bộ phim “Đời hoạt động của Bác Hồ với thanh niên Việt Nam”, trong bộ phim đó, chị và chị Trần Thị Lý đóng vai chính.

Năm 1995 chị về nghỉ hưu với thương tật vĩnh viễn 25%. Một mình chị phải tần tảo nuôi 3 người con, do chồng chị mất sớm. Hai người con đầu của chị giờ đã lập gia đình, nối nghiệp theo ngành giao thông của chị, đặc biệt người con cả hiện giờ đang thi công con đường 12A công nghiệp hóa, con đường lịch sử mà xưa kia chị và những đồng đội đã ghi nên những chiến công anh hùng.

Hiện chị sống cùng hai đứa cháu trong ngôi nhà nhỏ nằm trên đường 12A, con đường đã gắn chặt cuộc đời oanh liệt của chị. Tiền lương hưu cộng với tiền trợ cấp thương tật mỗi tháng chỉ được lĩnh hơn 1 triệu đồng, số tiền đó dành nuôi hai đứa cháu.

Thấy tôi ái ngại, chị bảo: “Ngày trước Bác Hồ sống giản dị, bữa cơm rau muống đạm bạc, cuộc sống của Bác thanh liêm như thế mà vẫn hoạt động cách mạng thắng lợi. Bây chừ mình có lĩnh lương mỗi tháng những một triệu là bữa cơm có cá rồi đấy. Thế là sống tốt rồi, tấm gương của Bác mình luôn làm theo. Cuộc sống như thế này là tốt rồi. Mình không đòi hỏi gì thêm, Nhà nước còn phải sẻ chia với muôn vàn đồng bào khó khăn nữa mà”.

Theo M.Phong – Ph.Phương
Sài Gòn Giải Phóng
dantri.com.vn

Gặp người đầu tiên được mang họ Bác Hồ

(Dân trí) – “Bốn lần được gặp Bác Hồ, cùng ăn cơm, cùng nói chuyện với Bác cũng là lúc tôi vinh dự được Bác đặt cho họ Hồ” – anh hùng Hồ Đức Vai, người dân tộc Pa Kô, không giấu niềm tự hào.

Anh hùng Hồ Vai chụp ảnh với Bác Hồ năm 1965, Hồ Vai đứng bên phải Bác.

Anh hùng Hồ Đức Vai sinh năm 1940, đến nay vẫn được người dân vẫn âu yếm gọi là người thành lập ra họ Hồ ở thôn Lê Lộc, xã Hồng Bắc, huyện A Lưới, Thừa Thiên – Huế.

Những năm 1961, 1962, ở mảnh đất Trị Thiên khói lửa, giặc Mỹ tàn phá dã man. Hồ Vai lúc ấy đang là anh du kích của xã, nghe trên đài về những chiến công của Bác, ngưỡng mộ Bác, ơn Đảng, ơn Bác Hồ như suối nguồn chảy mãi không bao giờ cạn. Cũng vì lẽ đó Hồ Vai đã tự nguyện lấy họ Bác Hồ làm họ của mình để thể hiện một long son sắc theo cách mạng.

Năm 1964, anh du kích Hồ Vai (24 tuổi) vinh dự được đi dự Đại hội chiến sĩ Anh hùng thi đua toàn miền Nam tổ chức tại Tây Ninh. Trong số 32 cán bộ chiến sĩ được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực Lượng vũ trang có 2 du kích người dân tộc (A Vai, dân tộc Pa Kô tỉnh Thừa Thiên-Huế và Pi Năng Tak, dân tộc Răglai tỉnh Ninh Thuận).

Sau năm 1965 anh hùng Hồ Vai được ra Hà Nội thăm quan, học văn hóa, học sĩ quan lục quân… Anh tự hào là người bốn lần được gặp Bác Hồ, cùng ăn cơm nói chuyện với Bác.

40 năm trôi qua rồi, giờ nghĩ lại, anh hùng Hồ Vai vẫn rơi những giọt nước mắt hạnh phúc. “Điều mà Bác hỏi tôi nhiều nhất là về vấn đề người dân tộc ít người. Thấy tui nói rành mạch, Bác khen”, ông nhớ lại.

Cũng từ lần đầu tiên đó, Bác chính thức đặt tên họ Hồ cho chàng du kích người dân tộc Pa kô là Hồ Đức Vai.

Năm 1968 khi chuẩn bị cho tết Mậu Thân, Hồ Vai trở lại Miền Nam chiến đấu. Ông vận động tuyên truyền cho lực lượng vũ trang tất cả đều bỏ họ mình lấy họ Bác Hồ. “Tất cả có đồng ý không? Đồng ý, đồng ý”. Rồi từ đó họ Hồ đi sâu vào lòng quần chúng nhân dân, cho đến ngày nay chủ yếu là ở các dân tộc thiểu số như: Pa Cô, Tà Ôi, Cà Tu, Pa Hy…

“Ngày xưa chưa có họ Bác Hồ, người dân nơi đây nghèo lắm. Thời đó, đồng bào miền núi sống du canh du cư, săn bắn, hái măng và củ rừng, thiếu cơm lạt muối, dẫn đến đau ốm, bệnh tật, chết dần chết mòn. Ngay cái tên, cái họ của mình cũng được đặt theo tên các loài cây rừng như Ra pát, Pơ loong, Pi siêh, A relơ… Từ ngày có cán bộ, bộ đội lên giúp bà con xây dựng bản làng, đánh đuổi giặc Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, dạy cái chữ Bác Hồ, cuộc sống đồng bào mới thoát khỏi cảnh đói nghèo, tăm tối” – Anh hùng Hồ Vai kể lại.

Năm 1969, khi Bác mất, để nhớ ơn Bác, đồng bào các dân tộc thiểu số miền núi tỉnh Thừa Thiên- Huế đồng loạt mang họ Bác Hồ để tỏ lòng thương kính đối với Bác.

Núi Phấn

dantri.com.vn

Kỷ niệm lần được đón Bác từ Fontainebleau về nước

(Dân trí) – Sau ngày Cách mạng tháng Tám thành công, Bác Hồ sang Pháp dự hội nghị Fontainebleau. Người về nước tại cảng Hải Phòng tháng 10/1946. Thiếu tá Cao Phong – người nhận nhiệm vụ đón Bác Hồ – không bao giờ quên giây phút lịch sử ấy.

Bài viết dưới đây được ghi lại theo tư liệu của ông Nguyễn Thế Vinh, con trai cố Thiếu tá Cao Phong, Nguyên Trưởng Ty liên kiểm Việt – Pháp miền duyên hải Bắc bộ năm 1946.

“Trong những năm hoạt động cách mạng, có biết bao nhiêu sự kiện đến với tôi. Song được đón Bác Hồ từ Fontainebleau trở về là một kỷ niệm mà cho đến nay tôi vẫn không sao quên được.

Sau khi tham gia trận đánh lớn tiễu phỉ ngày 08 tháng 12 năm 1945 giải phóng thành Hà Giang, tôi được Bộ Quốc Phòng điều về Trường Cán bộ Việt Nam Trần Quốc Tuấn do đồng chí Trần Tử Bình làm Giám đốc.

Từ trái sang: Hoàng Hữu Nam – Trưởng ban Liên kiểm TW; Chủ tịch Hồ Chí Minh; Thiếu tá Cao Phong; Bác sĩ Nguyễn Xuân Nguyên – Chủ tịch uỷ ban hành chính Hải Phòng (Ảnh do ông Nguyễn Thế Vinh, con trai Thiếu tá Cao Phong cung cấp)

Đến ngày 15 tháng 3 năm 1946, tôi lại được Bộ giao nhiệm vụ Trưởng Ty Liên kiểm Việt – Pháp Hải Phòng với quân hàm thiếu tá. Trước khi đi nhận nhiệm vụ, đồng chí Hoàng Văn Thái có gọi tôi lên căn dặn nhiêm vụ quan trọng của Liên kiểm trong tình hình đang có sư đoàn thuỷ quân lục chiến Pháp ở Hải Phòng. Trước khi trao cho tôi quyết định nhận nhiệm vụ, đồng chí Hoàng Văn Thái mở ngăn kéo lấy ra năm mét vải kaki đưa cho tôi và bảo: “Liên kiểm hàng ngày phải giáp mặt với quân Pháp, nên phải ăn mặc cho đàng hoàng. Anh cầm vải đi may ngay một bộ quân phục và phải có mặt ở Hải Phòng đúng ngày 15 tháng 3 năm 1946 để nhận nhiệm vụ”.

Ở Hải Phòng đến ngày 12 tháng 8 năm 1946 tôi lại nhận được quyết định của cấp trên giao cho chức vụ Trưởng Ty Liên kiểm Việt – Pháp miền duyên hải Bắc Bộ, quản lý một vùng đất từ Hải Phòng đến Móng Cái.

Bác Hồ trở về nước là một sự kiện quan trọng. Với tư cách là chỉ huy Liên kiểm miền duyên hải Bắc Bộ, tôi cũng được cấp trên cho biết trước. Phía Pháp, Đại tá Đép, Tổng chỉ huy sư đoàn thuỷ quân lục chiến ở Hải Phòng, gặp tôi, đề nghị cho binh sỹ Pháp được tham gia lễ đón Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tôi báo cáo ngay với đồng chí Hoàng Văn Thái về yêu cầu của phía Pháp và nhận được sự đồng ý với điều kiện phía Pháp phải đón Bác Hồ theo nghi lễ trọng thể nhất của nước Pháp.

Tôi trở lại làm việc với Đại tá Đép. Lần này tôi nói rõ từng chi tiết phía Pháp phải làm trong nghi lễ đón rước Chủ tịch Hồ Chí Minh. Mọi yêu cầu của ta phía Pháp đều đồng ý. Riêng phần quân kỳ danh dự của nước Pháp chào Hồ Chủ tịch như thế nào thì cứ bàn đi bàn lại mãi. Cuối cùng phía Pháp phải đồng ý cử hành nghi lễ như đón chào Tổng thống của chính nước họ. Nghĩa là khi Hồ Chủ tịch đi qua quân kỳ của nước Pháp thì quân kỳ danh dự của nước Pháp phải hạ xuống chấm đất để chào Người. Đó là nghi lễ trọng thể nhất của nước Pháp

Chân dung Thiếu tá Cao Phong

Ngày 21 tháng 10 năm 1946, thông báo hạm Đuy-mông Đuyếc-vin-lơ của hải quân Pháp đưa Bác cập bến Ngự, Hải Phòng. Hàng quân danh dự đứng đón Bác, một bên là Vệ quốc đoàn của ta, còn một bên là hàng quân danh dự của Sư đoàn thuỷ quân lục chiến Pháp, có quân kỳ trung đoàn, có cả quân nhạc.

Nhân dân Hải Phòng đứng đón Bác chật ních cả hai bên đường. Vì có quân đội Pháp tham gia nghi lễ đón Bác và phải chịu sự chỉ huy chung của tôi nên khẩu lệnh tôi sẽ phải hô bằng tiếng Pháp. Hôm ấy, đứng ngay dưới cầu tàu đón Bác, tôi thấy có đông đảo quan khách trong đó có cụ Nguyễn Văn Tố; Bộ trưởng Quốc phòng kiêm Tổng chỉ huy quân đội Võ Nguyên Giáp; ông Nghiêm Kế Tố; ông Trần Huy Liệu; ông Phạm Văn Bạch. Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Võ Nguyên Giáp gọi tôi lại gần, chỉ thị: “Anh là chỉ huy cuộc duyệt binh, anh phải lên tàu rước mời Bác xuống duyệt đội danh dự”.

Nhận lệnh của Bộ trưởng, tôi bước lên tàu Đuy-mông Đuyếc-vin-lơ trong bộ quân phục chỉnh tề, bên mình đeo kiếm chỉ huy danh dự. Khi tới nơi, tôi thấy Bác Hồ chỉ có một mình, hai tay chắp ra phía sau, đi đi lại lại trên sàn tàu như Người đang suy nghĩ điều gì. Tôi mừng quá sững người lại trong tư thế đứng nghiêm, đưa tay lên vành mũ kính cẩn chào Bác và thưa: “Kính thưa Bác, Quân uỷ Trung ương uỷ nhiệm cháu lên đón Bác, kính mời Bác xuống duyệt đội danh dự ạ”.

Là chỉ huy cuộc duyệt binh, tôi hiểu trọng trách và vinh dự lớn của mình. Tôi đi chếch về phía bên phải Bác, theo đúng nghi thức một sỹ quan cận vệ bên cạnh một nguyên thủ quốc gia. Khi còn cách hàng quân danh dự chừng mười thước, tôi hô to khẩu lệnh để nghi lễ đón Bác được bắt đầu.

Sau lời hô của tôi, hai bên hàng quân danh dự nghiêm lệnh bồng súng chào. Quân nhạc phía Pháp long trọng cử Quốc ca. Khi Bác qua hàng quân danh dự, Quân kỳ danh dự của nước Pháp đã hạ xuống chấm đất để chào Người theo đúng nghi thức trọng thể nhất. Lúc ấy, tôi thấy một nhà quay phim nước ngoài đã quỳ xuống sát đất rất lâu để quay cảnh ấy. Lòng tôi bỗng rộn lên một niềm vui sướng.

Đi qua hàng quân, Bác tiếp cận đông đảo nhân dân Hải Phòng đứng chật hai bên đường. Bác giơ tay vẫy chào đồng bào rồi lên xe về nhà khách của Ủy ban thành phố. Còn tôi, cả cuộc đời đi theo cách mạng, đã có biết bao nhiêu kỷ niệm. Song lần được đón Bác là kỷ niệm sâu sắc nhất của một người lính đã đi suốt hai cuộc trường chinh.

Quốc Cường (trích ghi)

cpv.org.vn