Thư viện

Nói và viết với phong cách Bác Hồ

Ảnh tư liệu

Cứ mỗi lần đến ngày kỷ niệm báo chí cách mạng Việt Nam, tất cả những người làm báo, những người đọc báo, quan tâm đến báo chí Việt Nam đều nhớ đến một con người, một cái tên – vĩ đại mà thân quen – Hồ Chí Minh – người đã khai sinh ra nền báo chí cách mạng Việt Nam. Cho đến hôm nay, chúng ta vẫn có thể học tập từ nhiều điều từ sự nghiệp làm báo – làm cách mạng của Bác; vẫn còn cảm nhận được hơi ấm của tình người và ánh sáng của những tinh hoa văn hoá toả ra từ khối lượng đồ sộ những tác phẩm, bài nói, bài viết của Người…

Học viết và học nói

Trong rất nhiều điều Bác Hồ mong muốn các cán bộ cách mạng phải rèn luyện, có điều Bác mong muốn mỗi người đều phải học viết; học nói. Đối với Bác, tiếng Việt là của cải lâu dài và vô cùng quý báu của dân tộc, “chúng ta phải giữ gìn nó, Quý trọng nó, làm nó phát triển ngày càng rộng khắp”. Học viết học nói cũng không chỉ giới hạn trong đội ngũ cán bộ tuyên truyền, trong đội ngũ những người cầm bút mà cũng là điều cần thiết đối với mọi người, từ các em học sinh còn đang ngồi trên ghế nhà trường…

Trong sự đa dạng và phong phú của những bài nói, bài viết của Hồ Chí Minh, có thể rút ra những nét chung nổi bật nhất của phong cách diễn đạt mà Người đã thể hiện suốt cuộc đời mình, một phong cách mẫu mực cho cả hiện tại và tương lai.

Đối với “nhà báo” Hồ Chí Minh trước hết cần xác định rõ chủ đề đối tượng, mục đích của việc nói và viết từ đó mới có thể tìm cách nói, cách viết cho phù hợp nhất mới chủ đề, với đối tượng để đạt được mục đích đề ra. Trong tác phẩm Sửa đổi lối làm việc, trong bài Cách viết; trong bài nói tại Đại hội Hội Nhà báo Việt Nam lần thứ hai; bài nói tại Hội nghị tuyên truyền miền núi (1958), cũng như trong toàn bộ các bài nói, bài viết của Hồ Chí Minh chúng ta đều thấy Người nhấn mạnh bốn vấn đề liên quan chặt chẽ với nhau: Nói, viết cái gì? Nói, viết như thế nào? Chủ đề, đối tượng, Mục đích quyết định cách thể hiện, cách thể hiện tốt làm cho nội dung nói và viết đúng với chủ đề, đúng đối tượng và đạt được mục đích của việc nói và viết.

Giản dị và sâu sắc

Bác Hồ đã nói và viết về rất nhiều chủ đề khác nhau của cách mạng Việt Nam, của phong trào giải phóng dân tộc, phong trào cộng sản và công nhân quốc tế… trong chủ đề bao trùm là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Người nói và viết cho rất nhiều đối tượng khác nhau, từ những đại biểu cao nhất của chủ nghĩa thực dân đề quốc; nhân dân các nước thuộc địa; nhân dân và Đảng Cộng sản các nước anh em; những người có lương tri tiến bộ trên khắp thế giới… và nhiều nhất là cho đông đảo các tầng lớp nhân dân Việt Nam với dân tộc, tôn giáo, trình độ khác nhau. Với mỗi đối tượng cụ thể, trong những văn cảnh cụ thể, Bác Hồ đều tìm ra những cách nói cách viết phù hợp nhất. Nếu đối tượng là người phương tây, Bác có cách viết rất “Tây”, sâu xa, châm biếm, hài hước, ý nhị…Với nhân dân Việt Nam, Bác lại nói và viết rất giản dị, Mộc mạc, nhiều khi có vần, có đối như ca dao tục ngữ rất quen thuộc với số đông mọi người. Với những nhà tri thức uyên bác, Người lại bàn về những lời răn dạy của các bậc tiên hiền, bàn về những vấn đề sâu sắc của khoa học, của thơ ca và nghệ thuật…

Chủ tịch Hồ Chí Minh có thể xướng hoạ thơ đường với các vị khoa bảng hay với các đồng chí Trung Quốc nhưng khi nói, khi viết cho đồng bào chưa có điều kiện học nhiều chữ, Người không dùng bất cứ một từ ngữ khó hiểu nào…Chân biếm kẻ thù thì sâu cay “như những ngon roi quất mạnh vào mặt bọn chúa tể ở pháp và các nơi khác…Đối với các đồng chí cán bộ đảng viên, bác lại hài hước nhắc nhở nhẹ nhàng bằng những hình ảnh quen thuộc để mọi người nhớ mãi như nhắc nhở mọi người tiết kiệm mà lẫn lôn chữ nghĩa để tiết kiệm biến thành tiết canh…

Người làm tiếng Việt thêm phong phú

Đồng chí Trường Chinh nhận xét: “Hồ Chủ Tịch nói tiếng nói của dân tộc, của nhân dân Việt Nam, Nhiều từ ngữ dân gian được bác đưa vào ngôn ngữ của mình rất tự nhiên, hợp lý, sãng tạo… “Người còn làm giàu thêm cho kho tàng ngôn ngữ dân tộc bằng nhiều từ mới, từ rút ngắn như Vùng trời, Giặc đói, giặc dốt…

Nhà báo nổi tiếng U.Bơcset lại nhận xét: “nét điển hình ở Hồ Chí Minh là chỉ với một vài từ hoặc một vài hình ảnh, Người có thể trình bầy được những vấn đề phức tạp”. Hình ảnh đoàn quân đội viễn chinh Pháp bị nhốt váo đáy mũ của Người minh hoạ cho cuộc chiến đấu ở Điện Biên Phủ lúc nên đến đỉnh cao là một ví dụ rõ nét nhất…

Một nhà báo, nhà sử học Pháp còn phát hiện: “Hồ Chí Minh đã gạch tất cả những công thức tiêu cực để thay bàng những công thức tiêu cực cùng nghĩa. Người không đồng ý câu tôi viết trong đề cương là: Không có chủ nghĩa xã hội thì các dân tộc không thể đi đến giải phóng hoàn toàn, mà đề nghị sửa lại là: Chỉ có chủ nghĩa xã hội mới có thể đảm bảo cho các dân tộc giải phóng hoàn toàn”.

Sự phong phú trong cách thể hiện của Bác Hồ khi nói và viết làm chúng ta nhận ra những đặc trưng trong cách nói, cách viết Hồ Chí Minh. Đó là:

– Chân thực. Mỗi bài nói, bài viết của Bác Hồ đều bắt nguồn từ thực tế cuộc sống với những con số, những sự kiện đã được xem xét, kiểm tra, chọn lọc. Bao giờ Người cũng đem lại cho người đọc, người nghe lượng thông tin cao và chính xác. Chính tính chân thực đã làm nên sức thuyết phục cao của những bài nói, bài viết của người đối với người nghe, người đọc. Chân thực cũng là yêu cầu đầu tiên của Bác Hồ đặt ra đối với cán bộ, đảng viên khi nói, khi viết. Bác thường nhắc nhở: “Viết phải đúng sự thật, không được bịa ra”; không nên nói ẩu”; “Chưa điều tra, chưa nghiên cứu, chưa biết rõ, chớ nói chớ viết”…

– Ngắn gọn là một đặc trưng rất nổi bật trong cách nói, cách viết Hồ Chí Minh, “ngắn gọn có nghĩa là gọn gàng, rõ ràng, có đầu, có đuôi, có nội dung thiết thực, thấm thía, chắc chắn”. Ngắn gọn trong cách nói cách viết Hồ Chí Minh là cô đọng, hàm súc, ý nhiều lời ít, không có lời thừa, chữ thừa. Đặc tính ngắn gọn, hàm súc trong các bài nói, bài viết của Bác Hồ là sự kế thừa và phát triển phong cách phương Đông. Đó cũng là kết quả công phu rèn luyện của Bác từ những ngày đầu tham gia hoạt động chính trị, tham gia làm báo cách mạng.Người nhiều lần phê bình nhắc nhở cán bộ về mặt ba hoa, viết vừa dài vừa rỗng. Người thường khuyên cán bộ nói viết đều phải ngắn gọn, thiết thực, đi thẳng vào vấn đề. Nói dài, viết dài và sáo rỗng đều hoàn toàn xa lạ với phong cách Hồ Chí Minh.

– Trong sáng, giản dị, dễ hiểu. Toàn bộ các bài nói, bài viết của Bác Hồ đều rất trong sáng về ý tưởng và văn phong, giản dị trong cách trình bầy và dễ hiểu với người nghe, người đọc. Tư tưởng Hồ Chí Minh đến với mọi người bằng những ngôn từ quen thuộc – dù đó là những vấn đề của cuộc sống chiến đấu, lao động hàng ngày hay những vấn đề lớn của đất nước, của thời đại.

Muốn nói, muốn viết được trong sáng, giản dị, dễ hiểu, theo Bác Hồ, trước hết phải học cách nói của quần chúng. Phải thực sự học quần chúng để có cách nói, cách viết được quần chúng chấp nhận như những gì của chính họ. Bác Hồ phê phán rất gay gắt những cán bộ đem “thặng dư giá trị” ra nhồi sọ cho ba con nông dân; có cán bộ đem “tân dân chủ nghĩa” ra giáo dục các em nhi đồng; mang “biện chứng pháp” ra nói với anh em công nhân đang học chữ quốc ngữ…(!). Trong cách nói cách viết của mình, bác thường giản dị hoá mọi vấn đề khó hiểu mà không phải là sự đơn giản tầm thường, Sự giản dị, trong sáng của Người bắt đầu từ sự hiểu biết thấu đáo bản chất của sự vật, từ sự gắn bó với truyền thống dân tộc trong nếp cảm, nếp nghĩ…

Để viết và nói được trong sáng giản dị, dễ hiểu, Bác Hồ còn chỉ ra rằng phải chống lại căn bệnh hay nói chữ, ham dùng chữ, bệnh sính dùng chữ nước ngoài nào đã quen thuộc, đã “hoá thành chữ ta” mà không dùng thì không đúng. Bác Hồ đã nêu ví dụ: ta nói độc lập chư không nói đứng một, nói du kích chứ không nói đánh chơi.. Còn đối với bệnh lạm dụng chữ nước ngoài thì dù dùng đúng cũng đã có hại, nếu dùng sai theo kiểu dốt hay nói chữ thì cái hại lại càng to….

Sinh thời Bác Hồ đã căn dặn chúng ta nhiều điều khi học viết, học nói. Văn không chỉ là văn. Văn cũng chính là người. Học nói, học viết cũng là từng bước hoàn thiện những phẩm giá của mình.

hungvuong.edu.vn

Hãy viết cho người đọc hiểu được, nhớ được, làm theo được

Trong lý lịch còn giữ tại kho lưu trữ của Quốc tế cộng sản trước đây, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ghi ở phần nghề nghiệp: Nghề viết báo bên cạnh một số nghề khác.

Đồng chí Phạm Văn Đồng viết: “Hồ Chí Minh là nhà chiến lược, nhà lãnh đạo, nhà tổ chức, đồng thời là nhà văn hoá, nhà thơ lớn. Suốt đời Hồ Chí Minh là người cầm bút chiến đấu trên mặt trận văn hoá, báo chí, với một văn phong đa dạng, nhiều sắc thái”. Và “Người ta đã nói nhiều về phong cách nói và viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tôi không nhắc lại, nhưng phải nhấn mạnh rằng: anh em, đồng chí chúng ta vẫn chưa học được phong cách tuyệt vời của Bác. Trong một bài viết hoặc bài nói, Bác không chỉ chú ý từng câu, từng chữ, mà còn chú ý nói cái gì trước, cái gì sau, bởi vì có khi đó lại chính là điều quan trọng nhất”(1).

Một điều rất dễ nhận thấy là các bài viết của Bác Hồ thường ngắn. Phải có bản lĩnh, có trí tuệ phong phú mới viết ngắn được! V.I.Lênin cũng thường viết ngắn và lần nào gửi bài cho báo Sự Thật mà viết hơi dài thì V.I.Lênin thường ghi: Vì ít thời gian nên bài này tôi viết hơi dài, các đồng chí sửa chữa giúp! Như vậy, theo V.I.Lênin nếu có thời gian thì ông sẽ viết ngắn hơn, chứ không phải như nhiều người thường nói: Bận quá, nên không viết được dài!

Những bài báo của Bác được viết ra với một mục đích là để người đọc hiểu, nhớ và làm theo được. Người nói: “Muốn cho người đọc hiểu được, nhớ được, làm được thì phải viết cho đúng trình độ người xem”(2). Bác còn nhắc nhở: Nhiều người cứ tưởng mình viết gì, nói gì, người khác đều hiểu cả!

Trong cách nói, cách viết, Bác Hồ luôn chú ý tránh những thông tin thừa, những gì mọi người đã biết rồi thì Bác không viết nữa. Trong những bài viết, Bác thường dùng những câu ngắn, giản dị, sáng rõ. Trong “Thư gửi thiếu nhi Việt Nam đêm Trung thu đầu tiên của Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà” ngày 22-9-1945, in trên Báo Cứu Quốc số 49, Bác Hồ chỉ viết có 192 từ. Thư gửi Báo Thiếu Sinh số 1, tờ báo của trẻ em đầu tiên, Bác chỉ viết có 49 từ. Thư gửi các vị phụ lão ngày 20-9-1945, Bác viết có 299 từ. Bản Tuyên ngôn độc lập – Một văn bản lập quốc vĩ đại, đọc tại Ba Đình lịch sử ngày 2-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng chỉ viết có 1.025 từ.

Là một người được làm việc gần Bác trong nhiều năm, đồng chí Trường Chinh đã viết: “Về văn phong, cách nói và cách viết của Hồ Chủ tịch có những nét rất độc đáo: Nội dung khẳng khái, thấm thía, đi sâu vào tình cảm con người, chinh phục cả trái tim và khối óc của người ta; hình thức sinh động, giản dị, dễ hiểu, giàu tính dân tộc và tính nhân dân. Người rất ghét văn chương sáo rỗng, nhạt nhẽo, rất ghét nói và viết dài dòng, khó hiểu, lung tung, lằng nhằng và kiên quyết phản đối dùng chữ nước ngoài không cần thiết”.

Trong những lời kêu gọi hoặc những bài viết của Người, chúng ta thấy âm vang tinh thần quật cường, bất khuất của dân tộc:

“Toàn dân Việt Nam chỉ có một lòng: Quyết không làm nô lệ, chỉ có một chí: Quyết không chịu mất nước”.

“Chỉ có một mục đích: Quyết kháng chiến để tranh thủ thống nhất và độc lập cho Tổ quốc”.

“Sự đồng tâm của đồng bào ta đúc thành một bức tường đồng chung quanh Tổ quốc. Dù địch hung tàn, xảo quyệt đến mức nào, đụng đầu nhằm bức tường đó, chúng cũng phải thất bại”. Văn Hồ Chủ tịch thường ngắn gọn, nhưng thấm thía, xúc động lòng người. Hồ Chủ tịch viết y như nói, tiếng nói của dân tộc, của nhân dân Việt Nam”(3).

Bác Hồ vận dụng ngôn ngữ và cách nói của quần chúng. Bác thường khuyên: “Chúng ta muốn tuyên truyền quần chúng, phải học cách nói của quần chúng, mới nói lọt tai quần chúng… Vì cách nói của quần chúng rất đầy đủ, rất hoạt bát, rất thiết thực, mà lại giản đơn”(4). Người viết:

– “Đạo đức cách mạng không phải trên trời sa xuống”(5).

– “Năm ngón tay cũng có ngón vắn ngón dài. Nhưng vắn dài đều hợp nhau lại nơi bàn tay. Trong mấy triệu người cũng có người thế này, thế khác, nhưng thế này hay thế khác đều là dòng dõi của tổ tiên ta. Vậy nên ta phải khoan hồng đại độ. Ta phải nhận rằng đã là con Lạc cháu Hồng thì ai cũng có ít hay nhiều lòng ái quốc”(6).

– “Sinh hoạt xa hoa, tiêu xài bừa bãi. Tiền bạc đó ở đâu ra? Không xoay của Đảng thì xoay của đồng bào… Việc dễ thì tranh lấy cho mình. Việc khó thì đùn cho người khác. Gặp việc nguy hiểm thì tìm cách để trốn tránh”(7).

– “Kéo bè, kéo cánh, bà con bạn hữu mình không tài năng gì, cũng kéo vào chức này chức nọ. Người có tài có đức, nhưng không vừa lòng mình thì đẩy ra ngoài”(8).

– “Thứ nhất dân ghét các ông chủ tịch, các ông uỷ viên vì cái tật ngông nghênh, cậy thế, cậy quyền… Người ta còn thì thào chỉ chỏ ông tỉnh trưởng kia vác ô tô đưa bà “tỉnh trưởng” đi chơi mát mỗi buổi chiều”(9).

– “Việc gì lợi cho dân, ta phải hết sức làm. Việc gì hại đến dân, ta phải hết sức tránh. Chúng ta phải yêu dân, kính dân thì dân mới yêu ta, kính ta”(10).

Những câu viết của Bác giản dị, sâu sắc và đi thẳng vào lòng người, khiến người đọc chỉ một lần đã nhớ.

*

Bác luôn nhắc nhở, báo chí của ta còn nhiều bài viết dài dòng quá. Bác phê bình lối viết “rau muống” và còn “ham dùng chữ”. Các ông viết báo nhà mình hay dùng chữ quá. Những chữ tiếng ta có mà không dùng, lại dùng cho được chữ kia. Ba tháng thì nói “tam cá nguyệt”, xem xét thì nói “quan sát”, máy bay thì nói “phi cơ”, người đánh cá thì nói “ngư dân”, nhà in lại in nhầm chữ ư thành chữ u, thế là do bệnh dùng chữ mà người đánh cá hoá thành ngu dân!(11).

Bác nhắc nhở những chữ mà tiếng ta có thì phải dùng tiếng ta. Nhưng ngày nay, đọc các báo chúng ta vẫn còn thấy bệnh dùng chữ nước ngoài và gần đây bệnh đó lại có xu hướng lan tràn hơn!

Bác Hồ là người hết lòng yêu mến, quý trọng tiếng Việt và tin tưởng vào khả năng to lớn của tiếng Việt. Bác nói: “Tiếng nói là thứ của cải vô cùng lâu đời và vô cùng quý báu của dân tộc. Chúng ta phải giữ gìn nó, quý trọng nó, làm cho nó phổ biến ngày càng rộng khắp”(12).

Bác đã góp phần làm phong phú tiếng Việt. Bác là người đầu tiên đưa ra một số từ ngữ mới mà nay chúng ta quen dùng như: Giặc đói, giặc dốt, óc bè phái, óc hẹp hòi, thói ba hoa, nghị quyết túi áo, báo cáo túi quần, bệnh quan liêu, tệ lãng phí, nạn tham nhũng, thói mệnh lệnh, óc địa phương, đảng viên đi trước, làng nước theo sau, ruộng rẫy là chiến trường, cuốc cày là vũ khí, không có việc gì khó, chỉ sợ lòng không bền, các dân tộc anh em, các đảng bạn, các nước bầu bạn, miền Nam thành đồng Tổ quốc, đồng bào công giáo kính Chúa yêu nước vv…

Nhà văn hóa Hà Huy Giáp nhận định: “Hồ Chủ tịch rất chú trọng cách viết. Người rất cẩn trọng ngay đến cách dùng một từ nhỏ, một dấu chấm câu, cách bố cục một bài viết. Hồ Chủ tịch là một nhà ngôn ngữ nghiêm khắc. Cũng như V.I.Lênin, Người dùng rất ít chữ, mà là những chữ đúng nhất, cần thiết nhất, để một viện sĩ hàn lâm đến người nông dân đều có thể hiểu được”(13).

____

(1) Hồ Chí Minh một con người, một dân tộc, một thời đại, một sự nghiệp, NXB Giáo dục, 1997.
(3,13) Hồ Chí Minh – Tác gia, tác phẩm, nghệ thuật ngôn từ, NXB Giáo dục 1997, tr.51, 123.
(2) Nâng cao hơn nữa chất lượng của báo chí, Báo Nhân Dân số 3095 ngày 9-9-1962.
(5) Hồ Chí Minh, toàn tập, NXBCTQG, H.2002, tập 9, tr.293.
(6,8,9,10) Sđd, tập 4, tr.47, 56.
(4,7) Sđd, tập 5, tr.301, 255.
(11) Bài nói của Bác Hồ tại Đại hội lần thứ 2 Hội Nhà báo Việt Nam, HCM toàn tập, tập 9, tr.415.
(12) Bài nói chuyện tại Đại hội lần thứ 3 của Hội Nhà báo Việt Nam, HCM toàn tập, NXBCTQG, H.2000, tập 10, tr.613.

Bùi Công Bính

xaydungdang.org.vn

Hồ Chí Minh nói về trách nhiệm của nhà báo

Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm và coi trọng vai trò của báo chí. Bác đã sáng lập nhiều tờ báo và là một nhà báo xuất chúng với khả năng viết ít ai bì kịp. Những kinh nghiệm làm báo, những ý kiến chỉ đạo và tư tưởng của Bác đối với báo chí và người viết báo mãi mãi vẫn sáng ngời giá trị.

Từ những năm đi tìm đường cứu nước, Bác đã sáng lập báo Le Pa-ri (Người cùng khổ) với nhiều bài viết đặc sắc, nhiều tranh đả kích do Bác vẽ hết sức độc đáo. Tranh vạch trần dã tâm của bọn thực dân xâm lược. Hai hình tượng được khắc hoạ là tên thực dân béo phì ngồi trên xe tay và người lao động thuộc địa gầy yếu phải cố sức kéo nó đi! Báo ra số 1 ngày 1-4-1922, đến số 38 thì bị đình bản.

Ngày 21-6-1925, Báo Thanh Niên – cơ quan ngôn luận của tổ chức Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí hội do Bác sáng lập đã xuất bản số đầu tiên. Báo phát hành được 200 số, trong đó 88 số do Bác trực tiếp phụ trách, biên tập, viết bài. Báo đã đem ánh sáng Chủ nghĩa Mác-Lênin đến với công chúng Việt Nam, tích cực tuyên truyền giác ngộ quần chúng về ý thức đấu tranh giải phóng đất nước. Trong số báo Thanh Niên ra ngày 7-11-1926 có in bức tranh cổ động của Bác hết sức đặc sắc. Bức tranh vẽ V.I.Lênin ngẩng cao đầu, tay trái chỉ vào ngôi sao năm cánh, kêu gọi giai cấp vô sản toàn thế giới hãy liên hiệp lại để đấu tranh giải phóng cho mình khỏi ách áp bức của chế độ tư bản. Báo Thanh Niên trở thành tờ báo cách mạng đầu tiên của nước ta, truyền bá tư tưởng cách mạng vô sản cho muôn triệu người dân đang rên siết dưới ách thực dân, phong kiến. Chính vì vậy, Đảng và Nhà nước ta đã quyết định lấy ngày 21-6- 1925 làm Ngày truyền thống của báo chí cách mạng Việt Nam.

Hai tờ báo Công Nông và Lính Cách Mệnh (1925-1927) được Bác dùng để tổ chức tuyên truyền trong giới thanh niên và binh lính người Việt, nhằm khơi dậy lòng yêu nước của tuổi trẻ Việt Nam và làm sống lại dòng máu Lạc Hồng của những đứa con lầm đường lạc lối, hoặc bị cưỡng bức, hoặc vì miếng cơm manh áo mà trót cầm súng giặc giết hại đồng bào. Hai tờ báo cùng thực hiện sứ mệnh kêu gọi, tập hợp công nông đoàn kết vùng lên đập tan gông xiềng nô lệ.

Đặc biệt, Bác đã vẽ tranh minh họa cho Báo Việt Nam Độc lập (1941-1942). Với nét cách điệu tài tình từ bốn chữ “Việt Nam Độc Lập”, Bác đã vẽ thành một người đang thổi kèn, hàm ý giục giã toàn dân mau mau tham gia vào cuộc đấu tranh giành độc lập. Bên cạnh đó là bốn câu thơ do Người sáng tác:

Việt Nam độc lập thổi kèn loa
Kêu gọi dân ta trẻ lẫn già
Đoàn kết vững bền như khối sắt
Để cùng nhau cứu nước Nam ta”(1).

Tiếp đó là các báo Sự Thật, Cứu quốc, Quân đội nhân dân… được Bác hết sức quan tâm và trực tiếp tham gia nhiều bài viết. Bác Hồ hết sức coi trọng vai trò của báo chí. Bác từng nói: “Báo chí là người tuyên truyền, người cổ động, người tổ chức chung, người lãnh đạo chung”(2). Bác đặc biệt nhấn mạnh nhiệm vụ, sứ mệnh lịch sử của những người làm báo: “Nói đến báo chí, trước hết phải nói đến những người làm báo chí!”(3).

Tại Đại hội lần thứ II của Hội Nhà báo Việt Nam (1959), Bác đã nói: “Nhiệm vụ của người làm báo là quan trọng và vẻ vang. Muốn hoàn thành tốt nhiệm vụ ấy thì phải cố gắng học tập chính trị, nâng cao tư tưởng, đứng vững trên lập trường giai cấp vô sản, phải nâng cao trình độ văn hóa, phải đi sâu vào nghiệp vụ của mình”(4). Đến Đại hội lần thứ II của Hội (1962), Bác lại nhấn mạnh: “Để làm tròn nhiệm vụ vẻ vang của mình, cán bộ báo chí cần phải tu dưỡng đạo đức cách mạng”(5). Bác yêu cầu trước khi viết một điều gì, người viết phải tự đặt các câu hỏi: Viết cho ai? Viết để làm gì? Viết như thế nào?

Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định “Báo cũng là một ngành kinh tế”(6) và “Một tờ báo không được đại đa số dân chúng ham chuộng, thì không xứng đáng là một tờ báo”(7), “Chế độ ta là chế độ dân chủ, tư tưởng phải được tự do… Đối với mọi vấn đề, mọi người tự do bày tỏ ý kiến của mình, góp phần tìm ra chân lý”(8).

Theo Bác, văn hóa là một mặt trận, cán bộ báo chí cũng là chiến sĩ cách mạng; ngòi bút, trang giấy chính là vũ khí chiến đấu của người làm báo. Bác đã nhiều lần căn dặn đội ngũ cán bộ, phóng viên: “Ngòi bút của các bạn cũng là những vũ khí sắc bén trong sự nghiệp phò chính trừ tà”(9).

___

(1) Hồ Chí Minh toàn tập, NXBCTQG, H.2002, tập 3, tr.200. (2,3,4) Sđd, tập 9, tr.415, 412. (5, 6) Sđd, tập 10, tr.131, 616, 468. (7, 9) Sđd, tập 5, tr.625. (8) Sđd, tập 8, tr.216.

Văn Khải

xaydungdang.org.vn

Một bài báo của Bác in đúng Ngày thành lập Đảng

Là người sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện Đảng ta, trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn quan tâm và không ngừng chăm lo đến công tác xây dựng Đảng. Người mong muốn và đòi hỏi Đảng Cộng sản Việt Nam phải là một Đảng trong sạch, lớn mạnh, là đạo đức và văn minh, gắn bó chặt chẽ với nhân dân, là một Đảng cách mạng, vì nước vì dân.

Chủ tịch Hồ Chí Minh, Người thầy của Báo chí Cách mạng Việt NamChủ tịch Hồ Chí Minh, Người thầy của Báo chí Cách mạng Việt Nam.

Nhân dịp kỷ niệm thành lập Đảng 3 tháng 2 năm 1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã giao cho Ban Tuyên huấn của Đảng chuẩn bị một bài báo, mà Bác đặt tiêu đề là “Quét sạch chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức cách mạng”.

Ít ngày sau, bài báo được Ban Tuyên huấn gửi đến, Bác đã đọc lại, sửa chữa, và sau đó mời đồng chí Tố Hữu lúc đó phụ trách Ban Tuyên huấn và đồng chí Vũ Kỳ thư ký của Bác đến cùng nghe và góp ý kiến.  Nghe đọc xong, đồng chí Tố Hữu nói:

– Bác đã chữa hết bài báo của Ban Tuyên huấn rồi ạ. Bác cười:

– Bác chữa nhưng vẫn để lại một số ý của các chú…

Mọi người đều góp ý, đây là một bài báo có nội dung rất quan trọng đối với công tác xây dựng Đảng. Ý Bác muốn mọi cán bộ đảng viên, từ người lãnh đạo cao cấp đến những đảng viên, đoàn viên đều phải gương mẫu, ra sức tu dưỡng để trở thành những cán bộ tốt phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân. Song đồng chí Tố Hữu xin Bác đổi lại tựa đề bài báo là đưa câu Nâng cao đạo đức cách mạng lên trên… Bác quay sang hỏi đồng chí Vũ Kỳ, đồng chí cũng đồng ý như thế. Bác nói:

– Có ba người, các chú là hai, đa số, nên Bác đồng ý sửa lại tựa đề, nhưng nội dung trong bài thì cứ để như cũ.

Tuy vậy, sau này Bác hỏi lại đồng chí Vũ Kỳ: “Bác thí dụ nhà chú mua được một cái tủ mới đem về. Chú có quét nhà ra trước không rồi mới kê chiếc tủ mới vào, hay là cứ kê tủ vào rồi mới quét nhà?”.

Ý Bác sâu sắc như thế đấy, nhưng ở đây ta cũng thấy Bác rất tôn trọng đa số, vả lại sự thay đổi này cũng không ảnh hưởng gì đến nội dung bài báo.

Có thể nói, đây là một trong những bài báo cuối cùng của Bác, để lại cho chúng ta. Bài báo này đã được Bác gửi tới tất cả các đồng chí trong Bộ Chính trị để góp ý kiến, sau đó đã in trên Báo Nhân Dân đúng vào Ngày thành lập Đảng. Có lẽ Bác cũng muốn lưu ý tất cả các đồng chí lãnh đạo cao cấp của Đảng về vấn đề quan trọng chống chủ nghĩa cá nhân và nâng cao đạo đức cách  mạng.

Đã rất nhiều lần, rất nhiều lần, Bác đã nói đến vấn đề nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân. Bác dùng từ “quét sạch” để thể hiện một quyết tâm chính trị lớn.

Năm 1927, trong tác phẩm “Đường Kách mệnh”, ngay phần mở đầu “Tư cách của một người cách mệnh” Bác đã viết phải “vị công, vong tư “, “biết hy sinh, ít lòng tham muốn về vật chất”. Năm 1947, trong tác phẩm: “Sửa đổi lối làm việc”, Bác đã viết: “Trong Đảng ta còn có những người chưa học được, chưa làm được bốn chữ “chí công vô tư”, cho nên mắc phải chứng chủ nghĩa cá nhân. Chủ nghĩa cá nhân là một thứ vi trùng rất độc, do nó mà sinh ra các thứ bệnh rất nguy hiểm, thí dụ những bệnh sau đây: Bệnh tham lam, bệnh lười biếng, bệnh kiêu ngạo, bệnh hiếu danh, thiếu kỷ luật, óc hẹp hòi, óc địa phương, óc lãnh tụ”.

Lần này, trong bài báo của mình, Bác nhấn mạnh:

“Đảng ta lãnh đạo rất sáng suốt, đã đưa dân tộc ta tiến lên không ngừng từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Trong lịch sử đấu tranh của Đảng và trong mọi hoạt động hàng ngày, nhất là trên mặt trận chiến đấu và sản xuất, rất nhiều cán bộ và đảng viên ta tỏ ra anh dũng, gương mẫu, gian khổ đi trước, hưởng thụ đi sau, và đã làm nên những thành tích rất vẻ vang… Song bên cạnh những đồng chí tốt ấy, còn có một số ít cán bộ, đảng viên mà đạo đức, phẩm chất còn thấp kém. Họ mang nặng chủ nghĩa cá nhân, việc gì cũng nghĩ đến lợi ích riêng của mình trước hết. Họ không lo: “Mình vì mọi người” mà chỉ muốn “Mọi người vì mình”.

Bác vạch rõ những nguy hại do chủ nghĩa cá nhân gây ra:

“Do cá nhân chủ nghĩa mà ngại gian khổ, khó khăn, sa vào tham ô, hủ hoá, lãng phí, xa hoa. Họ tham danh trục lợi, thích địa vị quyền hành. Họ tự cao, tự đại, coi thường tập thể, xem khinh quần chúng, xa rời thực tế, mắc bệnh quan liêu mệnh lệnh. Họ không có tinh thần cố gắng vươn lên, không chịu học tập để tiến bộ. Cũng do cá nhân chủ nghĩa mà mất đoàn kết, thiếu tính tổ chức, tính kỷ luật, kém tinh thần trách nhiệm, không chấp hành đúng đường lối chính sách của Đảng và nhà nước, làm hại đến lợi ích của cách mạng, của nhân dân. Tóm lại do chủ nghĩa cá nhân mà phạm nhiều sai lầm”.

Chúng ta đều biết, sau Cách mạng Tháng Tám thành công, trong “Thư gửi các đồng chí tỉnh nhà”, Bác Hồ cũng đã viết: “Cán bộ ta nhiều người “Cúc cung tận tuỵ”, hết sức trung thành với nhiệm vụ, với Chính phủ, với quốc dân. Nhưng cũng có người hủ hoá, lên mặt làm quan cách mạng, hoặc là độc hành độc đoán, hoặc là dĩ công dinh tư (lấy của chung làm của riêng). Và Bác chỉ rõ, những điều đó làm cho dân oán đến Chính phủ và đoàn thể, làm ảnh hưởng đến khối đoàn kết.

Năm 1951, trong Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ hai khai mạc tại Tuyên Quang, Bác cũng đã nói: “Đảng ta thành tích khá nhiều, nhưng khuyết điểm cũng không ít. Chúng ta cần phải thật thà tự phê bình sửa chữa. Phải cố sửa chữa để tiến bộ.

Trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”, Bác viết: “Đảng không phải là một tổ chức để làm quan phát tài. Nó phải làm tròn nhiệm vụ giải phóng dân tộc, làm cho Tổ quốc giàu mạnh, đồng bào sung sướng”.

Bác cũng nhấn mạnh “Một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng. Một Đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó. Như thế mới là một Đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính…”.

Trong Di chúc của mình, Bác cũng dặn dò: “Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”.

Chỉ trong một đoạn ngắn nói về Đảng, có 57 chữ này, Bác đã 4 lần nhấn mạnh chữ “Thật” và “Thật Sự”. Ý Bác là vấn đề quét sạch chủ nghĩa cá nhân nâng cao đạo đức cách mạng là vấn đề phải được hết sức quan tâm, hết sức coi trọng, chứ không thể chỉ làm qua loa, nửa vời, nói xong rồi đâu lại vào đấy. Vì như vậy sẽ làm cho nhân dân mất niềm tin.

*

Tại Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương khoá XI vừa qua, với tinh thần trách nhiệm rất cao đã ban hành Nghị quyết của Trung ương “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” với 3 nội dung trọng yếu:

1 – Ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp.

2 – Xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, nhất là ở cấp Trung ương, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế.

3 – Xác định rõ thẩm quyền, trách nhiệm cá nhân người đứng đầu cấp uỷ, chính quyền trong mối quan hệ với tập thể cấp uỷ, chính quyền, cơ quan, đơn vị.

Ba nội dung này có quan hệ mật thiết với nhau, trong đó nội dung thứ nhất là trọng tâm, xuyên suốt và cũng là vấn đề cấp bách nhất.

Đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cũng đã chỉ rõ:

“Bối cảnh quốc tế và tình hình trong nước vừa có thuận lợi, thời cơ, vừa có khó khăn, thách thức. Đảng ta đang đứng trước nhiều vấn đề mới phải xử lý, nhiều việc hết sức phức tạp. Trong tình hình ấy, nếu Đảng ta không thật vững vàng về chính trị, tư tưởng, không thống nhất cao về ý chí, hành động; không trong sạch về đạo đức, lối sống; không chặt chẽ về tổ chức; không được nhân dân ủng hộ thì không thể đứng vững và đủ sức lãnh đạo để đưa đất nước tiếp tục đi lên. Vì vậy, lần này Trung ương quyết định phải tiếp tục tiến hành củng cố xây dựng, chỉnh đốn Đảng với tinh thần tích cực và kiên quyết hơn, mạnh mẽ hơn, nhằm tạo ra một bước chuyển biến mới trên các mặt, ngăn chặn và đẩy lùi tình trạng suy thoái, củng cố sự kiên định về mục tiêu lý tưởng cách mạng, tăng cường sự thống nhất ý chí và hành động, củng cố tổ chức chặt chẽ, tăng cường mối liên hệ mật thiết với nhân dân, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, coi đây là vấn đề sống còn của Đảng ta, chế độ ta”.

Quyết tâm ấy của Đảng đang truyền một niềm tin tưởng trong nhân dân. Toàn thể đảng viên và nhân dân đều mong muốn Đảng ta trong sạch, lớn mạnh xứng đáng là đạo đức là văn minh, để đưa nhân dân ta tiến lên những thắng lợi mới trong sự nghiệp đổi mới của đất nước ta.

Trong thời điểm này của đất nước, những lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh càng làm chúng ta suy ngẫm một cách sâu sắc. Tháng 6 năm 1968, khi nêu ý kiến về việc làm và xuất bản loại sách “Người tốt việc tốt”, Bác đã nói:

“Một dân tộc, một Đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân”.

Rất nhiều lần, Bác đã nói với chúng ta, chủ nghĩa cá nhân là kẻ thù nguy hiểm mà mỗi người chúng ta phải luôn luôn tỉnh táo đề phòng và tiêu diệt nó. Nó là kẻ thù hung ác của đạo đức cách mạng. Và Bác cũng chỉ ra cách làm là phải:

“Phải thực hành phê bình và tự phê bình nghiêm chỉnh trong Đảng. Phải hoan nghênh và khuyến khích quần chúng thật thà phê bình cán bộ đảng viên. Chế độ sinh hoạt của chi bộ phải nghiêm túc. Kỷ luật của Đảng phải nghiêm minh. Công tác kiểm tra của Đảng phải chặt chẽ”.

Mùa Xuân này, chúng ta kỷ niệm 82 năm Ngày thành lập Đảng, lòng chúng ta càng nhớ đến Bác kính yêu. Và chúng ta lại nhớ đến những câu thơ của nhà thơ Hải Như đã viết: “Đừng tưởng Bác Hồ chỉ có vui thôi/ Có những phút Bác Hồ buồn ghê gớm/ Ấy là lúc: Ta sai lầm to lớn/ Quên mọi người, ta chỉ thấy mình ta…”.

Nhớ Bác, mỗi cán bộ, đảng viên, đoàn viên và tất cả nhân dân ta hãy tự mình quét sạch chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức cách mạng, đóng góp vào công tác xây dựng Đảng, như đồng chí Nguyễn Phú Trọng đã nói, nếu mỗi người chỉnh đốn bản thân mình trước thì cả tổ chức sẽ chuyển động./.

Bùi Hải Bình

nhoNguoicha

Duyên nợ của Bác với báo chí

Báo chí của ta không phải để cho một số ít người xem, mà để phục vụ cho nhân dân. Mục đích của chúng ta là xây dựng chủ nghĩa xã hội, đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà, giữ gìn hòa bình thế giới. Mỗi tờ báo như báo của nông dân, báo của công nhân, báo của thanh niên, báo của phụ nữ… nên có đặc điểm của nó…

Nói đến báo chí trước hết phải nói đến những người làm báo chí. Các cô, các chú đã có những ưu điểm như đã đóng góp vào cuộc kháng chiến thắng lợi, xây dựng hòa bình và đấu tranh thống nhất Tổ quốc. Nhiều đồng chí đã cố gắng làm việc. Gần đây, sau khi nghiên cứu chỉ thị của Trung ương, các đồng chí đã thấy rõ công việc báo chí là rất quan trọng, và đã thấy được những ưu điểm và khuyết điểm của mình. Như thế là tiến bộ.

Bệnh dùng chữ

Ưu điểm của các cô, các chú không ít. Nhưng khuyết điểm thì còn nhiều. Trong các đồng chí cũng còn có người hoặc ít hoặc nhiều chưa thoát khỏi ảnh hưởng tư sản và tiểu tư sản, cho nên nắm vấn đề chính trị được chắc chắn. Nói về văn nghệ, Bác thú thật có ít thì giờ xem các bài văn nghệ. Có lẽ vì thế mà có lúc xem đến thì thấy cách viết thường ba hoa, dây cà, dây muống; và hình như viết là để đếm dòng lấy tiền, có những bài nhạt nhẽo thế nào ấy.

Còn viết về chính trị thì khô khan và có hai cái tệ: một là rập khuôn, hai là dùng quá nhiều chữ nước ngoài. Cái bệnh dùng chữ, là phổ biến trong tất cả các ngành. Đáng lẽ báo chí phải chống lại cái bệnh đó, nhưng trái ngược lại báo chí lại tuyên truyền cho cái tệ đó. Cố nhiên, có những chữ không thể dịch được thì ta phải mượn chữ nước ngoài. Ví dụ: những chữ kinh tế, chính trị… thì ta phải dùng. Hoặc có những chữ nếu dịch ra nếu dịch ra thì mất cả ý nghĩa, như chữ “độc lập”. Nếu “Việt Nam độc lập” mà nói “Việt Nam đứng một” thì không thể nghe được.

Nhưng có những tiếng ta sẵn có, thì tại sao lại dùng chữ nước ngoài. Ví dụ: vì sao không nói “đường to” mà lại nói “đại lộ”, không nói “người bắn giỏi” mà lại nói “xạ thủ”, không nói “hát múa” mà lại nói “ca vũ”?… Những ví dụ như vậy nhiều lắm, nhiều lắm. Các báo Nhân dân, Thời mới, Quân đội nhân dân… đều dùng chữ nhiều lắm.

Tóm lại chúng ta dùng chữ nhiều quá, có khi lại còn dùng sai nữa. Mong rằng báo chí cố gắng sửa đổi cái tệ ấy đi. Tiếng nói là một thứ của rất quý báu của dân tộc, chúng ta phải hết sức giữ gìn lấy nó, chớ để bệnh nói chữ lấn át nó đi.

Khoa học ngày càng phát triển, có những chữ mới mà ta chưa có, thì ta phải mượn. Ví dụ: ta phải nói “kilô”, vì nếu nói chữ “cân”, thì không đúng nghĩa là 1.000 gram. Song những chữ dùng tiếng ta cũng đúng nghĩa thì cứ dùng tiếng ta hơn. Có những người hình như sợ nói tiếng ta thì nói xấu hổ thế nào ấy! Họ làm cho các cháu học sinh cũng bị lây bệnh nói chữ, như “phụ đạo”, “giáo cụ trực quan”… Thật là tai hại!

Nghề báo – khó như mọi nghề khác

Mấy khuyết điểm nữa: Sau khi nghiên cứu chỉ thị của Trung ương về báo chí, có một số đồng chí tiến bộ, những cũng có một số vì trình độ văn hóa chính trị còn kém thì đâm ra bi quan và muốn đổi làm nghề khác. Họ không biết rằng nghề nào cũng khó, không có nghề nào dễ. Phải có ý chí tự lập, tự cường, kém thì phải cố mà học. Chúng ta phải làm thế nào để vượt được khó khăn, làm tròn nhiệm vụ. Người cách mạng gặp khó khăn thì phải đánh thắng khó khăn, chứ không chịu thua khó khăn. “Không có việc gì khó, có chí thì làm nên”. Câu nói đó rất đúng.

Có người chỉ muốn làm cái gì để “lưu danh thiên cổ” cơ. Muốn viết bài cho oai, muốn đăng bài mình lên các báo lớn. Cái đó cũng không đúng. Những khuyết điểm đó đều do chủ nghĩa cá nhân đẻ ra. Họ không thấy rằng: làm việc gì có ích cho nhân dân, cho cách mạng đều là vẻ vang. Bất kì việc gì mà mình là tròn nhiệm vụ đều là vẻ vang. Trong các anh hùng, chiến sĩ lao động có người là công nhân, là nông dân, có người làm thầy thuốc, có người đánh giặc giỏi… và có người dọn cầu xia cũng trở thành chiến sĩ. Tóm lại, trong lao động không có nghề gì là hèn, chỉ có lười biếng mới là hèn. Làm tròn nhiệm vụ thì công tác nào cũng vẻ vang.

Nói về Hội Nhà báo. Đó là một tổ chức chính trị và nghiệp vụ. Nhiệm vụ của hội là phải làm cho hội viên đoàn kết chặt chẽ, giúp đỡ lẫn nhau để nâng cao trình độ chính trị và nghiệp vụ. Có như thế thì Hội nhà báo mới làm tròn nhiêm vụ của mình, và những người làm báo mới phục vụ tốt nhân dân, phục vụ tốt cách mạng.

Viết báo – là viết cho nhân dân

Chúng ta hãy đặt câu hỏi: Báo chí phải phục vụ ai?

Có người nói ở các nước tư bản có tự do báo chí và báo chí không có giai cấp. Nói vậy đúng không. Ví dụ: Các báo Pháp như báo Figaro, báo Nước Pháp buổi chiều… một mặt nó ru ngủ nhân dân, chia rẽ nhân dân, làm cho nhân dân mất chí khí phấn đấu, mất tinh thần đoàn kết giai cấp. Mặt khác, nó phục vụ giai cấp tư bản. Đó là những tờ báo chính trị. Lại còn những tờ báo “giật gân”, báo nói về ái tình, báo chuyên về lôi chuyện bí mật của những người có tiền ra để tống tiền… Tất cả báo chí ấy đều phục vụ lợi ích cho giai cấp bóc lột. Báo chí Pháp có thật tự do không? Không! Ví dụ báo Nhân đạo thường bị bọn thống trị tìm mọi cách để phá: nào phạt tiền, nào cho bọn du côn phá phách, nào làm khó khăn về giấy in, nhiều khi báo bị tịch thu…

Báo chí của ta phải phục vụ nhân dân lao động, phục vụ chủ nghĩa xã hội, phục vụ cho đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà, cho hòa bình thế giới. Chính vì thế cho nên tất cả những người làm báo (người viết, người in, người sửa bài, người phát hành, vv.) phải có lập trường chính trị vững chắc. Chính trị phải làm chủ. Đường lối chính trị đúng thì những việc khác mới đúng được. Cho nên các báo chí của ta đều phải có đường lối chính trị đúng.

Báo chí của ta không phải để cho một số ít người xem, mà để phục vụ cho nhân dân, để tuyên truyền giải thích đường lối, chính sách của Đảng và Chính phủ, cho nên phải có tính chất quần chúng và tinh thần chiến đấu.

Mục đích chung của chúng ta là xây dựng chủ nghĩa xã hội, đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà, giữ gìn hòa bình thế giới. Nhưng mỗi tờ báo như báo của nông dân, báo của công nhân, báo của thanh niên, báo của phụ nữ… nên có đặc điểm của nó. Về hình thức thì không rập khuôn; rập khuôn thì báo nào cũng thành khô khan, làm cho người xem dễ chán.

Về trách nhiệm báo chí, Lênin có nói: báo chí là người tuyên truyền, người cổ động, người tổ chức chung, người lãnh đạo chung. Vì vậy, nhiệm vụ của người làm báo là quan trọng vẻ vang. Muốn hoàn thành tốt nhiệm vụ ấy thì phải cố gắng học tập tốt chính trị, nâng cao tư tưởng, đứng vững trên lập trường giai cấp vô sản; phải nâng cao trình độ văn hóa, phải đi sâu vào nghiệp vụ của mình. Cần phải luôn luôn cố gắng, mà cố gắng thì nhất định thành công.

Trong nghề báo ta có những kinh nghiệm của ta, nhưng ta cũng cần phải học thêm kinh nghiệm của các nước anh em. Muốn thế, thì những người làm báo ít nhất cũng cần biết một thứ tiếng nước ngoài.

…Trên đây nói nhiều về người viết báo. Nhưng trong nghề làm báo còn có nhiều ngành khác, như ngành in mà các cô, các chú thích nói chữ gọi là ngành “ấn loát” cũng rất quan trọng. Bởi vì có những lúc không cẩn thận, in thiếu dấu, thiếu nét, hoặc in lờ mờ không rõ. Người viết bài thích dùng chữ, như gọi người đánh cá là “ngư dân”, rồi người đi in lại in thiếu dấu ở chữ u, hóa ra “ngu dân”. Đấy chỉ là một ví dụ để thấy rằng việc in cũng phải làm cho tốt.

Việc phát hành cũng rất quan trọng. Phải làm thế nào cho báo có nhiều người xem. Giá tiền báo cũng cần phải đúng mức. Trong công tác, người viết, người in, người sửa bài, người phát hành… đều phải khớp với nhau.

Bác học viết báo

Có đồng chí hỏi kinh nghiệm làm báo của Bác. Kinh nghiệm của Bác là kinh nghiệm ngược. Bác học viết báo Pháp trước, rồi học viết báo Trung Quốc, rồi sau mới học viết báo Việt Nam. Còn học thì một là học trong đời sống của mình, hai là học ở giai cấp công nhân.

Lúc ở Paris, tuy biết nhiều tội ác của thực dân Pháp, nhưng không biết làm thế nào để nêu được. Một đồng chí công nhân ở tòa báo Đời sống thợ thuyền (La vie ouvrière) cho Bác biết báo ấy có mục “tin tức vắn”, mỗi tin chỉ năm ba dòng thôi, bà bảo Bác có tin tức gì, thì cứ viết, đồng chí ấy sẽ sửa lại cho. Từ đó, ngoài những giờ lao động, Bác bắt đầu viết những tin rất ngắn. Mỗi lần viết làm hai bản, một bản đưa cho báo, một bản thì giữ lại. Lần đầu tiên thấy tin được đăng thì rất sung sướng. Mỗi lần đều đem tin đã đăng trên báo so sanh với bài mình đã viết, xem sai chỗ nào. Về sau đồng chí ấy bảo Bác cố viết dài thêm vài dòng nữa, rồi lại vài dòng nữa… Cứ thế kéo dài đến 15, 20 dòng rồi đến cả một cột dài. Lúc đó đồng chí ấy lại bảo: “Thôi, bây giờ phải rút viết ngắn lại, cũng những việc như vậy nhưng phải viết cho rõ, cho gọn”.

Các báo đăng bài của mình đều là báo phái “tả”, đều nghèo, không trả cho mình đồng tiền nào. Mình ngày thì đi làm, tối đi mít tinh, tuy khá vất vả, nhưng vẫn cố gắng viết để nêu tội ác của bọn thực dân.

Khi đã biết viết báo, mình lại muốn viết tiểu thuyết. Nhưng lại e rằng biết chữ Tây võ vẽ như mình thì viết tiểu thuyết sao được. Tình cờ đọc một truyện ngắn của L. Tônxtôi thấy viết một cách rất giản dị, dễ hiểu, thì cho rằng mình cũng viết được. Từ đó mình bắt đầu viết truyện ngắn.

Lúc đó mình sống ở khu phố công nhân nghèo, hiểu rõ đời sống của họ, mình cứ viết những điều mắt thấy tai nghe. Viết xong đưa đến Nhân đạo và nói với đồng chí phụ trách về văn nghệ: “Đây là lần đầu tiên tôi thử viết truyện ngắn, nhờ đồng chí xem và sửa lại cho”. Đồng chí ấy xem xong rồi bảo: “Được lắm, chỉ cần sửa lại một vài chỗ thôi”. Cách mấy hôm sau, thấy mấy truyện ngắn của mình được đăng báo thì sướng lắm. Sướng hơn nữa là nhà báo trả cho 50 phờrăng tiền viết bài. Chà! Lần đầu tiên được trả tiền viết báo! Với 50 phờrăng có thể sống 25 ngày không phải đi làm, tha hồ tham gia mít tinh, tha hồ viết báo, tha hồ đi xem sách….

Kinh nghiệm học viết báo của Bác là như thế.

Bác làm chủ bút

Có một thời gian mình làm cả chủ bút, chủ nhiệm, giữ quỹ, phát hành và bán báo của tờ báo Le Paria (Người cùng khổ). Các đồng chí thuộc địa Á – Phi viết bài và quyên tiền, còn bao nhiêu công việc mình đều bao hết. Cách bán báo; bán cho anh em công nhân Việt Nam, họ không biết chữ Pháp nhưng họ vẫn mua vì họ biết báo này chửi Tây, mua rồi họ nhờ anh em công nhân Pháp đọc cho họ nghe.

Một cách nữa là: ở Paris có những chỗ bán báo lấy hoa hồng. Là đồng chí với nhau cả, các anh chị ấy bán hộ cho mình mà không lấy hoa hồng, và họ bán được khá nhiều. Vì các số báo Le Paria vừa ra đều “được” Bộ Thuộc địa Pháp mua gần hết. Còn báo gửi đi các thuộc địa thì mấy chuyến đều bị tịch thu và người đưa báo thì bị bắt bỏ tù. Về sau, anh em thủy thủ Pháp bí mật chuyển hộ, thì không xảy ra việt gì. Nhưng rồi bọn thực dân cũng dò ra. Sau cùng phải dùng đồng hồ có chuông mà gửi. Cách gửi như vậy đắt lắm, nhưng báo đều đến được các thuộc địa.

Cách thứ tư: trong những cuộc mít tinh, mình đưa báo ra phát, rồi nói: “Báo này nói cho các đồng chí biết bọn thực dân áp bức chúng tôi như thế nào. Báo này để biếu thôi, nhưng đồng chí nào có lòng giúp cho báo, thì chúng tôi cảm ơn”. Kết quả là: nếu đem bán thì 100 tờ báo được 5 phờrăng, nhưng “biếu không” thì có khi được tới 10, 15 phờrăng. Vì anh em công nhân có một, hai xu hoặc một, hai phờrăng cũng cho cả.

Khi đi qua Liên Xô đồng chí L. phóng viên báo Tiếng còi bảo mình viết bài và dặn phải viết rõ sự thật: việc đó ai làm, ở đâu, ngày tháng nào… và viết phải ngắn gọn. Cách đây mấy năm, mình trở lại Liên Xô. Đồng chí L. lại bảo mình viết. Nhưng L. lại bảo: chớ viết khô khan quá. Phải viết cho văn chương. Vì ngày trước khác, người đọc báo chỉ muốn biết những việc thật. Còn bây giờ khác, sinh hoạt đã cao hơn, người ta thấy hay, thấy lạ, thấy văn chương thì mới thích đọc.

Khi đến Hoa Nam, mình lại tập viết báo Trung Quốc. Mỗi lần viết xong, mình sửa đi sửa lại mấy lần rồi mới gửi đến Cứu vong nhật báo…. Thấy bài minh đã được đăng lại được đóng khung, điều đó khuyến khích mình tiếp tục viết. Nói tóm lại, mình phải học tập không ngừng và phải luôn luôn khiêm tốn.

Đến ngày Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội ra tờ báo Thanh niên thì mình lại học viết tiếng ta. Lúc ấy, vấn đề khó khăn là làm thế nào để gửi báo về nước cho đến tay người đọc.

Năm 1941, mình bí mật về nước. Theo lời dạy của Lênin: tờ báo là công cụ tuyên truyền, cổ động, tổ chức và lãnh đạo, cho nên mình cố gắng ra một tờ báo ngay, và phải làm rất bí mật vì luôn luôn có mật thám của Pháp, Nhật và Bảo Đại rình mò. Điều kiện sinh hoạt thì bữa đói, bữa no. Làm báo thì phải có đá in. Mấy đồng chí đi lấy trộm những tấm bia đá, rồi mài mấy ngày mới thành bản in. In thì phải viết chữ trái lên đá, thế là phải có một đồng chí phải hì hục tập viết chữ trái. Mấy số báo đầu, ba, bốn anh em cùng làm, nhưng in cứ toe toét, chỉ in được ít và xấu xí. Nhưng về sau cứ tiến bộ dần, mỗi lần in được gần 300 số. Phải đặt bia đá “nhà in” ở ba chỗ khác nhau. Khi động chỗ này thì chạy đến chỗ khác mà in, và báo vẫn ra đúng kì. Địch chịu không làm gì được.

Vấn đề giấy cũng gay. Lúc bấy giờ ai mua nhiều giấy địch cũng nghi, và theo dõi. Các chị em mỗi người đi chợ mua năm, mười tờ, nói dối là mua cho con cháu học, rồi góp lại để in báo.

In bản đá, muốn sửa chữa phải dùng a xít, Mà a xít thì mua đâu được? Có đồng chí đã nghĩ ra cách dùng chanh thay a xít. Chị em lại mua chanh để ủng hộ báo.

Còn việc phát hành: Để báo ở các hang đá bí mật Các đồng chí phụ trách cơ sở Việt Minh cứ đến đó mà lấy. Báo bán hẳn hoi, chứ không biếu.

Thế là mọi việc đều dựa vào quyết tâm của mình, dựa vào lực lượng và sáng kiến của quần chúng.

Đồng bào địa phương rất thích đọc báo, vì báo viết điều gì cũng thắm thía với họ. Đồng bào còn tự động tổ chức những tổ đọc báo và bí mật đưa tin tức cho báo. Đồng bào lại tìm đến cách tuyên truyền cho lính dõng đọc báo để làm “binh vận”.

Đề tài duy nhất

Về nội dung viết, mà các cô, các chú gọi là “đề tài”, thì tất cả những bài Bác viết chỉ có một “đề tài” là chống thực dân đế quốc, chống phong kiến địa chủ, tuyên truyền độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Duyên nợ của Bác với báo chí là như vậy đó.

Kết luận: kinh nghiệm của 40 năm là: không sợ khó, có quyết tâm. Không biết thì phải cố gắng học, mà cố học thì nhất định học được. Bây giờ các cô, các chú có điều kiện học tập dễ dàng hơn Bác trước kia. Mong các cô, các chú cố gắng và tiến bộ!

HỒ CHÍ MINH

Trích bài nói chuyện tại Đại hội lần thứ hai Hội nhà báo Việt Nam, 16-4-1959
Hồ Chí Minh toàn tập

quangbinh.gov.vn

Bài báo cuối cùng của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Tác giả: NGUYỄN QUỐC DŨNG (VĂN PHÒNG TRUNG ƯƠNG ÐẢNG)

Dưới bút danh T.L, ngày l-6-1969 Chủ tịch Hồ Chí Minh có bài viết “Nâng cao trách nhiệm chăm sóc và giáo dục thiếu niên, nhi đồng” (1) đăng trên Báo Nhân Dân, số 5526. Ðây là bài báo cuối cùng trong tổng số hơn 1.000 bài báo mà Bác đã viết trong cuộc đời hoạt động cách mạng của mình.

Bài báo có nội dung không dài, trong đó Bác đề cập những thành tích của thiếu niên, nhi đồng hai miền nam, bắc; những vấn đề tồn tại. Và từ đó Người đề ra trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức trong việc chăm sóc, giáo dục các em.

Mở đầu bài báo, Bác khẳng định: “Nói chung trẻ con ta rất tốt”. Ðể minh chứng điều này, Bác lấy dẫn chứng về các em bé ở hai miền nam, bắc đã không quản ngại hy sinh, gian khổ để góp sức mình vào sự nghiệp cách mạng của Ðảng. Ðối với các em bé miền nam, hằng ngày, hằng giờ phải đối mặt với cuộc chiến tranh khốc liệt do kẻ thù gây ra, song không vì thế mà làm chùn bước các em. Bác viết: “Ở miền Nam, các cháu bé rất dũng cảm, đã hăng hái giúp đỡ bộ đội, giúp đỡ gia đình có người kháng chiến, làm giao liên, đánh du kích, v.v. Nhiều cháu mới hơn 10 tuổi đã trở thành dũng sĩ diệt Mỹ”. Ðó là sự khen ngợi mà Bác dành cho các cháu thiếu niên, nhi đồng miền nam- thành đồng của Tổ quốc.

Còn đối với thiếu nhi miền bắc, Bác đã dành những lời khen ngợi thân thiết: “Ở miền Bắc, các cháu đều hăng hái thi đua làm “nghìn việc tốt” như giúp đỡ gia đình bộ đội, trả lại của rơi, gan góc liều mình cứu bạn, v.v. Ở nông thôn thì nhiều nơi các cháu tổ chức giúp các hợp tác xã chăm sóc trâu bò béo khỏe, trồng cây và bảo vệ cây xanh tốt”. Không những thế, “các cháu sơ tán xa gia đình vẫn cố gắng vượt mọi khó khăn, kính thầy yêu bạn, đoàn kết với đồng bào địa phương và thi đua học tập tốt, lao động tốt. Nhiều cháu học giỏi, tất cả các môn đều đạt điểm 5, điểm 10, đã được giải thưởng của Bác Hồ”.

Niềm mong mỏi của Bác năm nào (tháng 9-1945) khi Người viết: “Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em” (2)  đã được các em gắng công thực hiện bằng những việc làm cụ thể.

Các em bé miền bắc mặc dù không phải đối mặt trực tiếp và thường xuyên với cuộc chiến tranh tàn khốc do đế quốc Mỹ gây ra, song đã nỗ lực để không thua kém các bạn miền nam, hằng ngày đã góp sức với ông bà, cha mẹ, anh chị lao động, sản xuất và học tập. Với những hành động “tuổi nhỏ làm việc nhỏ” rất thiết thực, các em đã được Bác Hồ ghi nhận và biểu dương về những thành tích đó. Bài báo viết: “Hàng trăm cháu có thành tích xuất sắc đã được Bác Hồ thưởng huy hiệu. Hơn hai triệu cháu được bình bầu là Cháu ngoan Bác Hồ”. Ðó quả thực là những đóa hoa tô thắm cho truyền thống yêu nước nồng nàn của các em vào lịch sử của dân tộc. Ðó cũng là kết quả mà Ðảng ta và Bác Hồ đã giáo dục, rèn luyện các em để các em trở thành người có ích cho xã hội. Vì vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt nhấn mạnh : “Nhân dân ta rất tự hào có nhiều con cháu tiến bộ như thế. Mong các cháu ngày càng cố gắng hơn nữa và tiến bộ hơn nữa”. Bên cạnh những em đã có nhiều cố gắng trong học tập, lao động, sản xuất, Bác cũng chỉ ra những thiếu sót, khuyết điểm đối với một số thiếu niên, nhi đồng khác. Người viết : “Song vẫn còn một số ít cháu chậm tiến vì chưa được chăm sóc dạy dỗ đến nơi đến chốn”.  Trong sự nghiệp cách mạng của mình, Bác Hồ đã dành nhiều công sức, tâm huyết để đào tạo thế hệ trẻ Việt Nam. Khi ở tuổi “thất thập cổ lai hy”, thời điểm mà Người sắp phải từ biệt thế giới này, Người một lần nữa đặt vấn đề chăm sóc và giáo dục các em thiếu niên, nhi đồng và khẳng định: “Thiếu niên, nhi đồng là người chủ tương lai của nước nhà”. Người yêu cầu: “Chăm sóc và giáo dục tốt các cháu là nhiệm vụ của toàn Ðảng, toàn dân. Công tác đó phải làm kiên trì, bền bỉ”.

Sinh thời, Bác từng viết: “Trẻ em như búp trên cành/Biết ăn, biết ngủ, biết học hành là ngoan”… Các em thiếu niên, nhi đồng phát triển tốt hay xấu đều do công tác chăm sóc, giáo dục của xã hội mà nên. Do đó, phải chăm sóc và giáo dục các em trở thành những người “vừa hồng, vừa chuyên”, và “phải làm kiên trì”,  “bền bỉ”.

Ðể chăm sóc, giáo dục các em thiếu niên, nhi đồng, Bác Hồ đã đặt ra kế hoạch: “Trong thời gian tới và trong dịp hè này, cần phải đẩy mạnh công tác thiếu niên, nhi đồng đạt nhiều kết quả tốt và thiết thực”. Muốn vậy, Bác căn dặn: “Trước hết các gia đình (tức là ông bà, cha mẹ, anh chị) phải làm thật tốt công việc ấy. Các đảng ủy đường phố và hợp tác xã phải phụ trách chỉ đạo thiết thực và thường xuyên. Ủy ban thiếu niên, nhi đồng, Ðoàn thanh niên, ngành giáo dục và các ngành, các đoàn thể cần phải có kế hoạch cụ thể chăm sóc, giáo dục các cháu càng ngày càng khỏe mạnh và tiến bộ. Các tỉnh ủy, thành ủy cần phải phụ trách đôn đốc việc này cho có kết quả tốt”.

Bác Hồ với các cháu thiếu nhi dũng sĩ miền Nam

Về điều này, trong Di chúc, Bác đã từng đặt ra nhiệm vụ chăm sóc thế hệ trẻ nước nhà, trong đó có các em thiếu niên, nhi đồng. Bác viết: “Ðảng cần phải chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng xã hội chủ nghĩa vừa “hồng” vừa “chuyên”; “Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết”(3).Kết thúc bài báo, Bác chỉ rõ: “Vì tương lai của con em ta, dân tộc ta, mọi người, mọi ngành phải có quyết tâm chăm sóc và giáo dục các cháu bé cho tốt”. Ðây là lời di huấn mà Bác chỉ thị cho toàn Ðảng, toàn xã hội phải có trách nhiệm để thực hiện.

Nhân kỷ niệm 120 năm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, kỷ niệm 85 năm Ngày Báo chí cách mạng Việt Nam (21-6) đọc lại bài báo “Nâng cao trách nhiệm chăm sóc và giáo dục thiếu niên, nhi đồng” của Chủ tịch Hồ Chí Minh chúng ta thấy vẫn nóng hổi tính thời sự. Mỗi người chúng ta ở mỗi cương vị công tác hãy thực hiện tốt hơn nữa di huấn của Người về việc chăm sóc và giáo dục các em thiếu niên, nhi đồng.

—————

(1) Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009, tập 12, tr 467 – 468.
(2) Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb  Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009, tập 4, tr 33.
(3) Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009, tập 12, tr 510.

Theo Báo Nhân dân

tuanvietnam.vietnamnet.vn

Một số bút danh, biệt hiệu của Bác Hồ

Trong cuộc đời hoạt động cách mạng, Bác Hồ của chúng ta đã sử dụng hơn 100 tên, biệt hiệu, bút danh. Nhân dịp kỷ niệm 95 năm Bác Hồ ra đi tìm đường cô nước (1911-2006), xin giới thiệu 70 tên gọi, bút danh, bí danh, biệt hiệu Người đã sử dụng trước cách mạng Tháng Tám năm 1945.

Thời thơ ấu của Bác, ở làng Sen, bà con thường gọi cậu bé Nguyễn Sinh Cung là Cậu Công. Trước khi lên tàu ra đi tìm đường cứu nước, trong phong trào đấu tranh chống sưu cao thuế nặng ở Huế, nổi lên người thanh niên học sinh yêu nước Nguyễn Tất Thành, sau này là thày giáo Nguyễn Tất Thành ở Trường Dục Thanh (Phan Thiết). Khi làm đầu bếp trên tàu Latouche Tréville, Nguyễn Tất Thành lấy tên là anh Ba hoặc Văn Ba. Trong lá thư gửi từ Niu-oóc về cho Khâm sứ Trung Kỳ nhờ tìm địa chỉ của cụ Nguyễn Sinh Huy, Bác ký tên là Paul Tất Thành. Từ năm 1919, bắt đầu xuất hiện tên Nguyễn Ái Quốc ký dưới Bản yêu sách của nhân dân An Nam gửi đến Hội nghị quốc tế vì hoà bình họp ở Versailles và nhiều thư từ, kiến nghị, bài báo khác. Là một trong những người sáng lập Tờ báo Le Pa-ria của Hội Liên hiệp thuộc địa, chỉ trong năm 1922, Nguyễn Ái Quốc đã viết gần 20 bài phơi bày dã tâm và tội ác của chủ nghĩa thực dân. Đồng thời Nguyễn Ái Quốc cũng viết hàng loạt bài đăng trên báo L’Humanité của Đảng Xã hội Pháp, các báo La Viie Ouvrière, Le Journal du Peuple, Le Libertaire và các tập san La Revue Communiste, Inprekorr dưới các bút danh: Nguyễn A. Q, Ký Viễn, N. A. Q. Tiếp đó, trong những năm 1923-1924, Nguyễn Ái Quốc còn sử dụng thêm một số bút danh và tên gọi khác dưới các bài viết và trong hoạt động cách mạng: Chú Nguyễn, N, S Chon Vang, Cheng Vang, Trần Vương, Ai Qua Que, Nguyễn Hải Khách, Lý Thụy.

Thời gian từ năm 1925 đến năm 1930, hoạt động trên cương vị là Uỷ viên Ban Phương Đông, phụ trách Văn Phòng Phương Nam của Quốc tế Cộng sản, Nguyễn Ái Quốc đảm nhận việc truyền bá chủ nghĩa cộng sản vào châu Á nói chung và Đông Dương nói riêng, theo dõi và chỉ đạo phong trào cách mạng ở một số nước, chuẩn bị mọi điều kiện cho việc thành lập chính đảng của giai cấp vô sản ở trong nước. Nhiều bút danh đã được Người sử dụng trong thời kỳ này là: N. A. K ký dưới Lời kêu gọi gửi công nhân, nông dân, binh lính, thanh niên và tất cả đồng bào bị áp bức, Ông Lý dưới Thư gửi đại diện Tổng Liên đoàn Lao động thống nhất Pháp ở Quốc tế Công hội, L. M. Wang dưới Thư gửi Văn phòng đại diện Đảng Cộng sản Đức ở Quốc tế Cộng sản, Vichto Lơbông dưới Thư gửi đại diện Đảng Cộng sản Pháp ở Quốc tế Cộng sản, Paul dưới Thư gửi Văn phòng đại diện Đảng Cộng sản Mỹ… Ngoài ra, Người còn dùng nhiều tên, bí danh khác như Nilốpski, Ho Wang, Trương Nhược Tường, Vương Sơn Nhi, Vương Đạt Nhân, Lonis-Berlin, Loa Roi Ta, Thọ biệt hiệu là Nam Sơn.

Tiếp đó là thời gian Bác Hồ của chúng ta từ Trung Quốc qua Thái Lan rồi từ Thái Lan trở lại Trung Quốc để chuẩn bị về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng. Để đảm bảo bí mật, Nguyễn Ái Quốc nhiều lần cải trang khi là lính hầu, lúc 1à thày địa ký, có khi lại là thầy lang bôn ba đây đó chữa bệnh cứu người. Tên tuổi, bút danh của Người cũng nhiều lần được thay đổi. Những khi tiếp xúc với kiều bào, Người là Chín, Thầu Chín, Chính, Nguyễn Lai, Lý Tín Tống, Trần, Lê, Pan, Ông Lý Hồng Công, Tiết Nguyệt Lâm. Dưới các bài báo Nguyễn Ái Quốc ký nhiều tên khác nhau: Howang T.S, Wang, A.P, N.K, N. Ái Quốc, Nguyễn, H, T, Loa Shing Lan, Victo, Vector Lebm, K.K.V, Line, LW Vương, T.V.Wang, Có khi Người chỉ ký một chữ V dưới bài “Nghệ tĩnh đỏ” viết bằng tiếng Anh; lấy bút danh Quac, E.Wan dưới các bài vạch mặt đế quốc Pháp; ký một chữ K Thư gửi Ban Phương Đông của Quốc tế Cộng sản. Trong bản khai trích ngang dự Đại hội VII Quốc tế Cộng sản(1935), Người ghi “bí danh trong Đảng là Jeng Man Huân”, bí danh dùng trong Đại hội là Lan. Sau này, khi từ Tây An về Quảng Tây (Trung Quốc) hoạt động, Người đã đóng giả lính hầu cho một viên quan Trung Hoa (là người của Đảng Cộng sản Trung Quốc chọn cử), lúc lại là thiếu tá Hồ Quang bên cạnh tướng Diệp Kiếm Anh qua lại Văn phòng Bát lộ quân. Thời gian này Bác Hồ có biệt hiệu là ông Trần, là đồng chí Vương khi gặp gỡ các đại biểu từ Việt Nam sang. Bài viết đăng trên các báo được ký dưới nhiều bút danh mới như P.C.Line, Bình Sơn.

Từ tháng 1-1941, Bác về nước trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng Việt Nam. Trong thời gian đầu, Bác lấy bí danh là Già Thu và chọn hang Pắc Bó (Cao Bằng) làm cơ sở hoạt động cách mạng bí mật. Những tháng ngày gian khổ ở căn cứ địa Việt Bắc, Bác có bí danh là Thu Sơn, Ông Ké. Trong những ngày Tháng Tám 1945 sục sôi khí thế cách mạng, Bác ký tên Hồ dưới thư viết bằng tiếng Anh gửi Trung uý Charles Fenn, người trực tiếp điều khiển nhóm tình báo Đồng minh hoạt động trên đất Việt Nam khi đó; Ký tên C.M Hồ dưới thư gửi ông Ph. Tan, là người Mỹ gốc Hoa sẽ cùng về Việt Nam với Hồ Chí Minh để thực thi nhiệm vụ do nhóm công tác của Charles Fenn giao cho.

Đó là những biệt hiệu, bút danh gắn với cuộc đời hoạt động cách mạng sôi nổi của Bác Hồ trong giai đoạn từ khi rời bến cảng Nhà Rồng ra đi tìm đường cứu nước mùa hè năm 1911 đến Cách mạng Tháng Tám 1945, căn cứ theo Biên niên tiểu sử và Toàn tập tác phẩm của Người.

quangbinh.gov.vn

Nhà báo cách mạng bậc thầy Hồ Chí Minh

Năm 2010 chúng ta kỷ niệm 120 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh trong niềm vui công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo đã và đang thu được nhiều thắng lợi, trong đó có công sức đóng góp không nhỏ của nền báo chí cách mạng. Bác Hồ là người thầy báo chí cách mạng Việt Nam. Tư tưởng của Người luôn luôn mới với chúng ta.

Với tư cách là người làm báo lâu năm, lại vinh dự nhiều lần được nghe Bác huấn thị, được đọc, được tìm hiểu tư tưởng của Bác về công tác báo chí cách mạng và lại có những giai đoạn được quản lý báo chí, tôi xin đề cập một khía cạnh mà tôi cho là quan trọng, mãi mãi quan trọng, nhất trong tình hình hiện nay “còn mang tính thời sự”, về một số lời khuyên của nhà báo bậc thầy Hồ Chí Minh với các nhà báo Việt Nam về quá trình thu thập thông tin và xử lý thông tin để hình thành các tác phẩm báo chí có chất lượng cao.

Theo tôi hiểu, quá trình hình thành các bài báo là quá trình xử lý thông tin và công bố thông tin. Nhưng muốn xử lý thông tin chính xác, đúng đắn, trước hết lại phải có nguồn thông tin qua quá trình thu thập thông tin của một nhà báo. Nhiều nhà báo có uy tín trong nước và thế giới đều cho rằng, một nhà báo giỏi bao giờ cũng rất giỏi thu thập thông tin, thậm chí cho rằng cả cuộc đời làm báo là cuộc đời thu thập thông tin. Ít nguồn thông tin và bản lĩnh chưa vững của nhà báo thường được coi là một trong những nguyên nhân quan trọng nhất làm cho bài báo kém chất lượng, thậm chí sai lạc.

Đọc các giáo trình giảng dạy về báo chí hoặc các phát biểu về nghiệp vụ của các nhà báo có uy tín thường có nội dung hướng dẫn các nhà làm báo cách thu thập thông tin. Phương pháp, kinh nghiệm thu thập thông tin ngày càng phong phú, với công nghệ ngày càng hiện đại và rất bổ ích với người làm báo trong quá trình đổi mới và hội nhập, giao lưu quốc tế.

Trước khi đề cập vấn đề thu thập thông tin, tôi muốn đề cập tới lời khuyên quan trọng và cơ bản của Bác Hồ về công bố thông tin, khi Người căn dặn: “Chưa điều tra, chưa nghiên cứu, chưa biết rõ, chớ nói, chớ viết”. “Biết” theo từ điển tiếng Việt, là “nhận rõ thực chất”, tức là phải hiểu đến bản chất sự việc mới nói và viết, nghĩa là thông tin tuy luôn luôn cần nhanh, kịp thời nhưng phải được tìm hiểu, phân tích sâu sắc trước khi công bố; không thể làm việc vội vàng, hời hợt hoặc vì một động cơ không chính đáng nào khác.

Tại Đại hội Đảng lần thứ VI mở đầu thời kỳ đổi mới, có một phương châm rất nổi tiếng cho giới lãnh đạo, quản lý – tôi nghĩ – cũng là cho giới truyền thông là “Nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật”. Nhìn thẳng vào sự thật là tôn trọng sự thật khách quan, không che giấu, thổi phồng hoặc bóp méo. Nhưng lại cần nhớ là chỉ “nói rõ sự thật” khi đã “đánh giá đúng sự thật”, nghĩa là sự việc đó đã được tìm hiểu, phân tích sâu sắc tới bản chất sự thật. Phương châm thông tin sự thật mà Đại hội VI đề cập là sự tiếp nối tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về “biết rõ” trước khi nói và viết.

Ở trên tôi đã trình bày sự cảm thụ của mình về tư tưởng của Hồ Chí Minh trong việc định hướng xử lý thông tin. Nhưng như trên đã phân tích, muốn xử lý thông tin cho chính xác và đúng đắn thì cùng với động cơ trong sáng, bản lĩnh vững vàng còn cần có nhiều nguồn thông tin nhiều chiều qua hoạt động thu thập thông tin. Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nhà báo Hồ Chí Minh cũng đưa ra những lời khuyên về hoạt động thu thập thông tin mà Người gọi là “Tìm tài liệu” để nói và viết. Người nêu lên năm hoạt động: Nghe, Hỏi, Thấy, Xem, Ghi. Tôi sợ dài dòng, chỉ nói việc “xem” theo giải thích của Người là xem sách, xem báo trong nước và nước ngoài, mà ngày nay ta hay dùng từ “Đọc”. Năm phương pháp đó, theo tôi hiểu là hoạt động thường xuyên của nhà báo cũng như hoạt động chuẩn bị cho một bài báo cụ thể, bao gồm thu thập thông tin trực tiếp (qua thấy) và gián tiếp (qua nghe, hỏi, xem).

Chí lớn trên đời thường gặp nhau. Đọc Lời khuyên của Chủ tịch Hồ Chí Minh lại nhớ Lời khuyên của học giả Lê Quý Đôn về Đi, Đọc, Nghĩ, Viết. Cụ nói: “Trong bụng phải có hàng vạn cuốn sách”, chân phải “đi muôn dặm đường”, mắt “phải có sức sống kỳ lạ của thiên hạ” thì hãy cầm bút.

Đối chiếu với việc làm của giới báo chí chúng ta, việc làm được cũng như chưa làm được, bài báo thành công cũng như chưa thành công, chúng ta càng thấy bên cạnh những bài báo chính xác, có tư liệu phong phú lại thấy những bài báo và một số tác giả thông tin vội vàng, hấp tấp dẫn tới thiếu sót, thậm chí sai lạc, khi chưa “biết rõ” đã viết và nói ào ào gây nguy hại cho cá nhân và xã hội.

Ngày nay giới báo chí rất vui vì có “Người phát ngôn” của các cơ quan có thẩm quyền để các nhà báo có điều kiện tiếp cận với các nguồn thông tin chính thức. Cũng cần có quy chế cụ thể về “Người phát ngôn” để họ không chỉ thông báo mà còn có khả năng và thẩm quyền đối thoại với các nhà báo.

Tuy nhiên, cho dù quy chế Người phát ngôn có hoàn hảo và có trở thành nguồn thông tin chính thức, quan trọng cũng không thể thay thế mọi nguồn thông tin, vì Chủ tịch Hồ Chí Minh trong hoạt động thu thập thông tin của nhà báo, chỉ trong việc “hỏi” đã rất công phu. Ngoài việc hỏi cán bộ, đảng viên, Người còn khuyên các nhà báo phải hỏi “những người không quan trọng”, nghĩa là Người khuyên phải tiếp xúc nhiều lớp người, nhiều nguồn không chỉ là nguồn thông tin của các nhà lãnh đạo, quản lý để “thông tin nhiều chiều” như văn kiện của Đảng đã yêu cầu.

Trong thời kỳ đổi mới, với kỹ thuật hiện đại, đặc biệt với thông tin nối mạng toàn cầu, giao lưu quốc tế rộng mở, việc thu thập thông tin ngày nay có rất nhiều thuận lợi. Sách, báo rất nhiều. Rồi truy cập với các “Nhà tìm kiếm” trên mạng có thể trong một vài phút đã biết được rất nhiều tư liệu.

Bên cạnh những thuận lợi lớn trong việc thu thập thông tin, lại cần đề phòng việc nhiễu loạn thông tin. “Đói thông tin” hoặc “Nhiễu thông tin” đều làm cho con người khó định hướng tư duy và hành động. Đồng thời lại bắt đầu xuất hiện “Những nhà báo sau máy tính” để miêu tả một số bạn đồng nghiệp (đã bắt đầu xuất hiện ở nước ta), không cần đi đâu, không cần gặp ai, chỉ truy cập thông tin trên mạng để viết bài vì trên mạng có thể có tư liệu, có sự đánh giá của nhiều tác giả khác nhau để người viết lựa chọn. Như thế “nhà báo sau máy tính” sẽ mất khả năng tự tìm hiểu, quan sát, do đó chỉ còn nói dựa theo người khác, không thể có bản sắc để đồng nghiệp và người nghe, người xem tôn trọng, đồng thời làm cho sự nghiệp báo chí kém phong phú.

Trong bài viết này, nhân bàn về thu thập thông tin và xử lý thông tin, tôi muốn ôn lại một số lời khuyên quan trọng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, người thầy báo chí cách mạng Việt Nam, mà tôi nghĩ rằng nó luôn mới với chúng ta.

Hữu Thọ (Nguyên Trưởng ban Tư tưởng – Văn hóa Trung ương)
(Nguồn: Báo QĐND)

xaydungdang.org.vn

Tư tưởng Hồ Chí Minh về báo chí cách mạng Việt Nam

Trong sự nghiệp hoạt động cách mạng, Chủ tịch Hồ chí Minh luôn coi báo chí và những người làm báo là một bộ phận của sự nghiệp cách mạng, là vũ khí sắc bén trong công cuộc đấu tranh giành độc lập cho dân tộc và xây dựng cuộc sống mới cho nhân dân.

Cuộc đời hoạt động của Người không tách rời hoạt động báo chí. Người làm báo là để làm cách mạng và để làm cách mạng Người đã trở thành một nhà báo. Các tác phẩm báo chí của Người có nội dung vô cùng sâu sắc và hết sức mẫu mực về hình thức thể hiện, tạo nên một phong cách độc đáo – phong cách báo chí Hồ Chí Minh.Theo Người, báo chí chúng ta chỉ có một đề tài xuyên suốt là: “Chống thực dân đế quốc, chống phong kiến địa chủ, tuyên truyền cho độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội” (1). Để thực hiện được nội dung đó, báo chí cách mạng phải có tính chiến đấu với tính cách là biểu hiện cao nhất của tính đảng, là bản chất, là tiêu chí cao nhất của báo chí cách mạng. Điều đó trước hết thể hiện ở đường lối chính trị của tờ báo. Báo chí thực chất là hoạt động chính trị, thông tin trên báo chí quan trọng nhất là thông tin chính trị. Theo Người, báo chí là công cụ đấu tranh giai cấp, là vũ khí đấu tranh cách mạng. Tính tư tưởng cách mạng của báo chí quyết định chất lượng, tác dụng của báo chí. Để bảo đảm tính tư tưởng, tính đảng của báo chí thì trong đó phải thể hiện được tính chiến đấu, tính giáo dục và tính quần chúng của báo chí. Người nói: “Đối với bản thân báo chí, bản thân người làm báo cũng phải có tính chiến đấu mới làm báo tốt được. Viết một bài báo mà loại được những yếu tố cá nhân cũng là một cuộc đấu tranh” (2).

Báo chí phải biểu thị rõ ràng sự nhiệt tình ủng hộ hay phản đối một quan điểm, một vấn đề, một sự kiện chính trị, kinh tế, xã hội nào đó khi trong xã hội còn đấu tranh giai cấp. Người khẳng định: ‘”Đối với những người viết báo chúng ta, cái bút là vũ khí sắc bén – bài báo là tờ hịch cách mạng để động viên quần chúng đoàn kết đấu tranh, chống chủ nghĩa thực dân cũ và mới, chống chủ nghĩa đế quốc đứng đầu là đế quốc Mỹ, vì độc lập dân tộc, tiến bộ xã hội và hòa bình thế giới” (3).

Tất nhiên yêu cầu, đòi hỏi của sự nghiệp cách mạng là một cơ sở khác đương nhiên để Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định nhiệm vụ, chức năng của báo chí. Xã hội và cùng với nó là so sánh lực lượng giữa cách mạng và phản cách mạng luôn thay đổi, đòi hỏi Đảng phải tùy thuộc hoàn cảnh, điều kiện cụ thể để đưa ra các nhiệm vụ cho báo chí cách mạng. Muốn hoàn thành những nhiệm vụ của mình, báo chí cách mạng phải có những nguyên tắc chỉ đạo nhất quán của nó. Nguyên tắc đó là gì? Bác Hồ khẳng định: “Chính trị phải làm chủ. Đường lối chính trị đúng thì những việc khác mới đúng được. Cho nên các báo chí của ta đều phải có đường lối chính trị đúng”. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhiều lần nhắc nhở những người làm báo, khi viết phải trả lời rõ: “Viết cho ai xem? Viết để làm gì?; “Vì ai mà viết? Mục đích viết làm gì?” (4). Những câu hỏi Người đặt ra chính là đòi hỏi báo chí phải xác định rõ đối tượng tiếp nhận thông tin. Việc xác định đó nhằm hình thành phương pháp sáng tạo phù hợp cho nhà báo.

Người chỉ rõ: “Đối tượng của tờ báo là đại đa số dân chúng” (5). Vì vậy, cách viết bài báo phải đơn giản, dễ hiểu, ngôn ngữ phải trong sáng, tránh dùng từ nước ngoài … Việc xác định đúng đối tượng phục vụ của báo chí cũng có nghĩa là nhà báo phải biết chọn lựa những nội dung gì nên viết, cái gì không nên viết. Viết phục vụ nhân dân thì nhất định phải chọn cái gì có lợi cho dân và phục vụ cách mạng. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: Cán bộ báo chí cũng là chiến sỹ cách mạng. “Cây bút, trang giấy là vũ khí sắc bén của họ” (6). Để làm tròn nhiệm vụ vẻ vang của mình, cán bộ báo chí cần phải tu dưỡng đạo đức cách mạng, cố gắng trau dồi tư tưởng, nghiệp vụ và văn hóa; chú trọng học tập chính trị để nắm vững chủ trương, chính sách của Đảng, Chính phủ, đi sâu vào thực tế, đi sâu vào quần chúng lao động.

Thực hiện lời dạy của Người, 85 năm qua, báo chí cách mạng nước ta đã thể hiện là công cụ sắc bén của Đảng và Nhà nước trong công tác tuyên truyền, giáo dục, cổ vũ, động viên toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta đoàn kết, vượt qua mọi khó khăn, thử thách, đưa sự nghiệp cách mạng nước ta không ngừng tiến lên và giành được những thành tựu to lớn. Lớp lớp đội ngũ nhà báo Việt Nam luôn trung thành với lý tưởng của Đảng, kiên định vững vàng trong những biến động của lịch sử; có những đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp giành độc lập dân tộc, đấu tranh thống nhất đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Không ngừng ra sức phấn đấu rèn luyện “trí sáng, tâm trong, bút sắc”, thực hiện sứ mệnh cao quý của người cầm bút, sáng tạo nhiều tác phẩm báo chí có chất lượng cao hơn.

Vấn đề đặt ra cho nhà báo cách mạng là sự ý thức tự giác đầy đủ vai trò trách nhiệm của mình trên cơ sở nhận thức rõ ràng về bản chất chế độ, bản chất nền báo chí cách mạng. Chỉ có một niềm tin vững chắc trên cơ sở đó mới giúp các nhà báo hành nghề một cách tự do. Mà tự do theo Bác Hồ thì cũng chính là quyền phục tùng chân lý. Và chân lý là cái gì có lợi cho Tổ quốc, cho nhân dân… Ra sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân tức là phục tùng chân lý. Chân lý đó là rất cụ thể. Phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân là một yêu cầu rất rõ ràng, một điều kiện nhân văn không thể chối cãi để đạt đến tự do.

Thực hiện tư tưởng của Người về báo chí, những năm qua, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm, lãnh đạo báo chí, do đó, báo chí đã phát triển khá nhanh về số lượng, đến nay cả nước có 706 cơ quan báo chí in; 528 tạp chí; trên 500 đài truyền thanh, truyền hình cấp huyện, 05 báo điện tử lớn, hàng chục trang báo điện tử là cánh tay nối dài của báo in, hàng trăm trang thông tin điện tử, hàng ngàn website, với hơn 17.000 người làm báo chuyên nghiệp được cấp thẻ nhà báo. Phần lớn các cơ quan báo chí hoạt động đúng tôn chỉ, mục đích và định hướng chính trị, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Bên cạnh đó, báo chí có bước phát triển về số lượng, trình độ, tham gia ngày càng tích cực vào quá trình truyền thông. Các cơ quan báo chí từng bước nâng cao về chất lượng; đã thực hiện tốt chức năng là công cụ tuyên truyền của Đảng và Nhà nước, là diễn đàn của nhân dân, có những đóng góp tích cực, quan trọng vào những thành quả quan trọng, có ý nghĩa lịch sử của quá trình đổi mới ở nước ta. Những thành công cũng như hạn chế trong hoạt động của mỗi cơ quan báo chí gắn liền với những ưu khuyết điểm trong lãnh đạo, chỉ đạo của từng tổ chức đảng.

Quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh về báo chí cũng chính là quán triệt ý thức trách nhiệm chính trị xã hội của báo chí. Làm báo thực chất là làm chính trị. Ý thức nghề nghiệp của người làm báo trước hết là ý thức chính trị. Đó là ý thức về một lập trường chính trị cách mạng, là thái độ bảo vệ chế độ, bảo vệ dân tộc, bảo vệ giai cấp, kiên quyết chống lại sự phá hoại của kẻ thù. Đó là các cơ sở gốc rễ để mỗi nhà báo tự vượt lên trên những tính toán vụ lợi, cống hiến toàn tâm, toàn lực cho sự nghiệp cách mạng.

Học tập tư tưởng Hồ Chí Minh về báo chí cách mạng, mỗi nhà báo cần nắm vững, thấm nhuần tư tưởng báo chí cách mạng của Người, vận dụng sáng tạo vào hoạt động tác nghiệp của mình. Trong điều kiện hiện nay, để xứng đáng là chiến sỹ xung kích trên mặt trận tư tưởng – văn hóa của Đảng, thực hiện tốt trách nhiệm xã hội và nghĩa vụ công dân, những người làm báo phải xây dựng lập trường chính trị vững vàng, không ngừng học tập, rèn luyện để nâng cao trình độ, kỹ năng làm báo, giữ vững sự trong sáng của đạo đức nghề nghiệp.

—–

1. Hồ Chí Minh (1995), Toàn tập, tập 9, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
2. Hồ Chí Minh (1996), Toàn tập, tập 11, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
3. Hồ Chí Minh (1996), Toàn tập, tập 11, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
4. Hồ Chí Minh (1996), Toàn tập, tập 6, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
5. Hồ Chí Minh (1996), Toàn tập, tập 6, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
6. Hồ Chí Minh (1996), Toàn tập, tập 10, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

Ths. Nguyễn Huy Ngọc

xaydungdang.org.vn

Nâng cao tính định hướng đối với báo chí điện tử theo Tư tưởng Hồ Chí Minh

Bất kỳ một tờ báo chính trị nào cũng đều có tính định hướng, tức là xu hướng chính trị của tờ báo. Báo chí nước ta giữ vai trò là người tuyên truyền, cổ động, người tổ chức tập thể, một trong những động lực của phong trào cách mạng, đội quân tiên phong trên mặt trận tư tưởng-văn hóa của Đảng càng không thể tách rời yếu tố định hướng chính trị – tư tưởng.

Đến cuối năm 2009, cả nước ta có 706 cơ quan báo chí in, 67 đài phát thanh-truyền hình, 21 báo điện tử, 160 trang tin điện tử của các cơ quan báo chí in và hàng ngàn trang tin điện tử của các cơ quan đảng, nhà nước và các đoàn thể, hội, hiệp hội, các doanh nghiệp. Hầu hết các cơ quan báo chí đã bám sát thực tiễn của đời sống xã hội, thực hiện đúng sự lãnh đạo, chỉ đạo, định hướng thông tin của Đảng, Nhà nước; thông tin nhanh nhạy, đầy đủ, toàn diện về mọi diễn biến của đời sống chính trị, kinh tế-xã hội ở trong nước và quốc tế, đặc biệt là các sự kiện lớn, đáp ứng tốt quyền được thông tin của nhân dân. Đồng thời, báo chí thực hiện tốt chức năng là diễn đàn của nhân dân, góp phần quan trọng thực hiện dân chủ hoá đời sống xã hội, kịp thời phát hiện và biểu dương những gương người tốt, việc tốt, những điển hình tiên tiến. Điều đáng ghi nhận là phần lớn các cơ quan báo chí đã thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ, bảo đảm tôn chỉ, mục đích, ngày càng thể hiện rõ tính chuyên nghiệp cũng như đạo đức nghề nghiệp. Nhiều cơ quan báo chí đã năng động, tích cực trong cuộc đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí và các hiện tượng tiêu cực xã hội khác, tích cực đấu tranh chống “diễn biến hoà bình”, phản bác các quan điểm sai trái… Tuy nhiên, vẫn còn một số cơ quan báo chí và nhà báo có những biểu hiện chưa nghiêm túc trong quá trình thực hiện Luật Báo chí, làm giảm hiệu quả thông tin báo chí, ảnh hưởng không tốt đến kỷ cương xã hội; vẫn còn một số cơ quan báo chí, nhất là báo chí điện tử thông tin không chính xác, thiếu nhạy cảm về chính trị; một số báo chí điện tử còn nặng thông tin về tiêu cực, có nhiều tin bài chạy theo thị hiếu tầm thường để “hấp dẫn” người đọc, ít chú ý đến việc phát hiện, cổ vũ, biểu dương những gương người tốt, việc tốt, những nhân tố mới, điển hình tiên tiến trong sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Một số báo chí điện tử còn sơ hở trong sử dụng lại tin bài của nước ngoài, có báo còn đăng cả những thông tin mật của Nhà nước, những bí mật kinh tế liên quan đến hoạt động sản xuất-kinh doanh của các doanh nghiệp. Vì vậy, cần tăng cường công tác định hướng thông tin của các cơ quan lãnh đạo, chỉ đạo về báo chí đối với báo chí nói chung, báo chí điện tử nói riêng và đẩy mạnh việc thực hiện Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh được những người làm báo cách mạng Việt Nam suy tôn là nhà báo cách mạng bậc thầy. Tư tưởng và những chỉ dẫn của Người luôn là định hướng soi đường cho báo chí cách mạng nước ta. Người từng chỉ rõ “… Tất cả những người làm báo (người viết, người in, người sửa bài, người phát hành, v.v.) phải có lập trường chính trị vững chắc. Chính trị phải làm chủ. Đường lối chính trị đúng thì những việc khác mới đúng được. Cho nên các báo chí của ta đều phải có đường lối chính trị đúng”(1). Người cho rằng: “Cái bút là vũ khí sắc bén, bài báo là tờ hịch cách mạng”(2); và như thế “nhiệm vụ của người làm báo là quan trọng và vẻ vang. Muốn hoàn thành tốt nhiệm vụ ấy thì phải cố gắng học tập chính trị, nâng cao tư tưởng, đứng vững trên lập trường giai cấp vô sản; phải nâng cao trình độ văn hóa, phải đi sâu vào nghiệp vụ của mình”(3).

Theo tư tưởng của Người, chế độ ta là chế độ dân chủ, tư tưởng phải được tự do. Đối với một vấn đề, mọi người bày tỏ ý kiến của mình, góp phần tìm ra chân lý. Chân lý là cái gì có lợi cho Tổ quốc, cho nhân dân. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, chân lý đó là độc lập dân tộc gắn liền với CNXH. Để thực hiện được chân lý đó, phải có lập trường chính trị vững chắc. Chính trị phải làm chủ. Đường lối chính trị đúng thì những việc khác mới đúng được. Cho nên, các báo chí của ta đều phải có đường lối chính trị đúng. Muốn vậy, cần tiếp tục nâng cao tính định hướng chính trị trong hoạt động báo chí. Hiện nay, ở một số báo điện tử cần khắc phục xu hướng xa rời tôn chỉ, mục đích, coi nhẹ chức năng chính trị tư tưởng của báo chí cách mạng; thiếu nhạy bén chính trị, có khuynh hướng “thương mại hoá” đơn thuần, chạy theo thị hiếu tầm thường, nặng thông tin về những hiện tượng tiêu cực, yếu kém, mặt trái của xã hội, thổi phồng, khoét sâu vào các thiếu sót, khuyết điểm, làm “nóng” lên một số vấn đề chính trị, kinh tế, xã hội của đất nước, của các ngành, địa phương. Tránh thông tin sai sự thật, suy diễn chủ quan, khi biết sai không cải chính hoặc cải chính không nghiêm túc; khai thác và sử dụng thông tin của báo chí nước ngoài thiếu chọn lọc, trái với quan điểm, đường lối của Đảng và Nhà nước, truyền thống văn hoá của dân tộc… Vận dụng Tư tưởng Hồ Chí Minh về báo chí cách mạng, công tác lãnh đạo, quản lý báo điện tử cần tập trung vào một số vấn đề sau:

1. Cần lãnh đạo, quản lý hệ thống báo chí điện tử bảo đảm đúng định hướng chính trị tư tưởng.

Đây là vấn đề có ý nghĩa quan trọng hàng đầu trong công tác lãnh đạo, quản lý hệ thống báo chí điện tử. Định hướng chính trị tư tưởng có ý nghĩa như “kim chỉ nam” dẫn đường mọi hoạt động. Báo chí nước ta là báo chí xã hội chủ nghĩa, của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, gắn liền với dân chủ XHCN, không phục vụ mục đích, quyền lợi của riêng một cá nhân, lực lượng nào nên không thể tách rời yếu tố định hướng chính trị tư tưởng. Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng đã chỉ rõ: Tăng cường sự lãnh đạo của đảng về chính trị, tư tưởng và tổ chức trong các cơ quan báo chí. Khắc phục những biểu hiện lệch lạc trong hoạt động báo chí, xuất bản, văn hoá, văn nghệ, nhất là xa rời tôn chỉ, mục đích, chạy theo thị hiếu thấp kém, vì lợi ích vật chất cá nhân cục bộ(4). Định hướng chính trị tư tưởng đối với báo chí điện tử phải báo đảm một số vấn đề cơ bản sau:

– Phải thông tin nhanh, trung thực về mọi mặt của tình hình đất nước và thế giới.

– Tuyên truyền, phổ biến đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, thành tựu văn hoá, khoa học, kỹ thuật trong nước và thế giới theo đúng tôn chỉ, mục đích của cơ quan báo chí, góp phần nâng cao kiến thức, đáp ứng nhu cầu văn hoá lành mạnh của nhân dân, bảo vệ truyền thống tốt đẹp của dân tộc, xây dựng và phát triển nền dân chủ XHCN, tăng cường khối đoàn kết toàn dân, xây dựng cơ sở vật chất cho thời kỳ quá độ lên CNXH và bảo vệ Tổ quốc.

– Phản ánh kịp thời và hướng dẫn dư luận xã hội; là diễn đàn thực hiện quyền tự do ngôn luận của nhân dân.

– Phát hiện, biểu dương gương tốt, nhân tố mới; đấu tranh chống các hành vi vi phạm pháp luật và các hiện tượng tiêu cực xã hội khác.

– Mở rộng sự hiểu biết lẫn nhau giữa các nước và các dân tộc, tham gia vào sự nghiệp của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.

Để bảo đảm định hướng chính trị tư tưởng đối với hệ thống báo chí điện tử, công tác lãnh đạo, quản lý cần tập trung thực hiện một số vấn đề sau:

Một là, ban hành văn bản hướng dẫn và những quy định cụ thể phù hợp thực tiễn; cung cấp thông tin định hướng về hoạt động chính trị, kinh tế-xã hội lớn của đất nước để báo chí điện tử có căn cứ thực hiện.

Hai là, nâng cao phẩm chất, bản lĩnh chính trị, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, đạo đức nghề nghiệp cho đội ngũ những người làm báo nói chung, báo chí điện tử nói riêng, nhất là tổng biên tập, phó tổng biên tập, những người trực tiếp quyết định chất lượng cũng như tính định hướng của báo chí điện tử.

Ba là, xây dựng, quản lý tốt quy trình làm báo chí điện tử, bảo đảm vừa tạo điều kiện cho phóng viên, biên tập viên tác nghiệp thuận lợi, nhanh nhạy, vừa bảo đảm quy trình duyệt tin bài của người có trách nhiệm trong cơ quan báo chí (tổng biên tập hoặc phó tổng biên tập được uỷ quyền). Bốn là, phát huy vai trò của các cơ quan quản lý báo chí, cơ quan chủ quản trong việc định hướng chính trị tư tưởng cho báo chí điện tử.

2. Nâng cao chất lượng, hiệu quả thông tin, tuyên truyền, xây dựng phong cách làm việc theo hướng chuyên môn hoá cao.

Định hướng chính trị tư tưởng được thể hiện bằng chất lượng thông tin của báo chí nói chung, trong đó có báo chí điện tử. Điều này đặt ra vấn đề cần nâng cao chất lượng chuyên môn, nghiệp vụ. Muốn vậy, báo chí điện tử cần có sự chuyên môn hoá cao. Chuyên môn hoá của báo chí điện tử tập trung ở một số vấn đề cơ bản sau: Thứ nhất, mỗi tờ báo phải bám sát tôn chỉ, mục đích của mình để có bản sắc riêng, tránh sa đà, thương mại hoá, thông tin dàn trải, sao chép, xa rời định hướng. Thứ hai, mỗi tờ báo phải xây dựng hệ thống tổ chức, xác định số lượng chuyên mục, trang chuyên đề… cho phù hợp. Trên cơ sở đó, có sự phân công, phân cấp đội ngũ phóng viên, biên tập viên theo những phòng, ban chuyên đề, bộ phận công tác nhất định, có tính chuyên sâu.

3. Phát triển cơ sở hạ tầng kĩ thuật và nghiệp vụ.

Yếu tố làm nên tính ưu việt của báo chí điện tử chính là khoa học-công nghệ, song những hạn chế, khuyết điểm của báo chí điện tử cũng có nguyên nhân từ yếu tố này. Để báo chí điện tử phát triển cơ sở hạ tầng kĩ thuật, nghiệp vụ cần tập trung vào một số vấn đề chính sau:

– Có biện pháp để sớm “chuẩn hoá” một số tiêu chí về hạ tầng kỹ thuật đảm bảo cho một tờ báo điện tử hoạt động.

– Mở rộng hợp tác quốc tế, trao đổi kinh nghiệm với nước ngoài về chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ thuật và quản lý báo chí điện tử.

– Có biện pháp quản lý tên miền, bản quyền tên và thiết kế báo, bảo đảm an ninh mạng đối với hệ thống báo chí điện tử.

– Làm tốt công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, phóng viên, nhanh chóng xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý, biên tập viên, phóng viên, kỹ thuật viên, nhân viên làm việc trong các cơ quan báo chí điện tử có phẩm chất chính trị vững vàng, có trình độ nghiệp vụ và kỹ thuật đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ, làm chủ được hệ thống hạ tầng hiện đại.

————

(1): Hồ Chí Minh toàn tập, NXB Chính trị quốc gia-Sự thật, H. 2.002, tập 9, tr. 414.
(2): Sđd, tập 11, tr.441.
(3): Sđd, tập 9, tr.415.
(4): Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng, NXB Chính trị quốc gia, H. 2006, tr.285.

Nguyễn Công Dũng
Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam

xaydungdang.org.vn

Nguyễn Ái Quốc – Người khơi nguồn một dòng báo, một sự nghiệp

Nhân kỷ niệm 86 năm Ngày báo chí cách mạng Việt Nam

Báo "Thanh Niên", cơ quan ngôn luận của Hội Việt Nam Thanh niên Cách mạng do Nguyễn Ái Quốc sáng lập tại Quảng Châu (Trung Quốc), số ra ngày 3-10-1926 - Ảnh tư liệu

Báo Thanh niên do Nguyễn Ái Quốc lập ra ở Quảng Châu, Trung Quốc – số đầu ra ngày 21.6.1925 – là mốc mở đầu cho cả một dòng báo chí cách mạng ở Việt Nam, hay nói cách khác là sự mở đầu cho cả một dòng báo chí của nước Việt Nam mới.

Kể từ khi tờ báo độc đáo này xuất hiện đã thu hút ngay sự chú ý của giới mật thám thực dân, của những nhà nghiên cứu của quốc tế cộng sản, và tất nhiên của đông đảo bạn đọc là các nhà cách mạng trẻ tuổi thuộc thế hệ đầu tiên do chính người sáng lập tờ báo là Bác Hồ tổ chức và rèn luyện, đông đảo những người lao động nghèo khổ đang mơ giấc mơ giải phóng bất chấp sự đe dọa của thực dân Pháp đối với việc chuyền tay nhau đọc mỗi số Thanh niên mà có thể phải chịu 3-5 năm tù.

Cũng giống như cuốn Đường Kách mệnh của Nguyễn Ái Quốc, những trang báo Thanh niên ngay từ những số đầu đã là sách gối đầu giường của những người yêu nước và cách mạng, chứa đựng biết bao trí tuệ và nhiệt huyết của những người đi khai sơn phá thạch cho sự thắng lợi của chủ nghĩa xã hội, cho sự ra đời của nước Việt Nam mới.

Tờ báo tiếng Việt đầu tiên đã xuất hiện ở Sài Gòn vào ngày 15.4.1865 do Potteaux và Trương Vĩnh Ký xuất bản, mang tên Gia Định cắm một cái mốc lịch sử cho báo chí nước nhà.

Cũng do những điều kiện riêng của xứ Nam Kỳ, mảnh đất đầu tiên của Tổ quốc ta bị thực dân Pháp thực hiện cuộc công nghiệp hóa cưỡng bức kể từ 1862, máy in hiện đại và chữ Quốc ngữ được phổ cập trước xứ Bắc Kỳ hơn 3 thập kỷ nên Sài Gòn trở thành cái nôi đầu tiên của nền báo chí nước nhà. Sau Gia Định báo, cho đến năm 1907 khi ở Hà Nội có tờ Đăng Cổ Tùng báo, nửa chữ Hán, nửa chữ Việt, thì ở Nam Kỳ đã có một loạt tờ báo quan trọng như Phan Yên báo (1868), Nam Kỳ Địa phận (1883), Nông Cổ Mín Đàm (1901), Lục Tỉnh Tân Văn (1907)…

Nhưng cũng phải nói rằng phải đợi đến tháng 6 năm 1925 ấy, với tờ Thanh niên của Nguyễn Ái Quốc, chúng ta mới thực sự bắt đầu nền báo chí cách mạng của nước Việt Nam mới.

Đã có lúc chúng ta cũng băn khoăn về cái mốc mở đầu của dòng báo chí cách mạng, vì Bác Hồ đã từng nổi tiếng ở Paris với tờ Người cùng khổ (LE PARIA), bộ báo 38 số, số 1 ra ngày 1.4.1922. Nhưng vì tờ báo này là cơ quan ngôn luận của Hội liên hiệp thuộc địa nên các nhà sử học đã nhất trí rằng, dù sao cũng không thể xếp nó trong phạm trù “báo chí cách mạng Việt Nam” được. Còn Việt Nam hồn, tờ báo tiếng Việt do Nguyễn Thế Truyền lập ra ở Paris (số 1 ra ngày 15.5.1923) cũng được xác định rằng Nguyễn Ái Quốc đã không có điều kiện viết cho tờ này…

Sự hiểu biết của bạn đọc về tờ Thanh niên thực đã khá phong phú.

Trước hết, xin được nhắc lại tên một nhà sử học trong giới Việt kiều ở Canada nay đã mất, ông Huỳnh Kim Khánh, người đã bỏ công sưu tầm, nghiên cứu trọn vẹn bộ sưu tập Thanh niên gồm 208 số (số cuối cùng, tháng 5.1930), trong luận văn Tiến sỹ của ông. Khi đó, ở Hà Nội, trong tay chúng ta chỉ có 10 số báo Thanh niên, lưu giữ tại Bảo tàng cách mạng Việt Nam.

Sự nghiệp báo chí cách mạng của Đảng ta trước khi nắm được chính quyền – thực sự phong phú. Theo thống kê, khi đỉnh cao vào thời kỳ 1935 – 1938, cả nước có tới trên 100 tờ, chỉ riêng Nghệ An, trong cao trào 30 – 31 cũng có tới gần 40 tờ báo của Xứ ủy và của địa phương được in ra. Báo chí trong tù cũng là hiện tượng hiếm thấy trong phong trào cộng sản ở Việt Nam. Các nhà nghiên cứu lịch sử báo chí thống nhất với nhau rằng, hiếm có một Đảng non trẻ nào như Đảng Cộng sản Việt Nam có được một hệ thống báo chí độc đáo đến như vậy, bắt đầu từ cuộc khủng bố trắng của thực dân Pháp sau cao trào 30 – 31. Chỉ trừ báo của Đảng trong thời kỳ Mặt trận Dân chủ Đông Dương và những năm sau này (kể cả Mặt trận Việt Minh) được in typô, còn đa số đều in rất thô sơ theo kiểu in sáp hoặc in thạch, trên những trang giấy cũng rất thô sơ, phần lớn là giấy học trò.

Chủ tịch Hồ Chí Minh – Người khai sinh nền báo chí cách mạng Việt Nam (ảnh TL)

Báo Thanh niên của Bác Hồ cũng thế. Người viết bài này, trước đây đã từng phỏng vấn hai bà Lý Phương Đức và Lý Ưng Thuận (chị em họ với Lý Tự Trọng), những chứng nhân còn lại của nhóm 8 thiếu niên cộng sản đầu tiên do Bác lập ra ở Quảng Châu cùng lúc thành lập Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí hội (mà sử quen gọi là Đảng Thanh niên) tại Hà Nội. Các cụ đã kể rằng, trong buổi trứng nước đó, tại số nhà 13 đường Văn Minh, Quảng Châu (nay là số nhà 248 – 250), trụ sở của Đảng Thanh niên (tại khu nhà của cố vấn Liên Xô bên cạnh Chính phủ cách mạng Trung Hoa – Tôn Dật Tiên), Bác Hồ đã chỉ đạo nhà cách mạng trẻ tuổi cho ra mắt tờ Thanh niên, cũng giống như việc Lê – nin cho ra mắt tờ Tia lửa (ISKRA) cho cách mạng Nga như thế nào…

Tờ báo tuần có 4 trang, in theo lối viết bút sắt trên giấy sáp, gợi cho bất cứ ai được thấy tận mắt cái gì đó rất “Hồ Chí Minh”. Từ nét chữ Bác viết tên báo trên Manchette, với chữ “T” và chữ “N” viết to, giống như nét chữ trong Di chúc; bên cạnh chữ Thanh niên bằng chữ Tàu, nét rỗng bên trái là hình ngôi sao 5 cánh để đánh thứ tự các số báo. Trong 88 số (số 88 ra ngày 17.4.1927), hơn một tháng trước khi Bác phải bí mật rời Quảng Châu với tấm căn cước xé đôi vì cuộc phản biến của Tưởng Giới Thạch, đều một kiểu chữ viết chân phương, trình bày trên 2 cột, trang 3 và 4 vì đôi khi có minh họa, tin ngắn và cả thơ nữa, nên trình bày co dãn hơn. Sau Bác có Lê Hồng Sơn và Hồ Tùng Mậu giúp sức biên tập bài vở, nhưng Người vẫn đảm trách dường như tất cả, từ bài viết đến việc in báo.

Số phận của tờ Thanh niên thực đặc biệt đúng như sứ mệnh của nó với cách mạng và báo chí Việt Nam.

Là cơ quan ngôn luận của Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí hội, tổ chức tiền thân quan trọng nhất của Đảng ta, được in ấn bí mật là thế, với số lượng cũng chỉ 400, 500 bản, và khi nó được đưa về trong nước, lập tức đã bị kẻ thù theo dõi. Cũng thực lạ, có lẽ qua nội dung độc đáo của Thanh niên, ngay từ đầu 1926 Chánh mật thám Đông Dương là L. Marty đã ra lệnh cho bọn mật vụ sưu tầm bằng được bộ báo này. Và tên mật thám cáo già này đã kết luận rằng chắc chắn tác giả tờ báo phải là Nguyễn Ái Quốc, tòa soạn phải ở Quảng Châu.

Trong nhiều báo cáo mật gửi về Bộ thuộc địa và cả trong cuốn sách “nổi tiếng” Góp phần vào lịch sử các phong trào chính trị Đông Dương (xuất bản ở Hà Nội, 1993, gồm 5 tập), chính Marty đã viết: “Ông Nguyễn Ái Quốc đã không ngần ngại dành suốt 60 số đầu của tờ báo để chuẩn bị tinh thần cho người đọc, chỉ nói về lòng yêu nước, để đến số 61 ra ngày 12.9.1926 ông mới để lộ ý định của ông khi viết rằng chỉ có một Đảng Cộng sản mới bảo đảm hạnh phúc cho dân tộc Việt Nam…” Nhận xét chung về vai trò của Thanh niên Cách mạng đồng chí hội và của báo Thanh niên, cũng chính Marty có một nhận định nữa rất chính xác rằng: nếu như trong những năm 1926 – 1927, ngay những phần tử ưu tú của Đảng còn nghĩ rằng mình là quốc gia, thì những năm 1928 họ đã náo nức muốn thể hiện mình là cộng sản…

Vì sao báo Thanh niên lại có sự tác động thay đổi tâm trí sâu sắc đến như vậy?

Có lẽ, Bác Hồ, trong những ngày đầu tiên ấy, không những thấm nhuần sâu sách luận đề của Lênin về báo chí cách mạng, nó không những là người tuyên truyền và cổ động tập thể, mà còn là người tổ chức tập thể, Bác hiểu rõ những đặc tính của một dân tộc nông dân, giai cấp công nhân mới ra đời còn quá non trẻ và người dân đều chưa hiểu rõ “Chủ nghĩa xã hội” là gì để xác định cho Thanh niên một phong cách làm báo cách mạng rất Việt Nam. Trong khuôn khổ hạn hẹp của con chữ, bài dài nhất, có khi đăng tải thành 2, 3 kỳ cũng chỉ dưới 1.000 chữ, phổ biến 300 – 500 chữ, cá biệt có bài chỉ có 3 câu, Nguyễn Ái Quốc vẫn truyền tải được những nội dung to lớn của dân tộc và thời đại. Chỉ một ví dụ về một xưởng đóng giầy, Bác đã cắt nghĩa khái niệm kinh tế học thế nào là giá trị thặng dư của Mác; với 2 mẩu chuyện khác, Bác giải thích khái niệm “chuyên chính vô sản” và nghệ thuật khởi nghĩa vũ trang của Lênin…

Báo Thanh niên đăng bài ít ký tên nhưng dấu ấn của Bác thì dễ dàng nhận ra. Đăng thơ, Bác ký là Văn Thu… Tờ báo đã nhanh chóng thôi thúc lòng người, làm sống động phong trào cộng sản. Tiếp bước Thanh niên là một rừng nhỏ báo chí bí mật của Đảng ở trong nước lần lượt ra đời trước và ngay sau ngày 3.2.1930, từ Tranh đấu, Cờ Vô sản, Đỏ, Lao Động đến Người Lao khổ, Sóng cách mệnh, Xi Moong, Than, Bồi Bếp… Thực cảm động trong số báo này, có tờ từ Trà Vinh, Bến Tre… đã vượt qua lưới thép của kẻ thù đến tận trụ sở Quốc tế Cộng sản, trường Phương Đông Mátxcơva – nơi Trần Phú, Hà Huy Tập, Lê Hồng Phong… đang miệt mài học tập tri thức cộng sản, rèn luyện kỹ năng, nghệ thuật của một nhà cách mạng chuyên nghiệp. Trong một bài báo gọi là Báo chí cách mạng trên đất nước An Nam của một tác giả tên là Lun (chưa xác minh được), đăng tải trên tờ Phóng viên Công Nhân (của Quốc tế cộng sản) có in hình Manchette một tờ báo thời kỳ 30 – 31 của Nam Kỳ, tác giả đã hết lời ca ngợi những người làm báo cách mạng của Đảng cộng sản Đông Dương trẻ tuổi, những người sáng tạo trong in ấn, đầy gian khổ, trong công tác phát hành đầy nguy hiểm và giá trị giáo dục vô cùng to lớn của thứ vũ khí này trong phong trào cộng sản ở Việt Nam.

Tất nhiên sau Thanh niên, chúng ta còn nhiều tờ báo cách mạng khác cũng rất hay, bề thế như Tạp chí Cộng sản, Dân chúng và Tin tức (1937 – 1939); đặc biệt bộ ba Cờ giải phóng, Sự thật và Nhân dân (từ năm 1942 đến 11.3.1951 – khi có số đầu của Nhân dân), nhưng rõ ràng tờ Thanh niên của Bác thực sự là tờ báo mở đầu cho một sự nghiệp, sự nghiệp báo chí.

Việc hình thành và phát triển của dòng báo chí cách mạng – tự nó đã là một thành tựu quan trọng trong cuộc đấu tranh dân tộc và giai cấp của Đảng ta trước Cách mạng tháng Tám, theo những nguyên tắc xây dựng và hoạt động mà tờ báo đầu tiên của Bác Hồ đã đặt nền móng. Dù khi được xuất bản công khai hợp pháp (duy nhất trong thời kỳ Mặt trận dân chủ 1936 – 1939) hay khi tồn tại trong thế bí mật bất hợp pháp (là chủ yếu), các báo cách mạng đã thực hiện một cách xuất sắc quan điểm báo chí của Lênin, báo chí cách mạng – không những là người tuyên truyền và cổ động tập thể, mà còn là người tổ chức tập thể. Đảng ta đã tổng kết những kinh nghiệm đầu tiên về việc “đào tạo phóng viên công nông”, tổ chức mạng lưới sinh hoạt báo chí, quan hệ của các tổ chức Đảng với báo chí cách mạng…, những việc mà ngày hôm nay trong việc phát triển hiện đại nền báo chí Việt Nam đương đại chúng ta vẫn luôn xem như những nguyên tắc cần thiết.

Báo Thanh niên cùng với những tờ báo nổi tiếng của Quốc tế cộng sản (như Tạp chí Quốc tế Cộng sản, Thư tín Quốc tế, Tạp chí Phương Đông cách mạng…); báo chí của Đảng cộng sản Pháp như Nhân đạo… trong thập kỷ 20 của Thế kỷ trước là cái nôi đầu tiên để đào tạo thế hệ thứ nhất các nhà báo cách mạng nước ta, mà phần lớn đều là học trò của Bác Hồ như: Hà Huy Tập, Lê Hồng Phong, Nguyễn Văn Tạo, Bùi Công Trừng, Nguyễn Khánh Toàn, Nguyễn Văn Cừ, Trường Chinh, Hoàng Văn Thụ, Xuân Thủy…

Tư duy báo chí cách mạng của chúng ta đã thực sự có những thay đổi quan trọng, kể từ sau Đại hội Đảng VI (năm 1986), một sự kiện được coi như bước ngoặt của sự đổi mới. Năm 1990 Luật Báo chí ra đời, báo chí diễn tả quan điểm mới trong những mệnh đề như: Diễn đàn của nhân dân, thông tin hai chiều và đa dạng hóa thông tin…

Những gì diễn ra trong đời sống của giới báo chí hôm nay dưới sự lãnh đạo của Đảng ta là phù hợp với bước đi của thời đại và của dân tộc ta. Hồ Chí Minh – Người sáng lập ra báo Thanh niên, nhà báo số 1 của nền báo chí cách mạng Việt Nam đã nhiều lần chỉ ra rằng, logic lớn nhất là logic đời sống…

Theo Dấu ấn của nhà báo Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh trong cách mạng giải phóng dân tộc

GS. TS. Đỗ Quang Hưng/GD&TĐ

tuyengiao.vn

“Nhà báo của nông dân, phải biết lao động như nông dân thì viết mới đúng được”

Năm 2011 cả nước ta kỷ niệm lần thứ 121 năm Ngày sinh Bác Hồ (19/5/1890 – 19/5/2011) và kỷ niệm 100 năm Ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước (05/6/1911 – 05/62011). Đây cũng là dịp toàn Đảng, toàn dân ôn lại cuộc đời, sự nghiệp, tư tưởng, đạo đức sáng ngời của Người để học tập và làm theo. Với ý nghĩa đó, chúng ta cùng nhớ lại đạo đức của Bác Hồ đối với dân, với nước thông qua những câu chuyện vô cùng ý nghĩa, cảm động mà Bác đã dạy cho cán bộ ta trong quá trình quan hệ, làm việc với nhân dân.

Bác Hồ sinh ra và lớn lên trong gia đình nhà nho, nhưng là nhà nho có nguồn gốc nông dân. Thời gian dài từ tấm bé đến tuổi học trò, Bác sống ở quê hương giữa những người nghèo khổ một nắng hai sương ngoài đồng nên Người hiểu sâu sắc nỗi khổ, nỗi vất vả của người nông dân. Bác thường nói với cán bộ về sự kham khổ, một nắng, hai sương của người nông dân: Cùng đổ mồ hôi với người nông dân mới quý hạt gạo, củ khoai, mới xót lòng khi bão lụt ập đến cướp đi thành quả lao động vất vả của người dân trên ruộng đồng.

Ngay sau khi giành được chính quyền vào tháng 8 năm 1945, tuy bận rộn nhiều việc quan trọng, Bác vẫn dành thời gian, không chỉ nhắc nhở các địa phương đắp đê chống bão lụt, mà còn trực tiếp xuống tận các xã để đôn đốc, kiểm tra công việc. Biết tin đê sông Hồng ở khu vực Hưng Yên, Thái Bình bị vỡ, Bác trực tiếp xuống kiểm tra việc khắc phục hậu quả để có biện pháp kịp thời cùng chính quyền địa phương vận động giúp đỡ nhân dân vượt qua khó khăn.

Một lần trong cuộc họp, bàn chống đói, Bác nói: “Các chú biết không, người xưa nói “dân dĩ thực vi thiên”… Khi Bác nói đến đây, có đồng chí tưởng Bác nói nhầm bèn chữa lại: Thưa Bác “dân dĩ thực vi tiên chứ ạ”. Bác cười và giải thích: “Bác nói “Dân dĩ thực vi thiên”. Người xưa dạy “dân lấy cái ăn làm trời”, Đảng, Chính phủ phải lo cái ăn cho dân không được để dân đói. Đó là Bác lấy lời của Lục Sinh nói với Hán Cao Tổ (Lưu Ban) “Nhà vua lấy dân làm trời, dân lấy cái ăn làm trời”. Lời Bác nói thật uyên thâm, đầy ý nghĩa. Ai cũng cho là lời Bác dạy thật chí lý.

Năm 1955, nghe tin lũ lụt lớn ở Kiến An, gây thiệt hại lớn về người và của cho nhân dân. Bác cho gọi đồng chí có trách nhiệm lên báo cáo tình hình. Bác hỏi: “Xã Hòa Nghĩa thiệt hại mấy người chết, nhà cửa trường học bệnh xá bị đổ bao nhiêu?” Khi nghe báo cáo con số thiệt hại, Bác rất lo lắng và rơm rớm nước mắt, nhất là biết có nhiều gia đình chết người và trôi nhà cửa.

Bác căn dặn cán bộ tổ chức cứu trợ cho dân phải có phương án tỉ mỉ khắc phục hậu quả thiệt hại. Người chỉ thị lãnh đạo Tỉnh ủy phải trực tiếp chỉ đạo và dặn đi dặn lại “trước hết phải lo cái ăn, nơi ở cho người bị nạn, tuyệt đối không để một người bị đói”.

Cứ đến mùa nước lũ, hay kỳ hạn hán Bác thường trực tiếp xuống địa phương tham gia “chống trời” cùng nhân dân. Có lần, Bác về công trường Đại thủy nông Bắc – Hưng – Hải, Bác xuống công trường tham gia lao động như một người dân. Trên đường đi, thấy một chị đang đẩy chiếc xe cút-kít nặng nề lên dốc, Bác vội chạy đến đẩy giúp chị. Bác hòa vào không khí lao động khẩn trương của công trường như tăng thêm sức mạnh cho mọi người hăng say quên mình vì công việc.

Một lần Bác về Hà Đông chống hạn, khi đến một con mương chắn ngang đường, đồng chí Chủ tịch tỉnh mời Bác đi vòng đến chỗ dễ qua hơn. Nhìn xuống thấy đồng chí Chủ tịch tỉnh đi đôi giày bóng lộn, Bác bảo: “Chú cứ đi đường ấy”. Nói rồi, Bác cởi dép lội tắt qua cho nhanh để đến với nông dân đang tát nước chống hạn. Sang bờ bên kia, Bác bảo mọi người cùng tát nước giúp dân. Bác chỉ một thanh niên ăn mặc bảnh bao cùng tát nước với Bác, nhưng đồng chí này không biết tát nước, đồng chí Bí thư tỉnh đỡ lời: “Thưa Bác, đồng chí này là nhà báo ạ”. Bác cười và nói: “Nhà báo của nông dân, phải biết lao động như nông dân thì viết mới đúng được”.

Mỗi người dân chúng ta ai cũng được xem hình ảnh Bác đang đạp nước trên guồng chống úng, ghi nhận trong ta hình ảnh Bác hòa mình với nỗi vất vả một nắng hai sương của người nông dân. Khắc sâu trong ta tâm niệm Chủ tịch nước cũng là một công dân, một người lao động trong triệu triệu người không có gì cách biệt. Đó là hình ảnh được ghi lại vào năm 1960 Bác về chống úng tại xã Hiệp Lực. Vừa đạp guồng nước, Bác nhắc nên lắp ổ bi vào trục để người đạp đỡ vất vả, mà năng suất cao hơn. Bác hỏi các cô thanh niên có biết hát đối đáp không, rồi Bác lẩy Kiều: “Trăm năm trong cõi người ta, chống úng thắng lợi mới là người ngoan”. Bác bảo các cô lẩy tiếp, các cô vì mải ngắm Bác nên không chuẩn bị không lẩy tiếp được chỉ biết vổ tay, và xin mắc nợ với Bác.

Bác Hồ tát nước giúp nông dân chống hạn (TL – TNN st)

Vào năm 1969, tuy sức khỏe yếu nhưng Bác Hồ dành nhiều thời gian làm việc với các đồng chí phụ trách nông nghiệp. Họp Bộ Chính trị, hay các buổi làm việc về nông nghiệp Bác thường nhắc bản Điều lệ Hợp tác xã. Bác bảo công nhân có ngày kỷ niệm thì nông dân cũng phải có ngày kỷ niệm. Nên lấy ngày ban hành Điều lệ Hợp tác xã làm ngày kỷ niệm cho nông dân. Bác dặn viết bản Điều lệ sao cho nông dân ít học cũng hiểu được. Sau khi đọc bản dự thảo, Bác nói đây là bản dùng cho cán bộ, còn đối với xã viên thì viết phải tóm tắt hơn, dễ hiểu hơn. Bác đọc và sửa chữa rất kỹ, có chỗ nào, chữ nghĩa cầu kỳ khó hiểu Bác đều sửa lại. Số thứ tự các chương đánh số La mã, Bác sửa lại “Chương Một… Hai…”. Câu “Nhà nước hết lòng giúp đỡ” Bác bỏ chữ “hết lòng” vì thừa. Câu “xã viên phải góp ruộng đất, trâu bò, các công cụ chủ yếu”, Bác sửa cho chặt chẽ hơn: “Xã viên phải góp ruộng đất, góp cổ phần, để lại trâu bò và các công cụ chủ yếu” chữ “để lại” vừa có tình và có nghĩa giữa xã viên và Hợp tác xã.

Trong cuộc họp Bộ Chính trị bàn về nông nghiệp, Bác đề nghị: “Quỹ tích lũy để khoảng 7 – 10% thu nhập Hợp tác xã là quá cao, đời sống dân còn thấp nên tập trung nâng mức sống của dân”. Bộ Chính trị nhất trí chỉ để quỹ tích lũy 5 – 10%. Sau đó Bác yêu cầu chuyển nội dung Bản Điều lệ sang diễn ca phát trên đài phát thanh cho dân dễ thuộc dễ nhớ để làm theo.

Nhân kỷ niệm 121 năm Ngày sinh của Người (19/5/1890 – 19/5/2011) và kỷ niệm 100 năm Ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước (05/6/1911 – 05/62011), nhớ lại và làm theo những lời dạy của Bác, chúng ta càng thấm thía tình nghĩa sâu nặng của Bác đối với nhân dân nói chung và đối với người nông dân nói riêng. Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” đã và đang lan tỏa rộng khắp vào cuộc sống sinh động của nhân dân ta, từng giờ, từng ngày được mọi ngành, mọi cấp, mọi địa phương tổ chức thực hiện đang nở rộ những điển hình, những nhân tố mới về lý tưởng sống, lẽ sống, cách sống… thấm nhuần đạo đức của Bác Hồ! Nếu mỗi cán bộ, đảng viên, đoàn viên, hội viên, công chức, viên chức… có tấm lòng vì nước, vì dân, chú tâm vào công việc, luôn lấy cái nhân, cái nghĩa đối với dân, tránh làm phiền dân, lời nói đi đôi với việc làm, làm nhiều, nói ít… chắc chắn càng ngày nhân dân càng gắn bó với Đảng, với nhà nước, với đoàn thể một cách bền chặt, tạo thành thế trận lòng dân vững chắc không có một thế lực nào phá vỡ nổi. Đó cũng là cốt lõi, hạt nhân hiệu quả mà Cuộc vận động”Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” đem lại cho Đảng ta, Nhà nước ta và toàn thể nhân dân ta.

NGUYỄN NGỌC CƠ

binhthanh.hochiminhcity.gov.vn