Thư viện

Từ Cảng Sài Gòn Bác đi tìm hình của nước

(Dân trí) – Bến cảng Sài Gòn (nay là Bến Nhà Rồng) một ngày giữa năm 1911, cách đây vừa đúng 100 năm, đã để lại một dấu ấn không phai mờ trong ký ức mỗi người dân Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh…

Nhà Rồng là một trong những công trình kiến trúc được thực dân Pháp xây dựng khá sớm ở Sài Gòn nhằm phục vụ mục đích khai thác thuộc địa, có tên là cảng Sài Gòn. Tòa nhà này có kiểu dáng mô phỏng kiển trúc Tây Âu thế XIX nhưng trên nóc lại đắp những con rồng theo kiểu phương Đông. Vì thế người Sài Gòn sau này gọi tòa nhà này là Nhà Rồng và bến cảng nơi có tòa nhà là Bến Nhà Rồng.

Cảng Sài Gòn xưa, nơi người thanh niên tên Ba bắt đầu cuộc hành trình lịch sử trong vai một người đầu bếp (ảnh tư liệu)

Nhà Rồng và Bến Nhà Rồng ngày nay là một di tích lịch sử quý giá gắn với tình cảm thiêng liêng của mỗi người Việt Nam đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị lãnh tụ kính yêu của toàn dân tộc.

Trong bài báo “Đến thăm một chiến sĩ quốc tế cộng sản Nguyễn Ái Quốc” đăng trên tạp chí Ngọn lửa đỏ Liên Xô số ra ngày 23/12/1923, nhà báo Ôman-đen-sơ-tan đã ghi lại lời kể của Bác Hồ: “Vào tuổi 13, lần đầu tiên tôi đã được nghe những từ Pháp: tự do, bình đẳng, bác ái… Thế là tôi muốn làm quen với văn minh Pháp, tìm xem những gì ẩn giấu đằng sau những từ ấy”. Đây chính là những suy nghĩ ban đầu dẫn đến chuyến ra đi lịch sử vào giữa năm 1911 (5/6/1911) của anh Ba phụ bếp, sau này là lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc – Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Vào đầu năm đó, người thanh niên Nguyễn Tất Thành rời trường Quốc học Huế vào Nam dạy học ở Trường tư thục Dục Thanh (Phan Thiết) do một nhóm văn thân yêu nước sáng lập. Đây là nơi người thanh niên giàu nghị lực lưu lại và dạy học một thời gian ngắn trước khi vào Sài Gòn. Đến Sài Gòn, Nguyễn Tất Thành càng thấy rõ, dù ở Nam kỳ thuộc địa hay Trung kỳ bảo hộ, Bắc kỳ thuộc địa – nửa bảo hộ, ở đâu nhân dân cũng bị đọa đày, khổ nhục. Điều đó càng thôi thúc Người lên đường sang Âu, Tây để xem nhân dân các nước ấy làm thế nào mà trở nên độc lập, hùng cường, rồi sẽ trở về “giúp đỡ đồng bào” đánh đuổi thực dân Pháp.

Ngày 5/6/1911, Nguyễn Tất Thành lấy tên là Ba, xin vào làm phụ bếp cho một tàu buôn có tên là Đô Đốc La-tút-sơ Tơ-rê-vi-lơ (Amiral Latouche Trêville) thuộc hãng vận tải Hợp Nhất của Pháp. Con tàu ngẫu nhiên được gắn tên mình vào sự nghiệp của người anh hùng giải phóng dân tộc – danh nhân văn hóa thế giới Hồ Chí Minh. Bến cảng Sài Gòn khi ấy trở thành nơi xuất phát của cuộc hành trình vĩ đại tìm đường cứu nước của Nguyễn Tất Thành – Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh, mà nói theo cách nói của nhà thơ Chế Lan Viên là cuộc hành trình “Đi tìm hình của nước”.

… và Bến Nhà Rồng nay (Ảnh: Lao Động)

Rồi từ Nguyễn Ái Quốc đến Hồ Chí Minh, từ sự tìm thấy “con đường giải phóng” đến cuộc đấu tranh thắng lợi để giải phóng dân tộc và giai cấp, bẻ gãy gông xiềng thực dân – phong kiến, giành độc lập, tự do vẫn còn là chặng đường dài đầy gian nan, thử thách, nhưng dưới sự dìu dắt lãnh đạo của Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc – Chủ tịch Hồ Chí Minh, giai cấp công nhân và nhân dân lao động Việt Nam đã đoàn kết một lòng, không quản ngại hy sinh, liên tiếp giành thắng lợi vẻ vang, mở ra những trang sử huy hoàng trong lịch sử đấu tranh giữ nước của dân tộc Việt Nam ta.

Cảng Sài Gòn một ngày giữa năm 1911, cách đây vừa đúng 100 năm, đã để lại một dấu ấn không phai mờ trong ký ức mỗi người dân Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh…

Phạm Thành Nghi (sưu tầm)
dantri.com.vn

Advertisements

Ra đi để Tổ quốc trở về…

Ảnh tư liệu

100 năm trước đây, năm 1911, từ Bến cảng Nhà Rồng, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước. Từ sự kiện lịch sử phi thường ấy đã làm thay đổi vận mệnh của dân tộc Việt Nam.

Lịch sử sẽ mãi ngẫm ngợi trong việc lý giải vì sao một người thanh niên chỉ mới 21 tuổi đời – tuổi đẹp nhất, tuổi bắt đầu lớn lên về mặt nhận thức, lại có thể có cách nhìn vượt tầm, mẫn tiệp đến mức phải ngỡ ngàng? Chân lý ban đầu thật ra rất giản dị: Muốn đánh bại kẻ thù thì phải hiểu rõ kẻ thù.

Nguyễn Tất Thành đã ra đi để tìm hình của nước (Chế Lan Viên), để đổi thay cả một cách tư duy, cách hiểu, cách tiếp cận đúng những giá trị tốt đẹp nhất giá trị độc lập dân tộc, giá trị con người. Nơi “đến” đầu tiên và khá dài là thành phố Boston- quê hương của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc đầu tiên của loài người trong thời đại tư bản chủ nghĩa (17/12/1773). Thành phố đó cũng là cái nôi để khai sinh ra một nhà nước hoàn toàn mới: Nhà nước Cộng hòa chưa có mô hình tiền lệ, nhà nước tam quyền phân lập, nhà nước với bản Tuyên ngôn Độc lập bất hủ. Với bản Tuyên ngôn đó, những giá trị thiêng liêng của con người: quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc được khẳng định.

Cách đi và đến đó không hề ngẫu nhiên vì chúng ta sẽ được xác quyết một cách rõ ràng: So với tất cả những nhân vật nổi tiếng của thời cận hiện đại, chưa có một ai sống nhiều ở nước ngoài như Nguyễn Tất Thành- Nguyễn Ái Quốc. Nếu Hoa Kỳ (nơi Nguyễn Tất Thành đã sống từ 1911 – 1913) cuộc cách mạng giải phóng dân tộc đầu tiên; thì nước Anh (Nguyễn Tất Thành sống từ khoảng 1913-1917) là nơi khai sinh ra nền công nghiệp hiện đại – mà, dù muốn hay không, đất nước nào cần phát triển, hiện đại hóa cũng phải đi theo mô hình đó. Nước Pháp là cái nôi văn minh, ánh sáng của châu Âu, cũng là “nước mẹ bảo hộ” cho Đông Dương mà Nguyễn Tất Thành cần tìm hiểu nhiều nhất và cũng là nơi Người sống lâu nhất trong thời gian ở Tây Âu, từ khoảng 1917 đến cuối năm 1923. Tiếp theo là nước Nga, quê hương của Cách mạng Tháng Mười và Trung Quốc – một trong những nền văn minh sớm nhất và rực rỡ nhất trong lịch sử loài người.

Thống kê như thế để thấy rằng không một lãnh tụ nào của phong trào cách mạng vô sản thế giới đi nhiều, hiểu rộng như Nguyễn Tất Thành – Nguyễn Ái Quốc- Chủ tịch Hồ Chí Minh sau này. Lẽ dĩ nhiên, vì đã sống ở các nền văn minh khác nhau nên sự so sánh để lựa chọn điều tốt nhất là vấn đề nguyên tắc của tư duy, của rất nhiều trăn trở và thao thức. Có thể mô hình xã hội XHCN còn có nhiều điều phải tiếp tục nghiên cứu thì thực tế đã chỉ ra rằng, con đường mà Nguyễn Ái Quốc đã chọn là con đường ngắn nhất để dân tộc Việt Nam đến với độc lập, tự do; là con đường tốt nhất để Tổ quốc Việt Nam thoát khỏi đói nghèo, lạc hậu; là con đường phù hợp nhất với một dân tộc còn chậm phát triển.

Một trong những thành quả to lớn nhất mà Nguyễn Ái Quốc đã “tìm thấy” từ trong truyền thống dân tộc và từ trong 30 năm hoạt động, học tập, nghiên cứu ở nước ngoài là vấn đề đoàn kết. Đã có khẩu hiệu “Vô sản tất cả các nước đoàn kết lại” nhưng vào tháng 2/1930, Nguyễn Ái Quốc chỉ ra rằng, ngoài giai cấp vô sản thì phải liên kết, tập hợp mọi lực lượng có thể tập hợp được, phân hóa mọi đối tượng có thể phân hóa được để tạo nên sức mạnh tổng hợp bách chiến bách thắng cho dân tộc Việt Nam.

Một thế kỷ đã đi qua kể từ mùa Hạ năm 1911 và, 70 năm cũng đã trôi qua kể từ mùa Xuân năm 1941 – ghi dấu sự ra đi và trở về của vị lãnh tụ vĩ đại. 30 năm cho một lần đi khắp năm châu, bốn biển, đủ hết tất cả những nền văn minh đáng kể nhất trong lịch sử từ hiện đại đến cổ đại (từ Mỹ đến Trung Quốc). Phải chăng Hồ Chí Minh đã làm đúng như những gì Người đã trải qua: Từ thực tế cách mạng và hiệu quả nhất là cách mạng Mỹ (trước Cách mạng Tháng Mười) của chỗ đứng hiện đại để lần giở lại lịch sử, dùng lịch sử để soi rọi nó cho ánh sáng của tầm nhìn mới, con đường mới rực rỡ, chan hòa? Với Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh, lịch sử không bao giờ lặp lại bằng cách áp dụng cứng nhắc các nguyên tắc cũ mòn, thiếu hiệu quả. Hiểu về Người là phải hiểu rõ mục đích muôn một của tìm kiếm, hành động và thành công là Tổ quốc Việt Nam trở thành một quốc gia hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới .

Hà Văn Thịnh

dvt.vn

Chuyện của một ngày lịch sử

Ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước đã diễn ra như thế nào? Nhà văn Sơn Tùng kể chi tiết trong tiểu thuyết “Búp sen xanh”.

Ngày 2 tháng 6 năm 1911.

Anh Ba mặc quần áo trắng, toát lên màu thanh khiết tóc rẽ đường ngôi bên phải, chải mượt, chân đi dép xăng-đan. Anh đi khoan thai xuống tàu Đô đốc La- tu-sơ Tơ-rê-vin.

Tàu Đô đốc La- tu-sơ Tơ-rê-vin.

Được sự giới thiệu của ông chủ sự cảng Nhà Rồng, anh Ba gặp viên thuyền trưởng. Thuyền trưởng Lu-I Ê- đu-a Mai-sen trạc tuổi gần bốn mươi, tiếp anh Ba dưới buồng khách của con tàu. Ông ta quan sát diện mạo anh Ba với một thái độ trọng nể. Ngay từ phút đầu, ông Mai-sen đã để ý tới đôi mắt to, dài và sáng của anh Ba. Ông chìa hai bàn tay ra trước mặt, nói :

– Ô! Nhìn anh, tôi ưa lắm, tốt lắm. Tiếc là trên con tàu của tôi không còn có loại công việc hợp với anh

– Mai-sen lật lật quyển sổ nhân sự để trước mặt. Ông lại nhìn anh Ba, hỏi: – Anh biết đọc chữ Pháp chứ?

– Thưa ông Mai-sen, tôi đọc được ạ.

– Ồ…! Tốt, tốt lắm. – Mai-sen chỉ vào trang sổ nhân sự và nói bằng tiếng Pháp: – Đây. Anh xem, vừa mới sáng nay, tôi đã nhận thêm bốn người An-nam. Danh sách bốn người đây. – Mai-sen đọc tên từng người: – Đặng Quang Giao, Lê Quang Chi, Nguyễn Tuân, Nguyễn Văn Tri.

Anh Ba chau mày, những ngón tay gõ gõ trên mặt bàn. Hai mắt anh Ba như phủ một lớp sương chiều. ông Mai-sen đọc được những băn khoăn trong đôi mắt anh Ba :

– Tôi biết những người như anh muốn làm cánh chim bay trên những miền đất lạ. Tiếc là, trên con tàu của tôi chỉ còn cần một chân phụ bếp.

Hai mắt anh Ba bừng sáng :

– Thưa ông Mai-sen, tôi đề nghị ông nhận tôi vào chân phụ bếp ấy.

– Ồ… ! – Mai-sen nhìn anh Ba, hơi ngờ vực. – Một thư sinh như anh chịu không nổi đâu. Công việc làm bếp ở con tàu này rất nặng nhọc. Hằng ngày phải lo những bữa ăn cho cả trăm người với nhiều khẩu phần khác nhau; riêng hành khách có vé hạng nhất đã bốn mươi người.

Anh Ba chìa hai bàn tay ra trước ông Mai-sen :

– Ông xem những vết chai sạn trên bàn tay của tôi.

Mai-sen cầm lấy bàn tay anh Ba ngắm, mỉm cười :

– Người phương Tây chúng tôi rất tin khoa xem tướng bàn tay. Tôi không sành bói toán, nhưng bàn tay anh ngón thon dài thế này thì viết chữ đẹp, có năng khiếu mỹ thuật và âm nhạc. Anh được cả hai cái lớn: con mắt và bàn tay. Tôi biết một câu rất hay mà người An-nam hay dùng : “Giàu hai con mắt, khó hai bàn tay”.

– Ông đã xem tướng tôi, ông có tin là tôi làm được phụ bếp không?

– Tôi muốn nhận anh vào một công việc hợp với khả năng của anh, ít ra cũng là một chân thư ký trên con tàu của tôi. Để anh giữ chân phụ bếp, phí quá – ông ta hạ giọng: – Thôi được, từ ngày mai – Ông ta nhìn lên tấm lịch – ngày mai là mồng 3 tháng 6, anh xuống tàu nhận việc. Tôi sẽ báo cho ông quản bếp để tiếp nhận anh đúng 8 giờ sáng mai. Tháng đầu tiên này tôi tạm cấp lương cho anh là 45 phơ-răng. Được chứ?

Anh Ba cười :

– Tôi sẽ làm việc xứng đáng với sự tin dùng của ông.

Ông Mai-sen còn đưa cho anh Ba một tấm thiếp in hình con tàu rẽ sóng đại dương, có chữ ký của ông, và một cuốn sách mỏng, cỡ bỏ túi, ngoài bìa cũng có hình con tàu Đô đốc La-tu-sơ Tơ-rê-vin. Ông dặn cẩn thận:

– Anh giữ cái các để tiện việc lúc lên bến, lúc xuống tàu. Cuốn sách nhỏ này giúp anh hiểu về hãng Sác-giơ Rê-uy-ni và con tàu của chúng tôi hoạt động như thế nào…

Rời con tàu Đô đốc La-tu-sơ Tơ-rê-vin, trên đường về xóm, anh Ba vừa đi vừa xem tập sách nhỏ của ông Mai-sen đưa. Anh đọc nhẩm : Tàu Đô đốc La-tu-sơ Tơ-rê-vin thuộc hãng tàu Sác-giơ Rê-uy-ni. Con tàu này thuộc loại lớn nhất của hãng và cũng là tàu có cỡ của đầu thế kỷ 20. Chiều dài của con tàu: 120 mét 10, rộng 15 mét 20, trọng tải là 5.572 tấn, chạy bằng máy hơi nước với 2.800 sức ngựa. Tàu có thể chạy một mạch những 12.000 hải lý, không cần phải ghé bến. Trong lòng con tàu được thiết kế hiện đại, tiện nghi. Đáy tàu là một bể chứa nước ngọt, tới 900 tấn. Có hầm chứa than : 150 tấn. Tầng trên của con tàu là các buồng làm việc, nghỉ ngơi, phòng giải trí vui chơi của các sĩ quan và thủy thủ. Tiếp đến là dãy phòng đủ cho bốn chục khách đi vé hạng nhất. Ở giữa khoang tàu, phần dưới cùng là ba nồi hơi lớn, các cỗ máy lớn và bếp nấu, nơi nghỉ của các người làm bếp, bồi bàn… Xem đến trang giới thiệu về khu vực nhà bếp, anh Ba mỉm cười : mình sẽ được làm bạn với Táo quân.

Út Huệ ngồi bên bậc cửa vá áo, đầu nghiêng nghiêng. Một giọt nắng lọt qua mái nhà thủng, đậu trên tóc và chảy sáng xuống gò má. Hai lọn tóc mai dài xuống quá đuôi mắt. Hai con mắt to, dài, đen láy ấp ủ một nỗi buồn sâu kín, cặp môi tươi như một cánh hoa nở dưới cái mũi dọc dừa. Cả gương mặt Út Huệ như một hòn ngọc sáng.

Út Huệ tay lảy kim trên miếng vá của tấm áo anh Ba, lòng thẫn thờ, thầm nghĩ : Mấy hôm nay anh Ba hơi khang khác với mọi ngày. Anh trầm lặng, không còn vui tính khơi lên cho anh em trong nhà những trận cười phải ôm lấy bụng. Hằng ngày ảnh ăn rất ít, không còn giữ mức mỗi bữa ba bát nữa. Ảnh ăn không được, mình làm thêm món để ảnh ăn ngon miệng, ảnh lại gắp chia đều lên bát cho từng người. Đêm nào ảnh cũng thì thầm với ba, với anh Tư cho mãi tới khuya. Hình như ảnh không nói những chuyện gì đó với các anh Sáu Đen, Chín Mập. Ảnh cũng giữ kín cả với mình. Mà cũng phải thôi, mình là phận gái…

Đang mải nghĩ, nghe tiếng chân anh Ba ở ngoài cảng đi về, Út Huệ giật mình đặt vội tấm áo xuống đầu gối, ngước nhìn anh Ba, mỉm cười, đon đả :

– Anh đã về. Em ngỡ anh về muộn nên chưa soạn cơm nước chi cả.

– Nấu muộn một tí đợi anh em về đông đủ cùng ăn nóng, càng tốt, cô Út ạ.

Anh Ba vẻ mặt buồn buồn, ngồi xuống sập gỗ.

Bàn chân anh miết qua miết lại trên nền nhà, giọng nói không tự nhiên :

– Có một việc riêng, hôm nay tôi mới có dịp nói với cô Út.

Hai má Út Huệ ửng đỏ, mắt chớp chớp, môi mấp máy, hai lúm đồng tiền ẩn hiện trên má. Cô ngước nhìn thoáng anh Ba, cúi xuống liền, nói hơi run :

– Có điều chi anh Ba thấy cần dạy bảo em, em…

– Ấy chết! Chuyện riêng của tôi chứ đâu dám “dạy bảo” gì, hở cô Út?

Út Huệ đã bình tĩnh hơn :

– Anh đã tin em, anh cứ nói ra. Dù có quá sức em, em cũng ráng giúp anh.

Anh Ba nhìn ra xa, giọng trầm trầm :

– Tôi không ở đây nữa… Mai sớm, tôi… đi… xa…

Út Huệ rùng mình. Cái kim trên tay tuột xuống nền nhà. Cô bối rối, tay run run nhặt cây kim lên, môi mim mím. Hai người như bị hẫng, ngồi im lặng. Út Huệ nói, giọng nghèn nghẹn :

– Sao anh không ở đây nữa với ba em, với anh Tư…?… Mà anh đi mãi đâu, có vẻ hệ trọng vậy ạ?

– Tôi đi… xa lắm… đi khỏi nước mình, cô Út ạ. – Anh chùng giọng: – Ai mà chẳng muốn có một cuộc sống êm đềm bên cạnh những người thân yêu. Nhưng, tình cảnh nước mình, tôi không thể ngồi yên một chỗ, xây dựng cho riêng mình một tổ ấm được.

– Anh đi chừng bao lâu thì anh trở về đây?

– Cô Út! Ngày trở về, – anh Ba nói – cô Út hiểu thấu cho : ngày về của tôi xa mù mịt, tôi cũng chẳng định liệu trước được.

Út Huệ nắm chặt tấm áo vá trong tay mình, nén tiếng khóc từ trong cổ họng. Cô định nói thêm, nhưng tiếng ông già Đờn đã oang oang ngoài đầu ngõ hẻm. Chưa vào nhà, ông già đã hỏi con gái :

– Đã có đồ nhậu tối nay chưa, Út?

Út Huệ giấu mặt buồn, cúi xuống tấm áo vá, thưa :

– Dạ… Con chưa ra chợ, ba ạ.

Thấy anh Ba đã về đang ngồi trên sập giữa nhà, ông già vui vẻ :

– Ồ thầy cháu về rồi à?

– Cháu cũng vừa về được một lúc chú ạ. Mấy ảnh sao chưa về chú?

– Bọn nó biểu, mai sớm cháu đi, bọn nó ghé tiệm mua đồ nhậu, thức suốt đêm nay với cháu mà.

Ông già dặn nhỏ con gái, giọng bồi hồi :

– Út à. Anh Ba mầy hổng còn ở lại đây nữa. Ảnh đi vượt vời sang tận các nước Âu Mỹ kia. Mơi anh mầy đã đi sớm. Con ra chợ mua cái ăn, mua những thứ ngon, mắc mấy cũng được, ăn với nhau bữa cơm cuối cùng mà…

Út Huệ mím mím môi, cắn vội sợi chỉ, trao cái áo đã vá lành cho anh Ba, nói lảng :

– Những đường kim về sau vì vội nên không được đều anh vui lòng, nghe.

– Trời đất, cô Út cẩn thận quá. Cảm ơn cô Út.

Út Huệ sập rèm mi ướt, giọng nói đượm chút dỗi :

– Vá miếng áo có là chi đâu mà anh Ba cảm ơn em.

Anh Ba cười. Ông già Đờn dặn thêm con gái :

– Con nhớ mua một miếng thịt heo nạc, rặt nạc, nghe hông. Rồi mua dừa lấy nước kho với thịt. Kho thiệt khô. Nhớ mua nước mắm hạng nhất kho thịt mới để được lâu. Con cũng đừng mua gạo thường, mua gạo nàng thơm nắm mới dẻo.

Ông ngồi bên cạnh anh Ba, ngậm cái tẩu thuốc, mắt ông mơ màng bóng khói :

– Bước chân xuống tàu có lẽ là phải ăn cơm Tây rồi. Cháu chịu khổ mang cơm nắm theo. Chú nghĩ chắc còn lâu lắm cháu mới được ăn cơm trên đất quê mình. Hạt gạo, củ khoai, con cá, lá rau, quả cà, trái ớt, chút nước mắm, tí dấm… những món ăn của quê mình bình thường vậy mà thiếu nó ta không chịu nổi!

– Cảm ơn chú. Chú và cô Út đã săn sóc cháu nhiều mà cháu chưa đền đáp được gì!

– Đừng, cháu đừng nghĩ vậy. Cháu sắp rời xứ sở, hãy nghĩ về chặng đường phía trước…

*
*    *

Bóng tối trùm xuống xóm thợ. Những tiếng rao đêm lang thang trong ngõ hẻm. Tiếng chửi rủa của bà già, tiếng khóc gào than vãn, tiếng quát tháo của người say rượu và bao nhiêu thứ tiếng ồn ào hỗn độn dấy lên trong đêm như biển động.

Không khí trong nhà ông già Đờn cũng đang như trước giờ cơn bão đến.

Hai chiếc chiếu trải rộng giữa nhà. Một mâm thức ăn đầy ngộn đặt giữa chiếu. Ông già Đờn ngồi sát anh Ba. Anh Tư Lê, Chín Mập, Sáu Đen ngồi vòng tròn quanh mâm. Người nào cũng đăm chiêu, ít nói. Họ uống rượu từng tợp đủ thấm môi, không như mọi ngày, tu một người hết cả chén. Chẳng mấy ai cầm đũa nhắm. Người nào cũng luôn luôn trăn trở thế ngồi. Không khí trầm lặng kéo dài. Anh Ba định kể một câu chuyện vui vui thì Tư Lê ca bài Nam ai, buồn xé ruột. Tiếp đến Chín Mập hát bài Lý chiều chiều, Sáu Đen hát tích Nguyệt Nga cống Hồ. Hát xong, Sáu Đen nài nỉ anh Ba hát giặm Nghệ Tĩnh. Anh Ba vẻ lúng túng. Ông già Đờn đỡ lời :

– Cuộc vui đêm nay tiễn thằng Ba đi, tụi bây và tao phải làm hết mọi chuyện, đừng để thằng Ba nó phải dính vô một việc chi, nghe hông. – ông già so dây đàn : – Bữa nay tiễn Ba nó đi Tây, tao cho tui bây nghe trọn cả bài “ca lòng” của tao.

Nước mắt ông già rơm rớm, giọng ông buồn buồn :

Một… mối… tình… câm
Tình câm… một.. mối
Chàng… đã… ra… đi…
Chẳng nói lời… chi
Ôi cảnh… biệt… ly…
Thiếp ngóng…. theo… chàng…
Sông nước… mênh… mang…
Kéo neo… tàu… chạy…
Nước… mắt… tiễn…đưa…
Chàng đi… chàng đi…
Muôn trùng… sóng vỗ…
Thiếp giữ… tình câm…
Tình câm… theo… chàng…

Tư Lê, Sáu Đen, Chín Mập đều ngồi xo ro gục trên cánh tay và mỗi người đuổi theo một kỷ niệm của riêng mình.

Anh Ba chống tay đỡ cằm, máng tóc dày đổ xuống trán, mắt anh hướng vào một điểm sáng tụ dưới chiếu, nhưng trong đầu anh hiện lên lớp lớp những gương mặt thân yêu mà anh đã ghi nhớ từ tuổi ấu thơ. Cả hình ảnh các ông già mù hát dạo ở quê hương, ở Huế, ở Phan Thiết cũng hiện lên trong đầu anh. Và bao nhiêu bài ca anh đã từng nghe cũng đang văng vẳng giữa tâm hồn anh : Nước Nam ta sao lại có Tây?…

Út Huệ một mình một đèn, nước mắt giọt ngắn giọt dài tại buồng trong. Hai bàn tay Huệ vắt, nắm, vỗ vỗ nắm cơm gạo nàng thơm dẻo quẹo. Đặt nắm cơm vào tấm bẹ cau trắng mịn như lụa, Huệ ngồi thừ nhìn không chớp mắt. Tiếng đàn ca phòng ngoài vọng vào, cô chẳng để vào tai mình. Cô mở hòm lấy quyển vở, lật lật từng trang, nói thầm : Chữ anh Ba dạy cho mình. Anh Ba đã cầm tay tập cho mình viết. Sao anh Ba không ở lại đây mãi mãi? Lúc nào anh Ba cũng nói “cứu nước, thương đồng bào mình sống cực”!

Tiếng còi tàu chở khách sang Thủ Thiêm kéo một hồi dài. Út Huệ giật mình và chợt nhớ đã sáng đêm. Út Huệ cầm tấm khăn rằn của anh Ba mua dạo nọ, lau nước mắt. Bỗng Huệ nhớ hồi nhỏ Huệ được nghe mẹ ru :

Khăn thương nhớ ai mà khăn rơi xuống đất,
Đèn thương nhớ ai mà đèn không tắt,
Mắt thương nhớ ai mà mắt không khô…

Út Huệ trùm khăn đi ra cửa. Trời còn nhá nhem. Sương mù giăng trên nóc nhà xóm thợ. Út Huệ lại quay vào buồng, nhìn ngọn đèn, nói : Mình thương thầm ảnh. Giờ ảnh đi xa. Đi sang Tây. Mình có nên nói với ảnh cái điều dớ dẩn của mình nghĩ không? Ôi! Ai lại ngược đời vậy bao giờ? Mình là con gái kia mà. Nhưng, ảnh ra đi liệu ảnh có đoán biết được cái điều mình nghĩ về ảnh không? Đèn ơi! Nếu anh Ba không biết điều ấy thì đèn chứng cho tấm lòng Út Huệ này nhé. Ôi ! Một người mà ai cũng yêu mến…
Sáng ngày Năm, tháng Sáu, năm Một ngàn chín trăm mười một. Sương sớm phủ nóc Nhà Rồng. Dòng sông Sài Gòn cong vòng như lưng người già đã trải qua nhiều khúc đường đời khổ ải.

Trời ngả màu chì.
Cơn mưa đen tháng sáu dấy lên.

Từ trong ngõ hẻm, anh Ba bước từng bước ung dung, mắt nhìn thẳng phía trước. Đi bên anh là ông già Đờn. Tư Lê, Sáu Đen, Chín Mập đi sát phía sau. Út Huệ đi sau cùng.

Con đường hẻm dài hun hút. Họ im lặng đi. Sắp đến lối rẽ vào bến cảng, họ đi chậm bước, mắt hướng ra phía những con tàu đang xả khói đen đục. Và trong mắt họ có cái ảo giác cả đất trời tròng trành, thành phố Sài Gòn chao đưa.

Anh Ba khựng bước. Anh ôm chầm lấy người ông già Đờn :

– Chú Út ơi! Các anh ơi! Út Huệ ạ – Anh nhìn vào mắt những người thợ thuyền trao gửi niềm tin.

– Nước mình, dân mình sẽ không cam chịu cảnh ngựa trâu nầy mãi được. Phải xóa bỏ kiếp nô lệ và nhất định đời thợ chúng ta sẽ đổi khác… Chúng ta tin ở tương lai, tin vào tiền đồ dân tộc…

Ông già Đờn ôm chặt lấy hai vai anh Ba, lắc mạnh :

– Ba! Chú tin… rất tin ở lời cháu vừa nói và càng tin sự quyết chí ra đi vì nước vì dân của cháu. Chúc cháu đi được trơn bọt lọt lạch, chân cứng đá mềm!

Ông ôm chặt anh Ba vào ngực mình, bộ tóc muối tiêu của ông xõa rộng xuống vai anh. Rời ông già Đờn, anh Ba bước đến với ba người thợ trẻ. Tư Lê cầm chặt tay anh Ba, giọng nghẹn ngào :

– Tôi không cùng đi với anh được, nhưng cái bụng của tôi mãi mãi ở bên anh. Ở lại bến cảng này, tôi sẽ làm việc và sống theo như anh đã bày biểu, căn dặn.

Sáu Đen, Chín Mập, hai người cầm hai tay anh Ba nhìn nhau. Và lần đầu tiên anh Ba thấy ở mắt hai người thợ “có đá trong đầu” này rơm rớm lệ. Hai người cùng nói một lúc :

– Anh Ba ơi! Anh đi, để lại trong mắt chúng tôi cái chữ…

Anh Ba chợt nhìn sang út Huệ thì ông già Đờn giục con gái :

– Út! Con đi với anh Ba một quãng đường nữa…

Gió cửa sông thổi giục từng cơn. Anh Bạ chắp tay giơ cao xá xá ông già Đờn và các bạn đang quay bước trên đường về.

Anh Ba im lặng đi bên Út Huệ. Mắt Út Huệ luôn luôn nhìn về hướng con tàu rồi liếc nhìn anh Ba. Chưa bao giờ Út Huệ thấy anh Ba đẹp trai như lúc này. Cô lâng lâng như đang ở trong mơ và thấy anh Ba là chàng hoàng tử trong truyện cổ tích…

Anh Ba bất chợt nhìn Út Huệ, nhìn con tàu. Anh rùng mình. Một luồng giá lạnh từ đỉnh đâu xuống gan bàn chân như phân chia con người anh làm hai. Anh dừng lại :

– Sắp hết giờ lên tàu rồi. Út… đi với tôi, đến đây là… Út về kẻo…

Út Huệ vẫn ôm trên tay mình cái gói nho nhỏ, mắt chớp chớp nhìn vào mắt anh Ba. Tiếng Út Huệ nhẹ như gió thoảng :

– Em muốn nói với anh… chỉ sợ… anh cười em!

– Ấy! Đến giờ này mà Út Huệ còn chưa thiệt tin tôi?

Út Huệ bối rối. Cái gói cầm trên tay cứ trao qua trao lại, nhưng Huệ vẫn hết nhìn con tàu đang xả khói lại nhìn anh Ba.

Giọng út Huệ bồi hồi :

– Anh nói đi anh!

Anh Ba lúng túng :

– Điều nói được, tôi đã nói với Huệ từ hôm qua rồi.

– Lúc này khác với ngày hôm qua. Em muốn được nghe anh nói với em một tiếng giữa phút giây nầy, anh Ba ạ!

– Hôm qua, hôm nay và mãi mãi tôi nhớ tấm lòng của Huệ cũng như bao nhiêu tấm lòng vàng khác đã cứu giúp tôi trong những phen hoạn nạn, lúc sẩy nhà ra thất nghiệp.

– Anh Ba luôn luôn nhớ đến những người có lòng tốt với mình, nhưng anh có biết người khác nhớ anh đến cháy ruột cháy gan không? – Út Huệ nghẹn ngào nói.

Anh Ba sững sờ… Út Huệ biết mình đã buột miệng lỡ lời vội nói khỏa lấp :

– Em biết anh là con chim bằng, chiếc lồng son không thể nào nhốt được.

Anh Ba nhấn từng tiếng chắc và ấm :

– Phải có tự do! Huệ ạ, Tổ quốc ta, nhân dân ta phải có độc lập tự do chứ không thể nô lệ mãi được!
– Ước mơ ấy, khát vọng ấy liệu có thành sự thật ở quê mình không anh?

– Vì mất nước mà phải lìa nhà. Nếu không tìm ra phương kế giành lại độc lập cho nước, hạnh phúc cho dân thì tôi không về mà cũng chẳng ai mong đợi làm gì!

Út Huệ run run, cái gói trên tay như muốn rơi xuống, nước mắt giàn giụa :

– Anh! Cơm nắm. Em nấu cho anh bữa cơm cuối cùng nầy. Cầm lấy anh! Đi đi… anh!
Anh Ba đỡ gói cơm trên tay Huệ. Một tiếng gọi lẫn trong tiếng khóc bật ra từ trái tim người con gái Sài Gòn :

– Anh Ba! Em…

Út Huệ ôm mặt chạy trở về. Anh Ba cầm nắm cơm trong tay. Âm thanh thành phố Sài Gòn đổ dồn xuống cửa sông như trùm lấy anh. Anh nghe tiếng còi tàu nhọn hoắt khoan vào không gian nhức nhối. Anh bước sải dài, vội vã xuống tàu. Gương mặt người con gái Sài Gòn chập chờn trước mắt anh như một búp sen quê hương. Và cả khuôn mặt Việt Nam choán lấy trái tim anh!

Út Huệ lại quay lại chạy theo xuống bến tàu.

Con tàu chở anh Ba mờ mờ phía chân trời. Lê Thị Huệ chắp tay trên ngực nhìn theo, khấn trước đất trời :

Sông ơi!
Đừng mọc đá ngầm…
Biển ơi!
Đừng dựng sóng dữ…
Anh đi thuận gió xuôi buồm…
Hỡi những phương trời xa lạ…
Hãy đón lấy Anh…
Một chàng trai nước Việt…
Anh là của Nước của Dân…
Tất cả đợi Anh về…

dvt.vn

Ý nghĩa sự kiện ra đi tìm đường cứu nước vẫn còn nguyên giá trị và mang tính thời sự sâu sắc

(GD&TĐ) – Đó là khẳng định của các đại biểu tham gia hội thảo khoa học “Kỷ niệm 100 năm ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước” (5/6/1911 – 5/6/2011) được tổ chức ngày 17/5 tại Học viện Chính trị-Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh

Bến Nhà Rồng-nơi cách đây 100 năm, Bác đã ra đi tìm đường cứu nước

Bến Nhà Rồng-nơi cách đây 100 năm, Bác đã ra đi tìm đường cứu nước

Trong phần đề dẫn tại hội thảo, GS.TS Tạ Ngọc Tấn, Uỷ viên Trung ương Đảng, Giám đốc Học viện Chính trị-Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh đã khẳng định: Chủ tịch Hồ Chí Minh là biểu tượng kiệt xuất về quyết tâm của cả dân tộc, đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam. Người là kết tinh truyền thống văn hóa tốt đẹp hàng ngàn năm của dân tộc Việt Nam và tinh hoa văn hóa thế giới. Người đã có những cống hiến to lớn đối với phong trào đấu tranh vì hòa bình và tiến bộ nhân loại.

Cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của Hồ Chí Minh là bản anh hùng ca về chủ nghĩa yêu nước, về tinh thần tận tụy, hy sinh phấn đấu quên mình vì độc lập, tự do của Tổ quốc, hạnh phúc của nhân dân. Di sản tư tưởng và tấm gương đạo đức cao đẹp của Người mãi mãi là tài sản quý báu của toàn Đảng, toàn dân ta, là niềm tự hào, nguồn cổ vũ lớn lao đối với các thế hệ người Việt Nam.

Cách đây tròn 100 năm, ngày 5/6/1911, từ bến cảng Nhà Rồng, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành từ giã quê hương, lên con tàu Amiran Latusơ Tơrêvin sang phương Tây, mang theo mình một khát vọng cháy bỏng tìm đường cứu nước để đem lại: “Tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi”. Người đã bôn ba khắp năm châu, vừa lao động vừa học tập, nghiên cứu lý luận và thực tiễn cách mạng thế giới, để rồi tìm thấy ánh sáng cách mạng của thời đại: Chủ nghĩa Mác-Lênin.

Tham luận của các nhà khoa học tại hội thảo đã tập trung phân tích, đánh giá sâu sắc hơn về bối cảnh lịch sử thế giới, trong nước những năm đầu thế kỷ XX và quyết tâm ra đi tìm đường cứu nước của Nguyễn Tất Thành; những cống hiến vĩ đại của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trong việc xây dựng, hoàn thiện đường lối và tổ chức lãnh đạo đưa cách mạng Việt Nam đến thắng lợi; ý nghĩa lịch sử của sự kiện Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước đối với tiến trình cách mạng Việt Nam và phong trào cách mạng thế giới.

Gần 60 tham luận được trình bày và gửi đến hội thảo khẳng định: Một trăm năm đã trôi qua kể từ ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước nhưng ý nghĩa to lớn của sự kiện ấy vẫn còn nguyên giá trị và mang tính thời sự sâu sắc.

Đối với tiến trình phát triển của lịch sử dân tộc, sự kiện Bác Hồ quyết tâm ra đi tìm đường cứu nước là một dấu son mở đầu trang sử mới trong lịch sử dân tộc ta. Từ chủ nghĩa yêu nước, Người đến với Chủ nghĩa Mác-Lênin, lựa chọn ra con đường cách mạng Việt Nam: Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, con đường cách mạng đúng đắn, phù hợp với điều kiện thực tiễn của lịch sử nước ta, đưa cách mạng nước ta đến thành công…

Đối với Đảng ta, nhìn lại chặng đường hơn 80 năm xây dựng và trưởng thành, Đảng ta luôn kiên định mục tiêu, lý tưởng và con đường mà Hồ Chí Minh đã lựa chọn, lãnh đạo nhân dân ta giành được những thắng lợi hết sức to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng Việt Nam mà sợi chỉ đỏ xuyên suốt là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội trở thành tư tưởng chỉ đạo trong đường lối của Đảng, là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Mặc dù bối cảnh tình hình trong nước và quốc tế hiện nay có nhiều biến đổi, song Đảng ta vẫn khẳng định kiên định mục tiêu, con đường mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lựa chọn: Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Đó là con đường đúng đắn, phù hợp với quy luật phát triển của thời đại.

Minh Duy
gdtd.vn

Vững bước trên con đường Người đã chọn

Bí thư Thành ủy TPHCM Lê Thanh Hải cho biết trong suốt hơn 80 năm qua, Đảng bộ và nhân dân TP luôn tâm nguyện và vững bước trên con đường Bác Hồ đã chọn

Sáng 5-6, TPHCM đã long trọng tổ chức lễ kỷ niệm 100 năm ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước (5.6.1911-5.6.2011). Dự lễ kỷ niệm có ông Trương Tấn Sang, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư; nguyên Thủ tướng Phan Văn Khải; các vị lãnh đạo TPHCM, lão thành cách mạng, mẹ Việt Nam anh hùng cùng đông đảo nhân dân TP.

Tìm đường cứu dân, cứu nước

Đọc diễn văn tại lễ kỷ niệm, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy TPHCM Lê Thanh Hải ôn lại sự kiện lịch sử trọng đại của dân tộc, cách nay tròn 100 năm, ngày 5-6-1911, Sài Gòn – Gia Định đã tiễn người thanh niên Việt Nam 21 tuổi Nguyễn Tất Thành, với tên Văn Ba, rời cảng Sài Gòn đi ra nước ngoài để thực hiện khát vọng tìm đường cứu dân, cứu nước. Đó là một ý định cách mạng và táo bạo, thể hiện tư tưởng đổi mới, cả tầm nhìn và hành động, báo hiệu sự xuất hiện của bậc vĩ nhân Nguyễn Ái Quốc – Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Diễn văn nêu rõ: Từ chủ nghĩa yêu nước chân chính, Bác đã đến với chủ nghĩa Mác – Lênin, chân lý của thời đại; từ người yêu nước trở thành chiến sĩ cộng sản, tìm thấy con đường cứu nước đúng đắn. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng sáng tạo, phát triển học thuyết Mác – Lênin phù hợp với hoàn cảnh lịch sử của đất nước ta, xác lập đường lối cứu nước đúng đắn để thực hiện.

Các đại biểu tham dự lễ kỷ niệm 100 năm ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước vào sáng 5-6 tại TPHCM

Đó là cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân do Đảng Cộng sản, đội tiên phong của giai cấp công nhân, lãnh đạo nhằm đánh đổ đế quốc và phong kiến tay sai, giành độc lập dân tộc. Cuộc hành trình tìm đường cứu nước của Bác đã tạo nên những bước ngoặt lớn của cách mạng Việt Nam, đã làm thay đổi chiều hướng phát triển của lịch sử, thay đổi số phận của cả dân tộc Việt Nam trong thế kỷ XX, đồng thời in dấu ấn không thể phai mờ trong lịch sử thế giới hiện đại.

Tạo chuyển biến mới, thắng lợi mới

Trong niềm tự hào TPHCM là nơi Bác Hồ khởi đầu cuộc hành trình tìm đường cứu nước và là TP được vinh dự mang tên Người, ông Lê Thanh Hải kêu gọi Đảng bộ và nhân dân TP phát huy cao độ truyền thống cách mạng kiên cường, đoàn kết, năng động, sáng tạo; ra sức phấn đấu thực hiện đường lối, quyết sách của Đảng đã đề ra, tạo những chuyển biến mới, thắng lợi mới.

Ông Lê Thanh Hải chỉ đạo TP cần tập trung cao độ trong việc thực hiện có hiệu quả kết luận số 02-KL/TW của Bộ Chính trị và Nghị quyết số 11/NQ-CP của Chính phủ về những giải pháp chủ yếu tập trung kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội, góp phần thúc đẩy sản xuất – kinh doanh phát triển, giữ vững ổn định chính trị, cải thiện đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân.

“Trong suốt hơn 80 năm qua dưới sự lãnh đạo của Đảng, Đảng bộ và nhân dân TP luôn tâm nguyện và vững bước trên con đường Người đã chọn… Trong mỗi tấm lòng của người dân Sài Gòn – Gia Định – TPHCM luôn có Bác Hồ kính yêu”- ông Lê Thanh Hải bày tỏ.

Sau lễ kỷ niệm, các đại biểu đã tham gia nghi thức động thổ xây dựng giai đoạn 2 dự án Bảo tàng Hồ Chí Minh – Chi nhánh TPHCM. Giai đoạn này có tổng mức đầu tư hơn 69 tỉ đồng, bao gồm việc xây mới nhà trưng bày chuyên đề với hội trường, phòng trưng bày và phòng chiếu phim tư liệu về Bác Hồ có tổng diện tích xây dựng khoảng 1.195 m2; đầu tư các trang thiết bị nhằm hiện đại hóa công tác bảo tồn, trưng bày; cải tạo, chỉnh trang một số hạng mục để tạo sự khang trang, điểm nhấn cho cảnh quan công trình và toàn bộ khu vực. Dự kiến công trình sẽ hoàn thành vào quý II/2012.

Chiều cùng ngày, các nhà xuất bản Chính trị Quốc gia – Sự thật, Trẻ, Công an Nhân dân đã tổ chức buổi ra mắt những tác phẩm mới xuất bản về Bác Hồ. Một số tác phẩm được giới thiệu gồm: nghiên cứu, xác minh tư liệu và địa chỉ Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sống, làm việc ở nước ngoài từ năm 1911 – 1941; Theo chân Bác; Cận vệ Bác Hồ…

Khánh thành Đền thờ Bác tại Bạc Liêu

Sáng 5-6, ông Nguyễn Xuân Phúc, Bộ trưởng – Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ, cùng các lãnh đạo Trung ương, các ban ngành và các tỉnh ĐBSCL đã cắt băng khánh thành công trình Đền thờ Bác Hồ tại xã Châu Thới, huyện Vĩnh Lợi – Bạc Liêu. Đây là công trình trùng tu, tôn tạo mở rộng di tích lịch sử Đền thờ Bác Hồ hoàn thành ở giai đoạn I với tổng kinh phí hơn 29 tỉ đồng.

Ông Nguyễn Xuân Phúc tuyên dương truyền thống đấu tranh cách mạng, truyền thống văn hóa và tình cảm của nhân dân Bạc Liêu đối với Bác. Ông Phúc động viên, khuyến khích nhân dân gìn giữ, phát huy hơn nữa truyền thống dân tộc và di tích lịch sử này để nơi đây mãi mãi là địa chỉ đỏ trong việc giáo dục truyền thống cho các thế hệ.

K.Châu

Ra sức thực hiện mong ước của Bác

Phát biểu trong chương trình cầu truyền hình “Hồ Chí Minh – Cuộc hành trình của thời đại” diễn ra tối 5-6, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết trân trọng bày tỏ lòng biết ơn đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị lãnh tụ vĩ đại, người thầy của cách mạng Việt Nam.

Chủ tịch nước kêu gọi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ra sức thực hiện mong ước cháy bỏng của Bác lúc sinh thời về xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, sánh vai cùng với bạn bè năm châu bằng các việc trọng tâm cần làm là giữ vững ổn định chính trị, xã hội của đất nước; tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc; ý thức đầy đủ quyền lợi và nghĩa vụ, lao động với năng suất và hiệu quả cao, ra sức học tập và rèn luyện theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh…

“Tôi tin rằng với ý chí, bản lĩnh và trí tuệ của dân tộc Việt Nam, truyền thống quý báu của dân tộc, truyền thống vẻ vang của Đảng thì toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta nhất định sẽ xây dựng thành công một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa sánh vai cùng với các cường quốc năm châu”- Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết khẳng định.

T.Nhàn

Bài và ảnh: THANH NHÀN
nld.com.vn

Kỳ 4: Những đóng góp to lớn của Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác – Lê-nin và cách mạng vô sản thế giới

Xông pha, nhiệt huyết trong thực tế

QĐND Online- Hồ Chí Minh-nhà chính trị, nhà tư tưởng, người chiến sĩ cộng sản lỗi lạc của phong trào cộng sản, phong trào công nhân quốc tế. Từ khi rời Tổ quốc đi tìm con đường giải phóng dân tộc, Hồ Chí Minh sớm nhận thức muốn hoạt động cách mạng cần phải tham gia các tổ chức và hòa mình vào phong trào đấu tranh cách mạng. Người đã hoạt động trong phong trào của người Việt Nam yêu nước và phong trào công nhân Pháp, tham gia Đảng Xã hội Pháp; sinh hoạt trong Câu lạc bộ Phôbua; tham gia sáng lập Hội Liên hiệp thuộc địa; chủ nhiệm kiêm chủ báo Người cùng khổ; tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp, tham gia Quốc tế Cộng sản, hoạt động trong Quốc tế Nông dân; tham gia thành lập Hội Liên hiệp các dân tộc bị áp bức… Những hoạt động đầy nhiệt huyết của Người-với tư cách nhà chính trị, nhà tư tưởng, người chiến sĩ cộng sản quốc tế đã in dấu đậm nét trong lịch sử cách mạng vô sản thế giới. Trong quá trình hoạt động cách mạng, nhiều lần phải sống trong thiếu thốn, khổ cực, nguy hiểm, tù đày, thậm chí bị hiểu lầm, nhưng trong hoàn cảnh nào, Người cũng có một niềm tin sắt son vào chủ nghĩa Mác – Lê-nin, nêu cao ý chí, bản lĩnh và phẩm chất của người chiến sĩ cộng sản.

Hồ Chí Minh có công truyền bá chủ nghĩa Mác – Lê-nin không chỉ ở Việt Nam mà còn ở nhiều nước trên thế giới. Nhiều bài báo của Người đã được đưa vào tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp, xuất bản năm 1925, một công trình nghiên cứu về bản chất của chủ nghĩa thực dân, thức tỉnh và cổ vũ nhân dân các nước thuộc địa đứng lên tự giải phóng. Hoạt động trong tổ chức Quốc tế Cộng sản, Người tích cực đưa lý luận Mác – Lê-nin vào phong trào cách mạng ở các nước thuộc địa; kiên trì bảo vệ, phát triển sáng tạo những quan điểm của Lê-nin về vấn đề dân tộc và thuộc địa; hướng sự quan tâm của Quốc tế Cộng sản tới phong trào giải phóng dân tộc. Với trách nhiệm là Ủy viên Ban phương Đông của Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản, Người hướng dẫn và xây dựng phong trào cách mạng, phong trào cộng sản ở các nước châu Á và xúc tiến thành lập Đảng cộng sản ở Việt Nam.

Sức lan tỏa của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc ở Việt Nam do Hồ Chí Minh lãnh đạo đối với các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc rất mạnh mẽ. Tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng dân tộc và chủ nghĩa xã hội đã ảnh hưởng sâu sắc tới phong trào cách mạng ở hàng trăm nước thuộc địa và phụ thuộc ở châu Á, châu Phi và châu Mỹ La-tinh. Hàng loạt các phong trào giải phóng dân tộc liên tiếp nổ ra ở các nước Á, Phi và Mỹ La-tinh rộng lớn trong suốt các thập kỷ 50, 60 và 70 của thế kỷ XX. Hệ thống thuộc địa thế giới đã từng được chủ nghĩa thực dân đế quốc xây dựng ròng rã trong 500 năm đã nhanh chóng sụp đổ hoàn toàn chỉ trong vòng chưa đầy 50 năm sau mốc son Việt Nam mang đậm dấu ấn Hồ Chí Minh.

Bổ sung sức sống của lý luận

Chủ tịch Hồ Chí Minh có những đóng góp quan trọng với lý luận chủ nghĩa Mác, thể hiện ở một số nội dung chủ yếu sau: Nguyễn Ái Quốc đã khẳng định cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa không hoàn toàn phụ thuộc vào cách mạng vô sản ở các nước chính quốc, nhân dân các dân tộc ở các nước thuộc địa có thể đứng lên tự giải phóng chính mình và cuộc cách mạng có thể thắng lợi trước. Đây là những cống hiến quan trọng vào kho tàng lý luận chủ nghĩa Mác – Lê-nin.

Xuất phát từ tình hình ở các nước tư bản, Lê-nin đã nêu luận điểm Đảng Cộng sản là sản phẩm của sự kết hợp chủ nghĩa Mác với phong trào công nhân. Xuất phát từ tình hình Việt Nam, Hồ Chí Minh nhận thấy việc ra đời của Đảng Cộng sản ở đây nếu chỉ kết hợp chủ nghĩa Mác – Lê-nin với phong trào công nhân thì chưa đủ, vì giai cấp công nhân còn nhỏ bé và phong trào còn non yếu, do đó phải kết hợp cả với phong trào yêu nước rộng lớn của các tầng lớp nhân dân đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân. Đảng cộng sản Việt Nam là sản phẩm của sự kết hợp giữa chủ nghĩa Mác – Lê-nin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước. Hồ Chí Minh còn đi đến kết luận: Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng của giai cấp công nhân, đồng thời là Đảng của dân tộc Việt Nam. Đây là những luận điểm mới của Hồ Chí Minh, bổ sung vào học thuyết về Đảng Cộng sản của chủ nghĩa Mác – Lê-nin.

Các Mác, Ăng-ghen xác định, quần chúng làm cách mạng là giai cấp công nhân, nông dân. Lê-nin, trong cách mạng vô sản Nga, xác định quần chúng cách mạng là công nhân, nông dân và binh lính. Đối với Hồ Chí Minh, lực lượng cách mạng là “cả quần chúng”, bao gồm: giai cấp công nhân-giai cấp lãnh đạo cách mạng, giai cấp nông dân-cùng với công nhân là gốc của cách mạng, tiểu tư sản, trí thức, phú nông, trung, tiểu địa chủ, tư sản dân tộc, các cá nhân yêu nước, “Bị áp bức dân tộc và vô sản giai cấp thế giới”. Quan điểm này của Người không chỉ đúng trong cách mạng giải phóng dân tộc mà còn trong sự nghiệp xây dựng đất nước ngày nay.

Hồ Chí Minh có những sáng tạo độc đáo trong các bước đi giành và bảo vệ nền độc lập dân tộc; luận giải khoa học, sâu sắc về mối quan hệ giữa độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, ưu tiên giải quyết vấn đề dân tộc trước, giải quyết vấn đề dân chủ từng bước. Bảo vệ nền độc lập dân tộc đã giành được bằng biện pháp hòa bình, nhưng khi kẻ thù dùng chiến tranh xâm lược để áp đặt sự nô dịch mới, thì cần dựa vào và phát huy sức mạnh của cả dân tộc để bảo vệ nền độc lập dân tộc. Để bảo vệ nền độc lập dân tộc chân chính, cần xây dựng một xã hội mới là xã hội chủ nghĩa. Độc lập dân tộc để xây dựng chủ nghĩa xã hội thành công và xây dựng chủ nghĩa xã hội để bảo vệ vững chắc độc lập dân tộc.

Trong di sản tư tưởng của Người, có cả một hệ thống những chỉ dẫn khoa học về cách thức, biện pháp, bước đi trong thực hiện công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Lý luận xây dựng chủ nghĩa xã hội của Hồ Chí Minh thấm nhuần sâu sắc không chỉ tính khoa học, cách mạng mà còn có nhiều luận điểm bổ sung từ góc độ đạo đức, văn hóa, nhân văn.

Trách nhiệm kế thừa, phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh

Kế thừa và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội, Đảng ta luôn tìm tòi, làm sáng tỏ hơn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, khẳng định quyết tâm tiếp nối con đường đó trong các văn kiện đại hội của Đảng, nhất là trong các Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) khẳng định: “Đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử”. Mục tiêu tổng quát khi kết thúc thời kỳ quá độ là: “Xây dựng được về cơ bản nền kinh tế của chủ nghĩa xã hội với kiến trúc thượng tầng về chính trị, tư tưởng, văn hóa phù hợp, tạo cơ sở để nước ta trở thành một nước xã hội chủ nghĩa phồn vinh, hạnh phúc”.

Hơn bao giờ hết, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân nêu cao tinh thần trách nhiệm và nỗ lực thực hiện con đường mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chọn, nhất là những điều căn dặn trong Di chúc của Người về điều kiện bảo đảm sự bền vững của con đường đó: bảo vệ độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, tổ chức một đời sống xã hội ưu việt, đầy tính nhân văn và thực sự đem cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân, bồi dưỡng thế hệ trẻ sống có lý tưởng, có hoài bão, có phẩm chất đạo đức trong sáng, có lòng yêu nước nồng nàn để tiếp tục sự nghiệp cách mạng của ông cha, thực hiện đoàn kết dân tộc và đoàn kết quốc tế…

Hơn bốn năm qua, Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” đã được triển khai sâu rộng trong các tổ chức của hệ thống chính trị và toàn xã hội đã tạo được những chuyển biến quan trọng. Để phát huy những kết quả đó, trách nhiệm của mỗi cấp ủy, các tổ chức Đảng, cơ quan nhà nước, mỗi cán bộ đảng viên và mọi tầng lớp nhân dân cần tiếp tục thực hiện có hiệu quả Cuộc vận động này, gắn liền với những nhiệm vụ về xây dựng Đảng trong sạch vững mạnh, nâng cao năng lực và sức chiến đấu của Đảng, đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc.

Hiện nay, các thế lực thù địch đang tấn công vào chủ nghĩa Mác – Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Chúng tìm mọi cách xuyên tạc, bôi nhọ cuộc đời, sự nghiệp, tư tưởng của Người với ý đồ đen tối “lật đổ thần tượng Hồ Chí Minh”, đánh vào nền tảng tư tưởng của Đảng ta, phủ định con đường cách mạng Việt Nam… Trách nhiệm của cán bộ, đảng viên và nhân dân là bảo vệ những giá trị bền vững của chủ nghĩa Mác – Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên quyết đấu tranh bác bỏ mọi luận điệu thâm hiểm của các thế lực thù địch, phản động. Tiếp tục nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn, phát triển chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong giai đoạn mới. Đó chính là sự bảo vệ đúng đắn nhất chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Kiên định chủ nghĩa Mác-Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, là kim chỉ nam cho mọi hành động của Đảng ta vững bước đi theo con đường của Hồ Chí Minh đã chọn, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Kỷ niệm sự kiện 100 năm Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước gắn với kỷ niệm 121 năm Ngày sinh của Người, chúng ta càng hiểu rõ hơn về cuộc đời cách mạng và tư tưởng vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đây cũng dịp cán bộ, đảng viên và nhân dân hiểu sâu sắc hơn về những cống hiến to lớn của Người đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam và thế giới. Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta nguyện thực hiện thắng lợi mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội do Đảng hoạch định tại Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, được bổ sung, phát triển năm 2011. Đó là tấm lòng tri ân sâu sắc của toàn dân tộc đối với công lao vĩ đại của Lãnh tụ Hồ Chí Minh.

Kỳ 1: Hành trình mở trang sử mới
Kỳ 2: Nhận thức về con đường giải phóng dân tộc của Nguyễn Tất Thành – Nguyễn Ái Quốc
Kỳ 3: Tầm nhìn và những quyết định sáng suốt của Chủ tịch Hồ Chí Minh trước bước ngoạt của cách mạng

QĐND Online

qdnd.vn

Kỳ 3: Tầm nhìn và những quyết định sáng suốt của Chủ tịch Hồ Chí Minh trước bước ngoạt của cách mạng

Truyền bá Chủ nghĩa Mác-Lê-nin và sáng lập Đảng

QĐND Online-  Truyền bá chủ nghĩa Mác – Lê-nin vào nước ta, hợp nhất các tổ chức cộng sản, thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, khởi thảo Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt-Cương lĩnh đầu tiên của Đảng, xác định con đường của cách mạng Việt Nam là độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội….Những công việc cách mạng vĩ đại đó cho thấy tầm nhìn xa, trông rộng của Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh với cách mạng Việt Nam.

Xuất phát từ thực trạng của đất nước, Nguyễn Ái Quốc không thành lập ngay đảng cộng sản mà thành lập một tổ chức cách mạng theo khuynh hướng mác-xít để qua đó dần dần đưa chủ nghĩa Mác – Lê-nin vào quần chúng lao động, đó là Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Trong các tác phẩm, các bài báo, bài giảng của mình, Người đã kết hợp việc phổ biến lý luận chủ nghĩa Mác – Lê-nin với việc giới thiệu những phương hướng cơ bản của cách mạng Việt Nam, vạch cho nhân dân ta con đường đi đến độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội. Đường Cách mệnh là một trong những tác phẩm có giá trị to lớn trên phương diện lý luận và thực tiễn, đóng vai trò quan trọng trong việc truyền bá chủ nghĩa Mác – Lê-nin ở Việt Nam những năm 20. Người tổ chức chuyển tài liệu, sách vở, báo chí về nước, gấp rút đào tạo cán bộ làm nòng cốt cho phong trào cách mạng; tổ chức tuyên truyền, cổ động tư tưởng cứu nước trong nhân dân; mở lớp huấn luyện chính trị tại Quảng Châu để trang bị cho các học viên những vấn đề cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lê-nin, về những nguyên tắc hoạt động bí mật và kỹ năng thực hành các công việc vận động quần chúng; chọn những học viên ưu tú kết nạp vào Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên và cử về nước gây dựng phong trào… Việc truyền bá chủ nghĩa Mác – Lê-nin đã thúc đẩy sự phát triển những tổ chức cộng sản, tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam sau này. Phong trào “vô sản hóa” đã góp phần đẩy nhanh quá trình giác ngộ chủ nghĩa Mác – Lê-nin của giai cấp công nhân. Phong trào đấu tranh của nhân dân lao động được lãnh đạo, liên kết với nhau thành một làn sóng mạnh mẽ. Chủ nghĩa Mác – Lê-nin do Nguyễn Ái Quốc có công truyền bá, đã thật sự chiếm lĩnh được lòng tin của phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam.

“Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp ông G.Xanhtơny – đại diện Chính phủ Pháp và tướng Lơcléc – Trưởng phái đoàn quân sự Pháp đến chào Người tại Bắc Bộ Phủ, tháng 3-1946”

Năm 1930, việc hợp nhất thành công các tổ chức cộng sản thành một đảng cộng sản duy nhất là công lao to lớn của Nguyễn Ái Quốc. Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhất là đã vạch ra đường lối cách mạng đúng đắn (qua Chánh cương, Sách lược), có hệ thống tổ chức thống nhất, chặt chẽ, rộng khắp cả nước, là một bước ngoặt quyết định của lịch sử cách mạng Việt Nam. Nguyễn Ái Quốc – người tìm ra con đường cứu nước, truyền bá chủ nghĩa Mác – Lê-nin vào Việt Nam; người tổ chức, sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam; người rèn luyện, cán bộ, đảng viên theo chuẩn mực của đảng Mác – Lê-nin chân chính, trong sạch, vững mạnh, xứng đáng là người lãnh đạo, người đày tớ trung thành của nhân dân.

Những quyết sách chiến lược trọng đại

Bằng nhạy cảm chính trị thiên tài, Nguyễn Ái Quốc nhận thấy tình hình thế giới có chuyển biến lớn, Người gấp rút trở về nước trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng. Người triệu tập và chủ trì Hội nghị Trung ương Tám (5-1941). Đây là Hội nghị hoàn chỉnh thêm một bước sự chuyển hướng chiến lược và sách lược của cách mạng Việt Nam được vạch ra từ Hội nghị Trung ương Sáu (11-1939). Tại Hội nghị này, Nguyễn Ái Quốc đã xác định nhiệm vụ dân tộc phải được đặt lên hàng đầu. Người khẳng định: Lúc này nếu quyền lợi của dân tộc không đòi lại được thì quyền lợi của bộ phận, của giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được. Người chỉ đạo thành lập một mặt trận rộng rãi và có tên thích hợp hơn Mặt trận Thống nhất dân tộc phản đế Đông Dương để tập hợp lực lượng chống đế quốc. Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh (gọi tắt là Việt Minh) ra đời với Chương trình cứu nước do chính Hồ Chí Minh dự thảo. Người chỉ đạo xây dựng lực lượng vũ trang, xây dựng căn cứ địa, tích cực chuẩn bị mọi mặt để sẵn sàng khởi nghĩa giành chính quyền. Đón bắt kịp thời thời cơ, Người và Đảng ta đã triệu tập Hội nghị toàn quốc của Đảng và Đại hội Quốc Dân ngày 16 và 17-8-1945 thống nhất ý chí toàn dân, quyết định Tổng khởi nghĩa, làm nên thắng lợi vĩ đại của Cách mạng Tháng Tám 1945.

Nắm vững vị trí quan trọng của chính quyền cách mạng, với Tuyên ngôn độc lập, Người khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đặc biệt, với việc tổ chức thành công cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và sự ra đời Hiến pháp 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sáng lập Nhà nước cách mạng- Nhà nước của dân, do dân, vì dân. Suốt chặng đường sau đó, bằng tầm nhìn văn hóa sâu rộng, kinh nghiệm chính trị phong phú và sáng tạo, Người đã lãnh đạo, tổ chức và xây dựng Nhà nước kiểu mới của giai cấp công nhân và nhân dân lao động Việt Nam, luôn phấn đấu vì độc lập tự do của dân tộc và hạnh phúc của nhân dân.

Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm Thủ đô Vácxava (Ba Lan), tháng 7-1957. Ảnh: Tư liệu

Với phương châm kháng chiến “toàn dân, toàn diện”, “trường kỳ và tự lực cánh sinh”, “vừa kháng chiến, vừa kiến quốc”; với ý chí “không có gì quý hơn độc lập tự do”, “Chúng ta thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ”, Người đã hiệu triệu được lòng yêu nước, ý chí quật cường của nhân dân Việt Nam trong hai cuộc chiến tranh chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược. Những tư tưởng chỉ đạo sáng suốt của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta trong thời điểm đất nước “ngàn cân treo sợi tóc” với thù trong, giặc ngoài năm 1946; trong Nghị quyết Trung ương 15 (tháng 1-1959) về đường lối cách mạng miền Nam; trong chỉ đạo thực hiện đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược ở hai miền Nam-Bắc và cả tinh thần “đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào”… là những nhân tố quan trọng, quyết định làm nên thắng lợi và thể hiện tinh thần nhân văn cao cả của dân tộc Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam trong xu thế thời đại, phát huy được sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại trong cuộc chiến đấu vì chính nghĩa của dân tộc. Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội – lá cờ bách chiến, bách thắng của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được toàn Đảng, toàn dân, toàn quân giương cao, đưa Việt Nam thành lương tâm và khí phách của thời đại.

Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam đã vận dụng sáng tạo lý luận về chủ nghĩa xã hội của học thuyết Mác – Lên-nin vào điều kiện Việt Nam. Chủ nghĩa xã hội-con đường phát triển của dân tộc mà Người đã lựa chọn, đang từng bước được hiện thực hóa sinh động trên đất nước Việt Nam.

Kỳ 4: Những đóng góp to lớn của Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác – Lê-nin và cách mạng vô sản thế giới

QĐND Online

qdnd.vn

Sài Gòn với Nguyễn Tất Thành

Ngày 5-6-1911, Sài Gòn ghi dấu một sự kiện có ý nghĩa như một trong những cột mốc khởi đầu đặc biệt của lịch sử cách mạng Việt Nam thời kỳ cận – hiện đại: Từ Bến Nhà Rồng, Bác Hồ quyết định ra đi tìm đường cứu nước.

Mùa hè năm 1905, Nguyễn Tất Thành cùng anh trai Nguyễn Tất Đạt theo học chữ quốc ngữ và chữ Pháp tại Trường Tiểu học Pháp – Việt ở Vinh.Tại Vinh trước và trong thời gian theo học ở Trường Tiểu học Pháp – Việt, Nguyễn Tất Thành học tiếng Pháp và bắt đầu làm quen với văn hóa phương Tây.

Chịu ảnh hưởng các thầy giáo yêu nước, cấp tiến như Nguyễn Quý Song, Lê Văn Miến… (và trước đó từ các thầy Vương Thúc Quý, Trần Thân…), tinh thần yêu nước, ý chí đấu tranh của Nguyễn Tất Thành càng được đắp bồi.

Khẩu hiệu “Tự do – Bình đẳng – Bác ái” của cách mạng dân chủ tư sản Pháp được nghe từ vài năm trước, nay có thêm điều kiện để tìm hiểu sâu sắc hơn, đầy đủ hơn.

Thành phố Vinh trở thành nơi thôi thúc mạnh mẽ quyết tâm của Nguyễn Tất Thành: “Muốn làm quen với nền văn minh Pháp” và “tìm hiểu tận nơi xem đằng sau những từ ngữ  ấy ẩn giấu cái gì”.

Hun đúc tư tưởng yêu nước ở Huế

Chưa hết năm học ở Trường Tiểu học Pháp – Việt tại Vinh, tháng 5-1906, hai anh em Nguyễn Tất Đạt, Nguyễn Tất Thành cùng cha vào Huế, khi ông Nguyễn Sinh Sắc được bổ nhiệm làm Thừa biện Bộ Lễ.

Tại Huế có những cơ quan đầu não của bộ máy cai trị thực dân ở Trung Kỳ nhưng Huế cũng là nơi hưởng ứng sôi nổi các phong trào Đông Du, Duy Tân do Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh… khởi xướng.

Bến Nhà Rồng đầu thế kỷ XX. Ảnh: Tư liệu

Tháng 9-1906, ông Nguyễn Sinh Sắc xin cho Nguyễn Tất Đạt và Nguyễn Tất Thành vào học lớp dự bị Trường Tiểu học Pháp – Việt tỉnh Thừa Thiên (thường gọi là trường Đông Ba). Đến tháng 8-1908, Nguyễn Tất Thành được bỏ qua năm thứ nhất để vào thẳng năm thứ hai Trường Quốc học Huế.

Quãng thời gian học ở Huế, Nguyễn Tất Thành học thầy Hoàng Thông và tiếp tục học thầy Lê Văn Miến, được thầy Hoàng Thông giao nhiệm vụ làm liên lạc cho các hoạt động Đông Du, Duy Tân.

Bên cạnh đó, Nguyễn Tất Thành còn tham gia phong trào Duy Tân ở Huế với vai trò thông ngôn cho các cuộc đấu tranh chống thuế của đồng bào.

Chính trong những tháng ngày sôi động ở Huế (từ 1907 đến 1908), Nguyễn Tất Thành đã nghe, đã biết, đã chứng kiến Đông Kinh nghĩa thục bị đóng cửa, phong trào Đông Du bị dập tắt, phong trào Duy Tân và Kháng thuế Trung Kỳ bị đàn áp dã man…

Các nhà yêu nước tiêu biểu như Phan Châu Trinh bị kết án tử hình; Trần Quý Cáp, Nguyễn Hằng Chi bị xử chém; Huỳnh Thúc Kháng, Đặng Nguyên Cẩn, Ngô Đức Kế… bị đày ra Côn Đảo… Tình cảnh ấy càng thôi thúc ý chí tìm đường cứu nước.

Trong tác phẩm Ho, nhà báo Mỹ David Halberstam viết: “Tư tưởng yêu nước của Hồ (tức Nguyễn Tất Thành) được tăng cường ở Huế… Đây là một thời gian đặc biệt may mắn, và ông là một con người muốn học thêm nữa bằng cách chu du ra nước ngoài hơn là học trong trường khắt khe do thực dân đỡ đầu”.

Từ Quy Nhơn, bước ngoặt của sự trưởng thành

Giữa năm 1909, ông Nguyễn Sinh Sắc được cử làm giám khảo kỳ thi Hương ở Bình Định, rồi nhậm chức Tri huyện Bình Khê – một huyện hẻo lánh thuộc tỉnh Bình Định. Đang học năm thứ hai Trường Quốc học, Nguyễn Tất Thành theo cha rời Huế.

Được cha gửi ăn học tại nhà ông Phạm Ngọc Thọ (cha của bác sĩ Phạm Ngọc Thạch) đang dạy tại Trường Tiểu học Pháp – Việt Quy Nhơn, Nguyễn Tất Thành tiếp tục theo chương trình “cours supérieur”.

Ngay khi đến Bình Khê, ông Nguyễn Sinh Sắc dẫn con đi thăm các sĩ phu trong vùng và di tích lịch sử ở Tây Sơn. Thời gian Nguyễn Sinh Sắc nhậm chức Tri huyện Bình Khê cũng là lúc Nguyễn Quý Song – thầy giáo cũ của Nguyễn Tất Thành – bị cách chức Tri huyện Phù Cát (Bình Định) vì “không làm tròn phận sự”.

Đáng chú ý nhất là sự kiện sau khi Nguyễn Sinh Sắc bị bãi chức (tháng giêng năm 1910) và bị triệu hồi về kinh, trong khi Nguyễn Tất Đạt theo cha thì Nguyễn Tất Thành xin ở lại, rồi sau đó tìm cách đi tiếp vào Nam.

Bước ngoặt đầu năm 1910 ở Quy Nhơn chính là thời điểm đánh dấu sự trưởng thành trọn vẹn với những suy nghĩ và quyết định hết sức tự chủ của người thanh niên 20 tuổi Nguyễn Tất Thành trên hành trình thực hiện hoài bão cứu nước.

Chặng đường tiếp theo của Nguyễn Tất Thành gắn với Phan Thiết – Bình Thuận, vùng đất cực Nam Trung Kỳ. Lý giải về việc Nguyễn Tất Thành dừng chân ở Bình Thuận, tác giả Hà Huy Giáp cho biết: “Bác Hồ có lần nói với tôi: Trên đường từ Huế vào Sài Gòn, hễ nơi nào có thể vừa kiếm sống vừa tìm được tàu ra nước ngoài thì Bác vào”.

Tại Bình Thuận, Nguyễn Tất Thành được tiếp xúc và gặp gỡ nhiều chí sĩ yêu nước, cấp tiến như Trương Gia Mô, Hồ Tá Bang, Nguyễn Trọng Lợi, Nguyễn Quý Anh… – những nhà sáng lập và điều hành Công ty Liên Thành.

Nguyễn Tất Thành cũng rất quan tâm thu thập thông tin về việc đi ra nước ngoài, tìm hiểu mối liên hệ giao dịch của Liên Thành thương quán với các chuyến tàu biển…

Từ Bình Thuận, Nguyễn Tất Thành đã nhận được “sự chuẩn bị của một đại gia đình bao nhiêu bậc đàn anh trong thế hệ nho sĩ lớp trước” để “đến thành phố Sài Gòn không bị đơn độc và mau chóng làm quen với thành phố Âu hóa này” – theo tác phẩm Vàng trong lửa của Trần Văn Giàu, Trần Bạch Đằng.

Sài Gòn, nơi quyết định sự chọn lựa của Nguyễn Tất Thành

Bốn tháng ở Sài Gòn (từ tháng 2 đến đầu tháng 6-1911) là chặng thời gian ngắn ngủi, nhưng Sài Gòn lại chính là nơi đánh dấu sự chín muồi cả về nhận thức và hành động để Nguyễn Tất Thành quyết định dứt khoát sự lựa chọn của mình. Tại Sài Gòn, Nguyễn Tất Thành có dịp gặp gỡ các nhà yêu nước gắn bó với Hội Liên Thành và đã từng tham gia các phong trào Đông Du, Duy Tân.

Cũng tại Sài Gòn, Nguyễn Tất Thành đã chứng kiến cảnh tượng “ngay giữa chợ Bến Thành – mà người ta bảo là một thành phố Pháp, bọn gác chợ người Âu cũng không ngần ngại dùng roi gân bò, dùi cui đánh phụ nữ bản xứ để bắt họ tránh khỏi làm nghẽn lối” (Nguyễn Ái Quốc – Bản án chế độ thực dân Pháp. NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2008, tr.148).

100 năm sau nhìn lại, càng thấy rõ hơn vị thế của Sài Gòn – mảnh đất kết tụ hoài bão lớn của Nguyễn Tất Thành sau nhiều trải nghiệm trên những chặng hành trình bắt đầu từ năm 15 tuổi cho đến năm 21 tuổi.

Nỗi khổ nhục ấy của người dân  càng thôi thúc thêm ý chí đi ra nước ngoài của Nguyễn Tất Thành.Trong bài trả lời phỏng vấn của Chủ tịch Hồ Chí Minh với một nhà báo Pháp đăng trên báo Nhân Dân (số ra ngày 18-5-1965): “Nhân dân Việt Nam, trong đó có ông cụ thân sinh ra tôi, lúc này thường tự hỏi nhau rằng ai là người sẽ giúp mình thoát khỏi ách thống trị của Pháp. Người này nghĩ là Nhật, người khác nghĩ là Anh, có người khác nữa nghĩ là Mỹ. Tôi thì thấy phải đi ra nước ngoài để xem cho rõ”.

Cố Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh trong tác phẩm Thành phố Hồ Chí Minh 10 năm, NXB Sự thật, 1985 nêu giả thuyết mà cũng là đáp án: “Phải chăng thành phố ít nhiều mang tính chất công nghiệp đã góp phần vào sự lựa chọn quyết định của Bác?”

Qua các chặng hành trình Vinh – Huế – Bình Định – Bình Thuận – Sài Gòn, Sài Gòn đã trở thành nơi kết tụ hoài bão lớn của người thanh niên yêu nước trước ngày rời Tổ quốc.

Các học giả Trần Văn Giàu và Trần Bạch Đằng trong tác phẩm Vàng trong lửa – NXB Tổng hợp TPHCM, 2009 nhận định: “Sài Gòn, nơi tuy Bác dừng chân ngắn nhất, lại có vai trò quyết định đối với sự lựa chọn con đường cứu nước”, là “chốn giải tỏa cho Bác nhiều nghi vấn mà chỗ khác không đủ điều kiện giúp Bác giải tỏa”; từ đó đi đến kết luận: “Nếu Sài Gòn không phải là chỗ gợi ý thì cũng là nơi định đoạt dứt khoát thái độ của Bác”, để Nguyễn Tất Thành quyết định dứt khoát phải sang Pháp và các nước phương Tây, chứ không phải hướng về phương Đông như một số nhà yêu nước tiền bối.

TS Lê Hữu Phước (Phó Hiệu trưởng Trường Đại học KHXH&NV – ĐH Quốc gia TPHCM)

suctrenhanvan.edu.vn

Nhân kỷ niệm 100 năm ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước: Tìm về chân lý Mác – Lê Nin trên con đường cứu nước của Bác

Ngày 5/6/1911, trên tàu Đô đốc Latouche Tréville, từ bến cảng Nhà Rồng (thành phố Sài Gòn), người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành (Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh) đã ra đi tìm đường cứu nước.

Gần 10 năm bôn ba, vừa lao động kiếm sống vừa tìm hiểu thực tiễn nhiều nước tư bản và nước thuộc địa, nghiên cứu các cuộc cách mạng tư sản ở các nước Pháp, Anh, Mỹ…Nguyễn Tất Thành đã có nhận thức quan trọng: Cách mạng tư sản là những cuộc cách mạng vĩ đại nhưng là những cuộc cách mạng chưa đến nơi; nó đã phá tan gông xiềng của chế độ phong kiến để giải phóng sức lao động của con người, xây dựng chế độ xã hội mới tiến bộ hơn chế độ xã hội phong kiến, nhưng cách mạng xong rồi dân chúng vẫn khổ cực, vẫn bị áp bức, bóc lột và vẫn toan tính làm cách mạng. Nguyễn Tất Thành đã nhận thấy những mặt trái của xã hội phương Tây, thấy được “ở đâu cũng có người nghèo khổ như xứ sở mình” do ách áp bức bóc lột dã man, vô nhân đạo của tầng lớp thống trị. Điều đó giúp cho Người nhận thức rằng: Nhân dân lao động trên toàn thế giới cần đoàn kết lại để đấu tranh chống kẻ thù chung là giai cấp thống trị; cùng nhau thực hiện nguyện vọng chung là độc lập, tự do.

Từ những hoạt động thực tiễn phong phú và đọc “Sơ thảo lần thứ nhất Luận cương về các vấn đề dân tộc và thuộc địa” của Lênin (đăng trên báo L’Humanité tháng 7/1920), Nguyễn Ái Quốc đã đến với chủ nghĩa Mác – Lênin. Luận cương đã giúp cho Người tìm thấy con đường đấu tranh cách mạng để giành độc lập, tự do cho dân tộc; trả lời câu hỏi ai là người lãnh đạo cách mạng, lực lượng tham gia cách mạng, mối quan hệ giữa cách mạng giải phóng ở các nước thuộc địa với cách mạng vô sản ở chính quốc… Luận cương có ảnh hưởng rất lớn đến sự hình thành thế giới quan cộng sản của Nguyễn Ái Quốc.

Việc tìm ra con đường cứu nước, con đường phát triển dân tộc của Nguyễn Ái Quốc có ý nghĩa lịch sử to lớn. Thứ nhất, đến với chủ nghĩa Mác – Lênin, với học thuyết chủ nghĩa xã hội khoa học, Nguyễn Ái Quốc đặt nền móng cho lý luận cách mạng Việt Nam trong thời kỳ mới, chấm dứt tình trạng khủng hoảng đường lối cứu nước kéo dài từ giữa thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX; tìm ra con đường phát triển đúng đắn cho dân tộc, phù hợp với trào lưu phát triển chung của nhân loại và xu thế của thời đại. Thứ hai, Nguyễn Ái Quốc đã đem ánh sáng của chủ nghĩa Mác – Lênin soi đường cho phong trào đấu tranh cách mạng ở trong nước, làm cho chủ nghĩa yêu nước vươn lên tầm thời đại và trở thành chủ nghĩa yêu nước Hồ Chí Minh. Thứ ba, tìm ra con đường cứu nước và phát triển cho dân tộc Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc đã có những đóng góp to lớn, chuẩn bị cho việc mở ra một giai đoạn phát triển mới của phong trào cách mạng vô sản nói chung, phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa và phụ thuộc trên thế giới nói riêng.

Trong hơn 80 năm lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng ta đã kế thừa và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; luôn tìm tòi, làm sáng tỏ hơn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) khẳng định: “Đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử”.

Hiện nay, các thế lực thù địch đang tấn công vào chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Chúng tìm mọi cách xuyên tạc, bôi nhọ cuộc đời, sự nghiệp và tư tưởng của Người với ý đồ đen tối “lật đổ thần tượng Hồ Chí Minh”, đánh vào nền tảng tư tưởng của Đảng ta, phủ nhận con đường cách mạng Việt Nam. Trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta là bảo vệ những giá trị bền vững của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên quyết đấu tranh bác bỏ mọi luận điệu thâm hiểm của các thế lực thù địch, phản động; tiếp tục nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn, phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong giai đoạn mới; vững bước đi theo con đường mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lựa chọn dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Quang Lợi (Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy)

snv.binhdinh.gov.vn

Cuộc hành trình của thời đại

ảnh minh hoạ

Ngày 5-6 cách đây 100 năm, Hồ Chí Minh ra đi tìm đường cứu nước. Thế giới kính trọng ghi nhận: “Hồ Chủ tịch, một biểu tượng xuất sắc về sự tự khẳng định dân tộc, đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam, góp phần vào cuộc đấu tranh chung của các dân tộc vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội”.

Từ những năm 1920, trên nhiều diễn đàn, Hồ Chí Minh được xem như biểu tượng của chủ nghĩa yêu nước, là một chiến sĩ tiên phong trên mặt trận giải phóng dân tộc, chống áp bức bất công. Con đường cứu nước của Người là một sáng tạo, một khát vọng cao cả. Người đem hết nghị lực cho công cuộc giải phóng công – nông. Từ con đường cứu nước độc đáo, sáng tạo của mình, Người đã gắn phong trào cách mạng Việt Nam với phong trào công nhân quốc tế, đưa nhân dân Việt Nam đi theo con đường mà chính Người đã trải qua, từ chủ nghĩa yêu nước đến chủ nghĩa Mác – Lê-nin.

Qua 30 năm bôn ba khắp thế giới, tiếp thu tinh hoa của nhân loại, Người không chỉ làm giàu trí tuệ, bản lĩnh của mình mà còn kiến tạo cho Việt Nam và thế giới một tương lai mới, một tương lai của hòa bình, hữu nghị, hợp tác. Dù đi qua con đường cứu nước đầy những gian nan, trắc trở nhưng Người vẫn bình tĩnh, vững vàng, chịu đựng một cách kiên cường, tự tại, bao dung. Người vừa bình dị vừa cao cả. Người là một tấm gương cho đức hy sinh vì dân, vì nước; là niềm tin, chỗ dựa của đất nước, của dân tộc. Di sản tư tưởng của Người là cứu cánh đưa Đảng thoát khỏi cuộc khủng hoảng sâu sắc về đường lối trong những năm cuối thế kỷ XX. William J.Duiker, giáo sư sử học Mỹ, tác giả tập Ho Chi Minh a life, Hyperion, một cuốn tiểu sử được coi là đầy đặn nhất đã được xuất bản ở Mỹ năm 2000, cho rằng con đường cứu nước Hồ Chí Minh là sự tìm lại cho Việt Nam một “quốc thể”, “một là độc lập dân tộc, hai là công bằng xã hội và kinh tế”. Con đường cứu nước của Hồ Chí Minh thiên tài “ở chỗ đã kết hợp được những giá trị của phương Tây với những giá trị của CNXH vào Việt Nam”.

Con đường cứu nước Hồ Chí Minh thể hiện một trí tuệ Hồ Chí Minh, từ lúc tìm đường, lựa chọn con đường đến sự dung hợp một cách xuất sắc giữa chủ nghĩa Mác với chủ nghĩa dân tộc và kiên trì đến cùng để thực hiện lý tưởng giải phóng dân tộc, làm cho mọi người dân ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành; xây dựng một đất nước công bằng, dân chủ, văn minh. Con đường cứu nước Hồ Chí Minh là sự sáng tạo của một nhà tư tưởng thông thái, tiếp thu những tinh hoa của nhân loại, kế thừa xuất sắc những giá trị, tư tưởng tiến bộ dân chủ tư sản của phương Tây, đã thực tiễn hóa lý luận chủ nghĩa Mác – Lê-nin bằng thắng lợi của cách mạng Việt Nam.

Ngày nay, nhiều học giả, nhà nghiên cứu phương Tây vẫn tiếp tục hành trình nghiên cứu, tìm hiểu lại con đường cứu nước Hồ Chí Minh. Bà Dominique de Miscault, Tổng Biên tập tạp chí Viễn cảnh Pháp – Việt, nói về con đường cứu nước Hồ Chí Minh: “Hồ Chủ tịch rất am hiểu về đất nước và dân tộc mình, một người yêu chuộng hòa bình, một học giả tiến bộ. Người đã chiến đấu và cuộc chiến đấu do Người lãnh đạo đã tạo nên sự vĩ đại của dân tộc Việt Nam, vì dân tộc này đã chiến thắng. Đây là di sản diệu kỳ nhất mà Hồ Chí Minh đã để lại cho dân tộc Việt Nam”.

Nguồn: baobinhduong.org.vn (TT)

tuoitrebinhduong.vn

Tinh thần Nguyễn Tất Thành – bài học về lý tưởng cho tuổi trẻ

Bến Nhà Rồng nơi người thanh niên Nguyễn Tất Thành xuống tàu tìm đường cứu nước

Ngày 5-6 một thế kỷ trước, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành, sau này là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra nước ngoài tìm con đường cứu nước, giải phóng dân tộc khỏi ách nô lệ thực dân phong kiến. Cuộc hành trình ấy là bài học về lý tưởng cho thanh niên ngày nay, để mỗi bạn trẻ thể hiện tình cảm, tâm huyết của mình, đóng góp trí tuệ, tài năng xây dựng quê hương đất nước “sánh vai với các cường quốc năm châu” như tâm nguyện của Người lúc sinh thời.

Cập nhật ngày: 04/06/2011 15:05:03

Trách nhiệm đưa Việt Nam trở thành nước giàu mạnh phụ thuộc vào tinh thần dám dấn thân của thế hệ trẻ hôm nay

Giáo sư – Tiến sĩ Đỗ Quang Hưng (Đại học Quốc gia Hà Nội) cho rằng, quyết định sang phương Tây tìm đường cứu nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh 100 năm trước đã cho chúng ta một bài học lớn: Sự sống còn của một dân tộc phụ thuộc căn bản ở quyết tâm vượt qua chính mình. Người chọn một hướng đi riêng cho mình là đi vào nơi có những cuộc cách mạng tư sản điển hình, có nền khoa học kỹ thuật phát triển – để học hỏi rồi trở về giúp đồng bào mình. Việc chọn sang phương Tây khi con đường cứu nước của nhiều vị cách mạng tiền bối đều bị bế tắc, đã thể hiện bản lĩnh độc lập và tư duy sáng tạo của người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành.

Theo Giáo sư – Tiến sĩ Đỗ Quang Hưng: “Cách mà Nguyễn Tất Thành chọn con đường đi là sự kết hợp của việc một người lao động, một người dân bình thường với hoài bão của một thanh niên yêu nước, muốn tìm đường cứu nước. Điều đáng nói là Người đã chấp nhận con đường đi riêng, hết sức thử thách cam go và cũng chưa rõ kết quả sẽ ra sao, nhưng động lực thôi thúc Người chính là tình yêu nước, yêu đồng bào. Tuy nhiên, cũng cần phải nói đây chính là tính cách, ý chí khám phá, khát khao vươn tới đỉnh cao của văn minh và trí tuệ nhân loại, muốn học hỏi nhiều hơn những gì mình có của Nguyễn Tất Thành. Chính tính cách cá nhân (là dũng khí, sự dấn thân) cộng với đại nhân cách (là tình yêu nước, yêu dân tộc) mới tạo nên bước quyết định này”.

Hai mươi mốt tuổi, với lòng nhiệt thành của tuổi trẻ và hành trang là bầu máu nóng sục sôi lòng yêu quê hương đất nước, Nguyễn Tất Thành ra đi tìm con đường chân lý một cách âm thầm, lặng lẽ. Để làm được điều đó phải có lòng quyết tâm mạnh mẽ, dám nghĩ dám làm, dám dấn thân, nhất là trong bối cảnh xã hội lúc bấy giờ.

Giáo sư – Tiến sĩ Dương Phú Hiệp, nguyên Tổng Thư ký Hội đồng Lý luận trung ương cho rằng, ở Nguyễn Tất Thành – Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh hội đủ những yếu tố cần thiết cho sự dấn thân vào quá trình tìm đường, mở đường, dẫn đường cho dân tộc Việt Nam đi theo. Đó là: ý chí lớn lao, tinh thần ham học hỏi, sẵn sàng vượt qua gian khó, tự nguyện hòa vào cuộc sống của giai cấp cần lao để trực tiếp cảm nhận về thời cuộc… Đến nước nào, Người cũng làm việc để kiếm sống và hoạt động. Đi đến đâu, Người cũng tự nghiên cứu, tự học. Cả cuộc đời Người là bài học về sự tu dưỡng, rèn luyện, coi cuộc sống là bài học sống động cho mình, coi khó khăn là “lửa thử vàng, gian nan thử sức”, tất cả chỉ vì một mục tiêu lý tưởng là giành “Độc lập cho Tổ quốc, tự do cho đồng bào”.

Giáo sư – Tiến sĩ Dương Phú Hiệp nói: “Hồ Chí Minh xây dựng cho thanh niên giá trị “Không có việc gì khó/ Chỉ sợ lòng không bền/Đào núi và lấp biển/ Quyết chí ắt làm nên”. Những giá trị, bài học này được rút ra từ chính cuộc đời hoạt động cách mạng của Người, từ khi người thanh niên Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước, vượt qua biết bao gian khổ, phải làm đủ các nghề: xúc tuyết, bồi bàn, rửa ảnh, viết báo… rồi sau này phải chịu cả tù đày. Gian khổ như vậy nhưng Người không rời ý chí của mình, quyết tâm và nghị lực phi thường vì một khát vọng cháy bỏng là giải phóng dân tộc, để mọi người dân “ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”.

Nếu như 100 năm trước, Nguyễn Tất Thành chỉ nghĩ đến lợi ích của bản thân với những “giấc mơ con”, thì đã không có cuộc trở về mùa xuân năm 1941 để Cách mạng Việt Nam có một vị lãnh tụ thiên tài, đức độ lãnh đạo nhân dân làm nên thắng lợi vĩ đại của Cách Mạng tháng 8 năm 1945, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa – nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á, mở ra kỷ nguyên mới – kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.

Sự nghiệp giải phóng dân tộc khỏi ách nô lệ, đưa nhân dân lầm than thành người chủ đất nước – người thanh niên Nguyễn Tất Thành đã trọn đời cống hiến. Nhưng trách nhiệm đưa Việt Nam trở thành nước giàu mạnh, sánh ngang với các cường quốc trên thế giới, tất cả phụ thuộc vào tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám dấn thân của thế hệ trẻ hôm nay.

Phó Giáo sư – Tiến sĩ Nguyễn Thế Thắng, Trưởng khoa Tư tưởng Hồ Chí Minh, Học viện Chính trị – Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh cho rằng: Ngày nay, nước nhà độc lập rồi, thì thanh niên phải cảm thấy cái nghèo, cái tụt hậu của mình là một nỗi nhục không kém gì nỗi nhục mất nước. Bác Hồ đã nói: “Thắng được phong kiến, đế quốc còn là dễ; thắng được bần cùng lạc hậu khó hơn nhiều”. Cho nên bây giờ, yêu nước là thanh niên phải dám hướng tầm nhìn ra thế giới, quyết tâm học tập, chinh phục những đỉnh cao của khoa học công nghệ, hoặc trên lĩnh vực của mình thì tìm được đường đi mới có hiệu quả cao hơn, với tinh thần không ngại khó, không ngại khổ. Chỉ có làm được như vậy, thì thanh niên mới góp phần vào sự nghiệp dân giàu, nước mạnh.

Một thế kỷ đi qua, đất nước đã hòa bình, độc lập, tự chủ và phát triển; nhưng khát vọng đưa Việt Nam “sánh vai với các cường quốc năm châu” vẫn luôn là niềm thôi thúc bao lớp thanh niên hôm nay tiếp tục học tập, rèn luyện, phấn đấu không ngừng. Trong hành trình đưa đất nước tiến lên, tinh thần độc lập tự chủ, bản lĩnh dám nghĩ dám làm, dám dấn thân của người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành – Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn mãi là bài học quý báu để thế hệ trẻ hôm nay vững vàng niềm tin trong hành trình lập thân, lập nghiệp.

Nguồn: baobinhduong.org.vn (xp)

tuoitrebinhduong.vn

Hành trình tìm đường cứu nước và những chuyển biến trong nhận thức về con đường giải phóng dân tộc của Nguyễn Tất Thành – Nguyễn Ái Quốc

Hành trang ban đầu của Nguyễn Tất Thành khi ra nước ngoài là tri thức về văn hóa phương Đông và phương Tây, lòng yêu nước nhiệt thành, tiếp thu có chọn lọc con đường cứu nước của các nhà yêu nước lớp trước và một dự định rõ rệt, lớn lao, đó là “xem nước Pháp và các nước khác, sau khi xem xét họ làm như thế nào, tôi sẽ trở về giúp đồng bào ta”.

Ngày 5 tháng 6 năm 1911, trên con tàu “Đô đốc Latouche Tréville”, từ bến cảng Nhà Rồng của Thành phố Sài Gòn, Nguyễn Tất Thành đã lên đường sang Pháp. Người làm bất cứ việc gì để sống và hoạt động (phụ bếp dưới tàu, làm bánh trong các khách sạn, cào tuyết, đốt lò, chụp ảnh…). Gần mười năm, vừa lao động kiếm sống, vừa tiến hành khảo sát thực tiễn nhiều nước tư bản và các nước thuộc địa, khảo sát các cuộc cách mạng ở các nước Pháp, Anh, Mỹ…

Nguyễn Tất Thành đã có nhận thức quan trọng là: cách mạng tư sản là những cuộc cách mạng vĩ đại, nhưng là những cuộc cách mạng chưa đến nơi. Nó đã phá tan gông xiềng phong kiến cùng những luật lệ hà khắc và những ràng buộc vô lý để giải phóng sức lao động của con người. Cách mạng tư sản xây dựng lên một chế độ mới tiến bộ hơn xã hội phong kiến. Nhưng cách mạng xong rồi dân chúng vẫn khổ, vẫn bị áp bức, bóc lột và vẫn mưu toan làm cách mạng.

Từ đó, Người đi đến kết luận, chúng ta đổ xương máu để làm cách mạng thì không đi theo con đường cách mạng này. Nguyễn Tất Thành đã tìm ra những mặt trái của xã hội phương Tây, nhận ra “ở đâu cũng có người nghèo khổ như xứ sở mình” do ách áp bức, bóc lột dã man, vô nhân đạo của bọn thống trị. Điều đó đã giúp Người có một nhận thức quan trọng: nhân dân lao động trên toàn thế giới cần đoàn kết lại để đấu tranh chống kẻ thù chung là giai cấp thống trị cùng nhau thực hiện nguyện vọng chung là độc lập, tự do.

Sống hoà mình cùng nhân dân lao động và phong trào đấu tranh của công nhân Pháp, Nguyễn Ái Quốc say sưa hoạt động cách mạng, viết báo, hội họp, tuyên truyền, cổ động. Năm 1917, Nguyễn Tất Thành tham gia hoạt động trong phong trào của những người Việt Nam yêu nước tại Pháp. Thành công của Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 có ảnh hưởng rất lớn đến tình cảm và nhận thức của Người.

Đầu năm 1919, Nguyễn Tất Thành tham gia Đảng Xã hội Pháp. Ngày 18-6-1919, với tên Nguyễn Ái Quốc, Người thay mặt những người Việt Nam yêu nước tại Pháp gửi bản yêu sách tới Hội nghị Vécxây yêu cầu về quyền tự do, dân chủ, bình đẳng dân tộc cho nhân dân An Nam. Tám yêu cầu không được chấp nhận, nhưng đã vạch trần bản chất giả dối của các cường quốc thống trị, đồng thời cũng đem lại cho Nguyễn Ái Quốc một nhận thức tỉnh táo là các dân tộc muốn được giải phóng chỉ có thể dựa vào sức lực của bản thân mình.

Ra đi tìm đường cứu nước với tuổi đời còn rất trẻ và từ một xã hội thuộc địa, nửa phong kiến, lúc đó Nguyễn Ái Quốc chưa có một ý niệm rõ ràng về giai cấp, đấu tranh giai cấp, đảng chính trị, chủ nghĩa Mác-Lênin… Từ những hoạt động thực tiễn trên và đọc “Sơ thảo lần thứ nhất luận cương về các vấn đề dân tộc và thuộc địa” của V.I.Lênin đăng trên báo L’Humanité tháng 7-1920, Người đã đến với chủ nghĩa Mác-Lênin. Trong bối cảnh bấy giờ, có nhiều trí thức Việt Nam sống tại Pháp, nhưng Người đã thể hiện tính vượt trội của tư tưởng khi nhận ra được chân lý lớn nhất của thời đại. Luận cương đã giải đáp cho Nguyễn Ái Quốc những băn khoăn về con đường giành độc lập, tự do cho dân tộc, trả lời câu hỏi ai là người lãnh đạo, lực lượng tham gia và mối quan hệ giữa cách mạng giải phóng ở các nước thuộc địa với cách mạng vô sản ở chính quốc… Luận cương đã ảnh hưởng rất lớn đến sự hình thành thế giới quan cộng sản của Nguyễn Ái Quốc.

Quá trình tiếp thu chủ nghĩa Mác-Lênin của Nguyễn Ái Quốc ngày càng có hệ thống và hoàn thiện khi Người tham gia Đảng Cộng sản Pháp, học tập ở Đại học phương Đông, sống trong không khí sục sôi ở trung tâm phong trào cộng sản ở Nga, hoạt động trong Quốc tế Cộng sản. Nhận thức của Người về sức mạnh của nhân dân lao động thế giới, về mối quan hệ giữa các dân tộc bị áp bức, giữa cách mạng ở các nước thuộc địa và các nước chính quốc trong cuộc đấu tranh chống đế quốc, vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản của giai cấp công nhân, về chính quyền cách mạng và sử dụng bạo lực cách mạng… ngày càng sâu sắc và có những luận điểm bổ sung, phát triển, sáng tạo.

Sự kiện Nguyễn Ái Quốc bỏ phiếu tán thành Quốc tế Cộng sản và tham gia thành lập Đảng Cộng sản Pháp tháng 12-1920 là một mốc lịch sử quan trọng trong hành trình đi tìm đường cứu nước của Người, đánh dấu bước chuyển biến quyết định, nhảy vọt, thay đổi về chất trong nhận thức tư tưởng và lập trường chính trị của Người – từ một nhà yêu nước chân chính trở thành một chiến sĩ cộng sản. Đồng thời, sự kiện đó cũng đánh dấu một bước ngoặt lịch sử vĩ đại của cách mạng Việt Nam, mở đầu quá trình kết hợp đấu tranh giai cấp với đấu tranh dân tộc, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, tinh thần yêu nước chân chính với chủ nghĩa quốc tế vô sản. Từ đây, cách mạng Việt Nam bắt đầu đi vào quỹ đạo của cách mạng vô sản. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, con đường cách mạng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội bắt đầu hình thành.

Đầu năm 1924, Nguyễn Ái Quốc về Quảng Châu (Trung Quốc). Tại đây, Người bắt đầu xây dựng những nhân tố bảo đảm cho cách mạng Việt Nam: truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin vào Việt Nam, khơi dậy tinh thần đấu tranh của các tầng lớp nhân dân, xây dựng tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam, phát triển lực lượng cách mạng… Việc Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Điều lệ vắn tắt do Người dự thảo được thông qua tại Hội nghị hợp nhất, chứng tỏ đến 1930, tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc về con đường cách mạng Việt Nam đã được hình thành cơ bản.

Sau hơn 30 năm xa Tổ quốc, ngày 28-1-1941, Nguyễn Ái Quốc trở về nước để trực tiếp lãnh đạo cuộc đấu tranh cách mạng. Một trang mới mở ra trong cuộc đời cách mạng của Người và cũng là bước ngoặt mới cho cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc Việt Nam.

* Việc tìm ra con đường cứu nước, con đường phát triển của dân tộc của Nguyễn Ái Quốc có ý nghĩa lịch sử to lớn, đó là:

Đến với chủ nghĩa Mác-Lênin, với học thuyết chủ nghĩa xã hội khoa học, Nguyễn Ái Quốc đã đặt nền móng cho lý luận cách mạng Việt Nam trong thời đại mới; chấm dứt khủng hoảng đường lối cứu nước triền miên từ giữa thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX; tìm thấy đường lối phát triển đúng đắn cho dân tộc, phù hợp với trào lưu tiến hoá chung của nhân loại và xu thế của thời đại.

Hồ Chí Minh đã đem ánh sáng chủ nghĩa Mác-Lênin soi đường cho phong trào yêu nước, chủ nghĩa yêu nước truyền thống Việt Nam, làm cho chủ nghĩa yêu nước vươn lên tầm thời đại, trở thành chủ nghĩa yêu nước Hồ Chí Minh, mà sau này biểu tượng sáng chói trong hai cuộc kháng chiến lừng lẫy của dân tộc chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, trong công cuộc tái thiết và phát triển đất nước theo con đường đi lên chủ nghĩa xã hội.

Với việc tìm ra con đường cứu nước, phát triển của dân tộc Việt Nam, Hồ Chí Minh đã đóng góp to lớn, thiết thực chuẩn bị cho việc mở ra một giai đoạn phát triển mới của phong trào cách mạng vô sản nói chung, phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa và phụ thuộc trên thế giới và châu Á nói riêng.

T.S

(Theo Ban Tuyên giáo Trung ương)

baobacninh.com.vn