Thư viện

Kiên trì vận động viện trợ quốc tế

Lòng yêu nước, sự anh dũng vô song vốn được hun đúc qua hàng nghìn năm lịch sử của dân tộc, và sự lãnh đạo sáng suốt, tài tình của Đảng Cộng sản Việt Nam là những nhân tố chính để tạo nên chiến thắng vĩ đại 30-4-1975. Bên cạnh đó, để cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đi đến thắng lợi cuối cùng không thể không kể đến sự trợ giúp chí nghĩa, chí tình về cả vật chất lẫn tinh thần của bạn bè quốc tế dành cho Việt Nam.

Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương do Tổng bí thư Lê Duẩn trình bày tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV (1976) đã khẳng định: “Bằng những sách lược linh hoạt, khôn khéo và sáng tạo, chúng ta đã gắn kết sức mạnh dân tộc với sức mạnh của thời đại, ra sức tranh thủ sự đoàn kết và ủng hộ quốc tế nhằm xây dựng và bảo vệ miền Bắc XHCN và cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà ở miền Nam, tranh thủ được sự giúp đỡ to lớn về tinh thần và vật chất của Liên Xô, Trung Quốc và các nước XHCN anh em, các lực lượng tiến bộ và yêu chuộng hoà bình trên toàn thế giới”.

Cuộc đọ sức giữa nhân dân Việt Nam và đế quốc Mỹ xâm lược là “cuộc đụng đầu lịch sử” giữa một dân tộc yêu chuộng hòa bình với một đế quốc có diện tích, tiềm lực kinh tế, quốc phòng lớn hơn gấp nhiều lần. Để giành thắng lợi, Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Chúng ta cần nắm vững phương châm dựa vào sức mình là chính, nhưng đồng thời, chúng ta hết sức tranh thủ sự đồng tình và ủng hộ của các nước XHCN, của các dân tộc Á, Phi, Mỹ La-tinh và của nhân dân thế giới, kể cả nhân dân Mỹ”. Với phương châm đó, chúng ta đã chủ động triển khai từ rất sớm công tác tranh thủ sự đồng tình ủng hộ của các nước trên thế giới, nhất là Liên Xô, Trung Quốc.

“Bối cảnh quốc tế phức tạp lúc bấy giờ khiến công việc ngoại giao nói chung và công tác vận động viện trợ gặp không ít khó khăn. Câu hỏi đặt ra là làm thế nào để tranh thủ được sự ủng hộ của cả hai nước đồng minh lớn nhất?”, nguyên Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Trần Quang Cơ nói. Dù năm nay đã 83 tuổi, song nhà ngoại giao lão luyện này vẫn nhớ rõ sách lược tài tình của Đảng: “Cách làm khi đó là trung hòa các ý kiến, kiên trì đường lối của ta, là đường lối độc lập tự chủ phải đi đôi với đoàn kết quốc tế. Nếu độc lập tự chủ mà không đi đôi với đoàn kết quốc tế thì cũng không đạt được mục đích. Bởi vì có độc lập tự chủ thì mới theo và giữ đúng định hướng đường lối của ta, và có đoàn kết quốc tế mới tranh thủ được sự giúp đỡ của các nước”.

Phương án vận động viện trợ đã được Trung ương Đảng và Bộ Chính trị thảo luận kỹ càng. Năm 1965, Đoàn công tác vận động viện trợ chính thức được thành lập. Ủy viên Bộ Chính trị, Phó thủ tướng Lê Thanh Nghị được giao phụ trách chính. Thành phần đoàn tham gia vận động có lãnh đạo Ủy ban Kế hoạch nhà nước, Bộ Ngoại thương, Bộ Quốc phòng… và một số ngành khác.

Công việc của Đoàn là tới các nước cần vận động viện trợ thông báo tình hình chiến sự tại ViệtNam để bạn bè quốc tế hiểu rõ tình hình, giới thiệu đường lối chính sách của Việt Nam để tranh thủ sự đồng tình cao của bạn.

Ông Hồ Văn Nghiêm, nguyên là Trưởng phòng các nước XHCN, Cục Kinh tế-Đối ngoại thuộc Ủy ban Kế hoạch nhà nước, đồng thời là phiên dịch cho đồng chí Lê Thanh Nghị, nhớ lại: “Đoàn thường gặp gỡ đầy đủ lãnh đạo cả bên Đảng và Chính quyền của các nước XHCN. Thời gian đầu việc vận động xin viện trợ tương đối thuận lợi. Tuy nhiên, sau đó không phải không gặp khó khăn. Phía Mỹ cũng tìm cách lôi kéo, sử dụng thủ thuật ngoại giao để ngăn cản các nước bạn bè truyền thống của ta viện trợ cho ta. Công việc của Đoàn là phải đưa ra hình thức thuyết phục nào cho hợp tình hợp lý, đạt được mục tiêu của ta, tranh thủ tối đa sự viện trợ của quốc tế, đặc biệt từ hai nước XHCN lớn là Liên Xô và Trung Quốc”.

Ông Hồ Văn Nghiêm cho hay, để các nước chấp nhận viện trợ cho ta, khâu chuẩn bị nội dung tài liệu trong các báo cáo trình bày các cuộc gặp gỡ, đàm phán là vô cùng quan trọng. Nội dung các bài phát biểu của lãnh đạo đoàn ta vạch rõ âm mưu của Mỹ sẽ tiếp tục mở rộng chiến tranh tại Việt Nam. Khẳng định quyết tâm của ta là sẽ đánh và sẽ thắng Mỹ, nhưng còn gặp nhiều khó khăn nên đề nghị được viện trợ vũ khí.

“Trong các chuyến đi với đồng chí Lê Thanh Nghị, tôi đặc biệt ấn tượng với sự kiên trì, mềm dẻo mà vô cùng linh hoạt của đồng chí để đạt được mục tiêu đề ra. Gặp tình huống khó khăn, phía bạn chưa chấp nhận ở mức viện trợ cao, đồng chí Lê Thanh Nghị kiên trì thuyết phục, nêu rõ tính khoa học, lô-gic trong các đề án xin viện trợ. Khi phía bạn vẫn chưa đồng ý, tôi thấy rõ tâm trạng bồn chồn, sự ưu tư, suy nghĩ của đồng chí Lê Thanh Nghị. Thậm chí, có những hôm, tôi thấy đồng chí Lê Thanh Nghị đã thức trắng đêm để nghĩ cách. Đồng chí Lê Thanh Nghị nói với tôi rằng, cách duy nhất để hóa giải những khó khăn, tìm nguồn viện trợ quý giá về cho đất nước là phải tìm cách thuyết phục họ. Trong quá trình đàm phán với Liên Xô, khi chưa đạt yêu cầu, đồng chí Nghị đã rất linh hoạt đề ra kế “hoãn binh”. Sau khi chưa đạt được kết quả như mong muốn, đồng chí Lê Thanh Nghị đã đề nghị phía Liên Xô tạm hoãn việc ký các điều khoản cho lần viện trợ này và chúng tôi sẽ tranh thủ tới nước khác. Sau khi trở lại, phía bạn đã có thời gian suy nghĩ thấu đáo hơn, chấp nhận đề nghị của ta. Sự kiên trì của đồng chí Lê Thanh Nghị đã trở thành bài học lớn để chúng tôi học tập trong quá trình đàm phán sau này…” – ông Nghiêm nhớ lại.

Các nước dành viện trợ cho Việt Nam cả hàng quốc phòng lẫn kinh tế. Tỉ lệ hàng quốc phòng cao hơn hàng kinh tế. Viện trợ quốc phòng thường không tính tiền, các loại hàng hóa khác được tính theo giá vay ưu đãi. Hàng quốc phòng bao gồm vũ khí, khí tài phục vụ chiến đấu như máy bay chiến đấu, tên lửa, pháo, súng, cối… Liên Xô thường giúp vũ khí hạng nặng, Trung Quốc và các nước khác chủ yếu viện trợ cho ta các loại vũ khí hạng nhẹ như súng ống, nhu yếu phẩm… Ba Lan viện trợ thuốc nổ, Tiệp Khắc là vũ khí hạng nhẹ, Đức viện trợ hàng tiêu dùng, nhu yếu phẩm… Ngoài vũ khí, các nước còn viện trợ phương tiện ô-tô vận tải, các máy ủi làm đường, các loại máy làm đường được dùng nhiều trong đường Trường Sơn (Cu-ba mua của Nhật Bản để viện trợ cho Việt Nam)… Các thiết bị phục vụ như thiết bị làm cầu, làm đường, hàng dân dụng để duy trì phát triển sản xuất như phân bón, bông, lương thực, một số loại thực phẩm…

“Sự thành công của các chuyến công tác vận động viện trợ không thể không kể đến tác động tích cực từ các chiến thắng của ta trên chiến trường. Đó là những minh chứng rõ ràng nhất cho quyết tâm của chúng ta, làm cho lãnh đạo các nước XHCN cũng như người dân các nước sở tại đều tin vào chiến thắng cuối cùng của dân tộc Việt Nam”, ông Hồ Văn Nghiêm nói. Hàng triệu súng bộ binh, hơn 1.000 xe tăng, hơn 8.000 khẩu pháo các loại, hơn 10.000 quả đạn tên lửa, hơn 200 tàu hải quân, hơn 450 máy bay… từ Liên Xô, Trung Quốc và các nước bạn bè đã tiếp lực giúp quân và dân Việt Nam lập những chiến công hiển hách để đi tới ngày toàn thắng.

Thành quả của cách mạng Việt Nam không tách rời sự ủng hộ, giúp đỡ của bạn bè quốc tế, đặc biệt là Liên Xô, Trung Quốc. Và, một điều chắc chắn rằng, sự ủng hộ, giúp đỡ có hiệu quả đó bắt nguồn từ chính nghĩa sáng ngời của cuộc kháng chiến, từ đường lối, chính sách ngoại giao, đường lối quốc tế đúng đắn, sáng tạo của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh. “Khi đến các nước, đoàn chúng tôi có hỏi người dân là tại sao lại vui vẻ chấp nhận giúp Việt Nam? Có một câu trả lời chung: Đơn giản vì chúng tôi tin rằng, cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc Việt Nam là chính nghĩa”, ông Hồ Văn Nghiêm kể.

NGUYỄN HOÀ-BẢO TRUNG
qdnd.vn

Rừng che bộ đội, rừng vây quân thù

Đã 87 tuổi Trung tướng Đồng Sĩ Nguyên, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Tư lệnh Bộ đội Trường Sơn – Đường Hồ Chí Minh vẫn đau đáu với rừng. Ông yêu rừng như yêu chính cuộc đời ông. Mấy hôm nay ông mệt, ho nhiều, mặc dù khước từ nhiều báo xin đến phỏng vấn, nhưng ông vẫn dành cho phóng viên Báo Quân đội nhân dân cuộc trao đổi rất sâu sắc xoay quanh vị trí quan trọng của rừng trên con đường Trường Sơn huyền thoại, nhân tiến tới kỷ niệm 35 năm giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.

Tôi theo thơ Tố Hữu vào bộ đội

Trung tướng Đồng Sĩ Nguyên. Ảnh: Internet

Ông hẹn trên máy, tiếp tôi vào 8 giờ 30 phút ngày 23-3. Trước khi đi tôi gọi điện lại xin ý kiến ông. Ông nói:

– Đúng 8 giờ 30 phút đồng chí đến nhé.

Kinh nghiệm nghề nghiệp mách bảo tôi ông là người làm việc rất nguyên tắc, nên 8 giờ 20 phút tôi đã có mặt ở 54 phố Nguyễn Bỉnh Khiêm, Thành phố Hà Nội (nhà riêng của ông). Cổng vẫn im ỉm khóa, tôi đứng chờ và đúng 8 giờ 30 phút thì cổng mở. Đồng chí cán bộ giúp việc dẫn tôi vào phòng khách, nơi ông chuẩn bị ngồi trao đổi với tôi. Mọi thứ trong nhà giản dị, nhưng ngăn nắp, nổi bật là hai bàn thờ, một bàn thờ ở chính giữa ông thờ mẹ ông và một bàn thờ ở bên phải thờ con trai thứ năm của ông, Liệt sĩ, Thượng úy, sĩ quan Pháo binh Nguyễn Tiến Quân.

Trên bàn, ông đã để sẵn tuyển tập thơ Tố Hữu. Bước từ phòng trong ra, ông nói:

– Từ hôm các đồng chí gọi điện, nhắc đến câu thơ nổi tiếng của Tố Hữu ca ngợi rừng làm tôi không ngủ được. Đúng ra là tôi mong đến ngày được gặp các đồng chí để trao đổi vị trí quan trọng của rừng với cuộc sống chúng ta, chứ không chỉ “rừng che bộ đội, rừng vây quân thù”.

Dừng vài khắc, ông nói:

– Ta bắt đầu bằng thơ Tố Hữu nhé?

Quả thực tôi bị lúng túng trước câu nói của ông. Như hiểu ý tôi ông nói:

– Nếu thế hệ trẻ bây giờ không hiểu đầy đủ tầm tư tưởng của thơ Tố Hữu thì lỗi chính có khi lại ở thế hệ chúng tôi. Ngày ấy chúng tôi mới 15, 16 tuổi, đi học đứa nào cũng có trong túi 5,7 bài thơ Tố Hữu và “mê” thơ Tố Hữu như điếu đổ. Tôi theo cách mạng từ năm 1938, gia nhập quân đội tháng 12-1947 chính là nhờ đọc thơ Tố Hữu đấy. Hôm nay không phải bình luận về thơ Tố Hữu, mà tôi cũng không đủ trình độ để làm việc đó. Nhưng tôi phải nói với đồng chí rằng, Tố Hữu đã chuyển tải tư tưởng tiên tiến của thời đại, lòng yêu sâu thẳm đối với nhân dân, với Đảng, với Tổ quốc, với Bác Hồ vĩ đại thông qua nghệ thuật tinh xảo của thơ. Tố Hữu là con chim đầu đàn vạch hướng cho cả nền thơ ca cách mạng. Thơ Tố Hữu là chỗ dựa tâm hồn cho mọi người, nhưng đặc biệt là bộ đội. Tôi còn nhớ khi được nghe câu thơ “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước/ mà lòng phơi phới dậy tương lai” thì bộ đội Trường Sơn chúng tôi như được tiếp thêm một sức mạnh thần kỳ và chỉ sau 3 ngày câu thơ ấy được viết trang trọng trên tất cả các phương tiện của bộ đội Trường Sơn…

Đang đọc cho tôi nghe những câu thơ Tố Hữu viết về bộ đội, ông đột ngột hỏi:

– Này đồng chí, tôi không hiểu sao cho đến nay Hà Nội vẫn chưa có con đường mang tên Tố Hữu nhỉ.

Do công việc mà tôi được gặp ông một số lần, nhưng đây là lần đầu tiên được nghe ông nói về ảnh hưởng của thơ Tố Hữu với bộ đội ta.

– Thôi bây giờ ta chuyển sang đề tài rừng nhé – Ông nhấp một ngụm nước, nói to, rành mạch như nói trong hội nghị.

Nếu không có rừng!

Ông vẫn bắt đầu bằng thơ Tố Hữu:

– Thơ Tố Hữu khái quát: “Rừng che bộ đội, rừng vây quân thù”. Có lần ra họp Trung ương Tố Hữu nói với tôi, câu thơ đó ông lấy cảm hứng từ chiến dịch Việt Bắc… Nói là “Rừng che bộ đội, rừng vây quân thù” nhưng với điều kiện là ta phải biết giá trị của rừng, biết lợi dụng rừng, vì hai bên (địch, ta – PV) đều muốn có rừng để ngụy trang, cất giấu lực lượng che mắt đối phương. Tôi, hay bất cứ người cầm quân nào cũng có thể chứng minh được điều đó bằng những dẫn chứng rất sinh động qua các trận đánh, chiến dịch lớn trong lịch sử quân sự Việt Nam, nhưng theo yêu cầu của Báo Quân đội nhân dân hôm nay tôi chỉ nói rừng đã che chở bộ đội Trường Sơn như thế nào.

Dường như ông khỏe hơn, thông tuệ hơn, lãng mạn hơn, trẻ trung hơn khi kể cho tôi nghe những sự kiện liên quan đến “rừng” trên con đường Trường Sơn huyền thoại:

– Chiến dịch Đường 9 – Nam Lào đầu năm 1971, nhờ có rừng, nhất là rừng tầng tầng, lớp lớp bên nước bạn Lào mà ta đã ngụy trang thành công 5 trung đoàn cao xạ, 1 trung đoàn tên lửa bắn hạ 550 máy bay trực thăng mà địch vẫn không phát hiện được nơi cất giấu pháo của quân ta.

Tôi tra cứu trong các tài liệu quân sự thì trận thua này của địch đã gây sự chú ý đặc biệt đến các nhà quân sự trên thế giới, nhất là phe đối phương đều nhận xét một cách hình ảnh: Rừng Việt Nam đã đánh bại Cuộc hành quân “Lam Sơn 719” – Cuộc đổ bộ được chuẩn bị công phu nhất của ngụy quyền Sài Gòn, dưới sự yểm trợ của quân đội Mỹ ở chiến trường miền Nam Việt Nam…

Trung tướng Đồng Sĩ Nguyên rút trong trí nhớ kể cho tôi chiến thuật bắn những tốp máy bay địch đầu tiên của bộ đội ta trong Chiến dịch đã làm Mỹ hoàn toàn bất ngờ và cho đến nay cũng chưa được công bố:

– Biết kế hoạch đổ bộ của địch bằng máy bay trực thăng, chúng tôi đã báo cáo với anh Văn Tiến Dũng, Tổng Tham mưu trưởng, trực tiếp chỉ huy chiến trường miền Nam lúc đó, để bộ đội ngụy trang leo lên các cây cổ thụ dùng súng trường đặt đúng đường bay để tiêu diệt máy bay địch. Vậy là 36 chiếc trực thăng đầu tiên của địch bay vào đổ quân lên cao điểm 600 phía Nam đường 9 trên đất bạn Lào, đã bị bộ đội ta bắn rơi 35 chiếc, làm cho địch hết sức hoang mang, chọn đường bay khác bay cao hơn thì lại bị cao xạ và tên lửa của ta giấu trong rừng chờ sẵn tiêu diệt.

Ông nhấn mạnh:

– Nếu không có rừng, nhất là nếu không có những cây cổ thụ to, những tán cây 5 tầng lá trong rừng Lào thì bộ đội ta không thể “bám thắt lưng địch mà đánh” được như thế.

Ông cho biết, đối phó với rừng, từ sau thất bại ở Chiến dịch Đường 9 – Nam Lào, địch bỏ hẳn máy bay trực thăng, dùng những loại máy bay hiện đại nhất lúc bấy giờ, đặc biệt là AC-130 (Pháo đài trên không) để vận tải và dùng loại đạn 30 ly, 40 ly bắn từ trên cao xuống đường 12, con đường vận tải chiến lược của ta. Loại máy bay này bay cao, không quay vòng nên các loại pháo của ta bắn rất khó.

… Hai tháng đầu Bộ đội vận tải Trường Sơn bị thiệt hại khá lớn, làm cho ông mất ăn mất ngủ nhiều ngày. Ông nhớ lại ngày đó, có đêm ông thức trắng, nhìn vào rừng Trường Sơn thăm thẳm, nghĩ đến những chiến dịch lớn trong kháng chiến chống Pháp như: Chiến dịch Hoàng Hoa Thám, Trung Du, Điện Biên Phủ… bộ đội ta đều phải tác chiến trong rừng, nhử địch vào rừng để tiêu diệt… Vậy tại sao đóng quân trong rừng Trường Sơn bạt ngàn thế này lại thua địch? Và ông đã quyết định báo cáo với cấp trên dùng 4 trung đoàn công binh cơ động, mở ngay hai con đường dã chiến chạy song song (một đường cho xe vào, một đường cho xe ra) xuyên rừng Trường Sơn dài 850km, nối từ đường 12 đến Ngã ba Biên giới với yêu cầu nghiêm ngặt là tuyệt đối không được chặt hạ bất cứ cây rừng nào. Những đoạn chưa có cây thì trồng ngay tre che kín cuộn lại như đường hầm… Nhờ có rừng che phủ mà trên con đường này các loại xe vận tải của ta chuyển từ chạy ban đêm sang chạy ban ngày, mà địch vẫn không hề phát hiện được, trở thành đường vận tải chính chở quân và hàng hóa vào chi viện cho chiến trường miền Nam. Sau này đường được phát triển nối dài ra các con đường xương cá vào đến tận chiến trường Nam Bộ. Do xe đi được ban ngày nên đã rút thời gian mỗi chuyến vận tải từ 15 đến 20 ngày đêm trước đây xuống chỉ còn 3 ngày, sau đường được củng cố tốt hơn thì chỉ mất 2 ngày.

Vậy là rừng không chỉ “che bộ đội” mà che được cả những đoàn xe hàng trăm chiếc. Rừng không chỉ “vây” mà còn “bịt mắt” quân thù. Đó là chưa nói những khu kho chiến lược, bệnh viện, trạm phẫu thuật dã chiến, những doanh trại của bộ đội ta cũng đều đặt trong rừng rộng hàng trăm héc-ta, cũng đều được rừng bao bọc. Nếu không có rừng thì chắc chắn cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của chúng ta sẽ gặp không ít khó khăn.

“Tôi xin nhận khuyết điểm”

Ông thành thực nói với tôi như thế. Ông cho rằng trong đơn vị, hơn ai hết ông là người đã từng được tham gia nhiều chiến dịch trong kháng chiến chống Pháp, đã từng được thấy, được nghe tổng kết về vị trí lợi hại của rừng, mà ở rừng đại ngàn Trường Sơn ông đã không bám vào rừng mở con đường vận tải sớm hơn. Ông nói:

– Mở đường vận tải dã chiến muộn là điều ân hận nhất của tôi. Nếu lợi dụng được rừng mở đường sớm thì bộ đội ta còn đỡ thiệt hại hơn. Tôi nhận lỗi với Bộ đội Trường Sơn. Bây giờ tôi cũng nghĩ lại nếu ngày đó mình dùng xe công nông loại nhỏ để vận tải thì sẽ đi được cả ban ngày, ban đêm, lại không phải mở đường quá rộng, thậm chí mùa khô lái xe chỉ cần dùng la bàn định hướng là đi được trong những cánh rừng già, địch không tài nào có thể phát hiện ra được.

Tuy nhiên, ông cũng cho rằng tuy muộn, nhưng ngay sau khi con đường vận tải xuyên rừng được mở ra thì phát triển rất nhanh ra cả chiến trường miền Nam, như con đường 46B phục vụ chiến trường Khu 5 cũng hoàn toàn được giấu trong rừng. Nhất là trong Chiến dịch Tây Nguyên, Chiến dịch Hồ Chí Minh… nhờ có rừng, biết lợi dụng rừng mà quân ta đã nghi binh được địch, đã vận chuyển, cất giữ được hàng triệu tấn vũ khí, lương thực, thực phẩm phục vụ chiến dịch…

Muốn giữ rừng thì phải giữ dân

Còn nhiều dẫn chứng, còn nhiều chuyện xoay quanh vị trí quan trọng của rừng trong chiến tranh, nhưng thôi tôi muốn nói với đồng chí đôi điều về việc bảo vệ rừng hôm nay. Giá trị rừng thời bình còn gấp nhiều lần trong chiến tranh, nhất là địa hình nước ta chiều dọc rất dài, nhưng chiều ngang lại hẹp, nghiêng ra biển với độ dốc cao, nếu không có rừng để bảo vệ thì mưa nước từ núi cao sẽ quét sạch ra biển nhanh hơn khả năng ứng cứu của con người rất nhiều. Năm 2003 tôi đã được chứng kiến trận lũ quét lịch sử ở huyện Sông Cầu (nay là thị xã), tỉnh Phú Yên, chỉ diễn ra có 3 giờ mà lũ quét gọn 10 làng… Tố Hữu còn sống chắc nhà thơ sẽ viết: Rừng bảo vệ nhân dân/ Rừng vây thiên tai, vây môi trường độc hại. Tuy nhiên đáng tiếc là chúng ta lại không thấy hết được giá trị của rừng, cũng có người biết, nhưng vì lợi ích cá nhân, lợi ích của một bộ phận nên đã phá mất quá nhiều rừng, nhất là rừng đầu nguồn, rừng phòng hộ để làm dự án… Nhất là lại cho người nước ngoài thuê rừng thì lại càng nguy hại. Vừa qua có tỉnh cho thuê hàng nghìn héc-ta rừng, may mà Thủ tướng Chính phủ đã kịp thời ngăn chặn…

– Thưa ông đã từng có 7 năm được cử làm Đặc phái viên bảo vệ rừng của Thủ tướng Chính phủ Võ Văn Kiệt, theo ông muốn bảo vệ rừng phải làm thế nào?

– Tất nhiên phải thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp, thống nhất từ Trung ương đến địa phương, nhưng muốn giải pháp gì thì giải pháp phải giữ được dân. Tôi nhấn mạnh là muốn giữ rừng thì trước hết phải giữ dân. Nghĩa là rừng phải phục vụ dân, rừng nuôi sống dân, rừng làm giàu cho dân. Còn bây giờ có nơi dân bỏ rừng là lỗi trong chính sách của chúng ta chưa hợp lý. Gần đây tôi đã đề nghị với Thủ tướng Chính phủ chuyển chương trình xóa đói giảm nghèo ở miền núi thành chương trình làm giàu cho đồng bào miền núi. Điều kiện làm giàu cho đồng bào miền núi thực ra là nhanh hơn ở đồng bằng, vì theo thống kê gần đây nhất thì vẫn còn bình quân 4ha rừng/hộ (gấp 3 lần diện tích đồng bằng). Nên giao khoán rừng cho dân, chọn mô hình mà ta đã từng làm thành công là: Khoán mỗi héc-ta trồng 600 cây bản địa gỗ quý để phòng hộ lâu dài (thuộc quyền quản lý của Nhà nước) do hộ đó trồng, chăm nom được trả tiền con giống, tiền bảo vệ lâu dài, ngoài ra hộ được trồng xen thêm 1.000 cây kinh tế và dược liệu, chăn nuôi gia cầm…; chân đồi làm nhà vườn để ở lâu dài. Mô hình này đã và đang thành công ở tỉnh Tuyên Quang, ta nên rút kinh nghiệm nhân rộng ra.

Ông còn rất say sưa nói về tầm quan trọng của rừng, tôi còn háo hức muốn nghe nhiều hơn nữa những điều ông nói, nhưng ngoài cổng đã lại có tiếng chuông báo đến giờ ông tiếp đoàn khách khác.

Tiễn tôi ra cổng ông lại hỏi tôi:

– Nếu không có rừng thì sao? Đó là cách hỏi để ông nhấn mạnh vị trí đặc biệt quan trọng của rừng và rõ ràng chúng ta đều hiểu rừng không chỉ quan trọng trong trận mạc./.

Huy Thiêm
qdnd.vn

Chọn hướng tiến công chiến lược – sự sáng suốt của Đảng ta

Ngày này cách đây 38 năm, Chiến dịch Tây Nguyên – chiến dịch mở đầu cuộc tiến công chiến lược đã kết thúc (từ ngày 4 đến 24-3-1975). Thắng lợi của chiến dịch đã tạo ra đột biến về chiến lược và điều kiện thuận lợi để phát triển cuộc tiến công chiến lược thành cuộc Tổng tiến công chiến lược, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Chọn Tây Nguyên làm hướng tiến công chiến lược đó là sự lựa chọn đúng đắn, sáng suốt của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương. Để làm rõ hơn vấn đề này, phóng viên Báo Quân đội nhân dân đã có cuộc trò chuyện với Trung tướng Nguyễn Quốc Thước – nguyên Tham mưu trưởng Chiến dịch.

– Thưa Trung tướng, về Chiến dịch Tây Nguyên có rất nhiều điều để nói, nhưng theo Trung tướng điều đáng nói trước hết là gì ?

Thắng lợi của Chiến dịch Tây Nguyên trước hết là thắng lợi trong việc đánh giá đúng tình hình để chọn đúng hướng tiến công chiến lược. Trên cơ sở phân tích, đánh giá tình hình giai đoạn cuối của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước một cách khoa học, Đảng ta nhận thấy thời cơ giải phóng miền Nam đã tới. Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương đi đến thống nhất giải phóng miền Nam trong 2 năm 1975-1976. Tuy nhiên, chọn nơi nào làm hướng tiến công chiến lược là vấn đề không hề đơn giản.

Khi bàn đến chọn hướng tiến công chiến lược, lúc đầu có hai luồng ý kiến. Một số ý kiến cho rằng, nên chọn Nam Bộ, đánh thẳng vào Sài Gòn – nơi hiểm yếu và mạnh nhất của địch. Xét về mặt nguyên tắc, nếu đập tan được nơi ấy sẽ làm rung chuyển toàn miền Nam. Làm được như vậy thì quá tuyệt vời, nhưng sức lực của ta khi ấy liệu có đủ khả năng làm việc đó? Một luồng ý kiến cho rằng, nên chọn Tây Nguyên.

– Nhiều nhà quân sự cho rằng, Tây Nguyên là địa bàn địa chính trị, địa chiến lược, địa quân sự quá quan trọng. Ý kiến của Trung tướng thế nào?

Trở lại quá khứ chúng ta sẽ thấy, trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc, Tây Nguyên – địa bàn chiến lược quan trọng này được cả phía ta và phía địch đặc biệt quan tâm. Chẳng thế mà khi xâm lược nước ta, thực dân Pháp đã từng tuyên bố: Nếu ai chiếm, giữ được Tây Nguyên thì sẽ làm chủ ba nước Đông Dương. Còn với đế quốc Mỹ thì khi chúng trực tiếp đưa quân vào xâm lược miền Nam Việt Nam, cùng với đổ bộ vào Đà Nẵng, chúng cũng nhanh chóng đưa đại quân lên khống chế địa bàn chiến lược Tây Nguyên. Chúng coi Tây Nguyên là mái nhà của bán đảo Đông Dương. Do vậy, Mỹ đã đưa lên Tây Nguyên những lực lượng tinh nhuệ nhất mà chúng có, trong đó phải kể tới là: Sư đoàn Kỵ binh không vận số 1 – “Anh cả đỏ”; Sư đoàn bộ binh tinh nhuệ số 4, Sư đoàn “Tia chớp nhiệt đới” – 25… nhằm quyết chiếm giữ, khống chế toàn bộ khu vực Trung Đông Dương, giữ thế cho chiến trường Trung Trung Bộ và nối liền với chiến trường Trị Thiên ở phía Bắc, chiến trường Nam Trung Bộ ở phía Nam, cùng với chiến trường Trung Hạ Lào và Đông Bắc Cam-pu-chia.

Đối với Việt Nam trong suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước chúng ta đều chọn Tây Nguyên làm chiến trường chính để đối chọi với Mỹ – ngụy. Sở dĩ như vậy là để phát huy tối đa những yếu tố thuận lợi về địa hình, sở trường đánh địch ở địa hình rừng núi của quân ta. Địch quyết giữ, còn ta thì quyết đánh. Chính vì thế Tây Nguyên luôn là chiến trường rất ác liệt. Ở đây đã diễn ra nhiều trận đánh, nhiều chiến dịch. Đặc biệt là tiểu đoàn quân Mỹ đầu tiên bị ta tiêu diệt cũng chính tại Mặt trận Tây Nguyên trong Chiến dịch Plây-me. Những thắng lợi vang dội, liên tiếp từ các trận đánh, các chiến dịch đã từng bước tạo ra thế trận, cục diện có lợi cho quân và dân ta… Với vị trí, ý nghĩa vô cùng quan trọng về chiến lược như thế, nếu ta giải phóng được Tây Nguyên sẽ làm rung chuyển toàn bộ chiến trường Việt Nam.

– Trước chiến dịch Tây Nguyên ta đã có các hoạt động nghi binh, lừa địch và trên thực tế nó đã được thực hiện rất thành công?

– Đúng thế. Nhưng theo tôi đó phải gọi là một “Chiến dịch nghi binh” mới đúng, bởi nó được xây dựng và tổ chức có quy mô và rất bài bản, thành kế hoạch rõ ràng, dùng hẳn một sư đoàn (Sư đoàn 968) để làm nhiệm vụ này chứ không phải chỉ là một vài hoạt động nghi binh mang tính đơn lẻ. Theo đó, Sư đoàn 10 đang đứng chân ở Kon Tum và Sư đoàn 320 đứng chân ở Plei-ku tạo ra các hoạt động làm ra vẻ như vẫn đứng chân tại chỗ. Do đã đụng đầu với 2 sư đoàn này nhiều lần trong các mùa khô trước đó nên quân Mỹ – ngụy ở Tây Nguyên kháo nhau rằng: Muốn biết mùa khô năm nay Việt cộng đánh ở đâu thì hãy xem Sư đoàn 10, Sư đoàn 320 cơ động theo hướng nào. Từ phán đoán mang tính chủ quan như vậy nên khi thấy Sư đoàn 10 và Sư đoàn 320 vẫn đứng nguyên tại chỗ, quân địch yên trí sẽ không có gì đáng lo. Nhưng trên thực tế ta đã dùng một trung đoàn của Sư đoàn 968 bí mật hành quân từ Hạ Lào về Kon Tum thế vào vị trí của Sư đoàn 10 và dùng Sư đoàn 968 (thiếu) cơ động về Plei-ku thế chỗ của Sư đoàn 320. Sư đoàn 10 và Sư đoàn 320 bí mật cơ động về Nam Tây Nguyên. Hệ thống thông tin liên lạc cả vô tuyến (15W), hữu tuyến vẫn giữ nguyên con người và trang bị, phát sóng hoạt động đều đều không một động thái nào khác trước. Trên thực tế một lực lượng thông tin khác đã được thành lập để bảo đảm cho hoạt động chỉ huy tác chiến của 2 sư đoàn này. Mặt khác ta dùng bộ đội công binh và huy động nhân dân mở đường từ phía Tây Plei-ku lên bao lấy Kon Tum. Ta nghi binh giỏi đến mức người dân cũng cứ tưởng bộ đội sắp tiến đánh Kon Tum. Ngay cả khi Bộ tư lệnh Mặt trận giao nhiệm vụ cho Sư đoàn 968 đánh Đồn Tầm và quận lỵ Thanh An… khi nhận nhiệm vụ đồng chí Thanh Sơn, Sư đoàn trưởng Sư đoàn 968 còn hỏi lại tôi: “Sư đoàn 968 đánh thật hay đánh giả hả thủ trưởng”. Tôi trả lời: “Anh đánh thật còn tôi thì là giả”… Bằng “chiến dịch nghi binh” ấy quân ta đã lừa được địch điều chuyển lực lượng, tạo ra sự chủ quan, sở hở theo đúng ý đồ của ta, kết hợp với cài thế “trói” địch lại trên các hướng chúng ta đã tạo được ưu thế áp đảo tuyệt đối ở Tây Nguyên.

Trên cơ sở xem xét kỹ tình hình, Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương đã quyết định chọn Tây Nguyên làm hướng tiến công chiến lược. Để bảo đảm chiến dịch chắc thắng, sau khi hoàn thành mọi công tác chuẩn bị, Bộ tư lệnh Chiến dịch quyết định chọn Buôn Ma Thuột để đánh trận mở đầu – trận then chốt quyết định. Đây là một đòn đánh hiểm, đánh vào chỗ địch khá mạnh nhưng có sơ hở, và đặc biệt là vừa với sức lực của ta. Nếu ta giải phóng được Buôn Ma Thuột thì sẽ phá vỡ hệ thống phòng thủ của địch, tạo ra thời cơ thuận lợi, nhanh chóng giải phóng Tây Nguyên, chia cắt chiến trường miền Nam thành hai khu (Huế – Đà Nẵng và Sài Gòn). Đồng thời, sẽ tạo thời cơ thuận lợi để ta phát triển lực lượng tiến công xuống giải phóng vùng đồng bằng Khu 5 và các tỉnh miền ĐôngNam Bộ…

– Và mọi sự đã diễn ra đúng như dự kiến, thưa Trung tướng?

– Đúng vậy, thắng lợi của chiến dịch Tây Nguyên đã làm chuyển biến thế chiến lược có lợi cho quân và dân ta tiến lên giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Có thể nói nếu không có chiến dịch Tây Nguyên thắng lợi thì chưa thể có đòn tiến công chiến lược giải phóng Huế – Đà Nẵng và đặc biệt là chưa thể có cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975.

– Xin Trung tướng cho biết, bài học về chiến dịch Tây Nguyên có ý nghĩa thế nào trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày nay ?

– Bài học từ chiến dịch Tây Nguyên vẫn còn nguyên giá trị cả về lý luận và thực tiễn. Và, bài học sâu sắc nổi bật cho mọi thời kỳ, mọi giai đoạn cách mạng, lúc chiến tranh cũng như trong hoà bình, đó là việc đánh giá đúng vị trí, ý nghĩa chiến lược của địa bàn Tây Nguyên; xác định đúng quyết tâm chiến lược và phát triển sáng tạo nghệ thuật quân sự Việt Nam.

Ngày nay, Tây Nguyên càng trở nên quan trọng. Giá trị của Tây Nguyên không chỉ có hôm qua, hôm nay mà còn mãi mãi về sau. Địa bàn Tây Nguyên là nơi các thế lực thù địch sẽ nhòm ngó tới đầu tiên để thực hiện âm mưu, thủ đoạn chống phá Việt Nam. Vì thế có thể xem đây là địa bàn rất nhạy cảm. Việc phát triển kinh tế – xã hội gắn với củng cố quốc phòng – an ninh trên địa bàn Tây Nguyên cần sự nhạy bén, nhưng phải hết sức thận trọng, tính toán trước, sau kỹ lưỡng. Phát triển kinh tế – xã hội phải đi đôi với xây dựng thế trận QP-AN, cũng như xây dựng LLVT nhân dân trên địa bàn chiến lược quan trọng này.

– Xin cảm ơn và kính chúc Trung tướng dồi dào sức khỏe, tiếp tục đóng góp cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Kim Lân (ghi)
qdnd.vn

Lập thế trận kiên trì, chuẩn bị từ trước

Nghệ thuật bảo đảm hậu cần trong Chiến dịch Hồ Chí Minh

Đoàn xe vận tải hùng hậu trên đường Trường Sơn trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Ảnh tư liệu.

Trong cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975, mà đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử thắng lợi, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, vai trò của công tác bảo đảm hậu cần, kỹ thuật rất quan trọng. Đại tướng Võ Nguyên Giáp khẳng định: “… Lần đầu tiên trong lịch sử chiến tranh cách mạng ở nước ta, cuộc tổng tiến công chiến lược đặt ra những yêu cầu mới rất to lớn, rất phức tạp và khẩn trương về bảo đảm hậu cần, kỹ thuật, bảo đảm cơ động lực lượng, binh khí kỹ thuật. Các lực lượng Hậu cần đã ra sức vươn lên khắc phục khó khăn, phát huy sáng tạo hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ”. Thành công của công tác bảo đảm hậu cần, kỹ thuật trong Chiến dịch Hồ Chí Minh là quá trình chuẩn bị chiến trường về hậu cần chu đáo, rất sáng tạo, dưới sự lãnh đạo của Đảng ta.

Khi có đường lối giải phóng miền Nam bằng khởi nghĩa vũ trang và chiến tranh cách mạng, ở miền Nam lực lượng vũ trang từng bước phát triển ngày càng lớn mạnh, căn cứ địa cách mạng được xây dựng tiến dần thành khu giải phóng, các cơ sở hậu cần được xây dựng, phát triển thành các căn cứ hậu cần trên từng khu vực. Trong điều kiện và hoàn cảnh nước ta phải tiến hành chiến tranh chống kẻ thù xâm lược có tiềm lực kinh tế, quân sự mạnh hơn ta nhiều lần, để bảo đảm hậu cần cho chiến dịch giành thắng lợi trong điều kiện thời gian chuẩn bị trực tiếp ngắn phải có sự chuẩn bị chiến trường về hậu cần kiên trì, toàn diện từ trước.

Từ năm 1959, tuyến đường giao thông vận tải chiến lược Trường Sơn được xây dựng, đến năm 1968 đã vươn tới chiến trường Nam Bộ. Sau Hiệp định Pa-ri về Việt Nam, việc chuẩn bị chiến trường và chuẩn bị cho tiến công lớn được đẩy mạnh toàn diện ở hậu cần các cấp; tuyến đường giao thông chiến lược Trường Sơn mở rộng thành hệ thống vận tải cơ giới ở cả phía Tây và phía Đông Trường Sơn, nối liền với các chiến trường miền Nam. Tuyến đường ống xăng dầu dọc theo tuyến vận tải chiến lược Trường Sơn được xây dựng đã bảo đảm xăng dầu cho các trung đoàn, sư đoàn vận tải ô tô, tăng sức vận tải vật chất, binh khí kỹ thuật và cơ động lực lượng cho các chiến trường. Song cùng với công tác xây dựng đường sá, hậu cần chiến lược đã dồn vật chất, phương tiện kỹ thuật ra phía trước, tổ chức các kho dự trữ chiến lược trên các hướng. Do vậy chỉ hơn hai năm, hậu cần chiến lược đã chuyển tới chiến trường hơn 300.000 tấn vật chất hậu cần-kỹ thuật, vừa bảo đảm cho các lực lượng vũ trang hoạt động tác chiến, vừa dự trữ cho chiến dịch.

Cùng với công tác chuẩn bị của hậu cần chiến lược, trong hai năm 1973-1974, hậu cần Miền cũng ra sức chuẩn bị cho chiến dịch. Các căn cứ hậu cần Miền ngày càng được củng cố, hệ thống đường vận tải cơ giới được mở rộng nối liền các căn cứ hậu cần, tạo thế đứng chân vững chắc trên các hướng, bảo đảm cơ động cao.

Khi có quyết tâm Chiến dịch Hồ Chí Minh, thời gian chuẩn bị trực tiếp cho chiến dịch chỉ có 22 ngày đêm, khối lượng vật chất mới dự trữ được 40.000 tấn trong 60.000 tấn theo nhu cầu, đạn pháo lớn, phương tiện vận tải còn thiếu rất nhiều. Trước tình hình đó hậu cần chiến dịch đã quyết tâm khắc phục khó khăn bằng một số giải pháp: Dựa vào thế trận hậu cần chiến trường đã được chuẩn bị từ trước, nhanh chóng điều chỉnh lực lượng triển khai tiến lên phía trước hình thành thế trận mới liên hoàn vững chắc bao quanh Sài Gòn phù hợp với quyết tâm chiến dịch, có chiều sâu từ hậu phương chiến trường, chiến dịch tới các hướng tác chiến, tiếp cận các quân đoàn, có lực lượng hậu cần cơ động theo các đơn vị thọc sâu. Toàn bộ lực lượng hậu cần quân đội được huy động khẩn trương, kết hợp với động viên sức mạnh của cả nước, ở hậu phương lớn và trên địa bàn chiến dịch, tạo thành sức mạnh tổng hợp của toàn dân làm công tác hậu cần.

Để bảo đảm cầu đường thông suốt từ hậu phương lớn vào chiến trường, Bộ Tổng tư lệnh đã chỉ đạo Đoàn vận tải quân sự Trường Sơn phải bảo đảm tuyến đường giao thông vận tải ở phía Tây Trường Sơn, đồng thời điều động một số trung đoàn công binh sang tuyến quốc lộ 1 sửa chữa cầu đường bị địch đánh phá trong quá trình tháo chạy. Trên địa bàn tác chiến chiến dịch, mạng đường vận tải chiến dịch được tổ chức thành 6 tuyến vận tải từ hậu phương chiến dịch đến các hướng tác chiến xung quanh Sài Gòn, đồng thời tiếp tục mở thêm một số tuyến vượt qua Đồng Tháp Mười sang phía Tây và Nam Sài Gòn. Lần đầu tiên hậu cần chiến dịch kết hợp sử dụng cả đường bộ, đường thủy và đường không để vận chuyển vật chất và cơ động lực lượng. Phục vụ chiến dịch, ngành hậu cần đã huy động số lượng lớn phương tiện vận tải chiến lược, toàn bộ phương tiện vận tải của các quân đoàn, binh chủng, quân chủng, đồng thời huy động thêm phương tiện của các cơ quan Nhà nước và nhân dân vùng mới giải phóng. Kết quả đã huy động được cho chiến dịch khoảng 7.064 xe ô tô các loại, 656 ghe xuồng, 63.432 dân công để vận chuyển vật chất và cơ động lực lượng. Trong đó riêng giai đoạn chuẩn bị trực tiếp, hậu cần chiến dịch đã sử dụng 1.080 xe ô tô (tương đương khoảng 10 tiểu đoàn) để chuyển gấp 4.313 tấn đạn từ hậu phương và các quân khu mới giải phóng vào phục vụ chiến dịch.

Công tác giao thông vận tải trong Chiến dịch Hồ Chí Minh đã phát huy được những kinh nghiệm từ các chiến dịch trước, đồng thời rất linh hoạt, táo bạo, đã kịp thời giải quyết các khó khăn, tình huống đặt ra. Cơ quan tham mưu hậu cần và vận tải đã luôn nắm vững tình hình, bám sát các tình huống tác chiến, có kế hoạch điều chỉnh lực lượng, phương tiện vận tải kịp thời, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bảo đảm cho chiến dịch tác chiến hiệp đồng quân binh chủng với quy mô lớn, tính cơ động cao, tốc độ nhanh, giành thắng lợi hoàn toàn.

35 năm trôi qua, song bài học chuẩn bị chiến trường về hậu cần và chỉ đạo, chỉ huy giao thông vận tải Chiến dịch Hồ Chí Minh vẫn còn nguyên giá trị. Chúng ta cần tiếp tục nghiên cứu kế thừa, phát triển vào xây dựng tiềm lực, chuẩn bị thế trận hậu cần trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày nay.

Đại tá Đỗ Đắc Yên
qdnd.vn

Chuẩn bị nhanh, cơ động gấp, không để mất thời cơ

Trong những ngày cả nước đang hướng tới kỷ niệm 35 năm giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, chúng tôi đã có dịp trò chuyện với Trung tướng Nguyễn Ân ngay tại nhà ông trên phố Âu Cơ, quận Tây Hồ, TP Hà Nội. Trung tướng Nguyễn Ân, nguyên là Sư đoàn trưởng Sư đoàn 304 (Quân đoàn 2) – người trực tiếp chỉ huy Sư đoàn 304 đánh trận đầu tiên mở cửa trên hướng Đông của Chiến dịch lịch sử mang tên Bác. Ông cũng là người cùng Bộ Tư lệnh Binh đoàn chỉ huy lực lượng thọc sâu gồm Trung đoàn 66 (Sư đoàn 304) và Trung đoàn xe tăng H03, tiến thẳng vào sào huyệt của địch tại dinh Độc Lập, bắt sống Dương Văn Minh – Tổng thống chế độ ngụy quyền Sài Gòn cùng toàn bộ nội các.

Ở tuổi 84, mái tóc của vị tướng già đã bạc trắng, nhưng trí nhớ vẫn minh mẫn lạ thường. Trong không khí thân tình, ấm cúng mà sôi nổi, mắt vị tướng già rực sáng khi gợi lại trận mở màn đầu tiên của chiến dịch năm xưa. Giọng ông quả quyết: Việc chọn đánh căn cứ Nước Trong và Trường Huấn luyện bộ binh trên hướng Đông của Chiến dịch khi đó đã thể hiện sự sáng suốt, tài thao lược của Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh. Bởi đánh căn cứ Nước Trong và Trường Huấn luyện bộ binh trước 3 ngày (tức ngày 26-4-1975) là nhằm mục đích thu hút địch ra vòng ngoài, tạo điều kiện thuận lợi để các lực lượng trên hướng chủ yếu của chiến dịch tiến vào giải phóng Sài Gòn. Sáng 23-4-1975, Bộ tư lệnh Quân đoàn triệu tập các sư đoàn trưởng và chính ủy lên ấp Tam Hiệp, xã Xuân Hiệp, tỉnh Long Khánh phổ biến nhiệm vụ tác chiến. Sư đoàn 304 của tôi có nhiệm vụ cùng các đơn vị cánh Đông nổ súng tiến công quân địch vào ngày 26-4-1975, trước Chiến dịch mang tên Bác 3 ngày (tức là ngày 26-4-1975). Thời gian chỉ có 3 ngày chuẩn bị trong khi đơn vị lại vừa từ Bắc vào, trong tay Sư đoàn trưởng chỉ có một tấm bản đồ 1/1.000, không ai biết căn cứ Nước Trong nằm ở đâu trên thực địa. Chỉ biết căn cứ Nước Trong trên bản đồ, dọc trục đường 15, từ ngã ba tổng kho Long Bình đến ngã ba Long Thành. Trên trục đường từ Quân đoàn về đến đồn điền Ông Quế – nơi tập kết của sư đoàn, lòng tôi rối bời bởi chiến trường quá mới, thời gian nổ súng lại quá gấp, người dẫn đường cũng không có như trong hiệp đồng…. Nó không hề giống các chiến dịch trước đây, ít nhiều anh em cũng đã quen thuộc địa hình và thời gian làm công tác chuẩn bị không quá gấp gáp. Nhưng dù gấp cũng phải đánh, bởi nếu không đánh được thì sẽ mất thời cơ, không mở được cánh cửa phía Đông sẽ ảnh hưởng đến toàn bộ chiến dịch… Chính sự câu thúc về thời gian và những khó khăn về điều kiện tác chiến đã khiến cho công tác chỉ huy và chỉ đạo tiến công của lãnh đạo, chỉ huy Sư đoàn 304 chúng tôi có nhiều bước sáng tạo.

Kể đến đây, mắt vị tướng già bỗng ánh lên sáng quắc. Ông cười, uống một hớp nước rồi tiếp tục: “Thực ra khi ấy chúng mình phải vận dụng kiến thức học trong trường và kinh nghiệm chiến đấu của cha ông. Trong nguyên tắc đã xác định: “Khi có điều kiện thì tổ chức chiến đấu làm thứ tự theo từng bước”. Nhưng khi điều kiện không cho phép thì phải “giắt quân thắt lưng” mang theo. Cùng một lúc phải làm nhiều việc, vừa đi trinh sát, vừa giao nhiệm vụ trực tiếp cho đơn vị luôn… Khi tôi và đồng chí Trần Bình, Chính ủy sư đoàn, đang triệu tập họp Đảng ủy vào hồi 20 giờ ngày 23-4-1975 để bàn biện pháp tháo gỡ khó khăn thì may mắn đã đến với đơn vị. Trong quá trình Quân đoàn 4 đánh vào Xuân Lộc, địch hoảng loạn rút chạy xuống Vũng Tàu qua đồn Ông Quế – nơi đơn vị chúng tôi đang tập kết. Các chiến sĩ trinh sát của đơn vị đã bắt được một tên tù binh. Qua khai thác tên này, chúng tôi đã có khá nhiều thông tin về căn cứ Nước Trong liền kết hợp với tổ chức trinh sát để có thể nổ súng đánh chiếm căn cứ Nước Trong kịp thời, theo đúng kế hoạch tác chiến của trên. Trung đoàn 9 và Trung đoàn 24 cùng với xe tăng sau hơn một giờ đồng hồ đã tiêu diệt, làm chủ căn cứ Nước Trong và Trường Huấn luyện bộ binh của địch (riêng Trung đoàn 66 và Trung đoàn xe tăng 203 làm nhiệm vụ đột kích thọc sâu đánh thẳng vào Dinh Độc Lập). Việc tiến đánh căn cứ Nước Trong trước 3 ngày đã khiến địch rơi vào đúng “bẫy” của ta. Chúng vội vàng điều ngay 2 thiết đoàn ra phản kích và đó là điều kiện để các lực lượng khác của ta đánh vào Sài Gòn và Dinh Độc Lập được thuận lợi…”.

Từ bài học về công tác chuẩn bị chiến đấu trong thời gian gấp gáp để không bị mất thời cơ, không ảnh hưởng đến kế hoạch chiến dịch đã vạch ra, Trung tướng Nguyễn Ân cho rằng: Phương pháp chuẩn bị chiến đấu theo kiểu “vừa cơ động vừa chuẩn bị”, “cùng một lúc làm nhiều việc”… cũng là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến kết quả của trận đánh. Trong chiến đấu có rất nhiều tình huống nảy sinh, đột biến không theo quy luật mà người chỉ huy phải xử trí. Nếu không nắm vững nguyên tắc, không tích lũy kinh nghiệm chiến đấu của cha ông, không biết vận dụng linh hoạt, sáng tạo vào từng điều kiện, hoàn cảnh cụ thể… thì sẽ khó mà đánh thắng được quân địch đông hơn ta, có trang bị vũ khí hiện đại hơn ta… Yếu tố linh hoạt, sáng tạo, vận dụng hiệu quả nguyên tắc, không để mất thời cơ tiến công địch vẫn rất ý nghĩa đối với mỗi cán bộ, chỉ huy và người chiến sĩ trong chiến tranh công nghệ hiện đại. Tuy nhiên, để hội tụ được các yếu tố trên thì trong công tác huấn luyện thường ngày ở từng đơn vị phải thật sự được các cấp lãnh đạo, chỉ huy chú trọng. Nếu người lính trên chiến trường không giỏi bắn súng; không mưu trí diệt được nhiều địch, tiết kiệm được đạn dược; không biết làm công sự để hạn chế những ảnh hưởng của vũ khí đối phương thì sẽ khó có thể chiến thắng địch. Vì thế, theo Trung tướng Nguyễn Ân, người chiến sĩ hiện nay cần phải được huấn luyện thật sự bài bản, kỹ lưỡng để họ không chỉ giỏi về sử dụng vũ khí trang bị mà phải giỏi cả về chiến thuật đánh địch. Còn đối với người chỉ huy thì phải thật tinh thông binh pháp, giỏi không chỉ về kiến thức chuyên môn và còn phải giỏi về các kiến thức quân sự, biết lợi dụng yếu tố địa hình thời tiết; nắm vững nguyên tắc trong chiến đấu nhưng lại phải biết vận dụng sáng tạo kinh nghiệm đánh giặc của cha ông. Trong binh pháp đã từng nói: “Bình rèn binh mã, loạn đọc binh thư”. Nếu làm được đúng theo nguyên tắc ấy, chắc chắn trong chiến đấu chúng ta sẽ chiến thắng.

Gia Minh – Thanh Tuấn
qdnd.vn

Cuộc tháo chạy kinh hoàng và một huyền thoại mới

Bị “điểm đúng huyệt”, hơn 15 nghìn tàn quân của chế độ Sài Gòn ở Tây Nguyên buộc phải rút xuống đồng bằng qua con đường duy nhất là Đường 7 (nay là quốc lộ 25). Trong cuộc tháo chạy hoảng loạn này, chúng đã ép hàng nghìn đồng bào di tản. 35 năm sau, những người dân ở TP Pleiku, thị xã Ayun Pa vẫn chưa quên được những ngày hè đỏ lửa đau thương…

Cuộc di tản kinh hoàng

35 năm sau, người dân phố núi Pleiku và thị xã Ayun Pa (tên mới của địa danh Cheo Reo, Phú Bổn) vẫn chưa thể quên được những giây phút kinh hoàng trong cuộc tháo chạy khỏi Tây Nguyên của đám tàn quân ngụy. Hàng nghìn người dân ở đây đã bị cưỡng ép phải di tản, bị dồn lại ở sông Bờ, Cheo Reo, Phú Bổn, phải ăn lá rừng, uống nước sông để tồn tại.

Bà Nguyễn Thị Lệ, bán hàng ở 22B Lê Đại Hành (TP Pleiku) năm nay đã 69 tuổi nhớ lại thời khắc ấy. Chiều 16-3-1975, khi đám tàn quân ép tất cả bà con tiểu thương phải bỏ cửa bỏ nhà theo chúng rút chạy. Bà Lệ lúc đó ngoài 30 tuổi cũng chỉ kịp cùng chồng dắt mấy đứa con, bị dòng người cuốn đi, rồi bị lùa lên những chiếc xe đò, xe lam chạy miết theo hướng Chư Sê (Đường 7). Sau đó, cả đoàn người kẹt cứng tại Phú Bổn và may mắn được bộ đội giải phóng cứu thoát. Cùng hoàn cảnh như bà Lệ, ông Phan Chánh ở phố Wừu (TP Pleiku) cho biết: Bữa ấy cả nhà ông ở Phú Bổn gồm bố mẹ và 8 anh em đang quây quần ăn cơm, bất ngờ một đám lính ngụy ùa vào, ép phải di tản cùng dòng người và xe ken đặc trên đường.

Khi địch co cụm về Cheo Reo, Phú Bổn, Tư lệnh chiến trường Tây Nguyên Hoàng Minh Thảo đã phát lệnh vừa đánh địch, vừa tách dân và bảo vệ dân. Ngay lập tức, đơn vị bộ đội địa phương H11 được lệnh làm công tác dân vận. Chiến sỹ ta tiếp cận với dân chúng đang kẹt lại dọc Đường 7, bắc loa kêu gọi đồng bào ra xe Quân giải phóng đón về nhà. Ông Lê Tăng Binh đang sống tại đường Cách Mạng (TP Pleiku), một trong những cán bộ binh vận thuộc H11 kể lại, cùng đơn vị với ông có không ít cán bộ đã hy sinh khi bị lính ngụy trà trộn trong dân nổ súng…

Những câu chuyện đậm chất nhân văn

Bà Nguyễn Thị Lệ rân rấn nước mắt khi kể về hoàn cảnh gia đình cô em gái: Bốn mẹ con lạc gia đình vào rừng phải ăn lá cây cầm cự, không biết ngày mai ra sao thì may gặp 3 chiến sỹ Quân giải phóng theo đội hình chiến đấu truy kích địch. Chính những người lính cách mạng này đã chia khẩu phần ăn cho họ rồi chỉ đường cho mọi người tìm ra chỗ xe ô tô của Quân giải phóng đưa dân quay về nhà.

Ông Vũ Xuân Mân, nguyên Chính trị viên Huyện đội H11 (huyện Phú Thiện, Ia Pa thuộc tỉnh Gia Lai bây giờ) trực tiếp tham gia chiến dịch Đường 7 kể: “Ác liệt nhất là trận truy kích địch trên đoạn đường dài chừng 10km từ cầu sông Bờ đến chân đèo Tôna thuộc địa phận huyện lỵ Phú Bổn. Đây là đoạn đường độc đạo, một bên là vách núi cao, một bên là vực sâu hun hút. Quá đông người dân, binh lính và phương tiện quân sự địch ào ạt tháo chạy làm cho đoạn đường tắc nghẽn. Từ sáng 15-3-1975, địch cho máy bay trực thăng rải truyền đơn xúi giục nhân dân di tản. Là chỉ huy lực lượng bộ đội địa phương, vừa phải tham gia với Trung đoàn 95 và Sư đoàn 320 đánh địch, vừa làm công tác dân vận nên theo ông Mân, nhiệm vụ của H11 khá căng. Chiều 18-3, khi đang hối hả chỉ huy anh em tiến quân ven Đường 7, ông Mân như sững lại trước hình ảnh người phụ nữ cùng 4 đứa nhỏ mệt lả, bị bỏ lại ven đường. Hỏi ra mới biết đó là vợ con của một đại úy quân đội Sài Gòn. Ông Mân đã cùng người chiến sỹ liên lạc san sẻ những phong lương khô là khẩu phần ăn của mình cho các cháu nhỏ và tìm xe để họ trở lại tuyến sau…

Còn thầy giáo Phạm Công Thỉnh, giảng viên ĐH Mỏ – Địa chất Hà Nội, từng là bộ đội Trung đoàn 95, Sư đoàn 325 tham gia truy kích địch tại Cheo Reo, Phú Bổn thì chưa thể quên được câu chuyện đầy tính nhân văn trong khói lửa cuộc chiến. Trưa 18-3, bộ đội ta tiến vào Phú Bổn. Lúc mặt trận im tiếng súng, anh cùng đồng đội đi dọc thị xã vừa bị quân địch tàn phá tìm kiếm để cứu những người dân bị thương còn sót lại trong từng ngôi nhà. Khi vào một ngôi nhà còn tương đối nguyên vẹn, Thỉnh như sững lại khi thấy thấp thoáng bóng một sắc lính ngụy còn ẩn nấp phía sau. Sau tiếng quát đanh thép “Đứng im!”, Thỉnh và đồng đội thấy người lính ngụy tỏ ra lúng túng với một bọc nhỏ trong tay. Thì ra đây chính là cháu nhỏ mà vợ anh ta mới sinh được có vài ngày cũng bị lùa tham gia vào cuộc tháo chạy. Thỉnh và đồng đội đã góp lại từ trong những chiếc ba lô của quân giải phóng ra các khẩu phần cá nhân đường sữa ít ỏi để đưa cho người lính phía bên kia chiến tuyến và khuyên anh ta sớm ra trình diện chính quyền cách mạng…

Theo ông Vũ Xuân Mân, cuộc truy kích địch tại Cheo Reo, Phú Bổn từng được Đại tướng Văn Tiến Dũng đánh giá mang tầm nghệ thuật quân sự trong lịch sử chiến tranh Đông Dương. Cụ thể, lực lượng bộ đội địa phương H11 vừa chiến đấu cùng các cánh quân chủ lực vừa trực tiếp tham gia giải phóng cho 3.000 người dân ở TP Pleiku, thị xã Phú Bổn và nhiều nơi khác.

Sức sống mới trên vùng đất cũ

…”Nhiều cựu chiến binh trong Nam ngoài Bắc là đồng đội của chúng tôi năm xưa, giờ trở lại nơi này đã không thể ngờ rằng cán bộ và đồng bào các dân tộc địa phương ở đây đã và đang viết lên một huyền thoại mới của thời kỳ hội nhập” – Ông Phan Cự Hảo, Chủ tịch Hội CCB thị xã Ayun Pa bộc bạch. Theo lời ông, Ayun Pa hôm nay đổi thay rất nhiều. Dự án cải tạo, nâng cấp QL25 từ Gia Lai đi Phú Yên vừa được Cục Đường bộ Việt Nam hoàn chỉnh báo cáo đầu tư với tổng chiều dài gần 100km, tổng mức đầu tư 2.076 tỷ đồng bằng nguồn vốn trái phiếu Chính phủ. Rồi QL25 sẽ được nâng cấp theo tiêu chuẩn đường cấp III miền núi, nền đường rộng 9m, mặt đường rộng 6m. Khi toàn tuyến hoàn thành, ngoài việc rút ngắn gần nửa chặng đường so với QL19, QL25 cũng đỡ phần đèo dốc nguy hiểm. Và mai này, cảng Vũng Rô (tỉnh Phú Yên) được hoàn thiện đầu tư nâng cấp có thể tiếp nhận tàu có trọng tải 10.000 tấn, khu kinh tế Vân Phong (tỉnh Khánh Hòa) đi vào hoạt động, lúc đó việc vận chuyển hàng hóa lên Tây Nguyên và ngược lại trên QL25 sẽ vô cùng thuận tiện và kinh tế. QL25 cũng sẽ kết nối vùng nguyên liệu cây công nghiệp và nông sản rộng lớn của Bắc Tây Nguyên với khu vực duyên hải Nam Trung bộ.

Đoạn khởi đầu của QL25 sẽ đi qua thị trấn Chư Sê (huyện Chư Sê) – đây là “thủ phủ hồ tiêu” của cả nước, với diện tích trên 3.000ha, năng suất 40 tạ/ha. Các tỷ phú trồng tiêu mỗi năm thu nhập dăm trăm triệu đồng trở lên ngày càng nhiều. Phía dưới đèo Chư Sê, công trình đại thủy nông Ayun Hạ hoàn thành từ năm 1992, có sức tưới 13.500ha. Hệ thống kênh chính Bắc, Nam và mạng lưới kênh mương nội đồng ngày càng vươn xa, đất đai ở Phú Thiện, Ia Pa, Ayun Pa như vỡ ra, cây cối nứt mầm, xanh tốt báo hiệu những vụ mùa bội thu. Bí thư Thị ủy Ayun Pa Châu Ngọc Tuấn khẳng định: “Trong tương lai gần, thị xã Ayun Pa sẽ là điểm nhấn về kinh tế dọc theo QL25”. Tháng ba Tây Nguyên đầy nắng và gió, dù đang là mùa khô nhưng những cánh đồng Yaun Hạ dưới chân đèo Tuna lúa tốt bời bời…

Theo: HNMo-Dương Hiệp
qdnd.vn

Bài học về xây dựng ý chí quyết tâm chiến đấu cho quân đội

Ký ức và hiện tại

Xây dựng ý chí quyết tâm chiến đấu cho quân đội là vấn đề có ý nghĩa hết sức quan trọng, góp phần to lớn nâng cao sức mạnh tổng hợp của quân đội, đảm bảo cho quân đội chiến đấu và chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh thường căn dặn cán bộ, chiến sĩ ta: “Phải nêu cao quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược, có quyết tâm thì làm việc gì cũng được” và “Có quyết tâm, có sáng kiến thì khó khăn mấy cũng giải quyết được; và nhiều khi chuyển thế bại thành thế thắng”. Thực hiện lời dạy của Người, toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta đã nêu cao ý chí quyết tâm chiến đấu trong suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ đầy hy sinh gian khổ làm nên Đại thắng mùa Xuân 1975.

Thực tế lịch sử đương thời chỉ rõ đế quốc Mỹ là kẻ thù rất nguy hiểm, có sức mạnh gấp nhiều lần những kẻ thù mà nhân dân ta đã gặp. Từ sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, nước Mỹ nổi lên thành cường quốc số một, làm “chúa tể” thế giới tư bản. Trên thế giới lúc bấy giờ tư tưởng phục Mỹ, sợ Mỹ lan tràn ở nhiều nơi. Khi ta bắt đầu tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, có nhiều người đồng tình ủng hộ, song cũng không ít kẻ cho ta là phiêu lưu mạo hiểm, “lấy trứng chọi đá”. Đặc biệt, khi Mỹ đưa quân viễn chinh ào ạt vào xâm lược miền Nam và dùng không quân, hải quân đánh phá miền Bắc, rất nhiều người có thiện chí đã tỏ ra lo ngại rằng đất nước ta sẽ bị sức mạnh của Mỹ đè bẹp. Trước một kẻ thù có ưu thế vượt trội so với ta cả về kinh tế, khoa học và công nghệ, vũ khí và trang bị kỹ thuật quân sự, vấn đề lớn bức bách nhất đặt ra trước dân tộc ta là: “Ta có dám đánh Mỹ và thắng Mỹ để giải phóng nửa nước còn lại, thống nhất Tổ quốc không?”. Ngay từ đầu Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định quyết tâm đánh Mỹ, không mơ hồ, ảo tưởng về bản chất và âm mưu xâm lược của Mỹ. Nhờ có quyết tâm đó, ta đã vượt qua những khó khăn, trở ngại ở trong nước và quốc tế lúc bấy giờ để tìm ra biện pháp thích hợp khởi đầu cuộc chiến tranh giải phóng miền Nam kịp với đòi hỏi của tình hình thực tiễn.

Quyết đánh, quyết thắng đế quốc Mỹ là quyết tâm của Đảng, cũng là quyết tâm của toàn quân và toàn dân, của cả dân tộc Việt Nam, với ý chí sắt đá không gì lay chuyển nổi là “Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa. Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, xí nghiệp có thể bị tàn phá nhưng nhân dân Việt Nam quyết không sợ. Không có gì quý hơn độc lập tự do”.

Quyết tâm đánh Mỹ và thắng Mỹ được bắt nguồn từ lòng yêu nước nồng nàn, ý chí kiên cường bất khuất, ý thức làm chủ vận mệnh đất nước của người Việt Nam, được hun đúc tự ngàn xưa. Mỗi khi Tổ quốc lâm nguy, dân tộc ta triệu người như một, sẵn sàng đứng lên chống giặc, cứu nước. Quyết tâm ấy được thể hiện rõ nét trong suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, dựa trên cơ sở phân tích, đánh giá đúng tình hình lực lượng so sánh giữa ta và địch. Đảng ta xem xét so sánh lực lượng theo quan điểm tổng hợp, phân tích tình hình của ta và địch một cách toàn diện trong quá trình vận động phát triển. Chúng ta xem xét cả chính trị và quân sự, kinh tế và văn hoá xã hội, vật chất và tinh thần, số lượng và chất lượng, thế, lực và thời cơ, điều kiện khách quan và nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh, nghệ thuật tác chiến, tình hình trong nước ở cả hai miền Nam, Bắc; tình hình khu vực và thế giới… Chính nhờ quyết tâm đánh thắng Mỹ, ngụy được xây dựng trên cơ sở khoa học mà nó đã trở thành phương châm chỉ đạo đúng đắn, bảo đảm cho quân đội ta càng đánh, càng mạnh và giành thắng lợi to lớn.

Hiện nay, các thế lực thù địch đang sản xuất, sử dụng các loại vũ khí công nghệ cao với tính chất ác liệt và hủy diệt ngày càng lớn trong các cuộc chiến tranh, gây ra tư tưởng, tâm lý lo lắng trong một bộ phận cán bộ, chiến sĩ quân đội. Phát huy tinh thần của Đại thắng mùa Xuân 1975 trong việc xây dựng ý chí quyết tâm của quân đội và nhân dân đảm bảo đánh thắng chiến tranh xâm lược có sử dụng vũ khí công nghệ cao là vấn đề có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Trước hết, lãnh đạo, chỉ huy và cơ quan chức năng các cấp trong quân đội cần tiếp tục đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác giáo dục chính trị làm cho cán bộ, chiến sĩ có giác ngộ sâu sắc về mục tiêu, lý tưởng chiến đấu và nâng cao nhận thức, trách nhiệm của mình trong thực hiện nhiệm vụ.

Công tác giáo dục chính trị, cần chú trọng giáo dục truyền thống yêu nước chống giặc ngoại xâm của dân tộc, truyền thống quyết chiến, quyết thắng của quân đội ta; xây dựng lòng tự hào, ý thức tự tôn dân tộc. Đồng thời, vạch trần bản chất, âm mưu, thủ đoạn thâm độc của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch đối với cách mạng nước ta. Trong tình hình hiện nay, công tác giáo dục chính trị cần đi sâu nghiên cứu và làm cho bộ đội nhận thức sâu sắc bản chất, đặc điểm tính chất của cuộc chiến tranh xâm lược có sử dụng vũ khí công nghệ cao và ảnh hưởng của nó tới ý chí quyết tâm chiến đấu của quân đội ta. Giáo dục cho bộ đội có quan điểm biện chứng trong xem xét, đánh giá tình hình, thấy được những điểm mạnh, những hạn chế của vũ khí công nghệ cao và cách đánh của ta, trên cơ sở đó củng cố quyết tâm, xây dựng niềm tin chiến thắng, làm cho bộ đội tuyệt đối tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng và sự nghiệp đổi mới đất nước; tin vào sức mạnh của chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc, tin vào lực lượng, vũ khí trang bị và nghệ thuật quân sự Việt Nam.

Cùng với đổi mới công tác giáo dục chính trị, phải nâng cao chất lượng công tác huấn luyện quân sự, diễn tập tổng hợp làm cho bộ đội có trình độ tác chiến giỏi và khả năng sử dụng thành thạo các loại vũ khí trang bị, phương tiện kỹ thuật quân sự. Xây dựng ý chí quyết tâm chiến đấu bao giờ cũng đặt trong mối quan hệ biện chứng với các yếu tố khác. Nếu cán bộ, chiến sĩ không có kỹ năng chiến đấu, không có trang bị vũ khí, phương tiện kỹ thuật quân sự hiện đại, không có sức khỏe tốt… thì ý chí quyết tâm của họ không thể duy trì thường xuyên, liên tục và đạt hiệu quả cao. Hồ Chí Minh khẳng định: “Phải có quyết tâm đánh, mà đã đánh phải có quyết tâm đánh thắng” và Người chỉ rõ: “Vấn đề là ở chỗ tinh thần của con người phải truyền qua súng, tức là làm sao phải có kỹ thuật giỏi” Hiện nay cần không ngừng đổi mới nội dung, phương pháp, nâng cao chất lượng huấn luyện, diễn tập, thực hiện đúng phương châm, phương hướng huấn luyện. Đặc biệt, trong huấn luyện phải tập trung làm cho bộ đội nắm vững tính năng, tác dụng, sử dụng thành thạo các loại vũ khí, trang bị hiện có, nhất là những vũ khí, trang bị kỹ thuật mới, hiện đại. Phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật tìm ra nhiều cách đánh hay, phù hợp, có hiệu quả. Tích cực đưa bộ đội vào hoạt động thực tiễn, huấn luyện, diễn tập sát thực tế chiến đấu. Trong thời bình cần phải tăng cường tạo ra nhiều tình huống khó khăn, gian khổ để bộ đội có điều kiện thử thách lòng dũng cảm, ý chí quyết tâm của mình. Kiên quyết đấu tranh chống bệnh “thành tích”, bệnh “hình thức”, chất lượng huấn luyện không thực chất, không sát tình huống chiến đấu.

Tiến sĩ ĐẶNG SỸ LỘC
qdnd.vn

Trên những tuyến đường ra mặt trận

Ký ức và hiện tại:

Một ngày cuối tháng 3, giữa lúc quân và dân cả nước đang tưng bừng với hàng loạt các hoạt động hướng tới kỷ niệm 35 năm Giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, trong ngôi nhà nhỏ ở phường Lê Mao, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An, chúng tôi gặp nữ Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Hồ Thị Hiền, nguyên Đại đội trưởng Đại đội 202 – thuộc Tổng đội TNXP Nghệ An.

Nhắc lại những trang sử hào hùng của dân tộc, nữ Anh hùng Hồ Thị Hiền hồi tưởng: Vào đúng dịp sinh nhật lần thứ 79 của Bác Hồ (19-5-1969), đơn vị của chị được lệnh lên đường chi viện cho chiến trường Quảng Trị, Quảng Bình… Ở chiến trường, Đại đội 202 của chị được giao nhiệm vụ gùi hàng. Trên vai mỗi chiến sĩ TNXP ít nhất là 40kg hàng, một ngày hành quân không dưới 35km. Trên các cung đường lúc bấy giờ, máy bay Mỹ bắn phá ác liệt, nên đại đội phải tổ chức vận chuyển hàng hoá, vũ khí, đạn dược vào ban đêm. Đại đội trưởng Hồ Thị Hiền đã có sáng kiến dán giấy trắng vào lưng người đi trước để người đi sau nhìn rõ, bám theo nhau, giữ vững đội hình. Ngày 16-7-1969, trên đường từ Hướng Hoá đi Quảng Trị chuyển hàng, khi trở về, đại đội của chị bị máy bay địch bắn phá ác liệt, 4 chiến sĩ TNXP đã hy sinh… Nén đau thương, toàn đơn vị phát động thi đua, suốt 100 ngày trong chiến dịch, Đại đội 202 đã gùi được 879.600kg hàng vào mặt trận an toàn, góp phần bảo đảm một khối lượng vật chất, vũ khí trang bị khổng lồ dự trữ phục vụ hoạt động tác chiến của Quân Giải phóng sau này.

Ảnh minh họa/tư liệu internet.

Đầu năm 1971, Đại đội 202 của chị vinh dự được tham gia phục vụ Chiến dịch Đường 9 – Nam Lào. Lần này ngoài nhiệm vụ làm đường, lấp hố bom, đại đội còn được giao nhiệm vụ vận chuyển thương binh. Đường vào trận địa hiểm trở, phải trèo đèo, lội suối, bom đạn địch đánh phá rất ác liệt, có khi lại phải vượt qua bãi mìn. Chị Hiền chỉ huy một tổ cảm tử gồm 8 đồng chí (Hiền, Thịnh, Mận, Tân, Mai, Quý, Hoàng, Khầm) với chiếc đèn pin và tấm bản đồ lần theo đường dây điện thoại để gỡ mìn, mở tuyến. Chỉ tiêu trên giao 6 người cáng một thương binh, riêng đại đội của chị chỉ 3 người đã cáng được 1 thương binh. Đối với những thương binh nhẹ, chị hướng dẫn anh em dùng bao tượng đựng gạo buộc qua nách vai thương binh dìu đi vừa vững vàng, đỡ nhân lực lại dễ đi khi lên dốc, khi qua suối. Có lần, Đại đội TNXP 202 bị địch bao vây từ 7 giờ đến 19 giờ trong thung lũng dưới đồi Tà Cơn, máy bay Mỹ đánh phá ác liệt, bom đạn giội xuống như mưa. Tất cả mọi người đều đói và khát, trong khi bị mất liên lạc với cấp trên. Chị Hiền vẫn bình tĩnh chỉ huy đơn vị và lao xuống từng hầm, từng tiểu đội động viên anh chị em: Dù đói, khát cũng không được đỏ lửa, phải dùng thức ăn khô và một ít nước dung dịch cho từng đồng chí lấy sức để đào hào nối liền các tiểu đội với chỉ huy đại đội. Đồng thời các chiến sĩ trong đơn vị dùng gậy chống, đòn khiêng thương binh vót nhọn và xẻng chuẩn bị sẵn sàng, nếu địch đổ bộ xuống thì phải chiến đấu đến cùng, bảo vệ thương binh…

Cuối năm 1972 đầu năm 1973, đơn vị được giao nhiệm vụ đảm bảo giao thông đoạn qua phà Quán Hàu. Mặc dù đơn vị có nhiều đồng chí bị thương vong trong các trận đánh, nhưng toàn đơn vị đã bảo đảm đường không bị tắc, những đoàn xe nối đuôi nhau chở hàng vào tiền tuyến. Đã 3 lần Đại đội 202 đã làm lễ truy điệu sống cho chị Hiền, trước khi chị trực tiếp phá bom nổ chậm, và cả ba lần chị đều hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, mạch máu giao thông được thông suốt. Sau những ngày lao động, chị tổ chức, động viên anh chị em học tập văn hoá, luyện tập quân sự. Kết quả, khi chiến tranh kết thúc 100% anh chị em mù chữ trong đại đội đều biết đọc, biết viết, trong đó có 93 đồng chí tốt nghiệp cấp 1 chuyển lên cấp 2.

Tháng 7 năm 1993 khi đã về nghỉ hưu, mặc dù sức khoẻ không được tốt nhưng chị vẫn tham gia hoạt động đoàn thể, hiện chị vẫn giữ cương vị là Trưởng ban liên lạc của Đội TNXP Trường Sơn, Chủ tịch Hội Cựu TNXP phường Lê Mao, Trưởng ban liên lạc truyền thống Đội 241 TNXP, tổ phó tổ dân cư trên địa bàn chị sinh sống. Người chồng thương yêu của chị đã ra đi về cõi vĩnh hằng, giờ chỉ có chị và 1 cô con gái chưa lập gia đình sống cùng, còn 2 người con trai đi lập nghiệp xa nhà. Chị dành tất cả tình yêu thương cho con cái và những người đồng đội cũ. Chị Hiền tâm sự với chúng tôi: “Điều mong mỏi nhất của tôi lúc này là Đại đội 202 – N241 – P31 Tổng đội TNXP Nghệ An được Đảng, Nhà nước xét tặng danh hiệu Đơn vị anh hùng LLVT nhân dân, bởi đó là một đơn vị có bề dày chiến công; là niềm tự hào của một thế hệ chiến sĩ TNXP Nghệ An trên những tuyến đường ra mặt trận, là nơi chúng tôi đã hiến dâng cả tuổi trẻ của mình cho Tổ quốc”.

Từ nhiệm vụ vận chuyển bảo đảm cơ sở vật chất, vũ khí đạn dược trong khoáng chiến chống Mỹ nói chung, trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 nói riêng, nữ Anh hùng LLVT nhân dân Hồ Thị Hiền và các cựu TNXP Tổng đội TNXP tỉnh Nghệ An cũng trăn trở nhiều điều về công tác bảo đảm hậu cần trong chiến tranh hiện đại nếu xảy ra. Theo các anh, các chị, khi kẻ thù mạnh hơn ta cả về quân sự, kinh tế, ta muốn giành chiến thắng thì phải chủ động tiến hành công tác chuẩn bị thật chu đáo. Phải động viên, phải huy động được sức mạnh của toàn dân, sức mạnh của cả nước cho nhiệm vụ quan trọng này. Chiến tranh trong tương lai (nếu xảy ra) có thể là chiến tranh không phân tuyến, tiền tuyến – hậu phương không rõ ràng như trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Vì thế, việc xây dựng các căn cứ hậu cần tại chỗ cần được đặc biệt quan tâm. Còn về công tác vận tải, theo chị Hiền và các anh, các chị cựu thanh niên xung phong Đội N241, cùng với xây dựng các đơn vị vận tải hiện đại, vẫn không thể bỏ được lực lượng cơ động vận tải thô sơ. Với đặc điểm địa hình và cách đánh truyền thống của ta, dù phương thức tác chiến có thay đổi như thế nào chăng nữa thì lực lượng gùi thồ vẫn phát huy tốt tác dụng.

Ngô Thị Nga
qdnd.vn

Căng địch ra mà đánh… phối hợp với Tây Nguyên

Trận then chốt thứ nhất, thứ hai…đã diễn ra trên rừng núi Cao Nguyên, BCH chiến dịch chỉ thị cho trinh sát các đơn vị nắm chắc tình hình địch và không bỏ qua một động thái nào của chúng. Tại Tổng hành dinh, cấp trên đã tính toán đến khả năng địch đổ quân phản kích chiếm lại địa bàn. Cấp trên không chỉ có tin hàng giờ về động thái của quân đoàn 2 Nguỵ mà còn “để mắt” đến lực lượng trù bị chiến lược của Quân lực VNCH, là sư đoàn Dù, sư đoàn Thuỷ quân lục chiến đang bị “treo chân” tại Quân khu 1. Liệu hai sư đoàn cơ động chiến lược này có thể điều binh “chữa cháy” cho Vùng 2 chiến thuật được không? Câu chuyện của Thiếu tướng Phan Hàm sau đây cho thấy, Tổng hành dinh đã chỉ đạo Quân Khu Trị -thiên và Binh đoàn Hương Giang phối hợp chiến trường rất kịp thời, khiến cho lực lượng dự bị chiến lược bị “dính chân”, trở thành lực lượng đồn trú, chữa cháy ngay tại Quân khu 1 còn không xong, nói chi đến có thể đi phản kích “giúp người”.

Không chỉ giam chân địch, Chiến trường Trị -Thiên, Huế cũng bùng lửa nơi nơi, khiến cho địch lung túng khắp các vùng . “Căng địch ra mà đánh” đã là một binh pháp được ứng nghiệm rất thành công giữa những ngày tháng 3 nóng bỏng này.

*  *  *

Đầu tháng 3 năm 1975, bầu không khí Trung Bộ đang êm ắng, bỗng trở nên náo nhiệt hẳn lên. Ngày 5 tháng 3 ta đánh sập cầu An Lỗ, tiếp đến phục kích trên đèo Hải Vân, vây ép một số điểm cao ở bắc Quảng Trị: 365-Động Ong Do-235. (Thực hiện đúng chỉ thị của Tổng hành dinh, sớm hoạt động tác chiến, vừa thu hút chú ý của địch, nghi binh chiến lược, vừa giam chân lực lượng hai sư đoàn trù bị, không cho chúng rảnh tay ứng cứu cho nhau, vừa tạo thế chiến lược cho toàn miền…Sập cầu An Lỗ, đồng bằng sông An Lỗ bị uy hiếp, địch rất sợ điều này, bởi đây là khúc dễ chia cắt nhất . Tướng Lê Quang Lưỡng, sư trưởng sư Dù, từ năm 1974, khi phải điều các lữ dù đi cứu Thượng Đức đã sớm nhận ra mối nguy kịch, nếu “ Cộng quân cắt đồng bằng sông An Lỗ-TDB)

Những hoạt động của ta ở bắc Quảng Trị lần này, theo chúng nắm được, hình như đều có bộ binh, xe tăng, bộ đội địa phương tham gia. Hơn nữa, chúng còn phát hiện thêm là mạng thông tin VTĐ ở Ba Lòng vẫn còn nằm nguyên tại chỗ, lên tiếng đều đều. Sự kiện giật gân nhất là tin sư đoàn 308 sẽ vượt sống Thạch Hãn và tiến công thẳng vào thành phố Quảng Trị… Tất cả những bằng chứng ấy đều đi đến một kết luận dứt khoát là: “Rõ ràng Việt Cộng đã lặp lại cái trò chiến dịch Quảng Trị năm 1972 rồi…”!!!

Trong những đêm 5, 6, 7, 8 tháng 3 năm 1975,những ngày đó, mặt trận Tây Nguyên, ta đang nín thở lần lượt tạo các đòn đánh cài thế, chia cắt. Cũng lúc này địch căng mắt ra để theo dõi những hoạt động của các đơn vị chủ lực của ta, thì dưới sự chỉ đạo, chỉ huy của Thường vụ Quân khu uỷ Khu 5 và Bộ tư lệnh mặt trận, 5 tiểu đoàn bộ binh, 2 tiểu đoàn đặc công, gần 100 đội công tác và các đôi vũ trang địa phương, cùng với lực lượng chính trị và cơ quan chỉ huy, lãnh đạo các cấp tỉnh, huyện cả thảy hơn 3.000 tay súng, lặng lẽ đột nhập đồng bằng, hướng về các địa bàn trọng điểm. Dưới ánh sáng sao, từng đoàn người lặng lẽ vượt qua đường quốc lộ, băng qua những bãi cát trắng, những cánh đồng lâu ngày bị bỏ hoang, cỏ mọc lút đầu người, rồi chia tay nhau về các khu tập trung, theo sự phân công từ trước. Ngọn lửa cách mạng lâu nay ấp ủ trong lòng người dân Trị Thiên, đang chờ một lần gió nhẹ, để ngùn ngụt bốc lên.

Giữa lúc ấy, thì quang cảnh ở vùng giáp ranh, vùng rừng núi lại khác hẳn. Một tiểu đoàn công binh của trung đoàn 219 và toàn bộ sư đoàn bộ binh 324, ngày đêm dồn dức ra làm đường lên Động Truồi, một cao điểm trên 1 nghìn mét, cố đưa cho được nửa số pháo trong biên chế lên bố trí trên các mỏm, nòng chĩa thẳng vào các vị trí của địch ở phía nam Huế.

Ngày 8 tháng 3, trước khi nam Tây Nguyên nổ súng một ngày, các trung đoàn của Quân khu và Quân đoàn 2 đồng loạt tiến công trên hai hướng: phía bắc là Phong Sơn, phía nam là đường 14. Một bộ phận lực lượng tập trung của Quảng Trị tiến công vào quận lỵ Hải Lăng. Địch hoảng sợ, rút bỏ 11 điểm chốt. Trên đường 14, đúng 5 giờ 45 phút, sư đoàn 324 nổ súng tiến công. Sau 30 phút đánh dồn dập, pháo chuyển làn vào sân bay Phú Bài và các trận địa pháo của địch ở La Sơn, Ấp 5.

Cuộc chiến đẫu diễn ra gay go ngay từ ngày đầu. Đơn vị đảm nhiệm hướng chủ yếu đến chậm, chiếm lĩnh rất khó khăn. Tiểu đoàn 6 ba lần xung phong đều bị đánh bật, phần thì bị pháo bắn chặn, phần thì bị hoả lực súng máy tạt sườn. Ở cao điểm 309, hai tiểu đoàn địch chống trả quyết liệt. Thương vong ngày càng nhiều. Trên hướng thứ yếu, sau một giờ chiến đấu ta dã chiếm được các cao điểm 75, 76 ven theo đường 14. Ngày 10 tháng 3 sư đoàn tổ chức một bộ phận trinh sát tập kích vào cụm xe tăng ở núi Nghệ, bắn 4 phát hoả tiễn, diệt luôn 4 xe. Đến 14 giờ cùng ngày tiểu đoàn 4, trung đoàn 2 đột kích vào cao điểm 204. Bị đánh bất ngờ trong lúc chúng đang ăn cơm, nên chỉ sau 45 phút chiến đấu ta dứt điểm. Trong lúc đó, trung đoàn 3 ở Thượng Đức mới trở về đội hình của sư đoàn đã nhanh chóng triển khai đội hình tiến công và làm chủ cao điểm 273.

Quân đội VNCH chở quân phản kích,
nhưng không cứu vãn được

Chiến sự ở cao điểm 303 ngày càng trở nên ác liệt: địch cố giữ, chúng tăng cường thêm trên hướng này 2 tiểu đoàn 61 và 94 của lữ đoàn 14, tập trung phi cơ ném bom có ngày lên đến 170 lần chiếc. Suốt cả một tuần lễ địch giành đi giật lại với ta từng cao điểm, kiên quyết ngăn chặn ta trên tuyến núi Bông, núi Nghệ ở tây nam Phú Bài.

Mặt trận chủ trương: sư đoàn 324 phải giữ vững các khu vực đã chiếm được, sư đoàn 325 thì gấp rút chuẩn bị để tiến công vào khu vực Kim Sắc, cao điểm 560 để phối hợp, đồng thời bước đầu thực hiện việc chia cắt quốc lộ 1. Vì công tác chuẩn bị có gặp trở ngại, nên thời gian nổ súng phải lùi lại mấy hôm. Địch như phát hiện được lực lượng của ta, phán đoán hướng tiến công chủ yếu của chiến dịch, nên tập trung các trung đoàn 1, liên đoàn 15 biệt động quân và một tiểu đoàn của trung đoàn 51 liên tục phản kích.

Nhân lúc đồng bằng sơ hở, đêm 8 rạng ngày 9 tháng 3, theo đúng kế hoạch cả tám huyện và vùng ven đô, đồng loạt nổi dậy. Lực lượng chính trị, phối hợp chặt chẽ với lực lượng vũ trang địa phương, đánh vào một số chi khu, 30 phân chi khu, chủ yếu nhằm diệt các bộ máy kìm kẹp, kết hợp với vũ trang tuyên truyền trên một diện rộng có 53 xã, 150 thôn với 20 vạn dân. Ở nam Quảng Trị, ta tiêu diệt chi khu Mai Lĩnh, diệt gọn ba phân chi khu, ở bắc Thừa Thiên, diệt 5 phân chi khu: Phong Chương, Phong Hoà, Phong Bình, Phong Niên và Quảng Phú; ở nam Thừa Thiên, đánh vào 10 phân chi khu; diệt gọn 3. Ở phía bắc, kho xăng Động Toàn bị đánh cháy; ở khu giữa ta bắn pháo vào Mỹ Chánh, Đồng Lâm, Hiệp Khánh và ở phí nam, đèo Hải Vân bị uy hiếp. Cả đồng bằng Trị Thiên, dài trên 100 cây số, đâu đâu cũng vang rền tiếng súng tiến công, tiếng reo hò nổi dậy, Nhân dân như sống lại những ngày tưng bừng của Tết Mậu Thân.

Sự phối hợp tuyệt đẹp giữ đồng bằng và vùng giáp ranh trong những ngày này, đã làm cho đối phương vô cùng hoảng sợ. Bộ máy kìm kẹp mà Mỹ nguỵ đã ra sức xây dựng trong bao nhiêu năm bị tan rã nhanh chóng, chúng bỏ chạy toán loạn, đi đâu cũng bị đánh. Một bầu không khí hoang mang dao động lan tràn trong hàng ngũ tay sai.

Biện pháp đối phó trước tiên là vội vã rút bỏ một số chốt không quan trọng để co về những nơi hiểm yếu hơn ở vùng giáp ranh be bờ, cố thủ. Đến ngày 10 tháng 3, địch bắt đầu phản kích lại trên từng hướng. Ở những nơi có lực lượng của ta trụ lại, thì dùng những phân đội bộ binh nhỏ, có xe tăng yểm hộ, đánh phá quyết liệt và có gây thương vong trong các lực lượng vũ trang địa phương.

Sớm dự kiến tình huống có thể xảy ra, ngày 12 tháng 3, Quân uỷ Trung ương chỉ thị cho các chiến trường: “Địch đang có bước sa sút mới sau thắng lợi của ta ở Tây Nguyên. Ta có khả năng giành thắng lợi to lớn hơn với nhịp độ nhanh hơn dự kiến. Cần phải quán triệt tinh thần khẩn trương, mạnh bạo, kịp thời lợi dụng điều kiện mới, giành thắng lợi to lớn hơn nữa. Tiêu diệt thật nhiều sinh lực địch trong trong khi chúng rút chạy…”.Được sự chỉ đạo kịp thời của trên, Thường vụ Khu uỷ và Quân khu uỷ đã họp, đánh giá tình hình, khẳng định những thắng lợi bước đầu và đề ra những chỉ thị bổ sung cần thiết, cho các đơn vị. Ngày 13 tháng 3, trung đoàn 6 của tính bắt đầu tiến công trên đường 12, chiếm Chúc Mao, diệt địch ở cao điểm 300, uy hiếp Bình Điền, Động Trạch. Phòng tuyến giữa, ở ngay sát nách Huế có nguy cơ bị chọc thủng. Ngày 15 tháng 3, địch rút bỏ một khu vực lớn từ Đèo Đông đến cao điểm 551

.

Về phía đối phương trong những ngày này, cơn sóng gió không chỉ diễn ra trên chiến trường mà cả trong nội bộ họ nữa. Được hậu thuẫn mạnh mẽ, sau ngày 6 tháng 3, Ngô Quang Trưởng tỏ ra bướng bỉnh không chấp hành mệnh lệnh của Bộ Tổng tham mưu quân đội Cộng hoà. Ông ta chần chừ mãi đến ngày 13 tháng 3 mới bay về Sài Gòn. Viên gạt nhẹ quả bóng: “Đây là lệnh của Thiệu”. Trưởng báo cáo với Thiệu là không nên rút lui về Đà Nẵng, vì đối phương đang uy hiếp quốc lộ 1. Tốt nhất là nên ở lại Huế và chuẩn bị chiến đấu, may ra còn có thể đem lại cho nhân dân một ít lòng tin. Trưởng thấy còn có các căn cứ phòng thủ khá tốt chung quanh Huế và có thể tập trung quân co cụm vào ba nơi trong phạm vi vùng 1 chiến thuật: Huế, Đà Nẵng, Chu Lai. Kỳ kèo mãi, Thiệu mới đồng ý kéo dài việc rút quân được mấy hôm: dự kiến ngày 17 tháng 3, sẽ rút lữ đoàn dù thứ nhất, ngày 25 tháng 3, rút lữ đoàn thứ hai và đến cuối tháng 3, rút xong lữ đoàn cuối cùng. Khi trưởng hỏi về sư đoàn lính thuỷ đánh bộ, Thiệu trả lời là sẽ đê nguyên ở vùng 1 và sẽ cố thủ Huế. Trưởng cảm thấy hơi an tâm. Nhưng trong lúc ăn cơm, hỏi lại Khiêm, thì Khiêm lại rỉ tai là Thiệu đang nghiên cứu cả việc rút sư đoàn lính thuỷ đánh bộ về, thực hiện chiến lược mới: nhẹ ở đầu, nặng ở đấy. Đầu là vùng 1 và đáy là Sài Gòn. Như vậy có nghĩa là sẽ hy sinh các tỉnh phía bắc và cả Tây Nguyên.

*  *  *

Ngày 17 tháng 3, Quân uỷ Trung ương chỉ thị cho Quân khu và Quân đoàn cụ thể thêm: “Phải táo bạo đưa lực lượng vượt qua tuyến phòng thủ bên ngoài, thọc xuống cắt đứt đường số 1, đánh chiếm Phú Lộc, chuẩn bị hoả lực đánh vào Huế và đôn đốc đánh sớm hơn dự kiến…” (Điện số 517, ngày 17 tháng 3).

Thường vụ Khu uỷ và Thường vụ Đảng uỷ mặt trận lại họp và nhận định: thời cơ thuận lợi mới đã xuất hiện, nên đã hạ quyết tâm, khẩn trương, mạnh bạo tiến công, dùng lực lượng tại chỗ đánh mạnh vào phòng tuyến địch, kết hợp với thọc sâu, chia cắt, phá thế co cụm, giành thắng lợi lớn ở đồng bằng, tiến tới bao vây, cô lập Huế.

Thực hiện các chỉ thị, mệnh lệnh cnói trên, trong ngày hôm ấy Bộ tư lệnh Quân khu dùng toàn bộ lực lượng của tỉnh Quảng Trị đang từ trong thế phòng ngự phía bắc, chuyển sang tiến công trên hai hướng: hướng đông, từ Thành Hội theo trục đường 86; hướng tây từ Tích Tường, Như Lệ, theo đường 1, tiến vào. Các lực lượng đã rút lên vùng giáp ranh để củng cố, phải lập tức quay trở lại đồng bằng, đánh địch, phát động quần chúng nổi dậy. Phía bắc Huế, trung đoàn 4 bộ binh, thọc ra cắt đường quốc lộ 1, hướng nam Huế thì bỏ khu vực đường 14 và các cao điểm đang giành đi giật lại với địch, mà chuyển xuống cắt giao thông ở khu vực Lương Điền, Đá Bạc.

Cũng trong ngày 17, về phía địch, Trưởng ngậm đắng nuốt cay tiễn chân lữ đoàn dù về Nam và triển khai lại lực lượng. Lần thứ hai trong vòng hai tuần lễ, lại một lữ đoàn thuỷ quân lục chiến nữa phải rút khỏi phòng tuyến phía bắc Huế, để co về khu vực đồi núi đèo Hải Vân nhằm tăng cường cho tuyến phòng thủ Đà Nẵng, vì giữa hai thành phố Huế và Đà Nẵng, thì Huế là đầu mà Đà Nẵng là đáy. Lữ đoàn lính thuỷ đánh bộ cuối cùng còn lại trên đất Quảng Trị, chỉ còn làm nhiệm vụ của một tấm lá chắn bảo vệ cho sư đoàn 1, tức là thực hiện giai đoạn hai trong kế hoạch chiến lược của Trưởng.

3 giờ sáng ngày 19 tháng 3 cờ Mặt trận đã cắm trên Thành cổ Quảng Trị, và đến 15 giờ hôm áy, pháo lớn đã bắt đầu giội bão lửa xuống khu vực Tây Lộc, Mang Cá, trong thành phố Huế. Cái gọi là tuyến tác chiến trì hoãn, thực ra đã không trì hoãn được phút giây nào cả, mà chỉ lo giẫm lên nhau chạy dài. Sau một ngày tiến công, toàn tỉnh Quảng Trị được giải phóng.

( Trích đoạn giao nhiệm vụ nổ súng gấp cho mặt trận Huế- Trị Thiên- Hồi ký Tổng hành dinh trong mùa Xuân đại thắng của đại Tướng Võ Nguyên Giáp)

Ngày 28-2-1975, đồng chí Thanh Quảng, thay mặt Bộ Tư lệnh Quân khu Trị – Thiên và đồng chí Hoàng Đan, thay mặt Bộ Tư lệnh Quân đoàn II ra Bộ báo cáo quyết tâm cuối cùng.

Các đồng chí có mặt rất đúng giờ tại Tổng hành dinh.

Cùng dự nghe báo cáo với tôi, có các anh Lê Trọng Tấn, Lê Hữu Đức. Với tinh thần phấn chấn, các đồng chí trình bày kế hoạch tác chiến với những mục tiêu, nhiệm vụ còn cao hơn cả những mục tiêu, nhiệm vụ được giao.

Nghe báo cáo xong, tôi hỏi:

– Thế nếu thời cơ thuận lợi, các đồng chí đã có kế hoạch phảt triển tiến công giải phóng Trị – Thiên – Huế chưa?

Đang có tâm trạng phấn khởi, hai đồng chí bỗng hoá ra lúng túng. Tôi hỏi thêm:
– Kế hoạch cơ bản như thế này là được. Nhưng các đồng chí phải làm ngay một kế hoạch phát triển tiến công khi thời cơ thuận lợi, mà mục tiêu của nó là giải phóng Trị – Thiên – Huế. Các đồng chí đã rõ chưa?

Sau giây phút ngỡ ngàng, nét mặt hai đồng chí tươi hẳn lên. Cả hai đồng chí đồng thanh trả lời: Rõ!

Về thời gian mở màn chiến dịch, các đồng chí đề nghị cho lui thời gian chuấn bị thêm năm ngày, tức là đến hết ngày 9-3. Vừa nghe mấy tiếng “9-3”, anh Lê Trọng Tấn đứng phắt dậy nói ngay, giọng gay gắt: Trong chiến dịch lớn có ý nghĩa chiến lược, hiệp đồng nhiều chiến trường mà các đồng chí muốn bắt đầu tiến công ngày nào cũng được hay sao? Các đồng chí lùi lại thì địch đưa sư dù dự bị chiến lược lên nam Tây Nguyên, hướng chính của ta sẽ bị vỡ, cuộc Tổng tiến công sẽ đi đến đâu?…

Anh Tấn nói với hai đồng chí:

– Tôi cũng biết các đồng chí khó khăn. Nhưng các đồng chí phải biết chiến dịch của các đồng chí là nằm trong chiến cuộc chung của toàn quốc. Vậy thời gian phải hết sức chặt chẽ, không thể ai muốn bắt đầu tiến công ngày nào cũng được.

Hôm sau, tôi gặp lại hai đồng chí nói thêm:

Nhớ rằng chiến dịch này không như các chiến dịch khác. Các đồng chí có thể phát huy sáng kiến đánh thật hay để hoàn thành vượt mức kế hoạch, nhưng cần chú ý những việc Bộ Tổng tư lệnh đã quy định cụ thể thì tuyệt đối không được linh hoạt, phải chấp hành thật nghiêm. Phải tích cực sảng tạo thời cơ và sẵn sàng chớp thời cơ tiến lên giành thắng lợi lớn, kể cả giải phóng Huế. Tiêu diệt sinh lực địch là rất quan trọng, nhưng làm đường cơ động cũng quan trọng không kém, các đồng chí phải huy động mọi lực lượng mở đường cơ động, vì có đường thì mới phát triển tiến công được thuận lợi khi có thời cơ.

Hai đồng chí hứa sẽ hoàn thành tất cả các nhiệm vụ Bộ giao, cả về thời gian, địa điểm và khối lượng.

TDB-sưu tầm

Cũng như ở các nơi khác, dẫn đầu các cuộc di tản bao giờ cũng là các binh sĩ rã ngũ. Cũng không có gì lạ, vì những quân nhân bao giờ cũng “nhạy bén” với tin tức hơn ai. Lại nữa, được bộ máy chiến tranh tâm lý tác động mạnh, nên họ sẵn có ấn tượng rất sâu sắc về những cuộc tắm máu, về cái thuyết Domino mà Mỹ, nguỵ hàng ngày nhồi nhét vào đầu óc họ. Lẽ thứ ba là so sánh với thường dân, họ có phương tiện đây đủ hơn và được giành nhiều ưu tiên hơn. Cùng đi với các quân nhân là gia đình họ. Lý luận của các cấp chỉ huy ở Sài Gòn là quân đội sẽ chiến đấu tốt hơn nếu có vợ con bên cạnh, cho nên đã có quyết định cho gia đình ở cạnh binh lính, dù là Huế, Đà Nẵng, Phú Bài, hay ở một tiền đồn xa xôi. Ngoại lệ duy nhất là các sư đoàn lính thuỷ đánh bộ và lính dù.

Trong trường hợp rút lui, các cấp chỉ huy của quân đôi Cộng hoà, mới nhận thấy đây là một trở ngại khủng khiếp, lính không còn ra lính nữa. Họ đã hoà mình trong làn sóng người đang trôi dạt về phía nam, lôi kéo luôn cả một số thường dân có máu mặt: xe gíp, xe honda, xe buýt chật đường. Trong những ngày này, trên đài Sài Gòn, Thiệu ra rả đổ tội cho các chiến sĩ đặc công của ta, đã tìm cách len lỏi vào giữa đám người di tản, rỉ tai hù dọa, tác động tinh thần. Của đáng tội! Binh chủng đặc công, trong lúc này, làm gì có đủ thì giờ để làm cái việc mà Thiệu suy luận và “phịa” ra này.

(Vào thời điểm này, cuộc triệt thoái Cao Nguyên của Quân đoàn 2, Quân khu 2 của Tướng Trưởng trên đường 7 đã sang hồi kết. Huế rụng rời, hai sư đoàn trù bị có lệnh rút… bị chặn…bối rối, còn tâm sức đâu mà đi ứng cứu. Động thái hạ tuần tháng 3 thấy được là lữ dù 3 được chỉ huy quân lực VNCH xé ra, đi chặn đèo Mađrak, để rồi vào ngày 31 tháng 3 phải bỏ chạy xuống đèo, đúng vào ngày Đà Nẵng tan vỡ -TDB)

TDB –biên tập, giới thiệu
qdnd.vn

Hậu phương vững chắc – một trong những yếu tố quyết định thắng lợi

Ký ức và hiện tại

Cuộc kháng chiến chống Mỹ diễn ra trong bối cảnh đất nước tạm thời chia làm hai miền, mỗi miền có một chế độ chính trị khác nhau. Miền Bắc cơ bản đã hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, miền Nam còn bị đặt dưới ách thống trị của đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai bán nước, đòi hỏi Đảng phải có chủ trương đúng đắn đưa cách mạng từng bước phát triển. Từ thực tế đó, nhận thức sâu sắc và vận dụng trung thành, sáng tạo lý luận chủ nghĩa Mác – Lênin về vai trò của hậu phương trong chiến tranh, cũng như mối quan hệ giữa hai giai đoạn cách mạng vô sản, Đảng ta quyết định tiến hành đồng thời hai chiến lược cách mạng: Cách mạng XHCN ở miền Bắc và cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam.

Xây dựng miền Bắc trở thành hậu phương chiến lược, căn cứ địa cách mạng – chỗ dựa vững chắc cho miền Nam đánh Mỹ là một trong những nhân tố quyết định đến thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Đề cập đến mối quan hệ giữa cách mạng hai miền, đồng chí Lê Duẩn khái quát: “Nếu không xây dựng CNXH ở miền Bắc thì không thể đánh thắng Mỹ ở miềnNam. Ngược lại, nếu không đánh Mỹ ở miền Nam thì cũng không thể xây dựng được CNXH ở miền Bắc”. Trong suốt cuộc kháng chiến, nhân dân ta vừa đẩy mạnh các hoạt động đấu tranh với Mỹ, ngụy ở miền Nam, vừa từng bước xây dựng CNXH ở miền Bắc. Đảng đặc biệt quan tâm chỉ đạo xây dựng củng cố hậu phương căn cứ địa cách mạng, tạo chỗ dựa vững chắc, tạo nguồn sức mạnh to lớn, cung cấp kịp thời sức người, sức của cho miền Nam đánh Mỹ. Ngay sau khi miền Bắc được giải phóng, đánh giá đúng âm mưu, thủ đoạn của đế quốc Mỹ, nhận thức rõ vai trò của miền Bắc trong đấu tranh thống nhất đất nước, Đảng ta quyết định đưa miền Bắc đi lên xây dựng CNXH. Đây là chủ trương đúng đắn, là cơ sở quan trọng đầu tiên cho xây dựng căn cứ địa cách mạng, hậu phương vững chắc của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

Hội nghị lần thứ 12 Ban chấp hành Trung ương Đảng (tháng 12 năm 1965) khẳng định thành tựu của hơn 10 năm khắc phục hậu quả của chiến tranh, cải tạo XHCN và xây dựng CNXH: “Miền Bắc đã trở thành căn cứ địa vững chắc cho cách mạng Việt Nam trong cả nước, với một chế độ chính trị ưu việt, với lực lượng kinh tế và quốc phòng lớn mạnh”. Những thắng lợi trong xây dựng CNXH ở miền Bắc là cơ sở vững chắc cho Đảng củng cố, giữ vững quyết tâm chống Mỹ, cứu nước.

Nhận thấy vai trò của hậu phương lớn miền Bắc đối với chiến trường miền Nam, đế quốc Mỹ xác định đánh phá hậu phương miền Bắc là mục tiêu chiến lược có ý nghĩa quyết định nhằm phá hoại tận gốc tiềm lực mọi mặt của ta, làm cho ta không còn khả năng chiến đấu. Với âm mưu thâm độc đó, Mỹ đã buộc quân và dân miền Bắc phải đương đầu với cuộc chiến tranh phá hoại ác liệt chưa từng có của không quân, hải quân Mỹ. Đế quốc Mỹ sử dụng số lượng lớn máy bay và bom đạn hòng đánh hủy diệt miền Bắc, đẩy miền Bắc “trở lại thời kỳ đồ đá”. Tuy Mỹ không đạt được ý định chiến lược, nhưng miền Bắc nước ta đã bị tàn phá nặng nề. Mặc dù chiến tranh ác liệt, miền Bắc vẫn tiếp tục xây dựng CNXH, làm tròn nghĩa vụ của hậu phương lớn với tiền tuyến lớn miền Nam. Miền Bắc vừa là hậu phương của miền Nam, vừa là căn cứ địa cách mạng của cả nước… Sau khi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước thắng lợi, đánh giá về vai trò của hậu phương miền Bắc, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng (12 năm 1976) khẳng định: “Không thể nào có thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, nếu không có miền Bắc XHCN, suốt 16 năm qua luôn cùng một lúc phải làm hai nhiệm vụ chiến lược. Đặc biệt từ năm 1965 trở đi, miền Bắc đã dốc vào chiến tranh cứu nước và giữ nước toàn bộ sức mạnh của chế độ XHCN và làm tròn một cách xuất sắc nghĩa vụ căn cứ địa cách mạng của cả nước xứng đáng là pháo đài vô địch của CNXH”.

Ở miền Nam, Đảng ta chỉ đạo xây dựng chiến khu trong các vùng tự do và chủ trương mở rộng các vùng giải phóng mà hạt nhân là các căn cứ địa được xây dựng từ trong kháng chiến chống Pháp. Đến cuối cuộc kháng chiến, vùng giải phóng từng bước được mở rộng, nối liền các căn cứ địa từ Trị – Thiên đến Liên khu V, từ Tây Nguyên tới Đông Nam Bộ vây quanh Sài Gòn, nối liền với Đồng bằng sông Cửu Long, trở thành hậu phương chiến lược tại chỗ vững chắc ở miền Nam, tiêu biểu là Chiến khu Dương Minh Châu, Chiến khu Đ.

Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, hậu phương tại chỗ ở miền Nam được Đảng chỉ đạo xây dựng phát triển rất phong phú. Hậu phương tại chỗ không chỉ là vùng giải phóng và các căn cứ vững chắc mà còn bao gồm cả các “căn cứ lõm”, các cơ sở nằm sâu trong vùng địch kiểm soát. Tuy nhiên, trong chỉ đạo xây dựng căn cứ địa cách mạng, thành công lớn nhất của Đảng ta là đã xây dựng được “thế trận trong lòng dân”, “căn cứ trong lòng dân”.

Ngoài những căn cứ được xây dựng ở trong nước, Đảng ta còn phối hợp với hai nước bạn Lào và Cam-pu-chia xây dựng căn cứ địa, mở rộng vùng giải phóng dựa lưng vào nhau tạo thành hậu phương chiến lược tại chỗ trên chiến trường miền Nam. Đây là một nhân tố quan trọng góp phần quyết định trực tiếp đến thắng lợi của cuộc kháng chiến.

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Đảng ta chỉ đạo xây dựng hậu phương căn cứ địa cách mạng vững chắc, tạo điều kiện để duy trì, đẩy mạnh đấu tranh quân sự, chính trị đưa cuộc kháng chiến đến giành thắng lợi hoàn toàn, giải phóng miền Nam thống nhất Tổ quốc.

Đảng lãnh đạo xây dựng hậu phương căn cứ địa cách mạng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, không chỉ có ý nghĩa lịch sử mà còn có giá trị hiện thực sâu sắc. Trong tình hình mới, để sẵn sàng ứng phó thắng lợi với các tình huống chiến lược, nhất là tình huống chiến tranh, ngay từ thời bình Đảng và nhân dân ta có nhiều việc phải làm. Đặc biệt Đảng cần có chủ trương, biện pháp đúng đắn chỉ đạo xây dựng các căn cứ hậu phương, nhất là “hậu phương lòng dân”, “thế trận lòng dân” tạo chỗ dựa vững chắc cho chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc (nếu xảy ra) giành thắng lợi.

Tiến sĩ Nguyễn Văn Bạo
qdnd.vn

Đột phá cửa mở phụ giành thắng lợi

Ký ức và hiện tại

Thiếu tướng Bùi Huy Bổng, sinh năm 1927, tại Ứng Hoà, Hà Tây (nay là Hà Nội). Ông tham gia cách mạng tháng 3 năm 1945, làm liên lạc cho Mặt trận Việt Minh tỉnh Thái Nguyên. Nhập ngũ tháng 7 năm 1945, trong 44 năm chiến đấu và trưởng thành ông gắn cuộc đời mình với cả hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược.

Đặc biệt cùng với Sư đoàn 320A, ông đã có mặt ở hầu khắp các chiến trường từ nước bạn Lào, đến Quảng Trị, Tây Nguyên, Sài Gòn… Trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, tháng 4 năm 1975, ông là Chính ủy Sư đoàn 320A, Quân đoàn 3 – sư đoàn được giao nhiệm vụ đánh chiếm căn cứ Liên hợp Đồng Dù, tiêu diệt Sư đoàn 25 ngụy, mở toang cửa ngõ phía tây bắc Sài Gòn cho Quân đoàn đánh chiếm sân bay Tân Sơn Nhất, Bộ Tổng tham mưu ngụy và tiến về dinh Độc Lập…

Nhắc đến những kỷ niệm chỉ huy chiến đấu, Thiếu tướng Bùi Huy Bổng bồi hồi kể: “Đây là một trong những trận tôi được trực tiếp chỉ huy có quy mô hiệp đồng quân binh chủng lớn trong đời. Đồng Dù là một căn cứ liên hợp do Mỹ xây dựng nhằm đàn áp phong trào cách mạng ở Củ Chi (Thành phố Hồ Chí Minh) và khu vực lân cận của Sư đoàn 25 ngụy, do Chuẩn tướng Lý Tòng Bá – một kẻ chống cộng sản khét tiếng chỉ huy. Sư đoàn tôi được tăng cường lực lượng xe tăng, pháo binh, pháo phòng không, đặc công… Chúng tôi sử dụng hai Trung đoàn bộ binh 48 và 52 có xe tăng đi đầu đánh chiếm căn cứ Đồng Dù, còn Trung đoàn 64 phối hợp với Trung đoàn Đặc công 198 chiếm giữ cầu Bông, cầu Sáng và tiến vào Dinh Độc Lập. Theo kế hoạch, lệnh phát hoả vào lúc 5 giờ sáng 29 tháng 4 năm 1975, Trung đoàn 48 từ khu Bến Lức hành tiến thuận lợi, nhưng phá xong cửa mở với 12 hàng rào dây thép gai thì không phát triển được vào tung thâm, vì địch cho 12 xe tăng và nhiều lực lượng kiên quyết ngăn chặn hòng bịt cửa mở. Qua đài kỹ thuật chúng tôi còn nghe Lý Tòng Bá động viên binh lính: “Các chiến hữu cứ yên tâm chiến đấu, để tôi xem bọn Bắc Kỳ, bụng toàn rau muống còn giở được trò gì nữa”.

Trước tình hình trên, nếu cứ tiếp tục đột kích thì sẽ thêm thương vong, chậm thời gian tác chiến và ảnh hưởng đến toàn chiến dịch, vì thế khoảng 10 giờ trưa, chỉ huy Sư đoàn 320A quyết định tổ chức mở cửa mở phụ. Vì địch đang tập trung lực lượng chống đỡ ở cả hai cửa mở chính của Trung đoàn 48 và Trung đoàn 52, ta mở cửa mở phụ, sẽ gây được bất ngờ, từ đó giành thế chủ động trên chiến trường. Quả đúng như dự định, đến 10 giờ 30 phút trưa hôm đó, Trung đoàn 48 từ cửa mở phụ đột phá chiếm được Sở chỉ huy Sư đoàn 25 ngụy. Quá bất ngờ, Chuẩn tướng Lý Tòng Bá không kịp trở tay vội vàng cởi bỏ quân phục chạy trốn. Khi bị bắt lần thứ nhất, hắn nói dối là dân sự vào thầu xây dựng nên được thả tại chỗ. Sau đó, do phát động nhân dân truy tìm, du kích Củ Chi đã bắt được Lý Tòng Bá khi hắn đang ủ rũ ở bến xe đợi ô tô về Sài Gòn. Thay mặt cho Bộ chỉ huy, tôi đã trao lá cờ “Quyết chiến – Quyết thắng” của Sư đoàn cho Trung đoàn 48 ngay tại nơi Lý Tòng Bá vẫn làm việc… Bài học mà Sư đoàn 320A rút ra qua trận đánh là sự linh hoạt, sáng tạo trong xử trí tình huống. Khi cửa mở chính gặp khó khăn, đội phá bằng mở cửa mở phụ là một quyết định sáng suốt.

Năm 1989, Thiếu tướng Bùi Huy Bổng về nghỉ hưu tại phường Tương Mai, quận Hoàng Mai, TP Hà Nội. Ông được bầu làm Chủ tịch Hội CCB phường, rồi Phó chủ tịch Hội CCB quận Hai Bà Trưng (1997-2001). Tuổi cao nhưng ông luôn là một đảng viên gương mẫu, một hội viên CCB tích cực đóng góp vào phong trào chung của địa phương. Khi được hỏi về công tác huấn luyện của bộ đội ta hiện nay, Thiếu tướng Bùi Huy Bổng nói: Kinh nghiệm cho thấy khi làm công tác chuẩn bị chiến đấu, ta cần xây dựng nhiều phương án đánh địch. Trong quá trình chiến đấu, người chỉ huy phải mưu trí, linh hoạt, thay đổi cách đánh và tiến công liên tục để giành thắng lợi cuối cùng.

Tô Kiều Thẩm (ghi)
qdnd.vn

Nghệ thuật tạo thế đánh các trận then chốt quyết định

Chiến dịch Tây Nguyên

Thực hiện quyết tâm chiến lược của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương, đầu tháng 3-1975, quân và dân ta, nòng cốt là các binh đoàn chủ lực đã mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, mở đầu là chiến dịch Tây Nguyên. Lực lượng của ta tham gia chiến dịch gồm 5 sư đoàn, 4 trung đoàn bộ binh và nhiều đơn vị binh chủng, cùng LLVT trên địa bàn chiến dịch.

Lực lượng địch ở Tây Nguyên có 1 sư đoàn bộ binh, 7 tiểu đoàn biệt động quân, 1 lữ đoàn thiết giáp, 1 sư đoàn không quân… Địch phán đoán, nếu ta đánh Tây Nguyên sẽ đánh phía bắc, nên chúng tập trung lực lượng phòng giữ giữa Plei-cu và Kon Tum, còn tại Đắc Lắc để lực lượng ít hơn trấn giữ. Đối phương cho rằng, trong năm 1975, ta chưa đủ sức đánh thị xã Buôn Ma Thuột, hoặc nếu đánh thắng cũng không thể giữ được khi chúng phản kích chiếm lại. Buôn Ma Thuột là một vị trí trọng yếu, nhưng địch có những sơ hở, càng vào sâu trong thị xã, lực lượng phòng thủ càng mỏng.

Bộ đội Sư đoàn 316 đánh chiếm Buôn Ma Thuột. Ảnh tư liệu

Đối với ta, giải phóng được Buôn Ma Thuột sẽ đập tan hệ thống phòng thủ của địch ở nam Tây Nguyên, tạo thế trận hiểm mới, làm thay đổi cục diện chiến trường trên địa bàn Tây Nguyên và đồng bằng Khu 5. Theo kế hoạch, sau một số trận đánh tạo thế và nghi binh chiến dịch, ngày 10 và 11-3, quân ta mở cuộc tiến công bằng sức mạnh hiệp đồng binh chủng, với 4 cánh quân chủ lực, kết hợp với các đơn vị tinh nhuệ, các tiểu đoàn bộ binh bí mật luồn sâu bố trí sẵn, bỏ qua các đồn bốt ngoại vi, dùng binh lực lớn cơ giới tiến công với tốc độ cao theo các trục đường lớn, tiến thẳng vào giải phóng thị xã Buôn Ma Thuột. Đây là trận then chốt mở đầu quyết định của chiến dịch, làm rối loạn sự chỉ đạo chiến lược và đảo lộn thế phòng thủ của địch ở Tây Nguyên. Tiếp đó, từ ngày 14 đến 18-3, quân ta đánh trận then chốt thứ hai, đập tan cuộc phản kích của Sư đoàn bộ binh 23 địch, đánh bại ý đồ tái chiếm Buôn Ma Thuột, góp phần quan trọng thúc đẩy chiến dịch phát triển.

Phát hiện địch có dấu hiệu co cụm lực lượng, chuẩn bị rút chạy từ Tây Nguyên theo đường số 7 về phòng giữ vùng đồng bằng, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương chỉ thị Bộ chỉ huy chiến dịch chuẩn bị đánh địch rút chạy. Từ ngày 17 đến 24-3, ta tập trung lực lượng đánh trận then chốt thứ ba, truy kích tiêu diệt quân địch rút chạy trên đường số 7, đập tan ý định bỏ Tây Nguyên về co cụm ở đồng bằng của địch, tạo nên bước ngoặt chiến lược của cuộc chiến tranh. Ta tiêu diệu và làm tan rã Quân đoàn 2, Quân khu 2 ngụy cùng một bộ phận lực lượng cơ động chiến lược, giải phóng toàn bộ Tây Nguyên gồm 5 tỉnh: Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc, Phú Bổn và Quảng Đức.

Thắng lợi của chiến dịch Tây Nguyên đánh dấu bước trưởng thành của quân đội ta về nhiều mặt, trong đó nổi bật một số vấn đề nghệ thuật chiến dịch.

Trước hết, chiến dịch Tây Nguyên thể hiện nét đặc sắc về nghệ thuật chọn hướng và mục tiêu tiến công chủ yếu rất đúng và hiểm. Lựa chọn nam Tây Nguyên làm hướng tiến công chủ yếu và Buôn Ma Thuột làm mục tiêu chủ yếu, ta đã “điểm trúng huyệt”, đánh vào nơi hiểm yếu nhất của địch. Đánh Buôn Ma Thuột, ta có điều kiện triển khai lực lượng tiến công địch bằng sức mạnh binh chủng hợp thành quy mô lớn; đồng thời giải phóng được Buôn Ma Thuột, tạo thuận lợi cho ta phát triển thế tiến công chia cắt địch về chiến dịch và chiến lược, làm đảo lộn thế phòng ngự của địch trên địa bàn Tây Nguyên.

Nghệ thuật nghi binh, tạo thế, giữ vững quyền chủ động chiến dịch cũng là nét nổi bật. Trước khi mở chiến dịch, ta tiến hành hàng loạt các biện pháp nghi binh, thu hút và giam chân đại bộ phận chủ lực địch ở hướng bắc Tây Nguyên, trong khi đó ta bí mật tập trung lực lượng để tiến công hướng nam Tây Nguyên. Vì thế, khi ta tiến công ở nam Tây Nguyên, địch hoàn toàn bị bất ngờ, không kịp đối phó, dẫn đến thất bại nhanh chóng.

Tạo ưu thế về lực lượng và phương tiện là thành công lớn của ta. Trong chiến dịch này, ta sử dụng lực lượng chủ lực của Bộ (14 tiểu đoàn bộ binh) và chủ lực của Quân khu 5, Đông Nam Bộ tăng cường (10 tiểu đoàn), phối hợp với lực lượng vũ trang tại chỗ (28 tiểu đoàn), tạo ưu thế hơn hẳn về lực lượng và phương tiện so với địch. Trong trận Buôn Ma Thuột, lực lượng ta gấp 4 đến 5 lần quân địch, nhưng đến trận đánh Sư đoàn 23 địch phản kích và trận truy kích địch trên đường số 7, lực lượng ta chỉ gần tương đương địch, thậm chí ít hơn, nhưng vẫn thắng do thế ta vững, địch hoang mang, mất sức chiến đấu trước tiến công mạnh mẽ của quân ta.

Vận dụng cách đánh chiến dịch và tổ chức các trận then chốt thể hiện sự sáng tạo, linh hoạt của ta, như đánh cắt giao thông, đánh thị xã, đánh căn cứ, đánh địch phản kích, đánh địch rút chạy. Cách đánh chung là tiến hành nghi binh tạo thế, thu hút, giam chân chủ lực địch ở hướng khác (bắc Tây Nguyên), tạo ưu thế trên hướng chủ yếu và mục tiêu chủ yếu (nam Tây Nguyên) để bao vây, chia cắt, cô lập từng cụm quân địch, kết hợp đột phá, thọc sâu, trong, ngoài cùng đánh. Đặc biệt, ta tổ chức đánh các trận then chốt linh hoạt, hiệu quả, trong đó Buôn Ma Thuột là trận then chốt mở đầu thắng lợi có ý nghĩa quyết định, tạo đột biến về chiến dịch, dẫn đến đột biến về chiến lược, tạo thời cơ thuận lợi để bộ đội ta đánh những trận then chốt tiếp theo nhanh chóng giành thắng lợi, kết thúc chiến dịch, mở đầu thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975.

Ngày nay, đặc điểm và tính chất của chiến tranh bảo vệ Tổ quốc đặt ra cho nghệ thuật quân sự Việt Nam, trong đó có nghệ thuật chiến dịch với những nội dung mới. Những kinh nghiệm về nghệ thuật chiến dịch trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước nói chung, trong chiến dịch Tây Nguyên nói riêng là kết tinh truyền thống đánh giặc giữ nước của dân tộc, tri thức quân sự của thời đại và đổi bằng biết bao xương máu của bao thế hệ chiến đấu vì độc lập, tự do của Tổ quốc. Đó là tài sản vô giá cần được tiếp tục nghiên cứu, phát triển sáng tạo, phù hợp với điều kiện mới của đất nước và bối cảnh quốc tế, tạo sức mạnh tổng hợp của nghệ thuật quân sự, đánh bại mọi kẻ thù xâm lược, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN.

Đại tá, Tiến sĩ Dương Đình Lập
qdnd.vn