Thư viện

Những bài học từ Việt Nam

TTCN – 12-5-1975, chưa đầy hai tuần sau ngày Sài Gòn được giải phóng, bộ trưởng ngoại giao – trợ lý tổng thống về các vấn đề an ninh quốc gia Henry Kissinger đã gửi cho tổng thống Mỹ Gerald Ford một bản ghi nhớ (memorandum), do Hội đồng An ninh quốc gia Mỹ soạn thảo, tổng kết tạm thời về “những bài học từ VN”.

Văn bản này được lưu trong thư viện của tổng thống Ford và đã được giải mật vào tháng 4-2000 cùng với 40.000 trang hồ sơ của Hội đồng An ninh quốc gia Mỹ.

Mật bản ghi nhớ gửi: Tổng thống G.Ford
Người gửi: Henry A.Kissinger
Chủ đề Những bài học từ VN

Theo yêu cầu của tổng thống, tôi đã chuẩn bị một số ý kiến về “những bài học từ VN” để ngài xem xét và làm cơ sở trả lời những câu hỏi của báo chí về vấn đề này.

Buổi tối 28-4-1975, tổng thống Mỹ G. Ford chủ trì cuộc họp của Hội đồng An ninh quốc gia bàn việc di tản người Mỹ khỏi Sài Gòn

… VN là trường hợp cực kỳ cá biệt về các mặt địa lý, dân tộc, chính trị và cả quân sự, ngoại giao. Và thật sự không có nhiều bài học lắm từ kinh nghiệm ở VN để có thể áp dụng một cách hữu ích cho các nơi khác trên thế giới. Có lẽ chúng ta phải thừa nhận và bằng lòng với điều này thay vì cố vận dụng nó một cách rộng rãi như đã từng làm với “những bài học Munich”.

… Một bài học hiển nhiên được rút ra là tính khách quan và trung thực tuyệt đối trong các tường trình của chính phủ cũng như báo chí là cực kỳ quan trọng. Trong một thời gian dài, những báo cáo chính thức của nhà nước Mỹ có khuynh hướng lạc quan quá đáng và hậu quả là đã không làm cho người dân Mỹ thật sự hiểu được những khó khăn của cuộc chiến.

Ngày 29-4-1975, G. Ford nhận được tin báo lúc nửa đêm ở Washington cho biết chiến dịch dùng trực thăng di tản người Mỹ đã bắt đầu. Lúc này ở Sài Gòn là buổi trưa.

Những phản ánh bi quan của báo chí đã chiếm được lòng tin ngày càng lớn vì diễn biến của thực tế không minh chứng được cho những đánh giá lạc quan của Washington. Và đến một lúc nào đó, những tuyên bố của chính phủ đều bị xem là thiếu khách quan, không chỉ bởi những người đối lập mà còn bởi sự hoài nghi của công chúng ngày càng lan rộng.

…Một bài học khác là sự quan trọng tuyệt đối của việc hướng sự chú ý của chúng ta và sự tranh luận chung vào những vấn đề thật sự thiết yếu – ngay cả khi những vấn đề này không được thể hiện trên các chương trình truyền hình hằng đêm. Chúng ta đã mất sức quá nhiều vào những chuyện vặt như “chuồng cọp Côn Đảo”, vụ Mỹ Lai, chiến dịch Phượng Hoàng… Và quan trọng không kém là chúng ta đã thiếu sự kiên định đối với những mục tiêu ban đầu, dù rằng chúng ta đã đổ không biết bao nhiêu sức người, sức của vào ván bài VN.

Ngày 28 và 29-4-1975: Kissinger đăm chiêu trước khi Sài Gòn sụp đổ.

…Về chiến thuật quân sự, chúng ta không thể kết luận rằng những lực lượng vũ trang của chúng ta không phù hợp với loại chiến tranh này. Ngay cả những lực lượng đặc biệt được thành lập riêng cho cuộc chiến cũng vẫn không thể làm gì hơn được. Nguyên nhân một phần là do bản chất của cuộc xung đột. Nó vừa có tính chất của loại chiến tranh nổi dậy với những cuộc cận chiến trong đêm tối ở xóm làng, lại vừa là cuộc chiến của lực lượng chính qui mà vấn đề kỹ thuật là cực kỳ quan trọng.

Nhưng chúng ta và chính quyền Sài Gòn lại có nhiều khó khăn hơn phía bên kia. Một rắc rối nữa: khi chúng ta xem đó là “cuộc chiến của chúng ta”, chúng ta đã không thúc đẩy được quân đội Sài Gòn chiến đấu thật sự; đến khi chúng ta xem đó là “cuộc chiến của họ” (sau VN hóa chiến tranh), chúng ta lại không giúp đỡ họ đúng mức.

…Trong quá trình đó nền ngoại giao của chúng ta cũng bị thương tổn nghiêm trọng. Chúng ta thường nhận thấy nước Mỹ khó có thể kiên trì một lập trường ngoại giao quá vài tuần lễ. Chúng ta liên tục đi từ nhượng bộ này đến nhượng bộ khác trong khi Hà Nội không thay đổi những mục tiêu và lập trường ngoại giao của họ.

Chỉ trong đàm phán bí mật chúng ta mới đạt được ít nhiều cuộc đối thoại thật sự và rồi họ lại luôn đặt chúng ta dưới một sức ép liên tục của công luận. Điều này đã ám ảnh chúng ta, gây khó khăn cho sự kiên trì một lập trường ngoại giao, trước một kẻ địch kiên quyết và không phải chịu đựng những chống đối từ trong nước.

…Nhưng chúng ta có đạt được lợi ích gì không từ cuộc chiến tranh ở VN? Tôi tin rằng có rất nhiều đấy. Tôi cho rằng quyết định đưa quân chúng ta vào VN năm 1965 đã giúp Indonesia không rơi vào tay cộng sản và duy trì được sự hiện diện của Mỹ ở châu Á, cả về quân sự lẫn kinh tế cùng với ảnh hưởng về chính trị. Và nhờ đó, những đồng minh của chúng ta – gồm cả Nhật Bản – sẽ không cần phải dồn sức thêm cho nỗ lực quốc phòng.

…Vì thế, trong những tuyên bố công khai, chúng ta cần tránh tự lên án và sẽ không mô tả vai trò của chúng ta trong cuộc xung đột như là một thảm họa nhục nhã. Tôi tin rằng những nỗ lực vừa qua của chúng ta về quân sự, chính trị và ngoại giao đã không vô nghĩa…

K.M. trích dịch
tuoitre.vn

This entry was posted on Tháng Tư 29, 2013, in 30.04.1975.

Chứng nhân không bị quên lãng

TTO – Börries Gallasch là người đã ngồi cạnh tổng thống chính quyền Sài Gòn Dương Văn Minh khi ông này tuyên bố đầu hàng hôm 30-4-1975. Sau 30 năm, không ai biết Gallasch là ai, đến từ đâu và có vai trò gì trong thời khắc ấy…

Börries Gallasch ngồi cạnh Dương Văn Minh

Nếu không có một câu chuyện thật đẹp vào mùa thu 2001 thì có lẽ, người tiếp xúc với ông nhiều nhất là đại tá Bùi Văn Tùng cũng đã lãng quên…

Một ngày mùa thu năm 2001, Alice Gallasch Helley, một người phụ nữ Âu châu cùng thông dịch viên đến số nhà 162 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Quận 3, TP.HCM. Bà tìm đại tá Bùi Văn Tùng, người mà chồng bà đã dặn dò phải gặp cho được trước khi ông qua đời. Bà nhìn người đàn ông tóc bạc ngồi trên xe lăn mà không giấu được niềm vui: “Tôi là vợ của Börries Gallasch, người phóng viên mà ông đã cho lên xe để cùng đến đài phát thanh vào ngày giải phóng…”. Ký ức chợt ùa về trong đầu vị chính uỷ lữ đoàn xe tăng 203, mạnh đến nỗi khi kể lại câu chuyện này ông vẫn còn xúc động…

“30-4-1975, khi chúng tôi đưa ông Dương Văn Minh rời Dinh Độc Lập đến đài phát thanh để tuyên bố đầu hàng thì tôi gặp anh phóng viên này. Lúc ấy, xe chở Dương Văn Minh đi trước, xe tôi đi theo sau. Một anh phóng viên mặc đồ bà ba đen, tóc búi củ tỏi xin lên, sau này tôi mới biết đó là anh Hà Huy Đỉnh. Rồi một phóng viên nước ngoài đến, nói bằng tiếng Pháp rất nhẹ nhàng và hiền lành xin đi cùng. Tôi thấy anh này cũng dễ thương nên đồng ý…”, đại tá Tùng nhớ lại. Trên xe, họ trao đổi với nhau khá nhiều về cảm giác của những người lính, chuyện về những ngày hành quân tiến về Sài Gòn…

“Thật sự lúc ấy tôi rất mệt nên cũng không nói chuyện nhiều lắm, chỉ nhớ là anh phóng viên này muốn chuyển tải cho bạn đọc thế giới biết về khoảnh khắc chuyển giao quyền lực giữa hai chế độ, đánh dấu sự thống nhất toàn vẹn của VN…”.

Cái khoảnh khắc lịch sử ấy không kéo dài, chỉ dao động trong vài giờ, và người cựu chiến binh cũng đang quá mệt mỏi sau những ngày căng thẳng chinh chiến nên họ trao đổi không nhiều. Bức ảnh lịch sử “Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng; chấm dứt chiến tranh mở ra thời kỳ mới cho dân tộc Việt Nam độc lập thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ” thật ra là bước thứ hai của việc tuyên bố này.

Trước đó, đại tá Tùng đã thảo lời đầu hàng, ông Minh chép lại. Nhưng đại tá Tùng lại lo ngại khi phát sóng, ông Minh đọc khác đi nên bèn mượn nhờ máy ghi âm của người phóng viên nước ngoài này để ghi âm và phát. “Tôi nhớ, đầu tiên là chiếc máy không hoạt động được vì hết pin. Các bạn sinh viên đang tụ tập gần đấy lập tức chạy đi và mang về cho chúng tôi bốn viên pin.

Lần đầu tiên, ông Minh đọc không mạch lạc, gãy gọn nên tôi yêu cầu anh phóng viên kia xóa đi và ghi lại. Đến lần thứ hai thì suôn sẻ. Sau đó thì nhân viên của đài phát thanh quay về và phát ngay lời tuyên bố đầu hàng của ông Dương Văn Minh. Cuối cùng là tôi đọc tuyên bố tiếp quản thành phố”. Ông Tùng nhớ lại, chính xác đến từng chi tiết nhỏ nhất về dấu ấn lớn nhất cuộc đời mình…

Đại tá bảo: “Sau khi giải phóng, có lần tôi cũng chợt nhớ đến anh phóng viên nước ngoài này, nhưng rồi lại thôi…”. Chỉ có Börries Gallasch vẫn lặng lẽ với những kỷ niệm về ngày độc lập, kỷ niệm về những ngày làm báo tại VN. 15 năm trước đây, ông qua đời vì bệnh ung thư.

Trước khi yên nghỉ, ông còn dặn lại vợ, hãy mang những bài báo của ông đến thăm người chỉ huy quân đội đã giúp ông thực hiện thành công chuỗi phóng sự đặc biệt của đời làm báo. Chính vì thế, bà Alice đã lặn lội nhiều nơi, hỏi thăm nhiều vùng mới tìm được đại tá Tùng. Bà bảo, tìm được bạn của người chồng quá cố của mình là một niềm hạnh phúc, xem như bà đã hoàn thành sứ mệnh mang theo bên người suốt mười mấy năm nay…

Trước đây, cứ mỗi lần nhìn tấm ảnh, chúng tôi lại thắc mắc: người nước ngoài ấy thật ra là ai? Nhưng không ai biết, cũng chẳng có tài liệu nào nói về bức ảnh lịch sử này. Mãi đến kỷ niệm 30-4 năm ngoái, đại tá Tùng mới viết một bài báo giải thích vì sao ông thảo lời đầu hàng cho ông Dương Văn Minh. Trong bài có nhắc sơ qua về phóng viên người Tây Đức tên là Borris Gallash.

Điều đáng tiếc nhất là cái tên đã bị mất những ký tự đặc biệt của tiếng Đức nên mạng internet rộng lớn cũng không tìm ra ông. Chúng tôi gởi bức ảnh này lên khắp các diễn đàn báo chí trên thế giới và cuối cùng tìm được một câu trả lời: “Có lẽ ông ấy là tác giả của tập sách: Thành phố Hồ Chí Minh, giờ đỉnh điểm”.

Đó là một tập sách dài hơn 300 trang được ấn bản năm 1975, hiện vẫn còn vài website kinh doanh sách trực tuyến của Đức rao bán. Tập sách là một cái nhìn rất rộng về cuộc chiến VN vì Gallasch đến VN ngay từ ngày khởi động chiến dịch Tây Nguyên. Ông đi qua nhiều vùng đất, đến nhiều nơi và tiếp cận chiến dịch Hồ Chí Minh bằng cái nhìn sắc sảo.

Sau ngày giải phóng, ông còn tiếp tục lưu lại TP.HCM vài năm nữa để tiếp tục công việc của mình. Lúc ấy, ông làm việc cho một hãng thông tấn của Ý, cộng tác với nhiều tờ báo của Anh, Đức. Hiện vợ ông, bà Alice đang sống tại Washington, Mỹ.

TRẦN NGUYÊN
tuoitre.vn

Bài học lớn nhất là đoàn kết dân tộc

16/04/2005 11:00 (GMT + 7)

TT – Lịch sử chỉ diễn ra một lần nhưng nhận thức về nó là cả một quá trình. Với độ lùi 30 năm kể từ đại thắng mùa xuân 1975 thì vấn đề lịch sử không phải phai mờ đi mà càng rõ hơn.

Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước – cũng như cuộc kháng chiến chống Pháp – là một võ công hiển hách của dân tộc, cũng như ông cha ta từng lập nhiều chiến công và tầm vóc rất lớn.

Nhưng nếu đặt sự kiện đó trong toàn bộ tiến trình lịch sử dân tộc thì chiến tranh chỉ là thời khắc, cho dù cuộc kháng chiến chống thực dân của ta là dài nhất trong lịch sử dân tộc, trường kỳ 30 năm liên tục (nếu cộng luôn thời kỳ bảo hộ thì còn dài hơn nữa). Hiếm có một thế kỷ nào mà dân tộc ta cầm súng cầm gươm lâu dài như thế. Cho nên bên cạnh việc tổng kết chiến công, đánh giá được những võ công hiển hách ấy là tìm ra những bài học giúp ích cho công việc giữ nước lâu dài. Giữ nước là một sứ mệnh trong mọi thời kỳ. Dân tộc ta là một dân tộc yêu chuộng hòa bình thì những tình huống chiến tranh luôn nằm ngoài mong muốn của chúng ta.

Vậy thì bài học cho sự nghiệp giữ nước lâu dài là gì?

Trước hết là bài học được đúc kết muôn thuở: bài học đoàn kết.

Tôi nghĩ rằng: kết thúc của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước có thể nói rằng là một biểu trưng đầy đủ nhất của cuộc chiến tranh nhân dân, của cuộc cách mạng toàn dân và của truyền thống đoàn kết dân tộc. Vì vậy bất kỳ đóng góp của một ai, ở thời điểm nào, tôi nghĩ cũng có một giá trị mà chúng ta phải trân trọng và phát huy, nhất là trong điều kiện chúng ta hiện nay. Đất nước đã thống nhất 30 năm rồi. Cái còn lại là thống nhất lòng người cho sự nghiệp chung.

Trong đó kể cả những con người do hoàn cảnh khác nhau mà đứng về phía bên này hay phía bên kia cuộc chiến, kể cả một bộ phận không nhỏ đồng bào của chúng ta ở nước ngoài: tất cả nên vì sự nghiệp chung.

Sẽ có nhiều nhà nghiên cứu, nhiều học giả tìm tòi khoa học ở những trận đánh, những sự kiện, những cá nhân và rút ra những bài học khác nhau nhưng với tôi, cao hơn cả là tìm bài học nâng cao hơn nữa đoàn kết dân tộc và bài học về bản lĩnh, trí tuệ VN cho sự nghiệp giữ nước, dựng xây đất nước.

Đánh giá về Cách mạng Tháng Tám, Bác Hồ đã đánh giá rất cao cuộc cách mạng diễn ra nhanh, ít tổn thất; một cuộc cách mạng không có kết thúc là ông vua bị chặt đầu như ở nơi khác. Kết cục mà chúng ta chứng kiến ở dinh Độc Lập năm 1975, dù có thể có đánh giá khác nhau nhưng cũng không phải là một kết cục bằng máu và đổ nát. Đó là một kết cục cách mạng rất Việt Nam. Hình ảnh rất Việt Nam đó chúng ta nên trân trọng để thấy rằng: dù trong các hoàn cảnh khác nhau nhưng cuối cùng điều mà Bác nói vẫn là chân lý: “Hễ là người Việt Nam thì đều có tinh thần yêu nước”.

DƯƠNG TRUNG QUỐC (Đ.Đ. – V.H.Q. ghi)
tuoitre.vn

Giải phóng Trường Sa – Kỳ cuối:

Tháng 4 sau 35 năm

TT – Đoàn công tác của TP.HCM đi Trường Sa đúng dịp tháng 4 sau 35 năm đất nước hòa bình, giang sơn về một mối. Nơi đây bây giờ đã trở thành điểm đến của những chuyến đi nối đất mẹ với dải đất tiền tiêu của Tổ quốc giữa biển Đông.

Biển tháng 4 lặng gió. Sóng nước chỉ vỗ lăn tăn theo mạn thuyền. Con tàu HQ-960 cứu hộ hiện đại của hải quân thẳng tiến hướng mặt trời mọc.

>> Kỳ 1: Những bức điện tối khẩn
>> Kỳ 2: Ký ức ngày giải phóng

Những thùng nước ngọt quý giá từ tàu HQ-960 tiếp tế cho đảo Cô Lin, vì gần bốn tháng nay ở đây không có một giọt mưa – Ảnh: X.Trung

Đảo Cô Lin tiền tiêu

“Nếu Trường Sa là tiền tiêu của cả nước thì Cô Lin là tiền tiêu của Trường Sa” – chuẩn đô đốc Lê Văn Đạo, phó tư lệnh hải quân, nói khi tàu đến đảo Cô Lin (nằm ở khu vực giữa quần đảo Trường Sa). Các chiến sĩ hải quân vẫn ngày ngày “luyện tập, sẵn sàng chiến đấu, chấp nhận hi sinh trong mọi tình huống” mặc dù ai nấy đều thấm nhuần tinh thần giữ hòa bình, ổn định để phát triển kinh tế.

Khi tàu HQ-960 rời Cô Lin cũng là lúc cả đoàn tập trung lên boong tàu làm lễ tưởng niệm những cán bộ chiến sĩ hải quân VN đã hi sinh tại đây. Chuẩn đô đốc Lê Văn Đạo đọc diễn văn: “Các đồng chí đã anh dũng chiến đấu hi sinh để bảo vệ vững chắc sự toàn vẹn lãnh thổ, chủ quyền biển đảo thân yêu của Tổ quốc. Chúng tôi bùi ngùi tưởng nhớ, thương tiếc các đồng chí đã nằm lại với biển khơi”.

Tất cả đứng nghiêm mặc niệm các anh. Nhiều khóe mắt đỏ hoe, nhiều cánh tay đưa lên lau nước mắt.

Vị tướng, chuẩn đô đốc cũng nghèn nghẹn, rưng rưng: “Trong niềm xúc động sâu sắc, chúng tôi kính cẩn nghiêng mình tưởng nhớ các đồng chí, thắp nén nhang, thả vòng hoa tưởng niệm tưởng nhớ tới hương hồn các đồng chí. Mong các đồng chí thanh thản yên nghỉ cùng chúng tôi canh giữ chủ quyền biển đảo, thềm lục địa thiêng liêng của Tổ quốc”.

Ở Trường Sa, các anh lính đảo dù bất kỳ tình huống nào đều hiểu rõ nhiệm vụ số một ở nơi đầu sóng là giữ đảo, giữ bình yên cho cả biển Đông.

Đảo Trường Sa Lớn bây giờ đang như một công trường. Hàng loạt công trình đường sá, nhà khách, đền chùa đang tiếp tục thi công. Các chuyến tàu vào ra ngày càng tấp nập, hối hả. Có người đến người đi và cũng có người đã nằm lại mãi mãi nơi này.

Mộ chàng trai Hoàng Văn Nghĩa, 24 tuổi, nằm trên bãi cát trắng bên hàng cây phong ba. Nghĩa là nhân viên Trạm khí tượng hải văn Trường Sa, đã ra đảo 15 tháng. Công việc hằng ngày của Nghĩa là đo đạc số liệu hải văn để báo về Đài Khí tượng thủy văn Nam Trung bộ. Số liệu sẽ được chuyển đến Tổ chức Khí tượng thế giới vì đây là trạm phát báo quốc tế.

Trưởng trạm Đào Bá Cao kể lại: sáng 21-3-2010 cũng như những ngày bình thường khác, Nghĩa ra cầu cảng Trường Sa đo đạc mức nước nhưng đến hết ca trực mọi người không thấy Nghĩa về. Cả đảo đi tìm. Cầu cảng là khu vực nước sâu. Xác Nghĩa đã trôi cách cầu cảng 200m.

Bàn thờ Nghĩa đặt ngay ở Trạm khí tượng hải văn Trường Sa. Chuẩn đô đốc Lê Văn Đạo vừa ra Trường Sa đã viếng mộ Nghĩa như viếng mộ một người lính.

Đảo là nhà, biển cả là quê hương

Nhìn từ xa, đảo nổi Sinh Tồn, Trường Sa Lớn như những cù lao nhô lên giữa biển trời bao la. Cả chuỗi đảo chạy dài ngoài biển Đông như một lá chắn lớn che cả biển và bờ đất nước. Nhưng nơi ấy vì cách quá xa đất liền nên vẫn còn thiếu thốn nhiều thứ.

Nếu chưa ra đảo khó hình dung được từng cọng rau, từng giọt nước ngọt quý giá đến cỡ nào. Suốt mấy tháng nay trời nắng như thiêu đốt, không có lấy một giọt mưa. Những thùng chứa, bể trữ nước ngọt trên các đảo cạn dần. Rau xanh chỉ được tưới bằng những ca nước tận dụng sau khi rửa mặt, tắm giặt… Chuyện tiết kiệm nước ở đây trở thành một thói quen từ các cháu bé.

Nhưng thiếu thốn vật chất dù nhiều dù ít đều có đất liền chi viện. Cái thiếu thốn khó bù đắp nhất có lẽ là hơi ấm gia đình. Cứ như phản xạ, hễ gặp các anh lính đảo hay bà con trên đảo, lời hỏi thăm đầu tiên của chúng tôi đều giông giống nhau rằng các anh các chị có nhớ nhà không dù ai cũng đoán được câu trả lời.

Để động viên nhau, để truyền cho nhau hơi ấm giữa biển khơi, mọi người đều xem “đảo là nhà, biển cả là quê hương”. Câu khẩu hiệu ấy xuất hiện khắp mọi nơi.

Trung úy hải quân Thái Đàm Hồng, 36 tuổi, phụ trách hệ thống điện trên đảo Sinh Tồn, kể anh may mắn hơn nhiều anh lính khác nhờ xuất hiện trên tivi hai lần nên người thân ở nhà đỡ nhớ. Đó là hai lần anh giao lưu trong chương trình cầu truyền hình nối Trường Sa với đất liền.

Anh Hồng có thâm niên đi Trường Sa năm “tăng” (từ dùng của hải quân). Mỗi tăng đi hơn một năm, chuyển từ đảo Phan Vinh sang Nam Yết rồi Sinh Tồn, riêng Trường Sa Lớn đi hai tăng. Năm ngoái, đúng ngày sinh nhật con gái 3 tuổi, anh Hồng lại vác balô ra Trường Sa làm nhiệm vụ cho đến nay.

Dẫn đầu đoàn công tác thăm Trường Sa, bà Huỳnh Thị Nhân, phó bí thư Thành ủy TP.HCM, nói đại ý: các anh có mặt ở đây đã là sự hi sinh lớn lắm rồi. Quả thật sự hi sinh tình cảm gia đình làm sao cân đong đo đếm được dù các anh rất ít khi nhắc đến. Ra đảo hơn một năm nay, thiếu úy Nguyễn Đức Trường luôn đặt tấm ảnh cưới bên chiếc gối ở đầu giường – tấm ảnh duy nhất anh kịp mang ra Trường Sa sau khi cưới vợ tháng 2 năm ngoái. Trường tâm sự: “Tháng 7 này về phép mình phấn đấu có con”.

Mỗi anh lính là một hoàn cảnh. Có người chỉ kịp cưới vợ, chưa kịp có con, có người có con nhưng chưa nhìn thấy mặt con vì ra đảo lúc vợ đang mang thai. Có người đi lâu quá, người yêu ở nhà đã lấy chồng. Các anh lính đảo bảo rằng ra đảo riết rồi quen, về đất liền thấy xô bồ, chật chội…

Trường Sa bây giờ không còn xa khi nước nhà đã thống nhất nhưng đó vẫn là dải đất luôn phải đương đầu với bao hiểm nguy, nắng gió, bão tố khắc nghiệt. Xưa kia cha ông ta xác lập chủ quyền bằng những chiếc thuyền gỗ, nay ta đã có tàu sắt hiện đại thì không có lý do gì ngại gian khó.

Thế hệ sau nối tiếp thế hệ trước giữ từng mét đất, từng sải nước Trường Sa.

Cả nước đang đầu tư cho Trường Sa để biến địa bàn có vị trí chiến lược và đầy tiềm năng này thành một đô thị lung linh ánh đèn giữa biển Đông.

XUÂN TRUNG
tuoitre.vn

Giải phóng Trường Sa – Kỳ 2:

Ký ức ngày giải phóng

TT – Có những tên đảo mà khi đọc lên bất cứ người Việt nào cũng cảm nhận được sự xúc động thiêng liêng. Tháng 4-1975, khi bộ đội đặc công bước vào mặt trận biển Đông, tên gọi thân thuộc của các đảo trong quần đảo Trường Sa như bây giờ được ký hiệu thành các mục tiêu giải phóng như sau: H1 (Song Tử Tây), H2 (Nam Yết), H3 (Sơn Ca), H4 (Sinh Tồn), H5 (Trường Sa), H6 (An Bang).

Chiến sĩ đoàn đặc công 126 giải phóng đảo Song Tử Tây – Ảnh tư liệu Bảo tàng Lịch sử quân đội

Cờ giải phóng tung bay

Trong hai ngày 18 và 19-4, sở chỉ huy tiền phương của quân chủng hải quân ở Đà Nẵng tổ chức rút kinh nghiệm việc giải phóng Song Tử Tây.

Đại tá Quế nói cách đánh đảo Song Tử Tây sau này được các nhà nghiên cứu nghệ thuật quân sự đúc kết lại là: lợi dụng thế hợp pháp làm ăn của ngư dân, bộ đội ta giả dạng thành tàu cá, ban ngày tiếp cận mục tiêu quan sát nắm đối phương, thăm dò phản ứng, lợi dụng đêm tối, bất ngờ, nhanh chóng dùng xuồng đổ bộ lên đảo, chia thành nhiều mũi đồng loạt tiến công.

Bảo tàng Lịch sử quân sự VN (số 3 Điện Biên Phủ, Hà Nội) trưng bày nhiều kỷ vật của những người lính đặc công đoàn 126 anh hùng. Đó là chiếc bình thở cũ kỹ, chiếc mặt nạ chống nước thô sơ, một vài chiếc la bàn nhỏ… Đoàn 126 trong bảy năm liên tục chiến đấu ở Cửa Việt, Đông Hà đã đánh trên 700 trận, đánh chìm và đánh hỏng nặng 336 tàu chiến, tàu vận tải quân sự các loại…

Trong các trận chiến ở Trường Sa, đối phương không thể ngờ rằng đoàn quân “xuất quỷ nhập thần” đặc công giải phóng lại chỉ được trang bị như vậy. Như sau này thiếu tướng Mai Năng hồi tưởng: “Với số vũ khí ít ỏi, chúng tôi chỉ có thể đánh bằng quyết tâm và niềm tin sắt đá”.

Trong cách đánh này, người lính đặc công một mặt dựa vào yếu tố thủy triều để tiếp cận mục tiêu, mặt khác dựa vào ánh trăng để quan sát đảo. Đây cũng là cách đánh được áp dụng cho việc giải phóng một số mục tiêu khác trong quần đảo Trường Sa.

Theo thiếu tướng Mai Năng, ngày 20-4-1975 chủ trương tiếp quản các đảo còn lại trong quần đảo Trường Sa đã được truyền từ trên xuống. Ngay đêm hôm đó, lực lượng đi giải phóng các đảo đã được phân công cụ thể.

Rạng sáng hôm sau, chiếc tàu có số hiệu 641 do ông Đỗ Việt Cường (đội phó đội 1 của đoàn 126, nay là chuẩn đô đốc, phó tham mưu trưởng Quân chủng Hải quân) chỉ huy nhằm hướng mục tiêu đảo Sơn Ca thẳng tiến. Cũng như các con tàu trong biên đội đi đánh đảo Song Tử Tây, tàu 641 được cải trang thành tàu đánh cá và liên tục thay đổi biển số tàu.

Kế hoạch dự kiến tàu 641 sẽ đánh vào đêm 23-4, nhưng trên đường gặp nhiều tàu ngầm, tàu khu trục và máy bay Mỹ nên cấp trên đồng ý cho tàu 641 lùi thời điểm tấn công… Đúng 2g sáng 25-4, quân ta đổ bộ lên đảo Sơn Ca. Đến 2g30, toàn bộ các mũi tiến công đồng loạt chỉ sau nửa giờ. Cờ giải phóng tung bay trên đảo Sơn Ca.

Kỷ niệm của người lính già

Đêm 26-4, chỉ huy trưởng Mai Năng nhận được bức điện từ cấp trên với nội dung: “Đối phương đã có lệnh rút khỏi đảo Nam Yết đêm nay, các anh quan sát, nếu địch không phát hiện thì tổ chức đánh từ phía sau, nếu không thực hiện được thì ngụy trang ở khu vực lân cận chờ địch rút ra, cho lực lượng lên chiếm đảo”.

Ngày 27-4, ta giải phóng đảo Nam Yết và đảo Sinh Tồn. Cấp trên giao cho chỉ huy trưởng Mai Năng ở lại đảo Nam Yết. Ngày 28-4, quân ta giải phóng đảo Trường Sa, đảo An Bang, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao trong vòng nửa tháng với những cố gắng lớn nhất… Một vùng biển rộng lớn giàu tài nguyên với những đảo và quần đảo có vị trí chiến lược hết sức quan trọng đã thuộc chủ quyền của Tổ quốc.

Chúng tôi hỏi ông Mai Năng về cảm giác những ngày đầu sống giữa biển Đông, vị tướng đặc công già ánh mắt xa xăm nhớ lại: đó là những ngày trời nước mênh mông, niềm vui giải phóng đảo quá to lớn, choán hết mọi suy nghĩ. Làm bạn với lính đặc công trên đảo lúc bấy giờ là bạt ngàn chim biển và những đàn vích nhiều không đếm nổi.

Sáng 30-4-1975, Phó tư lệnh Hoàng Hữu Thái lệnh cho tàu 673 trở về đảo Nam Yết để đón chỉ huy trưởng Mai Năng về đất liền nhận nhiệm vụ mới.

Có một câu chuyện mà đến tận 35 năm sau thiếu tướng Mai Năng mới kể lại cho chúng tôi nghe bên giường bệnh. Một lần, sau khi giải phóng một mục tiêu trong quần đảo Trường Sa, chỉ huy trưởng Mai Năng đã gặp và hỏi những binh sĩ Sài Gòn về lý do họ quyết định đầu hàng dù trước đó đã có sự chống trả.

Câu trả lời thật sự khiến ông bất ngờ: “Sau khi đã nhận biết đối phương qua giọng nói thì chúng tôi bình tĩnh hơn, vì lực lượng giải phóng đảo là quân đội miền Bắc, đều là đất nước VN cả!”. Câu nói đó dù 35 năm đã trôi qua, vị tướng già vẫn không bao giờ quên được.

“Tập trung chụp những gì nêu bật chủ quyền”

Tháng 5-1975. Những ngày đầu tiên hòa bình, không dừng lại ở Sài Gòn, tôi và người cộng sự ở báo Quân Đội Nhân Dân được lệnh của Bộ Tổng tham mưu di chuyển ngược ra một quân cảng ở miền Trung để lên tàu thẳng hướng Trường Sa.

Đó là chuyến tàu nằm trong biên đội gồm ba chiếc tàu chờ đầy vũ khí, khí tài quân sự được ngụy trang thành tàu đánh cá, ra tiếp vận gấp cho lực lượng tiên phong đi giải phóng Trường Sa nhằm củng cố hệ thống phòng thủ, bảo vệ đảo. Trên tàu lúc bấy giờ có Phó tư lệnh Quân chủng Hải quân Hoàng Hữu Thái.

Khi tàu rời bến, anh Hoàng Hữu Thái nhắc nhở chúng tôi chỉ nên tập trung vào những gì nêu bật chủ quyền của VN (cột mốc chủ quyền, cờ VN, bộ đội luyện tập). Giờ đây, nhìn những tấm hình chụp ở Trường Sa ngày đầu giải phóng đã nhuốm màu thời gian, nhưng nụ cười của người lính giải phóng vẫn rạng ngời. Phía xa xa, đàn chim biển vỗ cánh đầy trời. Đó là Trường Sa những ngày đầu giải phóng… Tôi thấy thật tự hào về những ngày tháng Trường Sa hào hùng.

Nguyễn Khắc Xuể (nguyên phóng viên báo Quân đội Nhân Dân)

VÕ THÀNH – HÀ HƯƠNG
tuoitre.vn

___________________

Trường Sa không còn xa khi nước nhà đã thống nhất nhưng đó vẫn là dải đất luôn phải đương đầu với bao hiểm nguy, nắng gió và bão tố khắc nghiệt… Nơi đây giờ đã là điểm đến thường xuyên của những chuyến đi nối liền đất mẹ…

Giải phóng Trường Sa – Kỳ 1

Những bức điện tối khẩn

TT – Tháng 4-1975. Khi những đoàn quân giải phóng ào ạt tiến về Sài Gòn, có một lực lượng đặc biệt được lệnh dừng lại ở Đà Nẵng để nhận nhiệm vụ trên mặt trận biển Đông.

Biên đội gồm ba tàu 673, 674, 675 chở quân ra giải phóng Trường Sa – Ảnh: L.Đ.Dục chụp lại tư liệu Bảo tàng Hải quân.

Ấy là nhiệm vụ giải phóng quần đảo Trường Sa. 35 năm sau, những tư liệu lịch sử đã cho thấy tầm nhìn chiến lược về vị trí của Trường Sa đã được xác lập rõ ràng ngay trong chiến dịch Hồ Chí Minh.

Một tháng trước giải phóng, ngày 30-3-1975, Quân ủy Trung ương điện gửi các ông Chu Huy Mân, Võ Chí Công, nêu rõ: “Theo chỉ thị của Bộ Chính trị, Thường vụ giao Khu ủy và Bộ tư lệnh B1 nhiệm vụ nghiên cứu, chỉ đạo thực hiện gấp rút, nhằm thời cơ thuận lợi nhất đánh chiếm các đảo hiện do quân chính quyền miền Nam đang chiếm đóng. Trong việc này anh Nguyễn Bá Phát, phái viên của Bộ Tổng tham mưu, và các cán bộ hải quân đi cùng sẽ do khu ủy và quân khu ủy chỉ đạo để thực hiện kế hoạch”.

Mệnh lệnh chiến lược

Mười ngày sau, một bức điện tối khẩn khác từ Quân ủy trung ương điện cho Bí thư Khu ủy Khu V Võ Chí Công và chính ủy chiến dịch Huế – Đà Nẵng Chu Huy Mân cùng phó tư lệnh hải quân Hoàng Hữu Thái: “Chỉ thị cho các lực lượng ta hành động kịp thời theo phương án đã định”.

Cùng ngày bức điện trên phát đi, từ Hải Phòng một biên đội gồm ba tàu của đoàn tàu không số (lữ đoàn 125) rời vùng biển Đông Bắc thẳng tiến vào cảng Tiên Sa, Đà Nẵng. Ấy là các tàu 673 do Nguyễn Xuân Thơm làm thuyền trưởng, tàu 674 do Nguyễn Văn Đức và tàu 675 do Phạm Duy Tam làm thuyền trưởng kiêm biên đội trưởng mở hết tốc lực vượt biển để cập cảng Tiên Sa vào 21g đêm 10-4-1975.

Vừa đến cảng Tiên Sa, ngay lập tức cả ba tàu cấp tốc nhận nhiệm vụ chở quân đi giải phóng Trường Sa gồm đội 1 của đoàn 126 đặc công nước hải quân do anh hùng lực lượng vũ trang Nguyễn Ngọc Quế làm đội trưởng, cùng một lực lượng đặc công của sư đoàn 2 – Quân khu 5 phối thuộc. Chỉ huy cả hai lực lượng này là lữ đoàn trưởng đặc công nước Mai Năng. Từ Tiên Sa, trong đêm tối cả ba tàu 673, 674 và 675 được ngụy trang thành tàu đánh cá mang cờ hiệu nước ngoài.

4 giờ sáng 11-4, ba con tàu “đánh cá” với mật danh “biên đội C75” đè sóng thẳng hướng ra Trường Sa. Đảo Song Tử Tây là đảo đầu tiên mở màn cho chiến dịch trên biển. Đây cũng là thời điểm các cánh quân của ta đang chuẩn bị nổ súng trên mặt trận Phan Rang – Xuân Lộc – Tây Ninh.

Trong căn nhà trên đường Triệu Việt Vương (Đà Nẵng), đại tá Phạm Duy Tam nhớ lại: “Tàu chở lực lượng đi đánh Trường Sa vốn là những chiếc tàu của “đoàn tàu không số” từng vận tải vũ khí cho chiến trường miền Nam. Tàu trang bị rất thô sơ. Ngày ấy, tàu không có các phương tiện khí tài dẫn đường hiện đại như rađa, máy định vị, đo sâu… như bây giờ. Trên tàu chỉ có một la bàn từ, một đồng hồ thiên văn và bộ “bầu trời sao” để định hướng theo sao trời. Dù cả ba thuyền trưởng của biên đội C75 từng có nhiều kinh nghiệm trong những chuyến vận chuyển vũ khí trên “tàu không số”, nhiều lần đi qua vùng biển này, nhìn thấy các đảo nhưng ban đêm rất khó phát hiện…”.

Để đưa được toàn bộ lực lượng tiếp cận chính xác các đảo ở Trường Sa là chuyện không dễ dàng, dù với lực lượng đặc công nước tinh nhuệ của đoàn 126 và đặc công sư đoàn 2 lừng lẫy của Quân khu 5.

 

Cắm cờ ở Song Tử Tây

Tiếp với ký ức của 35 năm về trước này, tại khu điều trị của một bệnh viện quân đội ở Hà Nội, thiếu tướng Mai Năng cầm những bức ảnh đen trắng được chụp trong những ngày đầu giải phóng Trường Sa. Chỉ vào một góc của tấm hình đã ố vàng, vị tướng nhớ rất rõ đó là vị trí của ngọn đèn biển trên đảo Trường Sa lúc bấy giờ: “Khi chúng tôi đang hành quân trên biển thì trên trời máy bay quần đảo. Dù bộ đội đặc công và vũ khí được giấu dưới khoang tàu, bên trên phủ lưới đánh cá nhưng tình huống này không khỏi làm chúng tôi phải suy tính. Kế hoạch bị lộ rồi chăng!”.

Lúc này, chỉ huy trưởng Mai Năng lệnh cho các tàu chuyển hướng khác để đánh lạc hướng. Những người lính của biên đội C75 trong vai ngư dân vững vàng hướng tàu về vùng biển phía đảo Hải Nam (Trung Quốc) như lịch trình của một tàu đánh cá thông thường. Sau nhiều giờ quan sát, máy bay rút đi. Ngay lập tức toàn biên đội tăng tốc hướng đến quần đảo Trường Sa.

Đại tá Quế tiếp tục câu chuyện: “Chúng tôi hành quân từ rạng sáng 11-4-1975 đến chiều 13-4-1975 thì ra tới vị trí triển khai tiếp cận đảo. Để giữ bí mật, tất cả đặc công có mặt trên tàu chỉ có thể giữ tư thế nằm ngửa suốt mấy ngày hành quân. Tuy đói nhưng chẳng ai ăn uống được gì nhiều. Trong khoang tàu nhỏ hẹp, đồng chí Mai Năng cứ nằm ngửa giao nhiệm vụ, còn tôi lúc nhận lệnh cũng ở tư thế ấy”.

Khoảng 1g sáng 14-4-1975, đội 1 đặc công do đội trưởng Nguyễn Ngọc Quế chỉ huy chia làm ba mũi lặng lẽ rời tàu 673, dùng xuồng đổ bộ lên đảo. Các tàu 674 và 675 làm nhiệm vụ án ngữ phía bên ngoài. Lúc này Song Tử Tây trong màn đêm là một khối thẫm màu, thỉnh thoảng có vài ánh đèn tuần tra trên đảo lúc tắt lúc sáng.

Theo đại tá Quế, có hai mũi đổ bộ an toàn nhưng mũi còn lại xảy ra sự cố không thể tiếp cận đảo do sóng quá to. Hơn một giờ sau, mũi tiến công gặp sự cố cũng đã bám được đảo. Đến khoảng 5g30 sáng 14-4-1975, binh sĩ Sài Gòn trên đảo Song Tử Tây đồng loạt đầu hàng. Lá cờ Tổ quốc được kéo lên. “Người có vinh dự treo cờ Tổ quốc trên đảo Song Tử Tây là hạ sĩ Lê Xuân Phát, thuộc đội 1, đoàn đặc công 126”- đại tá Quế nói.

Ngay sau khi giải phóng đảo Song Tử Tây, hệ thống phòng thủ ở toàn bộ quần đảo Trường Sa bị đe dọa. Cùng lúc này các lực lượng của đoàn đặc công 126 tiếp tục theo tàu đi giải phóng các đảo còn lại: Sinh Tồn, Nam Yết, Sơn Ca, An Bang và Trường Sa Lớn. Ngay hôm đó (14-4) tàu 675 chở quân của sư đoàn 2 Quân khu 5 kịp thời ra tiếp quản, thiết lập hệ thống phòng thủ bảo vệ đảo Song Tử Tây, rồi tiếp tục chở quân của lữ đoàn 126 tiếp tục hành trình giải phóng quần đảo Trường Sa.

Đ.DỤC – V.THÀNH- H.HƯƠNG
tuoitre.vn

————————————————

Một binh sĩ Sài Gòn nói với tôi rằng sau khi đã nhận biết đối phương qua giọng nói thì họ bình tĩnh hơn, vì lực lượng giải phóng đảo là quân đội miền Bắc, đều là đất nước Việt Nam cả!”. Ấy là ký ức của vị tướng già 36 năm về trước.

Những người lính đặc công tại cửa ngõ Sài Gòn

TT – Đại tá Tống Viết Dương (nguyên tư lệnh cánh đông chiến dịch Hồ Chí Minh), trung tá Võ Tấn Sĩ (nguyên trung đoàn trưởng trung đoàn đặc công biệt động 116) bảo từ bao năm nay, cứ đến ngày 30-4 câu chuyện về những ngày chiếm giữ các cầu, mở đường cho quân chủ lực vào thành phố đã được các ông kể đi kể lại không biết bao lần. Thế nhưng đến tận hôm nay, câu chuyện ấy vẫn sống động như 29 năm về trước…

Xuồng đưa hai chiến sĩ đặc công thủy đi đánh tàu vận tải quân sự một vạn tấn trên sông Rạch Lá – Ảnh: Tư liệu

Lính đặc công học đánh ban ngày

“Giữa tháng tư, trung đoàn đặc công biệt động 116 đang tập trung ở vùng bưng sáu xã chuẩn bị cho trận đánh liên trường quân sự Thủ Đức thì được lệnh rút về tập trung cho chiến dịch. Chúng tôi quay về Bình Sơn, Long Thành nhận nhiệm vụ mới: chiếm và giữ các cây cầu dẫn vào thành phố….”.

Võ Tấn Sĩ khi ấy là thiếu tá, trung đoàn trưởng. Dẫn anh em đặc công cắt đồng về căn cứ, từ thủ trưởng đến lính ai cũng mệt mỏi nhưng khi biết nhiệm vụ mới có thể sẽ là những trận đánh cuối cùng để giải phóng đất nước, “một luồng sinh khí mới bỗng bừng dậy”. Tất cả háo hức chuẩn bị cho ngày tiến về Sài Gòn, mục tiêu đầu tiên chính là cầu Đồng Nai.

“15-4, đội điều nghiên đầu tiên được phái đến khảo sát cầu. Tàu hải quân địch tuần tiễu gắt quá nên anh em bị lộ. Những loạt đạn bắn rát khiến toàn đội phải lui về. Một anh bị thương, bất tỉnh bên hàng rào kẽm gai và bị địch bắt sống…”.

Đến hôm nay ông Sĩ vẫn còn nhớ người chiến sĩ ấy tên Hà, quê ở Nghệ An. Anh bị thương vào cổ, đứt cuống họng. Sau ngày giải phóng, đồng đội đã tìm được anh ở Bệnh viện Cộng Hòa (nay là Bệnh viện 115), anh ra dấu mượn một cây bút: “Nếu tôi còn nói được, xin cho tiếp tục phục vụ quân đội”.

“Nhóm trinh sát thứ hai đã hoàn thành nhiệm vụ. Sau khi thống nhất giờ G, đêm 26-4, 250 chiến sĩ đặc công thủy, đặc công khô cắt hàng rào tiến vào trận địa. Rạng sáng, súng lệnh nổ. Loạt thủ pháo đầu tiên đã diệt gọn lực lượng địch đang ngủ trong khu trại. Đặc công khô cùng đặc công thủy phối hợp đánh chìm cùng lúc bốn chiếc hải thuyền. Các công sự hai đầu cầu cũng nhanh chóng bị các chiến sĩ của ta chiếm giữ”.

Nhanh gọn vậy nhưng những gì khó khăn nhất vẫn còn ở phía trước. Ngay sáng hôm sau, các lực lượng tiếp viện của địch từ Biên Hòa, Long Bình, Thủ Đức đã ùn ùn kéo tới, pháo bắn dày đặc các ngả, máy bay lượn sát trên đầu…

Cờ chiến thắng tung bay trên dinh Độc Lập (trụ sở ngụy quyền Sài Gòn) ngày 30-4-1975

Ông Sĩ kể rằng ở cương vị một người chỉ huy, ông chưa bao giờ phải đương đầu với nhiều khó khăn như ba ngày 27, 28 và 29 ấy. Không chỉ phải trực tiếp chỉ đạo chiến lược, chiến thuật, bổ sung quân, bổ sung vũ khí, lương thảo, tìm cách giải quyết thương binh… mà khó khăn nhất lại là động viên tinh thần anh em.

Ai cũng ra trận với tinh thần quyết tử nhưng những sở trường của lính đặc công là đột nhập ban đêm, đánh bất ngờ, đánh nhanh thắng nhanh đều đã được vận dụng hết. Phải chiến đấu giữa ban ngày, không vật che khuất, che đỡ, phải bám trụ, chiếm giữ thời gian lâu là điều mà lính đặc công không sẵn sàng chuẩn bị.

Nằm trong một lò gạch cách cầu Đồng Nai mấy trăm mét, điện đài của trung đoàn trưởng vang lên liên hồi: “Thủ trưởng ơi, địch đến đông quá”, “Báo cáo: hết đạn”, “Báo cáo: xe tăng địch đến”… Trong cả ngàn thông tin dồn dập và phải xử lý tức thời như thế, trung tá Võ Tấn Sĩ bảo có một tin làm ông lặng đi mất mấy phút “Cầu Rạch Chiếc đây. Báo cáo: đã hoàn thành nhiệm vụ nhưng anh em hi sinh nhiều quá…”.

Mấy phút trong thời điểm đó đã là nhiều lắm, bởi lệnh thì chỉ có một “Bám trụ giữ cầu, đợi quân chủ lực”. Không biết bao giờ quân chủ lực mới đến nhưng Võ Tấn Sĩ quyết không để lực lượng bị hao hụt thêm. Trưa 29, ông trực tiếp dẫn một tiểu đoàn đặc công đánh vào tổng kho Long Bình, khuân súng chống tăng, đạn pháo, lương thực ra cầu tiếp tế…

Mật hiệu: “Hồ Chí Minh” – Đáp: “Muôn năm”

Trung tá Võ Tấn Sĩ – Ảnh: Phạm Vũ

Chưa ai quen ai nhưng gặp nhau ai cũng mừng như chưa bao giờ mừng thế. Lữ đoàn xe tăng 203 cho biết nhiệm vụ của họ là tiến thẳng vào dinh Độc Lập nhưng bộ binh lại chưa theo kịp. Tư lệnh Tống Viết Dương liền trổ tài “quảng cáo” về các khả năng của lực lượng đặc công biệt động và cuối cùng đã thỏa thuận được với lữ đoàn xe tăng về kế hoạch biến lính đặc công thành lính bộ binh để vào Sài Gòn kịp ngày 30-4.

Lần đầu tiên được ngồi lên xe tăng, lại là xe tăng tiến về Sài Gòn, anh nào cũng hào hứng, tranh nhau lên trước. Nhưng rồi vẫn cứ phải nhường nhau. Một tiểu đoàn đặc công thủy phải ở lại giữ cầu. Lúc đi qua cầu Rạch Chiếc, thấy anh em mình hi sinh nằm rải rác trong những đám lá dừa nước, một tiểu đội nữa lại nhảy xuống lo phần chôn cất. Thế nhưng vẫn chưa hết những người phải nằm lại.

Qua ngã tư Thủ Đức, pháo trong trường quân sự của địch bắn ra khiến một chiếc xe tăng của ta bốc cháy, bảy chiến sĩ hi sinh. Một phát đạn M72 nữa của lính ngụy chạy loạn làm cháy chiếc xe tăng dẫn đầu ngay khi vừa chớm lăn lên cầu Sài Gòn, bốn chiến sĩ nữa trở thành liệt sĩ. Chiếc xe đi thứ hai thì bị sa lầy xuống con kênh dưới cầu Đen. Những chiếc xe tăng, các anh em đi sau đã trở thành những chứng nhân lịch sử.

Từ ngày ấy đến nay đã 29 năm, trung đoàn 116 (367 cũ) đã bao lần họp mặt nhưng lần họp mặt nào xen giữa những tiếng cười cũng có người rưng rưng nước mắt. Từ khi trung đoàn thành lập (1970) cho đến ngày giải phóng, có hơn 1.000 chiến sĩ đã hi sinh.

Ông Sĩ, ông Dương cứ kể mãi không hết về những anh lính đặc công rất tinh nhuệ nhưng lại phải lót lá dừa ngay trên những bụp dừa được phạt ngang để ngủ; những ngày lội bưng vào trận, các anh đeo trên mình trần đầy thủ pháo, lựu đạn, còn lương khô thì không có.

Những anh đặc công ấy đã là một trong những người đầu tiên vào giải phóng Sài Gòn, cũng là một trong những người cuối cùng ngã xuống trước ngưỡng cửa hòa bình. Thế mà “ngày ở trong rừng, mơ đến ngày giải phóng, đứa nào cũng chỉ ước: hòa bình được về nhà, được ngủ, được cắm một cái cần câu…”.

PHẠM VŨ
tuoitre.vn

Tướng Dương Văn Minh những phút cuối làm tổng thống

Sau khi được thông báo trả tự do, tướng Dương Văn Minh (phải) đã có cuộc gặp gỡ thân mật với tướng Trần Văn Trà – chủ tịch Ủy ban quân quản Sài Gòn – Gia Định.

Đoàn xe chở tổng thống Dương Văn Minh và thủ tướng Vũ Văn Mẫu chạy theo đường Thống Nhất, quẹo trái qua đường Nguyễn Bỉnh Khiêm để đến Đài phát thanh. Dù khá mệt mỏi và căng thẳng trước những gì vừa diễn ra, tướng Minh vẫn ôn tồn chỉ đường cho lái xe Đào Ngọc Vân.

Trụ sở Đài phát thanh lúc đó khá vắng lặng, dù đã được quân giải phóng và anh em sinh viên tiếp quản. Nhân viên đã “biến” hết sau khi hay tin quân giải phóng đã chiếm được dinh Độc Lập.

Việc đầu tiên là phải tìm cho được những người có thể vận hành được đài phát. Anh em sinh viên tìm được anh Trần Văn Bảng, nhân viên kỹ thuật phát sóng trú ngụ ở gần đó. Còn nhà báo Kỳ Nhân lại tức tốc lái chiếc UTE của Hãng tin AP chở hai anh bộ đội về làng báo chí Thủ Đức để mời hai anh Trọng Liêm và Tự Lập đến đài.

Sau khi lời tuyên bố đầu hàng đã được chỉ huy quân giải phóng soạn thảo, ông Dương Văn Minh lúc đó phải đọc và ghi âm hai lần vào máy của nhà báo Borries Gallasch (còn máy cassette hiệu Hitachi của anh em quân giải phóng bị rối băng liên tục, không xài được). Lần đầu, ông Minh có lẽ hơi bị xúc động nên đọc không tự nhiên và bị vấp, đồng thời khi bật máy nghe lại băng thì giọng ông Minh… nhão nhoẹt vì máy yếu pin. Anh em sinh viên có mặt lúc đó phải chạy ra ngoài, tìm đâu đó được mấy cục pin mới.

Tiếng nói của ông Minh phát trên đài nghe nhẹ và chậm rãi. Còn lời chấp nhận đầu hàng của viên trung tá chính ủy người Đà Nẵng Bùi Văn Tùng lại vang lên khá dõng dạc và mạnh mẽ. Mà cũng lạ, vào lúc ấy rất nhiều giọng Đà Nẵng xuất hiện trên sóng phát thanh: trung tá Bùi Văn Tùng, nhà báo Kỳ Nhân, sinh viên Nguyễn Hữu Thái….

Nhà báo Kỳ Nhân “kêu gọi anh em ký giả hãy bình tĩnh, hãy tập trung ở số 15 Lê Lợi để cùng trao đổi và làm việc (lúc này tự nhiên có tiếng súng nổ vang dội vào Đài phát thanh, anh Kỳ Nhân dù chưa biết chuyện gì cũng “ứng khẩu” luôn)… Đó là tiếng súng bắn mừng của quân giải phóng. Chúng ta đã thấy hòa bình trên đất nước của chúng ta”.

Còn sinh viên Nguyễn Hữu Thái lại trở thành người dẫn chương trình bất đắc dĩ. Anh liên tục thông báo, liên tục trấn an đồng bào và kêu gọi anh em công chức, nhân viên các cơ quan hãy trở lại nhiệm sở để giúp cho sinh hoạt ở Sài Gòn trở lại bình thường.

Tất cả đều nói “vo” thẳng vào máy phát nên nhiều khi ý tứ nghe rất ngộ, thí dụ: “Đây là tiếng nói của các Ủy ban cách mạng Sài Gòn – Chợ Lớn – Gia Định. Chúng tôi yêu cầu tất cả đồng bào, anh chị em công nhân, nhất là anh chị em nhân viên các nhà đèn, các nhà nước (chắc ý nói công ty cấp nước) và tất cả SVHS tụ họp để mà có những cuộc điều động của Ủy ban nhân dân cách mạng…”.

Xen lẫn với những lời kêu gọi, tuyên bố là tiếng vỗ tay, tiếng người nói chuyện bàn tán qua lại. Thậm chí ngay sau khi chính ủy Bùi Văn Tùng tuyên bố rất hùng hồn thì bỗng phát ra một đoạn cải lương inh ỏi…

Đặc biệt, người dân Sài Gòn lần đầu tiên nghe đến tên gọi Thành phố Hồ Chí Minh từ buổi phát thanh “tự phát” này. Nguyễn Hữu Thái lúc đó nói: “Chúng tôi là giáo sư Huỳnh Văn Tòng và cựu chủ tịch Tổng hội Sinh viên Sài Gòn Nguyễn Hữu Thái. Đời sống bình thường đã trở lại Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh, thành phố mà Bác Hồ đã mong đợi, nay đã được giải phóng…”.

Không ai phân công, không ai duyệt nội dung, không ai chỉ đạo định hướng gì, nhưng quả tình những lời kêu gọi, thông báo “tự biên tự diễn” đầy rạo rực và chân tình đó đã có tác dụng rất lớn đối với đồng bào trong giờ phút căng thẳng. Cần phải hiểu là trong thời khắc “đổi đời” lịch sử đó, sự âu lo tràn ngập nhiều gia đình, nhất là những gia đình có người thân tham gia bộ máy chính quyền hoặc quân đội VN cộng hòa. Sài Gòn trước đó đã lan truyền tin đồn về một cuộc “tắm máu” và những biện pháp bạo lực của Việt cộng.

14h. Đoàn xe đưa ông Dương Văn Minh và Vũ Văn Mẫu từ Đài phát thanh trở về dinh Độc Lập. Họ được đưa vào một gian phòng lớn gần tiền sảnh, có bộ đội vũ trang đứng gác thường trực bên ngoài. Đó cũng là nơi các thành viên nội các, dân biểu, nghị sĩ… có mặt ở dinh Độc Lập sáng 30/4 phải sống 48 giờ mà không được liên lạc gì với bên ngoài.

15h45. Những tiếng nổ lớn bắt đầu từ phía công viên Tao Đàn, phía sau dinh Độc Lập, tiếp theo là những tiếng súng đủ loại. Vài giây sau, đạn cối rơi xuống nổ liên tiếp giữa sân dinh, đúng lúc tướng Nguyễn Hữu An, tư lệnh Quân đoàn 2 quân giải phóng đang đi bách bộ cùng một sĩ quan tác chiến tên Duyến. Duyến bị mảnh đạn cối găm vào mắt. Tư lệnh Nguyễn Hữu An không bị sao. Lực lượng bộ đội bảo vệ dinh báo động: “Quân địch phản công!”.

Ông Dương Văn Minh và gần 20 người khác được đưa từ gian phòng nói trên xuống một căn hầm bên dưới hội trường lớn. Gần 60 phút trôi qua. Mọi người bắt đầu bị ngợp. Dân biểu Nguyễn Văn Binh lần dò ra cửa, đề nghị anh bộ đội cho ra ngoài lấy nước. Ông lượm một cái nón sắt cũ, hứng nước ở vòi nước máy rồi mang vào căn hầm. Cái nón sắt được chuyền từ người này sang người khác. Mọi người cứ bưng nón sắt mà uống. Ông Minh cũng vậy.

Rồi tiếng súng tự nhiên im bặt. Hóa ra là “quân ta đánh quân mình”: Một đơn vị quân giải phóng từ hướng nam về không có ám hiệu đúng, thế là…

Mọi người được đưa trở về căn phòng cũ và trải qua hai ngày đêm đáng nhớ ở đó. Chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh cũng bị “giam lỏng” như thế. Sự quản thúc chỉ được chấm dứt vào chiều tối 2/5.

Ông Dương Văn Minh, Nguyễn Văn Huyền, Vũ Văn Mẫu, Nguyễn Văn Hảo, Nguyễn Văn Binh… được trả tự do. Quyết định trả tự do của Ủy ban quân quản được thông báo tại buổi lễ trang trọng và thân mật tại hội trường dinh Độc Lập tối 2/5/1975. Tại buổi lễ này, Phó chủ tịch Ủy ban quân quản Sài Gòn – Gia Định Cao Đăng Chiếm đã phát biểu với một chất giọng miền Nam trầm ấm:

“…Nhân dân Việt Nam chúng ta đã trải qua cuộc đấu tranh anh dũng và khốc liệt, đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ, đánh bại chính sách Việt Nam hóa chiến tranh để giành thắng lợi vĩ đại và vô cùng to lớn từ xưa đến nay.

Thi hành chính sách của Chính phủ cách mạng lâm thời, Chính phủ mong rằng trong tình hình mới chúng ta hãy cùng nhau nỗ lực xây dựng lại Tổ quốc của chúng ta, làm cho nhân dân chúng ta giàu mạnh, Tổ quốc của chúng ta hùng cường. Do đó, chúng tôi mong rằng mỗi người VN chúng ta đều tùy theo khả năng của mình, góp công sức vào việc xây dựng Tổ quốc của chúng ta.

Bữa nay, thi hành lệnh của cấp trên, các anh được tự do về với gia đình. Chúng tôi sẽ tổ chức đưa các anh về đến nơi đến chốn…”. (Trích băng ghi âm)

Đáp lại, ông Dương Văn Minh nói ngắn gọn thế này:

“ …Ngày hôm nay, đại diện cho các anh có mặt tại đây, tôi nhiệt liệt hoan nghênh sự thành công của Chính phủ cách mạng trong công cuộc vãn hồi hòa bình cho đất nước. Với kỷ nguyên mới này, tôi mong rằng tất cả anh em có mặt tại đây, cũng như các tầng lớp đồng bào, sẽ có dịp đóng góp tích cực cho công cuộc xây dựng đất nước.

Riêng cá nhân tôi, hôm nay tôi rất hân hoan khi được 60 tuổi, trở thành một công dân của một nước Việt Nam độc lập”. (Trích băng ghi âm)

Mọi người được về với gia đình ngay sau buổi lễ đó. Chiếc xe Ford màu xanh dương đậm đưa ông Minh ra khỏi dinh Độc Lập lúc 22 giờ. Khi xe chuyển bánh, vị tổng thống 48 giờ nói:

– Thôi, giã từ quá khứ chết chóc. Vĩnh viễn hòa nhập vào đời sống hòa bình.

(Theo Tuổi Trẻ)
Việt Báo
vietbao.vn

…Và Sài Gòn sụp đổ

Paul Dreyfus người Pháp là một trong 125 nhà báo nước ngoài thuộc 13 nước có mặt tại Sài Gòn vào ngày 30/4/1975, chứng kiến sự kiện lịch sử các đoàn quân tiến vào thành phố. Ông đã ghi nhật ký ghi chép lại những sự việc xảy ra trong ngày kể từ khi Hiệp định Paris 1973 về Việt Nam được ký kết. Sau khi trở về Pháp, dựa trên những tư liệu sẵn có, ông viết cuốn sách nhan đề “… Et Saigon tomba” (… Và Sài Gòn sụp đổ).

Dù từ nay có xảy ra chuyện gì đi nữa cũng không bao giờ tôi quên cơn hấp hối của Sài Gòn. Đại sứ Mỹ rút khỏi sứ quán mang theo lá cờ sao và vạch, đã được kéo xuống, gấp cẩn thận, cất kỹ trong cặp. Hàng nghìn người chạy như điên đến sân bay nhưng không máy bay nào cất cánh.

Ngày 29/4/1975.

Hôm qua một chút hy vọng đã nhen nhóm trong tất cả dân chúng, khi tướng Minh phát biểu về hoà bình, hoà hợp và hoà giải dân tộc. Đó là những câu chữ mà do cuộc chiến tranh kéo dài từ hai mươi chín năm nay, người ta đã quên hết ý nghĩa.

Tất cả mọi khách hàng của khách sạn Caravelle đều chạy lên sân thượng, người mặc gile chống đạn, người chỉ mặc quần áo ngủ.

Cũng cần nói thêm, tất cả những khách hàng này đều là phóng viên báo chí hoặc nhiếp ảnh quay phim.

Cũng nói thêm nữa, từ sân thượng nhà hàng chín tầng này có thể nhìn bao quát toàn bộ Sài Gòn.

Và cũng có thể nhìn thấy toàn bộ lãnh thổ của chế độ Nam Việt Nam, diện tích đã thu hẹp lại rất nhiều. Đây là một đất nước mà hai tháng trước vẫn còn trải dài hơn một nghìn kilomet từ Bắc xuống Nam, bây giờ đã rút ngắn lại chỉ còn một tầm bắn của pháo.

Quân giải phóng tiến vào sân bay Tân Sơn Nhất ngày 30/4. (AFP)

Chính từ vị trí trên cao này chúng tôi đã nhìn thấy pháo bắn như giã giò vào căn cứ không quân Tân Sơn Nhất, cách chỗ chúng tôi đứng khoảng tám kilomet.

Đạn rốc két rơi liên tục không ngừng. Rồi đến đạn trọng pháo. Mỗi khi một chiếc máy bay bị bắn trúng lại có một quả nấm khổng lồ vọt lên, xé vỡ màn đêm đang có mưa dông. Một lúc sau, phía sân bay chỉ còn là một biển lửa màu da cam.

Ngày 30/4.

Trời đã sáng. Mặt trời khổng lồ nhô lên từ đồng ruộng. Chúng tôi hếch mũi lên trời, theo dõi một chiếc máy bay vận tải, khá giống loại Nord Atlas của Pháp đang lượn vòng trên vòm trời. Đột nhiên từ thân máy bay loé lên một luồng lửa. Chiếc máy bay vỡ làm đôi, cứ thế rơi xuống, rơi rất chậm, rất chậm. Nó vừa bị trúng đạn tên lửa SAM 7, một loại tên lửa vác vai kiểu mới do Liên Xô chế tạo và do một xạ thủ Việt Nam nào đó, có thể đã đứng một mình chờ đón suốt đêm trên một nóc nhà ngoại thành, phóng trúng.

Các loa phóng thanh lại rống lên, báo tin lệnh giới nghiêm kéo dài suốt hai mươi bốn trên hai mươi bốn giờ, sau khi đài truyền đi bản quốc thiều và bài nói của tướng Minh kéo dài tới hơn hai mươi phút.

Làn sóng từ ngữ trong bài diễn văn chẳng có hiệu quả gì đối với những trận chiến đấu đang tiếp tục ác liệt chung quanh Sài Gòn. Từ nhiều khu vực ngoại thành lại vọt lên những cột khói đen, những lưỡi lửa đám cháy, xen lẫn tiếng nổ của đạn pháo.

Các đường phố vắng tanh vắng ngắt. Nhưng vẫn còn một vài phụ nữ rón rén mở cửa định bước ra ngoài, hy vọng còn có một cửa hàng cửa hiệu nào đó mở cửa. Trẻ con vẫn lặng lẽ chơi đánh bi hoặc nhảy ô quan trên vỉa hè, dưới cặp mắt của binh lính và cảnh sát trang bị tiểu liên.

Chỉ có những xe ô tô cắm cờ là đi lại trên đường. Những chiếc xe cứu thương hối hả mang những người bị thương, chủ yếu từ sân bay Tân Sơn Nhất và từ Chợ Lớn, bị trúng đạn trong đêm, phóng nhanh tới các bệnh viện.

Rồi người ta thấy xuất hiện, chẳng biết từ đâu chia ra những thanh niên mặc toàn đồ đen. Họ có vẻ như là một lũ nhóc chơi trò nghịch súng các-bin Mỹ. Nhưng đó chính là những dân vệ có nhiệm vụ giữ gìn an ninh trật tự. Lực lượng này gồm toàn thiếu niên từ mười lăm đến mười tám tuổi rất dễ bị kích động.

Khắp mọi nơi, pháo 105 ly của quân đội Sài Gòn tiếp tục bắn trả các khẩu pháo 130 ly của các lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.

Từ phía Biên Hoà là nơi hôm trước tôi vừa mới thực hiện chuyến “thám hiểm” cuối cùng, đang đánh nhau rất dữ dội.

Mặc dù có lệnh thiết quân luật, các nhà báo vẫn liều đi ra ngoài.

Chính vì vậy tôi đã tới được sứ quán Mỹ, chứng kiến những cảnh tượng chẳng vẻ vang gì. Được báo động bởi một mật lệnh truyền qua đài phát thanh, những người Mỹ cuối cùng hối hả mang vác hành lý lên xe ô tô buýt đưa họ đến những chỗ tập trung. Từ những địa điểm này, máy bay lên thẳng sẽ đưa họ tới những tàu sân bay của hạm đội 7 đang đậu ở một nơi nào đó ngoài khơi.

Đại cường quốc Mỹ đang chạy thoát thân.

Trước cổng toà lãnh sự Mỹ có hai binh sĩ lính thủy đánh bộ đội mũ sắt, súng cầm tay đứng gác, hàng mấy chục người Việt vẫn còn cố một cách tuyệt vọng, xin một hộ chiếu đi Guam, Midway, Honolulu…

Cũng từ đây, tất cả các nhà báo Mỹ (kèm theo cả nhiều người khác) cũng đang đóng gói hành lý vội vã ra đi. Chỉ còn một người vẫn ở lại là đại sứ Hoa Kỳ Graham Martin. Nhưng tướng Minh đã yêu cầu ông vui lòng ra đi để tránh mọi sự cố.

Cuối cùng ông đại sứ Mỹ cũng rút khỏi đại sứ quán mang theo lá cờ sao và vạch, tượng trưng cho nước Mỹ, đã được kéo xuống, gấp cẩn thận, cất kỹ trong cặp xách tay.

Ông là người cuối cùng đi bộ ra khỏi toà đại sứ.

Trước đó ít lâu, tôi đã nhìn thấy một viên tướng Sài Gòn trẻ tuổi, mặc quân phục may đo rất khéo, ngồi trong chiếc xe hơi sang trọng, đi ngang qua. Ông ta chạy vội vào trong sân sứ quán Mỹ rồi leo lên một trong những chiếc máy bay lên thẳng cuối cùng đợi trên sân thượng nhà mái bằng.

Sau khi đại sứ Mỹ đi ra ngoài, những cánh cổng toà đại sứ được đóng lại.

Đúng lúc đó có một người Việt Nam ngồi trên xe, đèo theo một phụ nữ, phóng đến cổng sứ quán Mỹ. Không nhìn thấy có ai, họ hỏi tôi:

– Thế này thì chúng tôi còn biết đi đâu bây giờ? Chúng tôi chết mất. Quân cộng sản đang tới. Tướng Westmorland đã hứa bảo vệ chúng tôi.

Nỗi lo sợ tràn khắp thành phố.

Hàng nghìn người chạy như điên tới sân bay, nhưng không còn chiếc máy bay nào cất cánh nữa. Hơn nữa, trước cổng nhà ga hàng không, cảnh sát đang dựng lên một rào cản.

Hàng nghìn người khác lại đổ xô đến căn cứ hải quân mang theo valy, hành lý, cố tìm cách leo lên được một chiếc tàu nào đó để chạy trốn theo dòng sông Sài Gòn.

Từ những khu vực ngoại thành, hàng ngàn người khác cũng đang chạy vào những khu phố ở trung tâm Sài Gòn.

Tôi đi qua các phố, buồn rầu, chậm chạp, trong khi tiếng pháo nổ mỗi lúc một gần. Luôn luôn tôi bắt gặp nhiều người giữ tôi lại, nói:

– Chắc ông là người Pháp, vì ông vẫn còn ở lại với chúng tôi. Ông có thể làm gì giúp chúng tôi được không?

Họ chìa ra những giấy tờ, thư từ, chứng minh họ có họ hàng đang ở bên Pháp. Tôi nhìn những con người khốn khổ đang ứa trào nước mắt. Tôi không thể nói gì hơn.

(Theo VOV)
Việt Báo
vietbao.vn

Thượng tướng Hoàng Cầm và giờ phút tiến vào Sài Gòn

Thượng tướng Hoàng Cầm.

Đôi mắt mệt mỏi của vị tướng già chợt bừng lên khi nghe nhắc tới ngày 30/4 của 30 năm trước. Ký ức về chặng đường binh nghiệp hào hùng của ông, người gắn bó với 2 cuộc kháng chiến vĩ đại, được tái hiện.

Vào ngày 30/4/1975 lịch sử, Quân đoàn 4 -đội quân chủ lực trên chiến trường B2 (Nam Bộ và Nam Trung Bộ) do tướng Hoàng Cầm chỉ huy cùng các cánh quân khác hội tụ tại dinh Độc Lập, giải phóng một Sài Gòn nguyên vẹn, kết thúc cuộc chiến tranh chống Mỹ. Trò chuyện với VnExpress, ông kể lại:

“Ngày 1/7/1974, tại vùng căn cứ huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Long, Quân ủy, Bộ Tư lệnh Miền đã họp thông qua phương án thành lập Quân đoàn 4. Lực lượng này gồm ba sư đoàn bộ binh 5, 7, 9 và năm trung đoàn binh chủng. Với chức năng là quả đấm chủ lực, lực lượng cơ động của Bộ ở chiến trường B2, nhiệm vụ của Quân đoàn là tiêu diệt địch, giải phóng nhân dân, làm nòng cốt cho lực lượng vũ trang ba thứ quân, làm chỗ dựa vững chắc cho lực lượng đấu tranh chính trị của quần chúng, đảm nhận một hướng chiến lược, một khu vực chiến trường và mục tiêu cuối cùng là giải phóng thành phố Sài Gòn – Gia Định.

Chiến công đầu tiên của Quân đoàn 4 là chiến dịch tấn công địch ở đường 14 – Phước Long. Mục tiêu cụ thể là diệt 2 chi khu Đồng Xoài, Bù Đăng, yếu khu Bù Na và một loạt đồn bốt nhỏ, giải phóng quốc lộ 14 đoạn từ Đồng Xoài đến Bù Đăng. Sau đó đánh phản kích, diệt từ một đến ba tiểu đoàn chủ lực địch, cô lập tiểu khu Phước Long.

Thượng tướng Hoàng Cầm, tên thật là Đỗ Văn Cầm, xuất thân từ một gia đình nông dân ở xã Sơn Công, huyện Ứng Hòa, tỉnh Hà Tây. Năm 24 tuổi, ông giác ngộ cách mạng và nhập ngũ. Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, ông là Trung đoàn trưởng Trung đoàn 209 (Đại đoàn 312), chỉ huy trung đoàn đầu tiên đánh thọc sâu vào khu trung tâm Mường Thanh, bắt sống toàn bộ Bộ tham mưu của cứ điểm.

10 giờ sáng ngày 29/4/1975, tôi nhận được mệnh lệnh tiến công số 03/ML của Trung tướng Lê Trọng Tấn – Phó tư lệnh Bộ chỉ huy Chiến dịch Hồ Chí Minh. Nhiệm vụ của Quân đoàn 4 là nhanh chóng tiêu diệt địch, đánh chiếm Hố Nai, Tam Hiệp, Biên Hoà, Cầu Ghềnh, Cầu Mới, phát triển tiến công đánh chiếm vững chắc đầu cầu ở hữu ngạn sông Đồng Nai, mở đường tiến về Sài Gòn. Tiếp đó, đột kích vào nội đô tiêu diệt địch, đánh chiếm quận 1, nhằm vào mục tiêu chủ yếu là Dinh Độc Lập và đài phát thanh.

Rút kinh nghiệm từ cuộc giải phóng Lâm Đồng trước đó, Sư đoàn 7 đang tập kết ở đường quân sự cách Trảng Bom 5 km đã tổ chức thành hai thê đội, mỗi thê đội là một trung đoàn bộ binh. Trước giờ xuất quân, tôi đã trao lá cờ “Quyết chiến Quyết thắng” cho anh Lê Nam Phong, Sư đoàn trưởng Sư đoàn 7. Lúc 4h sáng ngày 30/4/1975, tôi đã cùng Bộ tư lệnh Quân đoàn ở tại Biên Hoà.

Cũng lúc ấy, phân đội đi trước của Sư đoàn 7 tiến đến cầu xe lửa Biên Hoà (cầu Ghềnh). Cầu có trọng tải 12 tấn, xe tăng không qua được. Lúc này, trên tất cả các hướng, quân ta đang vượt qua những điểm phòng thủ cuối cùng của địch, ào ạt tiến vào Sài Gòn. Hướng Đông Nam, Sư đoàn 325 (Quân đoàn 2) đánh chiếm chi khu Nhơn Trạch, khu kho thành Tuy Hạ, phát triển đến phà Cát Lái. Lực lượng thọc sâu của Quân đoàn 2 đã tiến đến cầu Xa Lộ trên sông Đồng Nai, bắt liên lạc với Trung đoàn đặc công 116, đơn vị đã chiếm và giữ cầu từ trước, cùng tiến vào Sài Gòn. Hướng Bắc, Quân đoàn 1 đã đánh chiếm chi khu Tân Uyên, căn cứ Lái Thiêu. Hướng Tây Bắc, Quân đoàn 3 diệt căn cứ sư đoàn 25 ngụy tại Đồng Dù, trung đoàn huấn luyện Quang Trung, đánh chiếm sân bay Tân Sơn Nhất. Hướng Tây Nam, Đoàn 232 đã giải phóng thị xã Hậu Nghĩa, đưa lực lượng đến sát vùng ven thành phố.

Trên hướng Đông Sài Gòn, Quân đoàn 4 đã đánh tới thị xã Biên Hoà. Nhưng đường số 1 làm từ thời Pháp, lòng đường hẹp, cầu yếu. Quân địch ở khu căn cứ Biên Hoà, khu vực phòng thủ mạnh nhất của địch trước cửa ngõ Sài Gòn vẫn tiếp tục chống trả. Trước tình hình rất khẩn trương như vậy, tôi và Bộ tư lệnh Quân đoàn lệnh cho Sư đoàn 6 (thuộc Quân khu 7 nhưng tại thời điểm đó do Quân đoàn 4 chỉ huy) tiếp tục truy quét tàn binh địch, diệt các mục tiêu còn lại. Sư đoàn 341 (được Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh tăng cường đứng trong hàng ngũ Quân đoàn 4 từ ngày 2/3/1975) vượt qua cầu đường sắt bằng xe tải, đánh chiếm các mục tiêu đã được phân công ở quận Gò Vấp, quận 3 và quận 10. Sư đoàn 7 không tiến theo đường số 1 nữa mà quay ra đường Xa Lộ để vào quận 1.

12h30 ngày 30/4/1975, Đại đội 7, Sư đoàn 7, tiến theo đường Hồng Thập Tự, quẹo qua đại lộ Thống Nhất, tới thẳng dinh Độc Lập. Một giờ trước đó, Lữ đoàn xe tăng 203 và Trung đoàn bộ binh 66 (Quân đoàn 2) đã tiến vào dinh Độc Lập, buộc Tổng thống Dương Văn Minh và toàn bộ nội các ngụy đầu hàng. Lúc ấy, tôi cùng Bộ tư lệnh Quân đoàn vào thẳng dinh Độc Lập. Tổng thống Dương Văn Minh và chính quyền cũ lúc đó có khoảng hơn 10 người”.

Tuấn Dũng ghi
Việt Báo (Theo_VnExpress.net)
vietbao.vn

Sức mạnh của những bức ảnh trong cuộc chiến ở Việt Nam

Tim Page là một trong những phóng viên ảnh nổi tiếng thời chiến tranh Việt Nam, bắt đầu sự nghiệp ở Lào năm 1964, khi mới 18 tuổi. Ông trở thành phóng viên ảnh mẫu mực trong cuộc chiến tranh ở Việt Nam và những bức ảnh của ông trở thành nguồn cảm hứng của nhiều bộ phim thời kỳ đó. Trong thời gian ở Việt Nam, Tim Page bị thương 4 lần.

Tim Page.

“Cuộc chiến ở Việt Nam là cuộc chiến đầu tiên được các phóng viên độc lập tường thuật, cuộc chiến đầu tiên được chụp ảnh màu, cuộc chiến đầu tiên được tường thuật qua truyền hình, và cuộc chiến đầu tiên không bị kiểm duyệt”, Tim Page nói về báo ảnh trong cuộc chiến tranh cách đây hơn 30 năm.

– Ông đã đến với nhiếp ảnh như thế nào?

– Câu trả lời là tôi được mời một công việc không thể từ chối trên phương diện chuyên môn. Tôi đang ở Lào vào năm 1964, và tôi đi chụp ảnh thay cho một người bạn khi đó đang làm việc cho hãng UPI (United Press International), khi anh ấy phải đi ra nước ngoài. Và tôi đã có được những bức ảnh duy nhất về cú đảo chính tại đó. Thế rồi UPI đề nghị tôi đi sang Việt Nam, làm phóng viên nhiếp ảnh cho hãng.

– Khi ông tới Việt Nam vào tháng 2/1965, ấn tượng đầu tiên của ông về Việt Nam là gì?

– Thật là khó nói, vì lúc đó Việt Nam còn mang nhiều sắc thái của Pháp và chiến tranh còn chưa in những dấu ấn đậm nét như vài năm sau đó. Miền nam Việt Nam vẫn là một nơi đầy lính Mỹ và giao thông tấp nập. Người ta có cảm giác nơi đây vẫn là một thuộc địa của Pháp.

– Xin ông kể lại một vài kỷ niệm đáng nhớ nhất về thời gian ông có mặt tại Việt Nam làm phóng viên nhiếp ảnh chiến tranh?

– Tôi không nghĩ là có thể đưa ra một sự kiện nào đó duy nhất. Nếu chúng ta hỏi bất cứ ai đã từng có mặt tại Việt Nam trong thời gian đó, đều khó có thể đưa ra một sự kiện nổi bật nhất. Tôi cho là không thể nói một sự kiện nào là quan trọng nhất trong ký ức của tôi.

Có lẽ hai điều phải nhắc tới, đó là được là một nhân chứng, được chứng kiến cuộc chiến diễn ra. Phải nói đấy là một đặc ân vô cùng to lớn, được chứng kiến cuộc đấu tranh giải phóng, được tiếp cận gần gũi đến vậy với những người tham gia cuộc chiến, dù là người Mỹ, người Việt… khi họ phải đối mặt với cái chết.

Chính bản thân tôi cũng đã từng bị thương và trải qua những đau đớn, chịu đựng, và đồng thời được có mặt tại một đất nước mà người dân đầy lòng vị tha, tập làm quen với những tình huống có thể nói cực kỳ điên rồ trút xuống đầu họ.

Việt Nam cũng là một nơi dễ sống, vui vẻ và đầy những điều thú vị. Tất cả chúng tôi, những phóng viên chiến tranh hồi đó đều rất trẻ và có thể nói là chúng tôi rất ý thức về tính mạo hiểm, về ý nghĩa của việc mình làm.

Những bức ảnh được đăng trên tạp chí Life, hay trên các báo chí khác ngày đó không giống như những hình ảnh được đăng ngày nay và chúng tôi có thể có những tác động, ảnh hưởng tới người xem, và người ta có thể rút ra một điều gì đó từ những bức ảnh ấy. Chúng đã giúp thay đổi cả tiến trình của cuộc chiến.

Tôi không nghĩ là ngày nay có thể làm được điều đó, và trên phương diện này thì phải nói cuộc chiến Việt Nam là cuộc chiến đầu tiên được các phóng viên độc lập tường thuật, cuộc chiến đầu tiên được chụp ảnh màu, cuộc chiến đầu tiên được tường thuật qua truyền hình, và cuộc chiến đầu tiên không bị kiểm duyệt. Cuộc chiến đầu tiên và cũng là cuối cùng trên nhiều phương diện.

Để sống thì đây cũng là một nơi tuyệt vời, vì Việt Nam là một đất nước rất đẹp, con người cũng đẹp, đồ ăn thức uống rất ngon. Và là một thanh niên thì những trải nghiệm đó là một điều không thể quên được.

– Là một thanh niên rất trẻ, khi tới Việt Nam trong thời gian chiến tranh ông mới 21 tuổi, ông đã làm thế nào để có thể đương đầu và trụ được trong bối cảnh chiến tranh như vậy?

– Tôi đã đương đầu, chống chọi với cuộc chiến như thế nào ư? Hoặc là trụ được hoặc là không. Bạn buộc phải đương đầu thôi vì như chúng tôi vẫn nói, phải đè nén nỗi sợ hãi, vì nếu không thì nó sẽ bao trùm, vượt lên trên chính bạn và bạn sẽ không thể bước ra để chụp thêm một bức ảnh nào nữa. Bạn trở nên quá sợ hãi, quá hoảng loạn, quá lo lắng, hốt hoảng trước sự điên rồ của chiến tranh.

Còn bản thân tôi đã đương đầu với chiến tranh như thế nào ư? Có lẽ là sau khi có mặt tại chiến trường, trở về sau những chiến dịch và chứng kiến cảnh người chết trong cuộc chiến, chụp những bức ảnh vô giá mang về, thì chúng tôi ngồi xuống với nhau, hút điếu thuốc lá, uống chút gì đó và nói về những điều đã chứng kiến, cố gắng thư giãn, cố không nghĩ tới những chuyện đã xảy ra tại chiến trường.

Nhưng vẫn biết rằng, ngày mai hay ngày kia, sẽ lại phải bước ra đối mặt với nó. Tôi không nghĩ là có thể thực sự “giải quyết” được tâm lý ấy mà chỉ có thể đè nén nó. Và trên một phương diện nào đó thì bạn biến trạng thái tiêu cực đó sang thành sự sáng tạo trong nhiếp ảnh, trong viết lách hay trong phim ảnh.

Tôi cho rằng sau này các vấn đề mới nảy sinh. Đó là khi nhìn lại quá khứ, và có cảm giác tội lỗi khi mình thì sống sót mà những người khác thì không. Và mãi sau này ta mới thực sự thích nghi được với những gì đến xảy ra với mình vào thời điểm đó.

– Ông đã bị thương nhiều lần và vài lần thương nặng tưởng chết, cảm giác của ông ra sao khi trở lại chiến trường sau mỗi lần bị thương như vậy?

– Khi còn trẻ, có lẽ người ta tin rằng, chẳng điều gì có thể xảy ra với mình được và rằng mình được Thượng đế hay một thánh nhân nào đó phù hộ. Nhưng đến khi chính mình bị thương thì bỗng nhận ra rằng mình cũng chỉ làm bằng xương bằng thịt như những người khác. Trong chiến tranh thì không ai có thể nói trước được là mình có thể bị trúng đạn ở đâu, trong rừng rậm, trong khi ngủ, trên đường phố hay trong vùng có giao tranh. Mối đe dọa đó đến từ mọi phía, vào mọi thời điểm, bất kể ngày hay đêm.

Và không có cách gì có thể tự bảo vệ mình trước những đe dọa như thế, vì vậy cách duy nhất có lẽ là tự tạo ra một vỏ bọc che chắn tâm trí của mình trước những đe dọa đó. Rồi khi bị thương, con người ta bắt đầu tự đặt câu hỏi với chính mình, tại sao lại ở đây, và ở đây để làm gì, họ tự vấn chính động cơ của mình.

Sau mỗi lần bị thương như vậy và lại bước vào cuộc chiến, lại đối mặt với sự điên rồ của chiến tranh thì nó cũng giống như sau khi ngã ngựa vậy, chỉ có điều ta có thể điều khiển được con ngựa mình cưỡi trong khi lại chẳng có chút quyền lực gì điều khiển được cuộc chiến cả. Vì thế sau mỗi lần bị thương, khi phải trở lại đối mặt với cuộc chiến thì việc tiếp tục làm việc lại ngày càng trở nên khó khăn hơn. Tới một lúc nào đó bạn tự nhủ rằng chỉ có thể chịu đựng tới mức này thôi, không thể chịu đựng thêm được nữa.

– Điều gì đã khiến ông tiếp tục, có phải vì danh tiếng, vì tính mạo hiểm, hay vì một lý tưởng nào đó?

– Đây là một câu hỏi khó trả lời vì khi con người ta trưởng thành hơn, già dặn hơn, thái độ chính trị của ta cũng dần thay đổi. Vào thời điểm khi tôi trở lại Việt Nam hồi năm 1968, tôi đã ở Mỹ và đã chụp ảnh tường thuật phong trào chống chiến tranh. Tôi trở thành người có tư tưởng chống chiến tranh hơn, và đối với tôi toàn bộ cuộc chiến trở nên điên rồ và vô nghĩa lý hơn.

Vì thế những đề tài tôi chụp thường trở nên mang tính chống chiến tranh mạnh mẽ hơn. Thực sự nói cho cùng thì tất cả các hình ảnh về chiến tranh đều trở thành những hình ảnh chống chiến tranh cả. Và tôi cho rằng mình bắt đầu tìm kiếm những hình ảnh để thể hiện thái độ chỉ trích, nhạo báng chiến tranh và cho thấy thực chất chiến tranh là gì.

Chiến tranh ở Việt Nam là độc nhất vô nhị, vì nó kéo dài rất lâu. Các cuộc chiến tranh hiện đại chỉ kéo dài không bao lâu, như cuộc chiến vùng Vịnh, kết thúc sau vài tuần. Trong khi tại Việt Nam người ta sống cùng chiến tranh, và bước vào cuộc chiến như đi làm vậy, và trên phương diện ấy thì nó quả là một kinh nghiệm thật khác thường.

Càng ở đó lâu bao nhiêu thì người ta càng nhận ra những nỗ lực thực dân hóa của Mỹ qua việc ném bom Campuchia và dùng B52 ném bom Việt Nam là một điều thực sự vô nghĩa lý vì đây là một cuộc chiến không thể thắng được.

Thật khó có thể nói với người Mỹ rằng quý vị sẽ không thể thắng được, rằng đó là chuyện sẽ không xảy ra. Trong khi đó người Mỹ tin rằng họ sẽ thắng mà đó lại là một cuộc chiến không thể thắng nổi. Vì thế, những bức ảnh chụp chiến tranh của tôi cũng trở nên có tính chính trị hơn, với những đổi thay trong cách chụp của mình, cách mình nhìn sự vật, và cách mình chọn lựa hình ảnh để chụp.

– Ông tin rằng các phóng viên nhiếp ảnh, các nhà báo có thể thay đổi được chiến cuộc?

Tôi cho rằng vào thời kỳ đó, chúng tôi đã làm thay đổi cuộc chiến qua những tường thuật rất nhiều về cuộc chiến tranh Việt Nam, vì đây là cuộc chiến đầu tiên được các nhà nhiếp ảnh độc lập tường thuật, cuộc chiến đầu tiên và cũng là cuối cùng trên phương diện tường thuật.

Và tôi cho rằng điều đó đã xảy ra được là vì trong thời chiến tranh ở Việt Nam đã có những nhà nhiếp ảnh chiến tranh rất tài năng. Những bức ảnh họ chụp được đăng trên trang nhất của các tờ báo, tạp chí lớn trên toàn thế giới và trên cả truyền hình nữa. Dần dà tất cả những cái đó đã làm thay đổi thái độ của công chúng về cuộc chiến, mà đặc biệt quan trọng là của công chúng tại Mỹ, rồi tại châu Âu, Nhật Bản, Australia và những nơi khác nữa. Thậm chí tới ngày nay, nếu ta hỏi những người ở một độ tuổi nhất định, những người đã từng biết chừng gần một chục tấm ảnh về chiến tranh Việt Nam thì những hình ảnh đó vẫn còn ghi lại trong trí nhớ của họ.

Tôi cho rằng một tập hợp chung những hình ảnh về chiến tranh đó, những trích đoạn trên truyền hình, trên báo chí thực sự đã làm thay đổi ý kiến của công chúng, lối nghĩ và cách nhìn nhận cuộc chiến, và về sự điên rồ của Mỹ trong cuộc chiến tại Việt Nam và tại Đông Dương.

– Nhưng ông không cho rằng nay các nhà báo, phóng viên nhiếp ảnh, truyền hình có thể làm điều đó, như trong cuộc chiến hiện nay tại Iraq?

– Không, đó là điều không thể làm được. Hãy nhìn vào cuộc chiến Iraq sẽ thấy. Về cơ bản đó là hình thức cài phóng viên đi theo tường thuật và do quân đội kiểm soát. Chúng ta không được thấy những thống khổ, khó khăn mà người dân Iraq phải chịu đựng, trừ phi xem các đài truyền hình Ảrập, như Al-Jazeera. Chúng ta không được thấy những gì từ cực bên kia vì chúng bị che giấu trước mắt của chúng ta.

Chúng ta không được thấy hình ảnh của các nạn nhân, và thậm chí cũng chẳng được thấy xác của những lính Mỹ bị thiệt mạng. Báo chí ngày nay gần giống như những quyển catalogue để đặt mua hàng thời những năm 60 vậy.

Trước đây, các tạp chí ra vào thứ bảy là lãnh địa của giới nhiếp ảnh, nhưng ngày nay đã trở thành lãnh địa của giới tiêu thụ. Các bài báo trong các tạp chí này là về thời trang, về nấu ăn, làm vườn, chứ không có những đề tài có chiều sâu hay có ý nghĩa sâu sắc.

Vấn đề là những gì các phóng viên nhiếp ảnh và truyền hình ghi lại trong chiến tranh nghiễm nhiên sẽ khiến người xem buồn và khiến người ta phải suy nghĩ. Và nếu những hình ảnh đó lại được cắt bỏ, biên tập lại thì toàn bộ việc có mặt và ghi lại những hình ảnh đó sẽ chẳng còn ý nghĩa hay tác dụng gì nữa. Tôi cho đây là một vấn đề rất căn bản.

– Ông ở Việt Nam ba năm từ năm 1965 tới 1967 và sau đó ông trở lại vào năm 1968, cũng vẫn trong thời gian có chiến tranh. Lần đầu tiên ông ở trở lại Việt Nam sau chiến tranh là năm 1980. Vậy cảm tưởng của ông về một nước Việt Nam ngày nay là gì?

… Được thấy một đất nước đã từng bị tàn phá thảm khốc vì một cuộc chiến tranh hiện đại và được thấy đất nước đó phục hồi quả là một điều kỳ diệu.

Thật cảm phục khi được thấy những người dân đã từng là nạn nhân của cuộc chiến, khốn khổ vì cuộc chiến nay trở lại cuộc sống bình an mà không hề mang hận thù, đầy lòng vị tha, sống với hiện tại, và bỏ qua quá khứ.

Nhiều người thuộc thế hệ trẻ ngày nay không biết gì về chiến tranh ngoài những gì qua sách vở và trên phương diện đó thì tôi cho rằng nghĩa vụ của chúng ta là phải đem lại cho họ một hình ảnh chính xác về cuộc chiến, về lịch sử.

– Xin hỏi ông một câu cuối cùng, ông có nghĩ là Mỹ cần phải giúp giải quyết hậu quả chiến tranh, như trong vấn đề chất độc da cam, hay giúp những thương binh do cuộc chiến?

– Tôi cho rằng trong vấn đề chất độc da cam thì chắc chắn là nên. Các cựu chiến binh Mỹ tham gia cuộc chiến Việt Nam đã bị ảnh hưởng do chất độc da cam trong thời gian chiến tranh đã kiện và được bồi thường những khoản tiền đáng kể cho chính bản thân họ hay cho các thân nhân của họ. Có sự cố tình tách biệt những người này với những nạn nhân chất độc da cam tại Việt Nam.

Theo tôi cách tốt hơn cả là nên mở cửa, cởi mở hơn. Mỹ trong suốt một thời gian dài đã áp dụng chính sách cấm vận với Việt Nam, trong khi tốt hơn cả là tạo công ăn việc làm và có một nền kinh tế lành mạnh và như thế có nghĩa là các cựu chiến binh có thể được xã hội trông nom. Quá khứ đã qua và tôi cho rằng mọi người cần được sống trong hòa bình.

(Theo BBC)
Việt Báo
vietbao.vn

Chiến trường cũ trong con mắt phóng viên nước ngoài

Cựu phóng viên ảnh chiến trường Việt Nam năm 1972, 1973, bà Barbara Gluck.

Trong đoàn 15 nhà báo nước ngoài thăm Củ Chi hôm 26/3, có 2 người Mỹ, một là cựu phóng viên ảnh tại Sài Gòn những năm ác liệt trước giải phóng và người còn lại đã viết sách về VN. Men theo lối nhỏ chật hẹp của địa đạo, chuỗi ký ức trong họ dần tái hiện.

Thomas A. Bass được chú ý hơn cả trên chuyến xe. Anh có nụ cười rạng rỡ, sống mũi cao, đôi mắt biết nói, phong cách gần gũi, giản dị. Không dấu hiệu nào khác ngoài tấm thẻ do Sở Ngoại vụ cho thấy người này từng là phóng viên kỳ cựu của The New Yorker, tác giả cuốn sách nổi tiếng VietnamericaThe War comes home viết về những đứa con lai, cũng là người tìm ra cha đẻ cho ca sĩ Phương Thảo sau 3-4 năm vật lộn tại Mỹ…

Xe đi qua một rừng cao su, ước chừng mới đây thôi thu hoạch mùa mủ đầu tiên: thân còn cộc, màu lá xanh non không đủ ngăn nắng lửa Củ Chi. Thomas thốt lên: “Chúng đã được trồng lại. Trước đây chỉ là những hố bom, chết chóc, không cây cối. Chiến tranh đã từng hủy hoại tất cả… Điều này tôi được biết qua những cuốn sử và tác phẩm văn học viết về chiến tranh tại Việt nam. Tôi không phải là phóng viên đã từng có mặt ở Việt Nam thời kỳ 1975 vì lúc đó tôi còn nhỏ. Cho đến lần đầu tới Việt Nam năm 1991, tất cả những điều tôi biết về nơi này đều qua những cuốn sách”.

Thomas nhắc tên những cuốn sách từng đọc, trong đó, để lại nhiều ấn tượng, cho anh một hình dung thật nhất chính là Sorrow of War, bản tiếng Anh tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh của nhà văn Việt Nam Bảo Ninh. Những trang sách ghi lại câu chuyện tình có thật trong quãng thời gian gian khổ nhất cuộc chiến, những trải nghiệm, niềm đau, nỗi sợ hãi… ám ảnh suốt cuộc đời không chỉ của riêng anh bộ đội trong tác phẩm, mà còn của binh lính Mỹ, những người từng để lại một phần thân thể mình tại Việt Nam vào cái ngày họ không mảy may hy vọng trở về đất mẹ. “Người Việt Nam đã trải qua cuộc chiến tranh dài, từ khi chống Nhật, Pháp, Mỹ để có một chiến thắng đáng ghi nhận vào những ngày tháng 4/1975. Họ có quyền tự hào về điều đó”, Thomas nói.

Từ 22 đến 26/3, khoảng 100 phóng viên, nhà báo nước ngoài đến từ 67 hãng thông tấn quốc tế và trong nước đã dự họp báo, đưa tin về các hoạt động kỷ niệm 30 năm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước tại TP HCM.Sau cuộc làm việc với lãnh đạo UBND thành phố ngày 22/3, đoàn đã đi thăm Trung tâm Bảo trợ trẻ tàn tật Thị Nghè, Làng Hòa Bình Từ Dũ, địa đạo Củ Chi, Cần Giờ.

Còn 2 cuốn sách của các tác giả Mỹ được nhắc tới là A bright, shining lie của Neal Sheehan,Dispatches của Michael Herr. Chiến tranh, theo những gì đọng lại trong Thomas là một thảm họa, một sai lầm của nước Mỹ vì có quá nhiều người đã chết.

Nói về cuốn sách của mình, Vietnamerica, xuất bản năm 1995, Thomas cho rằng, đây đơn giản chỉ là cuốn sách ghi lại câu chuyện, số phận những đứa con mang hai dòng máu Việt Nam – America, dựa vào sự kiện những năm 1988, 1990, khi Chính phủ Mỹ tìm và đưa tất cả những đứa con lai Mỹ, hiện đang là trẻ bụi đời (children of dust) bị cha đẻ bỏ rơi sau 13 năm giải phóng. “Những đứa con lai lúc này đã lớn, khi sang Mỹ được trả về gia đình hoặc được Chính phủ nuôi, cho ăn học theo văn hóa, đời sống Mỹ, đến khi đủ 18 tuổi có thể sống tự lập như bất kỳ một người Mỹ bình thường”, Thomas nói.

Ngồi ngay sau Thomas trên chuyến xe chính là Barbara Gluck, một cựu phóng viên ảnh đã từng vác máy rong ruổi cùng chồng trên chiến trường miền Nam Việt Nam, cũng là cây bút của The New York Times trong những năm 1972, 1973.

Lần đầu đến Việt Nam vào tháng 4/1968, Barbara làm việc như một cộng tác viên. Bà đến Đông Nam Á trong chuyến đi dài 3 tuần, theo lời mời của Joseph Treaster, phóng viên thường trú của The New York Times, người sau này là chồng của bà.Gặp nhau tại Hong Kong, cả hai bay đến Sài Gòn.

“Tôi đã ở đây 3 ngày trước khi có trận đánh lớn của quân đội Việt Nam. Khi đó, tôi đang ở khách sạn Continental bỗng nghe thấy tiếng bom nổ ở ngay trung tâm thành phố. Ngay sau đó, tôi đã nhìn thấy những thân thể người ở ngay bên bờ sông, nhiều binh lính cầm súng trên tay…, những cảnh tượng một cô gái New York như tôi chưa bao giờ thấy. Lúc đó tôi chưa đầy 30 tuổi”, bà nói.

Chuyến đi Việt Nam tiếp đó là năm 1972, cùng chồng. Barbara nhớ như in khoảnh khắc bấm máy trong 14 giờ bay trên một chiếc B52 thả bom miền Bắc. Bà cũng không thể không nhớ 24 giờ nằm vùng tại một làng ở Mỹ Tho. “Tôi đã chụp ảnh trẻ em, bộ đội Việt Nam. Cái cảm giác lúc đó về ngôi làng là hình như không có chiến tranh đang xảy ra. Lũ trẻ tóc vàng hoe, chạy xung quanh tôi chỉ trỏ như chưa bao giờ nhìn thấy người Mỹ. Người dân đã cho tôi ăn, không có kẻ thù và coi như bạn tốt”, Barbara kể lại.

Thomas và Barbara bên cạnh quả bom B52

Thomas và Barbara bên cạnh quả bom B52

Giờ đây, ngay tại Củ Chi, không khó khăn để Barbara nhận ra hình thù quả bom B52 trong góc nhà trưng bày. Bà chỉ cho nhiều đồng nghiệp đứng cạnh: “Tôi đã nhìn thấy những người phụ nữ bình thường, họ đang làm việc. Một tiếng bom nổ, khói mù mịt. Máu trào ra từ hai bên tai và hốc mũi của người phụ nữ. Những hình ảnh tôi không thể quên”.

Rời nhà trưng bày, đoàn phóng viên đi qua bếp Hoàng Cầm. Ai cũng nhón thử một miếng sắn luộc chấm với muối vừng, món dã chiến của bộ đội Việt Nam. Tranh thủ lúc nghỉ uống nước, Thomas tiết lộ, sau chuyến đi này sẽ viết một bài báo dài 10.000 từ về những cảm nhận Việt Nam sau 30 năm chiến tranh, về chính trị, văn hóa, giáo dục. Còn Barbara sẽ ở lại để ghi những hình ảnh TP HCM vào ngày 30/4 năm nay, đồng thời đến thăm những làng trẻ em nạn nhân chất độc da cam, trẻ mồ côi để làm giàu bộ sưu tập cá nhân của mình.

“30 năm quay lại Việt Nam, tôi thực sự không thể tin nổi những đổi thay nơi thành phố này. Đứng ở quảng trường Nhà hát thành phố, ngắm khách sạn Caravelle, Continental…, tôi có cảm giác như đứng ở Beverly Hill, Mỹ. Tôi chỉ biết nói một điều rằng tôi yêu thành phố này, tôi yêu Việt Nam và các bạn”.

Lê Nhàn Việt Báo (Theo_VnExpress.net)
vietbao.vn