Sự can thiệp thô bạo khoác áo nhân quyền

Nhân quyền (quyền con người) là giá trị của nền văn minh nhân loại, là thành quả của quá trình đấu tranh gian khổ và lâu dài vì tự do, công bằng, hoà bình và phát triển. 

Tuy nhiên, lĩnh vực quyền con người hiện đang bị một số lực lượng chính trị bá quyền lợi dụng như là một ngọn cờ tập hợp lực lượng hòng can thiệp vào công việc nội bộ của các quốc gia độc lập, có chủ quyền. Bởi vậy, quyền con người đang trở thành vấn đề hết sức nhạy cảm và phức tạp trong đời sống chính trị quốc tế hiện nay.

Mỹ và một số nước phương Tây lớn tiếng rêu rao ”nhân quyền cao hơn chủ quyền quốc gia”, ”nhân quyền không biên giới”.

Vậy thực chất cái gọi là ”nhân quyền cao hơn chủ quyền quốc gia”, ”nhân quyền không biên giới”… ở đây là gì ?

Đó chính là chiêu bài mà Mỹ và một số nước phương Tây đừng làm cái cớ để ”can thiệp nhân đạo” vào công việc nội bộ các nước có chủ quyền. Dưới ngọn cờ ”nhân quyền”, Mỹ và các nước phương Tây muốn áp đặt ”nhân quyền” mang màu sắc siêu cường của họ lên các nước khác. Nếu không chấp nhận quan niệm giá trị đó họ sẽ tìm mọi cách gây sức ép bằng kinh tế, chính trị, công nghệ… uy hiếp vũ trang, thậm chí, lật đổ hoặc áp đặt bằng vũ lực. Có thể nói, thực chất đó là những hành động của chủ nghĩa thực dân mới ngày nay, núp dưới danh nghĩa bảo vệ ”nhân quyền” của Mỹ và phương Tây.

Trên thực tế, từ năm 1990 đến nay, núp dưới ngọn cờ ”nhân quyền”, Mỹ đã hơn 40 lần sử dụng vũ lực đối với một nước. Đặc biệt, cuối tháng 3 năm 1999, NATO do Mỹ cầm đầu đã phớt lờ luật pháp quốc tế, ngang nhiên bỏ qua Hội đồng bảo an Liên hiệp quốc, oanh tạc Nam Tư – một quốc gia có chủ quyền suốt 78 ngày. Bốn năm sau, (3/2003) một lần nữa, Mỹ- Anh lại bất chấp Liên hợp quốc, tiến công Irắc với cái cớ ”I-rắc có vũ khí huỷ diệt hàng loạt”.

Nếu quả thật nhân quyền cao hơn chủ quyền quốc gia, thì phải chăng vì nhân quyền có thể không cần đến chủ quyền ? Và không có chủ quyền quốc gia thì căn cứ vào đâu họ nhân danh quốc gia có ”nhân quyền” can thiệp vào quốc gia ”vi phạm nhân quyền”, căn cứ vào đâu để xác định sự tồn tại của một quốc gia độc lập? Và khi chủ quyền của một quốc gia – dân tộc bị xâm phạm và chà đạp thì nhân quyền của quốc gia dân tộc đó có còn được bảo đảm hay không ? Và thử hỏi, liệu có thể có những vụ ném bom mang tính nhân đạo hay không, nhất là khi nhiều vụ ném bom ”nhầm” vào khu dân cư, phá huỷ bệnh viện, trường học, những công trình dân sinh… giết chết hàng trăm người dân vô tội, khiến bao gia đình tan nát hoặc lâm vào cảnh màn trời chiếu đất. Thử hỏi, những giá trị nhân quyền của Mỹ và các nước phương Tây ở đây là gì ?

Là một dân tộc từng bị chủ nghĩa thực dân cũ và mới xâm lược, áp bức, hơn ai hết chúng ta hiểu sâu sắc rằng khi 1à ”vong quốc nô” thì không thể có nhân quyền, và chỉ khi nào giành được độc lập dân tộc thì mới có được những quyền cơ bản của con người. Một quốc gia không có hoặc chưa có chủ quyền thì không thể nói đến nhân quyền, đến ”quyền sống, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc”. Ngược lại, nước độc lập mà nhân dân không đủ cơm ăn, áo mặc, không được học hành thì độc lập, tự do cũng chẳng nghĩa lý gì, nền độc lập đó không thể bền vững.

Như vậy, chủ quyền quốc gia và nhân quyền có mối quan hệ biện chứng, làm tiền đề tồn tại và phát triển cho nhau. Chủ quyền quốc gia 1à điều kiện tiên quyết, cơ bản để thực hiện đầy đủ nhân quyền và một khi nhân quyền được thừa nhận và phát triển thì đó là nền tảng của tự do, công bằng và hoà bình. Vì lẽ đó, không thể có cái gọi là ”nhân quyền cao hơn chủ quyền”.

Đã từ lâu, Mỹ đã theo đuổi và sử dụng ngoại giao nhân quyền như là một chính sách cơ bản trong chiến lược ”diễn biến hoà bình” nhằm chống phá các nước XHCN, trong đó có Việt Nam. Sau thất bại ở Việt Nam, Mỹ càng đẩy mạnh hơn nữa việc thực hiện chính sách ngoại giao nhân quyền để chống phá nước ta. Ngày 19/10/1982, Bộ Ngoại giao Mỹ tổ chức Hội nghị ”Lên án sự vi phạm nhân quyền của cộng sản Việt Nam”. Tháng 12/1983, Bộ Ngoại giao Mỹ trình Quốc hội Mỹ rằng, Việt Nam là một nước không có nhân quyền. Ngày 8/12/1991, Quốc hội Mỹ lên tiếng phản đối Việt Nam vi phạm nhân quyền. Ngày 6/9/2001, Hạ viện Mỹ thông qua Dự luật nhân quyền Việt Nam (VHRA), nhưng không được Thượng viện Mỹ thông qua. Đặc biệt, ngày 15/7/2003,Hạ viện Mỹ đã thông qua điều khoản bổ sung cho Dự luật chi tiêu đối ngoại của Bộ ngoại giao Mỹ trong năm tài chính 2004-2005 (HR. 1950), gắn các điều kiện về nhân quyền với viện trợ không liên quan đến mục đích nhân đạo cho Việt Nam.

Sau gần một tuần thảo luận từ 14/7 đến 19/7/2004, Hạ Nghị viện Hoa Kỳ đã bỏ phiếu với 232 phiếu thuận, 45 phiếu chống, 65 không bỏ phiếu, thông qua cái gọi là luật Nhân quyền Việt Nam năm 2004 mang số hiệu H.R.1587.
Cái gọi là ”Luật Nhân quyền Việt Nam” năm 2004 hay còn gọi là hồ sơ H.R.1587 gồm 3 chương, trong đó liệt kê 10 điều xuyên tạc về dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam, áp đạt điều kiện vô lý cho việc cải thiện quan hệ hữu nghị và hợp tác đang trên đà phát triển theo chiều hướng thuận giữaViệt Nam và Hoa Kỳ. Tệ hại hơn, dự luật này còn đề nghị dành một quỹ đặc biệt để khuyến khích việc gây ra tình hình bất ổn về chính trị ở Việt Nam.

Mỹ tự cho mình cái quyền phán xét tình hình nhân quyền của các nước khác, trong khi chính Mỹ đang bị dư luận chỉ trích vì vi phạm nhân quyền và bị các nước đồng loạt gạt khỏi Ủy ban nhân quyền của Liên hiệp quốc trong cuộc bỏ phiếu tại Hội đồng kinh tế-xã hội (ECOSOC) (3/5/2001). Điều mỉa mai là nước luôn đòi ”can thiệp nhân đạo” vào công việc nội bộ của các nước khác để giải quyết vấn đề nhân quyền, thì chính họ lại vi phạm nhân quyền nhiều nhất. Ngày 1/3/2004, Văn phòng Quốc Vụ viện Trung Quốc đã công bố báo cáo “Về quyền con người ở Mỹ năm 2003”, trong đó đặc biệt nhấn mạnh, sau sự kiện ngày 11/9, dưới chiêu bài chống khủng bố, chính phủ Mỹ đã ra hàng loạt đạo luật vi phạm quyền và sự tự do của công dân.

Ở Mỹ hiện có không ít người không đủ điều kiện thực hiện quyền cơ bản của con người và quyền sống của con người bị đe dọa bởi chính sách bóc lột, đàn áp, bởi tệ phân biệt chủng tộc, bởi bạo lực tràn lan và các tệ nạn xã hội. Các số liệu thống kê cho thấy, năm 2002 số người không có chỗ ở của Mỹ đã vượt quá con số 3 triệu, những người giàu chỉ chiếm 1% dân số lại nắm trong tay tổng số tài sản vượt quá tổng tài sản của 40% dân số, có đến 21.500 nhóm mafia với 731.000 thành viên, có khoảng 200 triệu cây súng đang lưu hành trong dân, 11,9 triệu vụ án giết người, hiếp dâm, cướp bóc. Gần đây, nhiều vụ việc cảnh sát hành hung người da đen ngay trên đường phố mà không bị xét xử nghiêm minh, cho thấy sự phân biệt chủng tộc vẫn còn nặng nề. Trong tháng 4,5 vừa qua, trên phương tiện thông tin đại chúng đang rộ lên hình ảnh lính Mỹ ngược đãi tù binh I-rắc đang làm hoen ố hình ảnh nước Mỹ và đương kim Tổng thống Buts. Về điều này, ông uỷ viên Hội đồng thành phố New York – Wenden Photxto, đã phải thừa nhận rằng, chủ nghĩa phân biệt chủng tộc là đặc trưng của nền pháp lý Mỹ. Nó là bệnh ung thư đang tàn phá chúng ta. Hãy dẹp bỏ câu chuyện hoang đường rằng nước Mỹ là xứ sở của nhân quyền và tự do.

Ở Việt Nam, đảm bảo và phát triển quyền con người đã là một mục tiêu chính trị chủ đạo và nhất quán trong sự nghiệp cách mạng của Đảng và Nhà nước ta. Đường lối nhất quán và xuyên suốt từ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân đến sự nghiệp đổi mới đất nước và tất cả vì sự nghiệp giải phóng con người, vì quyền con người đích thực. Đường lối này là kết tinh những giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc và quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về quyền con người. Không chỉ dừng lại ở việc ghi nhận như là một tuyên ngôn chính trị, quyền con người đã và đang được thể chế hoá và hiện thực hóa trong đời sống thực tiễn ở Việt Nam, nhất là trong sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước.

Cho đến nay, chúng ta đã có được một hệ thống văn bản pháp luật tương đối toàn diện về bảo đảm quyền con người, quyền công dân.

Cùng với việc khẳng định: Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức” (Điều 2, Hiếnpháp năm 1992 đã được sửa đổi năm 2001), Hiến pháp còn xác định cách thức thực hiện quyền làm chủ trên thực tế. ”Công dân có quyền tham gia quản lý Nhà nước và xã hội, tham gia thảo luận các vấn đề chung của cả nước và địa phương, kiến nghị với các cơ quan nhà nước, biểu quyết khi Nhà nước trưng cầu ý dân” (Điều 53). Hiến pháp còn quy định những quyền công dân hết sức cụ thể: quyền bầu cử và ứng cử, quyền miễn nhiệm đối với đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân, quyền khiếu nại, tố cáo, các quyền tự do về báo chí, ngôn luận, hội họp, lập hội…

Bên cạnh đó, công tác thông tin cho cử tri về hoạt động của các cơ quan nhà nước, đặc biệt là truyền hình trực tiếp (hoặc truyền thanh) về các phiên họp của cơ quan dân cử; công tác tiếp xúc cử tri; việc tổ chức các đợt góp ý kiến của nhân dân về các dự án luật; việc ban hành và đẩy mạnh thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở… là những tiền đề hết sức quan trọng trong việc đảm bảo quyền lực thuộc về nhân dân, trong việc xây dựng nền dân chủ XHCN.

Đảm bảo và phát huy quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân sẽ làm tăng khả năng hiện thực của việc bảo đảm quyền con người. Tuy nhiên, trình độ phát triển kinh tế, những điều kiện sinh hoạt vật chất luôn là nền tảng và mang tính quyết định đối với việc hiện thực hoá và mở rộng các quyền con người, quyền công dân. Thực tế hơn 17 năm đổi mới vừa qua cho thấy, Đảng và Nhà nước ta rất chú trọng đến phát triển kinh tế và xem đây là nhiệm vụ trung tâm. Việc thừa nhận và thể chế hoá trong Hiến pháp 6 thành phần kinh tế ở nước ta hiện nay chính là sự tôn trọng và khuyến khích những người có năng lực và điều kiện tham gia phát triển kinh tế, làm giàu chính đáng.

Bên cạnh chú trọng nâng cao đời sống vật chất, Đảng và Nhà nước ta cũng rất quan tâm chăm lo đời sống tinh thần của nhân dân, đặc biệt là trong đời sống tín ngưỡng, tôn giáo. Những năm qua, nhiều lễ hội và ngày lễ lớn của các tôn giáo, các kỳ đại hội và hoạt động lớn của các tôn giáo được tổ chức trọng thể ở mọi miền của Tổ quốc trong không khí trang nghiêm, an toàn, thu hút hàng vạn tín đồ tham gia.

Thống kê cho thấy: ở Việt Nam hiện có khoảng 10 trường đại học tôn với hàng ngàn tăng ni sinh, chủng sinh, sinh viên đang theo học.

Hầu hết các cơ sở thờ tự của tôn giáo đều được xây dựng, duy tu, bảo dưỡng…

Nhìn tổng quát, những nỗ lực và thành tựu cơ bản trên đây có tính chất nền tảng và bao trùm trên tất cả những lĩnh vực chủ yếu về quyền con người như: chính trị, dân sự, kinh tế-xã hội, văn hoá ở Việt Nam hiện nay.

Điều đó, một mặt, chứng minh sự quan tâm đặc biệt và chính sách nhất quán của Đảng và Nhà nước ta trong việc đảm bảo các quyền con người, quyền công dân, nhưng mặt khác, khẳng định tính tôn trọng và tự nguyện thực hiện các cam kết quốc tế về quyền người mà Nhà nước Việt Nam đã tham gia ký kết, phê chuẩn. Đồng thời, chính thực tiễn đầy sức thuyết phục đó đã bác bỏ hoàn toàn những luận điệu xuyên tạc, bịa đặt vu cáo trong vấn đề nhân quyền của các thế lực thù địch.

(Theo Võ Công Khôi
Phân viện Đà Nẵng
Tạp chí Tư tưởng-Văn hóa, tháng 8/2004)

cpv.org.vn

Sự sai trái của quan điểm “Nhân quyền cao hơn chủ quyền”

“Nhân quyền cao hơn chủ quyền”, ”Nhân quyền không biên giới”, ”Chủ quyền hạn chế”, ”Can thiệp nhân đạo”… là những cách diễn đạt khác nhau của cùng một tư tưởng lý luận và ý đồ chính trị của các thế lực cực hữu phương Tây dùng dân chủ, nhân quyền làm công cụ để can thiệp vào công việc nội bộ của các nước XHCN và các quốc gia đi theo con đường độc lập dân tộc.

Để bác bỏ luận điểm ”Nhân quyền cao hơn chủ quyền”, chúng ta cần phân tích luận điểm này một cách có hệ thống trên cả hai bình diện: tư tưởng chính trị và pháp lý quốc tế.

Xét về tư tưởng chính trị, quyền con người là giá trị chung của nhân loại. Tất cả các quốc gia dân tộc đều có những đóng góp vào giá trị đó. Quyền con người là thành quả của các cuộc đấu tranh: đấu tranh giai cấp, chống áp bức, bóc lột; đấu tranh giành độc lập dân tộc và đấu tranh chống lại sự suy thoái về đạo đức, lối sống, hướng đến sự hoàn thiện phẩm giá con người. Với chúng ta, bảo đảm quyền con người chân chính thuộc bản chất của chế độ xã hội XHCN của Đảng và của Nhà nước ta.

Nói đến ”quyền” là nói đến pháp luật. Nói đến pháp luật không thể không nói tới vai trò của Nhà nước.

Là một dân tộc có bề dày lịch sử và một nền văn hiến rực rỡ, có truyền thống nhân đạo, bảo vệ con người, vào thế kỷ XI, dưới thời nhà Lý, chúng ta đã có “Bộ luật hình”. Trong đó đã có nhiều điều bảo vệ quyền con người – tất nhiên còn nhiều hạn chế bởi các điều kiện kinh tế và quan điểm giai cấp. Vào thời nhà Lê, thế kỷ XV, chúng ta có bộ luật ”Quốc triều hình luật”, còn gọi là bộ luật “Hồng Đức”. Bộ luật có tới 712 điều, trong đó không chỉ chứa đựng những quy phạm xã hội tiến bộ mà còn thể hiện những tư tưởng nhân đạo, nhân quyền sâu sắc như bảo vệ quyền của bị can, bị cáo, tư tưởng về bình đẳng trước pháp luật, về quyền của phụ nữ, về sự khoan dung đối với người già và người chưa thành niên…

Như vậy, có thể nói, trong xã hội nô lệ, phong kiến tuy chưa có chế định quyền con người, nhưng đã có những chế định pháp luật có nội dung bảo vệ con người.

Chủ nghĩa Mác- Lênin đã đặt quyền con người vào trong tiến trình lịch sử, rằng, những quyền đó gắn liền với Nhà nước và pháp luật. Quyền con người, do đó không thể không in dấu ấn giai cấp, nhất là khi vận dụng nó trong cuộc đấu tranh giai cấp cũng như đấu tranh giành độc lập dân tộc. Quyền con người đã từng là vũ khí đấu tranh của giai cấp tư sản nhằm lật đổ sự thống trị bởi vương quyền, thần quyền và dùng để củng cố địa vị thống trị của mình.

Xét trên phương diện pháp lý quốc tế trước khi tổ chức Liên hợp quốc ra đời, quyền con người chỉ tồn tại trong Luật Hiến pháp, có nghĩa chỉ điều chỉnh các quan hệ xã hội trong phạm vi nội bộ của mỗi quốc gia. Từ khi Liên hợp quốc thành lập (1945) cùng với Hiến chương Liên hợp quốc và các Công ước quốc tế cơ bản về quyền con người ra đời, quyền con người đã trở thành một chế định trong Luật quốc tế. Từ đây, quyền con người được bảo đảm bởi cả hai cơ chế, cơ chế quốc gia và cơ chế quốc tế. Đây chính là cơ sở lịch sử – chính trị của luận điểm ”Nhân quyền cao hơn chủ quyền”.

Cơ chế quốc tế bảo vệ quyền con người gồm những yếu tố sau:

– Hệ thống các cơ quan bảo vệ quyền con người của Liên hợp quốc bao gồm: Đại hội Đồng Liên hợp quốc; Hội đồng kinh tế – xã hội, Ủy ban nhân quyền, Cao ủy nhân quyền, các ủy ban nhân quyền của một số công ước… Hội đồng Bảo an cũng có vai trò quan trọng, là tổ chức ra quyết định có can thiệp bằng quân sự khi xuất hiện tình trạng vi phạm nhân quyền nghiêm trọng, phổ biến ở một quốc gia nào đó không?

– Cùng với sự ra đời hệ thống các cơ quan nhân quyền là hệ thống các văn kiện pháp lý về quyền con người, đó là Hiến chương Liên hợp quốc, Tuyên ngôn thế giới về quyền con người, các công ước quốc tế về quyền con người, đặc biệt là hai công ước – Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa; Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị (1966). Ngày nay, giới lý luận xem Tuyên ngôn thế giới về quyền con người và hai công ước trên là ”Bộ luật quốc tế về quyền con người”.

Bác bỏ luận điểm ”Nhân quyền cao hơn chủ quyền” cần phân tích mối quan hệ giữa độc lập dân tộc, quyền dân tộc tự quyết với cơ chế quốc tế bảo đảm quyền con người.

V.I.Lênin đã đề cập tới quyền dân tộc tự quyết trên tinh thần cách mạng và khoa học. Người nói:

”Quyền dân tộc tự quyết có nghĩa là sự phân lập của các dân tộc đó, với tư cách là quốc gia, ra khỏi tập thể các dân tộc khác, có nghĩa là sự thành lập một quốc gia dân tộc độc lập”. Người còn nhấn mạnh, quan điểm của chủ nghĩa xã hội đối với các dân tộc bị áp bức là: ”Chủ nghĩa xã hội thắng lợi nhất thiết phải lập nên chế độ dân chủ hoàn toàn và do đó, không những làm cho các dân tộc hoàn toàn bình đẳng với nhau, mà còn thực hành quyền tự quyết của các dân tộc bị áp bức”. Thực tiễn lịch sử ghi nhận, nhà nước Xô-viết đã giành quyền dân tộc tự quyết cho các dân tộc chung sống trong Liên bang cộng hòa XHCN Xô-viết bao gồm cả quyền tách khỏi Liên bang như trưởng hợp Phần Lan.

Tiếp nối và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lê nin về quyền dân tộc tự quyết, Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong “Tuyên ngôn độc lập”, không chỉ nói đến ”quyền phân lập” với ”mẫu quốc” mà nhấn mạnh đến quyền đấu tranh giành độc lập dân tộc, đồng thời khẳng định dân tộc Việt Nam có đủ điều kiện và quyết tâm bảo vệ nền độc lập đó. Điều đó có nghĩa, Việt Nam không cần đến cái gọi là ”chế độ quản thác” của bất cứ ai, kể cả Liên hợp quốc.

Sau “Tuyên ngôn độc lập” của Việt Nam 15 năm, vào những năm 60 của thế kỷ XX, cộng đồng quốc tế mới chính thức thừa nhận quyền dân tộc tự quyết trong “Văn kiện Tuyên ngôn về trao trả độc lập cho các nước và dân tộc thuộc địa”. Điều này còn được khẳng định lại trong hai công ước: Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa, Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị, năm 1966.

Với hai công ước quốc tế về quyền con người năm 1966, Tuyên bố Viên và Chương trình hành động, 1993, quyền dân tộc tự quyết chẳng những được khẳng định trong Luật quốc tế nói chung mà còn là quyền tập thể trong hệ thống quyền con người. Các văn kiện nói trên còn lưu ý rằng, việc bảo đảm các quyền con người trước hết thuộc trách nhiệm của các quốc gia.

Như vậy là luận điểm ”Nhân quyền cao hơn chủ quyền” trên phương diện Luật quốc tế, không có căn cứ bởi vì chủ thể của Luật quốc tế là các quốc gia, chứ không phải là các cá nhân. Không phủ nhận rằng, trong Luật quốc tế về quyền con người, tư cách pháp lý của cá nhân cũng có thể được xác lập với điều kiện có sự cam kết của các chính phủ tham gia Nghị định thư không bắt buộc thứ nhất. Song, cho đến nay, Việt Nam và nhiều quốc gia chưa thừa nhận Nghị định thư này. Xét về nội dung việc bảo đảm các quyền con người ở mỗi quốc gia theo Công ước quốc tế còn phải căn cứ vào các điều kiện cụ thể về chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa của mỗi nước. Pháp luật quốc tế không cho phép bất cứ quốc gia nào hay tổ chức quốc tế nào được phép can thiệp vào vấn đề nhân quyền của mỗi nước. Những mâu thuẫn hoặc khác biệt nào đó giữa các quốc gia trên lĩnh vực này chỉ có thể được giải quyết trên tinh thần bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau và đối thoại xây dựng.

Nhằm ngăn chặn ý đồ thông qua vấn đề nhân quyền để can thiệp vào công việc nội bộ của các quốc gia cũng như việc áp đặt hệ tư tưởng tư sản, đại diện của Liên Xô đã bác bỏ những đề xuất ban đầu của Tiểu ban soạn thảo Tuyên ngôn ở một số điểm sau:

Thứ nhất, bác bỏ khái niệm ”Công ước” quốc tế về quyền con người mà thực chất là Bộ luật quốc tế về quyền con người Nói cách khác là bác bỏ tính ràng buộc về mặt pháp lý của Văn kiện này. Cuối cùng các thành viên đã nhất trí tính chất của văn bản là ”Tuyên ngôn”, một văn kiện không ràng buộc về mặt pháp lý.

Thứ hai, bác bỏ tư cách cá nhân của các thành viên tham gia Tiểu ban soạn thảo, thay vào đó là tư cách đại diện của mỗi quốc gia.

Thứ ba, mặc dù không đưa ra nguyên tắc đa số hay đồng thuận, song trên thực tế, nguyên tắc đồng thuận là nguyên tắc làm việc của Tiểu ban (vì lúc đó trong Tiểu ban chỉ có một đại diện của Nhà nước XHCN – đó là Liên Xô).

Thứ tư, về nội dung các quyền, đại diện Nhà nước Xô-viết bác bỏ quan điểm tuyệt đối hóa các quyền dân sự, chính trị và quyền tự do cá nhân… thay vào đó là sự bảo đảm hài hòa giữa các quyền dân sự, chính trị với các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa… Tuy nhiên, văn kiện này đã để ”ngỏ” vấn đề chủ quyền quốc gia.

Mặc dù còn một số hạn chế, Tuyên ngôn thế giới về quyền con người vẫn là một Văn kiện chứa đựng những tư tưởng lớn, tiến bộ, có giá trị bền vững trên lĩnh vực quyền con người. Hiện nay, cùng với Hiến chương Liên hợp quốc, Văn kiện này được tất cả các quốc gia thành viên Liên hợp quốc, mặc nhiên thừa nhận và xem đó như một Văn kiện mang tính đạo lý và có tính pháp lý mà các quốc gia cần phải tôn trọng.

Vào thập kỷ 60, thế kỷ XX do phong trào giải phóng dân tộc phát triển mạnh mẽ, sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô đã thu được những thành tựu to lớn, chủ nghĩa đế quốc không thể phát động chiến tranh xâm lược, Hoa Kỳ đã đẩy mạnh chiến lược diễn biến hòa bình đối với các nước XHCN. Ngoại giao nhân quyền được xem là phương thức quan trọng của chiến lược đó.

Luận điểm ”Nhân quyền cao hơn chủ quyền” là một trong những nội dung cơ bản của cuốn sách “Ngoại giao nhân quyền” do D.Niu sơn viết và xuất bản tại Hoa Kỳ năm 1966. Các lực lượng cầm quyền Hoa Kỳ cho rằng, hệ tư tưởng tư sản với tự do, dân chủ nhân quyền là thế mạnh của họ. Hoa Kỳ có thể giành được ưu thế chính trị nếu biết dựa trên quan niệm dân chủ, nhân quyền trong hoạt động đối ngoại.

Chính sách ngoại giao nhân quyền của Hoa Kỳ lấy quan niệm dân chủ, nhân quyền của họ ”làm nền tảng”. Tùy theo tương quan lực lượng và điều kiện khách quan, chủ quan mà họ đề cập tới vấn đề nhân quyền với quốc gia nào và ở mức độ nào. Đôi khi Hoa Kỳ đặt vấn đề nhân quyền là điều kiện tiên quyết để thiết lập và duy trì quan hệ ngoại giao. Tuy nhiên, bản chất ngoại giao nhân quyền là dùng khái niệm dân chủ, nhân quyền để can thiệp vào công việc nội bộ của nước khác. Trên lĩnh vực tư tưởng, ngoại giao nhân quyền hướng vào phê phán, bài bác các quan điểm nhân quyền mác-xít, truyền bá quan điểm nhân quyền tư sản nhằm làm biến đổi ý thức hệ Mác-Lênin từ đó làm thay đổi tận gốc chế độ xã hội XHCN ở các quốc gia, áp đặt một xã hội theo ”hình ảnh” của họ.

Trong chiến lược ”diễn biến hòa bình”, ngoại giao nhân quyền là một vũ khí lợi hại của chủ nghĩa đế quốc. Vào những năm 1918 – 1922, khi nước Nga Xô-viết vừa ra đời, đứng giữa vòng vây và cuộc can thiệp quân sự của nhiều nước đế quốc nhưng nước Nga Xô-viết vẫn tồn tại và phát triển. Trong Chiến tranh thế giới thứ hai, Hồng quân Liên Xô là lực lượng chủ yếu đánh bại chủ nghĩa phát xít, bảo vệ vững chắc Tổ quốc XHCN, đồng thời còn góp phần giải phóng cho nhiều dân tộc khác. Thế nhưng, với chiến lược truyền bá tư tưởng ”dân chủ”, ”công khai”, ”đa nguyên, đa đảng”, ”nhân quyền”… các thế lực đế quốc đã làm sụp đổ ý thức hệ Mác-Lênin ở Liên Xô, Đông Âu. Đây là một trong những nguyên nhân trực tiếp dẫn đến sự sụp đổ một bộ phận quan trọng của hệ thống XHCN vào những năm 1989 – 1991.

Sau khi Liên Xô tan rã, các nước XHCN Đông Âu sụp đổ, đế quốc Mỹ thúc đẩy chiến lược ”diễn biến hòa bình” và ngoại giao nhân quyền, sử dụng luận điểm ”Nhân quyền cao hơn chủ quyền” để can thiệp vào công việc nội bộ của các nước. Năm 1991, Hoa Kỳ dùng quân sự can thiệp vào cuộc chiến tranh Irắc – Côoét. Năm 1999, Hoa Kỳ và NATO kiếm cớ bảo vệ nhân quyền của người An-ba-ni xâm lược Nam Tư. Năm 2001 , họ xâm lược Áp-ga-ni-xtan và năm 2003 họ xâm lược I-rắc cùng với những lý do dân chủ, nhân quyền.

Đối với Việt Nam, sau khi buộc phải rút quân, Hoa Kỳ đã áp dụng nhiều chiến lược phá hoại, từ các ”kế hoạch hậu chiến”, nuôi dưỡng những phần tử có hận thù với cách mạng, xây dựng lực lượng chính trị, quân sự trong nước và ngoài nước… đến việc đưa biệt kích xâm nhập nội địa, mưu toan gây bạo động chính trị, vực dậy lực lượng phản động trong nước… nhưng họ đã bị thất bại. Trong mục tiêu chiến lược đánh đổ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, kịch bản ”diễn biến hòa bình”, dựa trên lợi dụng dân chủ, nhân quyền như đã từng diễn ra ở Liên Xô, Đông Âu (1989 – 1991) được xem là phương thức chủ yếu, là điều mong muốn nhất của họ.

Khác với các giai đoạn trước đây, điểm mới trong chiến lược ”diễn biến hòa bình” cũng là điểm mới trong việc sử dụng luận điểm ”Nhân quyền cao hơn chủ quyền” của Hoa Kỳ là song song với việc truyền bá hệ tư tưởng tư sản, lối sống, văn hóa là áp đặt pháp lý đơn phương nhằm gây khó khăn, từng bước làm biến đổi chế độ xã hội ta.

Liên tiếp từ năm 2001 đến nay, không kể Báo cáo nhân quyền hàng năm, lực lượng cực hữu Hoa Kỳ đã áp đặt nhiều Dự luật đối với Việt Nam, mở đầu là ”Đạo luật nhân quyền Việt Nam”, HR2368, tiếp đó là Hạ viện bang Viếc-gi-ni-a thông qua đạo luật cho phép công sở treo cờ ba sọc của ngụy quyền Sài Gòn, rồi đến ”Dự luật thúc đẩy tự do thông tin 1019”, ”Dự luật nhân quyền Việt Nam 2003”, HR1587 và ”Một số khoản bổ sung Dự luật chi đối ngoại của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ năm 2004 – 2005”, HRI950 – trong đó, họ đòi Việt Nam phải phóng thích tất cả tù nhân ”chính trị và tôn giáo” và yêu cầu Chính phủ Mỹ cung cấp tài chính cho đài phát thanh châu Á tự do, cho lực lượng ”đấu tranh” dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam…

Có thể nói về chiến lược của chủ nghĩa đế quốc hiện nay là lợi dụng vấn đề dân chủ, nhân quyền, lợi dụng luận điểm ”Nhân quyền cao hơn chủ quyền” để can thiệp vào vấn đề dân tộc, tôn giáo, phá hoại đại đoàn kết toàn dân tộc làm trọng tâm; lấy việc xây dựng tổ chức, tạo dựng ngọn cờ và gây bạo loạn chính trị, tạo cớ móc nối với các thế lực bên ngoài làm khâu đột phá.

Ảo tưởng thành lập ”Nhà nước Đêga độc lập” ở Tây Nguyên, ”Nhà nước Khmer Rôm” ở Tây Nam Bộ; ”Vương quốc H’mông tự trị” ở Tây Bắc; ”Vương quốc Chăm” ở Nam Trung Bộ cùng với mưu đồ xây dựng các tổ chức chính trị đội lốt tôn giáo phi pháp như ”Tin Lành Đêga”, “Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất”, ”Ủy ban liên tôn đấu tranh vì tự do tôn giáo”… là những kịch bản đầy tham vọng của họ.

Bác bỏ luận điểm ”Nhân quyền cao hơn chủ quyền” trong bối cảnh chính trị quốc tế hiện nay, chúng ta cần nhận thức đầy đủ, toàn diện về mục tiêu, chiến lược cách mạng của Đảng, về chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Đồng thời chúng ta cần nắm chắc đặc điểm của tình hình quốc tế liên quan đến cuộc đấu tranh trên lĩnh vực quyền con người.

Như trên đã trình bày, đặc điểm của tình hình quốc tế liên quan tới quyền con người hiện nay đó là sự hình thành cơ chế quốc tế bảo vệ quyền con người với hệ thống các cơ quan nhân quyền rộng lớn có sự tham gia (ở những mức độ khác nhau) của các thành viên Liên hợp quốc. Hiện nay, Việt Nam đang là một thành viên tích cực. Chúng ta đã tham gia Ủy ban nhân quyền và đang tiếp tục ứng cử làm thành viên ủy ban này trong nhiệm kỳ tới. Các chuẩn mực cơ bản về quyền con người, được xem như Bộ luật quốc tế đã được cộng đồng quốc tế thừa nhận rộng rãi.

Ở châu Âu, châu Phi, châu Mỹ đã hình thành tổ chức nhân quyền khu vực bao gồm cả Tòa án Nhân quyền. Nhân quyền đang trở thành mối quan tâm chung của cả cộng đồng quốc tế.

Trong điều kiện cơ chế quốc tế đã hình thành, hiện nay, giải quyết những vấn đề nhân quyền chúng ta cần phải tính đến các nhân tố quốc tế. Cuộc đấu tranh chống ”diễn biến hòa bình” nói chung, đấu tranh chống các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân chủ nhân quyền là một bộ phận của sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta. Cuộc đấu tranh này cần phải phục vụ cho mục tiêu nhiệm vụ của chiến lược cách mạng hiện nay: xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN, phát triển kinh tế, văn hóa đồng thời mở rộng quan hệ quốc tế, bảo vệ quốc gia và an ninh xã hội.

Trong khi kiên quyết và kiên trì cuộc đấu tranh chống ”diễn biến hòa bình”, bảo vệ vững chắc hệ tư tưởng, Cương lĩnh, đường lối quan điểm của Đảng, Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước, đấu tranh bảo vệ vững chắc chế độ chính trị, an ninh quốc gia, chúng ta cần phải chống lại âm mưu và thủ đoạn bôi nhọ, hạ thấp hình tượng cao đẹp của Việt Nam đã hình thành trong cuộc đấu tranh giành và bảo vệ độc lập dân tộc. Chúng ta có thể và cần phải đấu tranh chống lại âm mưu và thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân chủ, nhân quyền cô lập Việt Nam, cản trở và ngăn chặn Việt Nam hội nhập với cộng đồng quốc tế.

Để giành được thắng lợi trong cuộc đấu tranh này, chúng ta phải chủ động; hợp tác trên cơ sở tôn trọng nguyên tắc không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, đối thoại bình đẳng. . . Đồng thời, giải quyết ngày càng tốt hơn các quyền công dân và quyền con người cho người đần; xử lý kiên quyết đối với những phần tử cơ hội, phản động trong nước và đấu tranh chống lại âm mưu, thủ đoạn của các thể lực thù địch nước ngoài./.

Theo Cao Nguyên, Tạp chí Thông tin công tác tư tưởng lý luận tháng 5/2005
cpv.org.vn

Những hình ảnh lịch sử về đại thắng mùa xuân năm 1975

Đã 38 năm trôi qua kể từ ngày đại thẳng mùa Xuân năm 1975 nhưng mỗi khi đến dịp kỷ niệm chiến thắng lịch sử này cả dân tộc ta vẫn luôn luôn ghi nhớ về chiến thắng huyền thoại ấy. Chiến thắng này đã đem lại hòa bình, thống nhất đất nước, đã đem những người con thân yêu từ chiến trận chở về với gia đình, làng mạc… và toàn dân được sống trong hòa bình độc lập để từ đó đi lên con đường xây dựng xã hội chủ nghĩa như Bác chúng ta hằng mong ước. Nhân dịp cả nước đang long trọng chào mừng kỷ niệm 38 năm Đại thắng mùa Xuân Năm 1975, chúng ta hãy cũng nhau xem lại những bức hình lịch sử khi quân giải phóng ta tiến vào Sài Gòn, đánh thẳng vào cơ quan đầu não của ngụy quyền Sài Gòn, ghi lại thời khác chiến thắng anh hùng của dân tộc ta.

mN1
Tờ lịch lịch sử của Đại tướng Văn Tiến Dũng khi nghe tin giải phóng Sài Gòn

mN2
Bộ chỉ huy Chiến dịch Hồ Chí Minh

mN3
Chuyển vũ khí vào nội thành Sài Gòn chuẩn bị cho Tổng tấn công

mN4
Nữ du kích Trung Kiên dẫn đường cho bội đội vào Sài Gòn

mN5
Đặc công giải phóng trên đường vào Sài Gòn

mN6
Đánh sân bay Tân Sơn Nhất

mN7
Bão thép của quân giải phóng

mN8

Chiếm Bộ Tư Lệnh Cảnh sát quốc gia ngụy

mN9
Hai xe tăng, 390 và 843 đang tiến thẳng vào Dinh Độc Lập 

mN10
Xe tăng đang tiên vào Dinh Độc Lập trên đường Thống Nhất 

mN11
Xe tăng 390

mN12
Đoàn xe của Đại tá Bùi Văn Tùng đang tiến vào Dinh Độc lập

mN14Bộ đội giải phóng trong Dinh Độc Lập

mN15
Các chiến sĩ giải phóng vẫy tay chào nhân dân Sài Gòn

mN16
Dương Văn Minh (mặc áo đen, đeo kính) chuẩn bị tuyên bố đầu hàng tại
Đài Phát thanh Sài Gòn trưa ngày 30/4/1975.

mN17

Bút tích đầu hàng của Tống thống Ngụy Dương Văn Minh

mn18

Kim Yến (Tổng hợp)
bqllang.gov.vn

Lính đặc công vào Dinh Độc Lập

Mái tóc bạc phơ, đôi mắt tinh anh và giọng nói cuốn hút người nghe – đó là ấn tượng đầu tiên với chúng tôi khi gặp Đại tá Lê Bá Ước, nguyên Chính ủy Sư đoàn 2 Đặc công đã tham gia đánh chiếm Dinh Độc Lập trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử năm 1975. Gần 4 thập niên trôi qua, nhưng cứ vào dịp kỷ niệm ngày toàn thắng, ký ức về trận đánh cuối cùng ấy lại hiện về nguyên vẹn trong ông với bao cảm xúc…

Đại tá Lê Bá Ước sinh năm 1931, tại Rạch Giá, Kiên Giang, tham gia kháng chiến năm 1945. Ông từng là Chính ủy kiêm Đoàn trưởng Đoàn 10 Đặc công Rừng Sác vang tiếng một thời. Do yêu cầu nhiệm vụ giải phóng Sài Gòn, đầu năm 1974 Sư đoàn 2 Đặc công được thành lập. Trung tá Lê Bá Ước lúc đó được bổ nhiệm làm Chính ủy sư đoàn. Ông Ước kể:

– Ngay sau khi thành lập với 7 Trung đoàn, chúng tôi nhận lệnh phối hợp với Quân đoàn 4 đang đánh địch ở Mặt trận Long Khánh. Sư đoàn chia thành 6 mũi thọc sâu áp sát vùng ven Sài Gòn – Gia Định. Với phương châm “vùng ven là nhà; kho tàng, bến cảng, sân bay là trận địa; Sài Gòn – Gia Định là quyết chiến điểm”, cuối năm 1974 chúng tôi đã phá hủy hơn 500 đồn, bốt, phân khu của địch. Sau đó, lệnh của Bộ Chỉ huy Quân giải phóng miền Nam yêu cầu Sư đoàn phải phá cho được 20 cây cầu có ý nghĩa chiến lược bao quanh Sài Gòn để cắt đường tiến, thoái của quân địch. Toàn Sư đoàn đã sẵn sàng cho nhiệm vụ mới.

linh-dac-cong-aĐại tá Lê Bá Ước kể lại trận đánh cuối cùng

– Phá hủy 20 cây cầu? Cháu tìm hiểu trong sử liệu thì không thấy nói đến chi tiết này? – Tôi ngạc nhiên hỏi. Đại tá Lê Bá Ước mỉm cười, giải thích:

– Đó là kế hoạch đầu năm 1975. Nhưng khi toàn Sư đoàn đang triển khai phương án phối hợp với Quân đoàn 4 thì có lệnh khẩn cấp của Trung ương Cục miền Nam dừng kế hoạch và triệu tập tôi về trụ sở Bộ Tư lệnh Quân đoàn 2 ở Biên Hòa để nhận nhiệm vụ mới. Thiếu tướng Nguyễn Hữu An, Tư lệnh Quân đoàn chỉ thị cho sư đoàn đánh chiếm từ sông Buông, cầu Đồng Nai, Rạch Chiếc đến cầu Sài Gòn bảo đảm cho quân đoàn đột phá vào Dinh Độc Lập; đồng thời, chiếm giữ bến phà Cát Lái, sông Lòng Tàu, giữ chắc và bảo vệ những cây cầu huyết mạch tạo điều kiện cho các đơn vị của ta tiến công vào nội đô. Hoàn thành nhiệm vụ cơ động lực lượng về Dinh Độc Lập. Vậy là, từ nhiệm vụ phá cầu chúng tôi chuyển sang bảo vệ cầu.

Thực hiện kế hoạch được giao, Sư đoàn 2 chia thành hai cánh quân. Cánh quân hướngĐông do Phó Sư đoàn trưởng Tống Viết Dương và Chính ủy Lê Bá Ước chỉ huy. Khoảng 20 giờ ngày 26-4-1975, Trung đoàn 116 thuộc cánh quân hướng đông đánh chiếm, chốt giữ cầu Đồng Nai và án ngữ khu vực xã Long Hưng, An Hòa, Bến Gỗ. Suốt hai ngày đêm chốt giữ cầu, các chiến sĩ đặc công phải căng mình đối phó với nhiều đợt phản kích quyết liệt của địch bằng cả phi pháo và xe tăng. Trong khi đó lương thực của bộ đội ta mang theo cũng cạn dần. Nhiều chiến sĩ phải nhịn đói nhưng vẫn quyết không rời mục tiêu, bám trụ đến cùng. Vị cựu Chính ủy Sư đoàn 2 nhớ lại:

– Ngày 29-4, địch phá sập cầu sông Buông ngăn chặn xe tăng của ta tiến công, buộc Lữ đoàn xe tăng 203 phải khắc phục khó khăn tiến dần theo Quốc lộ 15 đến Bến Gỗ, vừa chạy vừa bắn quét ra hai bên đường, vào cả đội hình của Trung đoàn 116 đang chốt giữ. Hai đơn vị không nhận ra nhau vì trời còn tối không nhìn rõ màu cờ. Tại ngã ba Bến Gỗ, các chiến sĩ đặc công canh gác hô mật khẩu “Hồ Chí Minh”, đúng ra phải đáp “Muôn năm” nhưng do anh em đơn vị tăng nhớ nhầm mật khẩu ở trận Bình Thuận nên đáp “19 tháng 5”. Lập tức, tổ B40 của đặc công bắn liền hai phát, may mà không trúng. Thấy không yên tâm, chiến sĩ chốt giữ hỏi lại mật khẩu lần nữa thì đơn vị tăng đáp đúng “Muôn năm”. Lúc này, hai bên mừng rỡ nhảy ra khỏi công sự, xuống xe tăng ôm chầm lấy nhau trong niềm vui khôn xiết.

– Lữ đoàn tăng mà cơ động không có bộ binh đi cùng hả bác? – Tôi băn khoăn hỏi. Đại tá Lê Bá Ước nhìn tôi, gật gù:

– Thực tế chiến đấu khác xa lý thuyết. Lữ đoàn 203 nhận lệnh trong đêm 29 phải tiến sát Dinh Độc Lập, nhưng bộ binh gặp trở ngại chưa đến kịp, mà đường nội thành thì anh em lính tăng không ai thông thuộc. Bởi thế, Phó Sư đoàn trưởng Tống Viết Dương mới nảy ra sáng kiến, thống nhất với chỉ huy Lữ đoàn xe tăng 203 đưa toàn bộ lực lượng đặc công tạm thời thay thế bộ binh tiến quân lên Sài Gòn, chỉ để lại một đại đội đặc công thủy chốt cầu đề phòng địch phá hủy. Phương án ấy hết sức sáng tạo, lợi cho cả hai đơn vị và bảo đảm kịp thời gian thực hiện nhiệm vụ nên tôi tán thành ngay. Nhờ đó mà kế hoạch tác chiến vẫn được triển khai đúng ý định.

linh-dac-cong-bCCB Lê Bá Ước (hàng đầu, thứ tư từ trái sang) trong một buổi giao lưu truyền thống với sinh viên Trường Đại học KHXH&NV TP Hồ Chí Minh

8 giờ 30 phút ngày 30-4, đội hình của hai đơn vị đã tới Thủ Đức. Bọn địch cố thủ ở trường võ bị bắn ra xối xả. Chỉ huy đơn vị lệnh cho phân đội tăng đi đầu vòng theo hướng khác, phân đội tăng phía sau tạt xuống mép ruộng, cơ động đánh lướt sườn khu vực trường võ bị; đặc công phối hợp với dân quân du kích địa phương xã Tăng Nhơn Phú vây ép tiêu diệt quân địch. Chỉ trong 30 phút bọn địch hoảng loạn rút chạy. Nhớ lại cái ngày lịch sử ấy, Đại tá Lê Bá Ước không giấu nổi niềm vui:

– Khoảng hơn 10 giờ ngày 30-4, bộ đội đặc công và lực lượng tăng, thiết giáp đã đến gần hồ An Phú. Bọn địch cố thủ ở đây bắn ra quyết liệt. Lập tức, anh Năm Dương hội ý chớp nhoáng với tôi, rồi hạ lệnh tiêu diệt tàn quân. Đội hình chiến đấu được triển khai nhanh chóng. Giữ thế áp đảo, Trung đoàn 116 bí mật áp sát mục tiêu, bắt sống một số tên khai thác tình hình. Xe tăng của ta nã đạn vào căn cứ, bắn cháy một xe tăng M48 của địch khiến tinh thần bọn chúng càng hoang mang. Đúng lúc đó 2 chiếc máy bay A37 bất ngờ bay tới, trút 2 loạt bom hòng phá sập cầu xa lộ và chặn đường tiến của xe tăng, pháo binh ta. Cũng may, do chúng lo sợ bị pháo phòng không bắn cháy nên vội vã cắt bom chệch mục tiêu, bom rơi vào nhà dân. Cầu xa lộ vẫn được giữ vững. Bỏ qua không truy kích tụi tàn quân, đội hình của sư đoàn tiếp tục vượt cầu Thị Nghè, đến đường Nguyễn Bỉnh Khiêm rẽ trái, rồi chạy thẳng tới Dinh Độc Lập. Ngồi trên xe tăng thứ 6, chúng tôi đã nhìn thấy xe tăng đi đầu mang số hiệu 390 húc đổ cánh cổng sắt tràn vào trong. Bọn lính bảo vệ chạy tán loạn. Anh Năm Dương hạ lệnh cho Trung đoàn trưởng Trung đoàn 116 tổ chức vây bắt số lính bảo vệ. Chừng 15 phút sau, anh em đặc công đã túm được 30 tên gom lại gần bãi cỏ phía trước dinh. Bên ngoài, các cánh quân của ta ầm ầm như vũ bão tiến vào nội đô, khí thế ngút trời. Bộ đội đặc công tỏa ra lùng sục khắp xung quanh và bảo vệ những nơi trọng yếu. Đúng 11 giờ 30 phút, khi lá cờ đỏ sao vàng tung bay trên nóc Dinh Độc Lập cũng là lúc hàng triệu con tim hòa cùng một nhịp, phấn khởi, tưng bừng đón chào chiến thắng.

Đại tá Lê Bá Ước ngừng lời. Nụ cười rạng rỡ làm khuôn mặt ông sáng lên. Vẻ kiêu hãnh vẫn vẹn nguyên trong ánh mắt của người cựu chiến binh đã bao phen xông pha trận mạc và được chứng kiến thời khắc lịch sử hào hùng của dân tộc.

– Cháu nghe kể, trong giờ phút khải hoàn, Sư đoàn 2 đặc công tiếp tục nhận nhiệm vụ giải phóng Côn Đảo?

Ông xác nhận:

– Mờ sáng ngày 1-5, tôi nhận được điện khẩn của đồng chí Lê Trọng Tấn, Phó Tư lệnh Chiến dịch Hồ Chí Minh triệu tập về Sở Chỉ huy Quân đoàn 2 nhận nhiệm vụ tổ chức lực lượng đặc công thủy phối hợp với Hải quân vượt biển ra Côn Đảo giải phóng tù chính trị. Sau khi triển khai lực lượng sẵn sàng xuất phát, thì chúng tôi nhận được thông báo, anh em tù chính trị Côn Đảo đã nổi dậy tự giải phóng, hiện đang chờ tàu từ đất liền ra đón. Vậy nên chúng tôi hết nhiệm vụ, trở về đơn vị cũ trong niềm vui chiến thắng…

Kết thúc chiến tranh, người anh hùng đặc công Rừng Sác tiếp tục cống hiến cho sự nghiệp xây dựng quân đội. Năm 1994, ông về nghỉ hưu với cấp hàm Đại tá. Gần 20 năm qua, ông đã dành bao công sức để đi tìm và xác nhận hài cốt đồng đội. Hiện tại, ông lập riêng một ban thờ các liệt sĩ đặc công thuộc đơn vị cũ đã hy sinh trong kháng chiến chống Mỹ. Ông bảo, mình còn sống và may mắn được chứng kiến thời khắc huy hoàng của dân tộc là nhờ sự hy sinh của bao đồng đội. Bởi vậy, mình phải có trách nhiệm với thân nhân, gia đình họ, với vong linh của những người đã khuất cho trọn nghĩa, vẹn tình…

Nói rồi, ông đứng dậy kính cẩn thắp nén hương thơm tưởng nhớ những đồng đội đã ngã xuống cho độc lập hôm nay.

Theo Hoàng Thành – Quân đội nhân dân
Thanh Huyền (st)

bqllang.gov.vn

Đại thắng mùa Xuân 1975, giá trị lịch sử vô cùng quý báu của quân và dân ta trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc Việt Nam đã cách xa 38 năm, nhưng với đại thắng mùa Xuân năm 1975 vẫn còn vang mãi như là một trong những chiến thắng vĩ đại nhất của lịch sử Việt Nam chống ngoại xâm. Với chiến thắng oanh liệt và hào hùng năm ấy, quân và dân ta đã “Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào” thống nhất non sông, quét sạch hoàn toàn bóng quân thù xâm lược, giang sơn thu về một mối, cả nước sống trong hòa bình độc lập, thống nhất và đi lên chủ nghĩa xã hội theo lời Bác Hồ dạy.

Từ cuộc tiến công mau lẹ, chớp nhoáng và giành thắng lợi hết sức ngoạn mục vào rạng sáng ngày 10 tháng 3 năm 1975 tại thị xã Buôn Ma Thuột (Đắk Lắk), quân và dân ta đã mở màn cho cuộc Tổng tấn công và nổi dậy mùa Xuân 1975. Chiến dịch “Hồ Chí Minh lịch sử” đã kết thúc thắng lợi bằng cuộc tổng công kích vào Sài Gòn – Gia Định, sào huyệt cuối cùng của bè lũ xâm lược và tay sai. Quân và dân ta đã giành thắng lợi huy hoàng; kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước sau hai mươi mốt năm chiến đấu gian khổ hy sinh, quật cường và anh dũng. Thắng lợi vĩ đại của quân và dân ta cũng là một thất bại thảm hại, nhục nhã đối với bè lũ cướp nước và bán nước.

dai thang mua xuan 1975Xe tăng ta húc đổ cánh cổng Dinh Độc Lập ngày 30/4/1975 – Ảnh Tư liệu.

Đại thắng mùa Xuân năm 1975 nói riêng và thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc nói chung, mãi mãi để lại cho dân tộc Việt Nam những bài học kinh nghiệm vô cùng quý giá về phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, quyết chiến và quyết thắng kẻ thù xâm lược, gìn giữ non sông đất nước, cho dù kẻ thù đó mạnh đến đâu, có tiềm lực kinh tế, quân sự to lớn đến chừng nào và hung hãn hiếu chiến đến bao nhiêu.

Trong khí thế hào hùng hôm nay, chúng ta tự hào ôn lại những kinh nghiệm đó để củng cố niềm tin vào tương lai và mãi mãi ghi nhớ. Khẳng định vị trí, tầm vóc vĩ đại và ý nghĩa lịch sử Ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam thống nhất Tổ quốc 30/4/1975; những thắng lợi vĩ đại của dân tộc ta trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước và những bài học kinh nghiệm về truyền thống đấu tranh kiên cường bất khuất; anh dũng của nhân dân Việt Nam quyết tâm bảo vệ độc lập chủ quyền, thống nhất đất nước.

Một trong những yếu tố quyết định tạo nên thắng lợi của cách mạng và cuộc chiến tranh nhân dân đó là sự lãnh đạo sáng tạo, năng động và tài tình của Đảng Cộng sản Việt Nam do Bác Hồ kính yêu sáng lập và dìu dắt. Đối với lực lượng vũ trang nhân dân nói chung và đặc biệt đối với quân đội nói riêng, sự lãnh đạo của Đảng càng sâu sắc và toàn diện để làm nên sức mạnh trăm trận, trăm thắng của Quân đội nhân dân anh hùng.

Sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội còn thể hiện ở sự kiên định và tăng cường bản chất giai cấp công nhân của quân đội ta, sự trung thành với Đảng với tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, sự gắn bó chặt chẽ và phục vụ tận tụy nhân dân của quân đội ta thực hiện lời dạy của Bác Hồ kính yêu: “Trung với Đảng, hiếu với dân; sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội; nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua; kẻ thù nào cũng đánh thắng”.

Để có được chiến thắng vĩ đại mùa Xuân năm 1975, không thể không nói đến nghệ thuật quân sự độc đáo của văn hóa Quân sự Việt Nam với sự kết tinh truyền thống quân sự của mấy nghìn năm lịch sử. Trước hết, đó là việc xây dựng quân đội hùng mạnh, đủ sức mạnh đảm đương nhiệm vụ của mình. Khi thời cơ đến chuyển hóa thành sức mạnh vô địch. Với sức mạnh tổng hợp của nhiều quân chủng, binh chủng hợp thành, nhiều thứ quân kết hợp chặt chẽ, khai thác hết mọi địa hình, địa thế, vũ khí, trang bị, kỹ thuật, kết hợp hiện đại và thô sơ, đặc biệt là coi trọng yếu tố con người, quân đội ta có sức chiến đấu rất cao và khả năng chiến thắng rất lớn. Nhưng điều quan trọng hơn là, sự vận dụng năng động nghệ thuật quân sự một cách tài tình của Đảng và quân đội trong việc quyết chiến và quyết thắng kẻ thù.

Với đại thắng mùa Xuân năm 1975, một thế mạnh phi thường của quân đội ta khi tiến vào giải phóng Sài Gòn – Gia Định như một thế nước lũ, thế chẻ tre, lấn át kẻ thù. Chúng ta hành quân thần tốc tiến thẳng vào Sài Gòn, đây chính là thế của sức mạnh chính nghĩa, thế trận của sức mạnh lòng dân, của chiến tranh toàn dân, toàn diện mà chúng ta đã dày công vun đắp.

Để có được những ngày tháng hào hùng náo nức như hôm nay, chúng ta càng thấm thía công lao to lớn của Đảng đã lãnh đạo dân tộc, quân đội làm nên bao chiến thắng vô cùng lớn lao. Với nhiều phương pháp, nhiều hình thức phong phú và những bước đi biến hóa khôn lường, Đảng ta đã lãnh đạo cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện với những chiến lược, sách lược năng động một cách tuyệt vời.

Có được thắng lợi của đại thắng mùa Xuân năm 1975 thống nhất Tổ quốc nói riêng, của 30 năm chiến tranh giải phóng của dân tộc ta nói chung, chúng ta biết ơn nhân dân lao động yêu nước trên đất nước ta đã sản sinh ra quân đội, đùm bọc, cưu mang quân đội, cùng quân đội đánh thắng mọi kẻ thù xâm lược. Bên cạnh đó, để đóng góp vào chiến thắng lịch sử này, phải nói đến thế hệ trẻ Việt Nam, lớp trước tiếp lớp sau luôn là lực lượng nòng cốt của quân đội và luôn luôn tỏ rõ bản chất anh hùng, hoàn thành tốt vai trò xung kích cách mạng của mình, thực hiện lời dạy của Bác “đào núi và lấp biển” một cách xuất sắc. Giáo dục thế hệ trẻ, đặt niềm tin vào họ và tạo cho họ thể hiện mình sẽ là tiền đề của mọi thắng lợi. Đây cũng có thể nói là bài học quý giá mà chúng ta rút ra từ chiến tranh giữ nước, tiếp tục phát huy trong hôm nay mai sau.

Nhớ lại một thời hào hùng, với những chiến công lẫy lừng của dân tộc ta, chúng ta vô cùng biết ơn nhân dân yêu chuộng hòa bình công lý trên thế giới đã hết lòng ủng hộ, động viên quân dân ta chiến đấu và chiến thắng kẻ thù. Điều đó chứng tỏ: dưới sự lãnh đạo của Đảng, sức mạnh của cả dân tộc đã gặp gỡ, kết hợp với sức mạnh thời đại làm nên sức mạnh Việt Nam, đây cũng là bài học vô giá của chúng ta được rút ra để chiến thắng quân thù.

Đảng ta đã nhấn mạnh: “Năm tháng rồi sẽ trôi qua, nhưng thắng lợi của nhân dân ta trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước sẽ mãi mãi được ghi vào lịch sử dân tộc Việt Nam như một trong những trang sử chói lọi nhất, một biểu tượng sáng ngời về sự toàn thắng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ con người Việt Nam và đi vào lịch sử thế giới như một chiến công vĩ đại của thế kỷ XX, một sự kiện có tầm vóc quan trọng quốc tế lớn lao và có tính thời đại sâu sắc”.

Những bài học kinh nghiệm quý giá mà chúng ta đã rút ra được trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc, là tài sản quý giá để Đảng ta, Nhà nước ta, nhân dân ta và quân đội ta gìn giữ, nâng niu và vận dụng sáng tạo vào thực tiễn sinh động vào công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế của đất nước.

Theo http://www.kontum.gov.vn
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Thoát khỏi “Địa ngục trần gian”

Gần 40 năm qua, đã bao lần ông Phan Hoàng Oanh ngồi lặng lẽ nhìn về hướng cầu tàu 914, ở đó bao đồng đội của ông đã vĩnh viễn nằm lại để có một Côn Đảo sáng ngời khí phách anh hùng.

Và hôm nay, trong những ngày tháng Tư lịch sử này, ông lại bồi hồi nhớ về cái thuở bi hùng nơi “địa ngục trần gian”, nhớ thời khắc mà các tù chính trị sục sôi nổi dậy tự giải phóng mình khiến Côn Đảo đầy ắp tiếng cười và những dòng nước mắt… Ông là Phan Hoàng Oanh, một trong 5 cựu tù chính trị hiện đang sống tại Côn Đảo (Bà Rịa-Vũng Tàu).

Giữ vững tinh thần

Sinh trưởng trên quê hương Kiên Giang, từ nhỏ Phan Hoàng Oanh đã sớm giác ngộ cách mạng, tích cực tham gia các hoạt động phản đế tại địa phương. Từ giao liên, tiếp tế cho bộ đội đến công tác phong trào thanh niên, xã đội… Oanh đều hăng hái tham gia. Nhờ đó, anh được bầu làm Phó bí thư Đoàn xã, kiêm đội viên xã đội. Năm 1969, trong một lần cùng nhóm đi công tác ban đêm, bị địch phục kích bất ngờ, Oanh bị thương. Tưởng bọn lính bảo an không nhận ra mình nên anh vẫn lén về nhà nằm điều trị. Ai ngờ, sáng hôm sau, tụi lính kéo đến bắt anh về đồn tra tấn, rồi kết án đưa vào trại giam Chí Hòa. Tại đây anh tiếp tục tổ chức tù nhân đấu tranh đòi quyền dân sinh, dân chủ và đòi được làm lễ kỷ niệm sinh nhật Chủ tịch Hồ Chí Minh trong khám. Bọn địch đưa anh vào danh sách “chăm sóc đặc biệt”. Đầu năm 1970, Phan Hoàng Oanh bị kết án và đày ra Côn Đảo. Nhớ lại những ngày ở “địa ngục trần gian”, ông Oanh kể:

– Nỗi cực khổ của tù nhân Côn Đảo không bút nào tả hết nhưng đối với những tù nhân trẻ tuổi thì đó còn là một cuộc đấu tranh tư tưởng cam go, không kém phần khốc liệt. Bọn cai ngục luôn “ưu ái” chúng tôi bằng những ngón đòn cực kỳ nham hiểm hòng lung lạc tinh thần và làm họ khuất phục. Nếu không vượt qua được chắc chắn sẽ ly khai. Chỉ cần một người ly khai là sẽ ảnh hưởng tới tâm lý của cả nhóm. Thế là thất bại! Bởi vậy, chống ly khai là một quyết định vô cùng khó khăn đòi hỏi mỗi người phải kiên định, không được phép nao núng tinh thần. Người cựu tù chính trị nhớ lại:

dia-nguc-tran-gian-aNhững cựu tù Côn Đảo trở về (ảnh chụp lại tại Bảo tàng Côn Đảo)

– Ngoài việc nhắc nhau thường xuyên, anh em chúng tôi còn tìm cách xin những mẩu báo từ mấy tên lính đồng hương để nắm thông tin chiến sự bên ngoài, nhất là những trận đánh lớn. Cả buồng giam xúm vào đọc rồi bàn bạc, phấn khởi động viên nhau chờ ngày toàn thắng. Nhờ vậy mà tinh thần lên cao bất chấp sự tra tấn dã man của tụi cai ngục.

Ông Oanh ngừng lời như để kìm nén một nỗi niềm sâu thẳm. Giây lát, ông kể tiếp:

– Lần ấy tụi lính đàn áp buồng tôi vì tội không chào cờ của chúng. Từng người một bị tra tấn, đánh đập, dốc đầu ngược xuống đất rồi đổ nước vôi vào mũi… nhưng không một ai hé răng nửa lời. Tôi trẻ tuổi, sức khỏe khá hơn, cố nhoài người chịu đòn thay đồng đội nên bị đánh ngất xỉu. Lúc tỉnh dậy, buồng tôi đã mất đi hai người. Căm hận, xót xa, chúng tôi động viên nhau giữ vững bản lĩnh, dù chết cũng phải chết cho oanh liệt.

Vỡ òa niềm vui giải phóng

Tháng 4 năm 1975, ở đất liền quân ta giành thắng lợi lớn trong nhiều chiến dịch. Ngoài Côn Đảo, thông qua một số lính gác, những người tù chính trị cũng biết được thông tin đôi chút. Họ vui mừng và càng vững tin vào chiến thắng. Ông Phan Hoàng Oanh kể:

– Mấy ngày cuối tháng 4 tụi cai ngục lầm lì, im lặng, lơ là canh phòng, ít tra tấn tù nhân nhưng khóa chặt tất cả các cửa không cho ai ra ngoài. Thậm chí chúng còn không mang cơm tới các buồng giam như thường lệ. Ngày 29-4, tiếng máy bay quân sự, tiếng ca nô huyên náo khắp Côn Đảo. Đây là sự lạ ở “địa ngục trần gian”. Dù vậy, chúng tôi vẫn chưa hề biết thông tin gì từ đất liền. Ai cũng nghĩ sắp tới ngày Quốc tế Lao động (1-5) nên chúng nới lỏng cực hình để hạn chế biểu tình. Mãi đến đêm 30-4, trại giam số 7 nhận được tin giải phóng Sài Gòn. Bất ngờ, mừng vui đến nghẹn ngào, ngộp thở nhưng chúng tôi vẫn chưa dám tin. Đến khi anh em trại 7 phá cửa thoát ra, mở khóa cho các trại giam khác thì tất cả như bừng tỉnh, đồng loạt nổi dậy tiến về dinh chúa đảo và nhà ở của bọn cai ngục nhưng chúng đã rút đi gần hết. Số còn lại run sợ đầu hàng không dám kháng cự. 8 giờ sáng 1-5, chúng tôi đã làm chủ Côn Đảo. Chi bộ nhà tù triển khai phương án sẵn sàng chiến đấu đề phòng bọn địch quay lại.

Địa ngục Côn Đảo vốn chỉ có tiếng kêu la, bắn giết, đầy đau thương, chết chóc nhưng trong thời khắc đổi thay đã vỡ òa tiếng reo hò, vui nhộn. Những giọt nước mắt hạnh phúc chảy dài trên gương mặt gầy gò, bủng beo của những người tù chính trị. Ngoài bộ phận làm nhiệm vụ, họ í ới rủ nhau đi tìm đồng đội, đồng hương ở các trại giam khác. Một số hạt nhân văn nghệ được giao triển khai tập luyện các tiết mục “cây nhà lá vườn” chuẩn bị chào đón lực lượng ở đất liền ra tiếp quản Côn Đảo. Không khí náo nhiệt, hân hoan như ngày hội.

Bám trụ nơi Côn Đảo

Sáng 5-5-1975, những chuyến tàu đầu tiên ra đón tù chính trị trở về đất liền đã cập cảng Côn Đảo trong niềm mong đợi của hàng ngàn chiến sĩ kiên trung. Chưa đầy 2 tuần, phần lớn cựu tù đã lần lượt rời Côn Đảo. Chuyến tàu cuối cùng dự kiến xuất bến ngày 20-5. Trước lúc nhổ neo, tổ chức đề nghị những thanh niên khỏe mạnh ở lại làm nhiệm vụ ổn định tình hình, giữ trật tự trị an Côn Đảo. Ai cũng mong đợi ngày về và muốn rời xa mảnh đất đau thương này càng sớm càng tốt. Ông Oanh cũng do dự, băn khoăn nhưng rồi đã tình nguyện ở lại. Theo gương ông, nhiều người khác cũng lần lượt đăng ký bám trụ tại đây. Nguyên Trưởng Ban Liên lạc tù chính trị Côn Đảo Phan Hoàng Oanh tâm sự:

– Quyết định ở lại Côn Đảo là quyết định khó khăn nhất trong cuộc đời tôi. Suốt đêm trằn trọc suy nghĩ về tình cảm gia đình, vợ con, về trách nhiệm xây dựng quê mới… Sáng hôm sau, tôi gửi về đất liền bộ quần áo và chiếc khăn tay do mẹ và vợ tôi chuẩn bị trước khi tôi bị đày ra Côn Đảo để làm tin. Đầu năm 1976, khi đã ổn định công tác tôi mới theo tàu vào đất liền thăm gia đình với ý định đưa vợ con ra Côn Đảo định cư. Mấy ngày ở nhà, nhìn cha mẹ, vợ con quây quần ấm cúng tôi không dám mở lời. Hết thời gian nghỉ phép tôi trở lại Côn Đảo. Vợ tôi khóc, nói: “Suốt 5 năm chờ đợi không tin tức, mẹ con em tưởng như tuyệt vọng. Nay anh trở về mới được mấy ngày đã muốn ra đi. Người ta thì chạy trốn khỏi nơi đó, còn anh lại tiếc nuối, chẳng cần đến vợ con”. Lúc đó, tôi chỉ biết động viên vợ gắng nuôi con rồi lên tàu ra đảo mà trong lòng cứ bịn rịn, nao nao.

dia-nguc-tran-gian-bCựu tù chính trị, Bí thư chi bộ Phan Hoàng Oanh (giữa) đang cùng các đảng viên thống nhất nội dung tuyên truyền chiến thắng 30-4

– Nhưng rồi bác đã thuyết phục được bác gái. Chắc phải mất nhiều thời gian lắm, phải không bác? – Tôi hỏi và đợi ông xác nhận. Nở nụ cười hiền hậu, ông bộc bạch:

– Khi trở lại Côn Đảo, anh em trong cơ quan thấy tôi ra một mình thì hiểu ngay nên đã cùng nhau bàn bạc và yêu cầu tôi bằng mọi giá phải đưa được vợ con ra theo. Lần đó về đất liền, thái độ của vợ tôi khác hẳn. Khi tôi đặt vấn đề cả nhà sẽ định cư ở Côn Đảo vợ tôi im lặng. Vốn mộc mạc, chân thành, tôi bảo vợ: Lẽ ra anh đã bỏ xác trong tù nhưng nhờ có tổ chức, có anh em đồng đội nên anh mới sống được đến ngày hôm nay để về gặp em. Bây giờ Côn Đảo do mình làm chủ, mình phải có trách nhiệm với bao đồng đội đã nằm lại ngoài đó. Nếu em thấy anh nói như vậy là sai thì mẹ con em ở nhà cũng được. Nghe vậy, vợ tôi mỉm cười: “Anh còn sống là mẹ con mừng lắm rồi! Giờ anh ở đâu mẹ con em ở đó”. Vậy là thành công đúng theo dự kiến.

Ông Oanh cười sảng khoái trong khi bà Trần Thị Duối – vợ ông, đang dắt đứa cháu ngoại rong chơi dưới những bóng cây xanh mát ngay trong khuôn viên dinh chúa đảo năm xưa. Ông bảo:

– Bà ấy nhà tôi làm cán bộ Hội Phụ nữ huyện, mới nghỉ hưu vài năm nay. Giờ chỉ lo chăm cháu và tiếp các đoàn khách đến nghe giới thiệu về Côn Đảo. Tuổi già như thế là vui rồi.

Ông Oanh cũng đã nghỉ công tác tại Bảo tàng nhưng vẫn làm Bí thư chi bộ khu dân cư. Nói là nghỉ hưu chứ ông vẫn thường xuyên tham gia kể chuyện truyền thống cho du khách tới thăm Côn Đảo, nhất là các Đoàn học sinh, sinh viên từ đất liền ra tham quan tìm hiểu về Khu Di tích lịch sử cấp quốc gia đặc biệt này. Và, những ngày tháng Tư lịch sử năm nay ông đang cùng những người đồng đội, đồng chí trong chi bộ khu chuẩn bị tài liệu để tuyên truyền cho du khách về tinh thần quật cường cách mạng của những cựu tù chính trị năm xưa. Với ông, đó là một nguồn vui bất tận, không có tuổi nghỉ hưu.

Theo Quân Đội nhân dân
Thanh Huyền (st)

bqllang.gov.vn

Về “bại tướng” Dương Văn Minh

Càng gần đến ngày 30-4, những câu chuyện liên quan đến ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước càng thu hút sự quan tâm của các bạn trẻ. Vai trò của Tổng thống ngụy quyền Dương Văn Minh trong sự kiện ngày 30-4-1975 cũng là một chủ đề được giới trẻ quan tâm, tìm hiểu. Trong bài viết này, chúng tôi xin trích ý kiến của các tướng lĩnh, những nhân chứng lịch sử từng trực tiếp tham gia giải phóng Sài Gòn nhằm cung cấp đến bạn đọc một cái nhìn bao quát, đầy đủ về nhân vật này.

1. Thượng tướng Trần Văn Trà, nguyên Phó Tư lệnh Chiến dịch Hồ Chí Minh: “Có người nghĩ rằng, Dương Văn Minh đầu hàng để tránh cho Sài Gòn đổ nát, điều đó hoàn toàn sai lầm. Thật ra, lúc ấy Mỹ vận động Nguyễn Văn Thiệu từ chức là có ý muốn nhường ngay ghế Tổng thống ngụy quyền Sài Gòn cho Dương Văn Minh, để Minh điều đình với ta. Nhưng Thiệu không chịu, mà mượn cớ theo Hiến pháp, nhường cho Phó Tổng thống Trần Văn Hương lên thay cuối ngày 21-4-1975 đến ngày 28-4-1975 mới nhường chức Tổng thống lại cho Dương Văn Minh.

Đó là ý đồ của Đại sứ Mỹ và Đại sứ Pháp tại Sài Gòn, họ hy vọng Dương Văn Minh có thể nói chuyện được với Việt Cộng nhằm tránh cái thua triệt để. Về phía ta, hiểu rõ mưu đồ của địch dùng ngoại giao để chặn bớt thắng lợi của ta, không cho ta thắng lợi triệt để. Vì vậy, ta đánh mạnh, đánh nhanh, thời gian là lực lượng, để địch không còn gì mà nói chuyện. Dương Văn Minh đã rủi ro hứng lấy sự đầu hàng vô điều kiện. Ta đã có kế hoạch để tiến công giải phóng Sài Gòn nguyên vẹn, không để xảy ra đổ nát. Chúng ta đã thần tốc tấn công mãnh liệt, không cho địch kịp tổ chức kháng cự, bằng 5 mũi dũng mãnh thọc vào trung tâm từ 5 hướng, chiếm cùng lúc 5 mục tiêu trọng yếu. Đó là nghệ thuật quân sự cách mạng theo tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh, bảo vệ tối đa sinh mạng của nhân dân, tiết kiệm tối đa máu của chiến sĩ ta và giảm tối đa việc sát hại binh lính ngụy”.

1Tổng thống ngụy Dương Văn Minh được Quân giải phóng dẫn ra Đài Phát thanh để đọc lời đầu hàng vô điều kiện.

2. Thượng tướng Hoàng Cầm, nguyên Phó Tư lệnh Quân giải phóng miền Nam: “Việc Dương Văn Minh lên làm Tổng thống chế độ Sài Gòn là con bài cuối cùng của Mỹ nhằm cản bước tiến của quân ta, tìm ra một giải pháp chính trị có lợi cho chúng. Trước đó, từ ngày 9 đến 19-4-1975 đã diễn ra trận Xuân Lộc, là nơi Mỹ xây dựng thành “cánh cửa thép”, “lá chắn cuối cùng” để tìm giải pháp chính trị. Lúc đó, Đại tướng Mỹ Uây-en, Tham mưu trưởng Lục quân Mỹ, nguyên Tổng Tư lệnh quân Mỹ ở Đông Dương, được lệnh của Nhà Trắng bay sang chỉ huy việc lập phòng tuyến Xuân Lộc. Khi bị ta tiến công mãnh liệt, mất Xuân Lộc nghĩa là địch đã mất “lá chắn cuối cùng”, Uây-en liền lên máy bay chuồn về Mỹ, kéo theo nhiều tướng tá của chế độ Sài Gòn. Vì vậy, hành động đầu hàng của Dương Văn Minh là việc phải làm, không thể khác được, khi quân ta đã tiến đến nơi”.

3. Thiếu tướng Trần Văn Danh, nguyên Phó Chủ tịch Ủy ban Quân quản Sài Gòn: “Trước khi đầu hàng vô điều kiện, Dương Văn Minh có thông qua tổ điệp báo của ta liên lạc với Trại Đa-vít – Tân Sơn Nhất, đề nghị thành lập Chính phủ ba thành phần. Tôi thừa lệnh anh Phạm Hùng, thảo liên tục mấy công văn trả lời dứt khoát rằng: Chỉ có đầu hàng vô điều kiện mà thôi. Theo tôi, nếu Dương Văn Minh đầu hàng vào tối 28, sáng 29-4-1975 thì có thể chúng ta ghi nhận tinh thần tránh cho Sài Gòn đỡ đổ nát của ông ấy. Nhưng, đằng này ông ta đầu hàng khi đại quân ta đã vào Sài Gòn, chỉ một giờ sau đã làm chủ Dinh Độc Lập rồi”./.

Thanh Nhàn – Hải Yến (tổng hợp)
(Theo sách phỏng vấn tướng lĩnh Việt Nam NXB Trẻ năm 2000)
Thu Hiền (st)/ Theo http://qdnd.vn

bqllang.gov.vn

“Lời Bác nay đã thành chiến thắng huy hoàng”

Đối với mỗi người Việt Nam, có 2 bài hát ai cũng thuộc lòng; là bài “Tiến quân ca” của Văn Cao và bài “Như có Bác trong ngày vui đại thắng” của Phạm Tuyên.

“Như có Bác trong ngày vui đại thắng” có được hiệu quả lớn bởi đã đạt được 2 điều. Thứ nhất: Nói đúng được tình cảm của toàn thể dân tộc. Trong giờ phút sung sướng, hạnh phúc đến tột đỉnh của người Việt Nam trong thời khắc miền Nam hoàn toàn được giải phóng, đất nước thống nhất, ai cũng bồi hồi nhớ thương Chủ tịch Hồ Chí Minh. Vậy nên, tác giả mới đặt tên bài hát của mình là “Như có Bác trong ngày vui đại thắng”.

loibac1Hình ảnh ngày giải phóng miền Nam 30/4/1975.

Mở đầu bài hát, Phạm Tuyên đã rất thông minh khi viết: “Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng. Lời Bác nay đã thành chiến thắng huy hoàng…”. Bác đã khẳng định, kháng chiến nhất định thắng lợi, Nam Bắc sẽ về chung một nhà. Cuộc chiến đấu dẫu có phải kéo dài 10 năm, 20 năm hay lâu hơn nữa, Hà Nội, Hải Phòng và nhiều thành phố có thể bị tàn phá nhưng sau này chúng ta sẽ xây dựng non sông ta, đất nước ta to đẹp hơn, đàng hoàng hơn. Đúng như vậy, ngày 30/4/1975 đã chứng minh lời Người tiên đoán.

Điều thứ 2: Muốn bài hát có sức lan tỏa rộng rãi trong mọi đối tượng công chúng thì phải dễ hát. Bài hát có giai điệu không cầu kỳ, rắc rối, âm vực được khống chế trong quãng không rộng. Khúc thức mạch lạc, ngắn gọn, âm hình tiết tấu đơn giản. Sự bố trí các ô nhịp, phách mạnh, phách nhẹ phù hợp với việc lấy hơi tự nhiên của người hát.

loibac2Nhạc sĩ Phạm Tuyên

Bài hát được viết ở thể hai đoạn đơn, mỗi đoạn gồm 4 câu nhạc rất cân đối, vuông vức. Đoạn B gồm 4 câu nhạc nhưng chỉ nhắc lại một lời “Việt Nam! Hồ Chí Minh!”. 5 tiếng này đã vang lên chẳng những trong tâm khảm người Việt Nam mà còn nhận được sự chia sẻ, đồng cảm của nhiều bạn bè trên thế giới. Nói đến đất nước hình chữ S ở bán đảo Đông Dương, khu vực Đông Nam Á, người ta nhớ ngay đến: Đó là Việt Nam – Hồ Chí Minh.

Về sự ra đời của bài hát, Phạm Tuyên cho biết, đó là những ngày gần cuối tháng 4 năm 1975, trên khắp các mặt trận từ Huế – Thừa Thiên đến Nam Trung bộ, rồi Tây Nguyên, quân dân ta đang chiến thắng thần tốc. Hàng loạt tỉnh, thành được giải phóng. Khi chúng ta đã tiến vào sát cửa ngõ Sài Gòn, Phạm Tuyên khi ấy là Trưởng ban Ban Biên tập Âm nhạc Đài Tiếng nói Việt Nam  nhận chỉ thị của Bộ Biên tập là cần sáng tác rồi dàn dựng gấp một bài hát để kịp phát sóng ngay sau khi công bố chiến thắng giải phóng hoàn toàn miền Nam. Phạm Tuyên nhanh chóng hoàn thành bài hát chỉ trong một giờ đồng hồ.

Ca khúc nhanh chóng được thông qua. Bài hát được phát sóng ở thời điểm Đài Tiếng nói Việt Nam  vừa truyền đi tuyên bố miền Nam được hoàn toàn giải phóng đã có một hiệu quả rất đặc biệt, nằm ngoài sự hình dung của mọi người. Ai cũng nức lòng trước tin chiến thắng kèm theo là bài hát được vang lên. Không ít người đã không cầm được nước mắt vì quá vui sướng, hạnh phúc. Và không cần phải học, chỉ nghe qua Đài Tiếng nói Việt Nam mà hàng triệu người dân đã thuộc và hát được/.

Theo VOV.vn
Kim Yến (st)

bqllang.gov.vn

Âm hưởng mùa Xuân đại thắng trong thơ

Trên con đường dài dựng nước và giữ nước của dân tộc, năm 1975 là một mốc son chói lọi. Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đã toàn thắng khi lá cờ giải phóng tung bay phấp phới trên Dinh Độc Lập ở Sài Gòn vào trưa 30 tháng 4 năm ấy. Những ai đã trải qua tháng ngày ấy bây giờ nhớ lại vẫn không khỏi bồi hồi xúc động. Hình như âm hưởng mùa Xuân đại thắng vẫn còn đâu đây.

loibac1Nhân dân Sài Gòn dự mít tinh mừng miền Nam hoàn toàn giải phóng. Ảnh: Tư liệu

Vâng, vẫn còn đó, tấm bản đồ Việt Nam đỏ thắm những mũi tấn công vũ bão và những vùng đất giải phóng thay đổi từng ngày, từng giờ. Vẫn còn đó, tin thắng trận dồn dập từ miền Nam bay về. Vẫn còn đó, niềm vui vỡ òa, nụ cười rạng rỡ và giọt nước mắt lóng lánh trên gương mặt bao người.

Vâng, vẫn còn đây những vần thơ dạt dào âm hưởng toàn thắng cuốn theo bước chân anh giải phóng quân và hòa trong nắng gió phương Nam. Những bài thơ cuồn cuộn hào khí thần tốc, rạo rực niềm vui chiến thắng còn để lại cho con cháu hôm nay những hình dung hoành tráng về mùa Xuân đại thắng 1975.

Bỗng nghe vần Thắng vút lên cao, Bác Hồ viết câu đó trước ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng mấy năm, nhưng dẫu khi Người đã lên đường nhẹ bước tiên rồi thì thơ ấy vẫn là lời báo tiệp vọng vang trên khắp mọi miền đất nước và bốn biển, năm châu. Niềm tin chiến thắng từ Hồ Chí Minh đã lan tỏa và thấm sâu vào nhân dân như một sức mạnh to lớn mà không đạn bom tàn bạo nào có thể đè bẹp được: Năm qua thắng lợi vẻ vang/ Năm nay tiền tuyến chắc càng thắng to/ Vì độc lập, vì tự do/ Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào/ Tiến lên! Chiến sỹ đồng bào/ Bắc Nam sum họp Xuân nào vui hơn (Hồ Chí Minh – Thơ chúc Tết 1969).

Với niềm tin tất thắng son sắt ấy, trong trận đánh cuối cùng, quân và dân ta đã làm nên một cơn lốc hùng vĩ. Khí thế ào ạt đó đã tràn cả vào thơ Phạm Tiến Duật: Khi lên xe ta chưa quen nhau/ Lúc xuống xe ta đã thành bè bạn/ Ta tựa lưng vào bốn năm tấn đạn/ Chúng ta đi đường dài / Mấy trăm xe và mấy trăm người/ Nhằm mặt trận tiến vào như cơn lốc/ Những trái tim xếp theo hàng dọc/ Suốt đường dài hồi hộp biết bao nhiêu. (Chim Lạc bay).

Trên dãy Trường Sơn trùng điệp, những người con gái, con trai đẹp như hoa hồng cứng hơn sắt thép (Thơ Nam Hà) đã hẹn gặp nhau trong ngày vui đất nước: Đoàn quân vẫn đi vội vã/ Bụi Trường Sơn nhòa trời lửa/ Chào em, em gái tiền phương/ Hẹn gặp nhé giữa Sài Gòn (Nguyễn Đình Thi – Lá đỏ). Một vẻ đẹp vừa hùng tráng, vừa lãng mạn mà sau này đã được âm nhạc chắp cánh bay lên thành ca khúc kháng chiến trữ tình không ít người yêu thích.

Vốn là một người lính thiết giáp, nhà thơ Hữu Thỉnh vừa tài hoa, vừa nhạy cảm đã dựng thành công chân dung người chiến sĩ trong chiến dịch mang tên Bác với một chiều sâu tâm hồn rất trung thực và cảm động:

Chiến dịch này ăn cơm không phải độn/ Mừng thì mừng mà thương mẹ bao nhiêu/ Ngày mai chúng ta đánh trận cuối cùng/ Đêm còn lạnh ở ngoài ta đấy bạn/ Ngoài ta độ nay đang giáp hạt/ Cây rơm gầy xay giã cũng thưa đi/ Ngày mai chúng ta đánh trận cuối cùng/ Một nửa nhân dân ngày mai ta nhận mặt/ Nhân dân trở về từ bên kia mặt trăng/ Lại vằng vặc những bến bờ thương nhớ (Đường tới thành phố).

Trước ngày 30 tháng 4 lịch sử là những cuộc chuyển quân rậm rịch, là một đêm đợi chờ hồi hộp: Anh đang ở bên này thành phố/ Cách một mệnh lệnh/ Cách một trận đánh/ Cách một cây cầu/ Cách một đêm nay/…/ Thành phố càng gần/ Càng không dám nghĩ nhiều đến mẹ/ Phải cố quên mẹ ngồi đứng không yên/ Dù chỉ có anh và ngọn cỏ lúc này (Đường tới thành phố).

Bao nhiêu người lính như thế đã không được trở về với mẹ, họ chấp nhận hy sinh để cho Sài Gòn òa vỡ ra trong niềm vui giải phóng: Năm cánh quân từ năm hướng trở về / Thành phố đầy áo trận/ Ở cuối đường một vành lá vút qua/ Chỉ chờ thế là người xô như sóng… Và, trong cái nhìn cận cảnh hình ảnh anh bộ đội phong trần trận mạc xiết bao: Tháp pháo để trần lăm chăm vết đạn/ Dằng dặc đường về/ Mòn xích sắt vẫn quay nồng mùi đất/ Mặt đường hăng mùi cỏ ngoại ô / Đồng chí trưởng xe mình quấn đầy băng trắng/ Anh giơ tay cả thành phố động lòng/ Xạ thủ trung liên/ Quần áo màu rừng ngả sang màu đất / Đôi dép râu dẫn trước đội hình/ Hoa nhiều quá nhưng anh không kịp nhận… (Đường tới thành phố).

Hình ảnh anh bộ đội giải phóng trong ngày Sài Gòn giải phóng được khắc họa khá nhiều trong thơ ca thời ấy. Nguyễn Thành Vân trong bài thơ Ngôi sao trên đầu, khẩu súng trên vai đã rưng rưng ghi lại: Tôi bị vây tròn vòng ngoài vòng trong/ Tôi bị hỏi dồn, phía sau phía trước/ Cô bác nhìn tôi từ đầu đến chân/ Tôi phải trả lời bằng tay bằng mắt.

Hoàn toàn không có cảnh Sài Gòn bị dìm trong biển máu bởi lòng thù hận của cộng sản như sự xuyên tạc của kẻ thù. Một Sài Gòn giải phóng, một Sài Gòn hòa bình đã trở về với Tổ quốc thân yêu. Ước mơ Việt Nam thống nhất đã trở thành hiện thực với Mùa xuân đại thắng 1975. Chỉ có những kẻ xâm lược và bán nước mới không trông mong ngày chiến thắng này, còn ai mang trong mình dòng máu Việt Nam được tô thắm bởi những Vua Hùng, Bà Trưng, Bà Triệu, Ngô Quyền, Đinh Tiên Hoàng, Lý Công Uẩn, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Nguyễn Trãi, Nguyễn Huệ, Nguyễn Tri Phương, Hoàng Diệu, Nguyễn Hữu Cảnh, Hồ Chí Minh… đều coi ngày 30 tháng 4 là mốc son lịch sử chói lọi của dân tộc. Chính những người từng ở bên kia chiến tuyến nay cũng phải thừa nhận ý nghĩa lịch sử vĩ đại của ngày toàn thắng này. Không phải ngẫu nhiên mà nhà thơ Tố Hữu đã hân hoan viết: Đường tiến quân ào ào chiến thắng/ Phía trước chờ anh, người mẹ mong con/ Pháo hãy gầm lên, đỏ nòng bắn thẳng/ Rộn rực xe tăng chồm tới Sài Gòn/ Ôi, buổi trưa nay, tuyệt trần nắng đẹp/ Bác Hồ ơi! Toàn thắng về ta/ Chúng con đến, xanh ngời ánh thép/ Thành phố tên Người lộng lẫy cờ hoa (Tố Hữu – Toàn thắng về ta).

Cũng chính vì thế mà nhà thơ Xuân Sách khi dạo bước trên đường phố Sài Gòn đã lâng lâng cảm nhận: Đường phố xôn xao đỏ rợp cờ/ Người đi vừa thật lại vừa mơ/ Nửa đời cầm súng đi đánh giặc /Nay bỗng hồn nhiên như trẻ thơ (Trên đường phố).

Ngày 30 tháng 4 và Sài Gòn giải phóng đã trở thành bản giao hưởng Chiến thắng sau những tháng năm chiến đấu bất khuất kiên cường và bi thương khổ đau của dân tộc. Bao nhiêu máu, bao nhiêu mồ hôi đã đổ xuống đầm đìa trên con đường giải phóng đất nước. Cái giá của độc lập tự do, hòa bình thống nhất đất nước vô cùng to lớn. Có phải vì thế mà khi được thưởng thức một đêm giao hưởng giữa Sài Gòn, nhà thơ Anh Ngọc đã xao xuyến với những liên tưởng rất đẹp: Cát bụi đường xa khẩu súng ngọn cờ/ Ngửa bàn tay gặp bàn tay nhạc trưởng/ Mở tấm lòng gặp tấm lòng giao hưởng/ Bổng trầm cung bậc tìm nhau/ Sài Gòn trong ta là trái chín vẹn nguyên/ Chiến thắng đặt vào lòng hai đứa/ Một nửa anh và em một nửa (Sài Gòn đêm giao hưởng).

Khẩu súng ngọn cờ đã trở thành linh vật tượng trưng cho một giai đoạn lịch sử bi tráng đã qua của dân tộc. Những bông sen đã mọc lên từ mảnh đất Việt Nam thấm máu trở thành thông điệp giao hòa thân thiện của chúng ta. Sự tốt đẹp ấy đã được bắt đầu, được tính từ ngày 30 tháng 4 lịch sử mà âm hưởng hào hùng của nó còn vang vọng trong những vần thơ sinh ra cùng cái thời mãi mãi không bao giờ quên ấy.

Theo http://bienphong.com.vn

Huyền Trang (st)
bqllang.gov.vn

Gặp những người cắm cờ giải phóng ngày 30-4 (Tiếp theo kỳ trước)

Vào lúc 9h30 ngày 30-4-1975, một lá cờ giải phóng nửa đỏ nửa xanh với ngôi sao vàng năm cánh đã tung bay hiên ngang trên đỉnh cao tháp nước sân bay Tân Sơn Nhất. Đó là một trong những lá cờ giải phóng đầu tiên được kéo lên trên bầu trời Sài Gòn còn rền vang tiếng súng trong giờ phút hấp hối của chế độ Việt Nam Cộng hòa.

Gặp những người cắm cờ giải phóng ngày 30-4
Chiến sỹ Phạm Văn Lãi và Nguyễn Văn Cẩn cắm cờ trên đỉnh tháp nước sân bay Tân Sơn Nhất vào ngày 30-4-1975.Ảnh: Việt Dương sưu tầm

Một lần, tôi hỏi Đại tá Đinh Quốc Kỳ, nguyên cán bộ bảo vệ chính trị nội bộ Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam (Đoàn B): Trong tấm ảnh ghi lại giờ phút lịch sử ấy có hai người cắm cờ, họ là ai? Đại tá cho biết, đó là Phạm Văn Lãi và Nguyễn Văn Cẩn. Hai người chiến sỹ giải phóng đã cắm lá cờ ấy nay còn sống, một người ở Hà Nội, người kia ở Bà Rịa – Vũng Tàu. Trong những ngày tháng tư lịch sử này, chúng tôi đã tìm gặp để nghe họ kể về những giây phút thiêng liêng hào hùng 38 năm trước.

Con ngõ 191 đường Lạc Long Quân (phường Xuân La, quận Tây Hồ) dài hun hút, hai bên nhà cửa, hàng quán san sát. Cuối con ngõ hẹp mở ra một khoảng không gian rộng, con đường chạy vòng quanh vườn hoa nhỏ. Chủ nhân căn hộ liền kề A20 khu tập thể Bộ Giáo dục – Đào tạo là người đàn ông gày gò, hoạt bát, nhanh nhẹn. Hôm trước, qua điện thoại, ông dặn: “Anh đến sớm, kẻo thứ hai tôi phải đi viện”. Chứng thoát vị đĩa đệm hành hạ ông đã mấy năm, nay trở trời thêm phát tác. Ngày chủ nhật, tôi đến thăm, ông sai con ra vườn hoa chờ khách. Ông là Phạm Văn Lãi, cầm tinh con Rồng, sinh tháng 5 năm Nhâm Thìn 1952. Người tuổi Thìn thường giỏi giang, thông minh, hoạt bát, kiên trì theo đuổi mục đích, lý tưởng. Mới về hưu chưa đầy năm, ông Phó Vụ trưởng Vụ Hành chính Văn phòng Chính phủ còn nhiều việc phải làm, nhiều mối quan hệ, ân tình phải trả, trong đó những quan hệ đồng đội thời 823 ngày đêm cắm giữa sào huyệt quân thù tại tiền đồn Trại Davis năm xưa bao giờ cũng chiếm nhiều thời gian của ông.

Quê ông ở xã Tự Tân, huyện Vũ Thư, Thái Bình. Tôi trầm trồ: “Dân Thái Bình nhà ông chuyên đi cắm cờ, từ ông Tạ Quốc Luật ở Điện Biên Phủ thời đánh Pháp đến Bùi Quang Thận cắm cờ trên nóc Dinh Độc Lập lúc 11h30 ngày 30-4-1975, đánh dấu sự cáo chung của chế độ ngụy Sài Gòn. Còn chuyện ông cắm cờ trên tháp nước cao chót vót trong sân bay Tân Sơn Nhất sáng sớm ngày 30-4 thì thế nào?”.

Qua giọng kể hồ hởi của ông, đối chiếu với ký ức những nhân chứng lịch sử trong thời điểm ấy, tôi hình dung được giây phút hào hùng khi ông cùng người bạn chiến đấu cắm lá cờ giải phóng trên đầu thù.

Đêm 28, rạng sáng 29-4-1975, pháo tầm xa 130 ly của ta nã đạn vào sân bay Tân Sơn Nhất, chặt đứt cầu hàng không, con đường di tản cuối cùng của ngụy quân ngụy quyền Sài Gòn. Đạn pháo rơi cả vào sân Trại Davis, nơi Đoàn đại biểu Quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam (Đoàn B) đóng quân ngay sát đường băng trong lòng địch. Hai đồng chí, Đại úy Nông Văn Hưởng (tức Kiên), cán bộ an ninh và Trung sỹ Nguyễn Văn Hòa, cảnh vệ gác cổng trại hy sinh, bốn đồng chí bị thương. Trước đó, khi chiến sự nổ ra, cán bộ, chiến sỹ ta tại Trại Davis đã xin cấp trên cho trụ lại trong lòng địch, sẵn sàng chiến đấu, tham gia giải phóng Sài Gòn. Ngày 20-4, ta bắt đầu đào hào chiến đấu, giữ bí mật không cho địch biết, ngay cả các bạn Ba Lan và Hungary trong Ủy ban Kiểm soát và Giám sát quốc tế cũng không biết. Ngày 26-4, Chiến dịch Hồ Chí Minh mở màn, năm cánh đại quân rầm rập tiến vào hang ổ cuối cùng của địch, hệ thống hầm hào chiến đấu trong đơn vị đã thông suốt. Anh em được trang bị cả súng AK và hơn 20 quả đạn chống tăng, do trực thăng ngụy “chuyển hộ” vào từ trước trong những “túi thư ngoại giao” theo chuyến bay liên lạc.

Thượng sỹ Phạm Văn Lãi khi ấy 23 tuổi, chiến sỹ Đội Chiếu phim, Ban Chính trị Đoàn B, nhớ lại:

– Ngày Thứ Bảy 26-4, không khí chuẩn bị chiến đấu trong trại khẩn trương, nhưng bộ đội ta vẫn bình tĩnh chờ lệnh. Hôm ấy, Đội Chiếu phim phục vụ anh em bộ phim “Giải phóng Châu Âu” của Điện ảnh Liên Xô, chiếu cả 5 tập liên tục. Đêm 28 rạng ngày 29, pháo ta nã đạn vào sân bay Tân Sơn Nhất, đạn pháo rơi cả vào bãi chiếu phim. Khoảng 8h00 ngày 30-4, Thiếu tướng Trưởng đoàn Hoàng Anh Tuấn lệnh cho Trung tá Mười Sương, Trưởng ban Chính trị gọi tôi lên giao nhiệm vụ vào kho lấy lá cờ to nhất mang cho vệ binh cắm lên tháp nước.

Phạm Văn Lãi vào kho, tìm được lá cờ to nhất, bề rộng lá cờ bằng 4 khổ vải. Cứ theo tỷ lệ, có thể thấy lá cờ phải rộng hàng chục mét vuông. Phấn khởi vì được thủ trưởng tin cậy, với nhiệt tình cách mạng của tuổi trẻ, Lãi quyết định trực tiếp treo cờ. Anh ôm lá cờ vào người, chạy băng qua sân Trại đến tháp nước. Dọc đường, anh gọi cảnh vệ Nguyễn Văn Cẩn đi theo. Một đồng chí trong Ban Nghiên cứu dưới hào hỏi vọng lên: “Ai giao cho cậu treo cờ?”, Lãi trả lời: “Đây là lệnh của thủ trưởng Phái đoàn và đã được Đảng ủy Đoàn quyết định”. Lãi và Cẩn vừa chạy vừa quan sát, các anh nhặt được một đoạn ống nước làm cán cờ và hai sợi dây thép. Đến chân tháp nước, Lãi chui vào lồng bảo vệ trèo lên trước, Cẩn đeo súng ngắn K-54 theo sau. Lên đến đỉnh, Lãi buộc phía trên, Cẩn buộc phía dưới. Kiểm tra mối buộc xong, thấy chắc chắn rồi, Phạm Văn Lãi buông tay, lá cờ no gió mở ra “phật” một tiếng, cuồn cuộn tung bay trên điểm cao của thành phố Sài Gòn.

Tôi hỏi Phạm Văn Lãi:

– Lúc đứng trên đỉnh tháp buộc cờ, anh có nghĩ mình có thể nguy hiểm đến tính mạng không? Đứng trên cao, phía dưới còn địch, phơi mình như thế, anh có lo không?

Rất hồn nhiên, ông trả lời ngay:

– Ừ, cũng lạ, lúc ấy tôi chỉ lo buộc cờ sao cho chắc, chẳng nghĩ gì đến chuyện mình có thể trúng đạn, hy sinh cả anh ạ.

Lá cờ giải phóng no gió tung bay trên đỉnh cao trong sân bay Tân Sơn Nhất, từ xa hàng cây số đã nhìn thấy, vừa là vật chuẩn cho pháo binh ta tính toán phần tử bắn chính xác, làm chuẩn cho bộ đội tiến công, khích lệ bộ đội ta dũng mãnh xông lên. Quân địch ở Bộ Tổng Tham mưu ngụy tại cổng Phi Long cách đó gần 1 cây số, lính Sư đoàn dù, đơn vị tăng – thiết giáp ngụy đóng gần Trại Davis và tàn quân đang tháo chạy nhìn thấy lá cờ giải phóng, càng thêm hoảng loạn, tan rã.

Ngay chiều 30-4, Ủy ban Quân quản Sài Gòn được thành lập do Trung tướng Trần Văn Trà làm Chủ tịch. Nhiều cán bộ, chiến sỹ Trại Davis được điều về Ủy ban Quân quản. Phạm Văn Lãi cùng Ban Chính trị vào Dinh Độc Lập, được bố trí ở tầng 2. Sáng 1-5, anh được thủ trưởng giao nhiệm vụ trèo lên cột cờ Dinh Độc Lập, thay lá cờ anh Bùi Quang Thận cắm lúc 11h30 hôm trước. Lá cờ anh Thận cắm bị mắc dây, không mở ra được, cũng không hạ dây kéo xuống được. Cột cờ cao, trơn nhẵn, Lãi nhanh trí lấy dây dù buộc vào hai chân như kiểu bà con Nam bộ leo dừa, trèo lên gỡ dây rối, thay lá cờ mới to hơn, rộng hơn.

Sau ngày 30-4, Phái đoàn quân sự chấm dứt hoạt động, anh em mỗi người về một đơn vị mới theo chức năng, nhiệm vụ của mình, lo tiếp quản thành phố, trấn áp tàn quân địch, tổ chức tiếp nhận sỹ quan, binh lính ngụy ra trình diện, tham gia ổn định cuộc sống cho nhân dân và bảo đảm hoạt động bình thường của thành phố. Phạm Văn Lãi và Nguyễn Văn Cẩn cũng bặt tin nhau. Lãi tiếp tục ở Ủy ban Quân quản, phục vụ các cuộc mít tinh, hội nghị hiệp thương thống nhất hai miền. Tháng 6-1975, anh được kết nạp vào Đảng và đến năm 1979, được điều về Văn phòng Chính phủ, được gần gũi, phục vụ Thủ tướng Phạm Văn Đồng, các Phó Thủ tướng Võ Nguyên Giáp, Lê Thanh Nghị.

Tháng 4 này, ông Phạm Văn Lãi đã về nghỉ hưu theo chế độ được 10 tháng sống vui vầy bên vợ con. Vợ ông, bà Vũ Thị Tuất là Phó Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch Công đoàn Tổng Công ty Rau quả, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Hai con ông, một trai, một gái đều công tác ở Văn phòng Chính phủ và đều trân trọng lịch sử hào hùng mà bố và những người đồng đội đã góp phần làm nên. Đến tháng 4-2012, ông Lãi mới liên lạc được với Nguyễn Văn Cẩn sau 37 năm bặt tin.

Nguyễn Năng Lực
Theo http://hanoimoi.com.vn
Thu Hiền (st)
bqllang.gov.vn

Tin liên quan:
Gặp những người cắm cờ giải phóng ngày 30-4

Cuộc gặp lịch sử giữa Hồ Chí Minh với V.I. Lê-nin

cuoc gap go lich su giua HCM va Lenin

Cuộc gặp lịch sử giữa V.I.Lê-nin với Nguyễn Ái Quốc ở “Sơ thảo những luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa”… Những năm tháng sau đó Nguyễn Ái Quốc ước ao được gặp V.I. Lê-nin – Lãnh tụ của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, người đã lập ra nhà nước đầu tiên với những bước đi đầu tiên để không có người bóc lột người, mọi người đều bình đẳng, ấm no… Nhờ có học thuyết của V.I. Lê-nin, người cộng sản Nguyễn Ái Quốc đã nhìn thấy con đường rõ rệt để giải phóng các dân tộc thuộc địa, trong đó có dân tộc Việt Nam.

Cuối năm 1923, Nguyễn Ái Quốc đã đến Mát-xcơ-va nhưng V.I. Lê-nin đang ốm nặng. N.C. Crúp-xcai-a-người bạn đời thân thiết của V.I. Lê-nin tiếp người cộng sản phương Đông trẻ tuổi này. Nguyễn Ái Quốc trở thành học viên Trường Đại học Phương Đông tại Mát-xcơ-va với các hoạt động trong phong trào Cộng sản quốc tế.

Một nỗi đau lớn đến với Nguyễn Ái Quốc và nhân dân lao động, ngày 22-1-1924 V.I. Lê-nin từ trần. Lá cờ rủ băng tang đen trên toà nhà của Xô-viết Mát-xcơ-va…

Ngày 27-1-1924, Báo Sự Thật Liên Xô đăng bài của Nguyễn Ái Quốc “Lênin và các dân tộc thuộc địa” nói lên niềm khao khát tự do, độc lập của các dân tộc thuộc địa khắp năm châu được ánh sáng học thuyết Lênin vạch đường, chỉ lối. Tại Đại hội Quốc tế cộng sản lần thứ V, trong tham luận về vấn đề dân tộc và thuộc địa tháng 7-1924, Nguyễn Ái Quốc nhấn mạnh cần tập trung  sức lực để thực hiện những di huấn của V.I. Lê-nin về vấn đề thuộc địa cũng như những vấn đề khác.

31 năm sau khi V.I. Lênin qua đời, Bảo tàng Phòng làm việc và nơi ở của V.I. Lê-nin chính thức mở cửa. Người nước ngoài đầu tiên đến thăm Bảo tàng là Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà – Hồ Chí Minh – Nguyễn Ái Quốc của những năm tháng sống và học tập, làm việc ở Liên Xô trước đây. Trên trang đầu của cuốn Sổ ghi cảm tưởng của Bảo tàng, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết:

“Lênin, người thày vĩ đại của cách mạng mạng vô sản. Cũng là một vị đạo đức rất cao, dạy chúng ta phải thực hiện cần kiệm, liêm, chính.

Tinh thần Lê-nin muôn đời bất diệt”.                                                    

                                                                                          13-6-1955

                                                                                         Hồ Chí Minh

Hồ Chí Minh – Người học trò xuất sắc của V.I. Lê-nin – Theo quyết định của UNESCO năm 1990 – Thế giới đã kỷ niệm 100 năm Ngày sinh của Người – Anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hoá lớn. V.I. Lê-nin và Hồ Chí Minh đều là những lãnh tụ vĩ đại, những nhà văn hoá lớn của nhân loại.

Theo Tạp chí Xây dựng Đảng
Huyền Trang (st)
bqllang.gov.vn

Buổi phát thanh lịch sử tại Sài Gòn trưa 30/4/1975

Do tình thế khẩn cấp, chàng sinh viên Nguyễn Hữu Thái đã trở thành phát thanh viên “bất đắc dĩ” trong thời khắc lịch sử – tổng thống Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng. Trong đám đông kéo đến đài phát thanh trưa 30/4 có cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn.

phat-thanh-trua1KTS Nguyễn Hữu Thái – nhân chứng lịch sử ngày 30/4/1975. Ảnh: Tiến Dũng.

Sinh ra trong gia đình có 10 người con, lại là cả nên Nguyễn Hữu Thái được bố mẹ đầu tư cho ăn học, với mong muốn con mình sẽ thành tài. Năm 1958, sau khi đỗ tú tài ở trường Thiên Hựu (Huế), cậu học trò Nguyễn Hữu Thái vào Sài Gòn học ngành Kiến trúc và là người trẻ nhất của khóa học này.

Từ khi trở thành sinh viên, Hữu Thái hăng hái kêu gọi bạn bè xuống đường biểu tình, đòi tự do, dân chủ và năm 1963-1964 được bầu làm Chủ tịch Tổng hội sinh viên Sài Gòn. Do nhiệt tình đấu tranh nên năm 1964, chàng sinh viên 24 tuổi bị bỏ tù, và từ đó đến năm 1974, Thái luôn nằm trong “danh sách đen” của chế độ Việt Nam Cộng hòa. Ba lần ra ngục vào tù đã lấy đi của Thái 4 năm tuổi trẻ, thời gian được chia đều cho nhà tù và nhà trường.

Nhờ những lần ngồi tù, được tranh luận với cán bộ “Việt cộng”, chàng sinh viên kiến trúc mới thấm thía thêm rằng, không chỉ có sinh viên, trí thức chống lại chế độ Sài Gòn mà khắp cả nước còn có cuộc đấu tranh của những người cộng sản. Và cũng từ đây, Nguyễn Hữu Thái càng quyết tâm theo cách mạng, dù từng nhận được lời đề nghị của một quan chức Mỹ rằng sẽ tạo điều kiện sang Mỹ học rồi về Việt Nam làm quan chức.

“Năm 1971, Chính quyền Việt Nam Cộng hòa tổ chức bầu cử Quốc hội và Tổng thống.Người của Mặt trận Dân tộc Giải phóng đề nghị tôi ra tranh cử với lập trường hòa bình trung lập, chuẩn bị cho ‘Thành phần thứ ba’ như trong Hiệp định Paris. Tôi được sự ủng hộ của tướng Dương Văn Minh, người sẽ ra tranh cử Tổng thống. Nhưng do bị nghi ngờ là người của quân giải phóng nên tôi đã thất cử. Tướng Minh vào giờ chót cũng rút lui khỏi cuộc tranh cử Tổng thống”, ông kể.

Một năm sau, Nguyễn Hữu Thái lại bị chính quyền Sài Gòn bắt giam trước ngày ký kết Hiệp định Paris về hòa bình Việt Nam, do bị tố cáo thuộc “Thành phần thứ ba” thân Cộng. Khi người đàn ông 34 tuổi được ra tù năm 1974, tình hình đã biến chuyển nhanh theo hướng chấm dứt chiến tranh…

phat-thanh-trua2
Ông Dương Văn Minh và ông Nguyễn Hữu Thái

Nhân chứng sống ngoài 70 tuổi này vẫn nhớ như in thời khắc lịch sử của 36 năm về trước. “Sáng tinh mơ ngày 30/4, từ cơ sở chuẩn bị nổi dậy của sinh viên ở ĐH Vạn Hạnh (gần chợ Trương Minh Giảng), tôi bàn với người thân cận của Thượng tọa Trí Quang rồi chạy vội lên chùa Ấn Quang (đường Sư Vạn Hạnh) gặp vị lãnh đạo Phật giáo có ảnh hưởng lớn tới nhóm Dương Văn Minh nhờ tác động gấp nhằm chấm dứt ngay cuộc chiến, tránh đổ máu và tàn phá Sài Gòn”, ông kể.

Khoảng 9h, khi ông Thái quay về trường thì nghe tướng Dương Văn Minh tuyên bố trên đài phát thanh Sài Gòn, với nội dung kêu gọi các binh lính Việt Nam Cộng hòa hãy bình tĩnh, không nổ súng, ở đâu ở đó, để ông gặp Chính phủ Cách mạng thảo luận lễ bàn giao chính quyền trong trật tự, tránh đổ máu.

Biết tin này, một nhóm sinh viên cầm vũ khí lên xe ca đến áp sát, chuẩn bị xâm nhập vào đài phát thanh. Còn ông Thái cùng nhà báo Nguyễn Vạn Hồng và giáo sư Huỳnh Văn Tòng (giảng dạy báo chí) vào dinh Độc Lập thuyết phục những người quen biết trong chính quyền Dương Văn Minh bàn giao chính quyền cho phía Mặt trận Dân tộc Giải phóng.

Trong khi đó, ở bên ngoài, những chiếc xe tăng đầu tiên đang tiến về dinh Độc Lập. Xe tăng 390 chạy đầu tiên, xe tăng 843 chạy đến dinh đã húc thẳng vào cổng phụ bên trái, cổng không sập. Thấy vậy, lái xe tăng 390 liền húc sập cổng chính, và Bùi Quang Thận nhảy từ trên xe 843 xuống, giật lá cờ giải phóng gắn trên cần ăng ten xe tăng rồi tiến vào thềm dinh.

phat-thanh-trua 3Xe tăng 390 húc đổ cổng chính để tiến vào Dinh Độc Lập trưa 30/4/1975. Ảnh tư liệu.

Do ông Thái và giáo sư Tòng đeo băng xanh đỏ của lực lượng quần chúng nổi dậy, nên khi ông đề nghị dẫn đường thì ông Thận liền đi theo. Đến nóc, cả 3 người phải leo thêm chiếc thang gỗ mới đến được chân cột cờ. Lá cờ giải phóng được kéo lên trong tiếng reo hò lẫn tiếng súng chỉ thiên chào mừng vang trời.

“Thật ngẫu nhiên, vào thời điểm lịch sử ấy trên nóc dinh Độc Lập có 3 chàng trai của 3 miền đất nước: anh bộ đội Thận từ đồng bằng sông Hồng, giáo sư Tòng quê Tây Ninh và tôi gốc ở một thành phố miền Trung. Anh em xúc động không cầm được nước mắt, vừa sung sướng vừa hãnh diện”, ông Thái nhớ lại khoảnh khắc chấm dứt những năm thống trị của thực dân đế quốc.

Có mặt tại dinh Độc Lập, Chính ủy Lữ đoàn xe tăng 203 Bùi Văn Tùng đã nghĩ ngay đến việc phải buộc chính phủ của Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng sớm để đỡ đổ máu. Vì vậy, Tổng thống Dương Văn Minh, Thủ tướng Vũ Văn Mẫu, Chính ủy Bùi Văn Tùng, Nguyễn Hữu Thái, Huỳnh Văn Tòng, nhà báo Tây Đức Borries Gallasch… cùng lên xe tiến về phía đài phát thanh.

Tại đài, trong khi các sinh viên đi tìm nhân viên kỹ thuật cho đài phát sóng thì một cán bộ quân giải phóng cũng soạn vội lời đầu hàng của Dương Văn Minh. Do không có thiết bị thu âm nên nhà báo Đức đã cho mượn đài để thu lời đầu hàng của tướng Minh và lời chấp nhận đầu hàng của Chính ủy Bùi Tùng. Pin đài yếu nên các sinh viên lại phải chạy đôn đáo đi tìm pin thay thế.

“Việc thu băng lời tướng Minh phải thử đi thử lại mấy lần mới xong. Còn lời phát biểu của Thủ tướng Mẫu thì được nói trực tiếp. Khi Đài Phát thanh Sài Gòn phát đi lời đầu hàng của tướng Dương Văn Minh, đồng hồ lúc này là 13h20 (Hà Nội là 12h20 phút)”, nhân chứng Nguyễn Hữu Thái tiếp tục câu chuyện.

phat-thanh-trua4
Tướng Dương Văn Minh (mặc áo đen, đeo kính) chuẩn bị tuyên bố đầu hàng tại Đài Phát thanh Sài Gòn trưa ngày 30/4/1975. Nhà báo Đức ngồi cạnh ông Minh, còn ông Thái đứng thứ hai (cầm tập giấy). Ảnh do phóng viên ảnh hãng thông tấn AP thực hiện.

Do tình thế khẩn cấp nên Nguyễn Hữu Thái đã trở thành phát thanh viên “bất đắc dĩ” của buổi phát thanh trực tiếp đầu tiên trong ngày lịch sử trọng đại: “…Đời sống bình thường đã trở lại Sài Gòn – TP HCM, thành phố mà Bác Hồ đã mong đợi, nay được giải phóng… Xin giới thiệu lời kêu gọi của ông Dương Văn Minh và Vũ Văn Mẫu của chính quyền Sài Gòn về vấn đề đầu hàng ở thành phố này…”.

Tiếp đó, đến lượt Tổng thống Dương Văn Minh đọc lời tuyên bố đầu hàng: “Tôi, đại tướng Dương Văn Minh, tổng thống chính quyền Sài Gòn, kêu gọi quân lực Việt Nam Cộng hòa hạ vũ khí đầu hàng không điều kiện quân Giải phóng miền Nam Việt Nam. Tôi tuyên bố chính quyền Sài Gòn từ trung ương đến địa phương phải giải tán hoàn toàn, từ trung ương đến địa phương trao lại cho Chính phủ cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam”.

Sau lời kêu gọi của Thủ tướng Vũ Văn Mẫn, Chính ủy Bùi Văn Tùng tuyên bố chấp nhận đầu hàng: “Chúng tôi đại diện lực lượng quân Giải phóng miền Nam Việt Nam long trọng tuyên bố thành phố Sài Gòn đã được giải phóng hoàn toàn, chấp nhận sự đầu hàng không điều kiện của ông Dương Văn Minh, tổng thống chính quyền Sài Gòn”.

Trong đám đông kéo đến đài phát thanh vào buổi trưa 30/4 có cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn. Được mời phát biểu trực tiếp trên sóng, nhạc sĩ xúc động: “Hôm nay là ngày mơ ước của tất cả chúng ta… Ngày mà chúng ta giải phóng hoàn toàn đất nước… Những điều mơ ước của các bạn bấy lâu là độc lập, tự do, và thống nhất thì hôm nay chúng ta đã đạt được…”.

Hân hoan trong niềm vui giải phóng nên dù không mang theo đàn guitar, Trịnh Công Sơn vẫn cất vang lời bài ‘Nối vòng tay lớn’. Và đây cũng chính là bài hát đầu tiên được phát lên sóng của Đài Phát thanh Sài Gòn ngày 30/4.

“Chiều 30/4/1975, phần lớn người dân Sài Gòn đều túa ra đường để được tận hưởng bầu không khí hân hoan, phấn khởi của ngày thành phố được giải phóng. Những người nghe tin tức qua Đài Phát thanh Sài Gòn cảm thấy xúc động dâng trào khi nghe Trịnh Công Sơn hát ‘Nối vòng tay lớn’ trong giờ phút lịch sử của dân tộc”, 36 năm sau ngày lịch sử này, ông Nguyễn Hữu Thái vẫn xúc động khi kể lại.

Vào đại học năm 1958 nhưng phải đến năm 1976, một năm sau ngày giải phóng, ông mới có thể trở lại trường làm đồ án tốt nghiệp và trở thành kiến trúc sư. Sau nhiều năm công tác tại thành đoàn TP HCM, năm 1980 ông làm việc tại Viện Quy hoạch kiến trúc thành phố… Năm 1990 ông xuất cảnh sang Canada theo diện đoàn tụ gia đình và 5 năm sau lại trở về Việt Nam sinh sống, công tác.

Tiến Dũng
Theo Vnexpress
Kim Yến (st)

bqllang.gov.vn